Còn trong phạm vi doanh nghiệp, an ninh tài chính cũng được xem xét trên các khía cạnh như tính lành mạnh, an toàn và hiệu quả theo quan điểm của chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người c
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị
Tác giả luận án
Phạm Thị Phương Anh
Trang 4iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC CÁC HÌNH xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 10
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ AN NINH TÀI CHÍNH 10
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HÀNG KHÔNG 10
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp ngành hàng không 10
1.2 An ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không 14
1.2.1 Khái niệm về an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không 14
1.2.1.2 Khái niệm về an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không 15
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không 22 1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ ổn định 22
1.1.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng đảm bảo an toàn 28
1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không 34
1.3 Kinh nghiệm đảm bảo an ninh tài chính tại một số doanh nghiệp ngành hàng không trên thế giới và bài học rút ra đối với Việt Nam 43
1.3.1 Kinh nghiệm đảm bảo an ninh tài chính tại một số doanh nghiệp hàng không trên thế giới 44
Trang 5v
1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp NHK Việt Nam 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49
CHƯƠNG 2 50
THỰC TRẠNG AN NINH TÀI CHÍNH 50
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 50
2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp hàng không Việt Nam 50
2.2.Thực trạng an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không Việt Nam 61
2.2.1 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh mức độ ổn định 61
2.2.2 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng đảm bảo an toàn tài chính 87
2.2.3 Sử dụng mô hình kinh tế lượng xem xét tác động của các nhân tố cơ bản tới khả năng phá sản của các doanh nghiệp ngành hàng không Việt Nam 116
2.3 Đánh giá an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không Việt Nam 121
2.3.1 Kết quả đạt được 121
2.3.2 Hạn chế 122
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 124
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 130
CHƯƠNG 3 131
GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH TÀI CHÍNH 131
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 131
3.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội và mục tiêu phát triển ngành hàng không Việt Nam trong thời gian tới 131
3.1.1 Bối cảnh kinh tế – xã hội 131
3.1.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển của các doanh nghiệp ngành hàng không thời gian tới 134
Trang 6vi
3.2 Giải pháp đảm bảo an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không Việt Nam
trong thời gian tới 136
3.2.1 Giải pháp đối với doanh nghiệp 136
3.2.2 Kiến nghị với Nhà nước 169
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 178
KẾT LUẬN 179
TÀI LIỆU THAM KHẢO 182
Trang 7vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
ANTCDN An ninh tài chính doanh nghiệp BEP Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
NN&PTNT Nông nghiệp & phát triển nông thôn
NVLĐTX Nguồn vốn lưu động thường xuyên
Trang 9ix
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
ASEAN Association of Southest Asian
Nation
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
APEC Asia-Pacific Economic
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
NIM Net interest margin Thu nhập từ lãi biên
NWC Net working capital Nguồn vốn lưu động thường xuyên
ROA Return on Assets Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
ROE Return on Equity Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROS Return on Sales Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 10x
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Khả năng sinh lời của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 64
Bảng 2.2 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS) của
các doanh nghiệp NHK Việt Nam
66
Bảng 2.3 Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản của các doanh nghiệp NHK Việt
Nam
68
Bảng 2.4 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh của các doanh
nghiệp NHK Việt Nam
Bảng 2.9 Chỉ số Z” của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 86
Bảng 2.10 Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 89
Bảng 2.11 Khả năng thanh toán hiện thời của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 91
Bảng 2.12 Khả năng thanh toán nhanh của các doanh nghiệp
NHK Việt Nam
94
Bảng 2.13 Khả năng thanh toán tức thời của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 96
Bảng 2.14 Khả năng thanh toán lãi vay của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 100
Trang 11xi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Tốc độ tăng nguồn vốn giai đoạn 2011 - 2016 58
Hình 2.2 Hệ số nợ trung bình của các doanh nghiệp trong NHK Việt Nam 59
Hình 2.3 Biến động hệ số nợ của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 60
Hình 2.4 Tỷ lệ đầu tư vào TSNH giai đoạn 2011 - 2016 61
Hình 2.5 Khả năng sinh lời của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 65
Hình 2.6 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu của các doanh nghiệp
Hình 2.8 Biến động ROA của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 71
Hình 2.9 Tỷ lệ doanh nghiệp NHK Việt Nam theo mức độ tín nhiệm của
các ngân hàng
72
Hình 2.10 Biến động ROE của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 74
Hình 2.11 Tỷ lệ doanh nghiệp trong NHK Việt Nam có ROE tăng, ROE
giảm qua các năm
75
Hình 2.12 Nguồn vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp NHK
Việt Nam
75
Hình 2.13 Tỷ lệ doanh nghiệp có nguồn vốn lưu động thường xuyên tăng,
giảm qua các năm
80
Hình 2.14 Lưu chuyển tiền thuần của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 83
Hình 2.15 Tỷ lệ doanh nghiệp ở các mức LCTT qua các năm 84
Hình 2.16 Biến động chỉ số Z” của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 87
Hình 2.17 Đánh giá chỉ số Z” của các doanh nghiệp trong NHK Việt Nam 87
Hình 2.18 Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 89
Hình 2.19 Khả năng thanh toán hiện thời của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 91
Hình 2.20 Xếp loại khả năng thanh toán hiện thời của các doanh nghiệp 92
Trang 12xii
NHK Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2015
Hình 2.21 Khả năng thanh toán của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 94
Hình 2.22 Xếp loại khả năng thanh toán nhanh của các doanh nghiệp từ năm
