1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế hoạch xạ trị và quy trình kiểm soát đảm bảo chất lượng xạ trị (QAQC)

68 564 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, xạ trị cùng với phẫu thuật và hoá trị trở thành 3 phương pháp chínhđiều trị bệnh ung thư. Ở Việt Nam, theo ước tính tỷ lệ bênh nhân ung thư được xạ trị mới chỉ khoảng 40%, tỷ lệ này ở một số nước phát triển như Anh, Mỹ lên đến 60%. Mặt khác, máy gia tốc là một thiết bị không thể thiếu trong xạ trị. Sau nhiều năm phát triển, các thế hệ máy gia tốc ra đời với những tính năng ưu việt đã góp phần nâng cao chất lượng xạ trị. Trong quá trình sử dụng, việc đảm bảo độ ổn định các thông số kỹ thuật của máy gia tốc là rất quan trọng, để các nhà chuyên môn có thể thực hiện được những kỹ thuật điều trị một cách an toàn và hiệu quả...Hiện nay, tại nhiều địa phương trên cả nước đã trang bị hệ thống máy xạ trị giatốc (LINAC) trong đó máy gia tốc CLINAC 600C đã được đưa vào khai thác, phục vụbệnh nhân. Nhưng sau nhiều năm hoạt động liên tục, chất lượng của thiết bị luôn làmối quan tâm của các nhà chuyên môn cũng như các nhà quản lý. Chính vì vấn đề đónên việc kiểm soát và đảm bảo chất lượng xạ trị là vô cùng quan trọng và đây cũng lànội dung tìm hiểu và nghiên cứu của đồ án này : “Kế hoạch xạ trị và quy trình kiểmsoát đảm bảo chất lượng xạ trị (QAQC)”.Mục tiêu của đồ án nhằm kiểm tra, đánh giá độ ổn định hệ thống cơ khí chuyểnđộng như: độ đồng tâm thân máy, đồng tâm collimator, đồng tâm giường điều trị, độ ổn định một số dữ liệu vật lý chùm tia như: tính đối xứng, độ bằng phẳng của chùm tia.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VIỆN KỸ THUẬT HẠT NHÂN & VẬT LÝ MÔI TRƯỜNG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và hoàn thiện đề tài :“Kế hoạch xạ trị và quy trình kiểm soát đảm bảo chất lượng xạ trị (QA/QC).” Em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình từ các Thầy, Cô giáo trong trường và các cán bộ ở Phòng Vật Lý Xạ Trị Bệnh viện K1 cùng với sự động viên giúp đỡ nhiệt tình từ gia đình và bạn bè

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới kỹ sư Chu Văn Lương, anh đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Vật Lý Xạ Trị Bệnh Viện K1 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực tập tại Bệnh Viện

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô giáo Khoa Kỹ thuật hạt nhân

và Vật Lý môi trường Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, đã tận tình giảng dạy và chỉ dẫn em trong suốt thời gian em học tập tại trường

Em cũng xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ và giúp đỡ em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện, xong khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các Thầy, Cô, Gia đình, bạn bè và những người quan tâm đến đề tài

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Sinh viên Trần Đình Hoàng Linh

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ 6

MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA VIỆC XẠ TRỊ UNG THƯ VÀ KỸ THUẬT ĐIỀU BIẾN LIỀU IMRT 9

1.1 Tương tác của bức xạ gamma với vật chất 9

1.2 Xạ trị trong ung thư 11

1.2.1 Khái niệm về ung thư 11

1.2.2 Các phương pháp điều trị ung thư 13

1.2.3 Khái niệm của xạ trị trong điều trị ung thư 14

1.2.4 Các phương pháp xạ trị 15

1.3 Máy gia tốc trong xạ trị ung thư 17

1.3.1 Cấu tạo của máy gia tốc dùng trong xạ trị 18

1.3.2 Nguyên lý hoạt động của máy gia tốc trong xạ trị 20

1.3.3 Cấu tạo của một số bộ phận chính 21

1.4 Kỹ thuật xạ trị điều biến liều lượng IMRT (Intensity Modulated Radiation Therapy) 28

1.4.1 Cơ sở về kỹ thuật điều biến liều lượng IMRT 28

1.4.2 Quy trình xạ trị điều biến liều IMRT 29

1.4.3 Lập kế hoạch xạ trị 30

1.4.4 Đánh giá kế hoạch xạ trị 32

CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH KIỂM SOÁT VÀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG XẠ TRỊ 33 2.1 Kiểm soát, đảm bảo chất lượng xạ trị (QA-QC) 33

2.1.1 Mục đích 33

2.1.2 Định nghĩa 33

2.1.3 Yêu cầu của QA-QC 34

2.2 Quy trình thực hiện chung 35

Trang 4

2.3.1 Bộ phận chính : 35

2.3.2 Giường máy 36

2.3.3 Hệ thống cửa chắn nơtron 36

2.3.4 Hệ thống đo liều 36

2.3.5 Hệ thống làm khuôn chì 38

2.4 Quy trình QA thiết bị máy gia tốc Clinac 600C 38

2.4.1 Quy trình QA hàng ngày 38

2.4.2 Quy trình QA hàng tuần 39

2.4.3 Quy trình QA hàng tháng 43

2.4.4 Quy trình QA hàng năm 45

2.5 Kết luận 47

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM TRÊN MÁY XẠ TRỊ CLINAC 600C 48

3.1 Đối tượng và phương pháp 48

3.2 Một số thiết bị sử dụng trong quá trình QA 49

3.3 Thực hành 51

3.3.1 Quy trình QA hàng ngày 51

3.3.2 Quy trình QA hàng tuần 52

3.3.3 Quy trình QA hàng tháng 53

3.3.4 Quy trình QA hàng năm 65

3.4 Kết luận 65

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

3D-CRT Three Dimension Conformal Radiation

quốc tế LINAC Linear Accelerator Máy gia tốc thẳng tuyến tính

QA/QC Quality assaurance- -Quality control Quy trình kiểm soát và đảm bảo

chất lượng xạ trị

SSD Source Surface Distance Khoảng cách từ nguồn đến bề

mặt TPS Treatmeant Planning System Hệ thống lập kế hoạch xạ trị

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Một số loại ung thư thường gặp

Bảng 1.2: Năng lượng và chu kỳ bán rã của một số nguồn phóng xạ sử dụng trong xạ trị áp sát

Bảng 2.1: Danh mục kiểm tra theo tần suất

Bảng 3.1: Bảng liều ra sau 3 lần đo

Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra đồng tâm collimator

Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra đồng tâm thân máy bằng cơ học

Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra đồng tâm thân máy bằng ánh sáng tĩnh

Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra đồng tâm thân máy bằng chiếu xạ phim

Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra đồng tâm giường điều trị

Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra độ bằng phẳng và tính đối xứng chùm photon

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Hiệu ứng quang điện

Hình 1.2: Hiệu ứng tán xạ compton

Hình 1.3: Hiện tượng tạo cặp

Hình 1.4: Tỷ lệ điều trị ung thư bằng các phương pháp khác nhau tại Việt Nam

Hình 1.5: Các bộ phận chính của máy gia tốc xạ trị

Hình 1.6: Sơ đồ thành phần cấu tạo của một máy gia tốc LINAC xạ trị

Hình 1.14: Sơ đồ khối quy trình lập kế hoạch xạ trị điều biến liều IMRT

Hình 1.15: Xác định điểm gốc tọa độ theo các chấm sang trắng của dấu chì trên dữ liệu hình ảnh CT của bệnh nhân

Hình 2.1: Đặt phantom để kiểm tra độ đồng tâm của laser

Hình 2.2: Thiết bị kiểm tra và hiển thị liều lượng

Hình 2.3: Bảng thông số hiệu chỉnh liều xạ

Hình 2.4: Cấu tạo của đèn thước quang

Hình 2.5: Kiểm tra độ chính xác của thước quang học

Hình 3.1: Phantom nước PTW REIBURG MP3

Hình 3.2: Thiết bị điều khiển detector, ghi nhận dữ liệu và bộ phận kiểm soát bằng tay

và buồng ion hóa hình trụ PTW Semiflex 0,125cm3 type 31010

Trang 8

Hình 3.3: Kiểm tra đồng tâm Collimator bằng phương pháp cơ học

Hình 3.4: Kiểm tra độ đồng tâm collimator bằng trường sáng tĩnh

Hình 3.5: Tư thế máy và vị trí chiếu xạ phim trong kiểm tra đồng tâm collimator

Hình 3.6: Hình ảnh kết quả kiểm tra vị trí đồng tâm của collimator bằng chiếu xạ phim Hình 3.7: Kiểm tra đồng tâm thân máy bằng phương pháp cơ học

Hình 3.8: Kiểm tra đồng tâm thân máy bằng trường sáng tĩnh

Hình 3.9: Tư thế máy, vị trí chiếu xạ phim trong kiểm tra đồng tâm thân máy

Hình 3.10: Hình ảnh kết quả kiểm tra đồng tâm của thân máy bằng chiếu xạ phim Hình 3.11: Hình vẽ xác định sự đối xứng của chùm tia

Hình 3.12: Hình vẽ xác định liều lượng tương đối cực đại và cực tiểu

Hình 3.13 : Profile photon 6MV trường chiếu 10 cm x 10 cm với đường đỏ là 3/2013

và xanh là 5/2017

Trang 9

MỞ ĐẦU

Hiện nay, xạ trị cùng với phẫu thuật và hoá trị trở thành 3 phương pháp chính điều trị bệnh ung thư Ở Việt Nam, theo ước tính tỷ lệ bênh nhân ung thư được xạ trị mới chỉ khoảng 40%, tỷ lệ này ở một số nước phát triển như Anh, Mỹ lên đến 60% Mặt khác, máy gia tốc là một thiết bị không thể thiếu trong xạ trị Sau nhiều năm phát triển, các thế hệ máy gia tốc ra đời với những tính năng ưu việt đã góp phần nâng cao chất lượng xạ trị Trong quá trình sử dụng, việc đảm bảo độ ổn định các thông số kỹ thuật của máy gia tốc là rất quan trọng, để các nhà chuyên môn có thể thực hiện được những kỹ thuật điều trị một cách an toàn và hiệu quả

Hiện nay, tại nhiều địa phương trên cả nước đã trang bị hệ thống máy xạ trị gia tốc (LINAC) trong đó máy gia tốc CLINAC 600C đã được đưa vào khai thác, phục vụ bệnh nhân Nhưng sau nhiều năm hoạt động liên tục, chất lượng của thiết bị luôn là mối quan tâm của các nhà chuyên môn cũng như các nhà quản lý Chính vì vấn đề đó nên việc kiểm soát và đảm bảo chất lượng xạ trị là vô cùng quan trọng và đây cũng là nội dung tìm hiểu và nghiên cứu của đồ án này : “Kế hoạch xạ trị và quy trình kiểm soát đảm bảo chất lượng xạ trị (QA/QC)”

Mục tiêu của đồ án nhằm kiểm tra, đánh giá độ ổn định hệ thống cơ khí chuyển động như: độ đồng tâm thân máy, đồng tâm collimator, đồng tâm giường điều trị, độ

ổn định một số dữ liệu vật lý chùm tia như: tính đối xứng, độ bằng phẳng của chùm tia Ngoài phần mở đầu và kết luận, đồ án được chia làm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở của việc xạ trị ung thư và kỹ thuật điều biến liều IMRT

Chương 2: Quy trình kiểm soát và đảm bảo chất lượng xạ trị

Chương 3: Thực nghiệm trên máy xạ trị CLINAC 600C

Kết luận: Trình bày các mục tiêu đã làm được trong đồ án

Các nội dung trên sẽ được trình bày ở các phần sau đây

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA VIỆC XẠ TRỊ UNG THƯ VÀ KỸ THUẬT ĐIỀU

BIẾN LIỀU IMRT

1.1 Tương tác của bức xạ gamma với vật chất

Khi đi qua vật chất, bức xạ γ tương tác với các electron, hạt nhân của vật chất dẫn đến chúng mất dần năng lượng và suy giảm cường độ theo hệ số μ

I = I0 e−μxTrong đó :

- I là cường độ chùm bức xạ gamma sau khi đi qua vật có bề dày x,

- I0 là cường độ chùm bức xạ gamma ban đầu,

- x là bề dày vật chất,

- μ là hệ số suy giảm

Sự tương tác của bức xạ γ phụ thuộc vào Z là nguyên tử khối của môi trường Có

ba quá trình chủ yếu xảy ra khi bức xạ γ tương tác với vật chất là : hiệu ứng quang điện, hiệu ứng tán xạ compton, hiệu ứng tạo cặp

