Công nghiệp nông thôn sẽ được phát triển trên cơ sở vừa chú trọng áp dụng đến việc tận dụng và hiện đại hóa công nghệ truyền thống: không chỉ từng bước đi vào cơ giới hóa, tự động hóa, t
Trang 1PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I:CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ
LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
1.1 ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TRONG LỊCH SỬ
1.1.1 Công nghiệp nông thôn
Ở nước ta, công nghiệp nông thôn mới được nghiên cứu từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX và đến hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VII (tháng 6-1993) thuật ngữ “công nghiệp nông thôn” đã được chính thức đưa vào văn kiện của Đảng
Hiện nay, phát triển công nghiệp nông thôn đã trở thành mối quan tâm chung của các nước đang phát triển trên thế giới và cả nước ta Nhưng do được tiếp cận nhiều gốc độ khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghiệp nông thôn, theo đó, mỗi nước có cách thức phát triển công nghiệp nông thôn riêng cho mình, và vì vậy, kết quả thu được giữa các nước cũng rất khác nhau Trên thực tế, các khái niệm công nghiệp nông thôn đã được đưa ra từ hai cách tiếp cận cơ bản sau:
Cách tiếp cận thứ nhất: công nghiệp nông thôn được nghiên cứu dưới giác
ngộ kinh tế ngành Tức là, đặt công nghiệp nông thôn phát triển theo chiều dọc của ngành kinh tế công nghiệp và theo đó công nghiệp nông thôn được xác định chỉ là một bộ phận của kinh tế công nghiệp với cách tiếp cận này, công nghiệp nông thôn được xem như là một tổng thể bao gồm nhiều bộ phận thuộc nhiều ngành công nghiệp khác nhau Do mỗi ngành công nghiệp có đặc điểm riêng, có mối quan hệ khép kín và kết cấu chặt chẽ cho nên mỗi bộ phận khác nhau của công nghiệp nông thôn và phát triển theo quy hoạch và kế hoạch riêng của từng ngành công nghiệp cụ thể
Cách tiếp cận thứ hai:công nghiệp nông thôn được tiếp cận dưới sự giác
ngộ kinh tế theo lãnh thổ Theo cách tiếp cận này, công nghiệp nông thôn được xem là một bộ phận của kinh tế lãnh thổ, gồm nhiều ngành công nghiệp khác
Trang 2nhau và được phát triển trong các mối quan hệ kinh tế - xã hội khép kín trên phạm vi địa bàn nông thôn nhất định, điều đó có nghĩ là, việc phát triển công nghiệp nông thôn phải xuất phát từ những nhu cầu cần thiết đối với phát triển kinh tế xã hội nông thôn và chỉ chủ yếu dựa vào các nguồn lực có sẵn tại địa phương Tuy nhiên, do xuất phát từ những khía cạnh khác nhau của kinh tế lãnh thổ nên cũng đã có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm công nghiệp nông thôn Cụ thể có mấy loại như sau:
Loại quan niệm thứ nhất: coi công nghiệp nông thôn là những cơ sở công
nghiệp đóng trên địa bàn nông thôn, trong đó bao gồm cả dịch vụ và thương mại, bất kẻ do ai quản lý Công nghiệp nông thôn đồng nghĩa với những ngành phi
công nghiệp Quan niệm này không thực tế vì: một là, có một số cơ sở công
nghiệp tuy đóng trên địa bàn nông thôn nhưng không gắn bó với sự phát triển của
nông nghiệp và nông thôn; hai là,dịch vụ, thương mại tuy có vai trò quan trọng
trong kết cấu kinh tế nông nghiệp nhưng không phải là những ngành sản xuất Do vậy, công nghiệp nông thôn không thể bao gồm tòan bộ những cơ sở công nghiệp đóng trên địa bàn nông thôn và cũng không thể bao gồm những ngành phi sản xuất
Loại quan niệm thứ hai: coi công nghiệp nông thôn là bộ phận công
nghiệp phục vụ nông thôn Quan niệm này quá rộng vì có quá nhiều xí nghiệp phục vụ nông thôn rất đắt lực nhưng lại đóng ở địa bàn thành phố
Lọai quan niệm thứ ba: coi công nghiệp nông thôn là bộ phận công nghiệp
của nông thôn do địa phương quản lý và chỉ bảo gồm tiểu thủ công nghiệp Quan niệm này quá hẹp, vì: các cơ sở công nghiệp đóng trên đại bàn nông thôn không
do địa phương quản lý, nhưng lại phát triển gắn bó với kinh tế - xã hội nông thôn, lại không được liệt vào công nghiệp nông thôn chỉ bao gồm tiểu, thủ công nghiệp thì không thể nào đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Tóm lại: công nghiệp nông thôn là một bộ phận của kết cấu ngành công nghiệp, đựợc điều hành và phát triển ở nông thôn, bao gồm các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tồn tại dưới nhiều hình thức, thuộc nhiều ngành
Trang 3khác nhau, nhưng gắn bó mật thiết với sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn do đại phương quản lý về mặt nhà nước
1.1.2 phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phát triển công nghiệp nông thôn là nhầm tạo lập những cơ sở vật chất -
kỹ thuật và những tiền đề kinh tế - xã hội dựa trên những thành tựu cách mạng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến và bảo quản nông sản,… để chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn trên địa bàn theo hướng cong nghiệp hóa, hiện đạim hóa
Phát triển công nghiệp nông thôn không chỉ đơn thuần là phát triển về số lượng cơ sở công nghiệp mà cò phải chú trọng đến viêc tạo ra một cơ cấu công nghiệp cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, lợi thế hiện
có trong nông thôn, đồng thời có dủ điều kiện tham gia vào quá trình hợp tác, phân công lao động trong và ngoài nước
Công nghiệp nông thôn sẽ được phát triển trên cơ sở vừa chú trọng áp dụng đến việc tận dụng và hiện đại hóa công nghệ truyền thống: không chỉ từng bước đi vào cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa mà còn kết hợp sử dụng đồng thời các thành tựu trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nhầm thích nghi với những biến đổi nhanh chống của thị trường, đảm bảo sản xuất kinh doanh đạt hiểu quả cao
Quá trình phát triển công nghiệp nông thôn không chỉ là quá trình phát triển lực lượng sản xuất mà còn là quá trình xác lập, cũng cố và phát triển quan
