1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu một số khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Luận văn thạc sĩ)

78 322 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu một số khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

LÊ XUÂN TÙNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KHẨU PHẦN SỬ DỤNG

CỎ ALFALFA VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRONG

CHĂN NUÔI BÒ SỮA TẠI MỘC CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN -2017

Trang 2

-

LÊ XUÂN TÙNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ KHẨU PHẦN SỬ DỤNG

CỎ ALFALFA VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRONG

CHĂN NUÔI BÒ SỮA TẠI MỘC CHÂU

Chuyên ngành: Chăn Nuôi

Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: TS MAI ANH KHOA

THÁI NGUYÊN -2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các

số liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác và có trích dẫn rõ ràng Tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung và các số liệu đã công bố trong luận văn này

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi xin cam đoan đều đã được cảm ơn đầy đủ

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 12 năm 2017

Học viên

Lê Xuân Tùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn

Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Mai Anh Khoa với cương vị giáo viên hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Cảm ơn Phòng Đào tạo sau Đại học - Đại học Thái Nguyên; Bộ phận quản lý sau Đại học; Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Viện chăn nuôi đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Nhân dịp này tác giả chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, các em sinh viên đã giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 12 năm 2017

Học viên

Lê Xuân Tùng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đặc tính của cây họ đậu 4

1.1.1 Giới thiệu về cây họ đậu và đặc điểm của cỏ Alfalfa 4

1.1.2 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá một số loại cây họ đậu 6

1.1.3 Chất kháng dinh dưỡng trong cây họ đậu 8

1.2 Cấu trúc khẩu phần ăn của bò sữa 12

1.2.1 Tỷ lệ xơ trong khẩu phần 12

1.2.2 Tỷ lệ gluxit dễ tiêu hóa 13

1.2.3 Tỷ lệ mỡ trong khẩu phần 15

1.2.4 Tỷ lệ nitơ tiêu hóa/năng lượng trao đổi trong khẩu phần 16

1.2.5 Tỷ lệ các chất dinh dưỡng thoát qua 17

1.2.6 Tỷ lệ của các chất khoáng 18

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 19

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24

Trang 6

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 24

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 24

2.3 Nội dung nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 24

2.4.1 Nội dung 1 24

2.4.2 Nội dung 2 25

2.4.3 Nội dung 3 27

2.5 Các chỉ tiêu theo dõi 28

2.6 Phương pháp xử lý số liệu 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Tình hình chăn nuôi, sử dụng cỏ Alfalfa cho bò sữa tại huyện Mộc Châu - Sơn La 29

3.1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa của huyện Mộc Châu 29

3.1.2 Quy mô chăn nuôi bò sữa của huyện Mộc Châu Sơn La 32

3.1.3 Tình hình sử dụng cỏ alfalfa tại Mộc Châu - Sơn La 33

3.2 Thành phần hóa học của các khẩu phần có sử dụng cỏ khô Alfalfa và khả năng tiêu hóa in vitro gas production 34

3.2.1 Thành phần hóa học của các khẩu phần có sử dụng cỏ khô Alfalfa 34

3.2.2 Khả năng tiêu hóa in vitro gas production 38

3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng cỏ trong khẩu phần 45

3.3.1 Ảnh hưởng đến năng suất sữa 45

3.3.2 Chất lượng sữa 49

3.3.3 Tiêu thụ VCK 51

3.3.5 Biến đổi khối lượng của bò sữa trong thời gian thí nghiệm 54

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56

1 Kết luận 56

2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ABBH: Axit béo bay hơi

ADF (Acid Detergent Fibre): Xơ không tan trong dung môi axít

CF (Crude Fibe): Xơ thô

CP (Crude Protein): Protein thô

CP: Chính phủ

cs: Cộng sự

ĐC: Đối chứng

DXKĐ: Dẫn xuất không đạm

EE (Ether Extract): Mỡ thô

GE (Gross Energy): Năng lượng thô

HU: Huyện ủy

TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

UBND: Ủy ban Nhân dân

VCK: Vật chất khô

VSV: Vi sinh vật

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Số lượng bò sữa của huyện qua các năm 29

Bảng 3.2 Quy mô chăn nuôi của huyện 32

Bảng 3.3: Tình hình sử dụng cỏ Alfalfa tại Mộc Châu- Sơn La 33

Bảng 3.4 Thành phần hóa học của các khẩu phần có sử dụng cỏ khô Alfalfa 36

Bảng 3.5 Lượng khí tích lũy khi lên men in vitro gas production tại các thời điểm khác nhau (ml) 39

Bảng 3.6 Đặc điểm sinh khí khi lên men in vitro gas production của các khẩu phần cỏ Alfalfa 42

Bảng 3.7 Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và năng lượng trao đổi của các khẩu phần cỏ 43

Bảng 3.8 Năng suất sữa của bò trước thí nghiệm (kg/con) 45

Bảng 3.9 Năng suất sữa bò trong thời gian thí nghiệm 46

Bảng 3.10 Một số thành phần chất lượng sữa của bò trong thời gian thí nghiệm 49

Bảng 3.11 Tiêu thụ VCK qua các giai đoạn 52

Bảng 3.12 Tiêu tốn Kg VCK/ Kg sữa 53

Bảng 3.13 Biến đổi khối lượng của bò sữa trong thời gian thí nghiệm 54

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Số lượng bò sữa của huyện qua các năm 30

Hình 3.2 Quy mô chăn nuôi bò sữa của huyện 32

Hình 3.3 Tình hình sử dụng cỏ Alfalfa tại Mộc Châu- Sơn La 34

Hình 3.4 Tỷ lệ protein tho trong khẩu phần 36

Hình 3.5 Tỷ lệ NDF, ADF trong khẩu phần 37

Hình 3.6 Lượng khí tích lũy trung bình khi lên men in vitro gas production của các khần 39

Hình 3.7 Lượng khí sinh ra tích lũy tại thời điểm 3h và 24 của các khẩu phần 40

Hình 3.8 Lượng khí tích lũy khi lên men in vitro gas production tại các thời điểm khác nhau (ml) 41

Hình 3.9 Đặc điểm sinh khí khi lên men in vitro gas production của các khẩu phần cỏ Alfalfa 43

Hình 3.10 Tỷ lệ tiêu hóa của các khẩu phần cỏ Alfalfa 44

Hình 3.11 Năng lượng trao đổi của các khẩu phần cỏ Alfalfa 45

Hình 3.12 Năng suất sữa của bò trước thí nghiệm 46

Hình 3.13 Năng suất sữa của bò sau thí nghiệm 1 tháng 48

Hình 3.14 Năng suất sữa trung bình của các lô thí nghiệm 49

Hình 3.15 Chất lượng sữa của các lô thí nghiêm 50

Hình 3.16 Tiêu thụ VCK qua các giai đoạn 53

Hình 3.17 Tăng khối lượng bò trong thời gian thí nghiệm 55

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hiện nay phát triển chăn nuôi bò sữa đang được ưu tiên trong chiến lược phát triển chăn nuôi của Việt Nam, điều này được thể hiện rõ ở nghị định 167/NĐ-CP của Chính phủ; tuy nhiên để phát triển chăn nuôi bò sữa một cách

hệ thống và bền vững phải có nguồn thức ăn thô chất lượng cao, nguồn thức

ăn này ở nước ta còn rất nhiều hạn chế Việc tìm kiếm nguồn thức ăn thô có chất lượng cao để bổ sung vào khẩu phần (KP) ăn cho bò sữa, nhất là bò sữa cao sản là một trong những yêu cầu cần thiết đối với các nước trong khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng

Sơn La là tỉnh thuộc vùng núi Tây Bắc Việt Nam, độ cao trung bình từ

600 - 700m so với mặt nước biển Khí hậu Sơn La mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa; mùa Hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông lạnh và khô hanh Có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển chăn nuôi như có nhiều đồng bãi chăn thả, tổng diện tích đồng cỏ gieo trồng lớn, hiện có 2.505 ha cỏ trồng, kế hoạch phát triển giai đoạn 2015 - 2020 đạt 7.000 ha, là tiềm năng lớn để phát triển các loại gia súc ăn cỏ như: trâu, bò, dê Đàn vật nuôi của tỉnh có quy mô lớn về số lượng, đa dạng về chủng loại theo vùng sinh thái và

có nhiều giống có giá trị kinh tế cao như: Bò sữa, bò thịt chất lượng cao, gà đen, nhím là tiềm năng, lợi thế để đầu tư có hiệu quả các dự án phát triển chăn nuôi Tỉnh Sơn La có 12 huyện thị phát triển ngành chăn nuôi gia súc theo hướng bền vững an toàn Trong đó có huyện Mộc Châu là một trong những vùng đất có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, thời tiết khí hậu phù hợp cho phát triển chăn nuôi bò sữa Đàn bò sữa giống Holstein Friesian (HF) được nuôi tại đây có nguồn gốc từ đàn bò Hà Lan – Cu Ba, trải qua nhiều thế hệ, được bổ sung thêm các nguồn gen quý của đàn bò nhập từ Mỹ, Úc đã thích nghi, sinh trưởng, có khả năng sản xuất sữa đạt khá cao so với khu vực, giúp

Trang 11

hình thành nên giống bò HF Việt Nam Trước đây đàn bò được nuôi theo phương thức tập trung, từ những năm 1990 đã được giao khoán đến hộ gia đình Mô hình chăn nuôi hiện nay của Mộc Châu là chăn nuôi hộ gia đình, kết hợp với các trung tâm giống có quy mô 1.000 con/trung tâm, được đầu tư các trang thiết bị hiện đại theo tiêu chuẩn châu Âu Trong những năm qua huyện Mộc Châu đã chọn được ra nhiều loại giống cỏ làm thức ăn cho vật nuôi, cỏ

mới năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với sinh thái của vùng Cỏ Alfalfa

