Trong khi làm vị ngữ, tính từ có quan hệ với thời gian và tiếp nhận các tiêu chí ngữ pháp của động từ, trước hết là các từ chỉ tổ thời thể đã, sẽ, từng, còn, chưa… Do cách thức phản ánh
Trang 1PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ TÍNH TỪ
1, Khái niệm tính từ:
a, Quan niệm về tính từ của một số tác giả:
Dân gian ta có câu: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” Thật vậy, có rất nhiều vấn đề về ngữ pháp mà các nhà nghiên cứu lịch đại và đương đại đã, đang vẫn còn tranh cãi Riêng về vấn đề hiểu thế nào là tính từ, bản thân từ loại cũng như chức vụ ngữ pháp của nó hiện vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau Dưới đây người viết xin nêu lại một số quan niệm về tính từ của các nhà ngôn ngữ học hàng đầu Việt Nam để cùng đối chiếu, so sánh
Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (Tập 1 – NXBGD – 1998) đã nêu : “Lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình) chính là tính từ Ý nghĩa đặc trưng được biểu hiện trong tính
từ thường có tính chất đối lập phân cực (thành cặp trái nghĩa) hoặc có tính chất mức độ (so sánh và miêu tả theo thang độ)”
Như vậy, ta thấy công trình nghiên cứu “Ngữ pháp Tiếng Việt” của hai nhà ngôn ngữ học Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung đã đề cập đến quan niệm lớp từ nào chỉ ý nghĩa đặc trưng thì đó là tính từ
Trong quyển “Nghiên cứu về Ngữ pháp tiếng Việt” (tập 1), Nguyễn Kim Thản lại cho rằng : “Tính từ là từ loại chỉ tính chất của sự vật”
Còn quyển “Giáo trình tiếng Việt” do Bùi Tất Tươm chủ biên lại nêu: “Tính từ
là từ loại cơ bản, tính từ có vị trí quan trọng sau danh từ và động từ Tính từ tiếng Việt
có những đặc điểm ngữ pháp rất giống với động từ, vì vậy có thể xếp tính từ và đồng từ vào cùng một phạm trù từ loại lớn là vị từ Tuy nhiên, tính từ vẫn có những đặc trưng
về ý nghĩa và ngữ pháp” Theo cách định nghĩa của Bùi Tất Tươm, ta thấy rằng tính từ
là loại từ cơ bản nằm ở lớp vị từ nhưng có ý nghĩa và ngữ pháp đặc trưng
Ngoài ra, “Giáo trình tiếng Việt” (tập 1) của BGD – ĐT do Trịnh Mạnh và Nguyễn Huy Đàn biên soạn cũng nêu một cách hiểu khác về tính từ như sau: “Tính từ
là từ loại chỉ tính chất: tính chất của người, vật
b, Khái niệm tính từ được rút ra từ những quan niệm về tính từ
Khảo sát các quan niệm về tính từ của các nhà ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu đã nêu trên, ta thấy mỗi người đều có một cách tiếp cận từ những góc độ, phương diện khác nhau của từ loại tính từ Nhưng chung quy, chúng ta có thể rút ra một cách hiểu đơn giản về tính từ như sau: Tính là từ loại cơ bản chỉ tính chất của người, sự vật và tính từ có ý nghĩa và ngữ pháp đặc trưng
2, Đặc điểm của tính từ
Ta biết tính từ là từ loại thuộc hệ thống thực từ, giống như danh từ và động từ Chính vì vậy tính từ có thể đảm nhận các chức vụ ngữ pháp ở trong câu (thành phần
Trang 2Tính từ có ý nghĩa đặc trưng cho nên chính cái ý nghĩa này đã quy định chức vụ nào trong chùm chức năng của tính từ sẽ nổi bật lên Trong tiếng Việt, tính từ đảm nhiệm hai chức năng chính đó là vị ngữ và định ngữ
- Trước hết ta bàn đến chức vụ vị ngữ của tính từ:
Tính từ làm chức năng vị ngữ trong câu cũng chỉ những đặc trưng của chủ thể Ta thấy tính từ trong hệ thống ngôn ngữ Châu Âu không làm vị ngữ trực tiếp Còn trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta, tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp Do danh từ