hệ sản xuất một cách phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Thực chất của vấn đề này là phát triển công nghiệp nông thôn trong tiến trình phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác tạo thành nền tảng cho sự phát triển mạnh mẻ của công nghiệp nông thôn Đó chính là huy động mọi tiềm lực kinh tế, khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện có trong các thành phần kinh tế vào phát triển công
Trang 4nghiệp nông thôn, nhầm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.1.3 Sự hình thành và phát triển của công nghiệp nông thôn trong lịch sử
1.1.3.1 sự hình thành công nghiệp nông thôn trong lịch sử phát triển kinh tế -
xã hội của thế giới
Công nông thôn là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân lao động xã hội ngay trên địa bàn nông thôn Tiền thân của công nghiệp mà trước hết
là công nghiệp nông thôn là những hoạt động thủ công của nông dân nhầm sản xuất ra những sản phẩm cần thiết, trước hết là công cụ sản xuất, và sau đó là các vật phẩm tiêu dùng khác để phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống cho bản thân
và gia đình họ Mặc dù là những hoạt động sản xuất phụ của nông dân nhưng do được chuyên môn hóa theo sự phân công nhất định nên năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng lên, số lượng sản phẩm làm ra không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng mà còn có dư thừa ngày càng nhiều để đem trao đổi lấy những sản phẩm tiêu dùng khác Việc trao đổi những sản phẩm thừa lúc đầu chỉ là ngẫu nhiên, nhưng dần dần nó trở thành hoạt động có ý thức, do đó các hoạt động sản xuất thủ công nghiệp ngày càng trở thành hoạt động sản xuất chủ yếu của một số thành viên trong gia đình nông dân
Kể từ khi ra đời của những công cụ bằng kim loại, đặc biệt là công cụ bằng sắt, con người đã có khả năng sản xuất được nhiều tư liệu hơn số tư liệu cần thiết cho sinh hoạt của họ, nhờ đó nền sản xuất nhằm để trao đổi mua bán từng bước
ra đời và phát triển, đồng thời các hoạt động thủ công nghiệp cũng dần dần tách khỏi nông nghiệp Ph Anghen đã viết: “của cải tăng lên nhanh chóng, nhưng với
tư cách là của cải của các nhân; Nghề dệt, chế tạo động cơ khí và những nghề thủ công khác càng tách khỏi nhau, đữ làm cho sản phẩm của chúng ngày càng nhiều
có nhiều loại và ngày càng thêm hoàn hảo về mặt nghệ thuật; Bây giờ, ngoài ngủ cốc các loại đồ hoa quả của nông nghiệp còn cung cấp cả dầu thực vật và rượu vang mà người ta học được cách làm Một hoạt động nhiều mặt như thế không thể chỉ cho một cá nhân tiến hành được nữa, sự phân công lớn thứ hai đã diễn ra: thủ công đã tách khỏi nông nghiệp vì nền sản xuất đã bị tách ra thành hai ngành chính nông nghiệp và thủ công nghiệp, nên đã ra đời nền sản xuất trực tiếp nhằm
Trang 5trao đổi đó là nền sản xuất hàng hóa” Kinh tế hàng hóa ra đời đã tạo động lực thúc đẩy các hoạt động sản xuất của những người thợ thủ công phát triển mạnh
mẻ, từ đó nhiều hộ nông dân đã trở thành hộ sản xuất thủ công nghiệp chuyên sản xuất một mặt hàng nhất định Chính vì vậy, “công nghiệp chế biến tách khỏi công nghiệp khai thác và mỗi ngành công nghiệp đó lại chia ra thành nhiều loại nhỏ và phân loại nhỏ, chính sản xuất ra dưới hình thức hàng hóa những sản phẩm đặc biệt và đem trao đổi với tất cả các ngành sản xuất khác” Điều này có nghĩa
là, một hệ thống kết cấu công nghiệp gồm nhiều ngành nghề sản xuất khác nhau trên các địa bàn nông thôn đã nhanh chóng hình thành và phát triển lớn mạnh ngay sau khi thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp Tuy nhiên, sự phát triển nhanh trong các ngành nghề sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho việc tiêu thụ sản phẩm cũng như việc cung ứng nguyên liệu ngày càng trở nên khó khăn Chính vì thế mà tầng lớp thương nhân ra đời với nhiệm vụ vhủ yếu là đảm nhận việc tiêu thụ sản phẩm và cung ứng nguyên liệu cho các hộ sản xuất thủ công nghiệp trên khắp các địa bàn nông thôn Sự phát triển mạnh mẻ của các hoạt động sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong kết cấu kinh tế xã hội nông thôn Nếu như trong nông thôn trước kia chỉ có trồng trọt và chăn nuôi thì bây giờ bao gồm cả thủ công nghiệp và dịch vụ, thương mại với tỷ trọng ngày càng lớn; Xã hội nông thôn không chỉ bao gồm những hộ nông dân mà còn có những hộ chủ công nghiệp và thương nghiệp nữa như vậy, sự ra đời của công nghiệp nông thôn là kết quả phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
1.1.3.2 Sự hình thành công nghiệp nông thôn trong tiến trình phát triển kinh tế
xã hội ở Việt Nam
Công nghiệp nông thôn ở nước ta cũng được hình thành trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trên địa bàn nông thôn, nhưng có đặc thù là: phát triển gắn liền với lịch sử phát triển làng xã, lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Nhiều ngành nghề như nghề làm gốm, nghề mộc, nghề dệt, nghề làm giấy, nấu rượu, làm nón, thủ công mỹ nghệ, trang sức….đã xuất hiện rất sớm và gắn liền với đời sống của nhân dân ta từ khi dựng nước đến nay
Trang 6Vào thời Pháp thuộc, do có sự xâm nhập hàng hóa từ nước ngoài vào, nên nhiều ngành nghề ở nước ta đã bị suy giảm Tuy nhiên vẫn còn một số ngành nghề tồn tại và phát triển đi lên được hơn nữa, một số ngành nghề mới đã xuất hiện để đáp ứng nhu cầu đa dạng về hàng tiêu dùng cho xã hội chính vì thế mà ngàng nghề ở nông thôn nước ta vẫn còn phát triển liên tục Theo tài liệu điều tra của học giả người Pháp P.Gourou, năm 1935, ở đồng bằng Bắc Bộ đã có 108 bghề thủ công khác nhau tập trung thành các làng nghề Ở Hà Bắc cũ, có hàng trăm làng nghề cổ truyền, tong đó có hơn 40 làng nghề có quy mô cả làng Ở tỉnh Hải Hưng cũ có 36 làng nghề thủ công quy mô cả xã
