Trongbối cảnh chung của toàn cầu và trong nước về các tình hình nêu trên, nhằm góp phầntìm ra các giải pháp, đánh giá tiềm năng mới cho nguồn năng lượng và nhiên liệu củaViệt Nam, nghiên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG CỦA VIỆC TÁI SỬ DỤNG DẦU ĂN ĐỂ SẢN XUẤT BIODIESEL TẠI TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ KIM PHỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí MinhTháng 06/2010
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo luận văn tốt nghiệp đại học khoa Kinh tế, trường Đạihọc Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận luận văn “PHÂN TÍCH HIỆU QUẢKINH TẾ VÀ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG CỦA VIỆC TÁI SỬ DỤNG DẦU ĂN ĐỂ
SẢN XUẤT BIODIESEL TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” do Trần Thị Kim
Phụng, sinh viên khóa 32, ngành Kinh tế Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành
công trước hội đồng vào ngày _
NGUYỄN THỊ Ý LYGiáo viên hướng dẫn
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Đầu tiên con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ba, Mẹ - người đã sinh thành
và nuôi nấng dạy dỗ con đến ngày hôm nay Xin cảm ơn các anh, chị và những ngườithân đã luôn động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng toàn thể quý thầy cô trường ĐạiHọc Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý thầy cô khoa kinh tế đã nhiệttình giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt khóa học tạitrường
Xin chân thành cảm tạ và biết ơn sâu sắc Cô Nguyễn Thị Ý Ly, người đã tậntình hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các anh chị ở Sở Tài nguyên và Môi trường TP HCM,Quỹ Tái Chế chất thải rắn TP.HCM, Sở Khoa học Công nghệ TP HCM, Trung tâmquản lý và điều hành vận tải hành khách công cộng TP HCM, Công ty TNHH Minh
Tú - Cần Thơ, Công ty Green Biofuel Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ giúp tôi hoàn thànhluận văn này
Xin cảm ơn tất cả những người bạn đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốtthời gian thực tập, nghiên cứu tại trường
Trước khi tạm biệt giảng đường, bạn bè và thầy cô thân yêu để bước vào mộthành trình mới Kính chúc trường Đại Học Nông Lâm phát triển hơn nữa, kính chúcthầy cô sức khỏe, hạnh phúc tiếp tục sự nghiệp “Trồng người” cao cả Chúc tất cả cácbạn thành công
Xin chân thành cảm ơn!
TP.HCM, ngày tháng năm 2010
Sinh viên
TRẦN THỊ KIM PHỤNG
NỘI DUNG TÓM TẮT
Trang 4TRẦN THỊ KIM PHỤNG Tháng 06 năm 2010 “Phân Tích Hiệu Quả Kinh
Tế và Đánh Giá Tiềm Năng của Việc Tái Sử Dụng Dầu Ăn để Sản Xuất Biodiesel tại Thành Phố Hồ Chí Minh”.
TRAN THI KIM PHUNG June 2010 “Analyse the Economic Efficiency and Assess the Potentiality of Re-using Cooking Oil to Produce Biodiesel in HCM City”.
Dân số ngày càng gia tăng thì nhu cầu về nhiên liệu ngày càng nhiều Trong khi
đó, nguồn nhiên liệu hóa thạch đang cạn kiệt dần, đòi hỏi phải tìm ra nguồn nhiên liệuthay thế Biodiesel là một lời giải cho vấn đề này Vì vậy, khoá luận tiến hành phântích hiệu quả kinh tế và đánh giá tiềm năng của việc tái sử dụng dầu ăn để sản xuấtbiodiesel
Đề tài được thực hiện dựa trên số liệu thu thập được từ dự án thiết kế, chế tạo
hệ thống thiết bị sản xuất biodiesel từ dầu thực, động vật phế thải công suất 2 tấn/ngàycủa Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Lọc - Hóa dầu trường Đại học Bách khoa,Thành phố Hồ Chí Minh và dự án xây dựng nhà máy sản xuất biodiesel công suất 50tấn/ngày của Công ty TNHH Minh Tú, Cần Thơ Bên cạnh đó, đề tài đã tiến hànhphỏng vấn 150 tài xế xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm khảo sát thái độ củacác tài xế về loại nhiên liệu mới và tìm hiểu nhu cầu về nhiên liệu sinh học của họ để
dự báo lượng cầu trong thời gian tới Đồng thời đề tài tiến hành phỏng vấn 50 nhàhàng, quán thức ăn nhanh và các quán ăn quy mô hộ gia đình nhằm đánh giá nguồncung dầu ăn thải hiện tại và trong tương lai
Cuối cùng, dựa trên các phân tích, đánh giá đề tài sẽ đưa ra kết luận và đề xuấtmột số giải pháp nhằm giúp các cá nhân, cơ quan, các ban ngành liên quan có nhữngđánh giá đúng hơn về tình trạng hiện tại của những tiềm năng mới để có những chínhsách quản lý và sử dụng phù hợp nhằm góp phần giải quyết các áp lực về nhiên liệutrong điều kiện phát triển của đất nước hiện nay cũng như giải quyết bài toán về lãngphí nguồn tài nguyên
Trang 52.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan 4
2.3 Tổng quan về tình hình và nhu cầu sử dụng dầu mỏ của thế giới và Việt
Trang 62.5.2 Tình hình tiêu thụ dầu ăn tại TP.HCM 13
2.6 Các nguồn phát thải dầu ăn phế thải trên địa bàn TP.HCM 15
2.6.1 Các đơn vị sản xuất thực phẩm (có sử dụng dầu ăn) có quy mô
2.6.2 Các đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống 15
2.7 Tổng quan về tình hình tái sử dụng, tái chế và thải bỏ dầu ăn phế thải 182.8 Tổng quan về biodiesel và tình hình nghiên cứu sản xuất biodiesel 19
2.8.2 Tình hình sản xuất và sử dụng biodiesel trên thế giới 19
3.2.4 Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí 27
4.3 Phân tích lợi ích – chi phí của việc tái sử dụng dầu ăn để sản xuất biodiesel 33
4.3.1 Nhận dạng vấn đề và xác định các phương án 334.3.2 Nhận dạng lợi ích và chi phí xã hội của mỗi phương án 344.3.3 Đánh giá lợi ích và chi phí của mỗi phương án 354.3.4 So sánh lợi ích ròng của các phương án 46
4.4 Những tác động về mặt môi trường và xã hội của các phương án 50
Trang 74.4.1 Tác động môi trường 50
4.5 Tiềm năng cung – cầu biodiesel tại TP.HCM 53
4.5.1 Nguồn cung dầu ăn phế thải tại TP.HCM 534.5.2 Nhu cầu biodiesel tiềm năng của hệ thống xe buýt TP.HCM 564.6 Những thuận lợi và khó khăn của việc phát triển nhiên liệu sinh học từ dầu
Trang 8GTCL Giá Trị Còn Lại
NN&PTNN Nông Nghiệp và Phát Triển Nông ThônTN&MT Tài Nguyên và Môi Trường
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 9TrangBảng 2.1 Mức Tiêu Thụ Dầu Diesel Tại Việt Nam 11
Bảng 4.3 Nhận Dạng Lợi Ích - Chi phí của Phương Án A và B 35Bảng 4.4 Chi Phí Thời Kỳ Xây Dựng Cơ Bản của Phương Án A 36Bảng 4.5 Chi Phí Hoạt Động Hàng Năm của Phương Án A 37
Bảng 4.7 Chi Phí Thời Kỳ Xây Dựng Cơ Bản của Phương Án B 39Bảng 4.8 Định Mức Chi Phí Cho Một Lít Sản Phẩm của Phương Án B 40Bảng 4.9 Định Mức Chuyển Đổi từ Cần Thơ Lên TP.HCM 42Bảng 4.10 Công Suất Hoạt Động Hàng Năm của Phương Án B 43Bảng 4.11 Chi Phí Sản Xuất Hàng Năm của Phương Án B 44Bảng 4.12 Sản Lượng Biodiesel Hàng Năm của Phương Án B 45
Bảng 4.15 Lợi Ích Ròng Hàng Năm của Các Phương Án 46
Bảng 4.17 Đánh Giá Sự Biến Động của NPV Ứng Với Biến Động của Từng Biến Số 49Bảng 4.18 Đánh Giá Sự Tác Động của Các Biến Số Đến Giá Trị NPV của Dự Án 49Bảng 4.19 Đánh Giá Tác Động của Hai Biến Số Đến Sự Thay Đổi của NPV của Dự
Bảng 4.20 Đóng Góp của Phương Án B vào Ngân Sách Nhà Nước 53Bảng 4.21 Thái Độ của Các Cơ Sở có Nguồn Dầu Thải 54Bảng 4.22 Lý Do Đồng Ý Bán Dầu Thải Cho Dự Án Sản Xuất Biodiesel 54Bảng 4.23 Lý Do Không Đồng Ý Bán Dầu Thải cho Dự Án Sản Xuất Biodiesel 55
Bảng 4.27 Mức Sẵn Lòng Trả Cho Biodiesel So Với Diesel 60Bảng 4.28 Dự Báo Nhu Cầu Biodiesel Hàng Năm của Hệ Thống Xe Buýt TP.HCM 61
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Trang 11Hình 3.1 Công Thức Cơ Bản Của Biodiesel 23
Hình 4.2 Đồ Thị So Sánh Lượng Khí Thải Do Đốt Biodiesel So Với Nhiên Liệu Diesel
Trang 13là nguồn tài nguyên vô tận nên con người đã khai thác quá mức, dẫn đến nguy cơ cạnkiệt trong tương lai Bên cạnh đó, dầu mỏ còn tác động đến tình hình kinh tế, chính trịcủa các quốc gia Các quốc gia không có dầu mỏ sẽ phải phụ thuộc vào các quốc giaxuất khẩu dầu Giá dầu ngày một tăng nhanh trong những năm gần đây, tác động của
sự khai thác dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu – một trong những biểu hiện củabiến đổi khí hậu buộc thế giới phải quan tâm hơn đến tính cấp bách của chương trìnhnăng lượng
Hiệu ứng nhà kính do lượng khí cacbonic của việc đốt cháy dầu đã làm cho tráiđất nóng lên, làm quá tải cơ chế điều hòa khí hậu, dẫn đến một loạt các biểu hiện bấtthường của thiên nhiên như băng tan, hạn hán, lũ lụt, nước biển dâng với tần suất vàcường độ tăng dần Sức khỏe con người cũng bị đe dọa với các bệnh ung bướu, timmạch, bệnh hô hấp cũng như các bệnh nguy hiểm khác do hít phải khí thải từ dầu khí