được biết đến như một loại thức ăn cao cấp cho bò sữa cao sản với đặc tính nổi trội là có hàm lượng protein cao (19 - 22%) và hàm lượng xơ đặc biệt dễ tiêu hóa Tuy nhiên, để sử dụng cỏ này trong khẩu phần một cách hợp lý và khoa học trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu còn chưa được xem xét một cách khoa học, người dân mới chỉ sử dụng theo kinh nghiệm Do vậy, xuất

phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu một số

khẩu phần sử dụng cỏ Alfalfa và đánh giá hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được tình hình sử dụng cỏ Alfalfa trong chăn nuôi bò sữa tại

Mộc Châu

- Lựa chọn được khẩu phần phù hợp nhất khi sử dụng cỏ Alfalfa trong

chăn nuôi bò sữa tại Mộc châu

- Đánh giá hiệu quả sử dụng cỏ Alfalfa trong khẩu phần, để nuôi bò sữa

HF phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật của địa phương

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ðề tài góp phần cung cấp thông tin cần thiết, không những có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn

- Cỏ Alfalfa được biết đến như là một loại thức ăn cao cấp cho bò sữa

cao sản với đặc tính nổi trội là hàm lượng protein cao (19 - 22%) và hàm

Trang 12

lượng xơ đặc biệt dễ tiêu hóa, thông qua đó cung cấp cho người chăn nuôi

phương pháp sử dụng cỏ Alfalfa bổ sung trong khẩu phần nuôi bò sữa nhằm

đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi

- Đề xuất áp dụng khẩu phần bổ xung nuôi bò sữa phù hợp với điều kiện kinh tế kỹ thuật Từ đó chuyển giao quy trình kỹ thuật trên địa bàn

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc tính của cây họ đậu

1.1.1 Giới thiệu về cây họ đậu và đặc điểm của cỏ Alfalfa

Bộ Đậu (Fabales) là một bộ thực vật có hoa, nằm trong nhóm hoa hồng (rosids) của thực vật hai lá mầm thật (eudicots) Trong nghiên cứu của

Magallón và cs, (1999) [44], Bộ Đậu chiếm khoảng 9,6% sự đa dạng của thực vật hai lá mầm thật

Trong bộ đậu, họ đậu (Fabaceae) là họ thực vật lớn thứ ba, với khoảng

730 chi và 19.400 loài Các họ khác chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong sự đa dạng của bộ đậu (Judd và cs, 2002) [41]

Một đặc điểm nổi bật của các loài cây thuộc họ đậu là cây chủ cho nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng Các loài vi khuẩn này có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa nó thành các dạng chất

mà cây có thể hấp thụ được (NH3 hay NO3) Hoạt động này được gọi là cố định đạm Cây họ đậu, trong vai trò của cây chủ, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra mối quan hệ cộng sinh (Họ đậu, 2011), [14]

Cây họ đậu có giá trị dinh dưỡng cao, do chúng chứa hàm lượng protein, vitamin, khoáng chất cao Giá trị dinh dưỡng của cây đậu được giữ đều trong

cả chu kỳ hơn là cỏ hòa thảo Khác với cỏ hòa thảo, khi tuổi tăng lên và trong mùa khô giá trị dinh dưỡng của cây họ đậu ít thay đổi Trong điều kiện đất nghèo dinh dưỡng thì năng suất sẽ giảm trước so với tỷ lệ protein trong cây đậu Điều này là ngược với cỏ hòa thảo, ở cỏ hòa thảo tỷ lệ protein trong cây

sẽ bị giảm rồi mới đến năng suất

Cây họ đậu đang được đề nghị sử dụng làm thức ăn ở các vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới Một trong các cây họ đậu được khuyến cáo như là thức ăn

Trang 14

bổ sung protein cho gia súc, gia cầm là cỏ Alfalfa, tên khoa học là (Lucern)

còn gọi là Cỏ Linh Lăng, Mộc Túc Braxin Cỏ Ba Lá là cây họ đậu, thân thảo

có giá trị dinh dưỡng rất cao, làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy

sản được thế giới rất quan tâm nghiên cứu đã trên 50 năm

Các nhà khoa học đã phát hiện trong cỏ Alfalfa có các thành phần như:

các axit amin, vitamin, Protein, β-caroten, axit hữu cơ, ancaloid, fitoleid Tất cả 12 axit amin không thay thế được đều có hàm lượng khá cao trong đó Đặc biệt, βcaroten đạt hàm lượng kỷ lục là 94,6 ppm (Zehnder C M, 1998) [65]

Các yếu tố vi lượng tự nhiên bảo đảm cho các vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng bệnh mạnh, không có các phản ứng

phụ Với hàm lượng βcaroten cao, nên cỏ Alfalfa chỉ cần tham gia từ 10% đến

20% trong khẩu phần thức ăn thì gà mẹ, chim cảnh rất mắn đẻ, trứng có lòng

đỏ to, màu đỏ đậm, tỉ lệ nở con cao hơn hẳn (Lê Văn An và cs, 2008) [1].Trong nghiên cứu của Lê Công Quân (2006) [15], cho rằng nhờ các chất

ancaloid- enzim dồi dào trong cỏ Alfalfa, nên bò sữa được ăn loại cỏ này sẽ

tiết sữa nhiều và chất lượng sữa tốt hơn

Bột lá cỏ Alfalfa không những giàu protein, khoáng, vitamin mà còn

chứa hàm lượng xanthophyll tương đối cao Theo Scott và cs (1982) [58] cho

biết, hàm lượng xanthophyll trong bột cỏ Alfalfa từ 400 đến 550mg/kg CK,

cao hơn khá nhiều so với một số bột lá các cây họ đậu khác Kết quả phân tích

thành phần hóa học của bột cỏ Alfalfa sử dụng trong thức ăn cho gà thí

nghiệm của chúng tôi cho biết hàm lượng vật chất khô là 91,10%; hàm lượng protein thô (14,70%); xơ thô (32,50%); lipit thô (1,01%); khoáng tổng số (11,80%) Hàm lượng canxi và photpho tương ứng là 1,71% và 0,25% Hàm lượng xanthophyll là 348,4 ppm/kg CK

Người ta dùng cỏ Alfalfa làm thức ăn cao cấp dành cho các vật nuôi

quan trọng như: Bò đực giống, bò sữa, gia cầm bố mẹ, gà con, chim cảnh

Trang 15

Do những tác dụng lớn đó, nên các chuyên gia chăn nuôi trên thế giới đã suy

tôn cỏ Alfalfa là “Nữ hoàng” trong thức ăn chăn nuôi

Lucerne Alfalfa chứa nhiều protein, calcium và các nhóm khoáng chất

có giá trị sinh trưởng cho các động vật kể cả con người, thêm vào đó các loại

vitamin A, các vitamin nhóm B, C, D, E và K cũng được tìm ra trong Alfalfa

Song song với việc trồng Lucerne Alfalfa, người ta còn nuôi ong lấy mật trên hoa cỏ Alfalfa tạo thêm nhiều nét đặc lợi trong mật ong làm thực

phẩm cho con người

1.1.2 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thân lá một số loại cây

họ đậu

Theo Norton và cs, (1995) [49] cây họ đậu được xác định là cây thức ăn xanh tiềm năng bổ sung protein cho vật nuôi, vì chúng có chứa protein thô cao (15% - 30% CK), khoáng chất và vitamin cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi Trong khẩu phần có bổ sung protein của cỏ có chứa 70g protein thô/

kg CK hoặc ít hơn cho thấy: lượng CK thu nhận, khả năng tiêu hóa và năng suất vật nuôi tăng (Umuna và cs, 1995) [62]

Trong nghiên cứu của Onibi và cs ( 2008) [52] lá đậu ván tính theo chất khô có chứa 23,40% protein thô; 1,90% lipit thô; 8,34% chất xơ thô; 11,60% khoáng tổng số và 46,70% DXKĐ Những giá trị này nhìn chung tương tự với hàm lượng của hầu hết các loại bột lá như đậu triều

Theo Nworgu và cs, (2007) [51] bột lá đậu leo rất giàu protein thô (22,45%), phốt pho (0,53%), canxi (0,80%), kali (0,72%) và magiê (0,30%) Giá trị protein thô của bột lá đậu leo trong nghiên cứu này cao hơn báo cáo của Aletor và cs, (1994) [33] là (12,50%), nhưng tương tự như báo cáo của Nworgu, (2004) [50] là (23,24%)

Bột thân lá đỗ nho nhe chứa hàm lượng protein thô là 12,69%, lipit thô 2,09%; khoáng tổng số 11,22%; xơ thô 43,52% và đầy đủ các axit amin (Trần

Trang 16

Tố , 2006) [26] Theo Nguyễn Thị Tú và cs, (2009) [27] hàm lượng chất dinh dưỡng của thân, lá đậu nho nhe khá cao, đặc biệt là hàm lượng protein thô khoảng 10 - 25%

Keo giậu được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi Hàm lượng protein thô của keo giậu biến động theo loài và giống Khi nghiên cứu trên 9 loài keo giậu cho thấy: CK dao động từ 15,56% đến 22,34% (Gupta và cs, 1986) [40] Keo giậu trồng tại Việt Nam có hàm lượng protein thô khá cao Trong nghiên cứu của Lê Hòa Bình và cs, (1993) [2] hàm lượng protein thô đạt 25%

CK Các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hà (1996) [10] cho biết protein thô dao động từ 26,4 - 26,7% CK Theo Từ Quang Hiển và cs (2008) [13] keo giậu trồng tại Thái Nguyên chứa 96,3%; 14,8% protein; 0,6%; 2,7% lipit tương ứng lá tươi và bột lá

Một số nghiên cứu khác cho thấy cây keo giậu tương đối giàu protein thô (22 - 34%) và các axit amin thiết yếu, khoáng, carotenoit và vitamin (Aletor và

cs, 1994) [31]; (Munguti và cs, 2006) [48]; (D'Mello và cs, 1982) [35]; (Dhar

và cs, 2007) [39]; (Onibi và cs, 2008) [52] ; (Atawodi và cs, 2008) [32]

Cây keo củi được nhập và trồng ở một số địa phương của Việt Nam Keo củi có hàm lượng protein khá cao, khoảng 22 - 24,5% tính theo CK (Nguyễn Ngọc Hà và cs, 1995) [9]; (Nguyễn Thị Mùi, 2004) [16] Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong cây keo củi trồng tại Cần Thơ từ 27,54 - 31,95%