ít giữ chức năng vị ngữ hơn so với động từ và tính từ nên tính từ có sự gần gũi động từ hơn danh từ, tính từ trực tiếp làm vị ngữ giống như động từ
Ví dụ: Cô ấy rất dễ thương
Trong khi làm vị ngữ, tính từ có quan hệ với thời gian và tiếp nhận các tiêu chí ngữ pháp của động từ, trước hết là các từ chỉ tổ thời thể (đã, sẽ, từng, còn, chưa…) Do cách thức phản ánh của người bản ngữ, một đặc trưng trong quan hệ thông báo có thể hình dung như một trạng thái, xa hơn, cái trạng thái đó có thể hoạt động và gây ra tác động đối với những đối tượng nhất định Đó là lí do về mặt ngữ nghĩa của việc hình thành các hiện tượng gọi là “bổ ngữ của tính từ” trong tiếng Việt
Trang 3Việc phân loại tính từ ít phức tạp hơn so với danh từ và động từ Nhưng do tiêu chuẩn được vận dụng để phân loại chưa đủ sức bao quát nên ranh giới giữa các lớp con trong tính từ khó xác định được rõ ràng, dứt khoát
Ta có thể vạch ra một số thế đối lập trong khi phân loại tính từ như sau: (Dựa theo cách phân loại của
3.1 Tính từ chỉ tính chất chưa hàm nghĩa mức độ và tính từ chỉ tính chất đã hàm nghĩa mức độ:
- Tính từ chỉ tính chất chưa hàm nghĩa mức độ luôn luôn có khả năng kết hợp với từ chỉ mức độ để thực hiện hóa ý nghĩa mức độ của tính chất khi cần thiết Loại tính từ này có số lượng nhiều nhất, nó tiêu biểu cho tính từ tiếng Việt
Ví dụ: Tốt, xấu, vuông, tròn, hẹp, rộng, nhiều, ít, chênh vênh,…
- Tính từ chỉ tính chất đã hàm nghĩa mức độ không có khả năng kết hợp với từ chỉ mức độ Loại từ này có số lượng ít
Ví dụ: xanh lè, trằng toát,…
3.2 Tính từ trừu tượng và tính từ cụ thể
- Tính từ trừu tượng chỉ tính chất không thể xác định về lượng một cách cụ thể
Ví dụ: Tốt, xấu, chăm, lười, giàu, nghèo, xanh,…
- Tính từ cụ thể chỉ tính chất có thể xác định về lượng
Ví dụ: Dài, ngắn, rộng, hẹp, cao, thấp,…
3.3 Tính từ chỉ phẩm chất và tính từ chỉ lượng, màu sắc, hình thể, cách thức
- Tính từ phẩm chất là tính từ chỉ những tính chất có giá trị về chất của sự vật, hoạt động, trạng thái
Ví dụ: Dũng cảm, hèn nhát, giỏi, dốt nát, xấu, đẹp, hiền, dữ, khó khăn, gian khổ,…
Loại này có đầy đủ các đặc điểm hoạt động cú pháp của tính từ Một số tính từ chỉ phẩm chất con người có khả năng kết hợp với từ chỉ mệnh lệnh
Ví dụ: Hãy trung thực trong tình bạn
Một số tính từ chỉ tính chất trừu tượng như “công”, “tư”, “độc nhất”, v.v…cũng được xếp vào loại này
Trang 4Thong thả bước/ bước thong thả
Tính từ cách thức bao gồm một số từ láy có giá trị miêu tả rất cao
Trang 5CHƯƠNG II: TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1 Vài nét về văn học dân gian Đồng bằng sông cửu long
1.1 Nội dung và nghệ thuật văn học dân gian ĐBSCL
Văn học dân gian được xem như là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học
dân tộc Và văn học dân gian ĐBSCL đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc
làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam Nhờ đọc qua những tác phẩm ca dao
dân ca của vùng đồng bằng sông nước mà ta hiểu được tâm tư tình cảm, những khát
vọng mà con người nơi đây luôn ấp ủ Luận văn lấy văn học dân gian ĐBSCL làm đối
tượng khảo sát nên ta sẽ điểm qua một vài nét sơ lược về nội dung cũng như nghệ thuật
của những tác phẩm Văn học Dân gian Đồng bằng sông cửu long