2010 đến năm 2015
95
Hình 2.23 Khả năng thanh toán tức thời của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 97
Hình 2.24 Khả năng thanh toán lãi vay của các doanh nghiệp NHK Việt Nam 100
Hình 3.1 Dự báo ROE của các doanh nghiệp trong NHK giai đoạn 2015 – 2017 121
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Trong nền kinh tế thị trường, trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những rủi ro phát sinh Những rủi ro trong kinh doanh rất đa dạng nảy sinh do những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan như rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động, rủi ro kỹ thuật - công nghệ, rủi ro pháp luật, rủi ro từ các yếu tố tự nhiên.v.v Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong từng lĩnh vực, từng ngành nhất định sẽ chịu tác động của các loại rủi ro khác nhau và mức độ rủi ro cũng khác nhau Tuy nhiên, bất kỳ loại rủi ro nào nảy sinh đều đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Trong những năm gần đây với cuộc khủng hoảng kinh tế trên phạm vi toàn cầu cho thấy nhiều doanh nghiệp ở các nước bị đe dọa sự tồn tại bởi rủi ro tài chính Do vậy, việc đảm bảo anh ninh tài chính của doanh nghiệp là vấn đề đặt ra một cách gay gắt đối với các nhà quản trị doanh nghiệp Ở Việt Nam, trong cuộc suy thoái kinh tế vừa qua cũng bộc lộ rõ hơn tình trạng không ít những doanh nghiệp kể cả một số doanh nghiệp lớn bị mất an ninh tài chính có nguy cơ rơi vào tình trạng phá sản
Cùng với xu thế toàn cầu hóa chứa đựng nhiều nguy cơ bất ổn, các dòng vốn tự do di chuyển làm tăng mối quan tâm của các quốc gia đối với việc đảm bảo cho khu vực tài chính được hoạt động một cách lành mạnh, an toàn và hiệu quả Đó là an ninh tài chính ở cấp độ quốc gia Còn trong phạm vi doanh nghiệp,
an ninh tài chính cũng được xem xét trên các khía cạnh như tính lành mạnh, an toàn và hiệu quả theo quan điểm của chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay bởi những rủi ro trong hoạt động tài chính luôn tồn tại Tuy nhiên, vấn đề an ninh tài chính còn phụ thuộc vào lĩnh vực, ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp cũng như phương pháp và chất lượng thông tin thu thập để đánh giá Cuối năm 2006, nước ta chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hội
Trang 142
nhập kinh tế quốc tế Sự hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới tạo ra nhiều
cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trong ngành hàng không nói riêng, trong đó có vấn đề an ninh tài chính doanh nghiệp Trước đây, ngành hàng không là ngành độc quyền hoạt động dưới sự bảo trợ của nhà nước, vì vậy tính minh bạch thấp, hiệu quả kinh doanh không cao Nhưng sau mở cửa nền thị trường, ngành hàng không cũng phải đối diện với không ít khó khăn, thử thách như: làm thế nào
để cạnh tranh với các doanh nghiệp hàng không quốc tế, đảm bảo an toàn đường bay, đảm bảo an ninh tài chính, tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp
Hiện nay, ngành hàng không trên thế giới đang phải đối mặt với “khủng hoảng hàng không thế giới” Nguyên nhân là do trong những năm gần đây, chi phí nhiên liệu dưới tác động của giá xăng dầu đứng ở mức cao; sự cạnh tranh giữa các hãng hàng không ngày càng gay gắt, sự uy hiếp an toàn hàng không liên tiếp xảy ra làm cho các doanh nghiệp ngành hàng không gặp khó khăn trong kinh doanh, lợi nhuận giảm và có nhiều doanh nghiệp đã phải tuyên bố phá sản Trong thực tế đã có không ít doanh nghiệp ngành hàng không Việt Nam bị phá sản như: Hãng hàng không Trãi Thiên, Indochina Airlines, còn Air Mekong đang có nguy cơ phá sản… Các doanh nghiệp ngành Hàng không có những đặc điểm kinh tế-kỹ thuật hết sức đặc thù như: trang bị cơ sở vật chất kỹ thuận rất hiện đại, rủi ro kinh doanh rất lớn, hạch toán kinh tế toàn ngành; điều này đã đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp Hàng không cũng như các nhà nghiên cứu luôn luôn trăn trở tìm các giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm an ninh - an toàn tài chính cho các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng
Vì vậy, đảm bảo an ninh tài chính trong hoạt động của các doanh nghiệp ngành hàng không là một bức xúc, có tính thời sự cao trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn ở Việt Nam
Trang 153
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải pháp đảm
bảo an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không Việt Nam” để tập
trung nghiên cứu là có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần đề xuất các giải pháp bảo đảm an ninh tài chính, duy trì sự phát triển ổn định và bền vững
của các doanh nghiệp Hàng không Việt Nam hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra những lý luận về an ninh tài chính trong doanh nghiệp để từ đó phân tích thực trạng đảm bảo an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không Việt Nam Trên cơ sở đó đề ra những đảm bảo an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không Việt Nam trong giai đoạn tới Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
Hệ thống hóa lý luận về về an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không, chỉ rõ khái niệm, nội dung và hệ thống chỉ tiêu đánh giá về an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không
Tìm hiểu thực trạng về an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không trong thời gian qua Từ đó, dánh giá thực trạng về an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không trong thời gian qua trên các mặt kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
Đưa ra các giải pháp dưới góc độ vi mô của doanh nghiệp kết hợp với những giải pháp quản lí vĩ mô của Nhà nước nhằm đảm bảo an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng
không
Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về an ninh tài chính trong các
doanh nghiệp hàng không gồm 3 tổng công ty và 1 CTCP Trong đó:
Trang 164
- Tổng công ty hàng không Việt Nam, tổng công ty Quản lý bay, tổng công
ty cảng hàng không Việt Nam và CTCP Hàng Không Vietjet Air từ năm 2011 đến năm 2016
- CTCP Hàng Không Vietjet Air từ năm 2013 – 2016
Riêng đối với tổng công ty cảng hàng không Việt Nam số liệu trước năm 2013 là
số liệu tập hợp của ba đơn vị Cảng hàng không miền Bắc, Cảng hàng không miền Trung và cảng hàng không miền Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đặt được mục đích và hướng nghiên cứu kể trên luận án sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử trongquá trình triển khai nghiên cứu luận án
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu, tư liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh tại của các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty hàng không Việt Nam, Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam, Tổng công ty quản lý bay