CK, 22,12 - 27,84% protein thô (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2010) [17]

Ở miền núi khu vực phía Bắc cây họ đậu được trồng kết hợp chống xói mòn với làm thức ăn chăn nuôi Theo Từ Quang Hiển và cs (2008) [13] cho biết thành phần hóa học của bột lá và lá tươi của 2 giống họ đậu trồng tại Thái Nguyên như sau:

D rensoni chứa 4,7%; 15,6% protein; 0,5%; 1,7% lipid tương ứng lá tươi và bột lá, đậu công (F Congesta) chứa 4,1%; 19,6% protein; 0,7%; 3,4%

lipit tương ứng lá tươi và bột lá

Trang 17

Cây họ đậu không chỉ giàu protein mà còn chứa đầy đủ các axit amin thiết yếu Trong nghiên cứu của D'Mello và cs, (1989) [36] nhận xét bột lá keo giậu cùng dòng và giống nhưng được trồng ở các địa điểm khác nhau thì cũng có sự khác biệt về tỷ lệ các axit amin Sự khác biệt đáng chú ý là arginine, lysine, phenylalanine, leucine, tyrosine, methionine cysteine, glycine và threonine trong bột lá keo giậu ở Malawi có chứa hàm lượng các axit amin cao hơn bột lá keo giậu ở Thái Lan

D'Mello (1995) [38] khuyến cáo rằng hàm lượng lysine trong bột lá họ đậu cao hơn so với các hạt ngũ cốc và một số các sản phẩm như bột dầu dừa Tuy nhiên, hàm lượng lysine trong bột đậu tương và bột cá cao hơn đáng kể

so với các bột lá họ đậu Vì vậy để thay thế một lượng lớn bột lá họ đậu trong khẩu phần ăn của động vật dạ dày đơn cần chú ý đến hàm lượng lysine Sự thiếu hụt của axit amin có chứa lưu huỳnh cũng là một trong những hạn chế khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng của bột lá họ đậu

Cỏ Stylosanthes cùng với việc nghiên cứu năng suất các nhà khoa học

cũng tập trung đánh giá thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của nó

Hàm lượng nitơ của S guianensis vào khoảng 1,5 - 3% tính theo CK

Ở Việt Nam, thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Alfalfa cũng được các nhà khoa học công bố Cỏ Alfalfa có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ

lệ protein thô đạt 19,8% Trong nghiên cứu của Lê Văn An và cs, (2008) [1]:

cỏ Alfalfa trồng tại Lâm Đồng chứa 17,7% CK, protein thô 24,46%, khoáng 11,38%, lipit 3,55% Cỏ Alfalfa ở dạng viên chứa 23,6% protein thô và 44,5%

xơ trung tính Cỏ Alfalfa khô có 22,0% protein thô và 43,9% xơ trung tính

(Akayezu và cs, 1997) [29]

1.1.3 Chất kháng dinh dưỡng trong cây họ đậu

Trong các cây họ đậu, sự cố định khí nitơ làm thoả mãn nhu cầu đạm Trước tiên nitrogen liên kết tạo những sản phẩm alkaloide hoặc những axit

Trang 18

amin bất thường không thông dụng Như vậy, chúng được tích lũy lại trong

cơ thể thực vật tạo nên sản phẩm trao đổi thứ cấp Thường những axit amin này cấu trúc gần giống với những axit amin thiết yếu Chúng không thực hiện được chức năng sinh học như những axit amin thiết yếu, như vậy trở thành yếu tố đối kháng với axit amin gần giống với nó Khi động vật ăn loại này và hấp thu vào cơ thể, nó làm thay đổi một số bước phản ứng trong trao đổi axit amin gây rối loạn quá trình trao đổi chất và gây độc cho cơ thể Theo D'Mello (1992) [37] thì nhiều loại cây bộ đậu nhiệt đới có chứa nhiều axit amin bất thường Nhiều trường hợp ngộ độc trên vật nuôi do ăn phải hạt một số cây họ

đậu nhiệt đới có axit amin độc hại như hạt cây đậu chàm (Indigofera spicata) hoặc hạt cây Lathryus cicera

Chất kháng dinh dưỡng, nói chung là không gây chết Nó làm giảm khả năng sinh trưởng nhưng cũng có thể gây độc tính trong giai đoạn thiếu thức

ăn hoặc cho ăn với số lượng lớn các cây giàu chất này Theo Cheeke và cs (1985) [34] chúng ức chế trypsin, gây ảnh hưởng bất lợi cho động vật dạ dày đơn, nhưng không ảnh hưởng bất lợi ở động vật nhai lại vì chúng bị phá hủy trong dạ cỏ

Các chất kháng dinh dưỡng có thể được chia thành hai loại chính: Thứ nhất là protein (các lectin và chất ức chế protease) - rất nhạy cảm với nhiệt độ Thứ hai là các chất khác như hợp chất polyphenolic (chủ yếu là ngưng tụ tannin), các axit amin không protein Các chất kháng dinh dưỡng có hại cho sức khỏe của người và động vật nếu tiêu thụ quá lượng cho phép

Mimosine

Nhiều cây họ đậu chứa các hợp chất hóa học tự nhiên có khả năng gây tác động tiêu cực Trong số các axit amin độc hại có trong cây họ đậu, mimosine là nhiều nhất Mimosine được tìm thấy trong thân và hạt giống của

gia đình Mimosaceae và tất cả các chi Leucaena Nồng độ của mimosine

Trang 19

trong lá Leucaena là 2,5% trong chất khô (D'Mello, 1982) [35]; 3,36%

(Pakyavivat và cs, 1985) [54]; và 3,08% (Sriwatavorachai, 1989) [61] Theo

Chaiyanukulkitti và cs, (1991) [33] báo cáo rằng mimosine trong cỏ Lucerne

là 0,29% và 0,18% chất khô tương ứng Mối quan tâm đối với L leucocephala, là mức độ mimosine trong lá khoảng 2 - 6% và thay đổi theo

mùa và sự trưởng thành

Mimosine, một axit amin không protein cấu trúc tương tự tyrosine, vì vậy nó ức chế trao đổi thyrosine trong cơ thể, không cho tạo thành Iodthyrosine Do vậy, ở gia súc nhai lại, khi ăn nhiều lá cây keo giậu (với tỷ lệ

> 30% lá keo giậu trong khẩu phần) gây ức chế sinh trưởng, bướu cổ, hàm lượng thyrosine trong máu giảm Tuy nhiên, hoạt động của vi sinh vật dạ cỏ làm giảm đáng kể hàm lượng mimosine bằng cách hình thành các chất không độc hoặc thải ra ngoài cơ thể Khác với động vật nhai lại, ở động vật dạ dày đơn, mimosine là nguyên nhân gây chậm phát triển, rụng lông, đục thủy tinh

thể mắt và các vấn đề sinh sản Mức Leucaena trên 5 - 10% trong khẩu phần

cho gia cầm, lợn và thỏ thường dẫn đến khả năng sinh trưởng giảm Ở gà, nếu cho ăn từ 8 - 10% lá keo giậu thì xuất hiện rụng lông, tuyến giáp phát triển mạnh, giảm khả năng sinh trưởng, giảm sản lượng trứng (Pakyavivat và

cs, 1985) [54]

Saponin

Về bản chất hoá học thì chất saponin có nhiều loại hợp chất hoá học khác nhau Đặc tính chung của chúng là trong nước dễ dàng tạo thành các bọt như bọt xà phòng Saponin có chứa nhóm chất Aglycone liên kết với một hoặc nhiều phân tử đường hoặc với olygosaccharide Saponin gây hypocholesterolaemia bằng cách liên kết cholesteron làm cho nó không có sẵn cho sự hấp thụ Chúng cũng có thể làm tan máu của các tế bào hồng cầu và gây độc Saponin được đặc trưng bởi vị đắng, tính chất tạo bọt, có tính chất

Trang 20

phá huyết Saponin là chất kháng dinh dưỡng gặp trong quá trình nghiên cứu

cỏ alfalfa Nó làm chậm sự phát triển của động vật dạ dày đơn do giảm lượng

thức thức ăn tiêu thụ (Cheeke và cs, 1985) [34] Tương tự, saponin cũng được tìm thấy trong lá cây điền thanh (3,71%) (Shqueir và cs, 1989) [59] Bột lá điền thanh chứa 0,71% saponin trong khẩu phần đã thấy gà bị giảm sinh trưởng Khi thí nghiệm trên gia súc người ta nhận thấy trong chế phẩm này

có chất ức chế sinh trưởng đối với gà, lợn và bê Trong dịch ép cỏ Alfalfa

cũng có chất ức chế enzyme tiêu hoá protein (antiproteinase)

Alkaloide

Alkaloide là những hợp chất hữu cơ có chứa Nitơ và có tính kiềm nhẹ,

đa số có nguồn gốc từ thảo mộc, chỉ với một liều thật nhỏ cũng tạo ra tác dụng sinh học rất mạnh trên cơ thể Hiện nay, người ta tìm thấy có trên 3000 chất alkaloide khác nhau và có khoảng 30 trong số này đã được sử dụng rộng rãi trong y học và được người ta nghiên cứu kỹ

Trong thực tiễn trên đồng cỏ chăn nuôi có một số loài thực vật họ đậu

như cỏ ngôi sao (Lupinus) là loại cây họ đậu hoa trắng (Lupinus albus), hoặc hoa vàng (Lupinus luteus) có một loại chất độc gây bệnh cho gia súc trên

đồng cỏ xứ ôn đới, trước đây người ta gọi tên bệnh do loại cỏ này gây ra là lupinozis Sau này người ta xác định trong cây cỏ Lupin có chứa nhiều loại alkaloide mà trong đó có chất kinolizidin là rất độc gây hại cho gan, làm thoái hoá và mỡ hoá gan Alkaloid gây ra rối loạn tiêu hóa và thần kinh (Aletor, 1993) [30] Alkaloide trong loại cỏ này không bị phá hủy bởi quá trình phơi và sấy, do đó sự ngộ độc trên gia súc thường xảy ra khi cho bò ăn

cỏ Lupin khô Sự ngộ độc do loại cỏ này xảy ra ở bò sữa mang thai kỳ cuối hoặc mới đẻ còn gây ra bệnh ketosis cho bò