Về nội dung, như chúng ta đã biết, Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu
Long , “phản ánh đời sống của một bộ phận cư dân vốn có một quá khứ tinh thần trong
lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời Tuy vậy, văn mạch phía Nam đã hình thành và
phát triển như một nhánh của dòng hợp lưu với một thực tế có cơ sở, lịch sử, xã hội và
văn hóa của nó như đã nói ở trên” Ở đây, ta xét những nét đặc trưng riêng của văn học
vùng đồng bằng châu thổ trong quan hệ với cái chung của nền Văn học Dân gian Việt
Nam
Trước hết, khi tiếp cận với những tác phẩm Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông
Cửu Long ta thấy hiện lên trước mắt ta là một khung cảnh hoang sơ, hoang vu đầy bí
hiểm Với lịch sử khai phá mảnh đất mới này khoảng 300 năm, ta hiểu mảnh đất này
trước đây âm u cô tịch đến chừng nào Nếu ai đã từng đọc quyển “Ca dao – Dân ca
Nam Bộ” do Bảo Định Giang (chủ biên) sẽ khó lòng quên được câu ca dao nói về sự
hoang sơ của vùng đất cực Nam cuối trời Tổ quốc này:
“Xuống sông sấu lội, lên rừng cọp um”
Hay
“Đĩa lội lền như bánh canh”
Đồng thời, qua đó ta thấy được công lao của những con người buổi đầu đi khai
phá gian nan khổ cực biết chừng nào Từ một vùng đất âm u rừng thiêng nước độc, đi
đâu cũng có thể gặp thú dữ hay những bất trắc hiểm nguy của chốn sơn lâm, ông cha ta
là những con người có cuộc đời không bằng phẳng đã sẵn sàng xông pha vào đây để
gây dựng mảnh đất này Họ đã để lại trên từng tấc đất quê hương thứ hai của họ mồ
hôi, nước mắt và thậm chí là cả máu Đoạn trường gian khổ biết bao nhiêu
Cùng với vẻ hoang vu u tịch là mặt thứ nhất của thiên nhiên vùng đất mới thì
mặt thứ hai chính là sự giàu có, phong phú vô cùng về tài nguyên sản vật của nó
Không đâu giàu có trù phú bằng mảnh đất châu thổ này Chúng ta nếu ai đã từng được
sinh ra ở miệt đồng bằng sông Cửu Long thì thuở nhỏ ít nhất 1 lần sẽ được nghe ông bà
kể lại sự giàu có vô cùng tận của quê hương Chỉ cần giăng một mảnh lưới dưới sông
thì đã có thể nuôi sống con người cả một ngày Con người sau bao tháng ngày vất vả
khổ cực trên bước đường khai phá, giai đoạn sau chỉ còn sống hòa vào thiên nhiên,
hưởng một cuộc đời thanh nhàn no ấm Quanh năm mưa thuận gió hòa, hai dòng sông
Trang 6khác làm sao có được Cái giàu, cái đẹp, cái trù phú của thiên nhiên nơi đây là như vậy!
Và thực tế cuộc sống của người dân miệt ruộng vườn sông nước nơi đây đã đi thẳng vào những tác phẩm Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long, phác thảo nên một bức tranh thiên nhiên miệt đồng bằng xanh tươi và ấm áp tình đời
Nói đến Đồng Bằng Sông Cửu Long là nói đến mạng lưới kênh rạch chằng chịt Điều này đã được ghi rõ ràng trong những bộ sách địa lí nói về đặc điểm từng vùng của đất nước Việt Nam Tuy nhiên, người viết muốn đề cập đến một mặt khác của hệ thống sông ngòi chằng chịt đó Đó chính là ảnh hưởng của điều kiện địa lí tự nhiên đến sự ra đời của những tác phẩm văn học dân gian “Môi trường sông nước” đã dẫn đến một nền “văn minh kênh rạch”, “văn minh miệt vườn” In lại dấu ấn khá rõ trong những tác phẩm truyền miệng, truyền khẩu Những câu hò trên sông vẫn còn được lưu truyền và vang vọng mãi cho đến ngày nay Bài vọng cổ “Tình anh bán chiếu” được bao người yêu mến khắc sâu vào lòng cũng là được hình thành theo chiếc xuồng con trôi trên dòng nước chảy Hay những câu hò đối đáp, những điệu lí hữu tình cũng xuất hiện và sống mãi cho tới ngày nay đã ra đời trong những đêm trăng thanh gió mát trên những cánh đồng vàng trĩu bông, bên những cối giã gạo sau ngày mùa Phong phú và đa dạng