Trong thời kỳ bao cấp, các hoạt động sản xuất, tiể thủ công nghiệp ở các vùng nông thôn tuy chỉ xem là nghề phụ trong hợp tác xã nông nghiệp và ít được quan tâm đầu tư, nhưng nó vẫn tồn tại, phát triển và có vai trò lớn trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn Đến 1981, ở tinh Thái Bình, đã có 271 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp, sử dụng trên 40.000 lao động và đã đóng góp 45,83% giá trị tổng sản lượng toàn ngành tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Trong ba năm (1986-1988) các huyện trung du và đồng bằng thuộc tỉnh Hà Bắc
củ đã thu hút được 10.600 lao động vào các ngành nghề phi nông nghiệp trong nông thôn, gấp 6,3 lần số lao động được điều đi vùng kinh tế mới trong 8 năm (1979-1987) mà nhà nước không phải đầu tư gì cả Đến năm 1988, ở Hà Bắc đã
có tới 16 làng nghề có doanh thu lớn tới 18 tỷ đồng mỗi làng, đó là: Phong khê (sản xuất giấy), Đông xuất (sản xuất cày bừa), Đại Bái (sản xuất đồ đồng), Vân
Hà (sản xuất rượu), Đình Bảng (sản xuất đồ mộc)… thu nhập từ các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp ở các làng nghề vừa nêu đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của dư cư nông thôn và đã trở thành nguồn thu nhập chủ yếu
Dù đã trãi qua bao nhiêu thang trầm, sóng gió trong lịch sử, nhưng những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn nước ta vẫn luôn được duy trì và phát triển Nó vẫn là một phương tiện mưu sinh và là cơ sở trọng yếu để nâng cao đời sống của một bộ phận ngày càng lớn dân cư nông thôn Điều đó có nghiã là công nghiệp ở nông thôn nước ta là một thực thể luôn tồn tại Chính vì vậy, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VII của Đảng ta khẳng định:
Trang 7Phải phát triển công nghiệp nong thôn và xem đó là một nội dung quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nước ta
1.1.4 Đặc điểm của công nghiệp nông thôn
1.1.4.1 công nghiệp nông thôn luôn phát triển gắn bó với kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là sản xuất nông tnghiệp và ngành nghề truyền thống
Điều này được thể hiện rã trong tác động qua lại giữa nông nghiệp và công nghiệp trong tiến trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó mỗi bước chuyển của nông nghiệp từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hang hóa điều có tác dụng đẩy công nghiệp nông thôn phát triển vì: “Nông nghiệp ngày càng đi vào lưu thông hàng hóa thì dân cư nông thôn lại càng đòi hỏi những sản phẩm của ngành công nghiệp chế bíến cần thiết cho sự tiêu dùng cá nhân của
họ và yêu cầu về tư liệu sản xuất tăng lên”; hơn nữa nó còn đảm bảo về nguyên liệu, lương thực và cung cấp lao động để công nghiệp nông thôn phát triển ổn định, bền vững Ngược lại, mỗi bước phát triển của công nghiệp trên địa bàn nông thôn đã có tác dụng làm cho năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên nhanh chóng, nguồn lương thực, thực phẩm nuôi sống con người được sản xuất
ra ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao, chủng lọai cũng phong phú Mỗi bước phát triển giữa chất và lượng trong mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp cũng đồng thời là bước chuyển của nền kinh tế xã hội nông thôn từ kinh
tế hang hóa với năng suất chất lượng ngày càng cao, trong đó kinh tế công nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng lớn cả về mặt giá trị lẫn mặt lao động V.I.Lênin đã vạch rõ là: “tùy theo sự sụp đỗ của nền kinh tế tự nhiên mà các quá trình chế biến nguyên liệu lần lượt làm nảy ra nhiều ngành nghề riêng biệt; sự hình thành ra giai cấp tư sản nông nghiệp và giai cấp vô sản nông nghiệp đã làm tăng thêm nhu cầu về sản phẩm các nghề thủ công nhỏ của nông thôn và đồng thời cung cấp cho các nghề đó sức lao động tự do và tiền nhàn rỗi” Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, công nghiệp nông thôn đã là một bộ phận kinh tế quan trọng cấu thành nền kinh tế nông thôn
1.1.4.2 cộng nghiệp nông thôn thường mang nặng tính chất địa phương, có quy mô nhỏ và vừa, vốn ít, trang thiết bị lạc hậu, thiếu thong tin, tính cạnh tanh kém
Trang 8Công nghịêp nông thôn phát triển chủ yếu dựa vào nguồn nguyên liệu và lao động tại địa phương hoặc là dựa vào thế mạnh của địa phương về một trong hai yếu tố đó Bởi vì đây là ưu thế lớn nhất đảm baeo cho công nghiệp nông thôn tồn tại và phát triển được trong môi trương cạnh tranh ngày càng gay gắt với công nghiệp đô thị Chính vì sự ra đời và phát triển trên cơ sơ những thế mạnh có tính đặt thù của từng địa phương cụ thể nên các ngành nghề của công nghiệp nông thôn thường được mang tính chất địa phương Công nghiệp nông thôn bao gồm những cơ sở công nghiệp nhỏ và vừa, nhưng lại không hòan tòan giống với những cơ sở công nghiệp nhỏ và vừa ở đô thị Tuy nhiên, do đóng ở nông thôn nên công nghiệp nông thôn thường ít có điều kiện tiếp cận hệ thống dịch vụ, tư vấn, thong tin, khoa học, kỹ thuật thương mại,…hiện có, cho nên họat động của các cơ sở công nghiệp nông thôn thường kém linh họat và kém hiệu quả hơn so với các cơ sở công nghiệp nhỏ và vừa ở đô thị
1.1.4.3 Công nghiệp nông thôn có sự phát triển phong phú và đa dạng về ngành nghề, sản phẩm, hình thức tổ chức và vị trí địa lí
Công nghịêp nông thôn đã được biểu hiện dưới hình thức tổ chức sản xuất như: sản xuất vật liệu xây dựng, thủ công mỹ nghệ, sản xuất theo hộ gia đình, các lọai xí nghiệp,… Tùy theo sự phát triển về kết cấu hạ tầng mà các cơ sở về công nghiệp nông thôn có thể ra đời và phát triển tập trung ở các thị trấn, thị tứ hoặc ở các làng quê tạo thành nhiều cụm công nghiệp tổng hợp hay các làng nghề ngay trên các địa phương nông thôn hoặc được phân bố rộng rãi trên các địa bàn
1.1.5 Những điều kiện cơ bản của sự hình thành và phát triển của công nghiệp nông thôn
Đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trên các địa bàn nông thôn phát triển đến mức độ nhất định Bên cạnh đó sản xuất
tự cấp, tự túc trên địa bàn nông thôn được thay thế bằng sản xuất hàng hóa và sản phẩm hàng hóa trở thành mục tiêu, động lực chính đối với họat động sản xuất của đông dân cư nông thôn Ngòai ra, sự ra đời của công nghiệp nông thôn còn do có
sự tác động mạnh mẽ từ phía Nhà Nước Vì vậy, công nghiệp trên các địa bàn nông thôn mới ra đời và phát triển với tư cách là ngành sản xuất độc lập và trơ thành một bộ phận trong kết cấu kinh tế- -xã hội nông thôn
Trang 91.2 SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở MỘT SỐ NƯỚC, VÙNG LÃNH THỔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CÓ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.2.1 những mô hình phát triển công nghiệp nông thôn ở một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới
Công nghiệp nông thôn ở nước ta và vùng lãnh thổ trên thế giới cũng có đầy đủ những đặc điểm về cơ sở vật chất trang thiết bị,… Tuy nhiên, trình độ phát triển cao hay thấp, quy mô phát triển đến đâu,….là tùy thuộc vào điều kiện của mỗi nước và vùng lãnh thổ
1.2.1.1 Mô hình phát triển công nghiệp nông thôn theo kiểu phân bố lại ngành công nghiệp chung vào cả địa bàn nông thôn nhầm giảm áp lực về các vấn đề xã hội ở các đô thị lớn
Điển hình của mô hình này là Hàn Quốc mô hình nay được thực hiện dựa trên xem quan điểm công nghiệp nông thôn là một bộ phận của ngành công nghiệp và nó chỉ được triển khai khi sự phát triển ở các đô thị đã ở mức quá tải, đồng thời sự đối lập giữa thành thị và nông thôn cũng đẫ đến mức gay gắt Trên thực tế thì đây chỉ là biện pháp nhầm khắc phục hậu quả của công nghiệp hóa theo kiểu cổ điển mà các nước phương Tây đã đi qua Lực lượng xây dựng công nghiệp nông thôn theo mô hình này chủ yếu do các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm đảm nhận
Phát triển công nghiệp nông thôn theo mô hình này có những ưu điểm và nhược điểm sau:
Về ưu điểm:
Có thể phát triển những xí nghiệp có công suất máy móc thiết bị lớn, hiện đại ngay trên địa bàn nông thôn Bởi vì trước khi xây dựng xí nghiệp người ta đã xác định được thị trường đầu vào và đầu ra của sản phẩm một cách chắc chắn Hơn nữa những người đứng ra thành lập xí nghiệp thường là những doanh nghiệp
đã có nhiều kinh nghiệm và có vốn liếng
Về nhược điểm:
Tuy cơ cấu kinh tế nông thôn có sự chuyển dịch theo hướng tỷ lệ nông nghiệp giảm xuống, tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ tăng lên, nhưng sự chuyển dịch
Trang 10ấy do những tác động từ bên ngòai theo những động cơ lợi nhuận của các chủ doanh nghiệp Việc thành lập xí nghiệp ở nông thôn không phải bắt nguồn từ những yêu cầu phát triển gắn bó với những sản phẩm nông nghiệp nói riêng và với kinh tế xã hội nông thôn nói chung Thực chất đó chỉ là biện pháp nhằm khai thác nguồn lao động rẻ và nguồn tài nguyên sẵn có ở nông thôn để thu lợi nhuận tối đa mà thôi
1.2.1.2 phát triển công nghiệp nông thôn theo mô hình cơ cấu khép kín trên một địa bàn lãnh thổ
Điển hình của mô hình này là Trung Quốc Mô hình phát triển công nghiệp nông thôn này được hình thành theo quan điểm xem công nghiệp nông thôn chỉ đơn thuần là một bộ phận của kinh tế lãnh thổ
Phát triển công nghiệp nông thôn theo mô hình này có ưu điểm và nhược điểm sau:
Về ưu điểm:
Công nghiệp nông thôn có khả năng phát triển với nhiệp độ cao, tạo ra nhiều việc làm mới, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn, hạn chế việc di dân ra thành phố
Kích thích nông nghiệp phát triển mạnh để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp nông thôn
Thương nghiệp và dịch vụ cũng theo đó mà phát triển với tốc độ cao, thị trường nông nghiệp phát triển với quy mô ngày càng lớn
Đô thị hóa nông thôn sẽ được thực hiện với tốc độ ngày càng nhanh
Về nhược điểm:
Chính vì công nghiệp nông thôn có khả năng phát triển với tốc độ cao nên gây ra tình trạng căng thẳng về năng lượng, nguyên liệu, vốn, vật tư, máy móc, thiết bị,…
Cơ cấu công nghiệp nông thôn phát triển chưa cân đối, trùng lắp với cơ cấu công nghiệp ở đô thị, dẫn đến tình trạng sản xuất thừa không nơi tiêu thụ
1.2.1.3 Phát triển công nghiệp nông thôn theo kiểu hỗn hợp từ sự kết hợp hai
mô hình trên
Trang 11Hiện nay đã có nhiều nước và vùng lãnh thổ đang phát triển trên thế giới
đi vào phát triển công nghiệp nông thôn theo mô hình này, trong đó có Đài Loan
là nơi thực hiện sớm và đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhất
Một là: tạo ra ngày càng nhiều việc lạm mới ngay trên địa bàn nông thôn.Theo tính tóan tỷ lệ tăng việc làm ở khu vực nông thôn Đài Loan luôn luôn cao hơn so với khu vực thành thị Nhiều gia đình nông dân vừa làm nông nghiệp, vừa làm công nghiệp, hoặc hòan tòan họat động phi nông nghiệp nhưng không rời bỏ quê hương Điều đó một mặt làm giảm sức ép của dân số đối với ruộng đất
và mặt khác hạn chế đến mức tối đa việc nông dân roiừ bỏ nông thôn vào thành thị tìm kiếm việc làm
Hai là: có thể tăng them thu nhập cho dân cư nông thôn và cải thiện điều kiện sinh họat của họ, rút ngắn sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn
Ba là: tạo ra sự phát triển bền vững giữ công nghiệp và nông nghiệp trên địa bàn nông thôn
Tuy nhiên, mô hình này cũng có những khó khăn nhất định Để phát triển công nghiệp nông thôn theo mô hình này cần phải tập trung một nguồn vốn lớn
để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, trước hết là giao thông, điện, nước, thong tin liên lạc,…
1.2.2.những kinh nghiệm có ý nghĩa đối với phát triển công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long