Áp dụng phương pháp thống kê, phân tổ, phân tích tổng hợp, so sánh phương pháp mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu
5 Tình hình nghiên cứu
5.1 Công trình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về an ninh tài chính tiếp cận dưới những góc độ và mức độ khác nhau được đăng tải trên các sách, đề tài khoa học, Trong số đó có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau:
Đã có một số đề tài, bài báo nghiên cứu vấn đề an ninh tài chính nói chung hoặc đề cập đến an ninh tài chính của doanh nghiệp Việt Nam ở một số nội dung nhất định
Đề tài khoa học cấp Nhà nước của Viện Khoa học Tài chính (2002)
“Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống giải pháp đảm bảo an ninh
Trang 175
tài chính của Việt Nam trong phát triển và hội nhập quốc tế”, đã đề cập đến an ninh tài chính quốc gia trong phát triển và hội nhập quốc tế trong đó có đề cập đến an ninh tài chính doanh nghiệp
GS,TSKH Tào Hữu Phùng(2004) -Cuốn sách “An ninh tài chính Quốc gia - Lí luận - cảnh báo - đối sách”, đã đề cập vấn đề an ninh tài chính quốc gia nói chung đưa ra các cảnh báo và các hướng xử lý, trong đó có phân tích vấn đề
an ninh tài chính doanh nghiệp Việt Nam
GS,TSKH Tào Hữu Phùng, Th.sĩ Trần Tiến Hưng(2003)- Cuốn sách
“An ninh tài chính doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện chủ động hội nhập quốc tế”, đi sâu phân tích an ninh tài chính của các doanh nghiệp nhà nước đánh
giá những kết quả đạt dược, hạn chế, nguyên nhân và đưa ra hệ thống giải pháp nhằm đảm bảo an ninh tài chính của các doanh nghiệp nhà nước
Trần Tiến Hưng( 2008), Một số giải pháp bảo đảm an ninh tài chính doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập, Luận án tiến sỹ kinh tế, đã khái quát hóa lý luận về an ninh tài chính doanh nghiệp, thực trạng an ninh tài chính trong các doanh nghiệp ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2007 chỉ rõ các kết quả đạt được, những hạn chế về an ninh tài chính doanh nghiệp Việt Nam và nguyên nhân của tồn tại đó Xuất phát từ các kết quả đạt được cũng như những hạn chế, nguyên nhân hạn chế về an ninh tài chính doanh nghiệp, luận án đề xuất các giải pháp dưới góc độ vĩ mô kết hợp với các giải pháp vi mô nhằm bảo đảm
an ninh tài chính doanh nghiệp Việt Nam
Vũ Minh Tâm ( 2009), An ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, LA Tiến sỹ kinh tế, tác giả đã hệ thống hóa lý luận về thị trường tài chính và an ninh tài chính cho thị trường tài chính Trên cơ sở tìm hiểu và đánh giá thực trạng an ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam, tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam
Trang 185.2 Công trình nghiên cứu nước ngoài
- Công trình nghiên cứu “Risk Management Practices in the Airline
Industry”, Sharon Fernando, Đại học Simon Fraser, 2006 Nghiên cứu tập trung
vào chính sách phòng ngừa rủi ro trong ngành hàng không bằng các công cụ phái sinh tại các hãng hàng không quốc gia của 15 nước trên toàn thế giới Công cụ phái sinh chủ yếu đựoc sử dụng để kiểm soát sự biến động của giá dầu, lãi suất
và tỷ giá hối đoái
- Công trình nghiên cứu “The effectiveness of the operational and
Financial Hedge: Evidence from the Airline Industry”, Stephen Decatur
Treanor, 2008 Công trình cho rằng ngành hàng không có nhiều khả năng xảy ra rủi ro, nhất là với giá nhiên liệu máy bay Để phòng ngừa rủi ro này, các hãng đều sử dụng kết hợp biện pháp phòng ngừa rủi ro hoạt động và phòng ngừa rủi
ro tài chính Biện pháp ngăn cản rủi ro tài chính chủ yếu là sử dụng công cụ phái sinh Trong khi đó, biện pháp ngăn cản rủi ro hoạt động được ưu tiên sử dụng là
đa dạng hoá đội bay hoặc cho thuê máy bay của hãng hàng không Việc đa dạng hoá đội bay và sử dụng một đội tàu thuê riêng cho phép một hãng hàng không điều chỉnh đội tàu vận hành để đáp ứng nhu cầu của thị trưòng năng động Một
Trang 197
đội bay tiết kiệm nhiên liệu sẽ làm giảm tổng chi phí nhiên liệu của hãng hàng không Nghiên cứu chỉ ra rằng, các hãng hàng không thưòng sử dụng công cụ tài chính để đạt đựoc các mục tiêu trong ngắn hạn, còn phòng ngừa rủi ro hoạt động trong dài hạn
- “Jet Fuel Hedging and Modern Financial Theory in the U.S Airline
Industry”, Brandon Lee Scheweitzer, 2017 Bài viết sử dụng lý thuyết tài chính
hiện đại của Simkowitz về chính sách nợ, chính sách chia cổ tức và chính sách đầu tư để nghiên cứu cách thức phòng ngừa rủi ro tài chính của các nhà quản trị hàng không Mỹ, nhằm giảm thiểu rủi ro xảy ra từ việc biến động giá nhiên liệu đầu vào
- “Enterprise Risk Management in the Airline Industry – Risk
management Structures and Practices”, Anna Misura, 5/2015 Luận án đã giải
quyết những khoảng trống nghiên cứu trong lý thuyết quản trị rủi ro với thực tế
hệ thống quản lý rủi ro doanh nghiệp (Enterprise Risk Management – ERM) trong các hang hang không, thong qua các tiếp cận đa chiều để đánh giá hệ thống quản trị rủi ro, chứ không nhắm mục tiêu vào các loại rủi ro cụ thể như rủi ro về tài chính hay an toàn hang không Nghiên cứu giải thích cách thức mà hệ thống quản lý rủi ro đựoc phát triển để cân bằng các yêu cầu về kỹ thuật và thể chế Từ đó, khẳng định vai trò và tính linh động trong sử dụng của hệ thống ERM Nó cho thấy bản chất phụ thuộc lẫn nhau của hệ thống ERM trong các hang hang không với các hệ thống quản lý khác Hệ thống ERM hang không thúc đẩy sự phát triển của các thể chế, quy tắc và các thủ tục mới để quản lý rủi ro toàn diện
- “Integrated Safety Management Systems – Lessons from the Aviation
Industry”, Rob Lee, Phd, 2011 Theo hội thảo khoa học, hệ thống quản lý an
toàn bắt buộc phải bao gồm quy trình quản trị trong các bộ phận: kinh doanh, tài chính và nguồn nhân lực Đặc biệt, xây dựng đựoc quy trình kinh doanh thể hiện mối quan hệ giữa quản trị tài chiíh và hệ thống quản lý an toàn
Trang 208
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan tới nội dung nghiên cứu đều hệ thống hoá những lý luận cơ bản về an ninh tài chính và các chỉ tiêu đảm bảo an ninh tài chính Tuy nhiên, với những ngành nghề khác biệt, mỗi loại hình doanh nghiệp cũng như các góc độ tiếp cận khác nhau mà hiện nay chưa có một luận án nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không
Chính vì thế, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn một cách có hệ thống về
an ninh tài chính của các doanh nghiệp hàng không Việt Nam là một vấn đề mới
mẻ, có tính thời sự Để làm được điều này, tác giả tập trung vào nghiên cứu các khía cạnh cốt lõi sau đây:
- Hệ thống hóa toàn bộ lý luận về doanh nghiệp hàng không và đặc điểm của các doanh nghiệp hàng không so với các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực khác trong nền kinh tế quốc dân Hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không, đồng thời nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ảnh hưởng tới an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng
- Luận án trình bày những vấn đề thực tiễn về đảm bảo an ninh tài chính của các doanh nghiệp hàng không ở Việt Nam Mặt khác, luận án chỉ ra bằng mô hình kinh tế lượng các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số Z- chỉ số cảnh báo nguy cơ rủi ro đối với các doanh nghiệp hàng không Từ đó chỉ ra những thành công và hạn chế trong hoạt động đảm bảo an ninh tài chính của các doanh nghiệp hàng không Việt Nam hiện nay
-Luận án sẽ đưa ra những giải pháp đảm bảo an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không Việt Nam trong thời gian tới
6 Ý nghĩa khoa học và thực tế của đề tài nghiên cứu
Về lý luận
Tập hợp một cách có hệ thống các vấn đề liên quan đến an ninh tài chính trong các doanh nghiệp ngành hàng không Trên cơ sở tập hợp những lý luận này, tác giả sẽ giúp doanh nghiệp có những giải pháp đảm bảo an ninh tài chính
Trang 219
trong các doanh nghiệp ngành hàng không Đây sẽ là một đóng góp của tác giả
về mặt khoa học trong việc đưa ra các lý luận vào áp dụng trong thực tiễn cho các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng
không Việt Nam
Chương 3: Giải pháp đảm bảo an ninh tài chính trong các doanh
nghiệp hàng không Việt Nam
Trang 2210
CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ AN NINH TÀI CHÍNH
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HÀNG KHÔNG 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp ngành hàng không
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp ngành hàng không
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp phát triển một cách đa dạng, phong phú
Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp khác nhau
Nếu căn cứ vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản thì doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Nếu căn cứ vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính
Nếu dựa vào hình thức pháp lí tổ chức doanh nghiệp thì doanh nghiệp được chia thành: Công ty TNHH; công ty cổ phần; công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân
Các loại doanh nghiệp khác nhau tuy có những đặc trưng riêng nhưng tất cả các doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh đều cần phải sử dụng những yếu tố cần thiết là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động để thực hiện mục tiêu kinh doanh - lợi nhuận
NHK (vận tải hàng không) nói theo nghĩa rộng là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiệu quả Nếu nói theo nghĩa hẹp thì vận tải hàng không là sự di chuyển của máy bay trong không trung hay cụ thể hơn là hình thức vận chuyển hành khách, hàng hóa, hành lý, bưu kiện từ một địa điểm này đến một địa điểm khác bằng máy bay Như vậy có thể nói doanh nghiệp hoạt động trong ngành hàng không là một
tổ chức kinh tế, có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
Trang 2311
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích khai thác và phục vụ việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiệu quả
1.1.2 Phân loại các doanh nghiệp trong ngành hàng không
Căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ chính, các doanh nghiệp hàng không được phân chia làm 3 loại:
- Nhóm các doanh nghiệp vận tải hàng không:
Vận tải hành khách hàng không (vận chuyển hàng không đối với hành khách); vậntải hàng hóa hàng không (vận chuyển hành lý, hàng hóa, bưu kiện, bưu phẩm, thư)
- Nhóm các doanh nghiệp hỗ trợ vận tải hàng không ở mặt đất:
Đầu tư, quản lý vốn đầu tư, trực tiếp sản xuất, kinh doanh tại các cảng hàng không sân bay;
Đầu tư, khai thác kết cấu hạ tầng, trang bị, thiết bị cảng hàng không, sân bay; Cung cấp dịch vụ bảo đảm an ninh hàng không, an toàn hàng không;
Cung ứng các dịch vụ bảo dưỡng tàu bay, phụ tùng, thiết bị hàng không và các trang thiết bị khác; cung ứng các dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ khoa học, công nghệ trong và ngoài nước;
Cung ứng các dịch vụ kỹ thuật thương mại mặt đất; các dịch vụ tại nhà ga hành khách, ga hàng hóa; Xuất nhập khẩu, mua bán bán vật tư, phụ tùng, thiết bị hàng không;
Cung ứng dịch vụ phục vụ sân đỗ tại các cảng hàng không sân bay;
Cung ứng xăng dầu, mỡ hàng không (bao gồm nhiên liệu, dầu mỡ bôi trơn và chất lỏng chuyên dùng) và xăng dầu tại các cảng hàng không, sân bay
Cung cấp kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bốc xếp hàng hóa sân bay
- Nhóm doanh nghiệp hỗ trợ vận tải hàng không trên không:
Dịch vụ bảo đảm hoạt động bay
Cung ứng tín hiệu liên lạc và giám sát
Dịch vụ bay kiểm tra, hiệu chuẩn thiết bị bảo đảm hoạt động bay
Trang 2412
Dịch vụ không lưu được cung cấp nhằm các mục đích: (i) Ngăn ngừa va chạm giữa các tàu bay; (ii) Ngăn ngừa va chạm giữa tàu bay với các chướng ngại vật trên khu hoạt động tại sân bay; (iii) Thúc đẩy và điều hòa hoạt động bay; (iv) Cung cấp và tư vấn những tin tức có ích cho việc thực hiện chuyến bay
an toàn và hiệu quả; (v) Thông báo cho các cơ quan, đơn vị liên quan về tàu bay cần phải tìm kiếm, cứu nạn và trợ giúp các cơ quan, đơn vị này theo yêu cầu
1.1.3 Đặc điểm của các doanh nghiệp ngành hàng không
NHK là ngành vận tải áp dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại gắn liền với an toàn và mức độ phục vụ mang tính cạnh tranh cao nên các doanh nghiệp trong ngành hàng không có các đặc điểm cơ bản sau:
Đầu tư lớn vào tài sản cố định:
Trang thiết bị của NHK gồm: đội máy bay vận tải dân dụng các loại Thiết bị điện tử - viễn thông hàng không.Thiết bị phù trợ không vận, vận chuyển thương mại hàng không Máy móc và thiết bị bảo dưỡng máy bay, bộ phận cơ điện lạnh, máy vận chuyển và nâng hạ… Phần lớn các trang thiết bị này rất đắt tiền đòi hỏi một sự đầu tư lớn của doanh nghiệp
Rủi ro kinh doanh cao:
Các doanh nghiệp ngành hàng không thường sử dụng đòn bẩy kinh doanh cao, nếu lượng hành khách giảm sút, doanh thu giảm với tỷ lệ nhỏ thì EBIT đã sụt giảm mạnh, từ đó có thể ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trình độ của người lao động khá cao:
Tùy thuộc phạm vi chuyên ngành và vị trí lao động, cần tối thiểu hóa trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông, với kiến thức khá tốt về Toán, Anh văn Có hiểu biết nhất định về NHK, khả năng tập trung chú ý cao, cảm nhận vấn đề tốt Có kỹ năng lao động chân tay, thao tác tư duy tốt, tập trung chú ý tốt và luôn có ý thức cao trong việc chấp hàng tổ chức kỷ luật, những quy định về kỹ thuật an toàn,…