vô cùng những hoàn cảnh làm nên sự ra đời của những tác phẩm văn học dân gian vùng sông nước…
Bên cạnh nội dung nói về sự hoang vu của vùng đất buổi đầu khai phá với rừng thiêng nước độc thú bầy cùng với sự trù phú, giàu có vô vàn của sản vật nơi đây, Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long còn đặc biệt đề cập đến một mảng đề tài đó
là tính cách con người Nam Bộ Như chúng ta đã biết cha ông tổ tiên của vùng đất Nam Bộ này chính là những lưu dân từ miền ngoài đi vào đây khai phá Xuất xứ của
họ có thể là những người không qui phục lề thói khuôn khổ hà khắc của triều đình; họ
có thể là những di dân từ Trung Quốc sang; hay họ cũng có thể là những con người ngang tàng đầu đội trời chân đạp đất muốn tìm đến một vùng đất mới để ghi dấu bước chân mình Từ những nguồn gốc đó đã hình thành nên tính cách Nam Bộ với những nét phẩm chất nổi bật như tinh thần trọng nghĩa khinh tài, tính tình bộc trực thẳng thắn, nếp sống phóng khoáng và lòng hiếu khách rộng mở… Với những nét tính cách đó con người vùng đồng bằng châu thổ đã tự phác họa chân dung mình một cách vô cùng đẹp qua những tác phẩm văn học dân gian xứ sở
1.2 Số lượng công trình tác phẩm Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long
Hiện nay, chúng ta thấy đã có rất nhiều công trình sưu tập biên soạn về văn học dân gian Nam Bộ nói chung và Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng Trước hết đó là quyển “Ca dao – Dân ca Nam Bộ” với một số lượng lớn những vần ca dao dân ca trữ tình đậm chất quê hương Quan trọng không kém là quyển “Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long” do Khoa Ngữ văn trường Đại Học Cần Thơ biên soạn với một số thể loại cơ bản của Văn học Dân gian của 13 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long Ngoài ra, còn có “Truyện kể dân gian Nam Bộ” của Nguyễn Hữu
Trang 7Hiếu, “Nghìn năm bia miệng”, “Về Nam Bộ” của Huỳnh Ngọc Trảng, “Văn học Dân gian Tiền Giang”, “Văn học Dân Gian Bến Tre”, “Thơ văn Đồng Tháp”, “Ca dao Đồng Tháp Mười”…
Nói chung những công trình vừa kể trên chính là quá trình sưu tầm, biên soạn của các nhà nghiên cứu về lĩnh vực Văn học Dân gian Và những công trình này chủ yếu chú trọng đến từng thể loại Văn học Dân gian và có cả “vùng văn học rộng lớn” lẫn “vùng địa lí hẹp” Khi xem qua những tác phẩm ấy, ta đã phần nào thỏa mãn thị hiếu tìm hiểu về mảnh đất và con người cuối trời Tổ quốc Dừa vào các tiêu chí phân loại truyền thống, tư liệu Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long có 2 loại thể là
tự sự và trữ tình Về tự sự, đáng chú ý là những truyền thuyết lịch sử, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn Tác phẩm vè, tục ngữ, câu đối thuộc nhóm thể loại văn vần tự sự cũng góp mặt trong mảng loại thể này Loại trữ tình thì có ca dao – dân
ca
Dựa theo nguồn tư liệu là quyển “Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long” của quí Thầy Cô Khoa Ngữ văn Trường ĐHCT sưu tầm biên soạn, ta có một số liệu thống kê sau:
- Về văn xuôi:
+ Truyện địa danh và sản vật địa phương : 12 truyện
+ Truyện về loài vật: gồm 20 truyện
