1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội theo pháp luật việt nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

86 198 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 828,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn đi sâu tìm hiểu vi phạm trong lĩnh vực BHXH và các hành vi vi phạm trên thực tế từ đó đề ra một số giải pháp khắc phục nhằm bảo vệ quan hệ BHXH và góp phần ổn định, phát tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI THỊ THU HUYỂN

VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – THỰC TRẠNG

VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THỊ HẰNG

HÀ NỘI - NĂM 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Đào Thị Hằng – người đã tận tình hướng dẫn, góp ý và động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Luật Lao động - Khoa Pháp luật Kinh tế, trường Đại học Luật Hà Nội đã ân cần dạy dỗ và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Học viên thực hiện

Bùi Thị Thu Huyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu luận văn đạt được là trung thực và chưa được ai công bố tại bất kì một công trình nào khác

Hà Nội, ngày 02 tháng 08 năm 2016

Trang 4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của đề tài

3

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

6

1.1 Khái quát chung về vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội 6

1.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với vi phạm pháp luật về bảo

hiểm xã hội

14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT

VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

Trang 6

xã hội và thực tiễn thực hiện

2.3 Quy định về thẩm quyền và thủ tục xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội và thực tiễn thực hiện

67

3.2.3 Kiến nghị về hình thức xử lý bồi thường thiệt hại 68

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về vi

phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội

69

3.3.1 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 69

3.3.2 Nâng cao vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc bảo vệ quyền của người lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, bảo hiểm xã hội bao giờ cũng được xác định là trụ cột bởi đối tượng tác động và phạm vi ảnh hưởng của nó Với vai trò và tầm quan trọng to lớn đó, BHXH luôn là một chính sách thiết yếu của tất cả các quốc gia Tại Việt Nam, BHXH được coi là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội và là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và

Nhà nước Luật BHXH được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2014 (có hiệu

lực từ 01/1/2016) đã đánh dấu một bước tiến rất lớn về khung pháp lý của hệ

thống pháp luật BHXH nói riêng và hệ thống an sinh xã hội nói chung Bên cạnh Luật BHXH, hàng loạt các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật BHXH được thông qua đã ngày càng kiện toàn và củng cố thêm hệ thống các văn bản pháp luật về BHXH của nước ta Việc triển khai thực hiện chính sách BHXH trên thực tế cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm, bước đầu thu được một số thành tựu nhất định, góp phần quan trọng trong việc chăm lo đời sống cho NLĐ, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu trong việc xây

dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên, ngoài những hiệu quả to lớn và thiết thực đó, trong việc tổ chức và thực hiện các chế độ BHXH vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lí, chưa phù hợp với nhu cầu chung về BHXH của NLĐ, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà đất nước chúng ta đang có những thay đổi quan trọng để hội nhập với thế giới Trên thực tế, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH xảy ra ngày càng nhiều, thủ đoạn càng tinh vi, gây ảnh hưởng không nhỏ tới lợi ích của NLĐ và Nhà nước Tình trạng trốn tránh tham gia BHXH, nợ đọng BHXH ngày càng trở nên phổ biến ở các doanh nghiệp Việc quản lý và sử

dụng quỹ BHXH ngày càng mất đi tính “công khai, minh bạch” vốn có của

nó Cá biệt có nhiều trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, không chỉ thiệt hại

về vật chất, ảnh hưởng đến quỹ BHXH mà còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn

xã hội, ảnh hưởng đến lòng tin của người dân đối với chính sách của Đảng và Nhà nước

Trang 8

Theo dõi tình hình vi phạm pháp luật về BHXH trong thời gian qua cho thấy, tính chất vi phạm ngày càng phổ biến, mức độ vi phạm ngày càng cao không chỉ gây ảnh hưởng lớn tới NLĐ, người thụ hưởng, tới việc tăng trưởng

và bảo toàn quỹ BHXH mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch Nhà nước giao cho ngành BHXH Mặc dù đã có sự vào cuộc của các cơ

quan ban ngành, mặc dù nhận được sự quan tâm rất lớn của các “phương tiện

thông tin đại chúng” song tình hình vi phạm pháp luật về BHXH lại chưa bao

giờ “hạ nhiệt”; ngược lại nó lại trở lên “nóng bỏng” hơn bao giờ hết Thực tế cũng chứng minh được rằng, các vấn đề liên quan đến “vi phạm pháp luật về

BHXH” luôn tốn nhiều “giấy mực” nhất của các cơ quan truyền thông, thu

hút được sự chú ý đông đảo của xã hội, đặc biệt là lực lượng lao động

Với mong muốn đi sâu tìm hiểu vi phạm trong lĩnh vực BHXH và các hành vi vi phạm trên thực tế từ đó đề ra một số giải pháp khắc phục nhằm bảo

vệ quan hệ BHXH và góp phần ổn định, phát triển nền kinh tế xã hội; tác giả

luận văn đã chọn đề tài “Vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội theo pháp luật Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật” làm đề tài

luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu về BHXH không phải là vấn đề mới mẻ vì đây là một chế độ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển toàn diện của an sinh xã hội, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế quốc gia Nhưng các đề tài, bài viết đi sâu nghiên cứu vi phạm pháp luật về BHXH theo pháp luật lại không nhiều Với những phạm vi, mức độ khác nhau đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết đề cập tới vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, điển hình như:

- Bài viết “Một số ý kiến trao đổi về hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm xã

hội Việt Nam” của tác giả Lê Quyết Thắng, đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội

số 6/2008

- Bài viết “Vi phạm pháp luật về BHXH: thực trạng và kiến nghị” của tác

giả Trần Đức Long, đăng trên tạp chí Lao động xã hội số 286/2008

Trang 9

- Bài viết “Giải pháp thu hồi nợ đọng tiền đóng BHXH khu vực doanh

nghiệp” của tác giả Mai Đức Thắng, đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội số

1B/2010

- Luận văn “Vi phạm pháp luật về đóng và hưởng BHXH ở Việt Nam”

của tác giả Vũ Thị Hồng Minh, bảo vệ thành công tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam, năm 2011

- Hoàng Kim Khuyên và Hoàng Thị Quỳnh Trang “Thực trạng nợ, chậm

và “trốn” đóng tiền BHXH ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp

luật, 2014

Những bài viết trên tuy đã đề cập đến tình hình vi phạm pháp luật về BHXH nhưng lại chưa chuyên sâu, chưa cụ thể và toàn diện Đặc biệt, chưa có

một đề tài hay công trình nào nghiên cứu riêng về “Vi phạm pháp luật về

BHXH theo pháp luật” Chính vì vậy, đây được coi là công trình khoa học đầu

tiên nghiên cứu về vi phạm pháp luật về BHXH theo pháp luật Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn

về vi phạm pháp luật về BHXH ở Việt Nam từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH ở Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, khi nghiên cứu đề tài này phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Khái quát được những vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật về BHXH

- Phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật về BHXH ở Việt Nam

- Đề xuất những kiến nghị hoàn thiện quy định về vi phạm trong lĩnh vực BHXH và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực

tế

Trang 10

3.2 Đối tượng nghiên cứu: các quy định pháp luật về những hành vi vi

phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH của người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức bảo hiểm xã hội

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

Trên cơ sở các văn bản pháp luật về BHXH, kết hợp với việc nghiên cứu các công trình đã được công bố, các bài viết trên tạp chí chuyên ngành, tác giả nhận thấy các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH được quy định một phần trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu các dạng hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, nguyên nhân cũng như các biện pháp khắc phục Các số liệu liên quan sử dụng trong luận văn được tổng hợp trên cả nước giai đoạn 2010 – 6/2016, đặc biệt chú trọng đến thực tiễn vi phạm ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thanh Hóa…

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để phân tích các vấn

đề liên quan đến vi phạm pháp luật về BHXH

- Phương pháp thống kê và phân tích số liệu để đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật về BHXH

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Luận văn phân tích một cách sâu sắc các vấn đề chung về vi phạm pháp luật về BHXH;

- Đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện thực trạng vi phạm pháp luật về BHXH trên thực tế;

Trang 11

- Nêu ra những yêu cầu cơ bản và những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện

và nâng cao hiệu quả thực thi quy định về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh lục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 03 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật về bảo hiểm

xã hội

Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật về vi phạm pháp luật

về bảo hiểm xã hội và thực tiễn thực hiện

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO

HIỂM XÃ HỘI 1.1 Khái quát chung về vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội

Trong đời sống xã hội tồn tại nhiều chuẩn mực đan xen, tác động lẫn

nhau (chuẩn mực chính trị, chuẩn mực pháp luật, chuẩn mực chân thiện

mĩ…) Theo đó, bất kỳ hành vi nào của con người làm sai lệch chuẩn mực

cũng đều là hành vi vi phạm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, các yêu

cầu của pháp luật thường được các chủ thể pháp luật (công dân, cán bộ, công

chức, cơ quan tổ chức nhà nước…) tự giác nghiêm chỉnh thực hiện Tuy

nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn xảy ra nhiều vi phạm pháp luật Những hành vi vi phạm đó không chỉ xâm phạm trực tiếp tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật Theo quan niệm chung, vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp

lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ Vi phạm pháp luật mang trong mình những đặc trưng riêng biệt vốn có như:

- Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của các cá nhân, tổ chức cụ thể Tức là những xử sự thực tế, cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức nhất định

- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, vi phạm những quy định trong các quy phạm pháp luật

- Vi phạm pháp luật là hành vi gây thiệt hại cho xã hội; những thiệt hại này được coi là thiệt hại nói chung chứ không phải là những thiệt hại riêng đối với những vật cụ thể

- Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi, tức là khi thực hiện hành vi trái pháp luật, chủ thể nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi

đó, đồng thời điểu khiển được hành vi của mình Như vậy, chỉ có những hành

Trang 13

vi trái pháp luật mà có lỗi của chủ thể thì mới bị coi là vi phạm pháp luật Còn trong trường hợp chủ thể thực hiện một xử sự có tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành vi và hậu quả của mình nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi và không phải là vi phạm pháp luật

- Vi phạm pháp luật là hành vi theo quy định của pháp luật phải chịu những chế tài nhất định Nghĩa là, đối với những hành vi không bị trừng phạt thì không được coi là vi phạm pháp luật

Nói chung, vi phạm pháp luật luôn có các dấu hiệu trái pháp luật của hành vi, có dấu hiệu lỗi, có dấu hiệu về năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể

Thứ nhất, tính trái pháp luật của hành vi Vi phạm pháp luật trước hết

phải được hiểu là hành vi của con người hoặc là hoạt động của các cơ quan

nhà nước, các tổ chức xã hội (các chủ thể pháp luật) có tính nguy hiểm cho

xã hội Tuy nhiên, hành vi đó phải là hành vi trái pháp luật, hay nói cách khác,

đó là những hành vi được thực hiện không đúng với những quy định của pháp luật như không làm những việc mà pháp luật yêu cầu phải làm, làm những việc mà pháp luật cấm hoặc tiến hành hoạt động vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép

Thứ hai, yếu tố lỗi Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể

đối với hành vi trái pháp luật của mình và là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các

vi phạm pháp luật Nếu hành vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện và hoàn cảnh khách quan; chủ thể của hành vi đó không cố ý hay cũng không vô ý thực hiện hoặc không nhận thức được, từ đó không thể lựa chọn hoặc điều khiển được hành vi của mình theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể hành vi đó không được coi là có lỗi và hành vi đó không phải là hành vi vi phạm pháp luật Kể cả những hành vi mà chủ thể buộc thực hiện trong trường hợp bất khả kháng cũng có thể không bị coi là vi phạm pháp luật Như vậy, mọi vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi trái pháp luật nhưng ngược

Trang 14

lại, không phải mọi hành vi trái pháp luật đều bị coi là vi phạm pháp luật; chỉ

có những hành vi nào có lỗi mới có thể bị coi là vi phạm pháp luật

Thứ ba, năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể Vi phạm pháp luật

phải là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp

lý thực hiện Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể đối với hành vi của mình Năng lực trách nhiệm pháp lý của các chủ thể được quy định cụ thể trong pháp luật và được xác định bởi hai yếu tố là độ tuổi và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mỗi chủ thể ở thời điểm hành vi được thực hiện Đối với những người do mất khả năng nhận thức hoặc khả năng tự lựa chọn, điều khiển hành vi của mình ở thời điểm thực hiện hành vi đó thì pháp luật cũng quy định họ không có năng lực trách nhiệm pháp lý, do vậy họ không phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp đó

Từ những dấu hiệu kể trên, vi phạm pháp luật được hiểu như sau: vi

phạm pháp luật là hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện trong điều kiện họ có thể nhận thức và kiểm soát được hành vi của mình

Từ sự phân tích như trên về vi phạm pháp luật, có thể đưa ra một cách

hiểu chung nhất về vi phạm pháp luật về BHXH như sau: vi phạm pháp luật

trong lĩnh vực BHXH là các hành vi xâm hại đến các quan hệ BHXH được pháp luật bảo vệ, do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện trong điều kiện họ có thể nhận thức và kiểm soát được hành vi của mình

Một hành vi được coi là hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH được nhận diện, đánh giá và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý là nhờ có cấu thành cơ bản xác định Nó bao gồm các yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật về BHXH Nếu thiếu một trong các yếu tố này thì sẽ không tồn tại một vi phạm pháp luật trong thực tế

Về mặt khách quan của vi phạm pháp luật về BHXH

Thứ nhất, hành vi trái pháp luật Về nguyên tắc, hành vi trái pháp luật

luôn là dấu hiệu bắt buộc của mọi vi phạm pháp luật và vi phạm pháp luật về

Trang 15

BHXH cũng không phải là một ngoại lệ Nếu trong thực tế không có hành vi trái pháp luật của cá nhân hoặc hoạt động trái pháp luật của một tổ chức cụ thể nào đó, xâm hại các quan hệ pháp luật về BHXH thì các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH sẽ không xảy ra

Thứ hai, hậu quả của hành vi Các hành vi trái pháp luật ở mức độ

khác nhau đều gây nguy hại cho xã hội Tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi mà nó đã hoặc có thể gây ra những thiệt hại lớn hay nhỏ cho xã hội Thiệt hại đó có thể là những thiệt hại về vật chất, tinh thần hoặc các thiệt hại khác cho xã hội Căn cứ vào mức độ thiệt hại để xác định rõ ràng mức độ

vi phạm, phân loại được hành vi vi phạm pháp luật về BHXH đó mới chỉ dừng lại ở mức vi phạm hành chính hay đã đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Hậu quả của vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH trước hết là thiệt hại về vật chất gây ra cho quỹ BHXH Thiệt hại này được thể hiện dưới dạng

bị chiếm đoạt, bị thất thu (không thu được hoặc không thu đủ) hay bị thất

thoát Vi phạm trong lĩnh vực BHXH còn có thể gây ra thiệt hại cho NLĐ Đó

là thiệt hại đe dọa gây ra đối với lợi ích trước mắt (các quyền được hưởng chế

độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, chế độ bảo hiểm y tế, chế độ bảo hiểm thất nghiệp) và những quyền lợi lâu dài mà NLĐ

được hưởng khi hết độ tuổi lao động (quyền được hưởng lương hưu và chế độ

tử tuất)

Thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả

mà nó gây ra Khi xét mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả thì hậu quả

thường được hiểu là thiệt hại thực tế đã xảy ra Trong mối quan hệ này, hành

vi là cái có trước, giữ vai trò nguyên nhân, hậu quả là cái có sau và là tính tất yếu của hành vi Nếu giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại của xã hội không có mối quan hệ nhân quả thì sự thiệt hại của xã hội không phải do hành

vi trái pháp luật đó trực tiếp gây ra mà có thể do những nguyên nhân khác Đối với vi phạm pháp luật về BHXH, dấu hiệu mặt khách quan có tính chất phức tạp riêng bởi vì BHXH liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực

và đặc biệt liên quan đến pháp luật về lao động mà cụ thể là hợp đồng lao

Trang 16

động làm căn cứ đóng BHXH đối với NLĐ hay các cơ sở khám chữa bệnh, Hội đồng giám định y khoa, các xác nhận của chính quyền địa phương, của NSDLĐ để NLĐ được hưởng các chế độ BHXH Bởi vậy khi xét hành vi nào được coi là hành vi vi phạm pháp luật về BHXH thì cần phải xem xét tới tất cả các khía cạnh của hành vi đó

Về mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về BHXH

Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH thường là những biển hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm nên nó khá trừu tượng

và khó xác định

Cũng như các dạng hành vi vi phạm pháp luật khác, mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật về BHXH cũng có các biểu hiện là lỗi, động cơ và mục đích vi phạm

Thứ nhất, về lỗi Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi vi

phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra Hành vi vi phạm pháp luật

về BHXH phải là hành vi có lỗi thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý Hay nói cách khác, người thực hiện hành vi này phải là người có khả năng nhận thức

và làm chủ hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không

nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận

thức được hành vi đó là gây hại cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện hành

vi này (lỗi cố ý)

Thứ hai, về động cơ và mục đích Ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong

mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về BHXH, trong một số trường hợp cụ thể thì động cơ và mục đích còn được coi là dấu hiệu bắt buộc của một số loại

vi phạm pháp luật về BHXH Động cơ của hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH có thể là động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, trong đó có thể có