Việt Nam là một quốc gia đang trên đà phát triển, nhu cầu về nhiên liệu – cụ thể
là dầu mỏ, để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội ngày một gia tăng Trong tìnhhình khủng hoảng năng lượng như hiện nay, kết hợp với bối cảnh các nước đang ra sứctìm kiếm nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo để bảo đảm an ninh năng lượngquốc gia, Việt Nam cũng không đứng ngoài cuộc
Với mục tiêu vừa bảo đảm nguồn năng lượng đủ tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầutiêu dùng vừa bảo đảm chất lượng và an toàn môi trường, mang lại hiệu quả kinh tế thì
Trang 14năng lượng sinh học là một lựa chọn tối ưu Năng lượng sinh học đã và đang đượcnghiên cứu ứng dụng một cách rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có ViệtNam.
Dầu diesel sinh học nói chung đã bắt đầu được sử dụng khá phổ biến Trong đó,dầu diesel sinh học sản xuất từ dầu ăn đã qua sử dụng đã được nghiên cứu thành côngbởi trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Lọc - Hóa dầu Đại học Bách Khoa TP Hồ ChíMinh là một nguồn năng lượng tái tạo có tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao Trongbối cảnh chung của toàn cầu và trong nước về các tình hình nêu trên, nhằm góp phầntìm ra các giải pháp, đánh giá tiềm năng mới cho nguồn năng lượng và nhiên liệu củaViệt Nam, nghiên cứu “Phân tích hiệu quả kinh tế và đánh giá tiềm năng của việc tái
sử dụng dầu ăn để sản xuất biodiesel tại Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chính
Phân tích hiệu quả kinh tế và đánh giá tiềm năng của việc tái sử dụng dầu ăn đểsản xuất biodiesel tại Thành Phố Hồ Chí Minh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu quy trình công nghệ của việc sản xuất biodiesel
- Phân tích hiệu quả kinh tế của quy trình sản xuất
- Ước tính lượng cung dầu ăn phế thải
- Dự báo lượng cầu biodiesel trong tương lai
- Đề xuất giải pháp, phương hướng, chiến lược để ứng dụng hiệu quả của quytrình
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Dầu ăn đã qua sử dụng và giá trị kinh tế, giá trị môi trường tiềm năng của nóđem lại
1.3.2 Địa bàn nghiên cứu
TP.Hồ Chí Minh, nơi có số lượng dầu ăn tiêu thụ mỗi ngày lớn nhất Việt Nam
1.3.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3/2010 đến tháng 6/2010
Trang 151.3.4 Nội dung thực hiện
Đề tài nghiên cứu hiệu quả kinh tế, các lợi ích về môi trường của việc tái sửdụng dầu ăn để sản xuất biodiesel; tiến hành ước tính lượng cung của dầu ăn phế thải,
dự báo nhu cầu biodiesel trong tương lai đồng thời phân tích những thuận lợi và khókhăn của việc sản xuất và ứng dụng nhiên liệu sinh học Từ đó đưa ra những kiến nghị
để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan vạch ra những chiến lược lâu dài để pháttriển tiềm năng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam nhằm phát triển kinh tế - xã hội
1.4 Cấu trúc của khóa luận
Luận văn gồm 5 chương
Chương 1 Mở đầu
Trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đốitượng nghiên cứu của đề tài
Chương 2 Tổng quan
Tổng quan về tình hình và nhu cầu sử dụng dầu mỏ của thế giới và Việt Nam
Thực trạng môi trường tại Việt Nam
Tổng quan về dầu thực vật
Các nguồn phát thải dầu ăn, tình hình tái chế, tái sử dụng dầu ăn trên địa bàn TP.HCMTình hình sản xuất Biodiesel tại Việt Nam và trên thế giới
Chương 3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trình bày khái niệm về dầu mỏ, nhiên liệu sinh học, lịch sử hình thành và phát triểnnhiên liệu sinh học
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả có được sau quá trình tìm hiểu và thu thập số liệu bao gồm quy trình sản xuấtbiodiesel, hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội của việc tái sử dụng dầu ăn để sảnxuất biodiesel Đánh giá tiềm năng cung, cầu của biodiesel; tình hình sản xuấtbiodiesel trên thế giới và Việt Nam
Chương 5 Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các kết quả đã đạt được trong quá trình nghiên cứu Đề ra các kiến nghị nhằmứng dụng hiệu quả của quy trình
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan
Nghiên cứu về nhiên liệu sinh học là một hướng nghiên cứu mới tại Việt Nam.Hầu hết các nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhiên liệu sinh học đều tập trung vàonghiên cứu về mặt kỹ thuật nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất mà chưa đưa yếu tốkinh tế vào phục vụ công tác sản xuất và quản lý Lý do là nguồn số liệu thứ cấp cầnthiết không sẵn có và khó thu thập Do vậy, trong quá trình thực hiện đề tài này tôi chỉtham khảo các nghiên cứu của những tác giả, nhóm tác giả dưới đây:
Trần Bình Trọng, 2006 Nghiên cứu tổng hợp Biodiesel từ dầu thực vật với xúctác rắn tại Thành phố Hồ Chí Minh Bằng phương pháp thí nghiệm, đo lường, phươngpháp sắc ký khí (thực hiện tại trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm số 2, NguyễnVăn Thủ, Thành phố Hồ Chí Minh), nghiên cứu đã khảo sát thành phần và tính chấthóa lý của dầu ăn phế thải làm nhiên liệu sản xuất biodiesel; khảo sát độ ổn định củasản phẩm theo thời gian trong điều kiện tồn trữ khác nhau, kết quả cho thấy biodiesel
ổn định trong tồn trữ ít nhất 10 tuần Nghiên cứu cũng đã kiểm tra tính chất củabiodiesel tổng hợp từ dầu ăn phế thải Đã phối trộn và kiểm tra tính chất của B20 (20%biodiesel và 80% diesel) Kết quả cho thấy B20 thỏa mãn các chỉ tiêu chất lượng củadiesel tại Việt Nam
Nguyễn Hữu Lương, 2006 Dự án Thiết kế và chế tạo hệ thống thiết bị sản xuấtnhiên liệu diesel sinh học từ dầu thực, động vật phế thải công suất 2 tấn /ngày thựchiện tại Thành phố Hồ Chí Minh Dự án đã đưa ra được quy trình sản xuất biodieselhoàn chỉnh bằng phương pháp ester hóa, đưa ra những chi phí ban đầu để thiết kế vàchế tạo hệ thống sản xuất biodiesel từ dầu thực, động vật phế thải với công suất thiết
kế là 2 tấn/ ngày Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, dự án đã đưa ra một số kiến nghị đểphát triển và sử dụng biodiesel và các nguồn năng lượng mới và sạch nói chung như:
Trang 17miễn giảm thuế, tuyên truyền vận động người dân sử dụng nguồn nhiên liệu mới,không sử dụng lại các loại dầu thực vật đã qua sử dụng, nhà nước cần đề ra cácphương án thu gom dầu thực vật đã qua sử dụng và tiêu thụ biodiesel, hỗ trợ sản xuấtcác nguồn nhiên liệu mới này về mặt thông tin, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm,…
Công ty TNHH Minh Tú, 2006 Dự án thành lập nhà máy sản xuất Biodieselcông suất 50 tấn /ngày thực hiện tại thành phố Cần Thơ, Việt Nam Thông qua phươngpháp phân tích tài chính và kinh tế, sử dụng các chỉ tiêu kinh tế như NPV, IRR, dự án
đã chỉ ra rằng việc thành lập nhà máy sản xuất biodiesel công suất 50 tấn/ ngày là hoàntoàn khả thi về mặt kinh tế và có lợi về mặt môi trường Sự khác biệt của dự án nàyvới đề tài đang thực hiện là gốc độ phân tích Công ty TNHH Minh Tú tiến hành phântích kinh tế dưới góc độ chủ đầu tư, còn đề tài phân tích dưới góc độ nhà kinh tế môitrường
Tóm lại, các nghiên cứu trên đây là những tư liệu quý giá để thực hiện đề tàinày Cùng nghiên cứu về nhiên liệu sinh học nhưng sự khác biệt giữa đề tài này và cácnghiên cứu trước là ở chỗ, đề tài sử dụng nguồn số liệu thứ cấp về nhiên liệu sinh học
để phân tích dưới góc độ kinh tế môi trường Dựa vào các số liệu thứ cấp của các dự
án, khóa luận đã tiến hành so sánh hai dự án với hai công suất thiết kế và thời gianhoạt động khác nhau dựa trên phương pháp tạo thời gian hữu dụng dự án như nhau.Bên cạnh đó, khóa luận cũng tiến hành ước tính lượng cung nguyên liệu, dự báo nhucầu sử dụng biodiesel của hệ thống xe buýt thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54'Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và ĐôngBắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Namgiáp tỉnh Long An và Tiền Giang
Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 kmtheo đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển Đông 50 km theo đường chimbay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là mộtđầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liềncác tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế
Trang 18b Địa chất, thủy văn
Địa chất TP.HCM bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen vàHolocen lộ ra trên bề mặt, bao gồm các loại đất chủ yếu như: đất xám, đất phù sa biển,đất phèn, đất phèn mặn
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, TP.HCM