Riêng đội ngũ phi công đòi hỏi trình độ cao, sức khỏe tốt mới có thể điều khiển máy bay thành thạo và đảm bảo an toàn đường bay
Điều kiện lao động có nhiều khó khăn, đòi hỏi sức khỏe tốt:
Trang 2513
Trừ nghề phi công và tiếp viên là phải làm việc trên bầu trời khi máy bay cất cánh nên thương chịu tác hại bởi vì khí hậu lạnh và tải gia trọng Nghề khai thác vận tải hàng không có tư thế làm việc thường là đứng và nhiều khi phải cúi khom để vận chuyển hàng hóa, đồng thời thường bị tác hại bởi tiếng ồn và chấn động động cơ nổ của các loại máy bay gây ra
Còn các nghề khác thì làm việc ở cảng hàng không, thường làm việc ở trạng thái căng thẳng và ức chế tâm lý do công việc phục vụ liên tục, cần phải chuẩn xác và khoa học
Trong điều kiện làm việc, người lao động phải tiếp xúc với những yếu tố có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của mình, các yếu tố này gọi là những tác hại nghề nghiệp Trong NHK dân dụng có những yếu tố tác hại nghề nghiệp chính là: vi khí hậu nóng, tiếng ồn và chấn động, bức xạ nhiệt, sự căng thẳng về thần kinh và thị giác… Do đó, những người mắc các bệnh sau đây sẽ không phù hợp
để làm việc trong NHK dân dụng: dị ứng dầu mỡ, bệnh tim mạch, rối loạn chức năng tiền đình, các bệnh đau đầu, chóng mặt, các bệnh về phổi, rối loạn sắc giáp, thấp khớp nặng, thị lực yếu…
1.1.4 Vai trò của các doanh nghiệp ngành hàng không trong nền kinh tế
Trong những năm vừa qua, các doanh nghiệp NHK đã khẳng định vị trí, vai trò của mình trên mọi mặt của đời sống
Trong quá trình hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp NHK đã góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế phát triển: NHK được ví như mạng lưới liên kết các ngành
khác nhau trong nền kinh tế do đó các doanh nghiệp NHK có một vai trò không thể thiếu khi là cầu nối giữa các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau giúp thúc đẩy sự hợp tác, giao thương giữa các vùng trong cả Hoạt động của các doanh nghiệp NHK đã thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa ngày càng sâu rộng, xúc tiến các hoạt động du lịch, các hoạt động đầu tư,…các doanh nghiệp NHK
đã, đang và sẽ tiếp tục phục vụ nhu cầu đi lại, nhu cầu vận chuyển ngày càng cao của nền kinh tế Như vậy thông qua đó các ngành khác cũng mở rộng phát triển Ngoài ra, một lượng ngoại tệ nhất định nằm trong doanh thu của các doanh
Trang 2614
nghiệp NHK giúp cho cán cân thanh toán được cải thiện, một khối lượng việc làm lớn được giúp cho người dân có công ăn việc làm, thu nhập ổn định, nâng cao đời sống vật chất,…
Các doanh nghiệp NHK đóng vai trò to lớn trong an ninh, quốc phòng
của mọi đất nước Các doanh nghiệp NHK cả trong quá khứ lẫn hiện tại đã và
đang chiếm một vị trí không hề nhỏ trong công tác chính trị ngoại giao quân sự Các doanh nghiệp NHK giúp mở rộng quan hệ ngoại giao, thúc đẩy giao lưu hợp tác, các cuộc đối thoại song phương và đa phương giữa các nước trong khu vực
và trên thế giới
Các doanh nghiệp NHK đã góp phần thúc đẩy lợi ích xã hội: Bên cạnh
những lợi ích mà ngành hàng không mang lại về mặt kinh tế, về lợi ích xã hội ngành hàng không cũng đã mang lại kết quả to lớn cho đất nước: Vận tải hàng không được xem như một phương tiện hữu dụng nhất có thể cung cấp hàng hóa đến những vùng sâu vùng xa từ đó thúc đẩy việc hòa nhập xã hôi Mặt khác, mạng lưới vận tải hàng không tạo điều kiện cho việc cứu trợ khẩn cấp và phân phối nguồn viện trợ nhân đạo đến bất cứ nơi đâu trên hành tinh, đảm bảo mang đến các thiết bị y tế hay các bộ phận cấy ghép một cách an toàn và nhanh chóng nhất NHK giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của con người, mở rộng giải trí
và trải nghiệm văn hóa cho người dân Bởi vì dịch vụ hàng không cung cấp một
sự lựa chọn rộng rãi về địa điểm nghỉ ngơi khắp thế giới- dịch vụ du lịch Thông qua dịch vụ của ngành hàng không giúp người dân thăm viếng người thân bạn bè – là phương tiện giúp cho con người gần gũi nhau hơn
1.2 An ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không
1.2.1 Khái niệm về an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không
1.2.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hoá cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm thực hiện được các mục đích trong kinh doanh Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu
Trang 2715
v.v và sức lao động để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá đó
để thu lợi nhuận Quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình đó đã làm phát sinh, tạo ra sự vận động của các dòng tiền bao hàm dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên hàng ngày của doanh nghiệp
Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp và bao hàm các quan hệ tài chính chủ yếu như: quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước ( doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, như nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách ); quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội khác( việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho nhau); quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác (doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội ); quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp (doanh nghiệp thanh toán trả tiền công, tiền lương hay thực hiện thưởng, phạt vật chất với người lao động của DN ); quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp(các chủ sở hữu thực hiện việc đầu tư, góp vốn vào, hay rút vốn ra khỏi doanh nghiệp .); quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp (quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp, cũng như khi phân phối kết quả kinh doanh và thực hiện hạch toán nội bộ doanh nghiệp)
Như vậy tài chính doanh nghiệp chính là các quan hệ tài chính nảy sinh
gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp
1.2.1.2 Khái niệm về an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không
Theo Đại từ điển tiếng Việt do nhà xuất bản Văn hóa Thông tin -năm 1998,
an ninh là "Yên ổn, không lộn xộn, không nguy hiểm" Từ điển Tiếng Việt do nhà
Trang 2816
xuất bản Đà Nẵng- năm 2000 định nghĩa, an ninh là "Yên ổn về mặt chính trị, về
trật tự xã hội"; trong tiếng Anh, theo sự giải thích của Từ điển Oxford, security-
chỉ hành động liên quan đến việc bảo vệ một đất nước, hay con người chống lại
sự tấn công hay nguy hiểm hoặc sự bảo vệ tránh những điều không hay có thể
xảy ra trong tương lai Từ điển Le Petit Larousse (1993) của Pháp định nghĩa: an ninh (sécurité) là tình trạng trong đó một người hoặc vật hoặc sự việc không bị
nguy hiểm, rủi ro, bị tấn công, bị tai nạn, bị bất ngờ suy thoái; Từ điển Tiếng Nga - Ogiêgốp.I - 1978 định nghĩa an ninh là tình trạng trong đó không ai hay cái gì bị nguy hiểm Các khái niệm về an ninh trên tuy có sự khác biệt nhưng