❖ Hiệu ứng quang điện

Hiệu ứng quang điện là quá trình tương tác giữa bức xạ γ với nguyên tử vật chất Bức xạ γ bị hấp thụ trong nguyên tử, e- tự do được sinh ra từ các e- quỹ đạo được gọi là quang điện tử( hoặc là quang electron) Trong quá trình này một phần năng lượng γ dùng để bứt các e- ra khỏi nguyên tử và một phần biến thành động năng của nguyên tử (Hình 1.1)

❖ Hiệu ứng tán xạ comptom

Hiệu ứng tán xạ comptom là hiện tượng tán xạ của bức xạ γ khi va phải các electron là liên kết yếu trong cấu hình nguyên tử và được coi là e- tự do Trong quá trình này bức xạ γ truyền một phần năng lượng cho electron và bị lệch hướng chuyển động sang hướng khác là bức xạ γ thứ cấp , bản thân electron nhận được một động năng mới (Hình 1.2)

Trang 11

Hình 1.1: Hiệu ứng quang điện

Hình 1.2: Hiệu ứng tán xạ compton

❖ Hiện tượng tạo cặp

Hiện tượng tạo cặp xảy ra khi bức xạ γ ở trong trường hạt nhân và mất toàn bộ năng lượng tạo thành cặp e+ và e- (Hình 1.3) Eγ biết thành năng lượng nghỉ và động năng của cặp e+ và e-

Trang 12

Hình 1.3: Hiện tượng tạo cặp

1.2 Xạ trị trong ung thư

1.2.1 Khái niệm về ung thư

Trong cơ thể sống, bình thường quá trình sinh trưởng và phát triển các tế bào được sinh ra và chết đi theo một cơ chế quản lý chặt chẽ của cơ thể Quy luật này để kiểm soát

và duy trì số lượng tế bào ở mỗi cơ quan ở mức ổn định Ngược lại với các tế bào ung thư là các tế bào bất thường, được sinh ra không dưới sự quản lý của cơ thể và chết theo một nhịp độ nhanh hơn các tế bào bình thường

Ung thư được định nghĩa là sự sinh trưởng mất kiểm soát, tạo nên sự tập trung một khối lượng lớn tế bào do sự sinh sản quá nhanh, vượt quá số tế bào chết

đi, hậu quả là khối tế bào này dần dần xâm lấn và tàn phá các mô và các cơ quan của cơ thể sống[2],[3] Sự không cân bằng giữa mức độ sinh sản các tế bào mới và tế bào chết đi là nguyên nhân dẫn đến khối lượng mô ung thư ngày càng lớn, tạo thành những khối u

Các tế bào ung thư là các tế bào bất thường có thời gian chết sớm hơn so với các

tê bào bình thường nhưng mức độ sinh sản các tế bào mới lại có biên độ nhanh, do đó khối lượng mô ung thư ngày càng lớn Sự mất quân bình này do 2 yếu tố chính: Các bất thường di truyền trong tế bào ung thư và sự bất lực của cơ thể chủ trong việc phát hiện và tiêu diệt tế bào ung thư

Trang 13

Sự không cân bằng giữa mức độ sinh sản ra các tế bào mới và tế bào chết đi là nguyên nhân dẫn đến khối lượng tế bào ung thư ngày càng lớn, chúng tạo thành những khối u ung thư Có thể chia khối u thành hai loại: U lành tính và u ác tính Khối u lành là khối u chỉ phát triển tại chỗ, thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh, không gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh và có thể điều trị bằng phương pháp phẫu thuật loại bỏ khối u Những tế bào của ung thư ác tính không có vỏ bọc xung quanh, có hình dạng giống như "con cua" với các “càng cua” bám vào các tổ chức lành trong cơ thể hoặc giống như rễ cây lan trong đất, có thể xâm lấm và chèn ép các cơ quan xung quanh làm cho quá trình trao đổi chất của chúng trở lên rối loạn Ngoài ra, một số tế bào ung thư còn có thể theo mạch máu và mạch bạch huyết di cư đến những cơ quan mới khác trong cơ thể, bám lại và tiếp tục sinh sôi nảy nở ra những khối u mới Hiện tượng này được gọi là sự di căn Việc chèn ép cũng như xâm lấn vào những cơ quan giữ chức năng quan trọng, điều hòa sự sống như não, phổi, gan, thận khiến các cơ quan này không còn được thực hiện đúng chức năng của nó và dẫn đến gây tử vong cho người bệnh “Căn bệnh có tỉ lệ tử vong hàng đầu

và chiếm gần một phần năm tổng các ca tử vong trên toàn thế giới chính là ung thư” [1], [2], [3] Như vậy, ung thư là một căn bệnh rất nguy hiểm và cần phải được điều trị kịp thời khi mắc phải

Hiện nay, ung thư đã và đang trở thành một căn bệnh gây ra tử vong lớn trên toàn thế giới Theo thống kê trên toàn cầu có khoảng 14,1 triệu ca mới mắc hàng năm và có khoảng 8,2 triệu người tử vong mỗi năm vì căn bệnh này Trong số này, có tới 2/3 là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, bao gồm cả Việt Nam [1], [3]

Ở nước ta, mỗi năm có khoảng 150 ngàn ca mới mắc và trên 75 ngàn trường hợp

tử vong do ung thư Tức là số liệu tử vong hàng năm do bệnh ung thư lớn gấp 7 lần số

tử vong do tai nạn giao thông Một số bệnh ung thư chủ yếu đối với nam giới là ung thư gan, phổi, dạ dày, đại trực tràng, tiền liệt tuyến, hốc miệng, vòm hầu, thực quản, bệnh bạch cầu, và đối với nữ là ung thư cổ tử cung, vú, đại trực tràng, phổi, dạ dày, gan, buồng trứng, tuyến giáp, thân tử cung, bệnh bạch cầu [1], [6]

Trang 14

Bảng 1.1: Một số loại ung thư thường gặp [1], [2]

Ung thư thanh quản – Hạ họng Ung thư buồng trứng

Ung thư trực tràng hậu môn Các khối u ở trẻ em

U lympho ác tính Hodgkin và không Hodgkin Di căn xa

1.2.2 Các phương pháp điều trị ung thư

Hiện nay có ba phương pháp c h í n h đ ể điều trị ung thư, đó là: Phẫu thuật, xạ trị và hóa trị Ngoài ra có thể điều trị kết hợp các phương pháp để đạt hiệu quả mong muốn Việc lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp là hoàn toàn phụ thuộc vào loại bệnh, vị trí và từng giai đoạn ung thư khác nhau Mục đích các phương pháp này là làm sao để tiêu diệt được nhiều nhất các tế bào ung thư mà gây tổn thương ít nhất đến các tế bào bình thường ở xung quanh Các tiến bộ về kỹ thuật đã giúp tăng tính hiệu quả, mức