có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng: sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn Nhờ hệthống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành
mở rộng Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ởnơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài
Trang 19Rạp và Gành Rái Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vàobến cảng Sài Gòn Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệthống kênh rạch chằng chịt: Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, ThamLương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, KênhÐôi Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu,nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhậpsâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoátnước ở khu vực nội thành.
c Khí hậu, thời tiết
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, TP.HCM có nhiệt độ cao đềutrong năm và hai mùa mưa – nắng rõ rệt Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng
11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Trung bình, TP.HCM có 160 tới 270giờ nắng một tháng, nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống13,8 °C Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm Một năm, ở thànhphố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các thàng từ 5 tới 11, chiếmkhoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9 Các quận nội thành và các huyện phía Bắc cólượng mưa cao hơn khu vực còn lại
2.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam Thànhphố chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổngsản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài Vào năm
2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài
độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc Năm 2008, thu nhập bình quânđầu người ở thành phố đạt 2.534 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước,
1024 USD/năm
Nền kinh tế của TP.HCM đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nôngnghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh tế củathành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần cònlại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọngcao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp,lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%
Trang 20Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp TP.HCM đãthu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài vớitổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND Thành phố cũng đứng đầu ViệtNam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷUSD vào cuối năm 2007 Riêng trong năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án vớigần 3 tỷ USD.
Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm,siêu thị, chợ đa dạng Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưacủa thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng Những thập niên gần đây,nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, DiamondPlaza Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnhkhác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội Sở Giao dịch Chứng khoán Thànhphố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VN-Index, được thành lập vào tháng 7 năm
1998 Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loại chứngkhoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn
tỷ đồng
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiềukhó khăn Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiệnđại Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sởngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sởchế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến Cơ sở hạ tầng củathành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp cũng gây khó khăn cho nền kinh tế Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tớicác lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn
2.3 Tổng quan về tình hình và nhu cầu sử dụng dầu mỏ của thế giới và Việt Nam 2.3.1 Tình hình tiêu thụ dầu mỏ của thế giới
Dầu mỏ được xem là nguồn nguyên liệu quan trọng nhất của mọi quốc gia trênthế giới, nó đang là tâm điểm chính trị, là động lực phát triển kinh tế của nhiều nướctrong đó có Việt Nam Tùy theo nguồn tính toán, trữ lượng dầu mỏ thế giới nằm trongkhoảng từ 1.148 tỉ thùng đến 1.260 tỉ thùng Trữ lượng dầu mỏ tìm thấy và có khảnăng khai thác mang lại hiệu quả kinh tế với kỹ thuật hiện tại đã tăng lên trong những
Trang 21năm gần đây và đạt mức cao nhất vào năm 2003 Người ta dự đoán rằng trữ lượng dầu
mỏ sẽ đủ dùng cho 50 năm nữa (so với năm 1995) Năm 2003 trữ lượng dầu mỏ nhiềunhất là ở Ả Rập Saudi (262,7 tỉ thùng), Iran (130,7 tỉ thùng) và ở Iraq (115,0 tỉ thùng)
kế đến là ở Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Kuwait và Venezuela Nướckhai thác dầu nhiều nhất thế giới trong năm 2003 là Ả Rập Saudi (496,8 triệu tấn), Nga(420 triệu tấn), Mỹ (349,4 triệu tấn), Mexico (187,8 triệu tấn) và Iran (181,7 triệu tấn).Việt Nam được xếp vào các nước xuất khẩu dầu mỏ từ năm 1991 khi sản lượng xuấtđược vài ba triệu tấn
Nhiều năm qua, quan hệ cung cầu dầu mỏ trên thế giới luôn mất cân đối, cungkhông đáp ứng được cầu Đặc biệt cuối năm 2005 sự mất cân đối nghiêm trọng đã đẩygiá dầu tới mức cao kỷ lục làm ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế thế giới nói chung vàViệt Nam nói riêng Dự báo những năm tới, mất cân đối cung – cầu dầu mỏ sẽ tiếp tụcgay gắt
Nhu cầu dầu mỏ tăng mạnh khi chu kỳ kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phụchồi và tăng trưởng, hiện tượng này đã làm giới quan tâm lo ngại Do quan hệ cung cầumất cân đối như vậy đã làm giá dầu biến động lớn trên thị trường Đặc biệt nhữngtháng cuối năm 2008 đầu năm 2009 vừa qua, giá dầu thô đã vượt ngưỡng 145USD/thùng Biến động bất lợi của giá dầu đã tác động nhiều mặt vào hầu hết các nềnkinh tế của thế giới, dẫn tới những xáo trộn đối với kinh tế toàn cầu
Ông Guy Caruso chuyên gia của IEA cho biết, có 3 nhân tố đang tác động tới
sự khan hiếm của các nguồn cung cấp dầu và khiến giá dầu tăng Thứ nhất là các nướcsản xuất dầu không đầu tư thỏa đáng để duy trì năng suất khai thác thích hợp Thứ hai
là vẫn còn những cản trở về mặt pháp lý đối với hoạt động thăm dò và khai thác dầu ởkhu bảo tồn hoang dã Alaska cùng một số khu vực ngoài khơi bờ biển Mỹ Thứ ba làchi phí cho các hoạt động thăm dò, khai thác và kinh doanh dầu khí ngày một tăng
Trong các sản phẩm đi từ dầu mỏ, nhiên liệu diesel là một sản phẩm được quantâm hàng đầu vì nó được ứng dụng rất rộng: giao thông vận tải, công nghiệp, xâydựng, nông lâm ngư nghiệp, …Lượng diesel tiêu thụ cao gấp 6 lần lượng xăng vàtrong một chừng mực nào đó thì mức tiêu thụ năng lượng từ diesel nói lên được sựphát triển công nghiệp và kinh tế của một nước Tuy nhiên, đây là nguồn nhiên liệuchính gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống và sức khỏe con người
Trang 22Hình 2.2 Tình Hình Năng Lượng Thế Giới
Nguồn: Trần Bình Trọng, 2006Khu vực Trung Đông có trữ lượng dầu mỏ chiếm 65,4% trữ lượng trên toàn thếgiới nhưng nhu cầu của khu vực chỉ chiếm khoảng 6% Trong khi đó, các nước pháttriển có nhu cầu tiêu thụ chiếm 62%, nhưng trữ lượng dầu mỏ của các nước này chỉ có9,7%
2.3.2 Tình hình tiêu thụ dầu mỏ tại Việt Nam
Ở nước ta, theo kết quả nghiên cứu của Chương trình KHCN cấp Nhà nước,giai đoạn 1996-2000 về chiến lược và chính sách phát triển nhiên liệu, trữ lượng thankhoảng 3,6 tỷ tấn nhưng trữ lượng kinh tế khoảng 1 tỷ tấn chỉ đảm bảo sản lượng khaithác 20 triệu tấn/năm trong vòng 20-25 năm; dầu mỏ khoảng 1,9 tỷ tấn dầu quy đổi,khí thiên nhiên khoảng 1,8 tỷ m3, nhưng trữ lượng khai thác kinh tế chỉ ở mức 35%.Với trữ lượng dầu khí như trên cũng chỉ đảm bảo khai thác 30 triệu/tấn năm trong giaiđoạn 2015-2016, sau đó sẽ giảm nhanh, nếu không tìm ra các mỏ mới Theo báo cáocủa nhiều chuyên gia, trong thời gian tới nếu Việt Nam không phát hiện thêm các mỏdầu mới có trữ lượng lớn thì với sản lượng khai thác hiện tại, dự báo đến 2025 ViệtNam về cơ bản cạn kiệt tài nguyên dầu khí Việt Nam từ chỗ xuất khẩu năng lượng
Trang 23(dầu thô, than), trong vòng 15 năm tới sẽ phải nhập năng lượng, trong đó xăng dầudùng cho giao thông vận tải chiếm khoảng 30% tổng nhu cầu năng lượng của Việtnam.
