1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX1945

20 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 45,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ ngữ, câu văn có thể cũ nhưng tình nghĩa cha con mà ông ngợi ca trong những trang viết của mình luôn luôn lấp lánh vẻ đẹp mà con người thời đại nào cũng thấy cần thiết.. Như đã tự chọn

Trang 1

Soạn câu hỏi ôn tập

VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX-1945

1 Tại sao nói giai ndoạn văn học giao thời 1900-1932 có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình HĐH VHVN

TL : Từ 1900-1932 : giai đoạn giao thời

Tìm hiểu như thế nào là HDH VH

HDH là thoát khỏi phạm trù thẫm mỹ trung đại theo mỹ học hiện đại, thực chất là tây phương hóa , mà cốt lõi là ý thức cá nhân đc nhìn nhận

HDH là làm cho nền văn học hiện đại theo kịp các nền VH tiên tiến trên thế giới

- Bắt đầu có sự Bắt đầu có sự hiện đại hóa – “phá cách”

- + Văn học yêu nước: các nhà nho có tư tưởng canh tân: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh

- + Tiểu thuyết: Thầy La-za-rô Phiền (Nguyễn Trọng Quản)

- Hồ Biểu Chánh

- Tố Tâm Hoàng Ngọc Phách

- + Kịch Chén thuốc độc Vũ Đình Long

- + Thơ: Tản Đà, Trần Quang Khải, Nguyễn Ái Quốc

- + Dịch: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh

Vai trò quan trọng của văn học giai đoạn giao thời.

Từ bối cảnh LSXHVN đầu thế kỷ XX

+ Chế độ thực dân phong kiến

+ 2 cuộc khai thác thuộc địa

+ Quá trình đô thị hóa = xuất hiện tầng lớp thị dân

+ sự phát triển của báo chí

+ Hán học suy tàn, xuất hiện chữ quốc ngữ

+ ảnh hưởng tân tư

+ văn học trở thành hàng hóa

Dẫn đến

a Thay đổi gốc rễ môi trường văn học

b Hoàn thành và xác lập hệ thống thể loại mới có nguồn gốc phương Tây + thơ – văn – phú – lục

+ Tiểu thuyết – thơ – kịch

c Tạo nền móng, tiền đề cho giai đoạn kết tinh về sau

d Tạo màng lọc và đặc biệt giúp có cái nhìn đối sánh để điềm tĩnh và chắc chắn hơn khi lý giải những vấn đề của có tính chất lịch sử văn học, văn học đương đại

Trang 2

2 Đoạn cuối của TP cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh đc xây dựng như một vở kịch 2 màn với những hình ảnh đan chéo, có thắt có mở,dựa trên những mâu thuẫn xung đột gây cấn cái kết như vậy tạo nên giá trị về mặt nội dung và nghệ thuật ntn?

TL :

Văn chương từ xưa đến nay ngợi ca rất nhiều về tình mẫu tử mà rất ít những tác phẩm viết về tình phụ tử Với những trang viết vô cùng cảm động, nhà tiêu thuyết

Hồ Biểu Chánh đã phần nào bổ khuyết vào khoảng trống đó của văn học Cha con nghĩa nặng đã diễn tả thành công tình nghĩa cha con, một trong những tình cảm thiêng liêng cao quí nhất của con người

Hồ Biểu Chánh có một vị trí đặc biệt trong nền văn xuôi quốc ngữ Việt Nam trong những năm đầu thể ki XX Nếu ở Bắc Bộ Hoàng Ngọc Phách nổi tiếng với tiểu thuyết Tô Tám thì ở Nam Bộ Hồ Biểu Chánh được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt bởi sức sáng tạo dồi dào, phong phú với hàng loạt những tiểu thuyết có khuynh hướng tư tưởng trong sáng, tốt đẹp (đề cao cái thiện, cổ vũ cho sự cao quý của đạo lí hình dân truyền thống: Quý trọng sự thủy chung, lòng bao dung, ca ngợi sự trung thực, thằng ngay, dám hi sinh vì tín nghĩa, ) Phải đặt mình vào tác phẩm của Hồ Biểu Chánh như Cha con nghĩa nặng vào nền văn xuôi nước nhà hồi đẩu thế kỉ mới có thể cảm nhận một cách đầy đủ những phẩm chất nghệ thuật của một ngòi bút tiểu thuyết giản dị, mộc mạc trong cách kể chuyện, ít gây-bất ngờ đột ngột nhưng khá cuốn hút Hệ thống ngôn ngữ từ vựng cũng như các tình tiết

