Nghiên cứu bệnh đầu đen ở ba giống gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà phổ Yên (thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) và biện pháp phòng trị bệnh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh đầu đen ở ba giống gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà phổ Yên (thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) và biện pháp phòng trị bệnh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh đầu đen ở ba giống gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà phổ Yên (thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) và biện pháp phòng trị bệnh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh đầu đen ở ba giống gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà phổ Yên (thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) và biện pháp phòng trị bệnh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh đầu đen ở ba giống gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà phổ Yên (thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) và biện pháp phòng trị bệnh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh đầu đen ở ba giống gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà phổ Yên (thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) và biện pháp phòng trị bệnh (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh đầu đen ở ba giống gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà phổ Yên (thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) và biện pháp phòng trị bệnh (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1LÊ VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU BỆNH ĐẦU ĐEN Ở BA GIỐNG GÀ TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU CHĂN NUÔI GÀ PHỔ YÊN (THUỘC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIA CẦM THỤY PHƯƠNG) VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỊ BỆNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2LÊ VĂN HÙNG
NGHIÊN CỨU BỆNH ĐẦU ĐEN Ở BA GIỐNG GÀ TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU CHĂN NUÔI GÀ PHỔ YÊN (THUỘC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIA CẦM THỤY PHƯƠNG) VÀ BIỆN PHÁP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2017
Tác giả
Lê Văn Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng hết mình của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Nhân dịp này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các giảng viên khoa Chăn nuôi Thú y, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan và TS Nguyễn Thị Nga đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình
thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo Trạm Nghiên cứu chăn nuôi gà Phổ Yên; Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2017
Học viên
Lê Văn Hùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIÊT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 3
1.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 6
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 16
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 16
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 31
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 32
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 32
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 32
2.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm H meleagridis ở gà qua mổ khám 32
2.3.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà Phổ Yên 32
2.3.3 Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh đầu đen có hiệu quả 33
Trang 62.3.4 Đề xuất biện pháp phòng trị, góp phần hạn chế những thiệt hại
do bệnh đầu đen gây ra ở gà 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Thu thập mẫu bệnh phẩm gà mắc bệnh đầu đen tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà Phổ Yên 33
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà 35
2.4.3 Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh đầu đen có hiệu quả 36
2.4.4 Đề xuất biện pháp phòng trị, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra ở gà 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3 1 Tình hình nhiễm H meleagridis ở gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà Phổ Yên 39
3.1.1.Tỷ lệ nhiễm H meleagridis theo giống gà 39
3.1.3 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo mùa trong năm 44
3.1.4 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis theo phương thức chăn nuôi gà 47
3.1.5 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà trống và gà mái 50
3.2 Nghiên cứu bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra ở gà 51
3.2.1 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra 51
3.2.2 Tổn thương của gà mắc bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra 54
3.2.3 Khối lượng, thể tích một số cơ quan nội tạng của gà bệnh và gà khỏe 59
3.3.3 Nghiên cứu một số chỉ số máu của gà bệnh nhiễm đơn bào H meleagridis 62
3.3 nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh đầu đen cho gà 68
3.3.1 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà 69
3.3.2 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh đầu đen cho gà 73
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Đề nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Cs : Cộng sự
E coli : Escherichia coli
E tenella : Eimeria tenella
GOT : Glutamicoxalacetic transaminase GPT : Glutamic pyruvic transaminase
H meleagridis : Histomonas meleagridis
H ganillarum : Heterakis ganillarum
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis theo giống gà 39
Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo tuổi 42
Bảng 3.3: Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo mùa trong năm 45
Bảng 3.4: Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo phương thức chăn nuôi 47
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà trống và gà mái 50
Bảng 3.6: Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra 52
Bảng 3.7: Tổn thương đại thể của gà mắc bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra 55
Bảng 3.8 Tỷ lệ tiêu bản có tổn thương vi thể ở gan và manh tràng của gà nhiễm đơn bào H meleagridis 58
Bảng 3.9 Khối lượng cơ thể và các nội quan gà bệnh và gà khỏe 59
Bảng 3.10 Sự thay đổi một số chỉ số máu của gà nhiễm đơn bào H meleagridis 62
Bảng 3.11 Sự thay đổi enzym huyết tương và protein trong máu gà bệnh nhiễm đơn bào H meleagridis 64
Bảng 3.12 Sự thay đổi công thức bạch cầu của gà nhiễm đơn bào H meleagridis và gà khỏe 66
Bảng 3.13 Tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis tại trạm 68
Bảng 3.14 Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp 70
Bảng 3.15 Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà trên diện rộng 71
Bảng 3.16 Ứng dụng phác đồ có hiệu quả cao trong điều trị bệnh đầu đen cho gà vào thực tế 73
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis theo giống gà 40
Hình 3.2 Đồ thị tỷ lệ nhiễm đơn bào H meleagridis ở gà theo tuổi 42
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo mùa trong năm 45
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà theo phương thứcchăn nuôi ‘\48
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà trống và gà mái 50