Khi nhà máy lọc dầu Dung Quất hoạt động hết công suất, Việt Nam cũng mới
tự cung cấp được khoảng 5,3 triệu tấn xăng dầu dùng cho giao thông vận tải trong tổngnhu cầu 15,5 - 16 triệu tấn xăng dầu Do vậy Việt Nam hiện tại vẫn phải nhập khẩu ítnhất 2/3 nhu cầu xăng dầu từ nước ngoài để phục vụ nhu cầu trong nước
Bảng 2.1 Mức Tiêu Thụ Dầu Diesel Tại Việt Nam
“sạch” hơn cần được đưa lên hàng đầu Biodiesel chính là một trong những câu trả lời
Trang 24Hình 2.3 Mức Tiêu Thụ Dầu Diesel Tại Việt Nam
2.4 Thực trạng môi trường tại Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường không khí đang là vấn đề bức xúc,đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Ô nhiễm bụi, khíthải và tiếng ồn do hoạt động giao thông vận tải chiếm tới 70%, còn lại là do xây dựng,công nghiệp và sinh hoạt Điều đó cho thấy, phương tiện giao thông vận tải là yếu tốchính gây ô nhiễm môi trường không khí tại các đô thị và thành phố Trước mức độ ônhiễm ngày càng tăng theo tốc độ phát triển kinh tế, nếu như Việt Nam không có cácgiải pháp và định hướng tổng thể thì việc khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường sẽ làmột thách thức đầy khó khăn
Theo báo cáo tổng hợp số liệu phương tiện giao thông lưu hành trên cả nước,tính đến tháng 2/2006, tổng số phương tiện đã tiến hành kiểm định là 608.353 xe ô tô.Trong đó, số phương tiện từ 10 năm trở xuống là 310.621 xe, từ 10 - 15 năm là125.151 xe, từ 15 - 20 năm là 89.402 xe và trên 20 năm là 83.179 Riêng thành phố HàNội số lượng phương tiện đã là 97.234 xe ô tô và thành phố Hồ Chí Minh là 161.631
xe ô tô (Nguồn: Cục Đăng kiểm Việt Nam)
Theo một số liệu thống kê không chính thức thì tính đến thời điểm này tại HàNội và thành phố Hồ Chí Minh có hàng trăm nghìn xe và dự báo đến năm 2010, con sốnày sẽ tăng lên nhanh chóng Đây sẽ là một con số khổng lồ và là nguồn phát thải gây
Trang 25ô nhiễm nghiêm trọng chất lượng không khí tại các khu đô thị Mỗi năm hoạt động củacác phương tiện nói trên tiêu thụ một khối lượng lớn xăng dầu và phát tán vào môitrường một lượng lớn chất ô nhiễm như: HC, CO, SO2, NO2, chì…
Trước thực trạng như vậy, Việt Nam đang hướng tới việc sử dụng các nguồnnăng lượng sạch trong các công nghệ mới nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệmôi trường Mặt khác, việc ứng dụng công nghệ mới tận thu nguồn khí từ khai thácdầu mỏ, đầu tư xây dựng những nhà máy chế biến khí đang dần dần tạo cho Việt Nam
sự chủ động trong việc cung cấp nguồn năng lượng, hạn chế sự ảnh hưởng của cáccuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới Do đó các loại phương tiên giao thông sửdụng nguồn năng lượng mới là một giải pháp tối ưu giải quyết các vấn đề về môitrường và tính kinh tế, một trong những nguồn năng lượng mới thay thế là dầu sinhhọc
2.5 Tổng quan về dầu thực vật
2.5.1 Tổng quan
Dầu thực vật là sản phẩm được chiết ép từ hạt của cây có chứa dầu như dừa, cọ,cải… Dầu thực vật là hỗn hợp các chất hữu cơ có sẵn trong tự nhiên Ở nhiệt độthường, dầu thực vật ở trạng thái lỏng Mỗi loại dầu có thành phần hóa học và cấu tạocác chất khác nhau nhưng chúng có cùng tính chất chung là tan trong nước, dễ đôngđặc ở nhiệt độ thấp, tan trong các dung môi hữu cơ như: ether, n-hexane, chloroform,benzene, toluene,…
Thành phần chính của dầu thực vật là lipit hay còn gọi là triglyxerit (là ester củaglyxerin với axit béo) Một lượng nhỏ các axit béo cũng tồn tại trong dầu thực vật ởtrạng thái tự do
2.5.2 Tình hình tiêu thụ dầu ăn tại TP.HCM
Dầu thực vật là nguồn nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp và trong đờisống Từ dầu thực vật, người ta có thể điều chế nhiều loại sản phẩm khác nhau ứngdụng trong thực tiễn Những ngành công nghiệp sử dụng dầu thực vật làm nguyên liệunhư: công nghiệp thực phẩm, công nghiệp sản xuất các chất tẩy rửa, chất tạo nhũ, chấtthấm ướt, phụ gia cho dầu bôi trơn,…Về mặt sinh lý, chất béo là những chất cơ bảnkhông thể thiếu trong quá trình kiến tạo tế bào cũng như cung cấp năng lượng cho mọihoạt động của cơ thể
Trang 26Hiện nay, ngành công nghiệp chế biến dầu thực vật tinh luyện (dầu ăn) đangđược nhà nước chú trọng đầu tư phát triển mạnh nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêudùng trong nước và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNN, mức tiêu thụ dầu ăn trên đầu người
là 4,5 kg/người/năm (năm 2005) Với dân số TP.HCM hiện nay là khoảng 8 triệungười (kể cả dân nhập cư) thì mức tiêu thụ dầu ăn trên địa bàn TP.HCM là khoảng
100 tấn/ngày Với lượng dầu tiêu thụ này thì lượng dầu thải ra trên địa bàn TP.HCM làrất lớn
2.5.3 Dầu ăn phế thải và tác hại của nó
Dầu ăn phế thải là dầu ăn đã bị oxi hóa Qua quá trình đun nấu, các liên kết đôitrong dầu trở thành liên kết đơn, dầu ăn phế thải chứa nhiều gốc tự do có khả năng gâyhại cho sức khỏe con người
Một vấn đề đang gây đau đầu cho các cơ quan quản lý môi trường là chưa quản
lý được lượng dầu ăn thải ra trên địa bàn mỗi ngày Phương thức thông thường của cácdoanh nghiệp là dầu đã sử dụng được thải vào hệ thống ống cống Đây là việc làm hếtsức nguy hiểm cho môi trường Ngoài ra, dầu ăn thải vào cống dễ gây tắc ngẽn hệthống thoát nước, khi dầu bị đọng lại
Nguy hiểm hơn, lượng dầu khổng lồ đã qua sử dụng này được bán lại Ngườimua chất thải độc hại này là một số cơ sở làm bánh, các loại thực phẩm chiên hoặcmột số gia đình có thu nhập thấp, thiếu hiểu biết Vì dầu ăn đã sử dụng rẻ hơn rấtnhiều so với giá dầu mới Nhưng việc tái sử dụng dầu ăn là hết sức nguy hiểm cho sứckhỏe, vì có nhiều độc tố, trong đó có chất gây ung thư
Theo nghiên cứu của hội Hóa chất hoàng gia Anh công bố ngày 9/4, dầu thựcvật được đun sôi ở nhiệt độ cao, khi xào hoặc rán thức ăn, có thể làm tăng nguy cơ gâyung thư vú, ung thư phổi và ung thư bàng quang Theo các nhà khoa học, khi dầu đượcđun sôi ở nhiệt độ cao để rán hoặc xào thức ăn, các phân tử độc hại sẽ bốc hơi bay vàokhông khí, tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư đối với người nấu bếp và những ngườixung quanh Tất cả các loại dầu ăn đều sản sinh một loại hóa chất độc hại, nhưng dầuthực vật là nguy hiểm nhất Dầu ngũ cốc và dầu ô liu cũng có nguy cơ này Đặc biệtcác món ăn rán giòn như khoai tây rán sản sinh ra một lượng lớn hóa chất gây ung thư– polycyclic aromatic hydrocarbon Các nhà nghiên cứu khuyên rằng khi đun nấu thức
Trang 27ăn, nhà bếp phải có hệ thống thông hơi tố và nên chế biến các món luộc hoặc hấp thaythế các món rán hoặc xào.