về không gian, thời gian và nhân vật gần với đời thường, rất quen thuộc với người dân Nam Bộ

Tinh cha con được tác giả đặt trong một tình huống nghệ thuật giàu kịch tính Mâu thuẫn giữa tình cha thương con và hạnh phúc của con, giữa hạnh phúc của con và tình con thương cha đã bật lên lời ngợi ca: "cha con nghĩa nặng"

Cuộc chạy đuổi của hai cha con thật căng thắng Người con vì muốn đuổi kịp cha nên đã chạy thật nhanh Người cha một mặt vì tưởng có người đuổi bắt, mặt khác không muốn vì mình để liên lụy đến con nên càng chạy nhanh hơn Người cha chạy vì muốn để lại phía sau sự bình yên cho các con Người con chạy vì muốn tới kịp phía trước để giữ cha lại, lo cho tuổi già của cha Hai-người chạy một cách vội

vã, gấp gáp và họ đã gặp nhau trong tình thương yêu giành cho người mà họ yêu thương nhất

Trang 3

Khi người cha định tự tử thì đứa con cũng vừa lao tới Chi tiết này thể hiện kịch tĩnh ở độ căng thẳng nhất Người con chí chậm một chút thôi là vĩnh viễn mất cha Người cha chi nhanh thêm chút thôi là không bao giờ còn có cơ hội gặp lại con Tiếng gọi của đứa con yêu dấu đã kéo người cha khói bàn tay của tử thần Giây phút cha con gặp nhau thật vô cùng cảm động: "Trần Văn Sửu giật mình, tháo dầu trở vô, rồi dậy mà ngó Thằng Tí chạy riết lợi nắm tay cha nó, dòm sát vào mặt mà nhìn, rồi ôm cổ cha mà nói: "cha ơi , cha chạy đi đâu vậy " Lúc ấy, Trần Văn Sửu mất trí khôn, hết nghị lực, máu trong tìm cháy thình thịch, nưỏc trong con mắt tuôn ròng ròng, đứng xui xị xui lơ, không nói được một tiếng chi hết Cha con ôm nhau mà khóc một hồi rồi mới buông ra” Đặt tình cha con vào ranh giới của sự sống và cái chết, sự gặp gỡ và chia li vĩnh viễn, tác giả đã khiến người đọc vô cùng hồi hộp và cũng vô cùng hạnh phúc để rồi từ đó nhận ra tình cha con là thứ tình cảm thiêng liêng và cao quý

Cuộc trò chuyện cảm động giữa hai cha con một mặt thể hiện tấm lòng thương yêu con của anh Sửu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu cha của thẳng Tí Người cha vì hạnh phúc cùa con mà nhất quyết hi sinh cuộc sống riêng, muốn vĩnh viễn

xạ con Người con vì thương cha, lo cho tuổi già và sự an nguy của cha mà chạy theo tìm cha bằng được để mời cha trở về Khi cha nhất định đi, Tí đã quyết theo cha vì "đi theo đặng làm mà nuôi cha, chìmg nào cha chết rồi con vể" Cuộc đối thoại giằng co đầy mâu thuẫn và xục động, tô đậm mối quan hệ máu mú ruột rà đáng quý: Cha quên mình chỉ nghĩ đến tương lai hạnh phúc cùa con Ngược lại con hoàn toàn chỉ nghĩ đến cuộc sống an vui thanh thản lúc tuổi già cùa cha Quả thật đây là một bài ca cảm động về tình nghĩa cha con: cha hiền, con hiếu

Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh đã được viết cách đây bảy thập kỉ Từ ngữ, câu văn có thể cũ nhưng tình nghĩa cha con mà ông ngợi ca trong những trang viết của mình luôn luôn lấp lánh vẻ đẹp mà con người thời đại nào cũng thấy cần thiết

3 Phân tích những biểu hiện của quá trình HDH VH giai đoạn 1900-1945 qua các sang tác văn học giai đoạn này

4 So sánh hình tượng gái quê trong thơ hàn mặc tử và nguyễn bính qua 2 bài thơ

nụ cười gái quê và mưa xuân người hàng xóm

5 Cái mới trong thơ tình yêu của Xuân Diệu

Trang 4

TL

Với nhiều người nói chung và với những người yêu thơ nói riêng thì có lẽ không ai

là không biết đến cái tên Xuân Diệu Được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình“, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới Ông mang ngọn gió rạo rực, thiết tha, nồng cháy, khao khát yêu thương đến cho thi ca Trong tập thơ thơ, thơ ông là “vườn mơn trớn”; là “cuộc sống đầy mơn mởn”; là “mây đưa và gió lượn”, ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh, hương vị Còn trong gửi hương cho gió, thơ ông lại pha lẫn với chút ngậm ngùi và cay đắng!

Nhà thơ Xuân Diệu, tên thật là Ngô Xuân Diệu (2/2/1916 – 18/12/1985) Quê ở Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ, nơi cha là Ngô Xuân Thọ vào dạy học và kết duyên với mẹ là Nguyễn Thị Hiệp Xuân Diệu sau học ở Hà Nội, 1938-1940 ông và Huy Cận ở gác 40 Hàng Than, tốt nghiệp kỹ sư canh nông năm 1943 Ông có khoảng

450 bài thơ và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học

Nhắc tới Xuân Diệu là nhắc tới “xuân” và “yêu” Như đã tự chọn cho mình một tôn chỉ là sống để yêu và phụng sự cho tình yêu ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, ông đã phụng sự bằng cả trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê

và bằng việc hăm hở viết nên những áng thơ tình đầy cảm xúc Nhiều nhà thơ đã viết vè tình yêu, nhưng chưa ai viết về tình yêu với tất cả cung bậc sôi nổi, rạo rực như XD Với ông, làm sao sống được mà không yêu, và yêu là khát vọng hòa quyện cả tâm hồn và thể xác Con người và vật thể nào trong thơ XD hiện lên đều đẹp và say đắm như người tình trẻ

Xưa nay tình yêu nam nữ vốn luôn hiện hữu với rất nhiều cung bậc: Lãng mạn,

mơ mộng, thiêng liêng, cao thượng, phàm tục, nhục thể, bi đát, đắm đuối, si mê, lỗi lầm… như một nhận thức tất yếu về đời sống, thơ Xuân Diệu cũng cắt nghĩa về tình yêu trên nhiều phương diện Trước hết, đối với thi sĩ yêu là nguồn sống: Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ, không thương một kẻ nào?

(Bài ca tuổi nhỏ)

Quả thật, cuộc sống đúng như thi sĩ quan niệm: “Đời không ân ái đời vô vị/ Kiếp sống không yêu kiếp sống thừa” Cuộc sống thiếu tình yêu không phải là sống mà chỉ là sự tồn tại đơn điệu, vô nghĩa, nhạt nhẽo

Hơn ai hết Xuân Diệu thấu hiểu sâu sắc tình yêu cần thiết cho cuộc sống con người đến nhường nào, con người chỉ có thể sống có ý nghĩa trong sự gắn bó với tình yêu Và có lẽ thế nên suốt cuộc đời mình, thi sĩ đã luôn trong tâm thế đi tìm những cung bậc cảm xúc tình yêu, và thơ là nơi ông gửi gắm bao cung bậc của