Trong một số cỏ họ đậu thuộc giống Medicago sativa sau một thời gian

dài trồng để lấy hạt cỏ già tích lũy chất độc được biết là chất latirin cũng là

Trang 21

loại alkaloide gây ngộ độc cho gia súc ăn nhiều Triệu chứng bệnh xuất hiện trên hệ thần kinh dẫn đến bại liệt người ta gọi là bệnh latirizmus

Một số chất kháng dinh dưỡng khác

Chất ức chế trypsin và chymotrypsin là các protein phân phối rộng rãi trong thực vật Nó làm giảm tiêu hóa protein và giảm sự sẵn có của các axit amin, đặc biệt là axit amin chứa lưu huỳnh Trong nghiên cứu của Liener và

cs, (1980) [43] đã chỉ ra rằng các chất ức chế protease có thể gây ra chậm tăng trưởng, và phì đại tuyến tụy ở gà Nó ức chế tuyến tụy tiết ra enzyme, các enzym tuyến tụy rất giàu các axit amin lưu huỳnh, điều này sẽ gây ra sự mất mát methionine và cysteine để tổng hợp các mô cơ thể

Các glycoalkaloids, solanine và chaconine liên quan đến đường tiêu hóa rối loạn và rối loạn thần kinh Tannin làm giảm tiêu thụ thức ăn ở động vật, hạn chế tiêu hóa protein và enzyme Chúng có thể gây ra giảm vị ngon và tốc

độ tăng trưởng (Aletor, 1993) [30]

1.2 Cấu trúc khẩu phần ăn của bò sữa

Đối với bò sữa, việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng không thôi chưa phải là đủ Điều hết sức quan trọng là phải phối hợp được một khẩu phần ăn phù hợp với cấu tạo của đường tiêu hóa loài nhai lại và đáp ứng được nhu cầu tiết sữa cao của bò sữa

Khi phối hợp khẩu phần ăn cho bò sữa nên đảm bảo được tỷ lệ thích hợp của các thành phần trong khẩu phần Sau đây là một vài tỷ lệ quan trọng

1.2.1 Tỷ lệ xơ trong khẩu phần

Ngoài vai trò là nguồn cung cấp năng lượng, chất xơ còn có những vai trò khác rất quan trọng trong dinh dưỡng loài nhai lại là đảm bảo hoạt động bình thường của dạ cỏ thông qua: kích thích nhai lại và tiết nước bọt, giúp ổn định pH dịch dạ cỏ (Van Soest và cs, 1985) [63], điều chỉnh lượng thu nhận

tự do của gia súc

Trang 22

Số lượng VSV, chủng loại và các sản phẩm lên men do chúng tạo ra rất biến động và phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn thức ăn thu nhận Một trong các sản phẩm lên men quan trọng trong dạ cỏ là axit béo bay hơi (ABBH) Lượng ABBH được hình thành hàng ngày phụ thuộc vào điều kiện thức ăn Với điều kiện cho ăn phù hợp, hàng ngày trong dạ cỏ hình thành 3 – 5 lít axit butyric Đối với bò sữa, tỷ lệ axit axetic/axit propionic thích hợp là 3:1, đối với bò thịt là 2:1

Tỷ lệ axit axetic/axit propionic hoàn toàn phụ thuộc vào cấu trúc khẩu phần ăn của gia súc Nếu khẩu phần giàu xơ thì sẽ xuất hiện nhiều axit axetic

và axit propionic, tỷ lệ axit axetic/axit propionic có thể đạt tới mức 4:1 Điều này dẫn tới pH dạ cỏ cao, tỷ lệ tiêu hóa thức ăn giảm, hàm lượng mỡ sữa cao còn năng suất sữa thì thấp Đây là khẩu phần ăn của bò sữa được cho ăn nhiều

cỏ khô già và rơm

Nếu khẩu phần ăn của bò sữa giàu tinh bột thì tỷ lệ axit axetic/axit propionic sẽ tiến tới 2:1 Trong trường hợp này, mỡ sữa sẽ giảm, pH dạ cỏ giảm thấp và có nguy cơ bị axit dạ cỏ Tỷ lệ xơ thích hợp trong khẩu phần ăn của bò sữa nên nằm trong khoảng 18 - 22% (tính theo VCK của khẩu phần) Đối với bò thịt, tỷ lệ này nên là 16% Trong đó, 2/3 lượng xơ trong khẩu phần

là “Có cấu trúc” (tức là thức ăn không được băm chặt quá nhỏ hoặc nghiền nhỏ)

1.2.2 Tỷ lệ gluxit dễ tiêu hóa

Các khẩu phần của loài nhai lại thường có một lượng gluxit dễ tiêu hóa nhất định, lượng gluxit này biến động nhiều tùy theo sự lựa chọn thức ăn Thức ăn tinh ngũ cốc không những giàu tinh bột mà còn giàu cả đường, trong lúc đó cỏ khô hòa thảo lại có nhiều đường Các thức ăn như củ, quả, ngũ cốc,

cỏ khô hòa thảo, nước mật, rỉ mật, cỏ tươi họ hòa thảo, đều là những nguồn đường Trong khẩu phần thiếu gluxit cũng như thừa đều làm rối loạn hoạt động sống của hệ VSV dạ cỏ, làm giảm sự tiêu hóa thức ăn và sự đồng hóa các chất nitơ

Trang 23

Gluxit dễ tiêu hóa ảnh hưởng đặc biệt lớn tới sử dụng chất xơ và chất chứa nitơ Sự tiêu hóa xơ có hiệu quả nhất ở dạ cỏ bò khi được nuôi bằng khẩu phần cỏ khô và thức ăn tinh có 1 - 3g và khẩu phần cỏ khô có 1 - 2g đường trên 1kg thể trọng gia súc Nhưng khẩu phần có chứa tới 6 - 10g đường trên 1kg thể trọng gia súc sẽ ức chế rõ rệt sự tiêu hóa xơ Nguyên nhân có lẽ đúng nhất về ảnh hưởng xấu của nhiều đường trong khẩu phần đến sự tiêu hóa chất xơ là sự nâng cao độ axit trong dạ cỏ, ảnh hưởng xấu đến hoạt tính của VSV phân giải xơ Rõ ràng là pH thích hợp nhất của môi trường đối với VSV phân giải xơ là ở trong phạm vi 6,8 - 7,2 Khi bổ sung nhiều đường chỉ số pH giảm đến 5 hoặc thấp hơn

Sự thiếu hụt các chất chưa nitơ dự trữ trong dạ cỏ cũng có ý nghĩa không kém quan trọng có lẽ vì VSV lên men đường sử dụng tất cả các chất chứa nitơ hòa tan có trong dịch dạ cỏ và vi khuẩn phân giải xơ bị thiếu nitơ Các thí nghiệm cho thấy rằng, ở các khẩu phần giàu protein, nhu cầu thích hợp nhất về đường có thể cao hơn 20 - 30% và ảnh hưởng xấu của đường đến

sự tiêu hóa xơ có thể biểu hiện yếu hơn nhiều hoặc hoàn toàn không có (Orskov và cs, 1980) [53]

Việc có đủ lượng gluxit hòa tan trong khẩu phần còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra các điều kiện cần thiết cho hoạt động sống của các VSV có vai trò quan trọng trong quá trình lợi dụng NH3, axit amin, amit, nitrat và các chất chứa nitơ khác theo thức ăn đi vào hoặc là được tạo thành ở

dạ cỏ Mức độ sử dụng nitơ NH3 hình thành ở dạ cỏ từ sự phân giải protein và các chất chứa NPN cho các quá trình tổng hợp phụ thuộc nhiều vào sự cung cấp các chất sinh năng lượng cho VSV Thêm vào khẩu phần các thức ăn giàu tinh bột hay đường sẽ làm giảm mức độ NH3 ở dạ cỏ và làm tăng sự tổng hợp protein VSV

Trang 24

Các nghiên cứu của Kozaki và cs, (1992) [42] đã xác nhận rằng nitơ thức ăn ở dạ cỏ được sử dụng có hiệu quả nhất khi nuôi bò với khẩu phần có khoảng 2 - 3g đường cho 1kg thể trọng động vật Tác giả còn quan sát thấy

NH3 ở dạ cỏ và urê trong máu giảm và mức độ protein trong dịch dạ cỏ tăng lên

Tuy rằng các loại gluxit dễ tiêu hóa đều có ảnh hưởng đến sự phân giải chất xơ và sử dụng nitơ ở dạ cỏ, vẫn có sự khác nhau chủ yếu về tác dụng của từng loại gluxit đến các quá trình này Tinh bột bị phân giải dần thành glucose

và sau đó lên men thành các ABBH Trong trường hợp này, pH dạ cỏ bằng 6,0 - 6,5 và đó là điều kiện của môi trường có lợi nhất cho sự phát triển của vi khuẩn tạo axit propionic, sản sinh mạnh axit propionic Sự tăng của axit propionic đã tạo điều kiện cho nitơ của thức ăn được sử dụng có hiệu quả hơn

và làm tăng protein của sữa Mức độ sử dụng chất dinh dưỡng ở dạ cỏ loài nhai lại và mức độ gluxit dễ tiêu hóa thích hợp nhất không những phụ thuộc vào đặc điểm của gluxit, mà còn vào tương quan đường và protein trong khẩu phần Khẩu phần có tỷ lệ đường/protein là 1,8 sẽ có hiệu quả tốt nhất đến năng suất sữa và số lượng mỡ trong sữa Sự giảm tỷ lệ đường/protein xuống 0,4 - 0,6 cũng như sự tăng lên đến 2,4 sẽ làm cho sự đồng hóa các chất dinh dưỡng trong cơ thể thay đổi, dù rằng những thay đổi này chưa đủ gây ra những biểu hiện lâm sàng