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen 52
Hình 3.7 Biểu đồ các nội quan của gà bệnh và gà khỏe 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội theo hướng giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng chiếm vị trí hết sức quan trọng Chăn nuôi gia cầm cung cấp thịt, phân bón, lông… cho ngành công nghiệp chế biến, ngành nông nghiệp và cung cấp thực phẩm có giá trị cho xã hội
Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà Phổ Yên (thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) là cơ quan chuyên sản xuất con giống và bảo tồn gen
về gia cầm, nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, bảo tồn gen, tạo ra giống mới và sản xuất kinh doanh Trạm có diện tích 35 hecta, có cơ cấu đàn gà 50.000 con, có hệ thống trang thiết bị hiện đại
Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, dịch bệnh vẫn xảy ra thường xuyên ở
gà hầu hết các lứa tuổi của đàn gà của trạm, trong đó bệnh do đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra (bệnh đầu đen), gây thiệt hại không nhỏ và
ảnh hưởng đến mục đích nghiên cứu, kinh doanh và sản xuất tại trạm
Bệnh đầu đen là bệnh mới xuất hiện ở nước ta trong vài năm gần đây, đến nay đã thấy ở khắp các vùng, miền trong cả nước Bệnh tiến triển khá nhanh với những biểu hiện ở gà như ủ rũ, xù lông, giảm ăn, uống nhiều nước, phân loãng màu vàng lưu huỳnh; da vùng đầu ban đầu xanh tím, sau đó chuyển sang thâm đen (bởi vậy được gọi là bệnh đầu đen) Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: viêm hoại tử tạo mủ ở ruột, manh tràng và gan; manh tràng đóng kén
Hiện nay, tại trạm xuất hiện bệnh đầu đen trên tất cả các giống gà với diễn biến dịch bệnh phức tạp và biện pháp phòng trị bệnh chưa hiệu quả, gây thiệt hại lớn cho việc nghiên cứu và chăn nuôi tại trạm còn gặp nhiều khó khăn
Trang 11Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu bệnh đầu
đen ở ba giống gà tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà phổ Yên (thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương) và biện pháp phòng trị bệnh”
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định được một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng của bệnh
đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh đầu đen có hiệu quả
- Xây dựng biện pháp phòng trị, góp phần hạn chế những thiệt hại do
bệnh đầu đen gây ra ở gà
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về một số đặc điểm bệnh
lý và lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào H meleagridis gây ra ở gà, có một số
đóng góp mới cho khoa học
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để giúp người chăn nuôi hiểu về bệnh, phát hiện bệnh kịp thời, từ đó áp dụng quy trình phòng trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi gà phát triển
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm
1.1.1.1 Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh
Theo Cepicka và cs (2010) [21], vị trí của H meleagridis trong hệ thống
phân loại nguyên sinh động vật như sau:
Loài: Histomonas meleagridis
1.1.1.2 Hình thái học loài Histomonas meleagridis
Cushman (1893) [23] đã mô tả về bệnh đầu đen ở gà
Hình thái của đơn bào gây bệnh đầu đen cho gà đã được Tyzzer (1919)
[64] mô tả như sau: Giai đoạn đơn bào Amoeba meleagridis ký sinh tại khu
vực ngoại vi của các tổn thương gọi là giai đoạn xâm lấn, đơn bào di động kiểu amip và hình thành một chân giả có chiều dài 30 μm Trong các mô cố định, đơn bào có đường kính 8 - 17 μm, giai đoạn này, nguyên sinh chất chứa
các hạt không bào và một thể nhân Tiếp đến là giai đoạn sinh dưỡng, đơn bào
tồn tại ở dạng có tế bào chất mà không có thể vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt phân phối xung quanh thể nhân Giai đoạn này, đơn bào có kích thước 12 - 21 μm
Trang 13Khi nghiên cứu hình thái của đơn bào trong môi trường nuôi cấy, Tyzzer
(1920) [65] thấy, Amoeba meleagridis xuất hiện roi và có khả năng chuyển
động trong điều kiện yếm khí Từ đặc điểm này, Tyzzer đã đổi tên tác nhân
gây bệnh thành Histomonas meleagridis
Tyzzer (1934) [67] cho biết, ở 42oC có thể quan sát được sự chuyển
động của H meleagridis, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó
có thể xoay ngược chiều kim đồng hồ
Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H meleagridis, các nhà khoa học đã cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H meleagridis cấu tạo gồm 3
phần: màng, tế bào chất và nhân
Màng tế bào H meleagridis là một màng đơn
Tế bào chất của H meleagridis chứa ß - glycogen, ribosome và ARN,
một số không bào và hạt nhân
Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleotid Màng nhân là một màng kép Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi hoặc một phần theo chiều dọc của microtubule
Histomonas meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể, lưới nội chất
của đơn bào này đã bị thoái hóa
1.1.1.3 Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis
H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền
bằng 2 con đường: truyền trực tiếp và truyền gián tiếp
* Truyền trực tiếp
Gà có thể bị lây nhiễm bệnh đầu đen khi tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh qua
2 đường, đường miệng và lỗ huyệt Do ảnh hưởng của axit đường tiêu hóa nên tỷ
lệ nhiễm bệnh không cao khi gà tiếp xúc qua đường miệng Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi bị nhiễm mầm
bệnh Ngay sau khi tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, H meleagridis sẽ di
chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng và gan
Trang 14* Truyền gián tiếp qua giun kim
Giun kim là sinh vật truyền bệnh đầu đen cho gà
Graybill và cs (1920) [34] cho rằng, đơn bào gây bệnh đầu đen có liên
quan tới trứng giun kim Heterakis gallinarum Trứng giun kim có phôi khi
nhiễm vào gà là điều kiện cần thiết để lây truyền và phát bệnh đầu đen ở gà
Mặc dù, giun kim H gallinarum là ký chủ trung gian lây truyền bệnh đầu đen từ đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác, nhưng đơn bào H meleagridis
vẫn dễ dàng truyền từ đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác khi chúng ăn
phân gà nhiễm bệnh mà không cần sự có mặt của H gallinarum (Mc Dougald
L R., 2005 [50])
* Truyền gián tiếp qua giun đất
Lund và Chute (1973) [48] cho biết: giun đất là vật chủ chứa trứng H
gallinarum và tích trữ một lượng lớn đơn bào H meleagridis
Ngoài ra, bệnh ở gà và gà tây có thể lây truyền từ con này sang con khác
khi chúng mổ ăn phân của những con bị bệnh Tuy nhiên, H meleagridis tự
do trong phân mà không được bảo vệ bởi trứng giun kim sẽ chết nhanh chóng, đặc biệt là trong thời tiết khô nóng
1.1.1.4 Vòng đời của Histomonas meleagridis
Lê Văn Năm (2010) [5] đã tóm tắt vòng đời phát triển của đơn bào H
meleagridis như sau:
Trong mô tổ chức của ký chủ (gà ta và gà tây), H meleagridis sinh sản
theo phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) hay thể hợp bào Khi theo phân ra khỏi ký chủ, ở thể hình roi và thể amip chúng chỉ sống được trong vòng 24 giờ, trong khi đó ở thể lưới chúng
có thể tồn tại hàng năm trong các trứng của giun kim H gallinarum Do đó,