Trang 5

con tim luôn tha thiết yêu đương đến si mê, cuồng nhiệt Con người ấy đã nhận kiếp trước ông đã yêu và kiếp này vẫn tiếp tục yêu, ngọn lửa tình yêu dường như bất tận trong ông: Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi/ Lúc chưa sinh vơ vẩn giữa luân hồi/ Tôi sẽ yêu khi đã hết tuổi rồi/ Không xương xóc chỉ huyền hồ bóng dáng (Đa tình)

Yêu giản dị chỉ là như vậy, yêu như hít thở khí trời để sống, có duyên thì tình yêu

tự đến, tình yêu nằm ngoài những toan tính, sắp đặt… đối với Xuân Diệu khởi đầu cho một tình yêu đích thực là tiếng tơ lòng rung động chân thành, đánh thức miền yêu nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người Trong thơ của ông người đọc có thể thấy rõ sự phát hiện tinh tế diễn biến tâm lý của tâm hồn mới chớm yêu thương, và ông cho rằng khi yêu tâm hồn trở nên dễ xúc động, tinh tế, lãng mạn đến vô cùng: Bâng khuâng chân tiếc dậm lên vàng/ Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang/ Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá/ Và làm sai nhỡ nhịp trăng đang

(Trăng) Khí trời quanh tôi làm bằng tơ/ Khí trời quanh tôi làm bằng thơ (Nhị hồ)

Vì quan niệm yêu là nguồn sống nên hầu hết các bài thơ tình của Xuân Diệu như Hôn cái nhìn, Biển, Bóng đêm biếc, Bài thơ tuổi nhỏ, Vì sao, Yêu… đều cho thấy những cảm xúc trong ông luôn được đẩy đến tận cùng Thi sĩ yêu cuộc sống đến cuống quýt “muốn ôm, muốn riết, muốn say…” (Vội vàng), và bởi thế nên ông như đắm chìm trong cõi yêu đương nồng nàn, cháy bỏng Chính thi sĩ đã thừa nhận: Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá/ Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì (Vì sao?) Ở đây, có thể coi sự “khờ khạo, ngu ngơ” của thi sĩ như một giá trị, một lối ứng xử văn hóa trong tình yêu Nó chính là biểu hiện của những gì thanh khiết, chân thành, trong sáng, vô tư, phi vụ lợi của tình yêu đích thực Sự thừa nhận “chỉ biết yêu thôi” đồng thời cũng cho chúng ta thấy một minh triết yêu trong thơ tình Xuân Diệu: Yêu chính là phải biết sống hết mình cho người mình yêu, yêu là sự dấn thân và tận hiến vì nhau và cho nhau

Xuân Diệu cho chúng ta thấy một khát vọng về yêu như vậy:

Anh thèm muốn vô biên và tuyệt đích/ Em biết không? Anh tìm kiếm em hoài… Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ/ Phải nói yêu, trăm bận đến ngàn lần (Phải nói );

Em là em, anh vẫn cứ là anh/ Có thể nào qua Vạn lí trường thành/ Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật (…) Ôi mắt người yêu, ôi vực thẳm!/ Ôi trời xa vừng trán của người yêu/ Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều (Xa cách)

Trang 6

Tình yêu trong thơ Xuân Diệu là tình yêu của con người sống giữa đời thường chứ không phải tình yêu đạo đức trong sách vở của một “ông hoàng” nào đó Đó là thứ tình yêu dám bộc lộ những khát vọng thành thực đến cháy lòng Do đó triết lý yêu trong thơ tình Xuân Diệu bên cạnh việc luận giải vấn đề yêu là hướng đến sự hòa hợp tâm hồn thì còn khẳng định một chân giá trị đầy tính nhân bản: yêu là khao khát được hòa hợp với thân xác người mình yêu Nhiều bài thơ, câu thơ của Xuân Diệu đã bộc lộ khát vọng trên một cách say mê, đắm đuối:

Hãy sát đôi đầu ! Hãy kề đôi ngực ! Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài ! Những cánh tay ! hãy cuốn riết đôi vai ! Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt ! Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt (Xa cách) Chúng ta đau, thôi em tới đây mà ! Mơn man nào, em đừng khóc đôi ta/ Thế, riết thế, hãy vòng tay chặt nữa/ Cho em hút những chút hồn đã rữa/ Cho em chuyền hơi độc rất tê ngon (Sầu) Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn/ Sóng mắt, lời môi, nhiều - thật nhiều (Vô biên) Em phải nói, phải nói, và phải nói/ Bằng lời riêng nơi cuối mắt, đầu mày/ Bằng nét buồn bằng

vẻ thẹn , chiều say/ Bằng đầu ngả, bằng miệng cười, tay riết (Phải nói)

Hai nhà thơ Nguyễn Bính và Xuân Diệu, họ đều là các nhà thơ trong phong trào Thơ mới nhưng rất khác nhau trong tư tưởng sáng tác

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào

NB

Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình

Anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!

Anh nhớ anh của ngày tháng xa khợi,

Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời

Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm

Trang 7

Em! Xích lại! Và đưa tay anh nắm!

Xuân Diệu – Tương tư chiều

Điểm giống nhau giữa hai đoạn thơ là Cùng viết về một đề tài rất thơ mới: tương tư – một trạng thái tình cảm thường xuất hiện khi người ta đang yêu và thể hiện Nội dung cảm xúc: nói lên nỗi nhớ da diết, mãnh liệt của chủ thể trữ tình – những chàng trai đa tình, sống hết mình cho tình yêu

Nhưng XD vẫn chứng tỏ được cái mới mẻ của mình qua cách thể hiện nỗi nhớ rất hiện đại và cởi mở Cùng thể hiện nỗi nhớ da diết trong tình yêu nhưng nỗi nhớ trong đoạn thơ của Nguyễn Bính mang nặng nỗi niềm trăn trở, băn khoăn Tình cảm được thể hiện một cách tế nhị, kín đáo, chủ yếu là tỏ tình, ướm hỏi với bao khát khao, mong ước Đây

là nỗi tương tư một phía, vào thời điểm mới bắt đầu của một tình yêu mang đậm màu sắc truyền thống.Trạng thái tương tư được thể hiện trong đoạn thơ của Xuân Diệu sôi nổi, mãnh liệt, dâng trào Tác giả công khai thể hiện nỗi nhớ cháy bỏng, da diết và khát khao được gần gũi, sẻ chia với người mình yêu Đây là trạng thái tương tư của một tình yêu rất "hiện đại"

Đến đây ta đã thật sự hiểu được vì sao Hoài Thanh đã gọi Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” Với Xuân Diệu thơ tình có cách diễn đạt khác hẳn các nhà thơ cùng thời và trước đó Thi sĩ là người đầu tiên dám diễn đạt tình yêu theo đúng nghĩa tình yêu Là người được lựa chọn để giương cao hơn nữa ngọn cờ Thơ mới, Xuân Diệu đã không phụ công sức của những người mở đầu, khai phá, mau chóng trở thành đại biểu ưu tú nhất của một thời đại thơ ca

6 Vẻ đẹp trong truyện ngắn Thạch Lam

Với nhà văn Thạch Lam (1910-1942), vẻ đẹp là m t cái gì chỉ hi n ra mong manh ô ê thấp thoáng nên dễ bị bỏ qua Ông viết: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi v t tầm thường " Cái đẹp trong văn Thạch â Lam là cái đẹp cổ điển: đẹp và buồn

Không phải nhà văn tiền chiến nào cũng thích nói đến cái đẹp Đọc các truy n ngắn ê truy n dài của Nguyễn Công Hoan hay cả loạt phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của ê