1.2.3 Tỷ lệ mỡ trong khẩu phần

Đối với bò vắt sữa, sự thiếu hụt năng lượng trong khẩu phần là một trong những nguyên nhân chính hạn chế năng suất sữa (Đinh Văn Cải, 1995) [3] Chất béo như dầu mỡ có thể được sử dụng trong khẩu phần cho bò vắt sữa để làm tăng năng lượng thức ăn của khẩu phần, nhất là bò sữa ở giai đoạn đầu của thời kỳ tiết sữa Ở giai đoạn này năng lượng thu nhận được từ thức ăn khẩu phần thường thấp hơn năng lượng bò đã sử dụng để cho sản phẩm, vì vậy bò thường giảm khối lượng Để khắc phục tình trạng này người ta có thể

Trang 25

thêm 2 - 3% dầu mỡ vào khẩu phần hoặc 5 - 6% vào thức ăn tinh (Đinh Văn

Cải, 1995) [3]

Mỡ trong khẩu phần thức ăn của bò sữa phụ thuộc vào lượng mỡ bài tiết ra theo sữa trong một ngày đêm Khối lượng mỡ tối thiểu trong khẩu phần khoảng 40% so với khối lượng mỡ trong sữa, thích hợp nhất là 60% Nhiều tác giả cho rằng mức độ thích hợp nhất là 20 - 40g mỡ trong 1kg chất khô khẩu phần (Stokes và cs, 1992) [60]

1.2.4 Tỷ lệ nitơ tiêu hóa/năng lượng trao đổi trong khẩu phần

Có nhiều nghiên cứu chứng tỏ có sự ảnh hưởng của mật độ năng lượng trong khẩu phần đến việc sử dụng N (Orskov và cs, 1980) [55]

Năng lượng được bò sữa sử dụng có hiệu quả cao khi protein cung cấp

15 - 25% năng lượng thuần Năng lượng sẽ được sử dụng kém hiệu quả khi protein cung cấp dưới 15% hoặc vượt 25% năng lượng thuần Tác giả cũng cho biết rằng hiệu suất sử dụng năng lượng trao đổi (NLTĐ) tăng khi tỷ lệ protein trong khẩu phần tăng, nhưng sau đó hiệu suất này không thay đổi mặc

dù tỷ lệ protein trong khẩu phần vẫn tăng Khi tỷ lệ protein trong khẩu phần vượt qua mức tới hạn (critical proportion), hiệu suất sử dụng NLTĐ bắt đầu giảm xuống

Thí nghiệm trên cừu phát hiện thấy cân bằng nitơ độc lập với NLTĐ thu nhận khi nitơ thu nhận thấp hơn so với nhu cầu của gia súc Tuy nhiên, khi nitơ thu nhận cao hơn so với nhu cầu của gia súc, cân bằng nitơ sẽ tăng khi NLTĐ thu nhận tăng

Khi tỷ lệ protein thấp, thu nhận VCK của gia súc sẽ thấp do hoạt động phân giải thức ăn của VSV giảm dẫn đến tỷ lệ phân giải thức ăn thấp Khi nitơ thu nhận vượt quá nhu cầu của gia súc, cân bằng năng lượng giảm và hiệu suất sử dụng NLTĐ giảm

Lượng nitơ tiết ra trong sữa cũng như năng suất sữa hàng ngày phụ thuộc vào NLTĐ thu nhận cũng như giai đoạn của chu kỳ sữa và các thông số

Trang 26

này có liên quan đến tỷ lệ nitơ tiêu hóa/NLTĐ Tỷ lệ nitơ tiêu hóa/NLTĐ thích hợp là 9,2g/ MJ trong những tháng đầu, 7,1 g/ MJ trong những tháng giữa và 5,4g/ MJ trong những tháng cuối của chu kỳ sữa (Chaiyanukulkitti N và

cs, 1991) [35]

1.2.5 Tỷ lệ các chất dinh dưỡng thoát qua

- Tỷ lệ protein thoát qua:

Động vật nhai lại (ĐVNL) cần một lượng rất lớn protein trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng, giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai và trong giai đoạn tiết sữa Nguồn protein cung cấp do VSV dạ cỏ mang lại không đáp ứng được những nhu cầu trên của ĐVNL về protein Trong khi đó, động vật nhai lại có thể tiếp cận (thu nhận) được các chất dinh dưỡng khác và điều đó dẫn đến sự mất cân đối giữa protein và năng lượng thu nhận Hậu quả

là lượng thức ăn thu nhận sẽ giảm Nhưng thường xuyên hơn, các chất dinh dưỡng dư thừa sẽ bị ôxi hóa tạo nhiệt, gây sự lãng phí các chất dinh dưỡng

Như vậy, để ĐVNL sử dụng thức ăn có hiệu quả cao nhất, lượng protein cung cấp cho chúng tại ruột non phải lớn hơn lượng protein mà VSV

có thể cung cấp Lượng protein “thêm” này phải có trong khẩu phần ăn của ĐVNL dưới dạng protein thoát qua, nghĩa là không bị phân giải trong dạ cỏ Protein thoát qua cần chiếm một tỷ lệ nhất định trong khẩu phần ăn của ĐVNL Đây là một nguyên tắc cần được ưu tiên khi phối hợp khẩu phần ăn cho bò sữa, đặc biệt là bò sữa cao sản

- Tinh bột thoát qua:

Đối với ĐVNL gluxit sẽ được lên men bằng enzyme tiêu hóa của vật chủ, tạo ra đường glucose Đối với ĐVNL, gluxit được lên men với enzyme VSV, tạo ra các ABBH Động vật nhai lại hấp thu các ABBH mà không hấp thu glucose và phải tổng hợp glucose trong các mô bào để đáp ứng những nhu cầu cần thiết của cơ thể Nguồn nguyên liệu để tổng hợp glucose là axit

Trang 27

propionic và axit amin từ protein thoát qua của thức ăn hay protein VSV đã được tiêu hóa và hấp thu ở ruột non Điều này gây ra sự cạnh tranh về axit amin giữa nhu cầu axit amin cho tích lũy (tích lũy sinh trưởng, nhau thai, tiết sữa, ) và nhu cầu axit amin cho tổng hợp glucose

Động vật nhai lại cần một lượng lớn glucose cho duy trì, sinh trưởng, phát triển nhau thai, mô bào, đặc biệt cho tổng hợp sữa Nếu như các tiền chất glucogenic (tạo glucose) trong khẩu phần thấp, hiệu quả sử dụng thức ăn khẩu phần sẽ kém hiệu quả Hấp thu glucose làm tăng nguồn năng lượng glucogenic và tổng NLTĐ Hơn nữa, năng lượng bị mất đi liên quan đến sự tổng hợp glucose trong cơ thể gia súc và tránh được sự mất mát của quá trình lên men dạ cỏ Tinh bột thoát qua còn có một ưu điểm là không làm giảm pH dịch dạ cỏ, do đó không gây ảnh hưởng xấu đến tiêu hóa chất xơ khẩu phần

Tinh bột của bột ngô, gạo có tỷ lệ phân giải trong dạ cỏ thấp hơn so với bột sắn, khoai lang

1.2.6 Tỷ lệ của các chất khoáng

Vì rằng sự hấp thu của các chất khoáng có liên quan ràng buộc với nhau, sự cung cấp các chất khoáng cho gia súc không những đòi hỏi đủ về số lượng mà còn phải đảm bảo được một tỷ lệ thích hợp giữa chúng Trong khẩu phần trâu bò giai đoạn tiết sữa, tỷ lệ Ca : P : Mg : Na nên là 4 : 2 : 1 : 1, tỷ lệ

N : S nên là 15 : 1 Khối lượng các chất khoáng và tỷ lệ giữa chúng quy định tính toan - kiềm của khẩu phần Tỷ lệ toan - kiềm trong khẩu phần ăn của bò sữa nằm trong khoảng 0,6 - 0,9

Cấu trúc khẩu phần ăn của bò sữa phải phù hợp với cấu tạo đường tiêu hóa ĐVNL Tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần phải thích hợp, đảm bảo cho quá trình hoạt động phân giải thức ăn của VSV dạ cỏ đạt hiểu quả cao, đáp ứng tối đa nhu cầu sản xuất của bò sữa

Trang 28

Do các sản phẩm lên men trong dạ cỏ không đáp ứng nhu cầu sản xuất cao của bò sữa, các chất dinh dưỡng thoát qua (protein và tinh bột thoát qua) nên được đưa vào khẩu phần với một tỷ lệ nhất định để bù đắp lại sự thiếu hụt đó

1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Cùng với sự phát triển của nghề chăn nuôi động vật nhai lại thì diện tích trồng cỏ không những tăng lên mà việc đầu tư cho nghiên cứu chọn lọc những giống cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã rất được xem trọng và có

vị trí như là sự sống còn của ngành chăn nuôi đại gia súc

Ở Autraslia, cỏ Alfalfa được sử dụng cho bò sản xuất tinh với tỷ lệ 50%

và 50% cỏ hòa thảo; bò sữa, dê sử dụng 10% cỏ Alfalfa trong khẩu phần Ở Đài Loan trong thức ăn cho chim cảnh tỷ lệ cỏ Alfalfa là 10% Các nước Mỹ,

Hà Lan, Nga dùng thường xuyên trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi

Ngoài ra người ta còn sử dụng cỏ alfalfa trong khẩu phần ăn của gia

cầm Trong nghiên cứu của McReynolds, J L và cs (2006) [45] đã sử dụng

bột cỏ Alfalfa với tỷ lệ khác nhau (từ 50% đến 100%) trong khẩu phần ăn để

gây thay lông cưỡng bức trên gà

Về nghiên cứu invitro gas production, theo Ryrmer và cs, (2005) [57],

nguyên tắc xác định khả năng dạ cỏ tiêu hóa lên men của thức ăn dựa trên nguyên lý đo khí được sản xuất quá trình lên men thức ăn lần đầu tiên được phát triển bởi McBee từ năm 1953 Trải qua nhiều nghiên cứu trên gia súc nhai lại, bằng nhiều cách thức tiến hành thí nghiệm khác nhau, Menke và cs, (1988) [46] đã đưa ra phương pháp tiến hành theo dõi khả năng sinh khí

invitro gas production phổ biến và áp dụng rộng rãi

Nghiên cứu của Muck và cs, (2007) [47] tiến hành thí nghiệm với cỏ

Alfalfa thu cắt các thời điểm khác nhau đem ủ chua ở nhiệt độ phòng, sau đó

so sánh khả năng sinh khí in vitro với các chủng vi khẩn dạ cỏ khác nhau, kết

Trang 29

quả cho thấy khả năng sinh khí của cỏ theo vật chất khô tăng dần theo thời gian, nhưng tốc độ sinh khí mạnh nhất trong khoảng thời gian 3 - 9h, sau đó giảm dần Tác giả Rowghani và cs, (2008) [56] đã theo dõi thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và khả năng sinh khí của bánh oliu ủ với các phụ gia sử dụng cho gia súc nhai lại cho biết ủ chua bánh oliu với 8% rỉ mật đường, 0,4% axit formic và 0,5% urê cho gia súc nhai lại cho tỷ lệ tiêu hóa cao nhất

và khả năng sinh khí cao nhất

Nghiên cứu về thành phần hóa học, trong nghiên cứu của Zehnder và cs,

(1998) [65] cho biết bột cỏ Alfalfa chứa 93,77 – 96,8 % VCK; protein thô:

21,85 – 22,88%; xơ trung tính: 28,59 – 32,73%; xơ axit 15,96 – 19,20%

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Chăn nuôi bò sữa không phải là nghề chăn nuôi truyền thống, nhưng gần đây đóng vai trò quan trọng đối với nông nghiệp do nhu cầu tiêu dùng sữa tăng nhanh, bò sữa cũng như gia súc nhai lại có lợi thế sử dụng hiệu quả các loại thức ăn thô xanh, đặc biệt là các loại phụ phẩm nông nghiệp giàu xơ, nghèo dinh dưỡng so với động vật dạ dày đơn

Cỏ Alfalfa được biết đến như một loại thức ăn cao cấp cho bò sữa cao

sản với đặc tính nổi trội là có hàm lượng Protein cao (19 - 22%) và hàm lượng

xơ đặc biệt dễ tiêu hóa Lê Văn An và cs, (2008) [1]

Năm 2014, các DN chăn nuôi bò sữa lớn như TH True Milk, Vinamilk,

Mộc Châu… đã phải nhập trên 850 nghìn tấn cỏ Alfalfa, trị giá trên 5 triệu

USD và nhu cầu ngày càng tăng với tốc độ 15 - 20%/năm, đặc biệt trong bối cảnh ngành nuôi bò sữa đang phát triển

Từ năm 2015, một chương trình nghiên cứu mới về cỏ Alfalfa đã được

Viện Cây lương thực - cây thực phẩm tái khởi động Hàng chục giống cỏ

Alfalfa đã được đơn vị này đưa vào khảo nghiệm và bước đầu đã thu được kết quả hết sức khả quan Năm 2015, giống cỏ Alfalfa có triển vọng do Viện khảo

Trang 30

nghiệm có thể cho năng suất từ 70 - 80 tấn (tươi)/năm, với khả năng thích ứng rộng, chịu được điều kiện tự nhiên tại Việt Nam

Nối tiếp những kết quả bước đầu, trong năm 2016, Viện Cây lương thực

- cây thực phẩm đã tiếp tục lựa chọn, đưa vào khảo nghiệm thêm nhiều giống

cỏ Alfalfa mới Những ngày đầu tháng 3/2017, Viện đang tiến hành thu hoạch, đánh giá kết quả Theo đó, một số giống cỏ Alfalfa mới đưa vào khảo

nghiệm từ cuối năm 2016 hiện đã cho những kết quả đột phá

Tại khu vực vườn khảo nghiệm tại Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam (Thanh Trì, Hà Nội), mặc dù có đặc thù chân đất thịt nặng, thoát nước kém, không thật sự thích hợp với đặc điểm ưa chân đất khô ráo nước của cỏ

Alfalfa, tuy nhiên, một số giống vẫn sinh trưởng và cho năng suất rất cao

Nổi trội nhất trong nhóm này có thể kể tới hai giống FGI-A-FD-8 và FGI-A-FD-8/9 Chỉ khoảng 2 tháng sau khi gieo, các giống cỏ này đã có thể cho thu hoạch đợt đầu Sau khi thu hoạch đợt đầu, cỏ tiếp tục tái sinh, mỗi đợt tái sinh kéo dài 1 tháng là có thể thu hoạch tiếp (năng suất tái sinh cao nhất từ lứa 2 và lứa 3)

Kết quả của đợt thu hoạch tái sinh lần 2 vừa qua cho thấy, các giống FGI-A-FD-8 và FGI-A-FD-8/9 cho năng suất cỏ tươi bình quân lần lượt là 22,3 tấn/ha/lần cắt và 24,7 tấn/tấn/lần cắt (Lê Văn An và cs, 2008) [1]

Đây cũng là các giống cho hàm lượng dinh dưỡng khá Cụ thể, giống FGI-A-FD-8 có hàm lượng protein là 18,3%, chất khô 20,3%; giống FGI-A-FD-8/9 cho hàm lượng Protein gần 17% và chất khô 20% Bên cạnh các giống cho năng suất cao, một số giống cho năng suất khá (tiêu biểu như giống Bangchi), nhưng có hàm lượng dinh dưỡng rất cao (protein lên tới 23,1%; chất khô 20,4%)

Cỏ Alfalfa có đặc điểm ưa khí hậu ôn đới, tuy nhiên biên nhiệt độ thích

hợp cũng khá rộng, từ 25 – 350 C Cỏ cũng có thể chịu lạnh được tới 5 0 C và

Trang 31

chịu nóng được tới 38 - 39 0C Vì vậy, nếu không gặp các đợt hạn hán hay nắng nóng kéo dài bất thường thì cỏ hoàn toàn có thể trồng tốt với điều kiện

tự nhiên tại Việt Nam Mặc dù vậy, đây cũng là cây trồng không chịu được chân đất trũng, úng nước, vì vậy nếu trồng trên đất thoát nước tốt là hoàn toàn yên tâm Trong khoảng thời gian này, cỏ có thể cho thu hoạch từ 5 - 6 lứa, trong đó từ 4 - 5 lứa có thể cho năng suất rất cao Theo tính toán, chỉ cần 4 lứa

cắt cho năng suất cao (bình quân 20 tấn tươi/lần cắt), các giống cỏ Alfalfa

triển vọng đã được lựa chọn hiện nay có thể cho năng suất tươi từ 120 - 130 tấn/ha/năm (Lê Văn An và cs, 2008) [1]

Ngoài ra, ở một số nơi như: Đài Loan, Úc, Braxin, Hà Lan, Nga, Tây Ban

Nha, Cu Ba, cỏ Alfalfa còn là món ăn không thể thiếu trong khẩu phần ăn

thường nhật của con người Thổ dân một số nước châu Mỹ La tinh thường dùng loại cỏ này để chữa bệnh suy nhược cơ thể, bệnh gan, tim, tiêu hóa Người Mỹ cũng dùng loại cỏ này để sản xuất thuốc phục vụ cho sức khỏe con

người, thuốc tăng lực Alfalfa được phục vụ đặc biệt cho nghành thể dục thể thao

Một số nghiên cứu về dinh dưỡng cho bò sữa, theo Đinh Văn Cải (2003) [4] đã tính toán và đề xuất được tiêu chuẩn các chất dinh dưỡng chủ yếu cho

bò lai 50% và 75%HF có khối lượng từ 300550kg và năng suất sữa từ 5 25kg/ngày dựa trên phương pháp xác định tiêu chuẩn ăn của NRC, AFRC và

-từ thực tế chất lượng các loại thức ăn và khẩu phần địa phương (qm)

Trong nghiên cứu của Đinh Văn Cải và cs, (2008) [5] nghiên cứu trên

27 bê cái lai HF với 9 chế độ nuôi dưỡng khác nhau, mức sữa tươi nguyên bơ

từ 220-280 và 350kg, thức ăn tinh hỗn hợp có hàm lượng protein thô 16%; 18% và 20% cho ăn tự do, cai sữa bê ở 12 tuần tuổi Kết quả cho thấy, nuôi bê lai HF với 280kg sữa, 85kg thức ăn tinh có 18% protein thô, cai sữa 12 tuần tuổi, bê lai đạt khối lượng 96,4kg, tăng trọng trên 785gam/ngày, đạt yêu cầu làm giống Hiện nay, trong sản xuất, Công ty sữa Tương lai (Tuyên Quang)

Trang 32

nuôi bê cái thuần HF với tổng lượng sữa 320kg và thức ăn tinh tự do, cai sữa

bê lúc 10 tuần tuổi, không có số liệu chi tiết về khối lượng cai sữa và lượng thức ăn tinh tiêu thụ

Trong nghiên cứu của Đinh Văn Cải (2014) [6] nghiên cứu về số lượng thức ăn tinh cho 1kg sữa sản xuất ra đối với bò lai 50%HF đã nhận xét: với bò lai 50%HF cho ăn thức ăn thô là cỏ trồng và rơm ủ urea thì thức ăn tinh hỗn hợp chỉ cần 16% protein cho ăn với lượng 0,4 kg cho một kg sữa là phù hợp Cho ăn với mức 0,6kg thức ăn tinh cho 1kg sữa cũng không làm tăng sản lượng sữa Trên cả hai nhóm bò F1 có năng suất sữa khác nhau (9kg và 15kg/ngày) đều ghi nhận thấy rằng: khi mật độ năng lượng từ 2069 - 2088Kcal và hàm lượng protein thô từ 117-122gam/kgDM, chất khô ăn vào đạt ≥ 3,5% khối lượng cơ thể là phù hợp để đạt hiệu quả sản xuất sữa cao

Trang 33

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cỏ Alfalafa

-15 bò sữa HF đảm bảo đồng đều về năng suất sữa

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Tại huyện Mộc Châu- Tỉnh Sơn La

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 7 năm 2017

2.3 Nội dung nghiên cứu

Nội dung1: Điều tra tình hình chăn nuôi, sử dụng cỏ khô Alfalfa trong

chăn nuôi bò sữa tại huyện Mộc Châu- Sơn La

Nội dung 2: Xác định thành phần hóa học và khả năng tiêu hóa invitro gas production của các khẩu phần