Để kinh tế - xã hội nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long phát triển bền vững, thì việc phát triển công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long nhất thiết phải vừa bám chắc vào các mục tiêu kinh tế - xã hội trên mỗi địa bàn nông thôn, phải vừa phù hợp với mục tiêu phát triển công nghiệp của vùng lãnh thổ và của cả nước Đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay thì việc phát triển công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long lại càng phải bám sát việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước và của cả công nghiệp, nông thôn trong vùng bằng cách thúc đẩy nông – lâm – ngư nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long phát triển toàn diện, đồng thời tạo ra sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng nông nghiệp hàng hóa–công nghiệp – dịch vụ
Trang 12Để tạo ra sự phát triển bền vững cho công nghiệp nông thôn thì nhất thiết phải có định hướng cụ thể về thị trường tiêu thụ sản phẩm và trang bị công nghệ thích hợp kinh nghiệm phát triển công nghiệp nông thôn đã chỉ ra rằng, ở đâu công nghiệp nông thôn tìm được thị trường tiêu thụ ổn định thì ở đó công nghiệp nông thôn sẽ phát triển vững chắc và ở đâu công nghiệp nông thôn có trang bị phù hợp đáp ứng yêu cầu thị trường vè chất lượng, thẩm mỹ, giá cả hàng hóa thì
ở đó hoạt động của công nghiệp nông thôn đạt hiệu quả cao Muốn vậy, đồng bằng sông Cửu Long phải có hệ thống tư vấn, dịch vụ cùng với những biện pháp thiết thực để hộ trợ cho sự ra đời và phát triển của công nghiệp nông thôn
Để công nghiệp nông thôn ra đời và phát triển mạnh mẽ, đồng bằng sông Cửu Long cần huy động, sử dụng từ nhiều nguồn vố khác nhau để phát triển kết cấu hạ tầng, trước hết là giao thông, điện, nước và thông tin liên lạc Tuy nhiên trong điều kiện nguồn vốn có hạng và phải chung sống với lũ thì việc phát triển kết cấu hạ tầng ở đồng bằng sông Cửu Long cần tiến hành có trọng tâm, trọng điểm, trong đó nên ưu tiên trước hết những vùng có khối lượng nông sản hàng hóa lớn cần phát triển mạnh công nghiệp chế biến và những vùng nghèo khó nhất
Cần phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà Nước và đẩy mạnh cải cách về thể chế để tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho công nghiệp nông thôn phát triển
1.3 PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN LÀ MỘT BỨC THIẾT ĐỐI VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY
1.3.1 Phát triển công nghiệp nông thôn là giải pháp hữu hiệu giúp nông dân đồng bằng sông Cửu Long thoát khỏi đói nghèo vương lên văn minh hiện đại
Những năm qua, bằng nổ lực của mình, đồng bằng sông Cửu Long đã có bước phát triển đáng kể tạo ra 30% GDP cho cả nước và trên 1,3 tỷ USD xuất khẩu mỗi năm Trong đó, đóng góp lớn nhất của đồng bằng sông Cửu Long là sản xuất
ra 50% sản lượng lúa gạo của cả nước, chẳng những góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia mà còn xuất khẩu hơn 3 triệu tấn gạo/năm Về công nghiệp
Trang 13và tiểu thủ công nghiệp, với lực lượng lao động gần 30 vạn người, 8,5 vạn cơ sở sản xuất, vùng ĐBSCL đã tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn và đa dạng như: Điện thương phẩm, gạo, tôm cá đông lạnh, đường, rượu, bia nước giải khát, vải, quần áo may sẵn, vật liệu xây dựng, sản phẩm cơ khí nông nghiệp Những sản phẩm này không những cho tiêu dùng nội địa mà còn cho xuất khẩu; đồng thời
hỗ trợ có hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp, cho các hoạt động sản xuất kinh doanh khác, góp phần đắc lực cho việc nâng cao chất lượng của cuộc sống theo hướng hiện đại, văn minh
1.3.2 Phát triển công nghiệp nông thôn là “chìa khóa” đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long đã được triển khai từ rất sớm thông qua sự hợp tác giữa Nhá Nước và nông dân nhằm xây dựng cơ sở vật chất và trang bị máy móc, thiết bị, công cụ, hóa chất, phân bón, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới,…vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất, từ khâu chuẩn bị đến khâu thu hoạch, bảo quản, chế biến
Đến nay đồng bằng sông Cửu Long đã xây dựng được hệ thống thủy nông phục vụ tưới cho khoảng 95% diện tích lúa đông xuân, 90.4% diện tích lúa hè thu, 85,6% diện tích lúa mùa và chủ động tiêu úng trong muà lũ đã thực hiện cơ giới hóa dược khoảng 80% ở khâu làm đất (nhiều tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Kiêng Giang đã đạt trên 80%), 90 ở khâu ra hạt, các loại phân bón, thuốc trừ sâu, hóa chất tăng trưởng, giống mới,…cũng được nông dân áp dụng vào sản xuất
Viện lúa ĐBSCL đã nghiên cứu và triển khai vào sản xuất nhiều máy móc, công cụ phục vụ sản xuất Viện đã thiết kế và chế tạo máy bóc bẹ tách hạt bắp công suất 1,5 T hạt sạch/giờ; sau khi mua máy mẫu, một số cơ sở sản xuất tỉnh Đồng Nai đã tự sản xuất trên 50 chiếc theo đặt hàng của nông dân Trên cơ
sở kết quả nghiên cứu thí nghiệm nông học về sạ lúa theo hàng thay sạ lan mang
Trang 14lại nhiều lợi ích cho nông dân (so với sạ lan, 1 ha sạ hàng giảm được 1-1,5 tạ thóc giống, gần bằng tiền mua máy nếu dùng máy kéo tay, lại tăng năng suất 5-7
tạ thóc, giảm chuột phá, nuôi cá chóng lớn ), Viện cải tiến mẫu máy của IRRI
và đã sản xuất cung cấp hàng trăm máy cho các địa phương; có nơi tự sản xuất được máy như: Nông trường Sông Hậu Khi kỹ thuật sạ hàng được phổ cập thay dần phương pháp sạ lan (tập quán hiện đang thực hiện trên 3 triệu hecta gieo trồng ở ĐBSCL), nhu cầu về máy sạ hàng sẽ trở nên rất lớn, vì một ngày sạ bằng máy kéo tay được có 0,6-1,0 ha, sạ bằng máy tự hành được 2-3 ha
Tuy nhiên, do đồng bằng sông Cửu Long có những thuận lợi và khó khăn riêng nên việc phát triển công nghiệp nông thôn đòi hỏi phải có những nổ lực vượt bậc của mỗi địa phương với những bước đi thận trọng phù hợp với điều kiện cụ thể từng nơi, từng lúc Đồng thời cần phải có sự trợ giúp hữu hiệu về nhiều mặt của Nhà nước và các ngành các cấp