độ an toàn của các phương pháp này và giúp làm tăng tuổi thọ trung bình của các bệnh nhân mắc bệnh ung thư

Phẫu thuật: Là phương pháp điều trị cổ điển nhất nhưng cũng rất công

hiệu, đặc biệt là với ung thư giai đoạn sớm và cư trú rõ ràng Khi phẫu thuật, tế bào ung thư được lấy đi càng nhiều càng tốt Ðôi khi tế bào lành cũng được cắt bỏ để chắc chắn là tế bào ung thư lẫn vào đó sẽ được loại hết Phương pháp này dùng hiệu quả nhất với các khối u lành tính hoặc ung thư không di căn Thông thường phẫu thật được can thiệp, sau đó phải dùng kết hợp với các phương pháp khác

Trang 15

Xạ trị: Là phương pháp sử dụng bức xạ ion hoá để tiêu diệt các khối u Thông

thường xạ trị được dùng cho ung thư không áp dụng được bằng phẫu thuật hoặc khi đã phẫu thuật mà vẫn chưa triệt để, nghĩa là xạ trị sẽ giúp phẫu thuật tiêu diệt tận gốc các tế bào ung thư Về cơ bản xạ trị được chia ra làm hai kỹ thuật chủ yếu:

Xạ trị chiếu ngoài (External Beam Radiotherapy) và xạ trị áp sát (Brachytherapy) [1,13]

Hóa trị: Là phương pháp sử dụng hoá chất (các loại thuốc đặc hiệu chống ung

thư) để điều trị ung thư Nó được dùng khi ung thư đã lan ra ngoài vị trí ban đầu hoặc khi có di căn ở nhiều địa điểm Có nhiều loại hóa chất khác nhau Mỗi hóa chất có tác dụng riêng biệt với từng ung thư bằng cách làm ngưng sự phân chia của các tế bào dị thường Khi không có sự phân bào thì tế bào ung thư sẽ bị tiêu diệt, khối u teo lại

Các phương pháp kết hợp: Ngoài các phương pháp độc lập, để điều trị ung thư

hiệu quả hơn, còn có thể kết hợp các phương pháp với nhau Ví dụ, phẫu thuật kết hợp với xạ trị; phẫu thuật kết hợp với hoá trị; xạ trị kết hợp với hoá trị

1.2.3 Khái niệm của xạ trị trong điều trị ung thư

Xạ trị là phương pháp sử dụng các loại bức xạ ion hóa để điều trị ung thư [1], [8] Mục đích của xạ trị là:

- Điều trị bệnh ung thư bằng cách tiêu diệt các tế bào ung thư

- Kiểm soát bệnh ung thư bằng cách không cho tế bào ung thư phát triển và lan rộng

- Giảm các triệu chứng của bệnh ung thư như đau nhức

Xạ trị là một trong những phương pháp điều trị bệnh ung thư hay được sử dụng (Hình 1.4) Xạ trị đơn thuần có thể chữa khỏi một số bệnh ung thư ở giai đoạn sớm Đồng thời, xạ trị còn có thể giúp phòng ngừa hoặc ngăn chặn ung thư tái phát tại chỗ

và di căn xa bằng cách tiêu diệt các ổ vi di căn Xạ trị còn giúp làm giảm số lượng tế bào ung thư, giảm thể tích của những khối u không thể phẫu thuật, và chuyển nó về điều kiện có thể phẫu thuật được Ngoài ra, xạ trị còn thường được phối hợp với phẫu thuật

Trang 16

Hình 1.4: Tỷ lệ điều trị ung thư bằng các phương pháp khác nhau tại Việt Nam [1],

[10]

1.2.4 Các phương pháp xạ trị

Xạ trị có thể được tiến hành theo 3 phương pháp chính là xạ trị ngoài, xạ trị áp sát, và xạ trị đồng vị phóng xạ Trong số 3 phương pháp xạ trị này thì phương pháp xạ trị ngoài (hay xạ trị nguồn ngoài) là phổ biến nhất

❖ Xạ trị ngoài (External Beam Radiotherapy)

Xạ trị ngoài (hay xạ trị từ xa) là phương pháp sử dụng máy hoặc thiết bị phát bức

xạ (máy phát tia X, máy xạ trị Cobalt-60, máy gia tốc tuyến tính,…) để hướng chùm bức xạ năng lượng cao vào khối u đã được xác định theo các trường điều trị nhất định Các thiết bị xạ trị ngoài được sử dụng có nhiều loại:

- Các máy phát tia-X năng lượng 150 kV và 300 kV chủ yếu điều trị ung thư da và khối u nông

- Máy xạ trị Cobalt-60 phát tia gamma với 2 mức năng lượng 1,17 MeV và 1,33 MeV (trung bình là 1,25 MeV) điều trị hiệu quả các khối u nông

- Máy gia tốc phát chùm electron, photon, proton, notron với nhiều mức năng lượng

Hiện nay, tại các cơ sở y tế lâm sàng thường sử dụng các máy gia tốc tuyến tính

xạ trị LINAC phát chùm tia photon và electron, có thể điều trị hiệu quả hầu hết các loại khối u

Trang 17

cả khi áp dụng riêng rẽ hoặc kết hợp với xạ trị chùm tia ngoài

Bảng 1.2: Năng lượng và chu kỳ bán rã của một số nguồn phóng xạ sử dụng trong xạ

Trang 18

chất phóng xạ trong khối u hoặc mô đích bị bệnh, làm cho tỷ lệ liều trên khối u cao hơn so với trên mô lành

Phương pháp xạ trị đồng vị phóng xạ đã được sử dụng cách đây hơn 50 năm, hiện các ứng dụng mới vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu Trong một số trường hợp, phương pháp này phát được một liều chiếu xạ trong đến mô đích có chọn lọc cao hơn

so với phương pháp xạ trị chùm tia ngoài, dễ sử dụng và có tương đối ít hiệu ứng phụ

1.3 Máy gia tốc trong xạ trị ung thư

Hiện nay, việc điều trị các khối u sâu bên trong đòi hỏi chùm photon phải có năng lượng cao với khả năng đâm xuyên lớn Vì vậy, máy gia tốc tuyến tính dùng trong y học hiện nay với mức năng lượng photon có thể lên tới 18 MV hầu như là thiết

bị phổ biến cho ứng dụng này

Máy gia tốc tuyến tính LINAC (Linear Accelerator) xạ trị ung thư ra đời là kết quả trực tiếp của việc phát triển Radar với các máy vi sóng dưới dạng Magnetrons và Klystrons Các thiết bị này có khả năng thiết lập trường điện từ rất mạnh trong các khoang vi sóng Điều này làm cho chúng có khả năng gia tốc electron đến các vận tốc tương đối lớn nhờ sự kết hợp với các cấu trúc dẫn sóng thích hợp Hiện nay LINAC là

sự lựa chọn tối ưu cho việc tạo ra các chùm photon năng lượng cao cho các ứng dụng

xạ trị bởi chúng có các đặc điểm sau:

- Có nhiều mức năng lượng electron và photon, cho phép bác sỹ có thể lựa chọn mức năng lượng thích hợp cho việc điều trị Một LINAC hiện đại thường có khả năng tạo ra

2 mức năng lượng photon và 5 mức năng lượng electron khác nhau

- Có suất liều (từ 1 đến 10 Gy/phút) cao hơn suất liều của các máy xạ trị đồng vị phóng xạ (Cobalt-60) Điều này cho phép rút ngắn thời gian điều trị

- Hầu hết các chùm photon từ LINAC đều bao gồm mức năng lượng 4 MV và 6 MV, chúng có một sự giảm sút liều sắc nét hơn tại cạnh của chùm bức xạ so với chùm photon Cobalt-60

Ngoài ra ở một số ít trung tâm xạ trị còn sử dụng các máy gia tốc phát chùm proton, notron và các ion nặng để xạ trị Tuy nhiên xạ trị bằng photon từ máy gia tốc

Trang 19

xạ trị LINAC hiện vẫn là lựa chọn số một bởi vì tính đơn giản, gọn nhẹ và hiệu quả trong quá trình điều trị [1], [9]

1.3.1 Cấu tạo của máy gia tốc dùng trong xạ trị

Máy gia tốc gia tốc tuyến tính dùng trong xạ trị thường được chia thành năm hệ thống là:

(1) Hệ thống bơm, là một nguồn electron hay còn gọi là súng điện tử

(2) Hệ thống tần số vô tuyến bao gồm nguồn tần số vô tuyến sử dụng magneton hoặc klyston, bộ điều chế, ống dẫn sóng cao tần có chân không thấp trong đó electron được gia tốc,…

(3) Hệ thống vận chuyển chùm tia có vai trò vận chuyển electron trong chân không

từ ống dẫn sóng gia tốc tới bia hoặc lá tán xạ

(4) Hệ thống phụ trợ gồm hệ thống bơm chân không, hệ thống làm lạnh bằng nước,

hệ thống chất điện môi bằng ga để truyền vi sóng từ bộ phận phát sóng vô tuyến tới ống dẫn sóng

(5) Hệ thống theo dõi và chuẩn trực chùm tia

Có thể minh họa các bộ phận chính của một máy gia tốc xạ trị bằng sơ đồ khối đơn giản như hình 1.5

Bên cạnh đó còn rất nhiều phần khác đi kèm với máy gia tốc là :

- Hệ thống collimator chuẩn thông dụng

- Hệ thống laser xác định trục quay của máy, trục thẳng đứng của chùm tia, bộ

hiển thị chùm tia bằng ánh sáng nhìn thấy

- Hệ thống camera theo dõi bệnh nhân, hệ thống đàm thoại giữa thầy thuốc và

bệnh nhân

- Hệ thống máy tính điều khiển thiết bị; màn hình thông báo các số liệu liên quan

tới việc điều trị

- Hệ thống che chắn phóng xạ

- Hệ thống an toàn tự ngắt máy gia tốc khi có sự cố

Trang 20

Hình 1.5: Các bộ phận chính của máy gia tốc xạ trị

Các hệ thống khác liên quan đến quá trình điều trị bằng máy gia tốc :

- Giường máy có thể điều khiển lên, xuống, quay theo các góc

- Hệ thống tính liều lượng và lập kế hoạch điều trị

- Hệ thống đo liều: máy đo liều phóng xạ, máy đo phòng hộ tia xạ,…

- Hệ thống làm khuôn chì,…

Máy gia tốc là thiết bị làm tăng tốc các hạt tích điện như hạt alpha, proton, electron bằng điện trường Những máy gia tốc đầu tiên ra đời là các máy gia tốc thẳng kiểu tĩnh điện Đó là máy gia tốc WaltonCockroft và VandeGraff Lawritson và Sloan

đã cải tiến đưa ra loại máy gia tốc thẳng không sử dụng điện trường một chiều để gia tốc mà dùng điện trường xoay chiều Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ vi sóng, các loại máy gia tốc mới ra đời và những nguồn phát sóng siêu cao tần cho phép gia tốc các loại hạt tới những mức năng lượng khác nhau từ thấp tới cao và siêu cao

Dưới đây là sơ đồ cấu tạo của một máy LINAC xạ trị:

Trang 21

Hình 1.6: Sơ đồ thành phần cấu tạo của một máy gia tốc LINAC xạ trị

1.3.2 Nguyên lý hoạt động của máy gia tốc trong xạ trị

Các electron được sinh ra do bức xạ nhiệt từ súng điện tử, được điều chế thành các xung và phun vào buồng gia tốc Buồng gia tốc có cấu trúc dẫn sóng mà trong đó năng lượng các electron được lấy từ bộ phát sóng siêu cao tần với tần số khoảng 3000MHz Bức xạ vi sóng được cung cấp dưới dạng các xung ngắn, khoảng vài μsec,

và được phát dưới dạng các xung điện áp cao, khoảng 50kV từ bộ điều chế xung đến máy phát vi sóng Cấu trúc này gọi là Magnetron hoặc Klystron

Súng electron và nguồn vi sóng được tạo thành xung để sao cho các electron có vận tốc cao được phun vào ống dẫn sóng và tăng tốc cùng một thời điểm Hệ thống ống dẫn sóng và súng electron được hút chân không dưới áp suất thấp để tạo ra sự chuyển động tự do, tránh va chạm giữa các nguyên tử khí suốt dọc chiều dài chuyển động của chúng Chính tại thời điểm này các electron được tạo thành các xung Năng lượng mà electron có được từ nguồn cung cấp sóng cao tần trong ống dẫn sóng tùy thuộc vào công suất không đổi của nguồn sóng cao tần