Điều cần chú ý là loại dầu thực vật nào giàu loại chất béo chưa bão hòa khi sửdụng ở nhiệt độ cao như chiên, nướng… thường làm giảm đến 75% lượng chất béoomega – 3 đồng thời biến thành loại chất béo có hại có thể làm tăng nguy cơ ung thư
vú, ung thư phổi và ung thư bàng quang Loại chất béo này có đặc tính gần giống chấtbéo bão hòa làm tăng lượng cholesterol xấu trong máu, do đó gia tăng mức nguy hiểm
về bệnh tim mạch Vì vậy bạn không nên sử dụng dầu ăn đã chiên đi chiên lại nhiềulần và hạn chế ăn các món chiên, nướng – những món cần sử dụng dầu ăn ở nhiệt độcao để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cho cả gia đình
2.6 Các nguồn phát thải dầu ăn phế thải trên địa bàn TP.HCM
Hiện nay trên địa bàn TP.HCM có rất nhiều nguồn phát thải dầu ăn phế thảinhưng có thể chia thành hai nhóm chính sau: các đơn vị sản xuất thực phẩm (có sửdụng dầu ăn) quy mô công nghiệp và các đơn vị dịch vụ ăn uống
2.6.1 Các đơn vị sản xuất thực phẩm (có sử dụng dầu ăn) có quy mô công nghiệp
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay TP.HCM có trên 29 đơn vị sản xuất mì ănliền, đây là một những nguồn phát thải dầu ăn phế thải lớn của Thành phố
Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Lọc - Hoá dầu,Đại học Bách Khoa và nhóm hoạt động Quỹ Tái Chế, Sở Tài Nguyên và Môi Trường,lượng dầu ăn phế thải phát sinh ở các nhà máy sản xuất mì ăn liền trung bình khoảng 8-10 tấn/tháng Lượng dầu phế thải này được các đầu mối thu mua và bán lại cho cácđơn vị chế biến thức ăn gia súc Tuy nhiên, tại một số đơn vị sản xuất mì ăn liền, trongquá trình sản xuất, lượng dầu ăn được tái sử dụng nhiều lần nên lượng dầu ăn phế thảisinh ra hầu như không có hoặc rất ít Việc làm này rất nguy hiểm đối với sức khoẻngười tiêu dùng
2.6.2 Các đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống
Tùy mức độ phát thải không bằng các đơn vị chế biến thực phẩm nêu trên,nhưng với số lượng rất lớn các đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bànTP.HCM, đây cũng là một nguồn phát sinh dầu ăn phế thải quan trọng, với ba nguồnphát thải chính sau: Hệ thống các quán ăn nhỏ, hệ thống các nhà hàng, khách sạn, hệthống các cửa hàng thức ăn nhanh
Trang 28a Hệ thống các quán ăn nhỏ
Hình thức kinh doanh ăn uống dưới dạng các quán ăn nhỏ đã hình thành từ lâuđời ở đất nước ta và đang chiếm một tỉ lệ đáng kể trên địa bàn TP.HCM, với nhiềuhình thức như: quán cơm, tiệm cơm chay, quán ăn gia đình, tiệm bánh chiên… Kết quảkhảo sát sơ bộ ở một số cơ sở của hình thức kinh doanh này của nhóm hoạt động QuỹTái Chế bước đầu cho thấy cái nhìn sơ phác về hiện tượng phát thải dầu ăn phế thảicủa các cơ sở này trên địa bàn TP.HCM
Theo đánh giá sơ bộ thì hầu hết tất cả các cơ sở đều tái sử dụng nhiều lần trướckhi đem bán hay thải bỏ Dầu ăn sau khi sử dụng được lọc cặn và sử dụng lại hoặc làmnhững món ăn khác (như sa tế), cá biệt có một số nơi sử dụng hoá chất để làm trongdầu thải rồi tái sử dụng lại Việc tái sử dụng này cũng giải thích được nguyên nhân tạisau gần một nửa cơ sở trong số các cơ sở khảo sát không có phát sinh dầu ăn phế thải.Các cơ sở còn lại mặc dầu có phát sinh dầu ăn phế thải nhưng loại dầu này hoặc đãđược tái sử dụng nhiều lần hoặc đã được chế biến trên thời gian dài trên bếp Có thểnói tái sử dụng dầu ăn thải không chỉ có ở các xe thức ăn vỉa hè mà đã có từ rất lâu vàđang diễn ra tại các cơ sở kinh doanh ăn uống
Hiện trạng thải bỏ dầu ăn: Tuỳ phương pháp chế biến, thực đơn món ăn và quy
mô, loại hình kinh doanh khác nhau mà lượng dầu ăn thải bỏ ở mỗi cơ sở hoàn toànkhác nhau Tuy nhiên số lượng cơ sở không phát sinh dầu thải chiếm tỷ lệ tương đốilớn (44%), nguyên nhân là do tại các cơ sở này lượng dầu ăn được tái sử dụng nhiềulần Những cơ sở có lượng dầu thải quá ít thì thường thải ra ngoài tự nhiên (đổ trựctiếp xuống hệ thống cống thoát nước), còn hầu hết các cơ sở có lượng dầu ăn phế thảidao động trong khoảng từ 1- 20 lít /ngày, lượng dầu thải ra này đều có nơi thu mua vềlàm thức ăn gia súc, bánh dầu hay cho mục đích khác Giá bán dầu ăn phế thải của loạinguồn thải này dao động trong khoảng từ 3000 – 5000 VNĐ
Hoạt động mua bán dầu ăn phế thải hiện nay trên địa bàn thành phố không còn
là vấn đề mới mẻ Phần lớn các cơ sở hoặc có nguồn thu mua, hoặc cho không ngườiquen Một số cơ sở (39%) đồng ý bán nếu giá mua cao hơn giá họ bán hiện tại Một số
cơ sở (17%) từ chối bán do đối tượng thu mua là người có quan hệ làm ăn lâu dài hoặcngười quen
Trang 29Tuy nhiên hoạt động thu mua dầu ăn phế thải ở các cơ sở này cũng chưa mangđược tầm ý nghĩa to lớn của hoạt động bảo vệ môi trường, sức khoẻ cộng đồng; bởichính các cơ sở kinh doanh ăn uống cũng đã tái sử dụng dầu nhiều lần để chế biếnmón ăn trước khi bán dầu ăn phế thải ra ngoài Vì vậy không chỉ những khách hàngcủa những nơi mua dầu phế thải về chế biến thức ăn mà chính khách hàng ở các cơ sởphát sinh dầu phế thải này cũng bị ảnh hưởng sức khoẻ.