gà bị nhiễm bệnh khi ăn thức ăn, nước uống bị nhiễm trứng giun kim H
gallinarum có chứa thể hợp bào H meleagridis
Trang 15H meleagridis có thể nuôi cấy ở môi trường nhân tạo và yếm khí
Tại khu vực nuôi gà mắc bệnh, giun đất là vật chủ chứa trứng giun kim
H gallinarum Do đó, trứng H gallinarum và đơn bào H meleagridis sẽ tồn
tại khá lâu ngoài ngoại cảnh
Khi gà và gà tây ăn giun đất, trứng H gallinarum vào đường tiêu hóa gia
cầm, làm cho gia cầm vừa bị bệnh giun kim, vừa bị bệnh đầu đen
Ở vùng có kiểu khí hậu và loại đất phù hợp cho sự phát triển của giun
kim và giun đất, cần định kỳ kiểm soát bệnh do đơn bào H meleagridis gây
ra ở gà
1.1.2 Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà
1.1.2.1 Lịch sử bệnh
Histomonosis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode Island
(Cushman, 1894 [24]) Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm nông nghiệp tại địa phương về tình hình dịch bệnh từ năm 1891, đã đề cập về một
“bệnh khó hiểu” xuất hiện trên đàn gà tây, với triệu chứng chung là da vùng đầu biến đổi màu, gà mắc bệnh có tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gà tây Những người nông dân địa phương căn cứ vào triệu chứng đặc biệt đã quan sát được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen nên đã đặt tên bệnh là bệnh
đầu đen (Blackhead)
Kể từ khi bệnh đầu đen xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về bệnh Người ta nhận thấy rằng, dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì nó có thể quan sát thấy trong một số bệnh khác của gà tây Theo Smith (1895) [62], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng bị tổn thương nặng nhất Tác giả đã lấy bệnh phẩm gan và manh tràng để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây
bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis), từ đó bệnh được đặt tên
Trang 16là bệnh truyền nhiễm Enterohepatitis Tyzzer (1920) [65] đã gọi tên sinh vật đơn bào gây bệnh là Histomonas meleagridis
Vụ dịch đầu tiên bùng phát trên gà vào năm 1908 đã gây thiệt hại đáng
kể cho người chăn nuôi Từ đó, các trang trại chăn nuôi ở Mỹ đã thực hiện
mọi biện pháp để cải thiện, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nhưng Histomonosis vẫn
xuất hiện ở nhiều tiểu bang của Mỹ và là nguyên nhân chính gây chết ở gà tây (Lund, 1973 [48])
Năm 1905, bệnh xảy ra tại Nhật Bản
Ở Châu Âu, dịch Histomonosis cũng xuất hiện và đã được báo cáo ở
Ireland (1894), Áo (2006), Bỉ (2007), Anh (2007) và Hà Lan (2009)
Ở Đông Âu, bệnh xuất hiện ở Bungari vào năm 1950
Ngày nay, Histomonosis là bệnh phổ biến trên toàn thế giới, nhất là các nước
có ngành chăn nuôi gà tây và gà ta thả vườn và tập trung công nghiệp (Mc Dougald
1.1.2.2 Những thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra
Histomonosis đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia
cầm, đặc biệt là gà tây Bệnh đầu đen đã phá hủy hầu như hoàn toàn ngành chăn nuôi gà tây ở khu vực Đông và Trung Tây của Hoa Kỳ vào những năm
1930 Năm 1945, tỷ lệ chết do bệnh đầu đen gây ra chiếm 32,2% tỷ lệ chết của gà tây ở Bắc Carolina
Ổ dịch Histomonosis trên đàn gà tây với tỷ lệ chết 25 - 75% đã được báo
cáo ở California vào năm 2001 (Jinghui hu, 2002 [30])
Trang 17Van der Heijden H (2009) [69] cho biết: ở California Histomonosis tiếp
tục gây tỷ lệ chết cao cho gà tây 9 - 11 tuần tuổi Dấu hiệu lâm sàng bao gồm:
ăn ít hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy, giảm cân, tỷ lệ chết tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi Gà tây mắc bệnh ở 7 tuần tuổi, tỷ lệ chết 24 - 68% Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề mặt gan xuất hiện các nốt trắng nhạt khác nhau, kích thước 0,3
- 1,5 cm Thành manh tràng dày lên, niêm mạc bị lở loét, túi Fabricius sưng
to và có tiết dịch màu vàng nhạt Thận, tuyến tụy, lá lách sưng Quan sát dưới kính hiển vi thấy có nhiều ổ hoại tử trong gan, manh tràng, phúc mạc, túi
Fabricius, thận, phổi, tuyến tụy,…
Mc Dougald L R (2008) [51] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở khu vực Bắc
Mỹ đã báo cáo: bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến đàn gà tây nuôi tập trung, tỷ
lệ chết lên đến 80 - 100% Mặt khác, bệnh cũng được tìm thấy ở gà nhưng tỷ lệ chết chỉ tới 10%
Hauck và cs (2010) [37] cho biết: tại Đức, trong khoảng thời gian từ
2004 đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch Histomonosis xảy ra ở gà tây, gây thiệt
hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi Tác giả đã mô tả sự tiếp diễn liên tục qua các năm của bệnh đầu đen của một trang trại chăn nuôi gà tây ở Đức Từ tháng 4 năm 2003 đến tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện 113 ổ dịch
Histomonosis trên gà tây, trong đó có 15 ổ dịch ở các trang trại gà giống
Lê Văn Năm (2010) [5] cho biết: bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của bộ phận không nhỏ người chăn nuôi ở nước ta Tác giả cũng cho rằng, các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng giun kim mà giun kim là ký chủ trung gian truyền bệnh đầu đen cho gà tây và gà thả vườn nuôi tập trung
1.1.2.3 Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm
* Mầm bệnh: Về mặt dịch tễ học, đơn bào Histomonas không có vai trò
truyền bệnh vì sức đề kháng của chúng rất kém, khi ra khỏi cơ thể vật chủ đơn bào chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn
Trang 18* Động vật mắc bệnh
Histomonosis thấy ở các đàn gà, gà tây trên toàn thế giới Trong tự nhiên,
gà tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều có thể bị bệnh Trong đó gà tây mẫn cảm hơn cả
Gregory V và Lamann (2010) [35] cho biết, tất cả các giống gà đều dễ bị
nhiễm đơn bào H meleagridis Gà bị bệnh do gan tổn thương ít hơn nên tỷ lệ chết
thấp hơn so với gà tây
* Tuổi mắc bệnh
Gia cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm
Histomonosis hơn cả Gia cầm tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm Histomonosis càng giảm
* Vật chủ trung gian truyền bệnh
Giun kim có vai trò quan trọng trong việc truyền Histomonosis bởi chúng bảo vệ H meleagridis trong trứng và truyền bệnh
Ngoài ra, giun đất cũng có vai trò trong việc lưu trữ trứng giun kim chứa
H meleagridis Khi gà, gà tây ăn giun đất, trứng giun kim được giải phóng,
đơn bào cũng được giải phóng và gây bệnh
* Thời kỳ ủ bệnh
Các dấu hiệu của Histomonosis xuất hiện rõ ràng từ 7 - 12 ngày và
thường xảy ra 11 ngày sau khi nhiễm bệnh Thời gian ủ bệnh tương tự với các
cách nhiễm bệnh tự nhiên, tức là truyền qua trứng Heterakis chứa H
meleagridis
Trên thực nghiệm, gà tây được gây nhiễm bệnh bằng cách truyền H
meleagridis vào lỗ huyệt thì thời gian xuất hiện các tổn thương sớm hơn
khoảng 3 ngày so với nhiễm bệnh do nuốt trứng Heterakis qua đường miệng
Trang 19* Điều kiện vệ sinh thú y
Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có
ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm Histomonosis của gà Điều này có liên
quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của giun kim - vật chủ trung gian truyền bệnh
Callait - Cardinal M P và cs (2010) [20] cho rằng, chuồng trại không đảm bảo vệ sinh, phân và rác ướt không thu dọn thường xuyên, thức ăn nước