Trang 22

Chùm electron được gia tốc có xu hướng bị phân kỳ (một phần do lực đẩy Coulomb và chủ yếu là do lực điện trường trong cấu trúc của ống dẫn sóng có thành phần xuyên tâm), sự phân kỳ này có thể được khắc phục bằng cách sử dụng một điện trường đồng trục do các cuộn nam châm cung cấp và phải đồng trục với ống dẫn sóng Ngoài ra, còn có các cuộn lái tia phụ được sử dụng để dẫn chùm electron sao cho khi xuất hiện từ ống tăng tốc chúng sẽ chuyển động theo đúng hướng và vị trí yêu cầu Chùm electron này có thể được lái hướng vào một bia hoặc được sử dụng trực tiếp Máy gia tốc có thể đượng sử dụng để điều trị theo 2 dạng như sau:

• Khi chùm tia electron được sử dụng trực tiếp cho điều trị, nó được phát từ một

hệ chân không , qua một của sổ nhỏ vào đầu máy điều trị, và tại đó được tán xạ hay quét theo từ trường để tạo ra các diện rộng theo yêu cầu các trường chiếu trong điều trị Đối với cách sử dụng này máy cần lắp thêm các applicator phụ thuộc vào collimator

• Khi máy được sử dụng theo chế độ phát tia X, thì chùm electron được hướng vào một bia, ở đó các electron bị hãm lại và phát ra tia- X bằng hiệu ứng Bremstralung Trong quá trình hoạt động thì bia tia X cần được làm nguội bằng nước tuần hoàn xung quanh các chi tiết liên quan, còn nước được làm nguội ra ngoài không khí

Đầu máy còn được lắp đặt một số thiết bị như : hệ thống kiểm soát liều lượng, đèn bào kích thước và hướng chùm tia, thước khoảng cách, gương phản xạ, lọc nêm …

Để thực hiện việc điều trị bệnh nhân một cách thuận tiện, thiết bị còn có các hệ thống cơ khí chuyển động như cần máy và hệ thống gường điều trị

1.3.3 Cấu tạo của một số bộ phận chính

Trang 23

Súng bắn electron có cấu tạo gồm một hiệu điện thế cao được đặt giữa 2 bản cực Cathode được nung nóng bởi 1 sợi đốt nhằm tạo ra các electron tự do Phía trước Cathode bố trí 1 lưới kim loại có tác dụng đóng ngắt như 1 van Nó cho phép kiểm soát được sự ổn định của dòng electron tưới Anode (phần đầu ống gia tốc)

Phần van lưới này luôn được cấp 1 hiệu điện thế âm tương đối so với Cathode để ngăn chăn electron tự do di chuyển tới Anode Khi súng hoạt động thì 1 xung dương sẽ được đưa tới van lưới này cho phép các electron thoát ra ở bề mặt Cathode bay sang Anode

Hình 1.7: Súng bắn electron

1.3.3.2 Nguồn cung cấp sóng cao tần [4]

Các máy gia tốc điện tử thường hoạt động ở giải tần số 3000MHz Người ta cũng có thể chế tạo được các máy gia tốc hoạt động ở giải tần số gấp 3 lần tần số nói trên Về mặt lý thuyết, nên sử dụng tần số cao hơn sẽ có lợi làm giảm kích thước buồng tăng tốc và do đó có thể chế tạo các máy gia tốc gọn gàng hơn Nhưng điều khó khăn là làm thế nào để chế tạo được hệ thống phát sóng cao tần luôn hoạt động ổn định theo công suất đặt ra

Các máy gia tốc dùng trong điều trị ung thư thường sử dụng nguồn phát sóng cao tần là Magnetron, hoặc Klystron Với năng lượng các chùm electron khoảng 10MeV, thì Magnetron hoạt động ở công suất từ 2,5- 3 MW Công suất yêu cầu cao hơn nữa khi năng lượng chùm electron cao hơn Khi đó Magnetron phải hoạt động với công

Súng

Trang 24

suất 5MW và Klytron hoạt động ở mức 7MW Cả Magnetron và Klystron đều được lắp thêm bộ điều chỉnh để có thể duy trì sự hoạt động RF (Radio Frequency) với tần số tối ưu

Về nguyên tắc không có sự khác nhau trong việc lựa chọn Magnetron hay Klystron làm nguồn phát Việc lựa chọn phụ thuộc vào một số đặc điểm dưới đây:

• Magnetron: có kích thước gọn nhẹ hơn và hoạt động ở điện áp thấp nên có thể lắp trên thân máy quay dẫn đến bị thay đổi điện áp khi thân máy quay Magnetron

tự tạo dao động, không cần giai đoạn lái chùm tia Nó được sử dụng trong các máy gia tốc yêu cầu năng lượng dưới 20MeV, giá thành thấp, tuổi thọ thấp (Hình 1.8)

Hình 1.8: Hình ảnh Magnetron

• Klystron: cấu tạo to và nặng hơn nên phải đặt trong thùng dầu cách điện, không lắp trực tiếp trên thân máy nên đòi hỏi phải có phần khớp nối, tuy nhiên không bị thay đổi điện áp khi thân máy quay Klystron cần bộ dao động và hệ thống lái tia Nó được sử dụng trong các máy gia tốc có năng lượng lớn hơn 20 MeV, giá thành cao, tuổi thọ dài.(Hình 1.9)

Trang 25

Hình 1.9: Hình ảnh Klystron

1.3.3.3 Hệ thống hội tụ và lái chùm tia

Hệ thống này có tác dụng uốn lái chùm tia theo đúng hướng và vị trí yêu cầu, đồng thời có tác dụng hội tụ, ngăn ngừa sự phân kỳ và duy trì ở tiết diện hẹp như mong muốn

- Các cuộn lái tia

Các electron khi đi qua buồng tăng tốc, dưới ảnh hưởng của các điện trường sóng cao tần, sẽ không chuyển động một cách chính xác dọc theo trụcđược, bởi vì có sự không hoàn hảo về cấu trúc giữa buồng tăng tốc và súng electron, và vì tác động của các điện từ trường ngoài Do vậy chùm electron cần được lái chủ động qua hệ thống lái tia, bằng cách sử dụng 2 cặp cuộn dây lưỡng cực đặt vuông góc tạo thành các cặp cuộn lái tia

Cặp cuộn thứ nhất được sử dụng để dẫn chùm electron sao cho khi xuất hiện từ ống tăng tốc sẽ chuyển động theo đúng hướng và vị trí yêu cầu Sau khi các electron

đã đạt gần đến năng lượng cực đại thì một cặp cuộn thứ 2 được sử dụng để hướng

Trang 26

định của sự phân bố liều lượng này, thì nguồn cung cấp cho các cuộn lái tia phải đạt đến giá trị tối ưu, sau đó được khống chế một cách liên tục bằng những tín hiệu chuẩn, lấy từ một số phần tử cảm biến đặc biệt ở trong trường bức xạ