Vũ Trọng Phụng, người ta thấy cái đẹp hầu như vắng m t Có vẻ nó giống như m t ă ô thứ hàng xa xỉ, không dây dưa gì đến cu c đời nhếch nhác này, và để được chân ô

Trang 8

thành trong câu chuy n, tác giả ngầm bảo ta rằng, tốt hơn hết là không nên nhắc tới ê

nó làm gì

Ở m t ngòi bút như Thạch Lam thì tình hình hoàn toàn ngược lại Từ những bài báo ô nhỏ đến những truy n ngắn cô đọng, viết văn với Thạch Lam đồng nghĩa với vi c sănê ê sóc tới cái đẹp, và nhắc nhở về sự có m t của nó với mọi người Ông nói tới vẻ đẹp ă trong thiên nhiên: buổi trưa vắng vẻ ở m t làng quê hay ban mai yên ả ở m t xóm ô ô nhỏ trung du (Dưới bóng hoàng lan, Nắng trong vườn) Ông nói tới vẻ đẹp hồn h u â trong xúc đ ng đơn sơ của m t thanh niên lần đầu làm cha, ho c cái cảm giác lạ ô ô ă lùng của mấy em nhỏ trong m t ngày chớm rét (Đứa con đầu lòng, Gió đầu mùa) ô Đối với những con người khiêm nhường mà cu c sống bị đè n ng bởi những lo toan ô ă hàng ngày, Thạch Lam biết tìm ra những nét tính cách cao quý, nó là nhân tố làm cho người ta tồn tại và nhờ v y, lại toát lên m t vẻ đẹp riêng (Nhà mẹ Lê, Tối ba mươi) â ô

M t nét quán xuyến trong cách nhìn đời của Thạch Lam: tác giả luôn luôn mách ô thầm với chúng ta rằng vẻ đẹp là m t cái gì chỉ hi n ra mong manh thấp thoáng nên ô ê

dễ bị bỏ qua Ông viết trong Theo dòng: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi v t tầm thường Công vi c của nhà văn là phải â ê hiểu cái đẹp chính ở chỗ mà không ai ngờ, tìm cái đẹp kín đáo bị che lấp trong sự

v t, cho người khác m t bài học trông nhìn và thưởng thức".â ô

có lẽ đ c tính đáng nhớ nhất của cái đẹp trong văn Thạch Lam ấy là nó thường được ă miêu tả với m t nỗi buồn sâu xa Cảm giác chính còn lại trong người đọc sau khi đọc ô nhiều trang sách, từ Gió đầu mùa đến Sợi tóc, là m t cu c đời mờ mờ xám xám Hãy ô ô nhớ lại Cô hàng xén, thiên truy n bao quát gần hết cu c đời của m t con người ê ô ô Những phiên chợ quê nhiều mầu sắc, thoáng qua rất nhanh, cùng với những năm tháng tuổi trẻ, ấp ủ nhiều hy vọng của người con gái chăm chỉ và giàu tình thương gia đình Rồi cái khía cạnh người ta nhớ hơn cả khi nghĩ tới Tâm, ấy là con đường từ chợ

về nhà vắng vẻ, cùng những lo âu đè n ng tâm hồn cô trong cu c sống hàng ngày ă ô Ngòi bút Thạch Lam thường tỏ ra có sự nhạy cảm lạ lùng với những gì đã an bài ho că những nếp sống đã trở thành mòn mỏi M t buổi tối phố huy n, nhà cửa như thiếp ô ê dần đi trong ánh sáng những ngọn đèn dầu leo lét Những đi u hát xẩm vẳng lên ê trong m t xóm nghèo Mấy bức tranh dân gian mầu sắc đạm bạc Cảnh tết sơ sài ở ô

m t xóm nhỏ ngoại thành Thạch Lam bằng lòng chấp nh n cu c sống như nó đangô â ô

có, nhưng vẫn không thôi tự nhủ lẽ ra nó phải khác kia, làm sao nó lại chỉ như chúng

ta đang thấy! M t cảm giác bao trùm còn lại: Đời đẹp và buồn Và nhờ gắn với cái ô buồn, cái thực, mà vẻ đẹp trong văn Thạch Lam lại có được sự sống riêng Nó trở nên