cơ bản đều giống nhau: là trạng thái hay tình trạng ổn định, an toàn không bị
nguy hiểm hay rủi ro của một người, một vật hay một sự vật hoặc một sự việc
Theo quan điểm truyền thống trước kia, khi đề cập đến vấn đề an ninh, người ta thường coi an ninh như là vấn đề bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và đặt tiêu điểm quan tâm tập trung vào công việc quốc tế Nhưng cùng với sự phát triển của thời đại, nhận thức về an ninh được mở rộng An ninh không phải chỉ là nội dung quốc phòng, cũng không phải chỉ là giữ quan hệ quốc
tế nào đó mà phạm vi nó đề cập rộng hơn Trên thực tế, các mặt hoạt động của nhân loại hiện nay đều liên quan đến vấn đề an ninh Khái niệm an ninh đã mở rộng với nhiều đối tượng khác nhau như: an ninh chính trị, an ninh lương thực,
an ninh năng lượng, an ninh kinh tế, an ninh tài chính, Với mỗi đối tượng cụ thể, khái niệm và nội hàm của an ninh cũng khác nhau An ninh lương thực khác
an ninh kinh tế, khác an ninh tài chính, khác an ninh tài nguyên, Trong phạm
vi của luận án, chúng tôi chỉ nghiên cứu vấn đề an ninh tài chính doanh nghiệp Hiện nay, khái niệm về an ninh tài chính doanh nghiệp vẫn chưa được nhận thức thống nhất và còn nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này
Một số nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng, an ninh tài chính doanh nghiệp là
sự ổn định của các mối quan hệ tài chính doanh nghiệp, tức là sự duy trì một cách bình thường các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình
Trang 2917
tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của doanh nghiệp Quan niệm an ninh tài chính doanh nghiệp hiểu theo nghĩa ổn định mối quan hệ tài chính doanh nghiệp xuất phát từ bản chất của tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Quan niệm này mang tính khái quát cao và đề cập một cách chung nhất tính ổn định trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, nó chưa phản ánh được nội dung biểu hiện cũng như những yếu tố quyết định đến tính an toàn của tài chính doanh nghiệp Nghĩa là, chưa đề cập được cụ thể trạng thái không bị nguy hiểm
từ những tác động tiêu cực và các yếu tố quyết định tính an toàn của quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
Ý kiến khác cho rằng, an ninh tài chính doanh nghiệp đồng nghĩa với cân bằng tài chính doanh nghiệp Cân bằng tài chính doanh nghiệp được hiểu là việc duy trì cân đối giữa luồng tiền ra và luồng tiền vào của doanh nghiệp An ninh tài chính doanh nghiệp không được đảm bảo khi tài chính doanh nghiệp mất cân bằng Mức độ mất cân bằng cao nhất trong tài chính doanh nghiệp là khủng hoảng tài chính Tránh được khủng hoảng tài chính là mục tiêu cao nhất của các doanh nghiệp Như vậy, quan điểm anninh tài chính doanh nghiệp hiểu theo nghĩa cân bằng tài chính xuất phát từ nhận thứctàichính doanh nghiệp dưới góc độ về sự vận động các luồng tài chính của doanh nghiệp Do đó, quan điểm này cũng mới chỉ xem xét vấn đề an ninh tài chính doanh nghiệp trên một khía cạnh của sự ổn định trong sự vận động các luồng tài chính doanh nghiệp mà chưa đề cập đến tính an toàn của những vận động này
Theo một cách hiểu khác, an ninh tài chính doanh nghiệp là trạng thái an toàn của tài chính doanh nghiệp trước những rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Quan niệm này xuất phát từ nhận thức về vấn đề rủi ro đối với doanh nghiệp Tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất nhạy cảm, mọi biến động bất lợi của nền kinh tế - xã hội đều nhanh
Trang 3018
chóng tác động đến hoạt động này, có thể gây nên những xáo trộn bất ngờ và làm hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp giảm sút Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn và có thể xảy
ra bất cứ lúc nào Rủi ro đối với doanh nghiệp có nhiều loại: rủi ro về giá cả, rủi
ro về lãi suất, rủi ro về tỷ giá hối đoái, rủi ro về công nghệ kỹ thuật, v.v Các rủi
ro này tác động tiêu cực tới tài chính doanh nghiệp từ các góc độ khác nhau, với những mức độ khác nhau, do những nguyên nhân khác nhau Mức độ ảnh hưởng của các loại rủi ro đến tài chính doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào mức độ tác động của các rủi ro mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng tự bảo vệ của doanh nghiệp Nếu khả năng đề kháng của doanh nghiệp lớn hơn hoặc bằng mức độ ảnh hưởng của các rủi ro thì tài chính doanh nghiệp giữ được an toàn Nghĩa là đã bảo đảm được an ninh tài chính doanh nghiệp Ngược lại, nếu khả năng đề kháng của doanh nghiệp nhỏ hơn mức độ ảnh hưởng của các rủi ro thì tài chính doanh nghiệp không an toàn Quan niệm này đã đề cập đến những tác động của các loại rủi ro đến sự an toàn của tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, nó chưa phản ánh được nội dung cũng như tính ổn định của tài chính doanh nghiệp
Các quan niệm về an ninh tài chính doanh nghiệp trên đã đề cập đến sự ổn định và an toàn đối với tài chính doanh nghiệp Đứng trên những góc độ khác nhau, mỗi quan niệm đánh giá vấn đề này ở một khía cạnh Hiện nay, một số nhà nghiên cứu kinh tế Việt Nam đã tiếp cận khái niệm an ninh tài chính doanh nghiệp một cách tương đối đầy đủ, toàn diện: An ninh tài chính doanh nghiệp là khái niệm dùng để chỉ trạng thái giữ được ổn định về tình hình tài chính doanh nghiệp trong giới hạn an toàn cho phép theo các tiêu chuẩn đánh giá của những người bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tuy nhiên, quan niệm trên có thể cần được tiếp tục nghiên cứu Bởi vì, giới hạn an toàn cho phép theo các tiêu chuẩn đánh giá phải là chung cho tất cả các đối tượng chứ không theo các tiêu chuẩn đánh giá dưới góc độ của riêng người bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Các tiêu chuẩn đánh giá của đối tượng này chỉ phản ánh mặt nhận thức chủ quan của những người bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp, có thể đúng, có thể sai Bên cạnh
Trang 3119
đó, vì số lượng doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp trên thế giới rất lớn nên số lượng những đối tượng bỏ vốn cũng rất nhiều, các tiêu chuẩn đánh giá an toàn tài chính doanh nghiệp do vậy đa dạng, phong phú, không có chuẩn mực thống nhất đánh giá đúng đắn thực trạng an toàn của tài chính doanh nghiệp
Từ những phân tích một số quan niệm về an ninh tài chính doanh nghiệp
nêu trên, chúng tôi cho rằng, “An ninh tài chính trong các doanh nghiệp
ngành hàng không chỉ một trạng thái ổn định về tình hình tài chính của các doanh nghiệp ngành hàng không trong giới hạn an toàn”
Với quan niệm về an ninh tài chính như trên, nội hàm khái niệm này trước hết được hiểu là mức độ ổn định