b Hệ thống các nhà hàng khách sạn
Đi cùng với chiến lược phát triển ngành du lịch là sự phát triển ồ ạt của hệthống nhà hàng khách sạn trên khắp đất nước Việt Nam, đặt biệt là tại TP.HCM TheoTổng Cục Thống kê, chỉ tính đến năm 2008, trên địa bàn TP.HCM đã có khoảng62.462 nhà hàng khách sạn hoạt động với quy mô lớn nhỏ khác nhau Theo kết quảkhảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Lọc - Hoá dầu, Đại học Bách Khoa vànhóm hoạt động Quỹ Tái Chế, Sở Tài Nguyên và Môi Trường tại một số khách sạnnhà hàng trên địa bàn thành phố thì trung bình lượng dầu ăn thải ra là 10- 15 lít/ngày.Lượng dầu ăn này sẽ được bán cho các đầu mối thu mua
c Hệ thống các cửa hàng thức ăn nhanh
Hiện nay trên địa bàn TP.HCM có ba hệ thống cửa hàng thức ăn nhanh lớn là:KFC, Lotteria và Jollibee Theo kết quả khảo sát trên ba hệ thống cửa hàng này thìhiện trên địa bàn TP.HCM có trên 100 cửa hàng bán thức ăn nhanh thuộc hệ thống nhàhàng KFC, 17 cửa hàng của Lotteria, 3 cửa hàng của Jollibee Lượng dầu phế thải từcác cửa hàng ở dạng dầu lỏng, phát sinh chủ yếu từ quá trình chiên, rán thực phẩm gà,cá… Tuỳ theo quy mô của cửa hàng và số lượng khách hàng, lượng dầu ăn phế thảithải ra mỗi cửa hàng trung bình khoảng 10 – 20 lít/ngày
- Hệ thống cửa hàng KFC: mỗi nhà hàng thải trung bình 15 – 20 lít/ngày Với
số lượng cửa hàng là 100 thì tổng năng suất dầu thải ra trung bình 1500 - 2000lít/ngày
- Hệ thống cửa hàng Lotteria: mỗi cửa hàng thải trung bình 10 lít/ ngày Với sốlượng cửa hàng là 17 thì tổng năng suất dầu thải ra trung bình khoảng 170 lít/ngày
- Hệ thống cửa hàng Jollibee: Mỗi cửa hàng thải 10 lít/ngày Với số lượng cửahàng là 3 thì tổng năng suất dầu thải ra trung bình khoảng 30 lít/ngày
Trang 30Lượng dầu ăn này cũng được các đầu mối thu mua lại và bán cho các đơn vị sảnxuất khác.
2.6.3 Dầu ăn phế phẩm từ dầu tinh luyện
Ngoài lượng dầu ăn phế thải nói trên thì hiện nay trên địa bàn TP.HCM cũngđang phát sinh một lượng dầu ăn phế phẩm rất lớn từ các đơn vị tinh luyện dầu Lượngdầu ăn phế phẩm này có thể được tái chế cho nhiều mục đích khác nhau, trong đó cósản xuất biodiesel…
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn TP.HCM có trên 24 đơn vị sảnxuất tinh luyện dầu thực vật có quy mô sản xuất khác nhau Theo đánh giá sơ bộ thìhầu hết các đơn vị tinh luyện dầu ăn nói trên đều phát sinh ra lượng dầu ăn phế phẩmtrong quá trình sản xuất Lượng dầu ăn phế phẩm này được bán cho các đầu mối thumua sử dụng với các mục đích khác nhau
Kết quả khảo sát tại một số đơn vị tinh luyện dầu cho thấy lượng dầu ăn phếphẩm thải ra có thể dùng để sản xuất biodiesel trung bình khoảng 1,5 – 2 tấn/ngày Kếtquả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Lọc - Hóa dầu, Đại học BáchKhoa cho thấy:
Công ty liên doanh dầu ăn Golden Hope Nhà Bè: lượng dầu có axit béo (có thểdùng sản xuất biodiesel) là khoảng 50 tấn/tháng
Công ty Cổ phần dầu Thực vật Tân Bình:
+ Dầu thải có axit béo: khoảng 2 tấn/ngày Hiện nguồn này được công ty báncho các cơ sở chế biến thức ăn gia súc
+ Dầu thải từ quá trình trung hòa (xà phòng hóa): khoảng 10 tấn/ngày, được bán
để sản xuất xà phòng có chất lượng thấp
2.7 Tổng quan về tình hình tái sử dụng, tái chế và thải bỏ dầu ăn phế thải
Từ kết quả phân tích các nguồn phát sinh dầu ăn phế thải nói trên có thể thấylượng dầu ăn phế thải trên địa bàn TP.HCM là rất lớn, khoảng vài chục tấn mỗi ngày.Một vấn đề đang gây đau đầu các cơ quan quản lý là chưa quản lý được lượng dầu ănthải ra trên địa bàn Thông thường, dầu đã sử dụng (tại các hộ gia đình và quán ăn nhỏ)được thải trực tiếp vào hệ thống cống thoát nước Dầu ăn thải vào cống dễ bị đọng lạigây tắc nghẽn hệ thống thoát nước Ngoài ra việc thải bỏ dầu ăn không đúng cách còngây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, đặc biệt là nguồn nước tiếp nhận
Trang 31Hiện nay, lượng dầu ăn thải ra mỗi ngày được các đầu mối thu gom và bán lạicho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc, các cơ sở làm bánh, các xe thức ăn trên vỉa
hè và các hộ gia đình thu nhập thấp Do nhận thức của người dân về tác hại của việc sửdụng dầu ăn phế thải đến sức khỏe còn kém, bản thân những người đã có hiểu biết vềtác hại đó cũng còn có ý thức rất kém, họ lờ đi và tiếp tục sử dụng
Tính chất của kinh doanh thực phẩm ở nước ta nói chung và TP.HCM nói riêngchủ yếu là kinh doanh nhỏ, lẻ Vì vậy, việc quản lý nguồn dầu này rất khó khăn Mặtkhác, do đường dây thu gom và tiêu thụ dầu ăn phế thải đã có từ rất lâu nên việc kiểmsoát việc thu gom dầu ăn phế thải là rất khó khăn
Một giải pháp để tái chế dầu ăn phế thải là sản xuất biodiesel, đây là một giảipháp vừa mang ý nghĩa kinh tế, vừa mang ý nghĩa môi trường
2.8 Tổng quan về biodiesel và tình hình nghiên cứu sản xuất biodiesel
Biodiesel là một loại nhiên liệu có khả năng thay thế diesel truyền thống.Biodiesel có những tính năng gần giống như diesel nên nó được sử dụng rộng rãi chocác phương tiện có động cơ đốt trong chạy bằng diesel như ô tô, xe buýt, tàu thủy, máymóc công nghiệp,…
2.8.1 Tại Việt Nam
Trong khoảng 5 năm gần đây, các nghiên cứu về điều chế nhiên liệu biodiesel
từ dầu thực vật phế thải đã được thực hiện ở Hà Nội (Trung tâm Khoa học tự nhiên vàCông nghệ Quốc gia) và TP.HCM (Đại học Quốc gia Tp.HCM) Các nghiên cứu nàychủ yếu đi theo hướng điều chế biodiesel bằng phương pháp ester hoá Các nghiên cứu
về khả năng sản xuất biodiesel từ các nguồn dầu thực vật mới và phế thải đã đượcnghiên cứu tại Bộ môn Công nghệ Chế biến Dầu khí và Trung tâm Lọc – Hoá dầu(Trường Đại học Bách khoa TPHCM) từ nhiều năm nay
Tại Việt Nam, khả năng sản xuất biodiesel từ nguồn dầu ăn thải là một trongnhững định hướng hoàn toàn khả thi Riêng ở TPHCM là nơi tập trung nhiều nhiều cơ
sở sản xuất tinh luyện dầu thực vật cũng như các xí nghiệp lớn, nhà hàng, quán ăn sửdụng dầu thực vật trong chế biến thực phẩm (mì ăn liền, thực phẩm chiên rán,…).Lượng dầu ăn phế thải ước chừng vài chục nghìn tấn/năm sẽ là nguồn nguyên liệu rẻtiền để sản xuất biodiesel
2.8.2 Tình hình sản xuất và sử dụng biodiesel trên thế giới
Trang 32Tại Châu Âu, một số nước như Tây Ban Nha, Đức, Áo… đã sử dụng dầu ănphế thải trong nhà hàng và khách sạn - nơi phát sinh khối lượng lớn dầu từ mỡ thực vật