động cơ có tính “tập thể” như để tăng nguồn vốn của đơn vị hoặc tăng thu

nhập một cách không chính đáng cho thành viên trong đơn vị

Mục đích là kết quả cuối cùng mà trong suy nghĩ của mình chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Mục đích vi phạm của nhóm hành vi này là mục đích tư lợi, trước hết là ở nhóm hành vi vi phạm

Trang 17

quyền thụ hưởng BHXH cũng như ở một số hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH

Về chủ thể của vi phạm pháp luật về BHXH

Chủ thể của vi phạm pháp luật về BHXH rất đa dạng, có thể là cá nhân hoặc cũng có thể là tổ chức

Thứ nhất, đối với nhóm chủ thể là cá nhân Cá nhân là chủ thể của vi

phạm pháp luật về BHXH có thể là người thuộc đối tượng tham gia BHXH hoặc cũng có thể là người không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, nhóm cá nhân là đối tượng tham gia BHXH sẽ là nhóm chủ thể chủ yếu

của vi phạm pháp luật về BHXH Chủ thể của vi phạm pháp luật về BHXH

cũng có thể là NLĐ, cũng có thể là những người có chức vụ, quyền hạn nhất định trong hệ thống BHXH

Đối với cá nhân thì họ chỉ bị coi là chủ thể của vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH nếu họ đã đạt đến một độ tuổi nhất định theo quy định pháp luật và phải có khả năng nhận thức, xác lập, kiểm soát được hành vi của bản thân Những người không có khả năng nhận thức, xác lập, kiểm soát được hành vi của bản thân thì không được coi là chủ thể của vi phạm pháp luật về BHXH Thông thường khi tham gia quan hệ pháp luật về BHXH thì các bên trong quan hệ BHXH thường là những người có năng lực pháp luật và năng lực hành vi, hay nói cách khác, họ là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm pháp lý, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ; bởi vậy, nếu có hành vi

vi phạm pháp luật về BHXH xảy ra thì việc xác định đâu là chủ thể vi phạm sẽ

khá dễ dàng Tuy nhiên, đối với trường hợp “Người lao động chưa thành niên

từ đủ 13 tuổi trở lên (Điều 163 – 164 Bộ luật Lao động 2012) tham gia hợp đồng lao động và trở thành một bên của quan hệ lao động và nếu có tham gia bảo hiểm xã hội thì đương nhiên, họ sẽ là bên tham gia và bên thụ hưởng BHXH” Nếu có tranh chấp xảy ra thì việc xác định họ có phải là chủ thể của

vi phạm pháp luật về BHXH hay không thì lại không hề đơn giản khi họ được xác định là những người có năng lực hành vi chưa đầy đủ

Trang 18

Thứ hai, với nhóm chủ thể là tổ chức Nhóm chủ thể là tổ chức có thể

là: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; cơ quan, tổ chức có liên quan tới BHXH Trong các chủ thể là tổ chức, Nhà nước được coi là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật vì nó là tổ chức quyền lực chính trị của toàn thể nhân dân lao động, mang chủ quyền quốc gia và đại diện cho

xã hội Nhà nước chỉ tham gia những quan hệ pháp luật cơ bản nhất và quan trọng nhất liên quan tới lợi ích của cả quốc gia, như quan hệ sở hữu đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác, quan hệ ngoại thương

Khác với năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân là chủ thể quan hệ pháp luật, năng lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ chức là chủ thể quan hệ pháp luật mang tính chuyên biệt, nó xuất hiện đồng thời ở thời điểm tổ chức đó được thành lập hợp pháp hoặc được công nhận là hợp pháp

và mất đi khi tổ chức ấy bị giải thể

Về khách thể của vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Khách thể vi phạm ở đây được hiểu là quan hệ pháp luật về BHXH được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại tới Nói cách khác, vi phạm pháp luật về BHXH là hành vi trái với các quy định của pháp luật về BHXH, được quy định phải bị xử lí trong văn bản pháp luật của

cơ quan có thẩm quyền

1.1.2 Ảnh hưởng của các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội

Các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật BHXH (gian lận, trốn

đóng, trục lợi quỹ BHXH…) được coi là hành vi vi phạm về quyền con người

Hành vi ấy không chỉ gây thiệt hại về vật chất, ảnh hưởng đến quỹ BHXH mà còn gây ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ

Trang 19

- Thứ nhất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của NLĐ: NLĐ

không được tham gia BHXH hoặc tham gia không đầy đủ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền thụ hưởng các chế độ BHXH như quyền hưởng chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quyền hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quyền được lĩnh lương hưu khi hết tuổi lao động Một khi quyền thụ hưởng các chế độ BHXH của NLĐ bị xâm phạm thì đời sống của họ có thể sẽ vấp phải những khó khăn nhất định vì hầu hết NLĐ là những người có mức sống trung bình, phụ thuộc nhiều vào các chính sách xã hội và NSDLĐ

Từ đó gây ảnh hưởng đến quan hệ lao động và nền kinh tế - xã hội của quốc gia

- Thứ hai, ảnh hưởng tới an sinh xã hội và trật tự an toàn xã hội: Hành vi

vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH của NSDLĐ có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc đình công kéo dài, gây bất ổn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế, chính trị của quốc gia Hành vi vi phạm này đi ngược lại với mục đích an sinh xã hội mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang theo đuổi Do đó, không thể có một xã hội dân chủ, công bằng nếu trong xã hội đó vẫn còn tồn tại những hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội

- Thứ ba, làm thất thoát quỹ BHXH, ảnh hưởng đến an toàn, cân đối quỹ

BHXH trong ngắn hạn và dài hạn: Quỹ BHXH hình thành trên cơ sở sự đóng góp của NSDLĐ, NLĐ và được đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước; đảm bảo chi trả chế độ BHXH cho người tham gia trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro Hành

vi gian lận, trốn đóng, đóng không đủ hay đúng mức, trục lợi quỹ BHXH kéo dài ảnh hưởng đến nguồn thu của quỹ BHXH, không đảm bảo khả năng chi trả của quỹ, gây mất cân đối quỹ từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ

- Thứ tư, ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật và mục tiêu của

các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước: Mục tiêu mở rộng đối tượng tham gia BHXH theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày

22/11/2012 của Bộ Chính trị (phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực

lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia BHTN;

Trang 20

trên 80% dân số tham gia BHYT)1 sẽ khó có thể đạt được nếu tình hình vi phạm pháp luật về BHXH ngày càng gia tăng trên thực tế

1.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội

Về cơ bản, đối với vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội pháp luật điều

chỉnh những nội dung chủ yếu sau đây:

1.2.1 Quy định các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội

Các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH có thể xảy ra ở tất cả các khâu, từ lập tờ khai cấp sổ, xác nhận thời gian công tác, thời gian tham gia BHXH, thu, đóng BHXH, quản lý hồ sơ, giải quyết chế độ… đến việc sử dụng quỹ không đúng mục đích với quy định Chủ thể thực hiện các hành vi này khá đa dạng nhưng chủ yếu tập trung vào ba nhóm chủ thể sau: người tham

gia BHXH (người lao động, người sử dụng lao động…); người thụ hưởng BHXH (người lao động hoặc thân nhân NLĐ…) và cán bộ làm công tác

BHXH Vì việc thực hiện chính sách BHXH liên quan đến quá trình thu, chi

và quản lí quỹ tài chính được sử dụng chủ yếu từ nguồn đóng góp của người

sử dụng lao động và người lao động nên khả năng xảy ra vi phạm và tội phạm

về lĩnh vực BHXH không nằm ngoài quá trình thu, chi và quản lý hoạt động BHXH Có thể chia những vi phạm pháp luật về BHXH thành 03 nhóm chính như sau: nhóm hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội, nhóm hành vi vi phạm về hưởng BHXH, nhóm hành vi vi phạm về sử dụng và quản lí quỹ BHXH

Thứ nhất, các hành vi vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội

Các hành vi vi phạm về đóng BHXH được cụ thể dưới dạng hành vi sau:

Một là, trốn đóng BHXH Đây là hành vi không đóng BHXH cho diện

NLĐ bắt buộc theo quy định của pháp luật Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của NSDLĐ và NLĐ, từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ hoặc

1

dao-cua-Dang-cong-tac-bao-hiem-151981.aspx truy cập ngày 15/6/2016

Trang 21

http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bao-hiem/Nghi-quyet-21-NQ-TW-nam-2012-tang-cuong-su-lanh-từ các nguồn thu hợp pháp khác Theo quy định của Luật BHXH thì việc đóng vào quỹ BHXH là nghĩa vụ của NSDLĐ và NLĐ Mà đã là nghĩa vụ thì buộc các chủ thể phải thực hiện, nếu không thực hiện thì sẽ bị coi là vi phạm pháp luật