Ổn định được hiểu là duy trì hoạt động bình thường, không có những biến động đột ngột, bất thường Các hoạt động liên quan đến tiền và tương đương tiền, hàng tồn kho, đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn, các khoản phải thu,… cũng như các nội dung liên quan đến nợ dài hạn và nợ ngắn hạn, phải trả người bán, phải trả công nhân viên, quỹ đầu tư phát triển, lợi nhuận chưa phân phối,… diễn ra bình thường, không có biến động thất thường Nghĩa là, quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ; các quan hệ tài chính của doanh nghiệp không
có biến động bất thường Việc ổn định tài chính rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Một tình trạng tài chính không ổn định làm cho doanh nghiệp dễ bị tổn thương, rơi vào tình trạng không an toàn Tuy nhiên, cần phải hiểu sự ổn định đặt trong sự vận động và phát triển Ổn định không có nghĩa là cố gắng giữ các hoạt động tài chính doanh nghiệp như những năm trước mà là giữ được ổn định quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, các mối quan hệ kinh tế trong tiến trình đi lên, không ngừng hoàn thiện và phát triển của doanh nghiệp
Nội dung thứ hai trong hàm ý khái niệm là khả năng đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp
An toàn được hiểu là trạng thái không bị nguy hiểm từ phía các tác động bên trong và bên ngoài Nói một cách khác, các hoạt động liên quan đến tài sản
và nguồn vốn của doanh nghiệp không bị tổn thương, không bị nguy hiểm từ những rủi ro trong quá trình sản xuất, kinh doanh Quá trình tạo lập, phân phối
Trang 3220
và sử dụng các quỹ tiền tệ, các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp giữ được an toàn Sự không an toàn về tài chính làm cho doanh nghiệp dễ rơi vào khủng hoảng, thậm chí dẫn tới phá sản Giữ được an toàn đồng nghĩa với không tự mình gây hại cho mình, đồng thời, ngăn chặn, chống lại được những tác động tiêu cực từ bên ngoài và do đó, uy tín tăng lên giúp doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển
Như vậy, đảm bảo an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không chính
là việc duy trì sự ổn định và an toàn trong hoạt động của các doanh nghiệp này
1.2.2 Sự cần thiết phải bảo đảm an ninh tài chính tại các doanh nghiệp hàng không
Bảo đảm an ninh tài chính giúp các doanh nghiệp hàng không tồn tại và có điều kiện phát triển
Bảo đảm an ninh tài chính có nghĩa là các hoạt động của doanh nghiệp được duy trì hoạt động bình thường Doanh nghiệp đảm bảo được sự ổn định trong hoạt động kinh doanh, nguồn vốn duy trì ổn định đảm bảo mức độ an toàn cho doanh nghiệp, các hoạt động được duy trì, hiệu quả hoạt động kinh doanh đảm bảo giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và có cơ hội tích lũy tạo điều kiện phát triển sau này Do đặc điểm ngành kinh doanh, các doanh nghiệp hàng không sử dụng đòn bẩy kinh doanh cao nên có mức độ rủi ro kinh doanh rất cao Đảm bảo được an ninh tài chính mới giúp các doanh nghiệp tránh khủng hoảng xảy ra
Bảo đảm an ninh tài chính giúp các doanh nghiệp hàng không phát huy được vai trò của mình
Các doanh nghiệp hàng không có vai trò hết sức quan trọng trong mọi mặt của đời sống Các doanh nghiệp NHK đã góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế phát triển: NHK được ví như mạng lưới liên kết các ngành khác nhau trong nền kinh tế do đó các doanh nghiệp NHK có một vai trò không thể thiếu khi là cầu nối giữa các doanh nghiệp trong các ngành khác nhau giúp thúc đẩy sự hợp tác, giao thương giữa các vùng đóng vai trò to lớn trong an ninh, quốc phòng của
Trang 3321
mọi đất nước giúp mở rộng quan hệ ngoại giao, thúc đẩy giao lưu hợp tác, các cuộc đối thoại song phương và đa phương giữa các nước trong khu vực và trên thế giới; Các doanh nghiệp NHK đã góp phần thúc đẩy lợi ích xã hội như tạo một khối lượng việc làm lớn được giúp cho người dân có công ăn việc làm, thu nhập ổn định, Có bảo đảm an ninh tài chính, hoạt động của các doanh nghiệp hàng không mới có thể được duy trì để phát huy các vai trò này Nếu an ninh tài chính không đảm bảo có thể doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn hoạt động bị gián đoạn, thậm chí phá sản thì nhưng vai trò trên không thể thực thi được nữa
Bảo đảm an ninh tài chính trong doanh nghiệp hàng không góp phần bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
Hệ thống tài chính của một quốc gia là một thể thống nhất do nhiều mắt khâu tài chính hợp thành Hiện nay, các khâu tài chính của nước ta bao gồm: tài
chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính các tổ chức xã hội và tài chính
hộ gia đình Như vậy có thể nói tài chính doanh nghiệp là một khâu quan trọng và cơ sở của hệ thống tài chính quốc gia Tiềm lực tài chính quốc gia gắn liền với nguồn thu ngân sách nhà nước, trong đó, khu vực tài chính doanh nghiệp
chiếm vị trí chủ yếu (nguồn thu thuế) Bên cạnh đó, tài chính doanh nghiệp có
quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với tất cả các khâu còn lại của hệ thống tài chính quốc gia Nếu bất kỳ tài chính doanh nghiệp của lĩnh vực nào ( hàng không, xây dựng, thương mại, ) yếu kém cũng sẽ tác động tới tài chính doanh nghiệp nói chung Đồng thời, sự yếu kém của khu vực này là nguyên nhân làm cho các khâu của hệ thống tài chính nói riêng bị ảnh hưởng tiêu cực và làm hệ thống tài chính quốc gia nói chung kém hiệu quả, thiếu ổn định và an toàn Ngược lại, một khu vực tài chính doanh nghiệp mạnh sẽ có tác động tích cực tới các khâu còn lại của hệ thống tài chính quốc gia và là cơ sở cho việc tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia Như vậy có thể nói, bảo đảm an ninh tài chính doanh nghiệp sẽ góp phần bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
Trang 3422
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá an ninh tài chính trong các doanh nghiệp hàng không
1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ ổn định
Mức độ ổn định thể hiện ở sự biến động của các chỉ tiêu theo xu hướng phát triển Nếu các chỉ tiêu biến động tăng giảm thất thường cho thấy sự thiếu ổn định trong hoạt động của doanh nghiệp và nếu tình hình này không được cải thiện, đây có thể là những dấu hiệu cho thấy sự bất ổn trong tương lai của doanh nghiệp
Ổn định trong huy động vốn
Nhóm chỉ tiêu này biểu hiện ở các chỉ tiêu: tốc độ tăng nguồn vốn(NV), biến động của cơ cấu NV
Cơ cấu nguồn vốn là thể hiện tỷ trọng của các nguồn vốn trong tổng giá trị nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào hoạt động kinh doanh Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Hệ số nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong nguồn vốn của doanh nghiệp hay trong tài sản của doanh nghiệp bao nhiêu phần trăm được hình thành bằng nguồn nợ phải trả Hệ số nợ thể hiện việc sử dụng nợ của doanh nghiệp trong việc tổ chức nguồn vốn và điều đó cũng cho thấy mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