Trang 9

bền chắc Nó không lẫn đi giữa những vẻ đẹp nhạt nhèo mà những cây bút tầm thường mang ra để an ủi bạn đọc Cái thuở thanh bình xa vắng tác giả Gió đầu mùa hay nói tới giờ đã qua đi từ lâu, song sống trong tấp n p ồn ào, các thế h đến sau â ê vẫn có thể tìm thấy ở cái vẻ đẹp cổ điển mà Thạch Lam hay nói tới m t sự đồng cảm ô

Cổ điển ở đây đồng nghĩa với sống mãi

có lẽ đ c tính đáng nhớ nhất của cái đẹp trong văn Thạch Lam ấy là nó thường được ă miêu tả với m t nỗi buồn sâu xa Cảm giác chính còn lại trong người đọc sau khi đọc ô nhiều trang sách, từ Gió đầu mùa đến Sợi tóc, là m t cu c đời mờ mờ xám xám Hãy ô ô nhớ lại Cô hàng xén, thiên truy n bao quát gần hết cu c đời của m t con người ê ô ô Những phiên chợ quê nhiều mầu sắc, thoáng qua rất nhanh, cùng với những năm tháng tuổi trẻ, ấp ủ nhiều hy vọng của người con gái chăm chỉ và giàu tình thương gia đình Rồi cái khía cạnh người ta nhớ hơn cả khi nghĩ tới Tâm, ấy là con đường từ chợ

về nhà vắng vẻ, cùng những lo âu đè n ng tâm hồn cô trong cu c sống hàng ngày ă ô Ngòi bút Thạch Lam thường tỏ ra có sự nhạy cảm lạ lùng với những gì đã an bài ho că những nếp sống đã trở thành mòn mỏi M t buổi tối phố huy n, nhà cửa như thiếp ô ê dần đi trong ánh sáng những ngọn đèn dầu leo lét Những đi u hát xẩm vẳng lên ê trong m t xóm nghèo Mấy bức tranh dân gian mầu sắc đạm bạc Cảnh tết sơ sài ở ô

m t xóm nhỏ ngoại thành Thạch Lam bằng lòng chấp nh n cu c sống như nó đangô â ô

có, nhưng vẫn không thôi tự nhủ lẽ ra nó phải khác kia, làm sao nó lại chỉ như chúng

ta đang thấy! M t cảm giác bao trùm còn lại: Đời đẹp và buồn Và nhờ gắn với cái ô buồn, cái thực, mà vẻ đẹp trong văn Thạch Lam lại có được sự sống riêng Nó trở nên bền chắc Nó không lẫn đi giữa những vẻ đẹp nhạt nhèo mà những cây bút tầm thường mang ra để an ủi bạn đọc Cái thuở thanh bình xa vắng tác giả Gió đầu mùa hay nói tới giờ đã qua đi từ lâu, song sống trong tấp n p ồn ào, các thế h đến sau â ê vẫn có thể tìm thấy ở cái vẻ đẹp cổ điển mà Thạch Lam hay nói tới m t sự đồng cảm ô

Cổ điển ở đây đồng nghĩa với sống mãi

Trong truyện, Thạch Lam đã xây dựng được một thế giới hình ảnh vừa chân thực, sinh động lại vừa vô cùng gợi cảm bởi chính vẻ đẹp của nó

+ Quan niệm của Thạch Lam: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật bình thường"

+ Không gian được lựa chọn trong tác phẩm: Một phố huyện nghèo nơi tiếp giáp giữa thành thị và thôn quê song dưới ngòi bút Thạch Lam dường như tính chất làng

