Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành không hạt LDD6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành không hạt LDD6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành không hạt LDD6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành không hạt LDD6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành không hạt LDD6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành không hạt LDD6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành không hạt LDD6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống cam sành không hạt LDD6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1LÊ THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG CAM SÀNH
KHÔNG HẠT LĐ6 TẠI HUYỆN LỤC YÊN,
TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG CAM SÀNH
KHÔNG HẠT LĐ6 TẠI HUYỆN LỤC YÊN,
TỈNH YÊN BÁI
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Trung Dũng
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi
rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, bản thân tôi luôn nỗ lực cố gắng để hoàn thành các nội dung theo chương trình đào tạo Để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình trước hết, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành và
sâu sắc nhất tới TS Dương Trung Dũng người thầy đã tận tình giúp đỡ và hướng
dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo khoa Nông học, phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái, Ủy ban nhân dân xã Khánh Hòa, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài Cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Yêu cầu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống cam sành không hạt LĐ6 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng 4
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc áp dụng kỹ thuật bọc quả 5
1.2 Nguồn gốc cam quýt 6
1.3 Phân loại cam quýt 6
1.4 Đặc điểm thực vật của cây ăn quả có múi 8
1.4.1 Đặc điểm thực vật của cây ăn quả có múi 8
1.4.2 Đặc điểm thực vật cơ bản của cây cam Sành 10
1.5 Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây ăn quả có múi 11
1.5.1 Nhiệt độ 11
1.5.2 Ánh sáng 12
Trang 61.5.3 Ẩm độ và lượng mưa 12
1.5.4 Gió 13
1.5.5 Đất đai 13
1.6 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới và Việt Nam 14
1.6.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới 14
1.6.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trong nước 17
1.6.2.1 Tình hình sản xuất cam quýt ở Yên Bái 18
1.6.2.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 19
1.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
1.7.1 Xuất xứ, đặc điểm của cam Sành không hạt LĐ6 20
1.7.1.1 Xuất xứ cam Sành không hạt LĐ6 20
1.7.1.2 Đặc điểm của cam Sành không hạt LĐ6 20
1.7.2 Những nghiên cứu chọn tạo cam quýt không hạt 21
1.7.2.1 Giống cam mật không hạt 22
1.7.2.2 Giống cam V2 23
1.7.3 Các nghiên cứu về phân bón lá 23
1.7.4 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng và phân bón lá đối với cây trồng 24
1.7.4.1 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng đối với cây trồng 24
1.7.4.2 Vai trò của phân bón đối với cây trồng 25
1.7.5 Một số nghiên cứu về tác dụng của bọc quả cho cây ăn quả 26
1.8 Nghiên cứu về phòng trừ sâu, bệnh trên cây có múi và cam quýt 28
1.9 Một số kết luận rút ra từ tổng quan tài liệu 29
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
2.1.3 Dụng cụ nghiên cứu 30
2.2 Vật liệu nghiên cứu 30
2.2.1 Phân bón qua lá và chất kích thích sinh trưởng 30
2.2.2 Túi bọc quả 30
Trang 72.3 Nội dung nghiên cứu 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 31
2.4.1.1 Thí nghiệm 1 31
2.4.1.2 Thí nghiệm 2 32
2.4.1.3 Thí nghiệm 3 33
2.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 33
2.5 Biện pháp kĩ thuật áp dụng cho thí nghiệm (theo Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cam Sành - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên) 35
2.6 Phương pháp xử lý số liệu và tính toán 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng sinh trưởng, phát triển,
năng suất và chất lượng của giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 38
3.1.1 Ảnh hưởng của gốc ghép tới đặc điểm hình thái cây cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 38
3.1.2 Ảnh hưởng của gốc ghép đến thời gian xuất hiện lộc của giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 40
3.1.3 Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng các đợt lộc của giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 42
3.1.4 Đặc điểm ra hoa và tỉ lệ đậu quả của 1 số giống cam Sành không hạt LĐ6 trồng trên gốc ghép tại Lục Yên, tỉnh Yên Bái 46
3.1.5 Năng suất và chất lượng của quả cam Sành không hạt LĐ6 sau khi thu hoạch tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 47
3.1.6 Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sâu bệnh hại cây cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 48
3.2 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng đối với giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 49
Trang 83.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái tăng trưởng hình thái cây đối với giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên,
tỉnh Yên Bái 49
3.2.2 Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến thời gian xuất hiện và kết thúc các đợt lộc của cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 52
3.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình sinh trưởng của các đợt lộc của giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 54
3.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái ra hoa, đậu quả của giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên 58
3.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất của cam Sành không hạt LĐ6 59
3.2.6 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình trạng sâu bệnh hại trên cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 60
3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của bọc quả đối với giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái 61
3.3.1 Ảnh hưởng của bọc quả đến năng suất và chất lượng của quả cam Sành không hạt LĐ6 khi thu hoạch tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 61
3.3.2 Ảnh hưởng của bọc quả đến tình hình sâu bệnh hại cây cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
1 Kết luận 64
2 Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
I Tài liệu Tiếng Việt 66
II Tài liệu tiếng nước ngoài 68
PHỤ LỤC
Trang 9FAO : Food and Agricultural Organization of the United National
(Tổ chức nông lương thế giới)
KTST : Kích thích sinh trưởng KL
LSD 0.05 : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cây cam trên thế giới từ 2010 - 2014 14
Bảng 1.2 Sản lượng cam, quýt, chanh, bưởi ở các châu lục năm 2014 15
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cam, quýt ở các châu lục trên thế giới
năm 2012 - 2014 16
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất cam quýt ở nước ta giai đoạn 2010 -2014 17
Bảng 1.5 Diện tích cho thu hoạch, năng suất, sản lượng cam trên địa bàn tỉnh Yên Bái từ 2014-2016 18
Bảng 1.6 Cơ cấu cây ăn quả huyện Lục Yên năm 2016 19
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng sinh trưởng của giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 38
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của gốc ghép tới thời gian xuất hiện các đợt lộc của giống cam Sành không hạt LĐ6 trồng tại huyện Lục Yên, Yên Bái năm 2016 41 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của gốc ghép tới thời gian xuất hiện các đợt lộc của giống cam Sành không hạt LĐ6 trồng tại huyện Lục Yên, Yên Bái năm 2017 41 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng lộc Xuân của giống cam Sành không hạt LĐ6 42