- Các cuộn hội tụ

Khi các electron qua ống dẫn sóng, chúng luôn có xu hướng bị phân kỳ Các electron đạt đến một xung lượng nào đó thì hiệu ứng phân kỳ sẽ giảm đi (lực xuyên tâm do điện trường gây ra không đổi nhưng xung lượng của chùm tia tăng và ổn định hơn làm cho sự phân kỳ giảm liên tục Thêm nữa là khi electron đạt gần đến tốc độ của lực hấp dẫn từ trường thì bản thân mỗi một electron sẽ chống lại lực phân kỳ)

Trang 27

1.3.3.4 Đầu máy điều trị

Các bộ phân quan trọng trong đầu máy điều trị của một máy gia tốc xạ trị điển hình là: bia tia X, collimator sơ cấp và thứ cấp, MLC, lọc nêm, bộ phận kiểm soát liều lượng,…

- Bia tia X

Độ dày của bia thể hiện bằng tầm chuyển động của electron bên trong bia Năng lượng photon trung bình sẽ lớn hơn trong trường hợp bia mỏng, vì năng lượng trung bình của electron tương tác do bức xạ hãm sẽ lớn hơn so với quá trình xảy ra trong bia

có độ dày lớn hơn, song suất liều lại nhỏ hơn Thực nghiệm cho thấy với các mức năng lượng electron 10 MeV thì một bia dày làm bằng Vonfram sẽ cho phép tạo ra chùm tia

X có phẩm chất tốt nhất và suất liều lớn nhất Còn nếu năng lượng chùm electron lớn hơn thì vật liệu bằng nhôm thường được sử dụng làm bia

- Collimator sơ cấp (collimator cố định)

Collimator sơ cấp cho trường chiếu hình nón và xác định kích thước rộng lớn nhất của trường chiếu xạ Phía trên của hình nón mở gắn với bia, phần dưới có thể gắn với bộ lọc phẳng (sử dụng chùm tia X) hoặc lá tán xạ (sử dụng chùm electron) [5] Thường được cấu tạo bằng khuôn thép bọc chì hay một loại hợp kim bằng đồng, Vonfram hoặc bằng kim loại nặng Đôi khi người ta dùng uran nghèo làm chất bảo vệ phóng xạ [2],[5]

- Collimator thứ cấp [5]

Collimator thứ cấp có thể di chuyển theo từng cặp tạo thành các trường chiếu hình chữ nhật hoặc hình vuông, (hoặc có thể di chuyển một cách độc lập tạo thành các trường chiếu bất đối xứng) Trường chiếu có kích thước từ vài mm đến 40cm tại điểm isocentrer của máy

- Collimator đa lá (Multileaf Collimator- MLC) [4],[5]

Việc tạo ra các chùm bức xạ có hình dạng tùy ý là cần thiết trong thực tế điều trị

vì để sao cho thể tích khối u được chiếu xạ tập trung và giảm liều tối thiểu cho các mô lành xung quanh

Trang 28

Hình 1.11 mô tả một cách đơn giản hệ MLC, gồm 2 dãy nhiều lá chuyển động đối xứng qua trục, mỗi lá có thể định vị một cách độc lập nhau Các lá có bề dày hợp

lý, đủ để bảo vệ còn 1% liều lượng sơ cấp.Vị trí chuyển động và định vị của mỗi lá có

u Để đáp ứng yêu cầu đó, các dụng cụ trừ mô, các lọc nêm được chế tạo và sử dụng [6,8]

- Một số bộ phận khác trên đầu máy điều trị

Ngoài những bộ phận trên, đầu máy còn có thêm:

• Bộ lọc phẳng chùm tia tạo sự phân bố liều lượng đồng nhất của chùm X được lắp phía cuối collimator sơ cấp Thường có dạng hình nón, hấp thụ các photon ở miền giữa nhiều hơn vùng ngoài Thường làm bằng các kim loại: vonfram, thép hoặc chì, uran

Trang 29

hoặc nhôm Đối với các máy linac năng lượng kép, yêu cầu hai bộ phận lọc phẳng cho chùm photon năng lượng thấp và cao [4], [5], [6]

• Nếu máy ở chế độ phát electron thì bia tia X và bộ lọc phẳng không cần đến, thay vào electron sẽ đến lá tán xạ được làm bằng vật liệu có Z nhỏ Và khi đó thì collimator

đa lá được mở tối đa và lắp thêm applicator

• Các cặp buồng ion hóa: kiểm soát liều lượng chùm tia ( sẽ được nêu kỹ hơn ở phần sau)

1.4 Kỹ thuật xạ trị điều biến liều lượng IMRT (Intensity Modulated Radiation Therapy)

1.4.1 Cơ sở về kỹ thuật điều biến liều lượng IMRT

Kỹ thuật IMRT là một kỹ thuật hết sức tinh xảo và phức tạp mà trong đó tạo ra cường độ các chùm tia không đồng nhất Kỹ thuật IMRT bao gồm việc xác định rõ các miền giới hạn liều lượng tại thể tích bia cùng sự lan toả của nó và các tổ chức lành liền

kề một cách hợp lý Lịch sử phát triển của kỹ thuật xạ trị điều biến liều IMRT trải qua các giai đoạn, từ ban đầu là kỹ thuật xạ trị thường quy (1960) sau đó được phát triển thành kỹ thuật xạ trị tương thích ba chiều 3D-CRT (những năm 1980) và cuối cùng là

sự ra đời của kỹ thuật xạ trị điều biến liều IMRT (những năm 1990)

Trong kỹ thuật xạ trị điều biến liều IMRT các điểm trong trường chiếu xạ trị điều biến liều có cường độ bức xạ không đồng đều Trong kỹ thuật này, sử dụng dụng cụ bù trừ (Hình 1.12) hoặc bằng cách dịch chuyển các lá MLC(Hình 1.13) trường chiếu được tạo hình dạng tương thích với hình dạng khối u, có phân bố cường độ không đồng nhất

và được tính toán để điều biến một cách thích hợp

Ưu điểm của kỹ thuật xạ trị điều biến liều là đạt hiệu quả cao hơn trong điều trị khối u, bảo vệ các mô lành

Nhược điểm của kỹ thuật xạ trị điều biến liều là kỹ thuật rất phức tạp, do vậy với kỹ thuật này đòi hỏi phải tiến hành QA kế hoạch trước khi đưa vào điều trị cho bệnh nhân