đã nhiều hơn tính chất phố

Trang 10

Nguyễn Tuân đã nhận xét về ngôn ngữ văn chương Thạch Lam rất sâu sắc “Thạch Lam đã làm cho tiếng Việt gọn ghẽ đi, co duỗi thêm, mềm mại và tươi tắn hơn Thạch Lam có đem sinh sắc vào tiếng ta Và theo tôi nghĩ, đứng bên cái tiêu chuẩn thái độ

tư tưởng nó là tiêu chuẩn chung cho các thể, các ngành văn nghệ thì đây là cái chuẩn trong những tiêu chuẩn quan trọng nếu không là duy nhất” Thạch Lam đã mang tới những đóng góp không nhỏ trong quá trình hiện đại hóa văn học trên phương diện ngôn ngữ và mang dấu ấn rất riêng của cây bút lãng mạn, giàu xúc cảm và tài hoa

7 Phân tích nhân vật điển hình hóa của vũ trọng phụng qua nhân vạt nghi hách và xuân tóc đỏ

Vũ Trọng Phụng là một nhà văn hiện thực xuất sắc của thời kì 1930 - 1945, ông mất năm 27 tuổi nhưng đã để lại 17 tác phẩm lớn: Vỡ đê, Giông tố Số đỏ

Vũ Trọng Phụng đã xây dựng thành công hai nhân vật điển hình là Xuân tóc đó và Nghị Hách Nghị Hách từ một cái nền đã dùng thủ đoạn lừa đảo và nhiều âm mưu thâm độc trở thành một tên tư bản giàu có, độc ác, cơ hội về chính trị, vô đạo đức Trong các nhân vật như Nghị Lại (Bước đường cùng), Nghị Quế (Tắt đèn) thì Nghị Hách có bề dày cá tính rõ rệt hơn "Xuân tóc đỏ" là một điển hình sắc sảo và

Số đỏ là một tác phẩm lớn của dòng văn học hiện thực

Nhân vật Xuân tóc đỏ được hình thành trước hết là trong môi trường bụi đời Vốn

là đứa trẻ không cha không mẹ, ở với bác bị đuổi vì thói xấu vô đạo đức và Xuân trở thành kẻ lang thang bụi đời: Thằng Xuân lấy đầu hè, xó cửa làm nhà, lấy sấu ở các phố, cá hồ Hoàn Kiếm làm cơm Nó đã bán phá xa, bán nhật trình, làm chạy hiệu rạp hát, bán cao đơn hoàn tán trên xe lửa, và vài ba nghề tiếu xảo khác nữa Ánh nắng mặt trời làm tóc nó đỏ như tóc Tây Cảnh ngộ đó tạo nên một đứa hoàn toàn vô giáo dục tuy nó tinh quái lắm, thạo đời lắm

Môi trường bụi đời làm cho Xuân bị lưu manh hóa, biểu hiện ở những hành động xấu, cách tán tỉnh cô hàng mía, thái độ của Xuân với cô đầm, lối nói năng vô văn hóa: "Mẹ kiếp", "Nước mẹ gì" Môi trường bụi đời là sản phẩm của chế độ thực dân phong kiến, Xuân tóc đỏ là một đứa vô học, không hề được tiếp nhận ảnh hưởng tốt của giáo dục gia đình, nhà trường Xuân tóc đỏ lại là kẻ gặp nhiều cơ may Vào lúc Xuân tóc đỏ bị bắt vì hành vi xấu, nó lại được bà Phó Đoan giải thoát

và được chuyển về môi trường những kẻ giàu có Hai lối sống khác biệt nhưng không đối lập nhau Những người giàu có này thường có nhiều dục vọng, chạy theo thời cuộc, sống đối phó, nhiều thủ đoạn Xuân tóc đó đã tạo được chỗ đứng trong gia đình của ông bà Văn Minh (Xuân tóc đỏ nhanh trí, khôn vặt, nhiều mánh lới)

Ngày đăng: 20/03/2018, 21:09

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w