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng các lộc Hè của giống cam Sành không hạt LĐ6 43
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng các lộc Thu của giống cam Sành không hạt LĐ6 44
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng các lộc Đông của giống cam Sành không hạt LĐ6 45
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của gốc ghép đến động thái ra hoa và tỷ lệ đậu quả của giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 46
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của gốc ghép đến năng suất quả cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 47
Bảng 3.10 Mức độ sâu, bệnh hại trên giống cam cành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 48
Trang 11Bảng 3.11 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái
tăng trưởng hình thái cây đối với giống cam không hạt LĐ6 50 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến thời gian xuất
hiện của các đợt lộc của giống cam Sành không hạt LĐ6 năm 2016 52 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến thời gian
xuất hiện của các đợt lộc giống cam Sành không hạt LĐ6 năm 2017 53 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình
sinh trưởng của lộc Xuân của giống cam Sành không hạt LĐ6 54
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình
sinh trưởng của lộc Hè của giống cam Sành không hạt LĐ6 55
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình
sinh trưởng của lộc Thu của giống cam Sành không hạt LĐ6 56
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình
sinh trưởng của lộc Đông của giống cam Sành không hạt LĐ6 57 Bảng 3.18 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái
ra hoa, đậu quả của giống cam Sành không hạt LĐ6 58 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến các yếu
tố cấu thành năng suất cam Sành không hạt LĐ6 59 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến sâu bệnh
hại trên cây cam Sành không hạt LĐ6 60 Bảng 3.21 Ảnh hưởng của bọc quả đến năng suất và chất lượng của quả cam Sành
không hạt LĐ6 61 Bảng 3.22 Ảnh hưởng bọc quả đến sâu bệnh hại trên cây cam Sành không hạt LĐ6 62
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm trong khu vực Đông Nam
Á, được coi là trung tâm tài nguyên di truyền thực vật Nhiều loài cây trồng đang phát huy lợi thế, giúp người dân ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua quá trình canh tác để thu được năng suất và lợi nhuận kinh tế Nhiều cây trồng đặc sản không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn nổi tiếng trên thế giới Trong đó, việc phát triển mạnh một số loài cây ăn quả như cam, quýt, nhãn, xoài đang góp phần giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Những năm gần đây, cây ăn quả nước ta tăng nhanh cả về diện tích, năng suất
và sản lượng Việt Nam tuy là nước trồng nhiều cam quýt và có lịch sử trồng trọt lâu năm nhưng năng suất, chất lượng còn ở mức khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu cũng như tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc, được chia thành 9 huyện, thị xã, thành phố; nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp Cây cam Sành gắn liền với người dân huyện Lục Yên từ nhiều năm nay mang lại hiệu quả kinh tế cao cho hộ dân ở các xã Khánh Hòa, Mường Lai, thị trấn Yên Thế, Tân Lĩnh Năm 2016 tổng diện tích cây ăn quả có múi cam, quýt toàn tỉnh là 3.088,28 ha trong đó huyện Lục Yên chiếm diện tích 471,4 ha chủ yếu là cam Sành (Cục thống kê tỉnh Yên Bái, 2016)[ 7 ]
Tuy nhiên một vài năm trở lại đây diện tích cam Sành đã giảm mạnh, năng suất thấp, chất lượng không cao, do giống cam Sành địa phương vị chua, nhiều hạt (số hạt/quả 20 - 30 hạt) do vậy quả cam Sành chỉ có thể tiêu thụ nội địa với số lượng hạn chế Đồng thời, trong thực tế sản xuất, cây cam chủ yếu được trồng trên đất đồi dốc nên việc chăm sóc, cung cấp dinh dưỡng cho cây qua bón phân xuống đất còn gặp nhiều khó khăn
Trong thời gian qua Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã tạo ra giống cam Sành không hạt LĐ6 và đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho
Trang 13trồng khảo nghiệm ở một số địa phương Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Yên Bái
đã cho trồng thử nghiệm giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Để đánh giá khả năng sinh trưởng của giống cam này trên 02 loại gốc ghép chanh Volca và cam Mật và đánh giá hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp
kỹ thuật như bón phân đầy đủ, cân đối kết hợp với phun phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng, bọc quả đối với giống cam Sành không hạt LĐ6 chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật
đối với giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu
Đánh giá ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật: Gốc ghép, phân bón lá, kích thích sinh trưởng và bọc quả đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống cam Sành không hạt LĐ6 trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
2.2 Yêu cầu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống cam Sành không hạt LĐ6 trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng tới khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng đối với giống cam Sành không hạt LĐ6 trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
- Nghiên cứu ảnh hưởng của bọc quả đối với năng suất và chất lượng của giống cam Sành không hạt LĐ6 trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Là cơ sở để nghiên cứu sâu hơn về việc lựa chọn giống cam mới, áp dụng các biện pháp quy trình kỹ thuật mới phù hợp với điều kiện sản xuất cam tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Là cơ sở cho việc xây dựng, bổ sung quy trình thâm canh tăng năng suất, chất lượng cũng như nâng cao giá trị kinh tế cho cây cam Sành không hạt LĐ6 trồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Trang 143.2 Ý nghĩa thực tiễn
Lựa chọn được giống cam thích hợp nhất đối với điều kiện sinh thái của vùng
để đưa vào nhân rộng trong sản xuất
Giúp cho người dân bước đầu tiếp cận các biện pháp kỹ thuật mới trong việc trồng và chăm sóc cây cam nói riêng và cây ăn quả nói chung, góp phần tăng năng suất, chất lượng quả, hạn chế sâu bệnh nâng cao thu nhập cho người làm vườn
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống cam sành không hạt LĐ6
Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa, kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu
Để có cây giống tốt, đạt tiêu chuẩn, chất lượng quả đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng thì cần phải qua bình tuyển, xét chọn những cây đầu dòng và có kỹ thuật nhân giống phù hợp đạt những tiêu chí riêng như: độ thuần, độ đồng đều, dịch hại, gốc ghép, cành ghép, mắt ghép, cành chiết, bộ rễ, thân, lá Gốc ghép là yếu tố rất quan trọng trong việc tạo giống
Về mặt di truyền, gốc ghép sao chép đầy đủ đặc tính di truyền của cây mẹ cần nhân giống Gốc ghép càng khỏe, càng thích ứng với điều kiện sinh thái của địa phương và tiếp hợp tốt với cành hoặc mắt ghép sẽ cho cá thể ghép có tuổi thọ cao
và sản lượng cao (Bùi Thanh Hà, 2005) [10]
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng
Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái, trong chu kỳ sống một năm, cam quýt thường ra 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu, Đông) Quá trình ra lộc ở cam quýt liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phân dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả năm sau Nếu có các biện pháp kỹ thuật hợp lý để điều chỉnh quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam quýt Từ cơ sở khoa học này, việc nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ giữa các đợt lộc trong năm nhằm có thêm thông tin