+ Truyện liên quan đến lịch sử và văn hóa: gồm 18 truyện
+ Truyện sinh hoạt: 33 truyện
+ Truyện ông Ó: gồm 7 truyện
+ Bác Ba Phi: 8 truyện
- Về văn vần: có một số lượng vô cùng lớn tục ngữ, ca dao
+ Vè: có vè về loài vật, đồ vật, thế sự dân ca, lịch sử gồm 40 bài Các thể loại văn vần dân gian gồm: tục ngữ, câu đố, vè, ca dao, dân ca Số lượng tục ngữ sưu tầm biên soạn được ở vùng này không nhiều nhưng chúng có một nội dung vô cùng phong phú và khi khảo sát qua những vần tục ngữ miệt đồng bằng sông nước, ta thấy chúng cũng phản ánh những nhận thức, những kinh nghiệm của con người trong mối quan hẹ tương tác với môi trường tự nhiên và mối quan hệ giữa người và người Đó là những bài học bổ ích về cách ứng xử trong những mối quan hệ xã hội, những nhận thức về vũ trụ, nhân sinh mang tính triết lí sâu xa…
Khảo sát Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long, ta đặc biệt thích thú với mảng câu đố Câu đố thường hướng về các hiện tượng vũ trụ, câu đố về thực vật, động vật, con người và hoạt động con người, đồ vật…giúp chúng ta bước vào một thế giới thực sinh động phong phú của vùng đất đồng bằng châu thổ
“Nếu trong tư liệu tục ngữ, câu đố sưu tầm được ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
có những tác phẩm từng được lưu truyền ở Đồng Bằng Bắc Bộ và Trung Bộ thì ngược lại hầu hết các bài vè đều là những sản phẩm của chính vùng đất này Viêc phát hiện và ghi chép lại những tác phẩm vè được sinh ra ở đây có phần đơn giản, do tính địa phương của thể loại vè rất cao
Tư liệu vè ĐBSCL: Loài vật; Thế sự; Lịch sử
Trang 8Long
Thuật ngữ ca dao – dân ca đã được các nhà nghiên cứu Văn học Dân gian tách
ra để chỉ hai đối tượng tuy có mối quan hệ gần gũi nhưng vẫn có nét khác biệt Riêng đối với Đồng Bằng Sông Cửu Long, đối tượng mà chúng ta đang bàn bạc được nhân dân gọi bằng tên gọi khác: đó là hò, hát và lí
Chính những thể loại này làm nên cái riêng đặc sắc của Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long
1.3 Ngôn ngữ trong Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long
Xem xét các tác phẩm Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long ta thấy tác giả dân gian sử dụng khối lượng lớn các phương ngữ Nam Bộ, ta bắt gặp từng lời ăn tiếng nói của con người Nam Bộ chân chất hiền lành bộc trực phóng khoáng trong ca dao dân ca, tục ngữ, câu đố, vè,… Chẳng hạn, như các từ: Hun (hôn), chưn (chân), qua (đại từ ngôi thứ nhất), bậu (đại từ ngôi thứ hai), biểu (bảo),…
Chính yếu tố phương ngữ là một đặc điểm nghệ thuật dễ nhận thấy của ca dao dân ca Đồng Bằng Sông Cửu Long Nó làm nên nét đặc trưng của mảng tác phẩm đậm sắc màu vùng sông nước Những địa danh cụ thể của vùng đất đồng bằng châu thổ đã
từ ngoài đời bước thẳng vào thơ như sông Tam Giang, Vàm Cỏ…làm cho những tác phẩm văn học dân gian thêm đậm sắc thái địa phương
Bên cạnh hình ảnh sông nước, ca dao dân ca Đồng Bằng Sông Cửu Long còn gây được xúc cảm nhờ vào những hình ảnh gắn với miệt vườn như khổ qua, trái bần, trái mù u,…
Bên cạnh hệ thống chữ mở đầu truyền thống, còn có “nước sông”, “mảng coi”,
“hai đứa mình”,…và hệ thống câu mở đầu riêng:
“Mù u bông trắng, lá quấn nhụy quỳnh…”
Ngoài ra, còn 1 số đặc điểm khác về ngôn ngữ, ngôn ngữ gắn với chất xông xáo, táo bạo, ngôn ngữ đặc tả, ngôn ngữ của đời sống sinh hoạt,… Một số bài hát Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long có sử dụng từ Hán Việt và có sử dụng điển tích…