Trang 15CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – NGUYÊN
NHÂN VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN GIẢI QUYẾT
2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1.1 Đặc điểm về sự ra đời và phát triển công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long
Trong tổng thể phát triển công nghiệp Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, công nghiệp nông thôn đã dần trở thành một thực thể cấu thành nền kinh tế ở nông thôn nước ta Ở những vùng khác nhau có những đặc điểm khác nhau, trong đó có ba khu vực có tiềm năng lớn và có sự khác biệt tương đối đặc trưng là vùng đồng bsừng sông Hồng, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Sự khác biệt đó tồn tại cả về điểm xuất phát, về trình độ phát triển hiện nay cũng như về tốc độ phát triển, đổi mới và thẩm chí cả về xu hướng phát triển
Về động thái phát triển của công nghiệp nông thôn, trong thời gian từ năm 1986-1996, công nghiệp nông thôn có sự phát triển không liên tục Đến năm
1997, lực lượng lao động trong công nghiệp nông thôn chiếm 7,7% tổng số người
có việc làm thường xuyên ở nông thôn trong vùng, thấp hơn so với lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn đồng bằng sông Hồng là 0,03% và chỉ gần bằng ½ so với Đông Nam Bộ (15,49%), nhưng lại cao hơn so với mức trung bình cả nước là 0,84% Điều này cho thấy công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long chưa phát triển mạnh như đồng vùng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ
Công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ mới tập trung phát triển mạnh ở các thị trấn, thị tứ và ở những nơi khác thì lại kém phát triển hơn, mặc dù cũng có những thuận lợi về kết cấu hạ tầng nhưng đối với công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Hồng thì lại khác hẳn, nó vừa phát triển mạnh ở các thị trấn đồng thời cũng phát triển mạnh ngay trong các làng, đặc biệt
là ở những nơi có truyền thống về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 16Công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long ra đời và phát triển dưới sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường nên dù là sản xuất của hộ gia đình cũng được cơ giới hóa lao động ở mức đọ cần thiết Tính chất sản xuất hàng hóa của công nghiêp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long được thể hiện rõ tất
cả mọi hoạt động của các cơ sở đều hướng mạnh vào thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu do chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật thị trường Tuy vậy, vẫn có nhiều cơ sở công nghiệp nong thôn bước đầu làm ăn có hiệu quả, sản phẩm được thị trường tính nhiệm, đã thâm nhập vào thị trường của một số nước trên thế giới và đã trở thành tấm gương cho những cơ sở công nghiệp nông thôn khác
2.1.2 Thực trạng công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long
2.1.2.1 về cơ cấu ngành nghề sản xuất của công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long
Tình hình thực tế về cơ cấu ngành nghề sản xuất của công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long được thể hiện cụ thể qua sự vận động phát triển của từng nhóm ngành nghề như sau:
Nhóm ngành nghề chế biến nông, lâm, thủy, hải sản
Hướng hoạt động chủ yếu của công nghiệp nông thôn trong nhóm ngành nghề chế biến nông, lâm, thủy, hải sản ở đồng bằng sông Cửu Long những năm qua là đi vào chế biến lương thực, thực phẩm Do đó đã góp phần nâng cao tỷ trọng công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm trong giá trị tổng sản lượng công nghiệp cuat từng địa phương trong vùng lên từ 40%-60% Đó là hướng phát triển phù hợp với những tiềm năng thế mạnh cơ bản, lâu dài của vùng đồng bằng sông Cửu Long
Hiện nay, hoạt động chế biến lương thực, thực phẩm mạnh nhất ở nông tôn đồng bằng sông Cửu long chủ yếu là xay xác lúa gạo, kế đến là đông lạnh thủy, hải sản, sản xuất đường, ép dầu dừa, chế biến nước mắm và các loại tôm cá khô, một số loại rau quả đông lạnh, đóng hợp
Về xay xác lúa gạo:
Trang 17Xay xác lúa gạo đã trở thành một ngành sản xuất phát triển rộng khắp ở các vùng nông thôn và chiếm một tỷ trọng cao trong tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn hiện có ở đồng bằng sông Cửu Long Mỗi tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có hàng ngàn cơ sở xay sác lúa gạo với năng lực xay sác từ vài triệu tấn/năm trở lên Ví dụ như ở An Giang có khoảng 1.000 cơ sở xay xác có khả năng xay sác 2 triệu tấn/năm; còn số cơ sở xay xác lúa gạo trên địa bàn huyện của tỉnh Vĩnh Long hiện cũng chiếm đến 80,17% số cơ sở với 70,51% lực lượng lao động trong nhóm chế biến nông, lâm, thủy, hải sản
Đến năm 1997, toàn vùng có khả năng xay xác đạt khoảng 8 triệu tấn gạo/năm, chiếm 61,5% năng lực xay sác cả nước, trong đó quốc doanh 2 triệu tấn, số còn lại là của tư nhân
Hệ thống các cơ sở say xác lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long được phân chia làm hai nhóm rõ rệt: một nhóm chuyên gia trong xay xác lúa gạo cho các gia đình nông dân và cho các, thương lái (sản xuất ra gạo thô), được phân bổ rộng khắp từ những vùng ven đô thị cho đến những vùng sâu, vùng xa; một nhóm khác chuyên chế biến ra gạo thương phẩm để tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước, được phát triển tập trung ở những nơi có điều kiện giao thông thủy
bộ thuận lợi
Về chế biến thủy, hải sản đông lạnh:
Hầu như tỉnh nào trong vùng đồng bằng sông Cửu long cũng có nhà máy đông lạng thủy sản trên đà phát triển sôi động ở tỉnh Cà Mau, năm 1988 mới chỉ