Pháp luật về BHXH của Trung Quốc quy định rõ: Đơn vị sử dụng lao động phải làm thủ tục tham gia bảo hiểm tai nạn lao động cho công nhân viên của mình và nộp phí bảo hiểm hàng tháng cho cơ quan BHXH thành phố

(BHXH ở đặc khu kinh tế Thẩm Quyến – Trung Quốc – Mục III, phần 2 , trách nhiệm đóng góp).2 Như vậy, nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội tai nạn lao động là một quy định bắt buộc với NSDLĐ ở Trung Quốc NSDLĐ buộc phải tham gia bảo hiểm cho NLĐ, nếu không họ sẽ phải chịu các chế tài theo quy định của pháp luật

Hai là, chậm đóng tiền BHXH, bảo hiểm thất nghiệp Việc đóng BHXH

bắt buộc sẽ được thực hiện theo những phương thức đóng nhất định, đó có thể

là theo tháng, theo quý hoặc theo năm Việc sử dụng phương thức thanh toán nào được thực hiện trên cơ sở NSDLĐ đăng kí với tổ chức BHXH Thông thường, việc đóng BHXH sẽ do NSDLĐ thực hiện thay cho NLĐ bằng cách trích từ tiền lương, tiền công tháng của NLĐ theo mức đóng quy định tại Luật BHXH để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH

Việc chậm đóng tiền BHXH được hiểu là những chủ thể có nghĩa vụ đóng BHXH nhưng lại không đóng trong khoảng thời gian mà pháp luật quy định hoặc khoảng thời gian mà NSDLĐ đã đăng ký với cơ quan bảo hiểm có thẩm quyền

Ba là, đóng không đúng mức quy định Mức đóng vào quỹ BHXH được

quy định dựa trên cơ sở tiền lương, tiền công của NLĐ Hàng tháng, NSDLĐ

và NLĐ đều phải đóng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tiền lương, tiền công tháng vào quỹ BHXH Mức đóng đó là mức bắt buộc chung cho tất cả NLĐ và NSDLĐ NLĐ và NSDLĐ cần phải đóng đủ mức mà pháp luật quy định, nếu như họ không đóng, đóng không đủ mức thì hành vi của họ được coi

2

Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, Pháp luật về bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2005, tr 287

Trang 22

là hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH Thông thường, khi tính lương tháng cho NLĐ, NSDLĐ đều trích lại mức đóng BHXH của NLĐ theo quy định của pháp luật và đóng vào quỹ BHXH Như vậy, ta dễ dàng nhận thấy, việc tuân thủ nghĩa vụ đóng BHXH của NLĐ hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào đơn vị sử dụng lao động, nghĩa là nếu đơn vị có ý thức thực hiện theo đúng quy định của pháp luật thì nghĩa vụ và quyền lợi về BHXH của NLĐ được đảm bảo, ngược lại tình hình sẽ khác đi, lúc này không những quỹ BHXH thất thu mà quyền lợi về BHXH của NLĐ cũng không được đảm bảo Tùy thuộc vào từng điều kiện, kinh tế, xã hội của từng quốc gia mà mức đóng vào quỹ BHXH sẽ là khác nhau Ở Đức, phí bảo hiểm của NLĐ và NSDLĐ là bằng nhau, hiện tổng phí đóng của cả NSDLĐ và NLĐ trong khoảng 11% đến 14%, trung bình khoảng 13,2% thu nhập thô của NLĐ 3

Ở Canada, quỹ bảo hiểm việc làm được hình thành từ sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ Tỷ lệ đóng góp của năm 2003 là 2,10% lương được đảm

bảo đối với NLĐ, đến mức tối đa của lương là 39.000 đô la (phần vượt quá

không phải đóng) NSDLĐ đóng gập 1,4 lần NLĐ4 Mức đóng trên là mức đóng bắt buộc cho các chủ thể tham gia BHXH ở Đức và Canada Và việc đóng không đủ mức theo quy định sẽ là một hành vi đóng không đủ mức BHXH

Bốn là, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH Đây được

coi là hành vi cố ý không thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH của chủ sử dụng lao động Theo quy định của pháp luật thì NSDLĐ phải đóng BHXH cho diện những người lao động bắt buộc phải tham gia BHXH Tuy nhiên, trên thực tế,

vì một số lý do nào đó nhằm trục lợi quỹ BHXH, NSDLĐ chỉ tham gia BHXH cho một phần NLĐ làm việc trong đơn vị; còn đối với những NLĐ còn lại thì chủ sử dụng lao động lại không tham gia BHXH cho họ mặc dù những NLĐ này thuộc diện bắt buộc phải tham gia BHXH

Trang 23

Ví dụ như ở Canada, đối tượng đóng bảo hiểm việc làm là NLĐ được trả lương, không giới hạn tuổi; từ đồng đô la đầu tiên kiếm được và giờ đầu tiên làm việc đều phải đóng BHXH việc làm5 Có thể thấy, nhóm đối tượng đóng bảo hiểm việc làm ở Canada khá rộng mở, chỉ cần là người lao động làm việc trong khoảng một giờ đều được tham gia BHXH mà không bị giới hạn bởi hợp đồng lao động hay thời hạn lao động Tất cả NSDLĐ ở Canada đều phải tham gia BHXH cho NLĐ của mình mà không phân biệt tuổi tác, thời hạn lao động hay loại hợp đồng lao động Đây được coi như là quy định bắt buộc của pháp luật BHXH Canada buộc các chủ thể phải tuân thủ

Có thể thấy rằng, trong nền kinh tế hàng hóa, trách nhiệm tham gia đóng góp vào quỹ BHXH được phân định cho cả NSDLĐ và NLĐ trên cơ sở quan

hệ lao động Điều này không chỉ là sự phân chia rủi ro mà còn là để đảm bảo lợi ích giữa hai bên Về phía NSDLĐ, sự đóng góp một phần BHXH cho NLĐ

sẽ tránh được những thiệt hại kinh tế khi chẳng may có rủi ro xảy ra với NLĐ

do họ quản lý Còn đối với NLĐ, sự đóng góp một phần vào quỹ BHXH vừa thể hiện được trách nhiệm của họ khi trực tiếp gánh chịu rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ

Thứ hai, các hành vi vi phạm về hưởng bảo hiểm xã hội

Nhóm hành vi vi phạm này bao gồm các dạng hành vi sau:

Một là, cố tình gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ hưởng

bảo hiểm của NLĐ Dạng hành vi này xuất hiện chủ yếu do vi phạm của NSDLĐ và cơ quan BHXH: NSDLĐ không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ tài liệu, thông tin về BHXH theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hành vi gây phiền hà, trở ngại làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ…

Hai là, không cấp sổ bảo hiểm cho NLĐ theo quy định; làm mất mát,

hư hỏng hoặc sửa chữa, tẩy xóa sổ BHXH

5

Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr73

Trang 24

Ba là, các hành vi vi phạm về lập hồ sơ để được hưởng chế độ BHXH:

hành vi gian lận BHXH, hành vi giả mạo hồ sơ BHXH để hưởng chế độ BHXH; hành vi tổ chức gian lận BHXH; hành vi tạo điều kiện cho người khác gian lận BHXH Cụ thể bao gồm các hành vi sau:

- Kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai lệch những nội dung có liên quan đến việc hưởng BHXH;

- Hành vi giả mạo hồ sơ hưởng BHXH;

- Cấp giấy chứng nhận sai quy định để làm cơ sở hưởng BHXH;

- Không lập hồ sơ hoặc văn bản đề nghị cơ quan BHXH giải quyết chế

độ hưu trí, giải quyết chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo đúng quy định của pháp luật

Bốn là, các hành vi vi phạm về chi trả các chế độ BHXH: không trả chế

độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản trong thời hạn nhất định sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ của NLĐ; không trả chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong một thời hạn nhất định sau khi nhận được quyết định chi trả của cơ quan BHXH; không giới thiệu NLĐ

đi giám định suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa để giải quyết chế độ BHXH cho NLĐ…

Thứ ba, các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội

Nhóm hành vi này bao gồm các dạng hành vi sau: sử dụng tiền đóng và quỹ BHXH trái quy định của pháp luật; báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu tiền đóng vào quỹ BHXH; truy cập, khai thác trái pháp luật

cơ sở dữ liệu về quỹ BHXH; sử dụng tiền quỹ BHXH sai mục đích… Việc vi phạm những quy định này không những làm ảnh hưởng, gây thất thoát quỹ BHXH mà còn ảnh hưởng đến NLĐ, làm giảm niềm tin của NLĐ vào việc thực thi chính sách BHXH của Nhà nước