cơ bản, tiền đề của các biện pháp kỹ thuật là cần thiết
Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì
Trang 16thế việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả
Cùng với việc sử dụng phân bón lá, sử dụng chất kích thích sinh trưởng là một biện pháp kĩ thuật tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Chất điều tiết sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như là một phương tiện điều chỉnh hóa học rất quan trọng đối với nhiều loại đối tượng cây trồng Các ứng dụng như kích thích nhanh sinh trưởng của cây, sự ra hoa của cây, tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt,… Quả được hình thành sau khi xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh sau đó hợp tử phát triển thành phôi Phôi sinh trưởng là trung tâm sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và gibberellin Các chất này khuyếch tán vào bầu và kích thích sự lớn lên của quả Vì vậy, nếu không có quá trình thụ phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng Trong số các hoocmon sinh trưởng thì Gibberellin axít (GA3) có ảnh hưởng lớn, quan trọng đối với các hoạt động sinh lý của cây Vai trò sinh lý quan trọng của Gibberellin đối với cây trồng nói chung là kích thích sự giãn tế bào theo chiều dọc, giúp kích thích sự sinh trưởng kéo dài của các cơ quan, kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, ảnh hưởng đến phân hoá giới tính của các cơ quan sinh sản (ức chế sự phát triển hoa cái, kích thích sự phát triển hoa đực), kích thích sự sinh trưởng của quả
Việc sử dụng phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng trên cơ sở chăm sóc tốt
đã được khẳng định qua nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước từ đó làm tăng năng suất và chất lượng quả cam Sành
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc áp dụng kỹ thuật bọc quả
Bọc quả ngăn không cho sâu bệnh phá hại, nhất là ruồi đục quả Việc áp dụng
kỹ thuật bọc quả trên nhiều loại quả như cam, quýt, bưởi, xoài đã được các nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh kỹ thuật này làm cho mã quả, năng suất cũng như chất lượng tăng lên, giúp nâng cao giá trị sản phẩm sau thu hoạch
Trang 17Từ những cơ sở trên thấy rằng việc nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép, phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng và bọc quả trên cam Sành tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái là hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn Từ đó, sẽ xác định được gốc ghép, loại phân bón lá và bọc quả phù hợp với điều kiện thực tiễn tại địa phương để nâng cao năng suất, chất lượng cam Sành trong những năm tiếp theo
1.2 Nguồn gốc cam quýt
Hiện nay có nhiều ý kiến của các tác giả khác nhau song về cơ bản đều thống nhất là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ và Miến Điện Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay
Nobumasa Nito (2004) [34] đã viết “Nguồn gốc cây có múi được ghi nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong đó có cả vùng nam Nepal, nơi có những thung lũng và sườn đồi được bảo vệ khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa hè Tuy nhiên, sự thuần hoá và trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc” Theo Trần Thế Tục (1980) [23] nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3.000 - 4.000 năm trước
1.3 Phân loại cam quýt
Các loại cây ăn quả có múi được trồng phổ biến hiện nay đều thuộc 3 chi:
Citrus, Fortunella và Poncirus Ba chi này có quan hệ gần gũi, có đặc điểm chung
về sinh sản và được phân nhóm dưới tông Citreae, tông phụ Citrinae, họ Rutaceac,
họ phụ Aurantoideae (Nobumasa Nito, 2004) [34] Các hệ thống phân loại đầu tiên
chủ yếu dựa trên các đặc điểm giải phẫu hoa, đặc điểm hình thái, phân bố địa lý và
cả lịch sử phát triển của một số chi quan trọng Tanaka cho rằng có 144 loài với hàng loạt các giống và dòng thuộc mỗi loài, sau này vào năm 1961 ông đã công bố danh sách với 157 loài Nhà nghiên cứu cam quýt người Mỹ Hogdson (1961) trên
cơ sở phê phán cả 2 hệ thống phân loại, tạo ra một hệ thống phân loại mới bao gồm
16 loài từ hệ thống Swingle và hơn 20 loài từ hệ thống Tanaka [35]
Hệ thống của Swingle và Reece (1967) [35], cho đến nay đã được hầu hết các nhà nghiên cứu thừa nhận Theo khoá phân loại của Swingle (1967) [35] có 16 loài,
Trang 18phần lớn các loài cây cam, quýt, chanh, bưởi… thuộc chi Citrus (gồm 2 chi phụ là
Eucitrus và Papeda), tộc Citreae, họ phụ Aurantoideae, họ Rutaceae, bộ Geranial
Những nghiên cứu gần đây nhất sử dụng phương pháp phân loại hoá học (chemotaxonomy) kết hợp phân tích đặc điểm hình thái đã đưa ra kết luận, chỉ có 3
nhóm cây ăn quả có múi chính giống nhau về cấu trúc di truyền trong chi Citrus, đó là:
- Nhóm C.medica gồm C.medica (bòng/chanh yên - citron), Citrus
aurantifolia (cam chanh/chanh lime - common lime);
- Nhóm Citrus reticulata bao gồm Citrus reticulata (quýt - mandarin), Citrus
cinensis (cam ngọt - orange), Citrus paradise (bưởi chùm - grapefruit), Citrus aurantium (cam chua - orange), Citrus jambhiri (chanh sần - rough lemon);
- Citrus maxima và Citrus reticulata là những loài thuần thật sự được thương mại của chi Citrus, còn cam ngọt là dạng cây lai giữa quýt và bưởi, bưởi chùm là
dạng cây lai của cam ngọt và bưởi, chanh ta là dạng cây lai của cam và chanh sần
hay bưởi, còn chấp là dạng cây lai của chanh, bưởi và Microcitrus (Nobumasa Nito,
2004) [32]
Như trên đã đề cập nhóm quýt Citrus reticulata tập hợp khá nhiều loài và dạng
lai của các vật liệu trong và giữa loài, có một số đặc điểm riêng biệt Đặc điểm phân biệt rõ nhất của các giống thuần, giống lai thuộc nhóm quýt là rất dễ bóc vỏ, vỏ không có vỏ xốp trắng Nhóm quýt được chia thành 5 phân nhóm:
- Quýt Địa Trung Hải (C.deliciosa Tan)
- Quýt Satsuma (C.unshiu Marc)
- Quýt Kinh (C.nobolis Lour)
- Quýt Đại trà (C.reticulata Blanco)
- Quýt quả nhỏ
Ngày nay có hàng loạt các thể đột biến của quýt Satsuma, một số có nguồn
gốc phôi tâm đã được phát hiện ở Nhật Bản và Tây Ban Nha Giống quýt được
trồng rộng rãi nhất thế giới là giống Ponkan, đặc biệt ở Ấn Độ, Trung Quốc,
Philippin và Brasil (Nobumasa Nito, 2004) [34]
Theo Võ Văn Chi (1997) [4], ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài Theo Phạm Văn Hộ (1999) [12] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và hoang dại (có
Trang 194 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng rộng rãi ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới các vùng thấp đồng bằng Bắc
Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… đến đồng bằng Nam Bộ
1.4 Đặc điểm thực vật của cây ăn quả có múi
1.4.1 Đặc điểm thực vật của cây ăn quả có múi
Theo Hoàng Ngọc Thuận, 2002 [20] tương tự như những cây ăn quả nói chung cây ăn quả có múi gồm các bộ phận thực vật cơ bản được mô tả như sau:
- Rễ cây ăn quả có múi:
Rễ cây có múi thuộc loại rễ cọc như hầu hết các loại cây 2 lá mầm Trong thời gian nẩy mầm, ban đầu rễ mầm xuất hiện, nhanh chóng sinh trưởng xuống phía dưới, lớn lên và trở thành rễ cái Rễ cọc dễ phát hiện ở thời kỳ cây con nhưng khi cây lớn, trưởng thành thì khó phân biệt Cấu trúc bộ rễ ở cây lâu năm của các loài, giống biến động đáng kể tuỳ thuộc chủ yếu vào loại đất, tầng dầy của đất, chế độ canh tác, tuổi cây… và hình thức nhân giống (gieo hạt, chiết, ghép, giâm) Rễ mới
ra thường có màu trắng, rễ già hơn thì có màu hơi nâu vàng Khi rễ chuyển sang màu nâu đậm sẽ chết đi Rễ cây có múi không phân cấp tầng lông hút mà có nấm cộng sinh làm nhiệm vụ thay lông hút Thường trên các tế bào biểu bì của rễ non, có loại nấm sống sinh dưỡng, là chất đường bột của tế bào rễ, có tác dụng cung cấp dinh dưỡng và kích thích bộ rễ cây phát triển