có 3 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh với công suất nhỏ, nhưng đến nay đã
có 11 nhà máy và đã nâng năng lực chế biến lên 20 ngàn tấn/năm ở An Giang có hai nhà máy với công suất thực tế 14 tấn/ngày và đã nâng sản lượng thủy sản đông lạnh từ 784 tấn năm 1990 lên 4.264 tấn năm 1994, trong đó 84,5% là đông lạnh cá ba sa nuôi lồng trên sông tại địa phương An Giang dự kiến tăng sản lượng thủy sản đông lạnh lên từ 16 đến 25 ngàn tấn vào năm 2010 Bến tre có 4 nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh với công suất 6.300 tấn/năm, trong đó có nhà máy có đủ điều kiện để chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu sang thị trường châu Âu Ở Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long An cũng có nhà máy thủy sản đông lạnh Đến nay vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có 46 nhà máy
Trang 18chế biến đông lạnh thủy sản với công suất khoảng 250 tấn/ngày và năm 1998 các nhà máy này đã xuất khẩu được 473,75 triệu USD chiếm 55,18% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước
Về chế biến mía đường:
Bất kỳ tỉnh nào trong vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng đều có nhà máy chế biến mía đường Đại bộ phận các cơ sở chế biến đường đang họat động
ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long hiện nay hầu hết là của tư nhân và hộ gia đình, được phân bổ ở những vùng có nguồn nguyên liệu dồi dào, có giao thong thủy bộ thuận lợi Ví dụ: ở Bến Tre có hơn 1.380 cơ sở chế biến đường trong đó
có 912 cở sở ép mía và 474 cơ sở kết tinh đường với công suất bình quân 10 tấn mía cây/ngày Ở Long An, ngòai nhà máy đường Hiệp Hòa của Nhà nước có công suất 1.500 tấn mía/ngày, còn có 128 cơ sở ép mía và 400 cối kết tinh đường với công suất khỏang 4.000 tấn mía/ngày Ở xã Tân Lộc, huyện Thốt Nốt (Cần Thơ) từ năm 1990 đến 1991 đã có 53 lò đường, 315 cới kết tinh đường với công suất 5-6 tấn/cối, 30 lò nấu rượu cồn, sử dụng nhiều lao động trong xã, sản xuất ra 3.000 tấn đường mỗi năm
Các tỉnh đồng bằng song Cửu Long đã xây dựng 9 nhà máy đường ở 7 tỉnh (Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Cà Mau) với công suất 13.250 tấn mía/ngày
Về chế biến rau quả:
Trang 19Điểm nổi bật của các cơ sở công nghiệp nông thôn chế biến rau quả hiện
có ở đồng bằng sông Cửu Long là phát triển gắn liền với vùng nguyên liệu sản xuất nhiều loại mặt hàng và hướng về xuất khẩu Ví dụ: Xí nghiệp liên hiệp xuất khẩu rau quả Tiền Giang được xây dựng trên bờ Kênh Xáng, nơi tiếp giáp với Quốc lộ 1 thuộc xã Long Định (huyện Châu Thành, Tiền Giang) Những năm qua, xí nghiệp đã đầu tư phát triển vùng dứa nguyên liệu gồm hai nông trường với diện tích gần 2.000 ha, mỗi năm cung cấp gần 15.000 tấn dứa nguyên liệu cho nhà máy Ngòai ra, xung quanh hai nông trường còn có hàng ngàn ha dứa khác Đi đôi với chế biến các sản phẩm từ dứa, xí nghiệp đã vươn lên chế biến các sản phẩm từ trái cây được trồng trên 30 ngàn ha vườn chuyên canh ở khắp Tiền Giang Do đó năm 1996, xí nghiệp liên hiệp xuất khẩu rau quả Tiền Giang
đã xuất được 3.584,7 tấn sản phẩm, gồm 1.681 tấn dứa đóng hộp các lọai, 891 tấn chôm chôm đóng hộp, chế biến 989,9 tấn chuối, 20 tấn dưa hấu, ngoìa ra còn nhận gia công đông lạnh 116 tấn nghêu, tôm Những năm tới, xí nghiệp sẽ đi vào sản xuất thêm các lọai rau quả cô đặc.những tỉnh còn lại trong vùng như An Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long cũng đều chú ý xây dựng nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu đi kèm với đầu tư phát triển vùng nguyên liệu Các mặt hàng đang được các tỉnh chú ý gồm các sản phẩm từ nắm rôm, từ rau đậu, từ các lọai trái cây
Về các ngành nghề chế biến thực phẩm khác:
Những ngành nghề còn lại như ép dừa dầu, làm bột, làm bánh phòng tôm, bánh đa, trứng vịt muối, chế biến các lọai mắm cá, cá khô… Ở các vùng nông thôn đồng bằng song Cửu Long cũng đã có những phát triển nhất định
Trong số những ngành nghề vừa nêu trên thì ngành ép dầu dừa đã có sự phát triển khá ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long, nơi có diện tích trồng dừa tập trung lớn nhất vùng Những ngành nghề còn lại là ngành nghề truyền thống nên chỉ phát triển mạnh ở những nơi có truyền thống nghề và thường được tổ chức sản xuất ở quy mô hộ gia đình theo làng nghề
Nhóm nhành nghề sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất những tư liệu sản xuất và dụng cụ gia đình
Trang 20Trong những năm qua, nhóm ngành nghề này ở các vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long đã có bước phát triển đáng kể Kết quả điều tra lao động việc làm năm 1996 cho thấy đã có 2.19% tổng số lao động ở đồng bằng sông Cửu Long họat động trong ngành may mặc, còn số lao động họat đông trong các ngành: Dệt là 0.5%, sản xuất vật liệu xây dựng 0.1%, sản xuất các sản phẩm từ
da là 0.1%
Ở khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long hầu như tỉnh nào cũng đều có
cơ sở sản xuất gạch ngói, nhưng số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu tại chỗ và kinh nghiệp truyền thống sản xuất của từng địa phương Ví dụ ở tỉnh Vĩnh Long trong số 3.673 cơ sở sản xuất ngòai khu vực Nhà nước, thì đã có đến 1.542 cơ sở sản xuất gạch ngói, chiến đến 41.85% tổng số cơ sở Ở An Giang có 200 cơ sở sản xuất gạch ngói, trong khi đó
ở Đồng Tháp lại chỉ có 14 cơ sở, còn ở Tiền Giang cơ sở sản xuất gạch ngói rất
ít Với những máy móc thiết bị hiện có, hàng năm đồng bằng sông Cửu Long sản xuất được khỏang 716.3 triệu viên gạch và 65.5 triệu viên ngói, chiếm trên dưới 10% tổng gạch ngói tòan quốc Do đó có khả năng đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu xây dựng trong vùng
2.1.2.2 Về quy mô sản xuất:
Về quy mô sản xuất của các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn dưới gốc độ vốn đầu tư thì đã có đến 96.5% tổng số cơ sở công nghiệp nông thôn chỉ
có mức vốn đầu tư từ 500 triệu đồng trở xuống (trong đó 55.4% số cơ sở có vốn dưới 100 triệu đồng, 31.1% số cơ sở có mức vốn từ 100-250 triệu đồng) trong khi đó 3.145 số cơ sở có mức vốn trên 500 triệu đồng
Quy mô sản xuất của các công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long theo thành phần kinh tế thì 92.1% số doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn nông thôn có mức vốn từ 500 triệu đồng/cơ sở trở lên, trong khi đó số cơ sở sản xuất ngòai khu vực Nhà nước có mức vốn tương đương chỉ chiếm 4.5% trên tổng
số cơ sở công nghiệp nông thôn ngòai khu vực Nhà nứơc
Kết quả điều tra gần đây về ngành nghề nông nghiệp nông thôn ở nước ta của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cho thấy roc thực trạng trên của công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long Cụ thể:
Trang 21Cơ sở chuyên Hộ chuyên Chế biến
nông lâm, thủy sản (%)
Công nghiệp
và xây dựng (%)
Chế biến nông lâm, thủy sản (%)
Công nghiệp
Và xây dựng (%)
Trang 22Tuy những máy móc công tác mà công nghiệp nông thôn ở đồng bằng song Cửu Long đang sử dụng là do trong lúc sản xúât nhưng không phải lọai nào cũng lạc hậu Trên thực tế, các xí nghiệp chế tạo máy ở Việt Nam đã từng bước đưa ra thị trường những lọai máy móc tiên tiến phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn Ví dụ như xí nghiệp liên hiệp máy mai Sincô thuộc sở công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra thị trường nhiều lọai máy xay xác, máy đánh bóng gạo và thiết bị phân lọai gạo không thua các lọai máy tương tự của các nước trong khu vực
2.1.2.4 Về lao động và nguồn vốn trong các cơ sở công nghiệp nông thôn ở đồng bằng song Cửu Long
Về lực lượng lao động:
Lực lượng lao động trong các cơ sở công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long hiện đang nằm trong số 7,7% tổng số người có việc làm thường xuyên ở nông thôn Trình độ các mặc của đội ngủ này cũng nằm trong tình trạng chung của lực lượng lao động nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
Trang 23Chủ yếu là trình độ học vấn trung học và trung học cơ sở, hơn 90% chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ Chính vì vậy, phần lớn các cở sở công nghiệp nông thôn trong hầu hết trong các nhóm ngành nghề phải tự đào tạo nghề cho đội ngủ lao động của mình ở mức cần thiết Điều này thể hiện rõ qua bảng số liệu dưới đây
Cơ sở chuyên Hộ chuyên Chế biến
nông, lâm, thủy sản (%)
Công nghiệp
và xây dựng (%)
Chế biến nông, lâm, thủy sản (%)
Công nghiệp
và xây dựng (%)
đại học, trên đại học 0.12 0.91 0.28 0.45
Trình độ các mặc của đội ngủ lao động trong công nghiệp nông thôn ở
đồng bằng sông Cửu Long (năm 1997)
Trang 24Kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học cho thấy sự ra đời của công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long cũng nằm trong tình trạng chung của cả nước là: Chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có và vốn vay không lãi của bạn bè, họ hàng để đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất
Như vậy, sự ra đời của các cơ sở công nghiệp nông thôn chủ yếu dựa vào khả năng tích lũy của người chủ cơ sở công nghiệp nông thôn, trong khi đó ngân hàng và quỷ tín dụng nhân dân là người có khả năng cung cấp nguồn tài chính lớn cho phát triển công nghiệp nông thôn nhưng lại không giúp được gì đáng kể cho sự ra đời của các cơ sở công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long Khảo sát mới đây cũng cho thấy vốn tự có của các cơ sở công nghiệp nông thôn
ở đồng bằng sông Cửu Long chiếm từ 70% trở lên Tỉ lệ vốn vai trong tổng số nguồn vốn họat động chỉ đạt đến 21,85% đối với cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản và 12,65% đối với cơ sở công nghiệp và xây dựng; Còn tỉ lệ vốn vai trong tổng nguồn vốn của hộ chuyên chế biến nông, lâm, thủy sản là 28,4% và của hộ công nghiệp và xây dựng là 26% Vài năm gần đây, vai trò của ngân hang trong việc cung cấp vốn cho công nghiệp nông thôn họat động đã được nâng lên rỏ rệt Đảm bảo cung cấp từ trên 60 – 90% tổng số vốn vay của các cơ sở và hộ công nghiệp nông thôn Bảng dưới đây sẽ cho ta thấy tình hành vừa nêu
Cơ sở chuyên Hộ chuyên
Đơn
vị tính
Chế biến nông, lâm, thủy sản
Công nghiệp
và xây dựng
Chế biến nông, lâm, thủy sản
Công nghiệp và xây dựng
1 Vốn sản xuất bình quân
trên một cơ sở và hộ 1.000đ 212.042 184.720 23.121 19.256 Trong đó:
Trang 253 Cơ cấu nguồn vốn % 100 100 100 100
- Vay từ ngân hang 62.49 73.26 71.43 90.000
- Vay từ các chương trình
- Vay từ chương trình hộ
- Vay tư nhân 37.51 - 14.29 10.00
Hiện tại, vì cung ứng các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm trong các cơ
sở công nghiệp nông thôn ơ đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện chủ yếu qua các mối liên hệ cá nhân Do đó đã có 7,45% số cơ sở, 7,27% số hộ chuyên, 12,41% số hộ kiêm gặp khó khăn trong việc cung ứng vật tư, nguyên liệu Trong
đó, nguyên nhân nổi bạc nhất là phải mua bán nguyên liệu giá cao và trong tổng
số gặp khó khăn thì đã có 47,62% số cơ sở, 73,17% số hộ chuyên và 94,29% số
hộ kiêm đã gặp khó khăn này Riêng đối với tiêu thụ sản phẩm thì đã có hơn ¾ số
cơ sở và hộ công nghiệp nông thôn tiêu thụ sản phẩm trong tỉnh trong khi đó chỉ khỏang ¼ là số cơ sở và hộ tiêu thụ sản phẩm ngoài tỉnh Để tiêu thụ nhanh sản phẩm sản xuất ra, các cơ sở công nghiệp nông thôn đã bắt đầu áp dụng các hình thức quảng cáo Hiện tại, các cơ sở công nghiệp nông thôn ở đồng bằng sông Cửu Long (và chung cho công nghiệp nông thôn cả nước) chủ yếu sử dụng phương thức thanh tóan bằng tiền mặt khi nhận các yếu tố đầu vào cũng như khi bán các sản phẩm