uống không sạch sẽ là những nguy cơ gây tái phát Histomonosis ở gia cầm
2.1.2.4 Cơ chế sinh bệnh
Việc truyền đơn bào H meleagridis tới gà và gà tây có thể xảy ra riêng
lẻ hoặc đồng thời theo các đường sau:
Thứ nhất, gà và gà tây ăn phân tươi do gà bệnh thải ra có chứa H
meleagidis, hoặc do lỗ huyệt tiếp xúc với phân tươi chứa H meleagridis Con
đường này không quan trọng, ngoại trừ trường hợp gà khỏe mạnh và gà mắc bệnh được nuôi chung cùng đàn
Thứ hai, gà có thể nuốt phải trứng Heterakis gallinarum có phôi và có chứa H meleagridis Vào trong đường tiêu hóa của gà, các đơn bào H
meleagridis và ấu trùng giun kim sẽ giải phóng khỏi vỏ trứng
Thứ ba, gà có thể ăn phải những con giun đất chứa trứng giun kim đã
mang đơn bào H meleagridis
Khi vào trong cơ thể gà, đơn bào xâm nhập vào manh tràng rồi vào niêm
mạc manh tràng Tại đây, đơn bào H meleagridis nhân lên rất nhanh bằng
sinh sản trực phân Số lượng lớn đơn bào tác động vào niêm mạc manh tràng, làm cho niêm mạc dày dần lên, sau đó niêm mạc manh tràng bị viêm, loét và hoại tử Màng nhày và dịch viêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành
những cục rắn màu trắng như phomat Từ manh tràng, H meleagridis xuyên
Trang 20qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc, theo dòng máu xâm
nhập vào gan H meleagridis ký sinh ở gan, gây viêm và gây hoại tử gan
Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đường kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt gan Từ gan, đơn bào này sẽ lan đi khắp cơ thể Do đó, ngoài gan và manh tràng, người ta còn tìm
thấy H meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi
Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương Tuy nhiên, H meleagridis không gây hoặc chỉ gây tổn thương nhẹ ở các cơ quan này
1.1.2.5 Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen ở gà
* Triệu chứng
Gà 3 - 12 tuần tuổi tỷ lệ và cường độ nhiễm H meleagridis cao, có triệu
chứng điển hình và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90% Những dấu hiệu lâm sàng phát triển sau 12 - 15 ngày nhiễm bệnh và chết sau 15 - 21 ngày Gà mắc bệnh đột ngột sốt cao 43 - 440C, đứng ủ rũ, hai mắt nhắm nghiền, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều, lông xù, vùng lỗ huyệt lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưu huỳnh (Mc Dougald L R., 2008 [51]) Có hiện tượng sung huyết, phù nề, tăng bạch cầu đa nhân trung tính ở giai đoạn đầu của bệnh
* Bệnh tích
Các tổn thương ở gan và manh tràng là bệnh tích đặc trưng nhất của
bệnh do H meleagridis gây ra
- Biến đổi ở manh tràng
Sự biến đổi của manh tràng được Lê Văn Năm (2010) [5] mô tả: có thể chỉ một hoặc cả hai manh tràng xuất hiện các biến đổi, lúc đầu phồng to, dài hơn, sau đó thành manh tràng dày lên và rắn chắc hơn Màu sắc, độ đàn hồi và
độ trơn bóng của manh tràng bị thay đổi Bề mặt manh tràng trở nên sần sùi, màu vàng xám, thành manh tràng tăng sinh dầy lên và rắn chắc Khi bổ đôi manh tràng thấy chất chứa màu trắng vàng, trắng xanh hoặc trắng nâu do dịch
Trang 21thẩm xuất chứa Fibrin đóng quánh cùng các tế bào bị cazein hoá tạo thành các kén màu trắng, vì thế người chăn nuôi gọi là bệnh kén ruột Niêm mạc manh tràng bị viêm loét nặng, thậm chí bị thủng, chất chứa chảy vào xoang bụng gây viêm phúc mạc, làm gà chết Rất nhiều trường hợp hai manh tràng dính chặt với nhau hoặc một trong hai manh tràng dính vào các cơ quan nội tạng hoặc phúc mạc Vết loét nhỏ hoặc lớn có thể vỡ ra, tràn phân và dịch viêm vào xoang bụng, gây viêm dính ruột Khi cắt ngang manh tràng thấy có những đám
bã đậu trắng, thành manh tràng dày làm lòng manh tràng hẹp lại
- Biến đổi ở gan
Theo Lê Văn Năm (2010) [5]: Gan sưng to, gấp 2 - 3 lần bình thường, mềm nhũn và có nhiều ổ viêm, xuất huyết, hoại tử trên bề mặt gan làm cho lá gan lúc đầu có màu lổ đổ hình hoa cúc Về sau các ổ hoại tử có màu trắng xám vàng hoặc trắng xám đỏ, lõm ở giữa Ổ hoại tử có hình tròn, đường kính
1 - 2 cm, rìa mép có hình răng cưa Khi cắt đôi ổ hoại tử thấy chúng có hình nón, chứa đầy chất chứa đặc quánh Nếu phết kính và soi dưới kính hiển vi sẽ
thấy các tế bào bạch cầu, đại thực bào và đơn bào H meleagridis còn sống
1.1.2.6 Chẩn đoán
* Với gà còn sống
Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn ít, lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu xạm màu, ỉa chảy, phân màu vàng lưu huỳnh…) Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà ỉa chảy, phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald L R., 2008 [51])
Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm, nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn đoán dễ dàng hơn
Trang 22* Mổ khám gà
Phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là phương pháp mổ khám, kiểm
tra bệnh tích kết hợp xét nghiệm tìm đơn bào H meleagridis ký sinh ở các cơ
quan nội tạng như gan, manh tràng
Tiến hành mổ khám gà mắc bệnh, quan sát thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng, gan to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như
đá hoa cương hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt
Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa chết hoặc vừa mổ khám,
phết kính, kiểm tra dưới kính hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H meleagridis
Tuy nhiên, đơn bào trong các tổn thương tổ chức ở thể lưới, không có hình roi và rất khó để phân biệt với đại thực bào và các tế bào nấm men
Xét nghiệm phân tươi của gà bệnh trong điều kiện nhiệt độ ấm, đơn bào vẫn hoạt động và điều này giúp việc chẩn đoán dễ dàng hơn Lấy phân tươi của gà nghi mắc bệnh để soi kính hiển vi ở điều kiện 40oC có thể thấy H
meleagridis hình roi còn sống Dưới kính hiển vi quan sát thấy H meleagridis
di chuyển không theo một hướng cố định, roi chuyển động xoay ngược chiều
kim đồng hồ (Mc Dougald L R., 2008 [51])
Kiểm tra mô bệnh học giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn Đặc biệt là phần mô của gan và manh tràng Phương pháp nhuộm tiêu bản mô bệnh phẩm thường được áp dụng là nhuộm Hematoxilin - eosin và nhuộm PAS (Mc Dougald
L R, 2008 [51])
Nuôi cấy đơn bào trong môi trường Dwyer cổ điển (Van der Heijden, 2009
[69]), giúp cho việc quan sát H meleagridis dưới kính hiển vi dễ dàng hơn
Chẩn đoán bằng phản ứng PCR (phản ứng chuỗi polymerase) cho kết quả nhanh chóng và chính xác Với phản ứng PCR, người ta có thể phát hiện
ADN của H meleagridis trong phân hoặc trong ruột Kỹ thuật PCR cũng giúp tìm ra ADN của ký sinh trùng H meleagridis trong các cơ quan khác như
trong não, hoặc tuyến ức,… nơi mà các phương pháp thông thường không thể chẩn đoán được sự có mặt của ký sinh trùng này
Trang 23* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác
Bệnh do H meleagridis gây ra ở gà cần phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh:
trong khi chất chứa do đơn bào H meleagridis gây ra giai đoạn giữa của bệnh
cũng rất giống bệnh cầu trùng: chất chứa có màu nâu, đỏ lẫn máu, nhớt như máu cá Giai đoạn sau chất chứa tạo thành kén màu trắng rắn chắc, gạt lớp phủ niêm mạc manh tràng thấy niêm mạc manh tràng bị viêm hoại tử rất nặng, thành manh tràng dày lên và rắn chắc, lòng manh tràng hẹp lại rất nhiều so với bình thường
- Bệnh do Trichomonas