- Thân, cành cây ăn quả có múi:
Cây có múi có dạng cây thân gỗ, cây bụi hoặc cây bán bụi tuỳ loài Một cây trưởng thành có thể có 4 - 6 cành chính Nếu không chú ý tạo tán ngay từ đầu thì cam quýt rất ít khi có thân chính Do đặc tính phát sinh cành và góc độ phân cành khác nhau của từng giống nên dạng cây của từng giống cũng khác nhau Tuỳ theo tuổi cây và điều kiện sống, hình thức nhân giống, cây có thể có chiều cao và hình thái khác nhau Hình thái tán cây rất đa dạng: có loại tán rộng, có loại tán thưa, phân cành hướng ngọn hoặc phân cành ngang; tán hình cầu, hình tròn, hình tháp hoặc hình chổi xể Cành có thể có gai hoặc không có gai, cũng có thể có gai khi còn non
và rụng gai khi cây lớn và già Một số giống, loài không có gai nhưng khi nhân giống bằng hạt lại xuất hiện gai trên thân và cành, nhưng ở cấp cành càng cao thì
Trang 20gai càng ít và càng ngắn (Hoàng Ngọc Thuận, 2002) [20] Trên cây cam quýt mọc
2 loại cành chủ yếu: cành dinh dưỡng và cành mang quả Cành dinh dưỡng mang cành hoa quả là cành mẹ
- Lá cây ăn quả có múi:
Lá gồm 3 phần chính: Phiến lá, eo lá và cuống lá Lá thường có 2 mặt (mặt lá
và lưng lá), mặt lá có mô dậu, chứa nhiều nhu mô diệp lục làm nhiệm vụ quang hợp
Độ dày của mô diệp lục thay đổi tuỳ theo giống Lưng lá có mô xốp, nhiều khí khổng tập trung, phân bố ở mặt lưng lá (mật độ khí khổng phụ thuộc vào từng giống như chanh có 650 khí khổng/mm2, cam khoảng 480 - 500 khi khổng/mm2) Thường mật độ khí khổng càng cao thì nhu cầu nước và ẩm độ của giống đó càng lớn Trong năm cây thường ra 4 đợt lá, lá mùa xuân, lá mùa hè, lá mùa thu và lá mùa đông Trong đó lá mùa xuân chiếm tỷ lệ cao nhất, thường từ 60 - 70%, lá mùa Xuân thường dài và hẹp, còn lá mùa Hè, Thu ngắn và rộng Tuổi thọ, kích thước của lá tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu, chế độ chăm sóc và khả năng dinh dưỡng của cây Tuổi thọ của lá cam quýt từ 2 - 3 năm tuỳ theo vùng sinh thái, vị trí lá và tình trạng sinh trưởng của cây và cành mang lá, vị trí của cấp cành (Hoàng Ngọc Thuận, 2002) [20] Hình thái, độ dày mỏng, kích thước, hình dạng, màu sắc, eo lá… phụ thuộc vào đặc điểm của từng giống Hình dạng lá thường là hình elip, lưỡi mác hoặc hình bầu dục, ngoài ra mật độ và độ lớn của túi tinh dầu cũng phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh
- Hoa cây có múi:
Hoa cam, quýt thuộc loại hoa lưỡng tính, có khả năng tự thụ phấn để phát triển thành quả Hình dạng, kích thước, màu sắc hoa và số lượng cánh hoa, nhị phấn hoa phụ thuộc vào đặc tính của từng giống, loài Hoa cam, quýt có 2 loại: hoa đủ và hoa
dị hình Hoa đủ cánh dài, màu trắng mẫu 5, mọc thành chùm hoặc đơn độc
(Poncitrus trifoliata) Nhị có thể có phấn hoặc không có phấn Số nhị thường gấp 4
lần số cánh hoa, xếp thành 2 vòng, nhị hợp Bầu thường có 10 - 14 ô (múi cam
quýt) Đa số các loài hoa có mùi thơm hấp dẫn Các loại trong chi citrus hoa, quả
đều đậu trên cành 1 năm, ít khi ra quả trên cành năm trước Theo Nobusama Nito (2004) [34], số lượng nhị hoa của cam quýt có từ 20 - 40 nhị, màu trắng; hạt phấn
Trang 21màu vàng có 4 thuỳ; hoa của bưởi và cam đắng thường to; còn hoa cam ngọt, chanh thường có kích thước nhỏ hơn Thường sau khi kết thúc hoặc ở thời kỳ rộ lộc xuân thì xuất hiện hoa
- Quả và hạt cây ăn quả có múi:
Quả cam thường có dạng hình cầu, hình cầu hơi dẹt, quả dẹt hoặc hơi thuôn; còn màu sắc thịt quả được quyết định bởi tỷ lệ 2 sắc tố beta caroten và Sabtophil Quả có từ 8 - 14 múi, có thể có 0 - 20 hạt hoặc nhiều hơn Một số đặc điểm về hình thái quả như dạng quả, kích thước quả, trọng lượng quả, màu sắc thịt quả phụ thuộc
cơ bản vào đặc trưng của giống
Quả cam, quýt gồm 3 phần cơ bản: vỏ quả, thịt quả và hạt Vỏ quả: Gồm 2
lớp: lớp vỏ ngoài (Ngoại quả bì) và lớp vỏ giữa (Trung quả bì) Lớp vỏ ngoài bao gồm lớp biểu bì trên và biểu bì dưới Lớp biểu bì có chức năng làm giảm tốc độ bốc hơi nước của quả; Lớp vỏ giữa gồm 2 lớp đó là lớp sắc tố vỏ quả: gồm có nhiều túi tinh dầu và lớp trắng vỏ quả, lớp trắng này dày hay mỏng chủ yếu do đặc tính
giống Màu vỏ quả thay đổi tuỳ theo giống, loài cùng các điều kiện sinh thái Thịt
quả: Do nội bì phát triển thành, gồm các múi, giữa các múi có vách ngăn, nhờ có
vách ngăn ta phân biệt được trung quả bì và nội quả bì Phần chủ yếu của thịt quả là tép quả (tép quả được bao bọc bởi múi quả) màu sắc tép quả phụ thuộc giống Hạt: Kích thước, dạng hạt và số lượng hạt trên quả thay đổi tuỳ theo giống
Trong chi Citrus hạt quất có kích thước nhỏ nhất, sau đó đến hạt quýt, cam, chanh
và to nhất là hạt bưởi Nhìn chung, hạt cam, quýt là hạt đa phôi, còn hạt bưởi đơn phôi; nhũ phôi hạt cam quýt thường màu xanh nhạt, còn nhũ phôi hạt bưởi màu trắng lục Trong hạt cam quýt có 1 phôi hữu tính do thụ tinh và phôi vô tính được hình thành do sự phân ly tế bào ở tâm không qua thụ tinh Cây con mọc từ phôi hữu tính thường nhỏ, yếu còn cây con mọc từ phôi vô tính thường khoẻ và giữ được đặc tính tốt của cây mẹ Khi gieo hạt, cây con mọc từ phôi vô tính thường mọc trước, sinh trưởng mạnh Dựa vào đặc tính ưu việt này của phôi vô tính, người ta ứng dụng
nó vào công tác phục tráng giống nguyên sản
1.4.2 Đặc điểm thực vật cơ bản của cây cam Sành
Ngoài những đặc điểm thực vật chung của họ cam quýt, cây cam Sành có đặc
Trang 22điểm thực vật mang đặc tính của giống Theo Đỗ Đình Ca, 1996, [3] đặc điểm thực vật của cam Sành cơ bản như sau:
- Thân cây: Thân gỗ, dạng thưa, mọc thẳng, tán cây hình chổi xể, thưa, màu xanh đậm Thân tròn, nhẵn không có gai, vỏ thân màu nâu mốc, phân cành nhiều, góc độ phân cành hẹp từ 25 - 30 độ, cành sinh trưởng có gai nhỏ, cành quả không có gai
- Lá cam Sành: Lá cam Sành có hình dạng ô van, màu xanh đậm, nút lá hơi nhọn, mép lá gợn sóng, cành lá nhỏ
- Hoa cam Sành: Nụ hoa tròn hơi bầu dục, màu trắng, đường kính khoảng 5
mm, cánh hoa lớn hơn cuống Đài hoa màu xanh, cánh đài cân đối, có lông tơ
- Quả cam Sành: Hình cầu dẹt, vỏ quả khi chín màu vàng thẫm, sần sùi, giòn,
dễ tách Túi tinh dầu ít, không hiện rõ, đỉnh quả và đáy quả bằng, hơi lõm Thịt quả màu vàng đậm, vách múi quả dễ tách, lõi đặc
- Hạt cam Sành: Hình trứng dài, màu trắng ngà, đỉnh hạt tròn, gốc hạt nhọn, vỏ lụa màu nâu sáng, đáy hạt màu nâu đậm, màu sắc phôi xám ngà
1.5 Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây
ăn quả có múi
Cam quýt được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới do có phổ thích nghi rộng, tuy nhiên năng suất cao và chất lượng cam quýt ngon, mẫu mã quả đẹp khi được trồng ở vùng á nhiệt đới (Vũ Công Hậu)[11]
Đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực nước ngầm sâu dưới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ cam quýt Về mặt dinh dưỡng, bên cạnh các yếu tố đa lượng như N, P, K cam quýt còn cần các yếu tố trung lượng, vi lượng như: Ca, S, Zn, B, Mo, Mn, Fe, Cu Nếu thiếu hụt một trong các nguyên tố trên đều làm cho cam quýt sinh trưởng và phát triển kém, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm
1.5.1 Nhiệt độ
Cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, vì vậy chúng ưa khí hậu
ấm, nhưng do phạm vi phân bố rộng, cho nên một số loài chịu được nhiệt độ thấp Phần lớn cam, quýt sinh trưởng được trong nhiệt độ từ 12 - 39oC, nhiệt độ
Trang 23thích hợp nhất từ 23 - 27oC Tại nhiệt độ thấp - 5oC có một số giống có thể chịu đựng được trong thời gian rất ngắn Khi nhiệt độ cao 40oC kéo dài trong thời gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài là rụng lá, cành khô héo Tuy nhiên, cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt độ không khí lên đến 50