Trang 30

Hình 1.12: Dụng cụ bù trừ được làm vật liệu chì, mỗi điểm (ô vuông) trong trường chiếu có độ dày khác nhau do đó chùm bức xạ đi qua sẽ có cường độ không đồng đều

Hình 1.13: Các lá MLC dịch chuyển tạo ra phân bố liều không đồng nhất trong trường

chiếu xạ

1.4.2 Quy trình xạ trị điều biến liều IMRT

Sau khi có chỉ định xạ trị, bệnh nhân sẽ được chụp CT mô phỏng để lấy dữ liệu cho việc lập kế hoạch xạ trị Bác sĩ xạ trị vẽ các thể tích khối u, các thể tích cơ quan lành cần bảo vệ, chỉ định liều Kỹ sư y vật lý tiến hành thiết lập trường chiếu, tính toán liều và tối ưu hóa kế hoạch Sau đó bác sĩ xạ trị và kỹ sư y vật lý sẽ đánh giá kế hoạch theo các tiêu chuẩn quốc tế ứng với từng ca bệnh Nếu kế hoạch chưa đạt, kỹ sư y vật

lý phải lập lại kế hoạch cho đến khi đạt các tiêu chuẩn đề ra Tiếp theo, kỹ sư y vật lý

sẽ tiến hành QA kế hoạch, trước khi đưa kế hoạch vào điều trị cho bệnh nhân.(Hình1.14)

Trang 31

Hình 1.14: Sơ đồ khối quy trình lập kế hoạch xạ trị điều biến liều IMRT

1.4.3 Lập kế hoạch xạ trị

Sau khi kết thúc quá trình chụp CT mô phỏng, chuỗi ảnh CT của bệnh nhân sẽ được truyền sang máy lập kế hoạch xạ trị Tại đây bác sĩ xạ trị sẽ tiến hành vẽ đường bao (contour) các thể tích khối u cần chiếu xạ cũng như các thể tích cơ quan lành cần bảo vệ, cho chỉ định tổng liều, phân liều và các giới hạn liều xạ trị Kỹ sư y vật lý sẽ tiến hành lập kế hoạch, thiết kế trường chiếu, tính toán liều lượng và tối ưu hóa phân

bố liều sao cho thỏa mãn yêu cầu của bác sĩ

Dưới đây là các bước chính trong việc lập kế hoạch xạ trị nói chung và xạ trị IMRT nói riêng:

• Nhập (import) dữ liệu hình ảnh chụp CT mô phỏng của bệnh nhân vào phần mềm lập kế hoạch xạ trị TPS (Treatment Planning System)

• Xác định điểm ban đầu và đặt gốc tọa độ dựa trên các chấm sáng trắng của dấu chì trên ảnh CT (Hình 1.15)

• Vẽ đường bao (contour) các thể tích quan tâm: thể tích khối u, thể tích các cơ quan lành cần bảo vệ

Trang 32

Hình 1.15: Xác định điểm gốc tọa độ theo các chấm sang trắng của dấu chì trên dữ

liệu hình ảnh CT của bệnh nhân

• Thiết kế trường chiếu:

✓ Đặt tâm trường chiếu (isocenter): Thường isocenter được đặt trùng với tâm khối

Trang 33

• Tính toán liều lượng: Sau khi có đầy đủ các thông số trường chiếu tối ưu hóa ở trên, tiến hành tính toán liều lượng cuối cùng (final dose) và đánh giá phân bố liều, đánh giá

kế hoạch

1.4.4 Đánh giá kế hoạch xạ trị

Bác sĩ và kỹ sư y vật lý sẽ làm việc cùng nhau để đánh giá kế hoạch xạ trị IMRT Các công việc chính bao gồm đánh giá phân bố liều trên từng lát cắt ảnh CT và đánh giá giới hạn liều (dose contraints) dựa trên biểu đồ phân bố liều thể tích (DVH)

Dựa vào các đường đồng liều (iso-dose line) trên từng lát cắt ảnh CT, chúng ta có thể biết được 95% liều chỉ định có bao hết vùng thể tích cần xạ hay không, và các cơ quan lành có nằm trong các đường đồng liều cao hay không

Dựa vào đồ thị DVH, chúng ta có thể biết được bao nhiêu phần trăm thể tích của

cơ quan cần quan tâm nhận được liều là bao nhiêu Từ đó, đánh giá được liều giới hạn đến các thể tích quan tâm có nằm trong phạm vi cho phép theo tiêu chuẩn quốc tế hay không Nếu không thì kế hoạch IMRT cần được thay đổi và tối ưu lại

Và trên hết khi có một kế hoạch xạ trị hợp lý cho một bệnh nhân thì việc QA-QC cho máy gia tốc để máy phân bố một liều lượng chính xác vào thể tích khối u là vô cùng quan trọng

Trang 34

CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH KIỂM SOÁT VÀ ĐẢM BẢO CHẤT

“Hỏng đâu, chữa đấy!”

Đã đến lúc chất lượng điều trị cần được coi là mục tiêu hàng đầu và công tác chuẩn máy, đo liều (QA-QC) phải được quan tâm và thực hiện theo định kì, đúng các quy trình kĩ thuật Đặc biệt là trong hoàn cảnh hiện nay, các trang thiết bị cần phải được duy tu, bổ dưỡng thường xuyên, định kì, ít ra đảm bảo không để tình trạng xấu đi hơn

Việc điều trị tia xạ thành công được dựa trên áp dụng nhiều khâu kỹ thuật nhằm phân bố một liều lượng chính xác vào thể tích khối u Nguyên tắc của điều trị tia xạ là đảm bảo sao cho liều tập trung cao và đồng đều tại thể tích u, giảm liều tối thiểu tại các tổ chức lành bao quanh Điều này có nghĩa là một kế hoạch tối ưu của quá trình điều trị phải được thực hiện đầy đủ và tái tạo chính xác

2.1.2 Định nghĩa

Quality Control (QC)-kiểm tra chất lượng (hay chuẩn thiết bị) là một quá trình thực tế của việc đo đạc, so sánh các thông số kỹ thuật chuẩn của thiết bị Trong đó mọi biện pháp cần thiết khác như sửa chữa thay thế để duy trì hay đạt được các mục tiêu kỹ thuật phù hợp với các tiêu chuẩn đã được đề ra

Quality Assurance (QA)-đảm bảo chuẩn chất lượng là biện pháp để đo và chuẩn liều lượng tia bức xạ bao gồm trình thực hiện để đảm bảo độ chính xác và duy trì việc

Ngày đăng: 20/03/2018, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w