Trang 25

Ở Trung Quốc, nhóm các hành vi sau được coi là hành vi vi phạm về

quản lý và sử dụng quỹ BHXH (BHXH của tỉnh Quảng Đông, mục II, phần 6

– Xử lý vi phạm):

- Đơn vị báo cáo sai, hoặc che đậy báo cáo về số công nhân viên, tổng

mức lương, trốn hoặc lập nộp phí bảo hiểm;

- Chiếm dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp;

- Chiếm dụng các chi phí thúc đẩy tái công ăn việc làm;

- Vi phạm các quy định quản lý, sử dụng phí thúc đẩy tái công ăn việc

làm, gây lên những tổn thất;

- Từ chối đóng nộp tiền điều chỉnh bảo hiểm thất nghiệp;

- Tùy ý nâng tỷ lệ rút tiền của phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp và thúc

đẩy tái công ăn việc làm…

- Những vi phạm pháp luật có liên quan khác 6

1.2.2 Quy định về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội

Quy định về hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội Thứ nhất, hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH được áp

dụng đối với NSDLĐ, NLĐ, tổ chức BHXH và cơ quan tổ chức khác vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH theo quy định của luật BHXH Đây là các hình thức áp dụng, trước hết là nhằm trừng phạt người vi phạm, thông qua đó giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi phạm pháp luật có thể xảy ra

Các hình thức xử phạt hành chính bao gồm:

- Cảnh cáo: đây là hình thức xử phạt được áp dụng đối với những vi

phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ mà chưa gây thiệt hại vật chất do không hiểu biết hoặc không do tác động của nguyên nhân khách quan

6

Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, Pháp luật về bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2005, tr 214

Trang 26

Hình thức xử phạt này thể hiện sự đánh giá của nhà nước đối với hành vi vi phạm do người thực hiện gây ra Cảnh cáo mang tính cưỡng chế Nhà nước, mặc dù nó là một trong những hình thức xử phạt hành chính nhưng mang nặng

ý nghĩa giáo dục

- Phạt tiền: Phạt tiền được áp dụng phổ biến đối với nhiều hành vi vi

phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Phạt tiền tác động đến vật chất của người vi phạm, gây ra những bất lợi về tài chính vì vậy có tính răn đe rất cao Mức phạt tiền thể hiện mức cưỡng chế nhà nước đối với người vi phạm Mức phạt tiền càng cao thì sức răn đe càng lớn và ngược lại

- Các biện pháp khắc phục hậu quả Trong nhiều trường hợp, ngoài việc

áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra Về mặt bản chất, biện pháp khắc phục hậu quả không phải là hình thức xử phạt, vì mục đích chính của nó không phải là trừng trị, răn đe và đối tượng mà nó hướng tới không phải là hành vi vi phạm hành chính mà là hậu quả do hành vi vi phạm đó gây ra Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc quy định rõ về việc

xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH tai nạn lao

động như sau: Đơn vị nợ nộp phí bảo hiểm tai nạn lao động thì ngành

BHXH sẽ ra thông báo thời hạn nộp và sẽ thu thêm tiền chậm nộp 1% số tiền

nợ nộp theo ngày Nếu quá hạn mà vẫn không nộp thì ngành BHXH có thể đề nghị Tòa án nhân dân cưỡng chế thi hành và sẽ phạt người đại diện pháp định

của đơn vị một khoản tiền từ 2000 tệ đến 5000 tệ Đơn vị từ chối tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, hoặc giấu giếm báo cáo số người đơn vị, tổng

mức lương, trốn nộp phí bảo hiểm thì cần phải truy nộp số phí bảo hiểm tai nạn lao động chưa chịu nộp hoặc trốn nộp đó, và sẽ phạt số tiền bằng 1% của

số phí bảo hiểm tai nạn theo ngày, và sẽ phạt người địa diện pháp định của

đơn vị một khoản tiền từ 2000 tệ đến 5000 tệ Đơn vị cố tình giấu diếm sự thật của việc bị thương hoặc chết do tai nạn lao động, đưa ra các chứng cứ giả hoặc những số liệu giả, thì ngành BHXH phạt đơn vị một số tiền bằng

Trang 27

5% của số phí bảo hiểm tai nạn lao động cần nộp trong năm đó và sẽ phạt người đại diện pháp định của đơn vị một khoản tiền từ 2000 tệ đến 5000 tệ 7

Thứ hai, bồi thường thiệt hại Đây là hình thức trách nhiệm dân sự

nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách

bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho người bị hại Những thiệt hại được xác định trong trường hợp phải bồi thường bao gồm những tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập bị mất hoặc giảm sút Khi tính toán các khoản thiệt hại về tài sản phải bồi thường, pháp luật thường quy định bên vi phạm chỉ phải bồi thường đối với những tổn thất thực tế tính được thành tiền, còn các thiệt hại khác không tính được bằng tiền sẽ không được bồi thường thiệt hại Như vậy, đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH của các chủ thể vi phạm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Thứ ba, truy cứu trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự là một

dạng trách nhiệm pháp lý, là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và người phạm tội, được thể hiện ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luật hình sự quy định, áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, bao gồm hình phạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự khác không phải hình phạt và được bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với một người Trách nhiệm hình sự chỉ có thể được áp dụng đối với người thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm, nghĩa là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiện của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự Không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự còn được coi là trách nhiệm trước Nhà nước, là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định Như vậy, đối với những hành

vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật về BHXH mà cấu thành tội phạm thì sẽ bị

7

Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, Pháp luật về Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2005, tr.244

Trang 28

truy cứu trách nhiệm hình sự Đây cũng được coi là biện pháp mang tính răn

đe cao nhất đối với các chủ thể vi phạm

Pháp luật về BHXH Trung Quốc cũng quy định rõ: nhân viên công tác của cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố không làm tròn chức vụ, thì đơn vị các ngành hữu quan sẽ tiến hành xử lý kỷ luật hành chính, nếu người đó tạo nên những tổn thất cho đơn vị sử dụng lao động hoặc người tàn tật hoặc thân nhân của người tai nạn lao động chết thì sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường; tình tiết nghiêm trọng cấu thành tội phạm, cơ quan tư pháp sẽ tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật.8

Quy định về thẩm quyền và thủ tục xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội

Thứ nhất, về thẩm quyền Một trong những nguyên tắc cơ bản trong

xử phạt là chỉ có những chức danh được pháp luật quy định có thẩm quyền xử phạt mới được tiến hành việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm

Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền

và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy Nhà nước do pháp luật quy định Ở một số nước trên thế giới, thuật ngữ này cũng được sử dụng với nghĩa tương tự Chẳng hạn, trong từ điển Luật học

của Pháp, thuật ngữ thẩm quyền (competence) được hiểu là khả năng mà pháp luật trao cho cơ quan công quyền (autorie publique) hoặc cơ quan tài phán

(Juridiction) thực hiện công việc nhất định hoặc thẩm cứu và xét xử một vụ

kiện9 Hay như ở Mỹ, thẩm quyền được hiểu là khả năng cơ bản và tối thiểu

để cơ quan công quyền xem xét và giải quyết một việc theo pháp luật10 Như vậy, thẩm quyền được hiểu là quyền xem xét và giải quyết vụ việc trong phạm

vi pháp luật cho phép và quyền hạn trong việc ra quyết định khi giải quyết vụ việc đó Thông thường, thẩm quyền xem xét và xử lý các hành vi vi phạm được pháp luật giao cho cá nhân cụ thể và cá nhân đó, nhân danh quyền lực

Trang 29

nhà nước, ra quyết định xử lý các hành vi vi phạm trong phạm vi quyền hạn của mình

Thứ hai, về thủ tục xử lý Tùy theo từng chế tài xử phạt mà thủ tục xử

đó phải thi hành quyết định xử phạt hành chính Ngoài ra, tùy vào từng trường hợp cụ thể có thể thực hiện thêm một số biện pháp bổ sung như sau: áp dụng các biện pháp ngăn chặn; xem xét và giải quyết khiếu nại; cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

Về thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại Khi thấy quyền và lợi ích của

mình bị xâm phạm, các chủ thể có thể gửi đơn yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại tới Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền Tòa án sau khi xem xét đơn sẽ tiến hành thụ lý nếu đơn yêu cầu hợp lệ hoặc trả lại đơn nếu đơn yêu cầu không hợp lệ Căn cứ vào các chứng cứ các bên đưa ra, Tòa án sẽ ra quyết định có hay không trách nhiệm bồi thường thiệt hại và mức bồi thường theo đúng quy định của pháp luật