Như vậy, dựa trên cái nền chung của văn học dân gian dân tộc, Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long có những nét riêng đặc sắc nhờ vào cách sử dụng ngôn từ, lối diễn đạt giống như lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Nam Bộ làm cho những tác phẩm ấy càng dễ đi vào lòng người đọc, nuôi dưỡng những tâm hồn yêu thiên nhiên, khát khao tình người được mạnh lành, khỏe khoắn…
2 Tính từ chỉ màu sắc trong Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long
2.1 Thống kê phân loại
Với đề tài nghiên cứu về tính từ chỉ màu sắc trong Văn học Dân gian Đồng Bằng Sông Cửu Long, người viết tiến hành xem xét khảo sát chủ yếu ở các thể loại tục ngữ, câu đố và ca dao dân ca
Trang 9Theo nguồn tài liệu có được, thống kê khoảng trên dưới 300 câu có chứa tính từ, miêu tả màu sắc Cụ thể:
GHI CHÚ
Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua 165/7
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời
Trang 10DÒNG
Trai lỡ thời tại mẹ kén dâu
21 Trắng -Xanh Trong trắng ngoài xanh ở giữa đống chà 217/1
Trắng - đen Trong ruột thì trắng, da ngoài thì đen 217/5
Có năm cái cạnh ngó ngang lên trời
25 Xanh–Trắng Ngoài xanh trong trắng tựa như ngà 218/8
Khách tới nhà lấy dao cắt cổ
Một ông đầu đỏ chạy tuôn ra ngoài 218/15
28 Đỏ - Xanh Trái gì trong đỏ ngoài xanh
Ăn vỏ một miéng ngọt thanh như đường 219/2
Không dám nấu canh để dành ăn sống
Trang 11STT TÍNH TỪ
SỐ TRANG DÒNG
GHI CHÚ
31 Xanh – Xanh Cây xanh lá xanh non nấu canh già ăn
không được
219/10
Bông trên cành, trái dưới đất
Con ai trắng tựa như ngà
Đem ra mà tắm, giữa sông giang hà Tắm rồi phải cởi áo ra
Mình trắng như ngà đầu đội nón xanh
Lầm lì nằm dưới đáy sông
Áo ngoài xám xịt mà trong muôn màu
Suốt ngày chẳng biết đi đâu
Thè lè cái lưỡi trắng phau liếm bùn
224/13
Thác thì chịu thác chứ buông nàng không buông
224/14
Cái gì mãn kiếp làm anh họ trò
Trang 12DÒNG
49 Xanh – Vàng Đã có mai xanh lại yếm vàng
Ba quân khênh kiệu, kiệu nghinh ngang
226/10
51
Trắng
Năm thằng cầm hai cái sào
Đuổi đàn trâu trắng chạy vào trong hang 234/12
cái đầu đỏ chót
233/10
Chỉ một tiếng đùng tan nát thân em
58 Xanh -Trắng Ngoài xanh trong trắng trồng hành tỉa
đậu thả heo vô
240/13
60 Đen – Trắng Lưng đen như quạ, ruột trắng như bông
Lưng thắt cổ bồng, đít kêu bầu nước
Đâu vui thị tứ bằng xứ kinh cùng
Tràm xanh củi lục, anh hùng thiếu chi 317/10
Trang 13STT TÍNH TỪ
SỐ TRANG DÒNG
GHI CHÚ
68
Xanh
Hòa An phong cảnh mơ màng
Có vườn mận đẹp có làn nước xanh 318/12
69
Hường
Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
Thuốc rê Cao Lãnh thơm nồng
Con gái Cao Lãnh má hồng có duyên 320/10
73
Vàng
Muốn no thì phải chăm làm
Một hạt lúa vàng, chín giọt mồ hôi 324/4
324/10
Đen
Trắng da vì bởi má cưng Đen da tại bởi em lội bưng vớt bèo
325/8
78
Xanh
Anh cầm nhánh dứa
Lê ứa hai hàng
Hồi thuở xuân xanh sao không gặp
Để đến hoa tàn anh mới gặp em ?
Anh bắn con chim phụng hoàng bay lạc mũi tên
335/10
Trang 14DÒNG
Bạc
Từ ngày anh đau ban cua lưỡi trắng
Miệng đắng, cơm ôi Công em bồng đứng đỡ ngồi
Bây giờ anh ở bạc, ông trời nào để anh
336/6
336/8
Sao anh không bận bận hoài áo thun ?
337/11
88 Bạc – Vàng Bạc lộn với than như vàng lộn trấu
Bởi em thương thầm sao thấu tai anh ?