Các triệu chứng và các biến đổi bệnh lý do Trichomonas gây ra trong
một số trường hợp cũng rất giống bệnh đầu đen Chỉ khác là bệnh do
Trang 24Trichomonas gây ra, ngoài các biến đổi ở manh tràng còn luôn kèm theo các
biến đổi ở 1/3 đoạn cuối ruột non Các ổ viêm hoại tử trên bề mặt gan có kích thước nhỏ hơn và lồi lên khỏi bề mặt gan giống như các ổ lao gà Trong khi các ổ viêm loét, hoại tử ở bệnh đầu đen lại bị lõm ở giữa (tâm của ổ viêm loét
do bệnh đầu đen lõm xuống)
- Bệnh lao gà
Các ổ lao quan sát được không chỉ ở gan mà còn thấy ở lách, ruột và tủy xương Bệnh lao gà chỉ quan sát thấy ở gà ta, gà tây lớn tuổi, nhưng không thấy ở gà con và gà dò Trong bệnh lao gà không có các biến đổi tạo kén ở manh tràng như trong bệnh đầu đen
1.1.2.7 Phòng, trị bệnh đầu đen cho gà
meleagridis sẽ bị bệnh, do đó cần hạn chế cho gà tiếp xúc với đất, nên nuôi gà
trên sàn hoặc nền bê tông Không nuôi nhiều lứa tuổi gà trong cùng một cơ sở chăn nuôi Nếu có diện tích rộng thì chia khu vực chăn nuôi thành nhiều ô, thực hiện nuôi gà luân phiên trên các ô, để trống chuồng một thời gian dài
giúp phòng Histomonosis có hiệu quả
Đối với gà từ 20 ngày tuổi trở lên, trong nước uống cần bổ sung CuSO4
hoặc mỗi tuần 1 lần cho uống KMnO4 pha với tỷ lệ 1/10000 (tức một gam thuốc tím pha với 10 lít nước), cho uống trong vòng 1 - 2 giờ/ngày
* Trị bệnh
Ở Hoa Kỳ, dimetridazole và ipronidazole là 2 loại thuốc điều trị
Histomonosis hiệu quả Cả hai đều thuộc nhóm nitroimidazole Tuy nhiên,
Trang 25vào những năm 1990, các nhà quản lý thực phẩm và thuốc ở Hoa Kỳ đã có quyết định cấm sử dụng 2 sản phẩm này vì thuốc tồn dư lâu trong sản phẩm
và có thể gây ung thư cho người
Nitarsone, một hợp chất chứa asen, có hiệu quả trong ngăn ngừa bệnh đầu đen khi sử dụng liên tục trong thức ăn, nhưng là một loại thuốc đắt tiền Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị bệnh đầu đen có hiệu quả cao Gần đây, một số tác giả cho rằng, dùng sulfamonomethoxin có tác dụng
diệt H meleagridis rất tốt
Công ty thuốc thú y Năm Thái đã khuyến cáo phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà như sau:
Phác đồ 1:
Tiêm bắp T avibrasin 1 ml/5 kg gà 1 lần/ngày, tiêm 2 - 3 ngày
Cho uống: T cúm gia súc: 1,5 - 2 gam; T coryzin: 1,5 - 2 gam; Super Vitamin 2 gam Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm
Phác đồ 2:
Tiêm bắp Macavet 1 ml/6 - 8 kgTT/lần Sau 48 giờ tiêm mũi thứ 2
Cho uống: T cúm gia súc: 1,5 - 2 gam; T coryzin: 1,5 - 2 gam; T flox - C 1,5 gam Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Lê Văn Năm (2010) [5] bắt đầu đề cập đến căn bệnh này tại một số tỉnh phía Bắc (trong đó có huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang) Tác giả kết luận rằng, nguyên nhân cơ bản gây nên hiện tượng chết hàng loạt gà thịt tại thời điểm đó
là do sự cảm nhiễm, xâm nhập và nhân lên nhanh chóng của đơn bào H
meleagridis trong cơ thể gà, thông qua tình trạng nhiễm trứng giun kim có
đơn bào này Theo tác giả, H meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái:
Trang 26hình trùng roi (4 roi), hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn
phát triển để có hình dạng tương ứng phù hợp,… H meleagridis với hình
amip có kích thước 8 - 30 μm, với hình roi thì có kích thước 20 - 30 μm, kích
thước nhỏ nhất khi H meleagridis ở thể lưới: 5 - 10 μm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H meleagridis thể hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại
(60 - 80 μm) Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc
ra 4 roi, H meleagridis vận động theo hai phương thức: xoắn hoặc theo kiểu
làn sóng
Theo Lê Văn Năm (2011) [6], đơn bào H meleagridis có sức đề kháng
kém Sau khi theo phân ra ngoài môi trường, ở nhệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể gia cầm, đơn bào này chỉ sống được vài phút hoặc vài giờ tùy thuộc vào nhiệt độ
bên ngoài Trong đó, thời gian sống lâu nhất không vượt quá 24 giờ Nhưng H
meleagridis có thể tồn tại hàng năm trong trứng của giun kim - Heterakis gallinae, mà vẫn có khả năng gây bệnh
Lê Văn Năm (2010) [5] cho biết, ở miền Bắc Việt Nam, bệnh thường thấy ở gà tây từ 2 tuần đến 2 - 3 tháng tuổi, nhưng gà ta thì chậm hơn một chút: từ 3 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, gà lớn tuổi hơn vẫn có thể mắc Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 1 - 4 tuần và phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng nhiễm trùng thứ phát Bệnh thể hiện ở thể cấp tính và mãn tính, rất ít khi bệnh xảy ra
ở thể quá cấp
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, bệnh do đơn bào H meleagridis được phát hiện năm 1893
ở Rhode Island, sau đó bệnh được báo cáo ở khắp các lục địa và nhiều nước
khác Dịch bệnh do H meleagridis nhanh chóng lan xuống các vùng ven biển
phía Đông, miền Trung Tây và miền Tây Hoa Kỳ Bệnh có tỷ lệ chết cao (có
thể tới 100%) Các nhà khoa học sớm xác định đơn bào H meleagridis là tác
Trang 27nhân gây bệnh Giống như nhiều ký sinh trùng khác, vòng đời H meleagridis
rất phức tạp, liên quan tới một vật chủ trung gian là giun kim Heterakis
gallinae (Mc Dougald L R., 2008 [51])
Tác nhân gây bệnh đầu đen ở gà đã được nhiều tác giả nghiên cứu và cho
biết, đó là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc hình
bầu dục, đường kính 8 - 14 μm Khi đơn bào được cố định và nhuộm màu, tác giả thấy chúng có dạng hình bầu dục nhỏ, đường kính 6 - 10 μm, ở giữa có
nhiều cấu trúc nhỏ tập trung lại thành thể nhân (Smith, 1895 [62]) Theo Tyzzer và Fabyan (1922) [68], H meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip
và dạng có roi) Trong mô (giai đoạn xâm lấn), đơn bào có dạng amip, trong
lòng manh tràng H meleagridis ở dạng có roi H meleagridis ở dạng amip
thường có đường kính 8 - 15 μm, trong khi ở dạng có roi, đường kính có thể lên tới 30 μm
Popp C và cs (2011) [57] cho biết, ít nhất có hai chủng H meleagridis
(A và B) gây ra các vụ dịch tại các trang trại chăn nuôi gà
Aka J và cs (2011) [15] cho biết, ở Đức, ổ dịch Histomonosis đầu tiên
xảy ra vào năm 2005 trong đàn gà mái 17 tuần tuổi, ổ dịch thứ hai (năm
2009) xảy ra trên đàn gà mái 8 tuần tuổi Trong cả hai vụ dịch, H
meleagridis gây bệnh đều thuộc chủng A
Lollis L và cs (2011) [46] đã thực hiện phản ứng PCR trên vùng ITS-
rDNA với 2 primer ITS1 và ITS2 trên 28 đơn bào H meleagridis trong các
mẫu mô thu thập từ nhiều loài gia cầm nuôi ở các vị trí địa lý khác nhau để
nghiên cứu sự đa dạng di truyền của H meleagridis Kết quả cho thấy, trình
tự vùng rDNA 5,8 S và ITS của H meleagridis không có sự biến động Như vậy, không có sự khác biệt về chủng H meleagridis gây bệnh giữ các loài gia
cầm nuôi ở các vị trí khác nhau
Trang 28Khi nghiên cứu sức đề kháng của H meleagridis trong hoặc trên một số
vật liệu nhân tạo bị ô nhiễm trong chuồng nuôi gà ở nhiệt độ phòng (22 +
2oC), Lotfi A R và cs (2012) [47] thấy rằng, đơn bào sống 1 giờ trên gỗ, cao
su và kim loại; 3 giờ trên khay trứng, vỏ trứng và gạch; 6 giờ trên rơm, lông
gà tây và thức ăn; và 9 giờ trong nước máy và phân Vì vậy, nước bị ô nhiễm,
phân tươi, hoặc cả hai có thể là nguyên nhân truyền H meleagridis trong và
giữa các chuồng gà với nhau