Về thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự Khi nhận được tin tố giác của

công dân, tin báo của cơ quan, tổ chức hay trên các phương tiện thông tin đại chúng; hoặc thông qua hoạt động điều tra của cơ quan điều tra thì cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm trong lĩnh vực BHXH Ngay sau khi nhận được tin tố giác, Cơ quan điều tra phải có trách nhiệm kiểm tra, xác minh nguồn tin và ra quyết định có hay không khởi

tố vụ án hình sự Sau khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, cơ quan điều tra

sẽ tiến hành điều tra và nếu nhận thấy có đủ căn cứ để xác định chủ thể thực

Trang 30

hiện hành vi vi phạm pháp luật về BHXH thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, tiếp tục tiến hành nghiệp vụ điều tra để chứng minh tội phạm

và ra bản kết luận điều tra Nếu có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm

và bị can thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố Đề nghị truy tố này sẽ được gửi tới Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền và Tòa

án, căn cứ vào các chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được, căn cứ vào bản cáo trạng cũng như lời khai của bị can ra quyết định có hay không đưa vụ

án ra xét xử và ra bản án thích hợp

Trang 31

Kết luận chương 1

Như vậy, tại chương 1 đã nêu các một cách tổng quát các vấn đề cơ bản

về vi phạm pháp luật về BHXH; từ việc nêu ra khái niệm, các yếu tố cấu thành nên hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, ảnh hưởng của vi phạm pháp luật về BHXH cũng như quy định về các dạng hành vi vi phạm pháp luật về BHXH cùng với vấn đề xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH

1 Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH là các hành vi xâm hại đến các quan hệ BHXH được pháp luật bảo vệ, do cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện trong điều kiện họ có thể nhận thức và kiểm soát được hành vi của mình

2 Các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH không chỉ gây nên những tổn thất to lớn về việc duy trì quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự nghiêm minh của pháp luật mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của NLĐ từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới hệ thống an sinh xã hội và trật tự an toàn xã hội

3 Nhóm các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH rất đa dạng nhưng tựu chung lại gồm ba nhóm hành vi chính như sau: các hành vi vi phạm quy định

về đóng BHXH; các hành vi vi phạm quy định về hưởng BHXH; các hành vi

vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng quỹ BHXH

4 Tùy theo từng dạng hành vi vi phạm pháp luật về BHXH mà áp dụng các chế tài xử phạt khác nhau Có thể áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính; yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại và truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm Thêm vào đó, thẩm quyền và thủ tục xử

lý đối với các chế tài nêu trên cũng sẽ là khác nhau

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

2.1 Quy định về các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội và thực tiễn thực hiện

2.1.1 Các hành vi vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội

Luật BHXH 2006 quy định rất cụ thể và rõ ràng về các hành vi vi phạm

pháp luật về đóng BHXH tại Điều 134: tuy nhiên, đến Luật BHXH 2014 thì

không có điều luật cụ thể nào quy định về các hành vi được coi là “vi phạm về

đóng BHXH” mà chỉ có quy định chung nhất về “các hành vi bị nghiêm cấm”

tại Điều 17 Theo đó, tại Khoản 1 Điều 17 Luật BHXH 2014 thì một trong

các hành vi bị nghiêm cấm đó là “trốn đóng BHXH bắt buộc, Bảo hiểm thất

nghiệp; chậm đóng tiền BHXH, bảo hiểm thất nghiệp; chiếm dụng tiền hưởng

BHXH” Căn cứ vào điều khoản này, tại Điều 26 Nghị định 95/2013/NĐ-CP

quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội

và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động thì các hành vi vi phạm quy định về đóng BHXH bao gồm các dạng

hành vi sau:

- Chậm đóng BHXH: Theo quy định tại Điều 85, Điều 86 Luật BHXH

2014, NLĐ và NSDLĐ theo các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 Luật

BHXH sẽ đóng BHXH hàng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng qua định tại Luật người lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì phương thức đóng được thực hiện

03 tháng, 06 tháng, 12 tháng một lần hoặc đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài Như vậy, pháp luật về BHXH đã quy định rất cụ thể về thời hạn đóng BHXH của người tham gia BHXH và đây là quy định chung buộc tất cả các chủ thể phải tuân theo NSDLĐ sẽ đăng ký với cơ quan BHXH phương thức đóng BHXH của đơn vị

Trang 33

mình và nếu đóng BHXH không đúng theo phương thức đã đăng ký thì hành

vi đó được coi là hành vi chậm đóng tiền BHXH

- Đóng BHXH không đủ mức quy định Cùng với tình trạng chậm đóng BHXH thì một vấn đề “nan giải” khác cũng liên quan trực tiếp đến quyền lợi

của NLĐ có thể bị các doanh nghiệp lợi dụng, đó là tình trạng doanh nghiệp lách luật để giảm bớt mức đóng BHXH Mức đóng BHXH được luật quy định

cụ thể tại Điều 85, 86 Luật BHXH Việt Nam 2014 dựa trên cơ sở tiền lương,

tiền công tháng đóng BHXH Theo đó, mức đóng góp của NLĐ là 8% mức tiền lương tháng hoặc lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất; của NSDLĐ là 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất Riêng đối với trường hợp NLĐ là hạ

sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí thì NSDLĐ phải đóng với mức 23% (1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và 22% vào quỹ hưu trí, tử tuất) Mức đóng như trên là mức đóng chung cho tất cả NLĐ và NSDLĐ NLĐ và NSDLĐ cần phải đóng đủ mức mà pháp luật quy định Hành vi đóng không đủ mức theo quy định của pháp luật được coi là hành vi vi phạm pháp luật về BHXH

- Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH Đối tượng tham

gia BHXH bắt buộc được Luật BHXH 2014 liệt kê cụ thể và rõ ràng, đó là

“Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa NSDLĐ với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 đến dưới 03 tháng; cán bộ, công chức; công nhân quốc phòng, công an nhân dân, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ…; người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc có chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp

Trang 34

được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Chính phủ….” (Điều 2

Luật BHXH Việt Nam 2014) Như vậy, nếu chủ sử dụng lao động không

đóng BHXH cho toàn bộ số NLĐ thuộc một trong những đối tượng trên hoặc đóng không đầy đủ số người thuộc diện tham gia thì có nghĩa họ đã vi phạm quy định này Đây là hành vi cố ý của NSDLĐ không thực hiện nghĩa vụ của mình, thể hiện sự thiếu trách nhiệm, thiếu quan tâm tới NLĐ và không tôn trọng pháp luật

- Chiếm dụng tiền đóng BHXH Đây có thể là hành vi vi phạm của chủ sử

dụng lao động hàng tháng vẫn trích tiền lương của NLĐ để đóng BHXH nhưng họ lại không nộp tiền cho cơ quan BHXH mà lại chiếm dụng khoản tiền đó cho riêng mình Hành vi này được coi là hành vi lừa đảo, vô nhân tính khi NSDLĐ đang chà đạp lên đời sống của NLĐ – những người đang hàng ngày hàng giờ đem sức lao động của mình ra để làm giàu cho họ Bên cạnh

đó, đây còn có thể là hành vi của các chủ thể tham gia quản lỹ quỹ BHXH đã chiếm dụng tiền BHXH làm tài sản của riêng mình Dù là hành vi vi phạm của bất cứ cá nhân nào thì chiếm dụng tiền đóng BHXH cũng là một hành vi đáng lên án

- Hành vi NLĐ thỏa thuận với NSDLĐ không tham BHXH Tham gia

BHXH là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho NLĐ; là lưới đỡ an toàn cho NLĐ khi họ về già hay gặp rủi ro trong lao động nhưng trong thực tế vẫn còn một

bộ phận NLĐ không nhận thức được điều này và có hành vi “thỏa thuận với

NSDLĐ không tham gia BHXH” Nguyên nhân của tình trạng này là do hạn

chế hiểu biết về chính sách BHXH, áp lực về việc làm lại cộng thêm việc bị phụ thuộc vào NSDLĐ nên NLĐ không dám đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi cho mình Về số lượng các hành vi vi phạm của NLĐ được liệt kê trong luật ít hơn so với hành vi vi phạm của NSDLĐ nhưng trên thực tế, tính chất nghiêm trọng gần như không thua kém

Ngày nay, với việc tiếp tục mở rộng phạm vi BHXH, nghĩa là mở rộng phạm vi đóng và hưởng BHXH cho NLĐ ở các thành phần kinh tế khác nhau

đã làm cho hoạt động thu, chi và quản lý quỹ BHXH ngày càng phức tạp hơn, nguy cơ gia tăng vi phạm cũng như tội phạm trong lĩnh vực BHXH là một kết