Những vùng có mùa Hè quá nóng và mùa Đông quá lạnh, nhiệt độ bình quân năm >15oC, tổng tích ôn từ 2.500 - 3.500oC cũng có thể trồng cam quýt Ở các vùng lục địa xa biển không nên trồng cam quýt ở độ cao từ 1.700 - 1.800 m so với mực nước biển vì những vùng này màu đông thường có tuyết rơi và nhiệt độ xuống tới - 4oC
1.5.2 Ánh sáng
Theo Vũ Công Hậu thì cam quýt là cây ưa ánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ 10.000 - 15.000 lux, tương ứng với 0,6 cal/cm2, ứng với ánh sáng lúc 8
- 9 h sáng và 4 - 5 h chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa hè Tuy nhiên, để
có được lượng ánh sáng như vậy cần bố trí mật độ hợp lý như không quá dày cũng không quá thưa, vườn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời có tác dụng che bớt ánh sáng để có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh
1.5.3 Ẩm độ và lượng mưa
Cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng và ẩm vì vậy cam quýt là cây
ưu ẩm, ít chịu hạn, cần nhiều nước nhất là thời kỳ nảy mầm, cây con và thời kỳ phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết quả và quả đang phát triển Trong năm cam quýt cần nước từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Tuy ưa ẩm nhưng cam quýt rất sợ úng đất sẽ
Trang 24bị thiếu oxy, bộ rễ hoạt động sẽ kém vì vậy sẽ làm cho cây rụng lá, hoa, quả (Bùi Huy Kiểm, 2000) [14] )
Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho năng suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vỏ mỏng Nếu độ ẩm không khí quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện tượng rám nắng
và nứt quả (Hoàng Ngọc Thuận, 1994[20] )
Theo Hoàng Ngọc Thuận (1994)[20], lượng mưa thích hợp cho các vùng trồng cam quýt trên dưới 2.000 mm, cam cần 1.200 - 1.500 mm/năm, quýt cần nhiều hơn
từ 1.500 - 2.000 mm/năm, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi nước tự do bằng 1% và độ ẩm đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng
1.5.4 Gió
Quy luật hoạt động của gió là một vấn đề cần lưu ý trong việc bố trí các vùng trồng cam quýt Tốc độ gió vừa phải có ảnh hưởng tốt đến việc lưu thông không khí, điều hòa độ ẩm, giảm sâu bệnh hại, cây sinh trưởng tốt
Ở các vùng đồng bằng sông Hồng và ven biển miền Trung về mùa mưa thường có gió bão gây đổ cây, gẫy cành, rụng quả làm cho khả năng sinh trưởng và năng suất của cây giảm rõ rệt Do vậy, cần chú ý đến việc trồng các đai rừng chắn gió cho các vườn trồng cam quýt ở những vùng hay có bão lớn (Nguyễn Văn Luật (2006) )[17]
Trang 25Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miền sinh thái ở Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam
1.6 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có khoảng 140 nước sản xuất cây ăn quả có múi Tuy nhiên, hầu hết sản lượng lại tập trung theo những vùng nhất định Hiện nay có 3 nước sản xuất quả có múi lớn nhất thế giới là Braxin, Mỹ và Trung Quốc, chiếm khoảng 60% tổng sản lượng quả có múi toàn cầu Các thống kê về thị trường tiêu thụ quả tươi cũng cho thấy khoảng 60% sản lượng quả có múi được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, 40% còn lại là đưa vào chế biến Sao Paulo (Braxin) và Florida (Mỹ)
là 2 vùng sản xuất cam chủ lực, chiếm khoảng 90% sản lượng nước cam toàn cầu Braxin là nước xuất khẩu quả có múi lớn nhất, chiếm 20% tổng sản lượng quả có múi của thế giới, tiếp theo là Mỹ (14%), Trung Quốc (12%) và Mexico (6%) Quả
có múi được xếp thứ nhất trong số các loại cây ăn quả về giá trị thương mại quốc tế Quả có múi được tiêu thụ dưới hai phương thức: quả tươi (chủ yếu là cam) và nước quả (chủ yếu là nước cam) (Nguyễn Thế Huấn và cs, 2005) [13]
Theo số liệu thống kê của FAO, năm 2014 sản xuất cây ăn quả của toàn thế giới năm 2014 đạt 3.885,97 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 182,3 tạ/ha, sản lượng đạt 70.856,36 nghìn tấn
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất cây cam trên thế giới từ 2010 - 2014
Trang 263.885,97 nghìn ha (năm 2014) giảm 241,11 nghìn ha Bên cạnh đó, năng suất và sản lượng cam tăng nhưng không liên tục theo các năm Sản lượng tăng 1.740,25 nghìn tấn trong vòng 1 năm từ 69.516,08 nghìn tấn năm 2010 lên 71.256,33 nghìn tấn năm
2011 Từ năm 2011 đến 2012 sản lượng giảm 2.374,82 nghìn tấn trong 1 năm Từ năm 2012 trở đi sản lượng tăng nhưng chậm Diện tích giảm nhưng năng suất tăng
là do người dân đã biết áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất, năng lực kĩ thuật của người dân được nâng cao
Bảng 1.2 Sản lượng cam, quýt, chanh, bưởi ở các châu lục năm 2014
Á đứng thứ 2 về quýt với 20.345,26 nghìn tấn và đúng đầu về sản lượng chanh với 6.955,39 nghìn tấn Sản lượng cam thấp nhất là châu Âu ( chỉ có 6.291,92 nghìn tấn) Những năm tới đây theo dự đoán sẽ có hai hướng phát triển về nhu cầu cam quýt, đầu tiên là sự phát triển về nhu cầu cam sẽ chậm lại Một số nước hiện nay đang phải đối phó với hai vấn đề trong sản xuất là bệnh loét (cakel) và hiện tượng
biến vàng trên cam quýt (Citrus varriegatet chlorosis), ngoài ra thu nhập người
trồng cam thấp do giá thành không cao nên diện tích trồng mới sẽ không tăng Hai
là xu hướng sử dụng quả cam tươi đối với các quốc gia phát triển sẽ giảm và công nghiệp chế biến cam sẽ tiếp tục phát triển ở những quốc gia đang phát triển mặc dù thị trường chính vẫn là các nước Bắc Mỹ và châu Âu
Trang 27Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cam, quýt ở các châu lục trên thế giới
- Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mexico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kì đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây phát triển rất mạnh Về năng suất
Trang 28năm 2012 đạt 212,1 tấn/ha, đến năm 2014 năng suất trung bình đạt 203,9 tấn/ha đây
là vùng cam có năng suất cao nhất thế giới
- Vùng châu Á: được khẳng định là quê hương của cam, quýt, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam quýt Tuy nhiên năng suất bình quân vẫn còn đang ở mức thấp, đó là do điều kiện kinh tế, xã hội của các nước này có những hạn chế nhất định, nghề trồng cam quýt chưa được chú trọng nhiều và đang tồn tại sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại như: Nhật Bản, Hàn Quốc và sự canh tác truyền thống của Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin tình trạng sâu bệnh hại nhiều nghiêm trọng
1.6.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trong nước
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam quýt
Cam quýt được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước
Từ những năm hoà bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20 cam quýt ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như
Xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến
Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam quýt như Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con đã hình thành một số vùng trồng cam chính ở nước ta
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất cam quýt ở nước ta giai đoạn 2010 -2014
Trang 29Số liệu bảng 1.4 cho thấy diện tích cam quýt tăng mạnh từ năm 2010 là 60,900 đến năm 2011 là 68,900 ha Từ năm 2011 đến năm 2012 giảm nhẹ từ 68,900
ha xuống 67,500 ha Sau đó ổn định qua các năm từ 2012 đến 2014 Diện tích cao nhất đạt 75,600 ha (năm 2014) Tổng sản lượng cam quýt đạt cao nhất vào năm
2014 đạt 736,100 tấn, từ năm 2010 đến 2013 giảm từ 720,100 tấn xuống còn 706,0 tấn đến năm 2014 tăng nhẹ lên 736,100 tấn
1.6.2.1 Tình hình sản xuất cam quýt ở Yên Bái
Yên Bái có diện tích cây ăn quả đạt 7.274 ha các loại trong đó diện tích trồng cam là 1.752 ha vào năm 2016 và diện tích cam cho thu hoạch là 823,2 ha (Cục thống kê tỉnh Yên Bái, 2016) [7] Diễn biến về diện tích cho thu hoạch, năng suất và sản lượng cam trên địa bàn tỉnh từ năm 2014 - 2016 được biểu hiện ở bảng 1.5