* Nghiên cứu phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis
H meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền
bằng 2 con đường: truyền trực tiếp và truyền gián tiếp
Horton - Smith và Long (1955, 1956) [58] đã phát hiện ra rằng, đơn bào H
meleagridis sống sót với tỷ lệ thấp khi đi qua đường tiêu hóa do độ pH thấp
Tác giả tiến hành các thí nghiệm như sau: cho gà bị bỏ đói 18 giờ uống huyễn dịch manh tràng của gà bị bệnh nặng, tác giả nhận thấy tỷ lệ nhiễm bệnh của gà thấp Tiếp tục nghiên cứu gây nhiễm qua đường tiêu hóa của gà bị bỏ đói 18 giờ, tác giả đã nâng độ pH lên rất cao bằng cách bổ sung 1 gam hỗn hợp gồm: canxi cacbonat 40%, magie trisilicate 17% và cao lanh 43% Tác giả nhận thấy,
tỷ lệ nhiễm H meleagridis ở gà tăng lên Kết quả, H meleagridis có thể sống
sót ở nồng độ pH cao
Một số tác giả cũng tiến hành gây nhiễm bệnh qua lỗ huyệt cho gà ở các lứa tuổi khác nhau với các liều khác nhau, theo dõi gà gây nhiễm sau 10 - 15 ngày và cũng thu được những kết quả nhất định
Mc Dougald L R (2003) [49] đã gây nhiễm bệnh cho gà 2 tuần tuổi
bằng cách đưa vào lỗ huyệt mỗi gà 200.000 H meleagridis Kết quả, tất cả gà
gây nhiễm đã chết ở ngày 10 - 18, mổ khám gà chết thấy gan và manh tràng
xuất hiện tổn thương điển hình của Histomonosis
Trang 29Hu J., và cs (2004) [42] đã gây nhiễm H meleagridis qua lỗ huyệt cho
gà 2 tuần tuổi, liều 100.000 đơn bào/gà Theo dõi trong 12 ngày thấy không
có gà nào bị chết, mổ khám thấy gan và manh tràng bị tổn thương nặng
Để nghiên cứu sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen mà không cần sự có
mặt của giun kim (Heterakis gallinarum), Mc Dougald L R (2005) [50] đã
bố trí thí nghiệm với 120 gà 2 tuần tuổi, chia thành 2 lô:
Lô 1: gồm 10% gà bệnh (đã được gây nhiễm qua lỗ huyệt với liều 200.000
H meleagridis/ gà) và 90% gà khỏe cùng nhốt trong chuồng sàn bê tông
Lô 2: gồm 25% gà bệnh với 75% gà khỏe
Kết quả: ở lô 2, những gà tiếp xúc với 25% gà được gây nhiễm bắt đầu chết ở ngày thứ 16 và tất cả đều chết ở ngày thứ 23 Những gà tiếp xúc với 10% gà được gây nhiễm ở lô 1 bắt đầu chết ở ngày thứ 19, đến ngày thứ 31
mổ khám gà chết và toàn bộ gà còn sống đều thấy tổn thương gan nặng, manh tràng đóng kén Soi chất chứa ở manh tràng và phân không thấy có sự xuất
hiện của trứng giun kim (Heterakis gallinarum)
Một nghiên cứu khác về khả năng truyền bệnh trực tiếp ở gà tây cũng được mô tả bởi Hess M và cs (2006) [40]: tác giả cũng gây nhiễm qua lỗ
huyệt cho gà tây 14 ngày tuổi với liều 380.000 đơn bào H meleagridis Kết
quả là những gà được gây nhiễm bài tiết mầm bệnh ngay sau khi gây nhiễm 2 ngày Sau 14 ngày gây nhiễm, mổ khám tất cả những gà sống sót, kiểm tra manh tràng và gan thấy xuất hiện tổn thương nặng của bệnh đầu đen Ngoài ra, túi Fabricius cũng bị phá hủy nặng nề
Liebhart D và Hess M (2009) [44] đã gây nhiễm qua đường miệng cho
gà tây 1 ngày tuổi (cho nhịn đói 5 giờ trước khi gây nhiễm) Kết quả là 8 trong 10 gà thí nghiệm mắc bệnh nghiêm trọng với các tổn thương bệnh lý
điển hình của Histomonosis ở gan và manh tràng, chỉ có hai gà còn sống sót
sau thí nghiệm và không có dấu hiệu lâm sàng
Trang 30Jana Choutková (2010) [76] đã gây bệnh cho gà tây bằng cả 2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt Kết quả như sau: Gà gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh và chết thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt Cụ thể, gây nhiễm qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20%, tỷ lệ chết 2%, trong khi gây nhiễm qua lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh 65%, tỷ lệ chết 45%
Hauck R và Hafe H M (2013) [36] cho biết, trong 10 năm qua, phương
pháp gây nhiễm thông qua lỗ huyệt đối với H meleagridis được tiến hành
một cách phổ biến nhất và đạt độ tin cậy cao Tác giả gây nhiễm cho gà tây
(liều nhiễm 10.000 hoặc 100.000 H meleagridis) thấy gà mắc bệnh và tỷ lệ
chết trên 70% Sau gây nhiễm, gà chết sớm nhất là 6 ngày; tỷ lệ chết cao nhất thường là 13 - 15 ngày Liều gây nhiễm thấp có thể làm chậm chết khoảng 2 ngày Tác giả kết luận rằng, tổn thương manh tràng có thể quan sát được từ 3
- 4 ngày đến 3 tuần sau gây nhiễm; tổn thương gan có thể không thấy hoặc chỉ thấy trong một số ít trường hợp Tác giả cũng cho biết thêm, khi gây nhiễm
bệnh bằng cách cho gà nuốt trứng Heterakis chứa H meleagridis với liều 100
đến 1.000 trứng/ gà đã gây ra tỷ lệ chết rất cao Ngay cả với liều 58 trứng/ gà tây đã gây ra tỷ lệ chết đến 90% Triệu chứng lâm sàng bắt đầu từ ngày thứ 9 sau gây nhiễm, gà đầu tiên chết sau 12 ngày, hầu hết gà nhiễm bệnh chết từ
19 đến 21 ngày sau gây nhiễm
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, giun kim H gallinarum là sinh vật
truyền bệnh đầu đen cho gà
Gibbs B J (1962) [33] đã tìm thấy H meleagridis trong đường sinh dục
và trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học H meleagridis được tìm
thấy trong tất cả các bộ phận sinh sản của cả giun cái và giun đực Ở giun đực,
H meleagridis ký sinh trong ruột, xâm nhập vào các tế bào ruột, tinh trùng,
ống dẫn tinh và túi tinh Ở giun cái, chúng ký sinh trong tất cả các bộ phận
của đường sinh dục như buồng trứng, ống dẫn trứng và tử cung Sau đó, H
Trang 31meleagridis đã được thu thập và gây nhiễm cho gà 10 ngày tuổi Tác giả kết
luận rằng, giun cái có khả năng truyền bệnh đầu đen cho gà mà không cần có
sự thụ tinh của giun đực
Cơ chế lây nhiễm H meleagridis khi còn trong trứng giun kim cho đến
nay vẫn chưa được xác định rõ ràng
Springer và cs (1970) [63] đã phát hiện ra rằng, trong giun kim đực
được lấy ra từ manh tràng gà bệnh đều chứa H meleagridis còn sống Giun cái ít có khả năng truyền H meleagridis hơn Theo tác giả thì giun cái có thể
bị nhiễm H meleagridis trong khi giao hợp với giun đực và đơn bào đã xâm
nhập vào trong trứng trước khi hình thành lớp vỏ trứng
Lund và Chute (1973) [48] đã xác định được tương quan thuận giữa số
lượng Heterakis trong mỗi con gà và tỷ lệ mắc H meleagridis Tác giả cho rằng, đơn bào được giải phóng khi giun kim chết (có thể chết trong cơ thể gà
hoặc ở ngoại cảnh)
Hu J và Mc Dougald L R (2003) [41] kết luận rằng, mặc dù H
gallinarum được biết đến là một vật chủ chứa H meleagridis, nhưng bệnh do
H meleagridis có thể xảy ra dễ dàng thông qua tiếp xúc thông thường giữa
các gia cầm không bị nhiễm bệnh và gia cầm nhiễm bệnh, trong trường hợp xét nghiệm phân của chúng không có trứng giun kim
* Nghiên cứu về môi trường nuôi cấy đơn bào Histomonas
meleagridis
Drbohlav (1924) [28] người đầu tiên tiến hành nuôi cấy đơn bào H
meleagridis đã báo cáo rằng: H meleagridis sinh trưởng tốt nhất ở độ pH 7,2 - 7,8
Bishop (1938) [17] đã thu thập các đơn bào H meleagridis từ các tổn
thương ở gan của gà mắc bệnh nặng, sau đó nuôi cấy trong môi trường huyết thanh ngựa pha với bột gạo theo tỷ lệ 1: 8, đặt ống nghiệm thẳng đứng cũng thu được kết quả tốt
Trang 32DeVolt (1943) [26] cũng tiến hành thí nghiệm nuôi cấy đơn bào H
meleagridis trong môi trường đơn giản và dễ chuẩn bị (pH = 9) Môi trường nuôi
cấy bao gồm: dung dịch Locke (dung dịch đẳng trương với huyết tương có chứa clorua natri, kali, canxi, natri bicarbonate và dextrose được sử dụng tương tự như nước muối sinh lý) với 2% huyết thanh gà tây, 2% NaOH, hấp tiệt trùng ở 120oCtrong 20 phút Trước khi nuôi cấy, mỗi ống nghiệm cho thêm một ít tinh bột gạo