để chuyển hóa thành nhiên liệu biodiesel phục vụ cho các hệ thống xe buýt của một số Châu Đại Dương: Australia đang sản xuất biodiesel theo tiêu chuẩn EU từ dầu ăn thải.Hiện nước này tiêu thụ khoảng trên 100.000 tấn biodiesel từ nguồn dầu ăn phế thải
Tại Châu Á, nghiên cứu về biodiesel phát triển mạnh ở Trung Quốc, Nhật Bản,Hồng Kông, Ấn độ … Tuân thủ nghị định thư Kyoto, nhằm thực hiện nghĩa vụ giảm6% khí thải CO2, từ năm 1995 Nhật đẩy mạnh nghiên cứu và từ 1997 đưa biodieselvào phương tiện giao thông nội thành Nhà máy công suất 200 nghìn tấn/năm đượcxây dựng để xử lý dầu ăn thải của vùng Tokyo Tokyo đã sử dụng B20 cho xe tải vàtoàn bộ xe bus
Trung Quốc, Hồng Kông cũng đã thử nghiệm dùng biodiesel cho xe tải, xe bus.Biodiesel ở đây được điều chế chủ yếu từ dầu và mỡ thải Ngoài ra, các nước ĐôngNam Á như Malaysia, Thái Lan, Philippines … cũng bắt đầu quan tâm đến sản xuấtbiodiesel
Bảng 1.2 Sản Lượng Tiêu Thụ Diesel Ở một Số Nước
hàng năm (tấn)
Loại dầu sử dụng
Nguồn: Trần Bình Trọng, 2006
Trang 34công nghiệp, xuất phát từ việc tìm kiếm một chất đốt cho đèn Vì thế giữa thế kỷ thứ
19 một số nhà khoa học đã phát triển nhiều phương pháp để khai thác dầu một cáchthương mại
Người ta cũng bắt đầu đi tìm những mỏ dầu lớn Những cuộc khoan dầu đầutiên được tiến hành trong thời gian từ 1857 đến 1859 Lần khoan dầu đầu tiên diễn ra ởWietze, Đức, nhưng cuộc khoan dầu được toàn thế giới biết tới là của Edwin L Drakevào ngày 27 tháng 8 năm 1859 ở Oil Creek, Pensylvania Drake khoan dầu theo yêucầu của nhà công nghiệp người Mỹ George H Bissel và đã tìm thấy mỏ dầu lớn nhấtđầu tiên chỉ ở độ sâu 21,2 m
d Thành phần của dầu mỏ
Dầu mỏ là hỗn hợp của các hydrocacbon, là hợp chất của hydro và cacbon.Khoảng nhiệt độ sôi của các sản phẩm dầu mỏ trong chưng cất phân đoạn trongđiều kiện áp suất khí quyển tính theo độ C là:
- Dầu bôi trơn: > 300°C
Các thành phần khác: hắc ín, nhựa đường, các nhiên liệu khác
e Tầm quan trọng về kinh tế và xã hội
Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng
để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông vậntải.Trong nhiều thập kỷ qua, dầu đã từng là nguồn năng lượng sơ cấp chủ yếu của thếgiới và dự báo nó sẽ còn tiếp tục giữ được vị trí này, chiếm 40% tổng tiêu thụ nănglượng của thế giới trong suốt thời kỳ từ 1999 tới 2020 Trong thời kỳ này, dự báo tiêuthụ dầu của thế giới sẽ tăng khoảng 2,2%/năm, từ 75 triệu thùng/ngày (năm 1999) lên
199 triệu thùng/ngày (năm 2020) Hơn nữa, dầu cũng được sử dụng trong công nghiệphoá dầu để sản xuất các chất dẻo (plastic) và nhiều sản phẩm khác Vì thế dầu thườngđược ví như là "vàng đen"
Trang 35Dầu mỏ đóng vai trò đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, là vấn đề nhạy cảm,
dễ gây ra chiến tranh, cũng là thế mạnh để các nước củng cố tiềm lực quốc phòng Vìtầm quan trọng kinh tế, dầu mỏ cũng là lý do cho những mâu thuẫn chính trị Tổ chứccác nước xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã sử dụng dầu mỏ như vũ khí trong cuộc xungđột Trung Đông và tạo ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào năm 1973 và 1979
3.1.2 Nhiên liệu sinh học
a Khái niệm
Biodiesel còn gọi là nhiên liệu diesel sinh học dùng cho động cơ diesel cónguồn gốc từ dầu thực vật hoặc mỡ động vật Biodiesel có thể được sản xuất từ bất kỳloại dầu thực vật hay mỡ động vật, bao gồm cả những loại đã qua sử dụng Tại ViệtNam, biodiesel có thể sản xuất từ các loại dầu đậu nành, đậu phộng, dầu dừa, mỡ cábasa,…và các loại dầu mỡ đã qua sử dụng
Biodiesel có nhiều ưu điểm, đó là nguồn năng lượng có thể tái tạo được; giảm ônhiễm môi trường và hiệu ứng nhà kính; là chất không độc, dễ bị phân hủy sinh học;
sử dụng trực tiếp, kéo dài tuổi thọ cho động cơ
Biodiesel không phải là một loại nhiên liệu giống như xăng dầu nhưng nó cóthể trộn chung với xăng dầu với các tỉ lệ khác nhau để sử dụng mà không phải thay đổiđộng cơ máy móc
Biodiesel thay thế diesel truyền thống làm nhiên liệu để chạy xe bus, xe tảitrọng nặng, tàu thủy…
Dầu ăn phế thải + methanol + catalyst ( NaOH, KOH) biodiesel + glycerol
Hình 3.1 Công Thức Cơ Bản Của Biodiesel
Trang 36Nhiên liệu diesel sinh học đã có lịch sử hơn 100 năm Dầu lạc là dạng đầu tiêncủa nhiên liệu này được Rudolf Diesel sử dụng để chạy động cơ diesel đầu tiên do ôngchế tạo vào năm 1895
Vào những năm 1930 và 1940, dầu thực vật được sử dụng như là nhiên liệudiesel nhưng chỉ được sử dụng trong tình trạng khẩn cấp
Năm 1970, cuộc khủng hoảng dầu mỏ xảy ra với mức độ nghiêm trọng, khi đóngười ta mới quan tâm nhiều đến nhiên liệu có nguồn gốc sinh học
Bắt đầu từ năm 1980, có nhiều cuộc tranh cãi lớn về việc sử dụng dầu thực vậtlàm một nhiên liệu Và cũng vào năm này, Caterpilla Brazil đã sử dụng hỗn hợp 10%dầu thực vật cho động cơ diesel mà không có sự thay đổi cũng như thay thế gì Tạithời điểm này, chưa có một thực hành nào sử dụng 100% dầu thực vật để thay thế chonhiên liệu diesel, nhưng hỗn hợp pha trộn 20% dầu thực vật và 80% dầu diesel đãmang lại thành công rực rỡ Một thời gian ngắn sau đó, người ta tiến hành thử nghiệmđến tỷ lệ 50/50
Tháng 8 năm 1982, Hội nghị đầu tiên của thế giới về việc sử dụng dầu thực vậtnhư là nhiên liệu được diễn ra tại Fargo, phía nam Dakota Năm 1982 là năm đángđược ghi nhận vì đây cũng chính là năm bắt đầu sử dụng dầu ăn phế thải, cũng là thờiđiểm Viện hóa hữu cơ của Graz (Áo) đầu tiên sử dụng ester của dầu hạt cải
Năm 1985, thí nghiệm đầu tiên trên thế giới sản xuất methyl ester dầu hạt cảiđược thực hiện tại trường Nông nghiệp Silberberg, Styria (Áo)
Năm 1987, thử nghiệm trên động cơ đo hàm lượng khói thải của methyl esterdầu ăn phế thải được tiến hành tại AVL List Gmble, Graz
Trong những năm 1989-1990, dự án đầu tư của chính phủ Áo về “sản xuấtbiodiesel chất lượng cao từ dầu ăn phế thải” được thực hiện
Năm 1991, viện Standardisation của Úc đưa ra những tiêu chuẩn đầu tiên ONC1190 về nhiên liệu biodiesel từ dầu hạt cải
Năm 1992, bộ năng lượng Hoa Kỳ cho phép sử dụng biodiesel như là mộtnguồn năng lượng thay thế
Năm 1994, biodiesel từ dầu ăn phế thải được bắt đầu đưa vào sản xuất côngnghiệp tại Mureck, Áo
Trang 37Năm 1995, thành công trong việc sản xuất methyl ester với hiệu suất 100% đãđược công bố
Tháng 7 năm 1997: ON C1190 được thay thế bằng ON C1191 trên methylester.Năm 1997, Đức đưa ra tiêu chuẩn DIN E 51606 cho methyl ester