Bảng 1.5 Diện tích cho thu hoạch, năng suất, sản lượng cam
trên địa bàn tỉnh Yên Bái từ 2014-2016 Huyện,
thị, thành
phố
Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Diện Tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
T.PYênBái 10,1 32,3 32,5 5,8 28,5 16,5 5,85 28,55 16,7 Nghĩa Lộ 0,6 44,7 2,5 0,8 45,4 3,8 0,72 53,64 3,86 Lục Yên 197,5 61,8 1220 199,2 62,7 1248 197,6 63 1244,88 Văn Yên 34,5 27,8 96 25 26,6 66,6 12,8 25,42 32,54 Trấn Yên 101,6 38 386 101,6 39,9 405,5 101,6 40,6 412,66 Văn Chấn 340,5 46,5 1583 369,2 64,8 2392 480 73,73 3538,8 Yên Bình 26,5 31,5 83,5 26,6 33 87,8 24,63 35 86,21
Tổng 711,2 3404 728,3 4221 823,2 5335
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Yên Bái, 2016) [7 ]
Đến năm 2016 tổng diện tích cam cho thu hoạch tại tỉnh Yên Bái đạt 823,2 ha, năng suất trung bình đạt 64,8 tạ/ha, sản lượng đạt mức 5.335 tấn Trong đó huyện
có diện tích cam đạt cao nhất là huyện Văn Chấn với 480 ha, năng suất 73,7 tạ/ha,
sau đó đến huyện Lục Yên với 197,6 ha, năng suất đạt 63 tạ/ha
Trang 30Trong những năm gần đây cây cam quýt đặc biệt là cam Sành tại huyện Lục Yên và huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái có nhiều chuyển biến rõ nét, cam được mùa được giá giúp người dân tăng thu nhập Tuy nhiên, để duy trì và phát triển bền vững cam Sành tại tỉnh Yên Bái nói chung và huyện Lục Yên nói riêng phát triển mạnh theo hướng hàng hóa thì việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kĩ thuật là rất cần thiết như bón phân cân đối, kết hợp sử dụng phân bón qua lá, chất kích thích sinh trưởng kết hợp với phòng trừ sâu bệnh kịp thời để nâng cao năng suất cũng như chất lượng cam Sành là rất quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay
1.6.2.2 Tình hình sản xuất cây ăn quả tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Số liệu bảng 1.7 cho thấy chủng loại cây ăn quả ở Lục Yên rất đa dạng, một
số cây chiếm diện tích lớn như cây hồng (chiếm 32,22%), cam chiếm 23,14% tổng diện tích trồng cây ăn quả Song năm năm trở lại đây cây hồng bị sâu bệnh phá hoại đồng thời mất mùa liên tục, nên xu thế hiện nay nhiều nhà vườn chuyển sang trồng cam Trong nhóm cây có múi thì đứng đầu là cam (chiếm 23,14%) Vậy có thể thấy cam đang dần trở thành cây ăn quả chính trong cơ cấu cây ăn quả của huyện
Bảng 1.6 Cơ cấu cây ăn quả huyện Lục Yên năm 2016
TT Chủng loại
cây
Diện tích hiện có (ha)
Tỷ lệ (%)
DT cho sản phẩm (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 31Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Lục Yên có nhiều thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả nói chung và cây có múi nói riêng như: Vị trí địa lý thuận lợi,
cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, gần các trung tâm nghiên cứu cây ăn quả của tỉnh thuận lợi cho việc năm bắt thông tin về các tiến bộ khoa học mới Đất đai màu mỡ, quỹ đất còn nhiều là những cơ sở để mở rộng diện tích
Kết luận chung: Lục Yên là một huyện miền núi có điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội tương đối thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả đặc biệt là nhóm cây có múi Trong tập đoàn cây ăn quả của Lục Yên nhóm cây có múi đứng vị trí thứ hai, trong nhóm cây có múi thì đứng đầu là cây cam Hiện nay Lục Yên đang có kế hoạch mở rộng diện tích trồng cam trong thời gian tới
1.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.7.1 Xuất xứ, đặc điểm của cam Sành không hạt LĐ6
1.7.1.1 Xuất xứ cam Sành không hạt LĐ6
- Giống cam Sành không hạt LĐ6, được Viện Cây ăn quả miền Nam chọn tạo nhằm mục đích làm giảm số lượng hạt/quả, gia tăng giá trị quả cam Sành trên thị trường đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước
- Giống cam Sành không hạt có nguồn gốc từ xử lý chiếu xạ tia gamma trên mầm ngủ của giống cam Sành thương phẩm Giống này đã được bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
và miền Đông Nam bộ từ tháng 12 năm 2010 (Trần Thị Oanh Yến và cs 2008 [28]) Hiện giống cam Sành không hạt LĐ6 đang được Viện Cây ăn quả miền Nam nhân giống đưa vào sản xuất
1.7.1.2 Đặc điểm của cam Sành không hạt LĐ6
Cây sinh trưởng khá mạnh, cành, lá có hình dạng và màu sắc rất giống cam Sành thương phẩm, hoa có tỷ lệ hạt phấn bất dục cao > 70% Cây có khả năng ra hoa mạnh và cho hoa sớm (một năm sau khi trồng ở cây ghép, gốc ghép chanh Volca), hoa có khả năng tạo quả tự nhiên Thời gian từ khi trồng đến khi thu quả đầu tiên 15 - 18 tháng, thời gian ra hoa chính vụ từ tháng 3 - 5 và thời gian thu hoạch quả từ tháng 11 - 02 dương lịch
- Quả có khối lượng trung bình 230 - 240 gam, vỏ quả màu xanh sáng, khá
Trang 32bóng, ít sần hơn giống cam Sành thương phẩm Thịt quả có màu cam đậm, vị ngọt chua nhẹ, độ Brix trung bình 8%, nước quả nhiều (40 - 42%), số hạt/quả < 2
- Cây có khả năng cho quả 15 - 18 tháng sau trồng, năng suất có thể đạt 5 kg/cây/năm ở cây 3 năm tuổi và 20 - 25 kg/cây/năm ở cây 5 năm tuổi
1.7.2 Những nghiên cứu chọn tạo cam quýt không hạt
Số hạt trong quả cao là một trong những đặc tính quan trọng làm giới hạn tiêu thụ quả tươi ở cây có múi cả thị trường trong và ngoài nước Một trong những mục tiêu chính của chương trình chọn tạo giống cây có múi ở nước ta và trên thế giới hiện nay là: giống không hạt, hình dạng đẹp, phẩm chất ngon, không mẫn cảm với các loại sâu, bệnh hại nguy hiểm
Thông qua phương pháp chọn lọc từ các đột biến tự nhiên, Trần Thị Oanh Yến
và cs, (2006) đã tuyển chọn được 3 dòng cam Mật không hạt: CMKH 01, CMKH
-02, CMKH -03 Hiện các dòng này đang được trồng khảo nghiệm, đánh giá tính ổn định, năng suất và chất lượng tại các tỉnh phía Nam
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng các nghiên cứu chọn tạo giống cam quýt không hạt đã đạt được một số kết quả quan trọng Xu hướng chọn tạo giống cam ngoài việc chọn tạo ra các giống có năng suất, chất lượng cao, ổn định, chống chịu với điều kiện môi trường, sâu bệnh mà mục tiêu còn hướng tới chọn tạo các giống ít hạt hoặc không hạt
Các nghiên cứu cho thấy đặc tính không hạt của các giống cây có múi do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Tam bội thể (3x): Cây mất khả năng tạo ra tế bào sinh dục do vậy quả sẽ hoàn toàn không hạt trong mọi trường hợp canh tác
- Hiện tượng trinh sản hay hiện tượng quả điếc
- Tính trạng bất dục đực hoàn toàn hoặc từng phần, bất dục cái hoàn toàn hoặc từng phần
- Tính trạng tự bất hòa hợp (self-incompatibility) làm tế bào trứng không được thụ tinh dẫn đến không hạt
Ngoài ra các nghiên cứu gần đây cho biết đặc tính không hạt có thể do đột biến gen hoặc do một gen nào đó điều khiển, do vậy một hướng nghiên cứu làm bất hoạt gen cũng đã được mở ra
Trang 33Những kết quả nghiên cứu về đặc tính không hạt của cam quýt trên đây đã tạo
ra cơ sở cho việc xác định và xây dựng các phương pháp về chọn tạo giống không hạt Một số phương pháp chọn tạo giống không hạt như sau
- Chọn cây tam bội không hạt hình thành tự phát khi lai nhị bội với nhị bội
- Chọn giống cam bất dục đực và bất dục cái
- Chọn giống thể đa bội và dị bội cho quả không hạt
Ngoài ra còn có các phương pháp tạo giống không hạt bằng đột biến và biến dị
tế bào soma, tạo giống không hạt thông qua di truyền tình trạng tự bất hòa hợp, hay chọn tạo bằng dung hợp tế bào trần
Ở Việt Nam, các phương pháp chọn tạo giống cam không hạt vẫn chủ yếu là chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính, gây đột biến và ứng dụng công nghệ sinh học Đây là những phương pháp chọn tạo cơ bản mang tính hiện đại mới chỉ thực hiện mấy năm gần đây ở các Viện nghiên cứu, trường Đại học do vậy một số kết quả thu được mới chỉ là tiền đề hoặc vật liệu khởi đầu cho những chọn tạo tiếp theo Nhìn chung hạn chế lớn nhất đối với cây ăn quả có múi nói chung và cam nói riêng ở nước ta vẫn là chất lượng kém trong đó vấn đề nhiều hạt luôn được xem là yếu tố quyết định đến chất lượng hàng hóa Chính vì vậy mục tiêu chọn các giống năng suất chất lượng và ít hạt hoặc không hạt luôn là vấn đề xuyên suốt trong công tác chọn tạo giống cam quýt