Bánh canh trắng con vắn con dài
Rau tần ô, cải diếp, liếp dọc liếp ngang
Trái dưa gang sọc vàng sọc trắng Trái khổ qua đắng trong trắng, ngoài xanh
Anh thương em đắp lũy bồi thành
Bậu ra ngắm bóng bậu coi
Hường nhan chi bậu mà đòi cửa cao 344/8
Trang 15STT TÍNH TỪ
SỐ TRANG DÒNG
GHI CHÚ
Bình tích thủy đựng bông hoa lí
Chén chung vàng đựng nhụy bông ngâu 348/4
Lại đây hết nghĩa tình thương cho rồi
349/8
102
Bạc
Bởi đứt dây nên gỗ mới chìm
Bởi em ở bạc nên anh mới tìm nơi xa 349/12
Bước vô nhà ngói nhỏ
Thấy đôi liễn đỏ Chữ thọ phết vàng
Thấy em mê bạc trong lòng hết thương 353/2
Thấy chiếu thấy gối không thấy anh nằm Phải chi em hóa đặng con tầm
Ban ngày ăn lá, tối về nằm với anh
353/6
109 Trắng Cá trê trắng nấu với rau cần
Muốn về kinh xáng cho gần với em
353/15
110 Vàng Cái nón nhỏ nan, quai vàng chí ngực
Em ham chi chỗ giàu cho cực tấm thân
Trang 16Từ khi anh xa cách bạn vàng Tâm can rũ rượi như phượng hoàng bị tên
362/1
116 Hồng Tôi kiện ông tơ hồng, tôi kiện bà nguyệt lão
Se dây rồi sao tháo lộn trở ra
Không phải căn duyên thì nhà ngói đỏ, bộ
ngựa gõ dài, anh cũng không ham
Chớ không phải thấy em bịt răng vàng mà
Nó kêu thục nữ ngoái lại cho quân tử nhìn Phải duyên quân tử kết, phải tình quân tử thương
373/2
Trang 17STT TÍNH TỪ
SỐ TRANG DÒNG
GHI CHÚ
127 Trắng Cục thủy tinh nằm trên hòn đá trắng
Năm bảy bữa rày sao vắng tiếng em ?
377/9
Ruột chưa đau mấy bằng lời em than
Dầu sanh dầu tử một mình nàng mà thôi
Ngó lên trời thấy mây trắng trời xanh
Thương ai cũng vậy thương anh cho rồi
Chị hai ơi sao chị vội lấy chồng
Đêm nằm nghỉ tới, nước mắt hồng như tuôn
381/16 381/18
137 Xanh – Đỏ Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu Anh về học lấy chữ nhu Chín trăng em đợi, mười thu em chờ
382/1
139 Xanh – Xanh Đèn treo trong sáo xanh xanh
Sầu ai tui chết một canh ba bốn lần
382/10
Trang 18DÒNG
Thấy hai người ấy thì thầm với nhau
384/16
141
Vàng
Đó chê đây đây cũng lịch sự
Đó ăn mâm vàng, đây cũng ngự tòa sen 384/17
Ngọn lang giâm, ngọn mía cũng giâm
390/3
143
Bạc
Đứt dây nên ghe mới chìm
144
Trắng – Đen
Con quạ ăn dưa bắt con cò phơi nắng
Nghĩ chuyện đời: con cò trắng con quạ đen Con quạ mà biết nhuộm đen
Nó đâu có dám mon men tới cò
478/12 478/13
147
Đỏ - Đen
Một vũng nước trong, con cá vùng cũng đục
Dẫu đỏ như cục son Tàu, gần mực cũng đen 382/4
149
Xanh
Tới đây thì ở lại đây
Năm bảy người dành cho mủ dính tay
486/9
151
Đỏ
Thông ngôn kí lục bạc chục không màng
Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay
Trang 19STT TÍNH TỪ
SỐ TRANG DÒNG
GHI CHÚ
154 Đỏ - Vàng
Vàng
Em cầm đôi đũa nhỏ, em gắp hai lửa than
đỏ , bỏ vô lư vàng Than lửa tàn, lư vàng lạnh ngắt
Hai tay vịn cả hai cành
Trái chín thì hái, trái xanh thì chừa 407/10
157 Trắng Bột mì tinh xào với đường cát trắng
Khăn mùi xoa, tặng em cái trắng
Em tặng anh cái xanh
Về nhà phụ mẫu hỏi, em phải nói cho rành Tiền em cấy mướn, gởi chợ Châu Thành mua khăn
412/8
Khổ qua mắc nắng, khổ qua đèo Dẫu sanh, dẫu tử, dẫu nghèo em cũng ưng
414/13
162
Xanh
Kiểng sầu còn héo huống chi anh
Anh sầu nào kiểng có xanh bao giờ ? 417/12
Bây giờ em lớn lấy chồng bỏ anh
420/9
165
Vàng
Lên xe liếc thấy con phượng hoàng
Xuống xe liếc thấy con bạn vàng hồi hương 422/2