Trang 35

quả tất yếu Trên thực tế, nhóm hành vi vi phạm về đóng BHXH rất đa dạng, tinh vi và ngày càng biến thể khôn lường

Nợ BHXH không phải là một vấn đề mới nhưng luôn là vấn đề nóng bởi sự chây ỳ, trốn đóng ngày càng gia tăng với số tiền nợ đọng ngày càng lớn gây ảnh hưởng trực tiếp tới NLĐ và ảnh hưởng lớn tới an sinh xã hội, trở thành mối lo chung của toàn xã hội

Theo thống kê của BHXH Việt Nam, tính đến tháng 12/2014, tổng số

nợ BHXH là 5.578 tỷ đồng, bằng 4,93% tổng số phải thu; mặc dù giảm 10,8%

so với năm 2013 (tương ứng với số nợ giảm là 678 tỷ đồng) Số nợ trên tập trung chủ yếu trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức nước ngoài 11 Cũng theo bảo hiểm xã hội Việt Nam thì đến hết tháng 12/2015, số tiền nợ đọng BHXH, BHYT, BHTN vẫn còn trên 7.600 tỷ đồng, bằng 3,68%

so với tổng số phải thu Chỉ tính riêng số nợ BHXH của năm 2015 thì đã giảm 1.021,2 tỷ đồng so với năm 201412 Mặc dù số nợ BHXH năm sau giảm so với năm trước nhưng nhìn chung tổng mức nợ BHXH ở nước ta vẫn đang trong

tình trạng “báo động”; luôn là một “con số biết nhảy múa” đáng lo ngại Lý

giải về vấn đề này, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, số nợ BHXH của năm sau luôn được cộng dồn vào số tiền nợ BHXH chưa truy thu được của năm ngoái, do vậy, dù năm sau tỉ lệ nợ đọng giảm nhưng tổng mức nợ đọng lại là một con số đáng sợ

Tình trạng trốn đóng BHXH xuất hiện ở hầu hết các địa phương với quy mô ngày càng lớn, trong đó, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được coi

là “chúa chổm” về nợ đọng BHXH Có thể “điểm mặt” một số doanh nghiệp

trên địa bàn Hà Nội nợ BHXH với số tiền lớn như như: Công ty Cổ phần Cầu

14 CIENCO 1, địa chỉ 144/95 Vũ Xuân Thiều (quận Long Biên) nợ 19,3 tỷ

đồng; Công ty THHH may mặc Xuất khẩu VIT Garment, Khu công nghiệp

Quang Minh (huyện Mê Linh) nợ 17,5 tỷ đồng; Công ty cổ phần LILAMA 3,

lô số 24-25, Khu công nghiệp Quang Minh (huyện Mê Linh) nợ 15,8 tỷ đồng;

Trang 36

… Cá biệt, trên địa bàn Hà Nội, còn có những “con nợ” dây dưa tới 6 - 7

năm, mặc dù đã khởi kiện đòi nợ nhưng không thu được kết quả Điển hình

như Công ty Cổ phần LISHOHAKA, ở Hạ Bằng (huyện Thạch Thất) khởi

kiện từ tháng 8/2012 với số nợ 2 tỷ đồng, tính đến thời điểm hiện tại doanh

nghiệp này đã nợ 86 tháng (tức 7 năm, 2 tháng) với số tiền cả gốc lẫn lãi lên tới hơn 3,3 tỷ đồng; Công ty Cổ phần 116 - CIENCO 1 nợ 83 tháng (gần 7

năm) với số tiền 8,8 tỷ; Công ty Cổ phần đầu tư - xây dựng công trình 128

CIENCO 1 nợ 79 tháng với số nợ 8,7 tỷ13…

Tương tự, thành phố Hồ Chí Minh cũng luôn là thành phố đứng tốp đầu

về nợ đọng BHXH Theo thống kê của BHXH thành phố Hồ Chí Minh, kết thúc năm 2015 số nợ BHXH, BHYT, BHTN của toàn thành phố lên tới hơn 1.622 tỷ đồng, chiếm 4,71% so với kế hoạch BHXH Việt Nam giao cho; trong

đó, riêng nợ BHXH là hơn 1.412 tỷ đồng với quá nửa số tiền có thời gian nợ trên 6 tháng14 Ngoài ra, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có những “đại

gia” cũng nợ tiền BHXH, trong đó 5 doanh nghiệp thuộc Công ty Cổ phần

Tập đoàn Mai Linh nợ hơn 33 tỷ đồng; Trung tâm điện thoại di động CDMA

(còn gọi là SFONE) thuộc Công ty Cổ phần dịch vụ Bưu chính viễn thông Sài Gòn (SPT) nợ hơn 12 tỷ đồng, Công ty TNHH Marketeers Việt Nam nợ hơn

5,6 tỷ đồng, Công ty Cổ phần Vietstar nợ hơn 6,5 tỷ đồng4… Thông qua

những con số “biết nói” kể trên, rõ ràng quỹ BHXH đang bị trục lợi một cách

nghiêm trọng mà nếu không có sự kiểm soát và vào cuộc kịp thời của các cơ quan có thẩm quyền, đến một mức độ nhất định nào đó, các hành vi này sẽ tạo nên một tác động tiêu cực tới hệ thống BHXH của nước ta

Không chỉ cố tình nợ đọng BHXH, nhiều doanh nghiệp còn “tung

chiêu để trây ỳ nợ” Đơn cử như tập đoàn Mai Linh (TP Hồ Chí Minh) nợ

BHXH kéo dài, với khoảng 33 tỷ đồng Từ năm 2012, cơ quan BHXH thành phố Hồ Chí Minh đã khởi kiện Công ty Mai Linh ra tòa và được tuyên thắng kiện nhưng Mai Linh không những không thi hành án mà lại để nợ BHXH

13

548752.html , truy cập ngày 25/6/2016

http://thanhnien.vn/thoi-su/hon-260000-don-vi-no-dong-bhxh-bhyt-10-trieu-lao-dong-bi-anh-huong-14

dong-cham-dong-bao-hiem-xa-hoi.html , truy cập ngày 27/6/2016

Trang 37

http://www.nhandan.com.vn/xahoi/bhxh-va-cuoc-song/item/28552702-tap-trung-xu-ly-tinh-trang-no-tăng thêm, lên tới hơn 100 tỷ đồng, trở thành “ông trùm” nợ BHXH của thành

phố Hồ Chí Minh Sau đó, công ty này đã sử dụng nhiều chiêu trò mới, nghĩ ra

kế “hoãn binh” để tiếp tục “trục lợi” quỹ BHXH Đó là thành lập công ty mới, để 08 công ty “con” của mình ngừng hoạt động Cụ thể, đến tháng

3/2016, 08 công ty con của Mai Linh đã không còn NLĐ nào, các Công ty này cũng không thể giải thể hay phá sản đẩy số nợ BHXH lên tới 115 tỷ đồng15 Đây chính là một ví dụ điển hình về nợ đọng BHXH mà tất cả các biện pháp,

từ hòa giải, khởi kiện cho tới thi hành án gần như bó tay

Danh sách các doanh nghiệp nợ đọng, trốn đóng BHXH không chỉ diễn

biến phức tạp tại hai “đầu cầu” của cả nước (Hà Nội và TP Hồ Chí Minh) mà

đang dần lan sang các thành phố khác Tính đến cuối tháng 02/2016, số tiền

nợ đọng BHXH của thành phố Đà Nẵng lên tới 186 tỷ đồng, trong đó có hơn

900 đơn vị nợ từ 03 tháng trở lên Ngoài ra, tại thành phố này cũng đang diễn

ra tình trạng hàng trăm người không nhận được chế độ BHTN khi mất việc, NLĐ đến tuổi nghỉ hưu không được chốt sổ BHXH, thậm chí một số doanh nghiệp còn treo sổ BHXH của NLĐ khiến cho họ gặp rất nhiều khó khăn trong khi tìm việc mới16 Rất nhiều NLĐ khi đến tuổi nghỉ hưu không thể chốt

sổ BHXH; hay NLĐ khi nghỉ việc sẽ không có sổ BHXH để xin việc làm mới

vì vậy, nếu không bám nơi làm việc cũ cũng đồng nghĩa với việc NLĐ sẽ thất nghiệp Rõ ràng, doanh nghiệp là đơn vị nợ đọng BHXH nhưng hứng chịu hậu quả lại không ai khác chính là NLĐ

Có chung tay đóng góp vào quỹ BHXH thì mới hình thành nên quỹ Càng nhiều người đóng góp, phạm vi tham gia quỹ ngày càng mở rộng Đóng góp càng cao, thụ hưởng càng nhiều, quỹ BHXH càng bền vững, đảm bảo cho

hệ thống BHXH, hệ thống an sinh xã hội ngày càng phát triển Nhưng hiện nay, tình trạng doanh nghiệp lách luật, trốn đóng BHXH ngày càng biến thể với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây bất ổn xã hội, đe dọa đến sự an toàn quỹ BHXH