đã được vô trùng Tác giả báo cáo rằng, có một số vi khuẩn tồn tại trong môi
trường nuôi cấy đơn bào H meleagridis và chúng có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đơn bào ở một mức độ nào đó Sau đó, một số tác giả đã thay đổi môi trường của DeVolt để nuôi cấy H meleagridis
Môi trường nuôi cấy của Dwyer (1970) [29]; Mc Dougald và Reid (1978) [54] gồm: M199 với dung dịch muối của Hank, 10% huyết thanh ngựa, 5% phôi thai gà 8 ngày tuổi và 10 - 12 mg bột gạo/12,5 ml môi trường
Dung dịch muối của Hank (1940) gồm các muối giàu ion bicarbonate, dung dịch này được sử dụng như một hệ thống đệm trong môi trường nuôi cấy tế bào và duy trì pH sinh lý tối ưu (khoảng 7,0 - 7,4) cho sự tăng trưởng của tế bào
Phôi thai gà 8 ngày tuổi được nghiền nhuyễn bằng máy xay sinh tố, bảo quản ở nhiệt độ âm, làm tan băng một lần và được giữ ở nhiệt độ - 20oC cho đến khi sử dụng
Tác giả sử dụng pipet vô trùng để thu thập chất chứa manh tràng và niêm mạc manh tràng bị tổn thương rồi cho vào bình nuôi cấy có thể tích 70 ml và bảo quản ở 40oC trong 48 giờ Sau đó, lấy 1 ml chất chứa cấy vào 12,5 ml môi
trường Dwyer Sự phát triển của H meleagridis được đánh giá hàng ngày bằng
cách đếm số lượng đơn bào/1 ml môi trường nuôi cấy bằng thiết bị Haematocytometer Bürker - Türk (thiết bị đếm số lượng tế bào) và kính hiển vi
độ phóng đại 200 lần Tác giả đã bổ sung thêm 10% dimethylsulfoxide như một
Trang 33chất bảo quản lạnh để giữ mẫu nuôi cấy được lâu hơn Mẫu nuôi cấy được lưu giữ trong nitơ lỏng (-175°C) cho đến khi sử dụng
Thông thường, số lượng H meleagridis đạt tối đa trong ống nghiệm ở ngày thứ 2 hoặc ngày thứ 3 sau khi nuôi cấy (Dwyer, 1970 [29]) Số lượng H
meleagridis giảm nhanh chóng và chết sau khoảng 5 ngày, có thể là do sự suy
giảm các chất dinh dưỡng Tyzzer (1934) [67] cho rằng, sự sống của đơn bào trong môi trường nuôi cấy có thể kéo dài bằng cách bổ sung đều đặn lượng nhỏ bột gạo (10 - 12 mg) và đơn bào có thể sống tới 21 ngày
Mc Dougald và Galloway (1973) [53] khẳng định rằng: môi trường nuôi
cấy đơn bào H meleagridis tốt nhất là môi trường Dwyer (1970) Môi trường
này bao gồm 85% M199; 5% chiết xuất phôi thai gà và 10 % huyết thanh ngựa,
pH 7,8 H meleagridis phát triển nhanh trong môi trường này và được sử dụng
để chẩn đoán, xét nghiệm H meleagridis từ 28 - 48 giờ sau khi nuôi cấy
Khi phân tích môi trường tốt nhất cho sự phát triển của H meleagridis, Hauck R và cs (2010) [38] cho biết: H meleagridis phát triển nhanh chóng
trong môi trường của Dwyer (bao gồm M199, phôi gà, huyết thanh và bột gạo), đạt số lượng khoảng 5 x 105 H meleagridis trong 3 - 4 ngày, sau đó suy
giảm nhanh chóng Thay thế M199 bằng L-15, MEM hoặc RPMI cũng có hiệu quả Thiếu huyết thanh hoặc bột gạo môi trường nuôi cấy sẽ không phù hợp cho sự tăng trưởng của đơn bào Môi trường có đường không phù hợp vì
đường làm độ pH giảm xuống Oxy ức chế sự tăng trưởng của H meleagridis
Đơn bào tăng trưởng tốt trong môi trường có bột gạo, bột bắp, bột yến mạch, bột lúa mạch đen và bột kiều mạch Điều kiện yếm khí và độ pH gần trung
tính là tốt nhất H meleagridis phát triển tốt hơn nếu trong môi trường nuôi
cấy có chứa vi khuẩn
Gerhold R W và cs (2010) [32] cho rằng, thời gian bảo quản và vận
chuyển mẫu bệnh phẩm ảnh hưởng lớn kết quả nuôi cấy đơn bào H
Trang 34meleagridis trong ống nghiệm Tác giả lấy manh tràng của gà bị Histomonosis
đem bảo quản ở nhiệt độ phòng 2 giờ và 24 giờ Sau đó, lấy 0,5 gam chất chứa manh tràng cấy vào môi trường Dwyer trong ống nghiệm Đặt các ống nghiệm trong tủ ấm 400C, hàng ngày kiểm tra sự tăng trưởng của H meleagridis bằng cách đếm dưới kính hiển vi quang học Kết quả, H meleagridis tăng trưởng tốt
từ những mẫu manh tràng bảo quản ở nhiệt độ phòng 2 giờ Ngược lại, H
meleagridis không tăng trưởng ở những mẫu manh tràng bảo quản ở nhiệt độ
phòng 24 giờ Như vậy, mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy đơn bào nên thu thập, bảo quản ở nhiệt độ ấm áp và vận chuyển nhanh về phòng thí nghiệm
Khi nghiên cứu dịch tễ học bệnh đầu đen ở gà, Lund và Chute (1973) [48]
đã gây bệnh cho 8 loài chim thuộc bộ gà và thấy gà lôi trắng Trung Quốc là
vật chủ tốt nhất cho H meleagridis, tiếp theo là gà và gà sao Gà dễ nhiễm
bệnh, nhưng khả năng mẫn cảm của gà thấp hơn so với gà tây Tỷ lệ chết ở gà
là 10%, trong khi con số này ở gà tây có thể đạt 80 - 100% (Mc Dougald L R.,
2008 [51]) Theo Hu J và cs (2004) [42], gà tuổi càng cao sức đề kháng với
Histomonosis càng lớn, trong đó gà ở 3 - 4 tuần tuổi tỷ lệ mắc bệnh cao nhất Giai
đoạn gà 1 - 2 tháng tuổi tỷ lệ mắc Histomonosis cao nhất, triệu chứng bệnh điển
hình nhất (Hauck và cs., 2010 [38])
Tỷ lệ chết ở gà do bệnh đầu đen có thể lên tới 80%, kết quả này đã được
Mc Dougald L R (2005) [50] công bố sau khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà
tây 15 ngày tuổi với lượng 200.000 H meleagridis/con Một tỷ lệ chết dưới
50% cũng đã được báo cáo bởi Hauck và cs (2006) [39] khi tác giả gây
nhiễm bệnh cho gà tây 3 tuần tuổi với liều 150.000 H meleagridis/con
* Sự tương tác của H meleagridis với tác nhân gây bệnh hoặc điều kiện khác
- Cầu trùng:
Chappel (1973) [22] báo cáo rằng, H meleagridis xuất hiện ảnh hưởng đến
sự phát triển của Eimeria tenella Cầu trùng E tenella giúp cho H meleagridis
Trang 35nhanh chóng xâm nhập vào sâu niêm mạc manh tràng Mức độ tổn thương manh
tràng lớn hơn nhiều so với khi chỉ có E tenella Mc Dougald L R và Hu J.,
2010 [52] cho biết, Histomonosis trầm trọng hơn ở gà thịt bị nhiễm đồng thời
cầu trùng manh tràng
- Vi khuẩn:
Một số loài vi khuẩn gây bệnh cho gà có vai trò thúc đẩy sự phát triển của
đơn bào H meleagridis trong ống nghiệm (Mc Dougald và Reid, 1978 [54])
Tyzzer (1934) [67] là người đầu tiên nhận thấy những vi khuẩn kèm theo các đơn bào tại thời điểm phân lập có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của đơn bào trong quá trình nuôi cấy Bishop (1938) [17] cũng cho rằng,
sự tăng trưởng của H meleagridis trong các môi trường nuôi cấy kém đi do
sự vắng mặt của hệ vi khuẩn “tương thích” Doll và Franker (1963) [27] cho
rằng, vi khuẩn có trong các loài chim có một số yếu tố cần thiết cho sự phát
triển của đơn bào H meleagridis
Khi Bradley và Reid (1966) [19] tăng số lượng H meleagridis để gây nhiễm cho gà, trong đường ruột gà không có vi khuẩn E coli, tác giả nhận thấy H
meleagridis không phát triển được Thí nghiệm này đã chứng minh mối quan hệ
hiệp đồng giữa hai sinh vật (H meleagridis và vi khuẩn), phải có mặt cả hai sinh vật này mới gây ra Histomonosis
Ganas P và cs (2012) [31] cho biết, sự phát triển của đơn bào H
meleagridis phụ thuộc vào sự có mặt các vi khuẩn, đặc biệt là quá trình
chuyển hóa năng lượng của vi khuẩn Escherichia coli được xác định là có vai trò hỗ trợ mạnh sự phát triển của đơn bào, trong khi Salmonella và
Pseudomonas kém hiệu quả hơn Các tác giả đã kết luận rằng, vi khuẩn đóng
vai trò như một nguồn cung cấp năng lượng cho các đơn bào Các thí nghiệm