Nội dung 3: Đánh giá hiệu quả sử dụng cỏ khô Alfalfa trong khẩu phần

đến năng suất sữa, chất lượng sữa và sự thay đổi thể trọng của đàn bò sữa trong vụ đông

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nội dung 1

2.4.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp

Thông tin được thu thập từ các nguồn báo cáo hoạt động chăn nuôi bò sữa tại các cơ quan quản lý bao gồm: Ủy ban Nhân dân huyện, phòng Nông nghiệp huyện, trạm Khuyến nông huyện, Ủy ban Nhân dân các xã và thông tin từ các dự án đã triển khai trước đây Nguồn thông tin này nhằm để xác

định tình chăn nuôi bò sữa và sử dụng cỏ Alfalfa tại địa phương

Trang 34

2.4.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp (điều tra thực tế)

Thông tin sơ cấp về tình hình chăn nuôi ở nông hộ được thu thập thông qua điều tra 150 hộ chăn nuôi bằng việc sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn theo các tiêu chí cần điều tra: Đặc điểm tình hình chăn nuôi bò sữa trong nông hộ, bao gồm: quy mô, cơ cấu đàn, phương thức chăn nuôi, cách nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, nguồn thức ăn, cho ăn, tình hình chuồng trại và dịch bệnh

2.4.2 Nội dung 2

2.4.2.1 Xác định thành phần hóa học của ba khẩu phần thức ăn

Khẩu phần 1: 10 % cỏ Alfalfa + 90 % cỏ hòa thảo + 0,45 kg thức ăn

tinh/kg sữa từ kg sữa thứ 11

Khẩu phần 2: 15 % cỏ Alfalfa + 85 % cỏ hòa thảo + 0,45 kg thức ăn

tinh/kg sữa từ kg sữa thứ 11

Khẩu phần 3: 100% cỏ hòa thảo 0,45 kg thức ăn tinh/kg sữa từ kg sữa thứ 11

- Lấy mẫu thức ăn của ba khẩu phần thí nghiệm để phân tích thành phần dinh dưỡng Phương pháp lấy mẫu theo TCVN 4325-2007 [20]

+ Vật chất khô của các mẫu được xác định theo TCVN: 4326-2001 [21] + Phương pháp xác định hàm lượng tro, TCVN 4327:2007 ISO [22] + Hàm lượng protein thô được xác định theo TCVN: 4328-2007 [23] + Hàm lượng xơ tổng số được tiến hành theo TCVN: 4329-2007 [24] + Hàm lượng lipit được tiến hành theo TCVN: 4331-2001 [25]

- Công thức tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và năng lượng trao đổi theo

- Công thức tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và năng lượng trao đổi theo Menke và cs, (1988) [46];Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (2002) [12]

ME (MJ/kg DM) = 2,20 + 0,136*G24 + 0,057*CP Trong đó ME (Kcal/kg DM): là năng lượng trao đổi; GP24 (ml): khí tích lũy sinh ra khi lên men thời điểm 24h; CP: Hàm lượng protein thô

Trang 35

OMD (%) = 14,88 + 0,889*G24 + 0,45*CP Trong đó OMD (%): là tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ; G24 (ml): khí tích lũy sinh ra khi lên men thời điểm 24h; CP:

Hàm lượng protein thô

2.4.2.2 Khả năng tiêu hóa in vitro gas production

- Thí nghiệm in vitro gas production để xác định động thái sinh khí, tỷ lệ

tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của hỗn hợp thức ăn được tiến hành theo phương pháp của Menke và cs, (1988) [46]

- Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn, do ưu điểm nổi bật so với các phương pháp khác

- Nguyên tắc của phương pháp này là khi lên men yếm khí carbohydrat

và thức ăn trong dạ cỏ bởi vi sinh vật sẽ tạo ra các ABBH, CO2, CH4,

H2…đồng thời các ABBH sẽ lại phản ứng với đệm bicacbonat (từ nước bọt hoặc môi trường dung dịch đệm) để giải phóng ra khí CO2 Quá trình sinh khí xảy ra đồng thời, song hành với quá trình phân giải xơ

- Lượng khí sinh ra từ quá trình trên có tương quan chặt chẽ với tỷ lệ tiêu hoá và giá trị năng lượng của thức ăn Do đó, khi đo lượng khí sinh ra không những có thể xác định tốc độ và tỷ lệ tiêu hoá, mà có thể dùng để xác định tương tác giữa các thành phần thức ăn trong khẩu phần

- Các mẫu thức ăn sau khi nghiền nhỏ được cân vào các xylanh (khối lượng 200 ± 5 mg/mẫu), đặt vào tủ ấm ở 390C trước khi được trộn với hỗn hợp dịch dạ cỏ và dung dịch đệm

- Dịch dạ cỏ được lấy vào buổi sáng trước khi cho ăn và bảo quản trong phích bảo ôn trước khi lọc bỏ các mảnh thức ăn và trộn với dung dịch đệm Dung dịch đệm được chuẩn bị từ ngày trước để sáng hôm sau đặt vào bể nước

ấm 390C trước khi pha chế với dịch dạ cỏ

- Sau khi đã chuẩn bị xong hỗn hợp dung dịch ủ, cho dung dịch ủ vào xylanh mẫu (ở mức 30 ml/xylanh) và nhẹ nhàng đặt xylanh giá gỗ Xylanh sẽ được đưa vào tủ ấm có quạt đối lưu đảm bảo nhiệt độ luôn luôn là 39 ± 0,50C

ủ liên tục 96 giờ

Trang 36

- Trong quá trình ủ, cứ 3 giờ xylanh được lắc một lần để đảm bảo chất nền được trộn đều trong dịch dạ cỏ

2.4.3 Nội dung 3 Đánh giá hiệu quả sử dụng cỏ khô Alfalfa trong khẩu phần đến năng suất sữa, chất lượng sữa và sự thay đổi thể trọng của đàn

bò sữa trong vụ đông

- Khẩu phần ăn: Tiêu chuẩn cho bò ăn dựa trên khuyến nghị của NRC

(1998) Khẩu phần ăn được tính dựa vào khối lượng cơ thể của bò và lượng sữa vắt được hàng ngày

- Xây dựng một số khẩu phần ăn có sử dụng cỏ alfafa

Khẩu phần 1: 10 % cỏ Alfalfa + 90 % cỏ hòa thảo + 0,45 kg thức ăn

tinh/kg sữa từ kg sữa thứ 11

Khẩu phần 2: 15 % cỏ Alfalfa + 85 % cỏ hòa thảo + 0,45 kg thức ăn

tinh/kg sữa từ kg sữa thứ 11

Khẩu phần 3: 100% cỏ hòa thảo 0,45 kg thức ăn tinh/kg sữa từ kg sữa thứ 11

- Sơ đồ thí nghiệm được bố trí như sau:

10 % cỏ Alfalfa

+ 90 % cỏ hòa thảo + 0,45 kg thức ăn tinh/kg sữa từ kg sữa thứ 11

15 % cỏ Alfalfa

+ 85 % cỏ hòa thảo + 0,45 kg thức ăn tinh/kg sữa từ kg sữa thứ 11

100% cỏ hòa thảo + 0,45 kg thức ăn tinh/kg sữa từ kg sữa thứ 11

Trang 37

2.5 Các chỉ tiêu theo dõi

- Khối lượng bò: Đo bằng cân điện tử (Model 1200 weighing system của Úc)

- Năng suất sữa (kg/con/ngày): Cân lượng sữa vắt hàng ngày

- Chất lượng sữa: Tỷ lệ mỡ sữa (%); Tỷ lệ protein (%); Tỷ lệ đường (%; Chất rắn không mỡ (%)

1 + x + … + x x

Trong đó: X: NS bình quân

x1, x2, xn: Khối lượng từng mẫu

n: Dung lượng mẫu

* Độ lệch tiêu chuẩn

s= ±

1

) ( (

2 2

n n

X X

Tron đó: s: Độ lệch tiêu chuẩn

n: Dung lượng mẫu

X : Tổng các giá trị

X : Tổng bình phương tất cả các giá trị

Trang 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Tình hình chăn nuôi, sử dụng cỏ Alfalfa cho bò sữa tại huyện Mộc

Châu - Sơn La

3.1.1 Tình hình chăn nuôi bò sữa của huyện Mộc Châu

Bảng 3.1 Số lượng bò sữa của huyện qua các năm

(Báo cáo Số lượng và sản phẩm chăn nuôi 6 tháng năm 2017)

Mộc Châu là huyện có điều kiện khí hậu và tự nhiên thuận lợi thích hợp phát triển chăn nuôi đàn bò sữa Cùng với khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu đã bảo vệ và phát triển thương hiệu Việt bằng uy tín chất lượng sản phẩm

Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu đã áp dụng mô hình chăn nuôi theo hộ kết hợp với các trang trại lớn Hiện công ty có 600 hộ chăn nuôi

bò sữa, bình quân mỗi hộ chăn nuôi có 30 con và có 3 trung tâm, mỗi trung tâm có 1.000 con bò sữa Công ty luôn áp dụng khoa học công nghệ cao trong chăn nuôi bò sữa như: Lựa chọn dòng giống tốt của Mỹ, Canađa và các nước tiên tiến trên thế giới

Đã áp dụng thành công sử dụng tinh phân định giới tính của Mỹ áp dụng trên đàn bò sinh sản và đã cho ra tỷ lệ bê cái đạt 87%, tạo nên đàn bò giống cao sản tại Mộc Châu Bên cạnh đó, các trung tâm cũng là nơi đào tạo chuyển giao khoa học, kỹ thật, công nghệ cao và cung cấp giống cho các hộ chăn nuôi

Trang 39

Chính vì vậy, đàn bò của công ty không ngừng phát triển về số lượng

và chất lượng Đến nay, công ty đã có 20.000 con bò sữa với chất lượng cao Ngoài ra, nhà máy sản xuất thức ăn hỗn hợp cho chăn nuôi với công suất 150 tấn/ngày hoạt động có hiệu quả, cung cấp các loại thức ăn có chất lượng cho đàn bò, bê