Năm 1998, dự án sản xuất biodiesel từ nguồn nguyên liệu mỡ động vật chứa20% hàm lượng acid béo được thành lập
Ngày 30/ 04/ 2001, Mỹ tiếp tục sử dụng biodiesel để nhằm vào mục đích cảithiện môi trường và đa dạng hóa trong các nguồn năng lượng đang sử dụng
Đến năm 2003, có 4 quy trình tiên tiến cho việc sản xuất biodiesel từ dầu thựcvật và dầu ăn phế thải đã được công bố
c Nguồn sản xuất
Đối với Biodiesel có thể sản xuất từ nhiều nguồn khác nhau:
- Mỹ: sản xuất từ đậu nành, đậu phộng
- Châu Âu: sản xuất từ cây dầu dừa
- Malaysia: sản xuất từ cây dầu cọ
- Ấn Độ: sản xuất từ cây Jatropha curcus (cây dầu mè/ cây cọc rào)
- Trung Quốc: sản xuất từ cây Hoàng Liên Mộc, văn quan
Ngoài ra biodiesel còn được sản xuất từ mỡ cá basa, mỡ gà, dầu ăn phế thải, củcải đường, cỏ năng lượng, cây cọc giậu, than củi, chất thải nông nghiệp, sản phẩm phếthải rừng, phân vật nuôi
d Sự cần thiết của nhiên liệu sinh học
Tham gia cân đối nhiên liệu, giảm lượng xăng dầu nhập ngoại bằng nguồnnhiên liệu cung cấp trong nước, cải thiện cán cân thương mại
Sử dụng nhiên liệu sinh học sẽ giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, mộttrong những nguyên nhân gây biến đổi khí hậu
Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp sử dụng các yếu tố có sẵn trong quá khứ và hiện tại thể hiệnthực trạng và tình hình vùng nghiên cứu Sau khi thu thập các số liệu cần thiết tiếnhành phân tích tổng hợp, đánh giá nghiên cứu và phân phối kết quả nghiên cứu theo
Trang 38các mục tiêu nghiên cứu: mô tả về tình hình dầu mỏ của Việt Nam thông qua các sốliệu thống kê trong quá khứ và hiện tại, mô tả tình hình, điều kiện kinh tế xã hội củanước ta.
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu là khâu rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt các
dữ liệu thu thập được sẽ làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá, và dự báo phươnghướng phát triển của vấn đề nghiên cứu một cách chính xác và toàn diện hơn
a Số liệu thứ cấp
Thu thập các số liệu thông qua các báo cáo, số liệu thống kê của cơ quan quản
lý hay trên các phương tiện thông tin đại chúng Cụ thể là thu thập: tình hình kinh tếchung về: tình hình ô nhiễm không khí do các hoạt động từ dầu mỏ mang lại, tình hìnhphát thải CO2, các tổn hại con người phải gánh chịu, tình hình ô nhiễm do việc đổ bỏdầu ăn phế thải một cách bừa bãi, tổn hại sức khỏe con người do việc sử dụng dầu ăn
đã qua sử dụng để chế biến thực phẩm, đồ ăn Các thông tin về tình hình sản xuất và
sử dụng năng lượng sinh học của thế giới Quy trình công nghệ sản xuất biodiesel Cácthông tin về chi phí đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất biodiesel, doanh thu Sản lượngtiêu thụ diesel hàng năm của xe buýt thành phố, dự báo sản lượng tương lai
Thông tin từ: sở Khoa học Công nghệ TP.HCM, Quỹ tái chế chất thải rắn TP.HCM, Công ty TNHH Minh Tú - Cần Thơ, Sở Tài Nguyên và Môi trường TP.HCM,Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Lọc - Hóa dầu Đại học Bách khoa TP.HCM, Trungtâm quản lý và điều hành vận tải hành khách công cộng TP.HCM
b Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng câuhỏi được soạn sẵn Cụ thể là thu thập số liệu về số lượng cung dầu ăn đã qua sử dụngtiềm năng mà các nhà hàng, khách sạn trong TP.HCM sẵn lòng bán cho trung tâm sảnxuất nhiên liệu biodiesel, để khảo sát thực tế sử dụng dầu ăn đã qua sử dụng và thái độcủa các doanh nghiệp đối với nhiên liệu biodiesel Thu thập số lượng cầu tiềm năng vềnhiên liệu biodiesel để đánh giá nhu cầu sử dụng nhiên liệu sinh học cũng như thái độcủa người dân đối với nguồn nhiên liệu tái tạo này
Trang 39Thông tin từ: phỏng vấn 50 đại diện nhà hàng, khách sạn, cơ sở sản xuất để biết
số lượng cung dầu ăn tiềm năng Phỏng vấn 150 tài xế xe buýt có sử dụng động cơ đốttrong chạy bằng dầu diesel
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được từ những nguồn khác nhau sẽ được tổng hợp lại và phân
ra thành từng loại, từng mảng để tiện quản lý và sử dụng Những số liệu cần tính toán
sẽ được nhập vào bảng tính excel và tiến hành các phép tính phù hợp để đạt kết quảmong muốn
3.2.4 Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí
a Khái niệm
Phân tích lợi ích – chi phí là một phương pháp đánh giá sự mong muốn tươngđối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trịkinh tế tạo ra cho toàn xã hội
b Các bước thực hiện
- Nhận dạng vấn đề và xác định các phương án giải quyết: đó là nhận dạngkhoảng cách giữa tình trạng hiện tại và tình trạng mong muốn Sau đó các dự án, chínhsách hoặc chương trình khác nhau được xác định để làm thu hẹp khoảng cách này vàgiải quyết vấn đề
- Nhận dạng lợi ích và chi phí xã hội ròng của mỗi phương án: nhận dạng bảnchất của lợi ích và chi phí xã hội thực của mỗi phương án
- Ước tính và đánh giá lợi ích - chi phí của mỗi phương án: ở bước thứ ba này ta
cố gắng tìm ra giá trị kinh tế cho lợi ích và chi phí xã hội của mỗi phương án
- Lập bảng lợi ích và chi phí hàng năm: giá trị của lợi ích và chi phí hàng nămcủa mỗi phương án được lập thành bảng theo các năm phát sinh, và lợi ích ròng mỗinăm được tính
Bảng 1 Lợi ích và chi phí theo năm phát sinh
Năm Tổng lợi ích Tổng chi phí Lợi ích ròng hàng năm
Trang 40- Tính toán lợi ích xã hội ròng của mỗi phương án: được tính theo hai giai đoạn:
Ở giai đoạn thứ nhất, lợi ích ròng từng năm của dự án được quy đổi thành lợiích ròng tương đương ở một thời điểm chung bằng phương pháp lấy trọng số
Ở giai đoạn thứ hai, hiện giá của mỗi lợi ích ròng hàng năm được cộng lại vàcho ta con số tổng cộng cho toàn bộ kết quả
- So sánh các phương án theo lợi ích xã hội ròng
Chúng ta xếp hạng các phương án theo lợi ích xã hội ròng Phương án có lợi ích
xã hội ròng cao nhất được xếp hạng thứ nhất được xem là đáng lựa chọn nhất, phương
án có lợi ích xã hội ròng thấp phất được xếp hạng cuối cùng và là phương án ít mongmuốn nhất
- Kiểm định ảnh hưởng của sự thay đổi trong giả định và dữ liệu
- Đưa ra kiến nghị cuối cùng
c Các tiêu chí lựa chọn dự án trong phân tích lợi ích – chi phí
- Hiện giá ròng ( Net present value – NPV)
Khái niệm hiện giá ròng: Hiện giá ròng là khoảng chênh lệch giữa hiện giá củalợi ích và hiện giá của chi phí Hiện giá ròng được tính như công thức sau:
Trong đó:
- T: số năm tiến hành dự án
- r: tỷ suất chiết khấu
Hiện giá của chi phí (PVC) được tính tương tự:
0 (1 )^