của tác giả đã cho thấy sự lây nhiễm của gà tây với H meleagridis gây nhiễm trùng gan có liên quan đến vi khuẩn E coli
Trang 36Các tác giả nghiên cứu về bệnh đầu đen ở gà do H meleagridis gây ra
đều cho biết, tổn thương ở gan và manh tràng là bệnh tích đặc trưng nhất Qua gây nhiễm, Kemp R L và Springer W T (1978) [43] đã thấy tổn thương đầu tiên trong manh tràng từ ngày thứ 8 sau khi nhiễm bệnh Manh tràng bị viêm sưng, thành manh tràng dày lên gấp nhiều lần Sau đó dịch viêm (trong dịch viêm có hồng cầu, bạch cầu, đơn bào) tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống như pho mát Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò rỉ chất chứa gây viêm phúc mạc
Windisch M và Hess M (2010) [72] đã gây nhiễm H meleagridis cho
gà khỏe, tổn thương nghiêm trọng thấy trong manh tràng của tất cả gà thí nghiệm khi mổ khám lúc 7 và 14 ngày sau nhiễm Xét nghiệm các mẫu mô manh tràng tổn thương cho thấy, phản ứng miễn dịch thể hiện rất mạnh ở manh tràng với sự xuất hiện kháng thể IgM, IgG ở mức cao và tăng liên tục kháng thể IgA
Tổn thương gan thường bắt đầu từ ngày thứ 10 Gan sưng to gấp 2 - 3 lần, viêm xuất huyết, hoại tử Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm làm cho gan lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek (Kemp R L và Springer W T., 1978 [43])
Tổn thương ở các cơ quan khác như túi Fabricius, phổi, lá lách, tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể xảy ra dưới dạng các ổ hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng
Khi mổ khám 56 chim cút đã chết tại một trang trại nuôi chim cút, Mc Dougald L R và cs (2012) [56] cho biết, có 55 con có tổn thương manh tràng điển hình của bệnh đầu đen, chỉ có 3 con có tổn thương nhẹ trong gan Tác giả mổ khám các con chim khỏe mạnh không phát hiện bất kỳ dấu hiệu
nhiễm trùng nào Sự hiện diện của H meleagridis trong manh tràng đã được
chứng minh bởi các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và PCR
Trang 37- Biến đổi máu trong Histomonosis
Venkataratnam và Clarkson (1963) [70] đã nghiên cứu ảnh hưởng của
Histomonosis tới các tế bào máu của gà sáu tuần tuổi, kết quả thấy số lượng
bạch cầu trong máu tăng ngay sau khi nhiễm bệnh một ngày và đạt tối đa 70.000/ mm3 máu sau khi nhiễm 10 ngày Sự gia tăng bạch cầu bao gồm bạch cầu đơn nhân và bạch cầu ái toan Số lượng các tế bào lympho, bạch cầu ái kiềm và hồng cầu không thay đổi
Khi nghiên cứu sự thay đổi công thức máu của gà 3 tuần tuổi nhiễm bệnh, Wilson và Perie (1967) [71] cũng thu được kết quả tương tự Số lượng bạch cầu cao nhất là 92.000/mm3 vào ngày thứ 10 sau khi gây nhiễm Bạch cầu ái toan và bạch cầu đơn nhân tăng, còn số lượng tế bào lympho không thay đổi
- Nghiên cứu về biến đổi tế bào trong Histomonosis
Reid W M (1967) [60] cho biết, sự xâm chiếm và cư trú đầu tiên của H
meleagridis vào thành manh tràng dẫn đến xung huyết và tăng bạch cầu, cùng
lúc lại có sự tác động của vi khuẩn và Heterakis Khoảng 5 - 6 ngày sau khi nhiễm bệnh, số lượng H meleagridis có thể nhìn thấy như một rào chắn nằm
sâu trong các lớp biểu bì niêm mạc manh tràng Một số lượng lớn tế bào bạch huyết và đại thực bào xâm nhập qua các mô trong khoảng thời gian này Hình thành lõi trong ống ruột, lõi bao gồm các tế bào biểu mô đã bị phá hủy, tơ huyết, hồng cầu và bạch cầu Lõi ban đầu không có hình dạng nhất định và màu đỏ nhẹ, sau 12 ngày chuyển sang khô, hơi vàng ở lớp vỏ của phần lõi Các chất hoại tử đông lại và sự xâm chiếm mô mở rộng Khoảng 17 - 21 ngày mô ruột đã bị phá hủy hoàn toàn Tổn thương sớm nhất ở gan thấy ở 6 - 7 ngày sau khi nhiễm, bao gồm các tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân
Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị đầu đen có hiệu quả cao
Trang 38Springer W T và cs (1970) [63] cho biết, vi khuẩn tạo điều kiện cho H
meleagridis gây bệnh ở gà và gà tây, do đó có thể dùng kháng sinh để kiểm
soát bệnh đầu đen ở gà Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các vi khuẩn
Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Streptococcus và Clostridium perfringens đã cung cấp các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của đơn bào Histomonas Ở gà tây, sự tương tác của vi khuẩn và H meleagridis ít phức tạp
hơn, chỉ cần tác động của một mình vi khuẩn E coli cũng đủ để hỗ trợ sự tiến
triển của bệnh đầu đen (Bradley R E và Reid W M., 1966 [19])
Mc Dougald L R và Hu J., 2010 [52] đã thử nghiệm thuốc hỗ trợ điều trị bệnh đầu đen cho gà Tác giả cho biết, khi điều trị cho gà bệnh bằng apramycin 300 ppm thấy tổn thương gan giảm đáng kể nhưng tổn thương manh tràng và tăng trọng của gà không đươc cải thiện Các kháng sinh (penicillin, chlortetracycline, tylosin, hoặc sarafloxacin) không có hiệu quả trong việc giảm tổn thương ở gan hoặc manh tràng gà mắc bệnh đầu đen Tuy nhiên, penicillin, tylosin và sarafloxacivafcos tác dụng tốt trong việc cải thiện
tăng trọng của gà bệnh Các thuốc có hiệu quả cao đối với E tenella có thể hỗ trợ trong phòng chống dịch bệnh đầu đen vì E tenella và H meleagridis có sự
tương tác hiệp đồng rất lớn Diclazuril đã được thử nghiệm có tác dụng rất tốt
trong điều trị bệnh cầu trùng do E tenella (Mc Dougald L R và cs., 1990
[55]) Sau điều trị, tác giả không tìm thấy bất kỳ ocyte cầu trùng nào trong gà bệnh Nicarbazin cũng có hiệu quả cao để điều trị bệnh cầu trùng Tuy nhiên,
cơ chế tác động của Nicarbazin với những tác động hiệp đồng của cầu trùng trong bệnh đầu đen ở gà vẫn chưa rõ ràng
Thí nghiệm của De Gussem M và De Gussem J (2006) [25]: trộn paromomycin vào thức ăn cho gà tây từ lúc 1 ngày tuổi đến kết thúc thí nghiệm với các nồng độ 100 - 400 ppm Gây nhiễm cho gà tây 16 ngày tuổi
700.000 H meleagridis/2 lần gây nhiễm, cách nhau 15 phút Tỷ lệ chết do
Trang 39Histomonosis (với các tổn thương bệnh lý) xảy ra từ ngày thứ 6 sau gây nhễm
Hầu hết gà chết từ ngày thứ 11 - 17 sau gây nhiễm với tổn thương điển hình ở gan và manh tràng (những nhóm không được bổ sung paromomycin) Riêng với các nhóm được bổ sung paromomycin, tỷ lệ chết, tổn thương gan và manh
tràng giảm đáng kể Với nhóm gây nhiễm nặng nhất (700.000 H
meleagridis/gà), tỷ lệ chết đã giảm từ 97,5% (trong nhóm gây nhiễm nhưng
không được dùng thuốc) đến 10% ở nhóm được dùng thuốc với liều cao Tác giả kết luận rằng, paromomycin có hiệu quả tốt trong việc phòng chống
Histomonosis cho gà tây
Bleyen N và cs (2009) [18] cũng đã nghiên cứu và cho biết, paromomycin
rất có hiệu quả đối với phòng Histomonosis và có ảnh hưởng tốt tới tăng trọng
của gà tây
Liebhart D và cs (2013) [45] cho biết, đàn gà mái đã được tiêm phòng
Histomonosis thì sau 2 đến 4 tuần tiếp xúc với mầm bệnh, sản lượng trứng sụt
giảm còn 90%, trong khi đó đàn gà không được tiêm phòng sản lượng trứng giảm chỉ còn 58,7%
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà Lương Phượng, Ai Cập, Ross 308
- Bệnh đầu đen do H meleagridis gây ra
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Gà thuộc 3 giống (Lương Phượng, Ai Cập, Ros 308): mổ khám, xét
nghiệm đơn bào H meleagridis
- Mẫu bệnh phẩm (gan, manh tràng, lách, tụy, não, thận, phổi, tim) của
gà bị mắc bệnh đầu đen và gà khỏe
- Mẫu máu của gà mắc bệnh
* Hoá chất nghiên cứu:
- Thuốc nhuộm Hematoxilin - Eosin