Chương trình chăn nuôi bò sữa Mộc Châu là một chương trình lớn của Sơn La Nghề nuôi bò sữa đang tạo công ăn việc làm với thu nhập cao cho hàng trăm hộ nông dân của tỉnh Đặc biệt, trong năm qua, từ việc áp dụng thành công quy trình chăn nuôi an toàn VietGAP đã không chỉ giúp cho thương hiệu sữa của tỉnh phát triển và được người tiêu dùng ở trên 40 tỉnh, thành phố trên cả nước đánh giá rất cao và gần như các sản phẩm sữa được sản xuất ra không đủ cung cấp cho thị trường

Qua bảng 3.1: Chúng tôi thấy rằng số lượng bò sữa bò sữa ở Mộc châu

có những bước tăng rõ rệt cụ thể như năm 2013 toàn huyện có 14.618 con đến năm 2014 đạt 15.254 con tăng 4,17 % và đặc biệt là có sự tăng mạnh trong năm 2016 và năm 2017 tăng 10.251 con (35,43%)

Hình 3.1 Số lượng bò sữa của huyện qua các năm

Hình 3.1 cho thấy được càng rõ sự gia tăng mạnh của số lượng bò sữa

và đặc biệt là trong một vài năm trở lại đây Từ năm 2013 đến 2016 chỉ tăng

Ngày đăng: 20/03/2018, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn An, Đặng Thị Diệu (2008), “Khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần dinh dưỡng cây cỏ Alfalfa (Medicago sativa L.) trồng tại Lâm Đồng”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn 9/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sinh trưởng, năng suất và thành phần dinh dưỡng cây cỏ "Alfalfa" (Medicago sativa L.) trồng tại Lâm Đồng”", T"ạ"p chí Nông nghi"ệ"p và phát tri"ể"n nông thôn
Tác giả: Lê Văn An, Đặng Thị Diệu
Năm: 2008
2. Lê Hòa Bình, Nguyễn Ngọc Hà (1993), “Khảo sát cây thức ăn mới nhập ở một số vùng và trong hộ chăn nuôi”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Viện chăn nuôi 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát cây thức ăn mới nhập ở một số vùng và trong hộ chăn nuôi”, "K"ế"t qu"ả "nghiên c"ứ"u khoa h"ọ"c k"ỹ "thu"ậ"t
Tác giả: Lê Hòa Bình, Nguyễn Ngọc Hà
Năm: 1993
4. Đinh Văn Cải (2003) “Một số đặc điểm sản xuất của nhóm bò lai 50% và 75% HF nuôi tại Trung tâm Huấn luyện bò sữa Bình Dương” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sản xuất của nhóm bò lai 50% và 75% HF nuôi tại Trung tâm Huấn luyện bò sữa Bình Dương
5. Đinh Văn Cải và Hoàng Thị Ngân (2008) “Nghiên cứu chế độ nuôi dưỡng bê cái lai HF làm giống” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế độ nuôi dưỡng bê cái lai HF làm giống
6. Đinh Văn Cải, Trần Trung Chánh, Thái Khắc Thanh, Trần Thị Toàn (2014) “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn, khẩu phần và chế độ ăn phù hợp cho các nhóm bò sữa lai (>75%HF) và bò thuần HF năng suất cao”, Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn, khẩu phần và chế độ ăn phù hợp cho các nhóm bò sữa lai (>75%HF) và bò thuần HF năng suất cao”
7. Vũ Chí Cương, Nguyễn Xuân Hòa, Lưu Thị Thi (2004) “Thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng một số loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò”.Trang 1115-1119. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Số 8 - 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng một số loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò”.Trang 1115-1119. "Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
8. Vũ Chí Cương, Đinh Văn Mười, Bùi Thu Trang (2010) “Thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa in vitro, giá trị năng lương và protein của thức ăn năng lượng và thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại”, khoa học công nghệ chăn nuôi, Viện chăn nuôi. ISSN: 1859 – 0802. Số 33, pp: 49-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa in vitro, giá trị năng lương và protein của thức ăn năng lượng và thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại”, "khoa học công nghệ chăn nuôi
9. Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hòa Bình, Nguyễn Thị Mùi, Phan Thị Phần và Đoàn Thị Khang (1995), “Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống cỏ trồng tại các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam”, Tuyển Tập các công trình khoa học chọn lọc, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống cỏ trồng tại các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam”, "Tuy"ể"n T"ậ"p các công trình khoa h"ọ"c ch"ọ"n l"ọ"c
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hòa Bình, Nguyễn Thị Mùi, Phan Thị Phần và Đoàn Thị Khang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
10. Nguyễn Ngọc Hà (1996), “Nghiên cứu năng suất, giá trị dinh dưỡng và sử dụng cây keo dậu (Leucaema) làm thức ăn bổ sung trong chăn nuôi”, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu năng suất, giá trị dinh dưỡng và sử dụng cây keo dậu (Leucaema) làm thức ăn bổ sung trong chăn nuôi”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Năm: 1996
11. Trần Quang Hạnh và Đặng Vũ Bình (2010), “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, sinh sản, năng suất và chất lượng sữa của bò cái (HF) thuần, các thế lai F1, F2và F3 giữa giữa HF và Lai Sind nuôi tại Lâm Đồng”, Luận án Tiến Sĩ Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, sinh sản, năng suất và chất lượng sữa của bò cái (HF) thuần, các thế lai F1, F2và F3 giữa giữa HF và Lai Sind nuôi tại Lâm Đồng”
Tác giả: Trần Quang Hạnh và Đặng Vũ Bình
Năm: 2010
12. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (2002), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc (sử dụng cho hệ Cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 73-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc (sử dụng cho hệ Cao học)
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
13. Từ Quang Hiển, Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Inh (2008), “Nghiên cứu sử dụng keo giậu (Leuceana) trong chăn nuôi”, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng keo giậu (Leuceana) trong chăn nuôi
Tác giả: Từ Quang Hiển, Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Inh
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2008
15. Lê Công Quân (2006), “Nghiên cứu ảnh hưởng của cỏ khô Alfalfa nhập khẩu từ Hoa kỳ tới năng suất, chất lượng sữa, sự thay đổi thể trọng của đàn bò sữa nhập từ Newzealand nuôi tại Trung tâm bò sữa giống Sao vàng và đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng cỏ khô Alfalfa”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Nông Nghiệp 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của cỏ khô Alfalfa nhập khẩu từ Hoa kỳ tới năng suất, chất lượng sữa, sự thay đổi thể trọng của đàn bò sữa nhập từ Newzealand nuôi tại Trung tâm bò sữa giống Sao vàng và đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng cỏ khô Alfalfa”, "Khóa luận tốt nghiệp
Tác giả: Lê Công Quân
Năm: 2006
16. Nguyễn Thị Mùi (2004), “Nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh xen cỏ hòa thảo - bộ đậu trong hệ thống canh tác phục vụ sản xuất thức ăn xanh cho gia súc ăn cỏ tại Thái Nguyên”, Báo cáo khoa học - Viện chăn nuôi. Phần thức ăn dinh dưỡng, tr.125 - 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh xen cỏ hòa thảo - bộ đậu trong hệ thống canh tác phục vụ sản xuất thức ăn xanh cho gia súc ăn cỏ tại Thái Nguyên”, "Báo cáo khoa h"ọ"c
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi
Năm: 2004
17. Nguyễn Thị Hồng Nhân (2010), “Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng phát triển cỏ họ đậu làm thức ăn chất lượng cao cho gia súc tại Tây Nam Bộ”, Tạp chí KHKT Chăn nuôi, số 10, tr. 49 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng phát triển cỏ họ đậu làm thức ăn chất lượng cao cho gia súc tại Tây Nam Bộ”, "T"ạ"p chí KHKT Ch"ă"n nuôi
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nhân
Năm: 2010
18. Vũ Văn Nội, Trần Trọng Thêm, Nguyễn Hữu Lương (2005) “Xác định khả năng sinh trưởng, sinh sản, sản xuất sữa của bò lai hướng sữa 75%HF cố định ở thế hệ thứ nhất” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định khả năng sinh trưởng, sinh sản, sản xuất sữa của bò lai hướng sữa 75%HF cố định ở thế hệ thứ nhất
19. Vũ Văn Nội, Trần Trọng Thêm, Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Hùng Sơn, Trần Sơn Hà, Ngô Đình Tân, Lê Thu Hà (2006),"Xác định khả năng sinh trưởng, sinh sản, sản xuất sữa của bò lai hướng sữa 75%HF cố định ở thế hệ thứ nhất", Báo cáo khoa học năm 2005. Phần nghiên cứu giống vật nuôi, Viện Chăn Nuôi, Hà Nội. Tr.61-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định khả năng sinh trưởng, sinh sản, sản xuất sữa của bò lai hướng sữa 75%HF cố định ở thế hệ thứ nhất
Tác giả: Vũ Văn Nội, Trần Trọng Thêm, Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Hùng Sơn, Trần Sơn Hà, Ngô Đình Tân, Lê Thu Hà
Năm: 2006
20. Tiêu chuẩn Việt Nam (2007), Thức ăn chăn nuôi, Lấy mẫu và chuẩn bị mẫu, TCVN 4325:2007 (ISO 6497:2002), tr.17 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn Việt Nam (2007), "Th"ứ"c "ă"n ch"ă"n nuôi, L"ấ"y m"ẫ"u và chu"ẩ"n b"ị "m"ẫ"u
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam
Năm: 2007
22. Tiêu chuẩn Việt Nam (2007), Thức ăn chăn nuôi, Phương pháp xác định hàm lượng tro, TCVN 4327:2007 ISO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ươ"ng pháp xác "đị"nh hàm l"ượ"ng tro
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam
Năm: 2007
23. Tiêu chuẩn Việt Nam (2007), Thức ăn chăn nuôi, Phương pháp xác định hàm protein, TCVN 4328 - 1: 2007 (ISO 5983 - 1:2005), tr.32 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ươ"ng pháp xác "đị"nh hàm protein
Tác giả: Tiêu chuẩn Việt Nam
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w