Hệ số nợ =
Tổng số nợ Tổng nguồn vốn Cùng với hệ số nợ, có thể xác định hệ số vốn chủ sở hữu:
Hệ số vốn chủ
Vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn
Hệ số này phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiều phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Thông thường, hệ số nợ > 70% chỉ báo bối cảnh rủi ro tài chính khá cao cho các nhà đầu tư Tuy nhiên, hệ số nợ hay hệ số VCSH còn phụ thuộc nhiều
Trang 35 Ổn định trong sử dụng vốn
Nhóm chỉ tiêu này biểu hiện ở các chỉ tiêu: tốc độ tăng tài sản(TS), biến
động của cơ cấu tài sản
Cơ cấu tài sản:Phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Tỷ lệ đầu tư vào tài sản ngắn hạn =
Tài sản ngắn hạn Tổng tài sản
Hệ số này phản ánh tài sản ngắn hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản của doanh nghiệp
Tỷ lệ đầu tư vào tài sản dài hạn =
Tài sản dài hạn Tổng tài sản
Trang 36 Ổn định trong hiệu quả của hoạt động kinh doanh
Nhóm chỉ tiêu này biểu hiện sự biến động của các chỉ tiêu đánh giá khả
năng sinh lời
Sự biến động của các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời là tiêu chí hết sức quan trọng đánh giá an ninh tài chính của doanh nghiệp Khi kinh doanh có hiệu quả, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường tăng cao, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp được tăng cường Nếu doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả trong một thời gian nhất định, doanh nghiệp đó dễ rơi vào khủng hoảng và phá sản Khi đánh giá khả năng sinh lời, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần(ROS); Tỷ suất sinh lời kinh
tế của tài sản(BEP), Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh(ROA); Tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu(ROE)
Khi đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu khả năng sinh lời(KNSL) ta tính
theo công thức sau:
Trang 3725
Biến động
của chỉ tiêu khả năng sinh lời =
KNSL cuối năm- KNSL đầu năm
x 100
KNSL đầu năm
Các chỉ tiêu khả năng sinh lời được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (ROS)
Chỉ tiêu này cho biết, khi thực hiện được một đồng DTT trong kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu đồng LNST Tỷ suất LNST trên DTT càng cao thì khả năng sinh lời từ việc thực hiện doanh thu càng lớn Đây là một trong các chỉ tiêu phản ánh khả năng quản lý, tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp quản lý tốt chi phí thì sẽ nâng cao được tỷ suất này và ngược lại Bên cạnh đó, tỷ suất này phụ thuộc lớn vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh Chỉ tiêu này có tác dụng rất lớn trong việc xem xét mối quan hệ với lãi suất vay vốn để đánh giá việc sử dụng vốn vay có tác động tích cực hay tiêu cực đối với khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên doanh thu (ROS)
=
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ Doanh thu thuần trong kỳ
Tỷ suất sinh lời kinh tế
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế Tổng tài sản (hay VKD bình quân)
Trang 3826
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên vốn kinh doanh (ROA) =
Lợi nhuận sau thuế Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ suất sinh lời ròng của tài sản bởi nó phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuân vốn chủ sở hữu (ROE)
Đây là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận
Để phản ánh được mối quan hệ giữa HQKD với mức độ sử dụng đòn bẩy
tài chính và khả năng sinh lời của VCSH, cần sử dụng phương pháp Dupont để
xác định khả năng sinh lời của VCSH và các nhân tố ảnh hưởng như sau:
Phương trình Dupont:
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần Vốn kinh doanh BQ x
Trang 3927
+ ROS: Đây là yếu tố phản ánh trình độ quản trị doanh thu, chi phí của DN Nhân tố này có tác động cùng chiều tới ROE DN quản trị doanh thu, chi phí tốt, tiết kiệm sẽ góp phần gia tăng được ROE hay chính là tăng hiệu quả kinh doanh + Vòng quay toàn bộ vốn: Đây là yếu tố phản ánh trình độ khai thác, sử dụng tài sản Nhân tố thứ hai này cũng có quan hệ cùng chiều với ROE Nếu DN khai thác, sử dụng tài sản tốt, sức sinh lời của tài sản cao cũng sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu quả kinh doanh cho DN
+ Hệ số nợ: Đây là yếu tố phản ánh trình độ tổ chức, sử dụng nguồn vốn của DN, phản ánh mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của DN Nhìn phương trình cho thấy, nhân tố hệ số nợ có quan hệ cùng chiều với ROE, cụ thể khi hệ số nợ càng cao ROE cũng càng lớn Tuy nhiên, cơ chế tác động của nhân tố hệ số nợ tới ROE không phải như vậy Sự tác động của nó là tích cực hay tiêu cực, có thể làm tăng ROE hay làm ROE giảm đi phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính của DN DN sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả, hệ số nợ tăng góp phần gia tăng được ROE cho DN Ngược lại, DN sử dụng đòn bẩy tài chính không hiệu quả, hệ số nợ càng tăng càng làm cho ROE của DN sụt giảm Sự tác động phức tạp này có thể minh hoạ bởi phương trình sau:
ROE = [BEP + (BEP – lãi suất vay vốn) x
Nợ phải trả
Vốn CSH
]x (1-thuế suất thuế TNDN) (*)
Phương trình (*) chỉ rõ:
+ Nếu BEP > lãi suất vay vốn: Hệ số nợ/ vốn CSH càng cao ROE của DN càng lớn Khi đó ta nói, DN sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính càng cao càng có thể gia tăng được ROE, nâng cao được hiệu quả kinh doanh cho DN
Trang 4028
+ BEP < lãi suất vay vốn: Hệ số nợ/ vốn CSH càng cao ROE của doanh nghiệp càng nhỏ Khi đó ta nói, doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính
Tỷ suất sinh lời vốn lưu động
Tỷ suất sinh lời
Tỷ suất sinh lời vốn cố định
VCĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
1.1.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng đảm bảo an toàn
a Nguồn vốn lưu động thường xuyên (NVLĐTX)
NVLĐTX phản ánh mối quan hệ giữa nguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn dài hạn) với tài sản cố định (tài sản dài hạn) hay tài sản lưu động (tài sản ngắn hạn) với nguồn vốn tạm thời (nguồn vốn ngắn hạn)
NVLĐTX = Nguồn vốn dài hạn - Tài sản dài hạn
Hoặc NVLĐTX = (Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn) - Tài sản dài hạn
Hoặc NVLĐTX = Tài sản ngắn hạn - Nguồn vốn ngắn hạn
Nếu nguồn vốn dài hạn lớn hơn tài sản dài hạn thì doanh nghiệp có nguồn vốn lưu động thường xuyên (tức là NVLĐTX > 0) Đây là dấu hiệu an toàn đối với doanh nghiệp vì nó cho phép doanh nghiệp đương đầu được với những rủi ro
có thể xảy xa như việc phá sản của khách hàng lớn, việc cắt giảm tín dụng của các nhà cung cấp kể cả việc thua lỗ nhất thời…