Trong các năm qua, ngoài giống cam sành không hạt LĐ6 các cơ quan khoa học
đã chọn, tạo ra một số các giống cây có múi không hạt hoặc ít hạt có chất lượng tốt:
1.7.2.1 Giống cam mật không hạt
Là giống có nguồn gốc từ Viện cây ăn quả miền Nam Cây có dạng hình cầu vươn cao, khả năng ra hoa mạnh, hạt phấn có tỉ lệ bất dục rất cao > 95%
Quả có dạng hình cầu, vỏ quả có màu xanh vàng đến vàng xanh khi chín, tính không hạt của quả rất ổn định ngay cả trong điều kiện thụ phấn nhân tạo với các giống cây có múi khác (bưởi Da xanh, bưởi Năm Roi, cam Sành, cam Dây, quýt Đường) Khối lượng quả trung bình 150 - 270 g, chất lượng quả ngon, thịt quả màu vàng tươi, dày vỏ từ 3,5 - 4,0 mm, tỉ lệ nước quả 36 - 52%, độ Brix 8 - 10%, acid tổng số 0,5 - 0,6 g/100 ml dịch quả, hàm lượng vitamin C 30 - 32 mg/100 ml dịch
Trang 34quả, năng suất khá cao (20 - 30 kg/cây/năm ở cây 4 - 5 năm tuổi) Cây có khả năng thích nghi với điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long và vùng cao (ở tỉnh Lâm Đồng)
1.7.2.2 Giống cam V2
Giống cam V2 được Viện Di truyền Nông nghiệp chọn tạo từ giống Valencia Olinda, giống được làm sạch bệnh qua vi ghép, cây khoẻ và năng suất cao hơn so với giống gốc; được Bộ NN - PTNT công nhận là giống chính thức (Đỗ Năng Vịnh, 2010) Cam V2 là giống cam ngọt và chín muộn, c am V2 có khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh tốt Cây sinh trưởng và phát triển tốt, phân cành tương đối đều, cây cân đối, khả năng ra hoa đậu quả cao, Quả cam V2 dễ bảo quản và bảo quản được lâu trên cây, thành phần và chất lượng nước quả tuyệt hảo Quả to trung bình (190,0 - 250,0 gr/quả), có thể để trên cây lâu mà không làm giảm chất lượng, vỏ quả mỏng, có màu vàng đẹp với độ dày trung bình 3,0 mm, lõi quả vàng ươm, số múi trung bình trên quả là 11 múi, hàm lượng nước cao, tỷ lệ chất xơ trong quả thấp, chất lượng thơm, ngọt đậm, ít hạt, khả năng kháng bệnh (bệnh loét, chảy gôm, nấm đen gốc, khô cành) tốt hơn so với các giống hiện có trong nước
Do vậy việc trồng thử nghiệm các giống cam mới ít hạt, không hạt và việc áp dụng biện pháp khoa học kỹ thuật (bón phân qua lá và chất kích thích sinh trưởng) nhằm giảm số hạt/quả, nâng cao năng suất chất lượng cam tại huyện Lục yên, tỉnh Yên Bái là những vấn đề chính trong nghiên cứu đề tài nghiên cứu của chúng tôi
1.7.3 Các nghiên cứu về phân bón lá
Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết
Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng
và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt
Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao, có thể nói cao gấp 8 - 10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh
Trang 35dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh
và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng
Trong những năm qua, sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được các loại bệnh hại trên cây ngay cả trong giai đoạn cây đang sinh trưởng Phân bón lá ngoài cùng cấp chất dinh dưỡng cho cây còn có bổ sung thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng rộng rãi trong việc trồng cây ăn quả, đặc biệt là họ cây cam quýt
Do vậy, việc sử dụng các dạng phân bón lá cho cây cam quýt là rất cần thiết
1.7.4 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng và phân bón lá đối với cây trồng
1.7.4.1 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng đối với cây trồng
- Các chất điều tiết sinh trưởng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý của cây trồng Căn cứ vào hoạt tính sinh lý của các chất điều tiết sinh trưởng, các nhà khoa học đã phân thành 2 nhóm chất là các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng Các chất kích thích sinh trưởng như GA3, IAA, IBA… có tác dụng kéo dài chiều cao cây, kéo dài chiều dài cành hoa, tăng số cành nhánh, tăng kích thước hoa Các chất
ức chế sinh trưởng như CCC, B9, MH … có tác dụng giảm chiều cao cây nhưng làm tăng đường kính thân Vì vậy, chất điều tiết sinh trưởng thực vật ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất cây
ăn quả nói riêng
- Chất kích thích sinh trưởng có vai trò:
+ Xúc tiến sự nảy mầm của củ giống và hạt giống: sự ngủ nghỉ của hạt và củ giống được quyết định bởi cân bằng ABA/GA3 Do đó có thể thay đổi cân bằng này
có lợi cho sự nảy mầm bằng cách giảm ABA hoặc tăng GA3
+ Điều khiển sự ra hoa: sự ra hoa của cây trồng nói chung và cây ăn quả nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ, tương quan sinh trưởng, phát triển, hàm lượng các chất điều tiết sinh trưởng… xét cho cùng thì các ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh như: ánh sáng, độ ẩm và nhiệt độ không khí đều ảnh hưởng đến các vật chất xúc tiến ra hoa của cây Trong đó các phytohoocmon đóng vai trò rất quan trọng
Trang 36+ GA3 có tác dụng tăng trưởng tế bào theo chiều dọc của cây và lá, kích thích hạt hoặc củ nẩy mầm đâm chồi sớm, đồng bộ và khỏe hơn GA3 cũng có hiệu quả tăng chiều cao đối với gốc ghép, có thể dùng với những gốc ghép hình tháp GA3 và chất đối kháng với GA3 là CCC được sử dụng rộng rãi để xúc tiến sự ra hoa Chất GA3 có tác dụng kích thích rõ rệt, tăng năng suất rất cao so với đối chứng Khi chưa nắm được độ mẫn cảm của giống với GA3 thì nên dùng ở nồng độ rất thấp và phun làm nhiều lần
+ Quả lớn được là nhờ có sự kích thích của các chất kích thích sinh trưởng, chất này được tạo ra từ vách múi (với các giống quả đơn tính), hoặc từ hạt sau khi hạt hình thành Việc phun thêm chất kích thích sinh trưởng (NAA, IAA, GA3…) cho cây khi đang hình thành quả có thể nâng cao tỷ lệ đậu quả rất tốt
1.7.4.2 Vai trò của phân bón đối với cây trồng
- Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt
- Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng ngoài ra còn một số chất kích thích sinh trưởng Để cấu thành các loại phân bón lá khác nhau phụ thuộc vào thành phần và liều lượng các thành phần khác nhau Vai trò của phân bón lá đối với cây cam là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng Các nguyên tố vi lượng phun lên lá nhằm cung cấp kịp thời các chất dinh dưỡng cho cây Bên cạnh việc giúp cho hoa ra đồng đều, nâng cao tỷ lệ hoa cái, tăng khả năng đậu quả và giữ quả, chống nứt quả và hạn chế được thối hỏng quả, làm tăng phẩm chất quả còn giúp cho cây hấp thu nhanh, tiết kiệm phân bón (Nguyễn Hữu Doanh, 1998, Vũ Khắc Nhượng, 2000) [8] [19]
- Phun urê nồng độ 0,3 - 0,5% đối với cây thiếu đạm phản ứng rất nhanh, sau
3 - 5 ngày có thể thấy lá chuyển màu xanh Tuy nhiên loại ure có nồng độ cao quá nếu dùng sẽ gây độc cho cây do đó trong dung dịch ure thường cho thêm vôi hoặc đường sacaroza để giảm độc
- Phun Kali dihydrogen phosphate nồng độ 0,3 - 0,5% có tác dụng thúc đẩy
Trang 37lộc non già chắc, phun vào thời kì phân hóa mầm hoa có tác dụng thúc đẩy phân hóa mầm hoa Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao có thể nói cao gấp 8 - 10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn… Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin
K, Thiên nông Poster (Hoàng Ngọc Thuận, 1994) [20]
- Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn
- Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (1994) [20] cho biết phân bón lá dạng phức hữu
cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và vi lượng với 20 axit amin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi
1.7.5 Một số nghiên cứu về tác dụng của bọc quả cho cây ăn quả
Ở Việt Nam, những nghiên cứu và ứng dụng về kỹ thuật bọc quả bằng các loại bao giấy thô sơ, thông thường được nghiên cứu bởi Trường Đại học Cần Thơ, Viện cây ăn quả miền Nam từ năm 1997 Tuy nhiên, vấn đề tìm loại bao trái có chất liệu thích hợp với điều kiện thời tiết, tập quán canh tác, giá cả hợp lý với người sản xuất
là vấn đề bức xúc đối với sản xuất và tiêu thụ trong thời gian qua Kỹ thuật bao quả
đã được áp dụng tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trên xoài, bưởi từ năm 1997 với sự hỗ trợ kỹ thuật của Trung tâm Ứng dụng chuyển giao Khoa học kỹ thuật (Viện khoa học Kỹ thuật miền Nam) Từ đó kỹ thuật bao quả được ứng dụng rộng rãi trên cả nước cho nhiều loại quả như bưởi, xoài, ổi, cam
Trang 38Tác dụng của bao quả: Kỹ thuật bao quả với chất liệu đặc biệt, có khả năng cho ánh sáng xuyên qua và duy trì màu sắc trái như trong điều kiện sản xuất bình thường Có thể tái sử dụng qua 2 mùa vụ, dễ phân hủy trong môi trường ở điều kiện bình thường; dễ áp dụng và kết hợp với tỉa trái và xử lý thuốc Bảo vệ thực vật trước khi bao trái góp phần tăng năng suất trái từ 40 - 55%, đặt nền tảng cho sản xuất cây
ăn quả theo hướng GAP Việc bao quả còn có tác dụng như giảm được ít nhất từ 8 -
10 lần phun thuốc trừ sâu, bệnh/vụ, tỷ lệ quả loại 1 tăng lên do kết hợp bao quả, tỉa quả và phun thuốc trừ sâu, bệnh trước khi bao; đạt các tiêu chuẩn về cảm quan cũng như chất lượng quả sau thu hoạch
Ngoài ra việc bao quả cây ăn quả còn có tác dụng rõ rệt về lợi ích kinh tế: Bao quả ngoài tránh được sự va chạm cơ học do gió gây ra, làm giảm sự xâm nhập của nấm và vi khuẩn qua vết thương: do đó, hạn chế tối đa bệnh thán thư và xì mủ trên quả gây ra Tạo màu sắc quả đẹp, bệnh thối quả sau thu hoạch giảm giúp kéo dài thời gian bảo quản từ 3 - 5 ngày so với bình thường
Kỹ thuật bao quả được thực hiện khi quả đã qua giai đoạn rụng quả sinh lý (40
- 50 ngày tuổi) là hiệu quả nhất, trước khi bao quả phun thuốc trừ sâu, bệnh kết hợp với tỉa quả nhỏ Hiện nay, thường sử dụng 3 loại túi để bao quả: Túi bao quả chuyên dùng được sản xuất trong nước, túi bao chuyên dùng của Đài Loan và túi nilon 2 dây buộc
Túi bao chuyên dùng sản xuất trong nước được may từ chất liệu mỏng, thông thoáng, giúp quả có thể quang hợp trao đổi với môi trường bên ngoài dễ dàng; giúp màu sắc quả đẹp tự nhiên và có thể quan sát được quả từ bên ngoài bao Loại túi bao này mềm có dây rút để cột miệng bao nên thao tác bao quả dễ dàng và tiết kiệm thời gian; có thể kết hợp với các loại cần bao quả nên có thể bao được quả từ trên cao Tuy nhiên, loại túi này mau mục, rách khi bị ướt nên chỉ thích hợp bao quả trong mùa nắng; không nên tưới phun lên cây làm ướt túi, tránh để túi bao bị cọ sát vào các bộ phận của cây vì túi dễ bị sờn rách khiến côn trùng có thể châm chích hoặc đẻ trứng vào quả
Loại túi bao quả của Đài Loan làm từ chất liệu có khả năng chống thấm nước,
độ bền của túi có thể sử dụng được 2 lứa trái; chống sâu, côn trùng chích hoặc đẻ trứng Túi có chức năng phản quang giúp bảo vệ da quả không bị rám nắng do ánh
Trang 39nắng mặt trời Tuy nhiên, loại túi này chỉ thích hợp bao cho các trái ở dưới thấp vì phải cột miệng bao bằng tay; màu sắc trái bị nhạt màu Bao bằng loại túi này quả được bảo vệ gần như hoàn toàn
Túi nylon 2 dây, một loại túi thông dụng được nhiều nhà vườn sử dụng để bao quả bưởi, xoài Ưu điểm của loại túi này là rẻ tiền, dễ mua; hiệu quả bảo vệ quả rất cao Tuy nhiên, loại túi này chỉ thích hợp bao quả trong mùa mưa (trời ít nắng, cường độ ánh sáng không cao); sử dụng loại túi này để bao quả trong mùa nắng quả
sẽ bị rám Lưu ý, cần đục một số lỗ trên bao để quả được thông thoáng
Hiện nay, trên cả nước nhiều nhà vườn cây ăn quả đã ứng dụng kỹ thuật bao quả vào sản xuất, số lượng bao quả tăng nhanh theo năm và được ứng dụng chủ yếu cho bưởi, ổi, xoài và cam với hàng triệu lượt bao quả đã được cung cấp cho người sản xuất trên cả nước
Tại tỉnh Yên Bái, một số hộ gia đình trên địa bàn đã ứng dụng kỹ thuật bao quả vào sản xuất cây ăn quả từ những năm 2012 Tuy nhiên, việc áp dụng chủ yếu còn dựa theo kinh nghiệm, học hỏi qua báo đài trên một số loại quả như bưởi Đại Minh, xoài, ổi Chính vì vậy, việc đưa tiến bộ kỹ thuật bao quả cam Sành nhằm tăng năng suất, đặc biệt chất lượng sẽ giúp người dân nắm được kỹ thuật đặc biệt tăng thu nhập cho người dân là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết
1.8 Nghiên cứu về phòng trừ sâu, bệnh trên cây có múi và cam quýt
Việt Nam được ghi nhận cũng là một trong những địa danh nguồn gốc của cam quít Việt Nam có điều kiện sinh thái phù hợp đối với cam quít sinh trưởng, phát triển và cam quít được trồng khắp mọi nơi trong cả nước, chính vì vậy sâu bệnh hại cam quít ở Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng, trong vài chục năm gần đây tình hình sâu bệnh hại đã và đang là mối đe doạ, thách thức nghiêm trọng trong nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất
Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về sâu bệnh hại cam quít đều khẳng định bệnh Greening là bệnh nguy hại nhất, gây thiệt hại đáng kể cho nhiều quốc gia, nhiều vùng Các vùng trồng cam quít ở Việt Nam đã và đang đối diện
về mức độ phổ biến cũng như tác hại do bệnh Greening gây hại Điều tra về bệnh Greening trên cam quít ở Việt Nam đã có một số công trình công bố như: Nguyễn Thu Cúc [6]; Lê Xuân Cuộc [5]; Hoàng Chúng Lằm [15]; Nguyễn Quang Minh,
Trang 40Nguyễn Danh Cần [18]; Vũ Khắc Nhượng [18], vv Các công trình trên đều khẳng định năng suất và chất lượng cam quít phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó sự giảm thiểu
về năng suất và chất lượng khó khắc phục nhất là do bệnh Greening gây nên
Những công trình nghiên cứu về sâu bệnh hai trong những năm qua mới chỉ dừng lại ở từng đối tượng gây hại cụ thể, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hiện nay Cần có một nghiên cứu đồng bộ, trên cơ sở kế thừa và kiểm nghiệm các kết quả nghiên cứu trước đây, nhằm xây dựng quy trình phòng trừ sâu bệnh tổng hợp trên cam quýt ở các vùng sản xuất tập trung
1.9 Một số kết luận rút ra từ tổng quan tài liệu
Cây ăn quả nói chung và cây cam Sành nới riêng là một trong những loại cây được trồng với số lượng nhiều trên thế giới, loài cây trồng này có khả năng thích ứng rộng Các nhà khoa học đã có nhiều nghiên cứu về các loại phân bón để ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, vấn đề áp dụng các biện pháp kỹ thuật về phân bón lá
và bọc quả đã được thực hiện trong những năm gần đây, tuy nhiên chưa được áp dụng rộng rãi trong sản xuất
Hiện nay, việc phun phân qua lá, chất kích thích sinh trưởng đã mang lại hiệu quả rất cao trong sản xuất cây ăn quả nói chung và cây có múi nói riêng, người làm vườn thường sử dụng một số loại phân có uy tín như: phân bón lá Thiên Nông, phân bón lá Đầu Trâu Tuy nhiên, kết quả thu được phụ thuộc vào từng giống cụ thể, cần thử nghiệm trên giống cam Sành không hạt để có những kết luận về sự ảnh hưởng của chúng tới năng suất, phẩm chất quả
Biện pháp bao quả được áp dụng phổ biến đối với tất cả các loại cây ăn quả nói chung và cam quýt nói riêng, là một giải pháp kỹ thuật trong hệ thống phòng trừ sâu, bệnh tổng hợp IPM, ngăn ngừa sâu bệnh tấn công, đặc biệt là ruồi đục quả, bệnh loét hạn chế được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và làm đẹp mã quả Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng phân bón lá, túi bao quả trên cam Sành không hạt chưa nhiều, chưa khẳng định được hiệu quả mang lại từ việc sử dụng túi bảo quả kết hợp với phun phân bón lá để nhân rộng mô hình Từ những vấn đề nêu trên, là cơ sở để tiến hành các nghiên cứu này