15

http://vietq.vn/luat-moi-xu-ly-hinh-su-voi-doanh-nghiep-no-bao-hiem-xa-hoi-d95958.html truy cập ngày 30/6/2016

16

doanh-nghiep-treo-tro-cap-399868.bld truy cập ngày 20/5/2016

Trang 38

http://laodong.com.vn/cong-doan/cty-co-khi-oto-va-thiet-bi-dien-da-nangcong-nhan-dieu-dung-vi-Không chỉ trốn nợ quỹ BHXH, giờ đây, nhiều doanh nghiệp còn có

chiêu trò mới để “lách luật” không đóng BHXH cho NLĐ Không ít NLĐ,

chỉ đến khi xin nghỉ việc ở một doanh nghiệp mới vỡ lẽ ra rằng, mặc dù hàng tháng họ vẫn bị trừ các loại BHXH nhưng đến khi xin nghỉ việc thì họ lại không hề có sổ bảo hiểm và chẳng có bất kỳ một chế độ nào dành cho họ cả Trước đây, sổ BHXH sẽ do NSDLĐ giữ và quản lý, do đó hầu như NLĐ không nắm bắt được quá trình đóng BHXH của mình, chỉ đến khi cần dùng thì NLĐ mới yêu cầu NSDLĐ trả sổ, còn nếu không thì sổ BHXH của họ sẽ được giữ cho tới khi họ về hưu Như vậy, nếu như NSDLĐ đã thu tiền BHXH của NLĐ nhưng lại chậm đóng hoặc không đóng cho cơ quan BHXH thì NLĐ không hề hay biết Luật BHXH 2016 ra đời đã khắc phục nhược điểm nêu trên, cho phép NLĐ có quyền tự quản lý sổ BHXH thay vì chủ sử dụng lao động như hiện hành Hàng năm, NLĐ sẽ được cơ quan BHXH xác nhận về việc đóng BHXH, được yêu cầu NSDLĐ và cơ quan BHXH cung cấp thông tin về đóng BHXH Luật cũng quy định trách nhiệm của NSDLĐ định kỳ 6 tháng phải niêm yết công khai thông tin về việc đóng BHXH cho NLĐ và niêm yết công khai thông tin đóng BHXH do cơ quan BHXH cung cấp hàng năm

So với Luật BHXH 2006, đối tượng tham gia BHXH theo luật BHXH

2014 được mở rộng đến NLĐ có hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng đến dưới

03 tháng, NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Chính phủ và người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tiếp tục được đẩy mạnh đã thể hiện được sự tiến bộ của pháp luật, phù hợp với xu thế an sinh xã hội chung của toàn nhân loại

Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng nhưng trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp chỉ tham gia BHXH cho một bộ phận NLĐ, bộ phận còn lại thì họ chiếm dụng làm của riêng cho mình Với doanh nghiệp có hàng nghìn công nhân, số tiền BHXH mà doanh nghiệp chiếm dụng của NLĐ có

Trang 39

thể lên tới hàng tỷ đồng Xét về thực chất, đây là hành vi chiếm đoạt tiền của NLĐ, có thể bị xử lý hình sự Thế nhưng, điều bất cập là tính đến thời điểm pháp luật hiện hành cũng chỉ quy định, hành vi này mới chỉ bị xử lý hành chính mà chưa có bất cứ chế tài nào nghiêm khắc hơn để xử lý

Cùng với tình trạng trốn đóng, đóng không đúng mức hay đóng không

đủ diện người tham gia BHXH của NSDLĐ thì một vấn đề “nan giải” khác

cũng liên quan trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ đang bị các doanh nghiệp lợi dụng, đó là doanh nghiệp lách luật để giảm bớt mức đóng BHXH Mặc dù pháp luật đã có những quy định cụ thể về mức đóng, phương thức đóng BHXH nhưng trên thực tế NSDLĐ luôn có những chiêu trò mới để giảm tới mức thấp nhất chi phí đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ Họ tách tiền lương thành các khoản phụ cấp khác nhau làm giảm mức lương trên hợp đồng lao động với NLĐ Lý giải vấn đề này chúng ta có thể nhận thấy, hiện nay số tiền BHXH mà doanh nghiệp phải đóng dựa trên mức lương ghi trên hợp đồng lao động ký kết giữa NSDLĐ và NLĐ Tuy nhiên, khi ký kết hợp đồng, doanh nghiệp sẽ hạ mức tiền lương trong hợp đồng xuống mức tối thiểu, chỉ cao hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định trong Bộ Luật Lao động 10% để tránh vi phạm, và bù cho công nhân hàng loại các phụ cấp khác nhau Tại khu công nghiệp Nam Cầu Kiền, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, NLĐ khi ký kết hợp đồng lao động với NSDLĐ thì họ sẽ không được thỏa thuận về mức lương của mình Thay vì trả mức lương theo đúng công sức của NLĐ thì NSDLĐ lại tách nhỏ mức lương thành các khoản trợ cấp chuyên cần, trợ cấp

đi lại, trợ cấp thâm niên, phụ cấp công việc, trợ cấp năng lực…để tránh việc đóng BHXH ở mức cao.17

Người lao động, mặc dù họ biết mức đóng BHXH thấp sẽ ảnh hưởng đến các quyền lợi của mình nhưng họ vẫn phải chấp nhận; một phần do áp lực cần công việc để làm, một phần khác họ cũng vì lợi ích trước mắt mà bỏ qua lợi ích lâu dài về sau Mức đóng BHXH thấp dẫn tới các chế độ bảo hiểm như

17

Phụ lục số 01 (Nguồn: Công ty Yazaki, Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng)

Trang 40

ốm đau, thai sản cũng như mức lương hưu trong tương lai sẽ thấp ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ về sau này

Chây ỳ, trốn đóng, đóng không đủ diện người tham gia, đóng không đủ mức BHXH vẫn chưa phải là tất cả những hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH của NSDLĐ Thực tế còn cho thấy tình trạng doanh nghiệp hướng dẫn

nhân viên “né” đóng bảo hiểm xã hội Ngày 28 tháng 12 năm 2015, Giám đốc Công ty cổ phần Chairman Phú Quốc (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) phát hành một văn bản hướng dẫn nhân viên né đóng BHXH “Cán bộ nhân viên

khi ký hợp đồng lao động chính thức (hợp đồng dài hạn) sẽ được đóng BHXH Cán bộ nhân viên không có nhu cầu đóng BHXH, công ty sẽ hỗ trợ 50% bảo hiểm mỗi tháng” Công ty đưa ra một ví dụ: một nhân viên có mức lương 3

triệu đồng/tháng, nếu đóng BHXH bắt buộc công ty sẽ phải trả 18% mức lương, tương đương 540.000 đồng và bản thân nhân viên phải đóng 8% là

240.000 đồng (trừ trực tiếp vào lương tháng) Như vậy, số tiền được nhận của

nhân viên này sẽ là 2.760.000 đồng; trong khi đó, nếu không đóng BHXH, công ty sẽ hỗ trợ bằng tiền mặt 50%, tức 270.000 đồng và tổng số tiền nhân viên này được nhận mỗi tháng là 3.270.000 đồng 18 Số tiền chênh lệch hàng tháng lên tới 510.000 đồng, đây không phải là con số nhỏ so với những NLĐ

“bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Rõ ràng, với khoảng chênh lệch như

trên thử hỏi là một NLĐ không am hiểu về pháp luật, họ sẽ chọn cách nào? Ở

doanh nghiệp này, việc trốn đóng BHXH không phải “trốn chui, trốn lủi” như một số doanh nghiệp khác mà họ chính thức có thông báo “công khai” tới toàn thể cán bộ, nhân viên, NLĐ Hành vi này đã cho thấy sự “táo bạo, biến

thể đến nguy hiểm” của các dạng hành vi vi phạm về đóng BHXH

Trên thực tế, việc nợ BHXH ngày một gia tăng với những biến thể khó xác định và hệ lụy của nó là hàng trăm, hàng nghìn NLĐ không được hưởng quyền lợi chính đáng của mình về BHXH Mặc dù phần đông NLĐ đã thực hiện nghĩa vụ đầy đủ nhưng phía NSDLĐ lại lạm dụng số tiền đóng BHXH của NLĐ để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc họ nộp thiếu hay

18

http://www.baomoi.com/doanh-nghiep-huong-dan-nhan-vien-ne-dong-bao-hiem-xa-hoi/c/18805905.epi

truy cập ngày 29/5/2016

Ngày đăng: 19/03/2018, 17:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w