1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình trong pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam

102 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tác giả lựa chọn vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam làm đề tài Luận văn Thạc sĩ là sự cố gắng tiếp tục nghiên c

Trang 1

NGUYỄN THUẬN YẾN

VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

NHẰM MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60380108

Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Mạnh Hùng

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

và sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Chu Mạnh Hùng – người thầy giáo đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là Khoa Pháp luật quốc tế và Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành Luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do tính phức tạp của đề tài, đồng thời do trình độ, nhận thức của em về lý luận cũng như thực tiễn còn hạn chế, nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong muốn nhận được sự góp ý, bổ sung của thầy giáo, cô giáo để Luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 08 năm 2016 Học viên

Nguyễn Thuận Yến

Trang 3

Em xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân em Các số liệu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực Em xin chịu mọi trách nhiệm về các thông tin đã đưa ra trong Luận văn

Xác nhận của Học viên Giảng viên hướng dẫn

TS Chu Mạnh Hùng Nguyễn Thuận Yến

Trang 4

1 ATBXHN An toàn bức xạ và hạt nhân

Damage (Công ước Bồi thường bổ sung đối với thiệt hại hạt nhân)

thử hạt nhân toàn diện)

chức Cấm thử hạt nhân toàn diện)

nguyên tử quốc tế)

10 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Không phổ biến vũ khí hạt nhân)

(Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế)

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn 5

7 Bố cục của Luận văn 5

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ NHẰM MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH 6

1.1 Khái niệm năng lượng nguyên tử 6

1.2 Lịch sử hình thành và quá trình sử dụng năng lượng nguyên tử 9

1.3 Cơ sở pháp lý quốc tế đối với hoạt động sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình 14

1.3.1 Các điều ước quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử 14

1.3.2 Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 19

1.3.3 Quy định của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế 20

1.4 Vai trò của việc sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình 21

Chương 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ NHẰM MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH 28

2.1 Quy định của pháp luật quốc tế về sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình 28

2.1.1 Các quy định về không phổ biến vũ khí hạt nhân và thanh sát hạt nhân 28

2.1.2 Các quy định về vấn đề an toàn hạt nhân 37

2.1.3 Các quy định về ứng phó sự cố và bồi thường thiệt hại hạt nhân 43

2.1.4 Các quy định về an ninh hạt nhân 49

2.2 Quy định của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA 54

Trang 6

TỬ NHẰM MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH 59 3.1 Quan điểm của Việt Nam về vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình 59 3.2 Các điều ước quốc tế và sự tham gia của Việt Nam 62 3.3 Pháp luật Việt Nam trong vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình 65

3.3.1 Điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử 65 3.3.2 Nội dung các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử 69

3.4 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử 85 KẾT LUẬN 91

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hơn một thế kỷ qua, kể từ khi các chất đồng vị phóng xạ được tìm ra, các hoạt chất phóng xạ đã được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như y tế, nông nghiệp, công nghiệp, địa chất, khoáng sản, và mang lại những hiệu quả tích cực cho cuộc sống con người Đặc biệt một trong những ứng dụng điển hình và có ý nghĩa quan trọng của năng lượng nguyên tử là sản xuất điện năng Trong khi các nguồn năng lượng hoá thạch ngày càng cạn kiện, không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu trong tương lai, các nguồn năng lượng tái tạo như gió, mặt trời lại chưa chứng minh được tính hiệu quả thực sự, thì năng lượng nguyên tử vẫn

là sự lựa chọn của nhiều quốc gia nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và sự phát triển bền vững cũng như giải quyết tích cực các vấn đề môi trường

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn không thể phủ nhận của các hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình, việc sử dụng nguồn năng lượng này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nguy hiểm, phát sinh từ việc không đảm bảo an toàn bức xạ, an ninh hạt nhân dẫn đến việc phát tán phóng xạ vào môi trường, gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người và hệ sinh thái Lịch

sử thế giới đã ghi nhận các thảm họa từ sự cố nổ lò phản ứng tại nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island, Chernobyl, và mới đây nhất là Fukushima tại Nhật Bản năm 2011 gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe của con người, động thực vật, môi trường và kinh tế - xã hội Thêm nữa, do đặc tính vật lý và hóa học, ảnh hưởng từ việc phát tán chất phóng xạ của nhà máy điện hạt nhân thường vượt khỏi phạm vi lãnh thổ một quốc gia, có khả năng để lại di chứng qua nhiều thế hệ, do đó, vấn đề đảm bảo an toàn, an ninh hạt nhân đã và đang trở thành mối quan tâm chung của toàn thế giới Ngoài ra, việc sử dụng năng lượng nguyên tử vào các mục đích phi hòa bình, bao gồm việc phát triển và phổ biến vũ khí hạt nhân và khủng bố hạt nhân cũng đặt ra thách thức cho cộng đồng quốc tế

Với ý nghĩa và tầm quan trọng của năng lượng nguyên tử cũng như những rủi ro có thể xảy ra khi sử dụng nguồn năng lượng này, vai trò của pháp luật quốc tế

và pháp luật quốc gia trong việc thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh các hoạt động nghiên cứu, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển ứng dụng năng lượng nguyên

tử vì mục đích hòa bình là rất cần thiết

Trang 8

Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao trong đó có công nghệ hạt nhân được xem là cơ hội, điều kiện để thúc đẩy kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, cơ sở pháp lý trong nước chưa đầy đủ đã khiến cho việc sử dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam chưa thực sự tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Mặc dù mới ban hành năm 2008, nhưng sau 8 năm thi hành, Luật Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đặt trong mối tương quan với các điều ước quốc tế có liên quan và các khuyến cáo của IAEA có ý nghĩa cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn Do đó, tác

giả đã lựa chọn đề tài “Vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích

hòa bình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” làm nội dung Luận văn

của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, tại Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu, tiếp cận vấn đề về việc sử dụng năng lượng nguyên tử dưới những phương diện khác nhau, cụ thể:

Trước năm 2008 – trước thời điểm Luật Năng lượng nguyên tử của Việt Nam được ban hành và có hiệu lực, chưa có Luận văn, Luận án hay các công trình nghiên cứu khoa học nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu, khai thác vấn đề về sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình dưới góc độ pháp luật quốc tế Chỉ có một số bài báo đã được công bố trên các tạp chí khoa học của Việt Nam tiếp cận và đề cập đến vấn đề pháp lý liên quan đến lĩnh vực năng lượng nguyên tử như:

- Nguyễn Việt Hùng (2005), “Không phổ biến vũ khí hạt nhân các cam kết

và quá trình thực hiện của Việt Nam”, Hoạt động khoa học

- Ngô Đặng Nhân (2007), “Luật Năng lượng nguyên tử - Hành lang pháp lý

cho các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở Việt Nam”, Hoạt động

khoa học

Sau khi Luật Năng lượng nguyên tử Việt Nam được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực, vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình đã được quan tâm nhiều hơn và được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu trong các Luận văn, Luận án Luật học, tiêu biểu là:

Trang 9

- Nguyễn Thị Thu Trang (2010), “Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực năng

lượng nguyên tử ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật, chuyên ngành Luật

hành chính, Viện Khoa học

- Phạm Gia Chương (2010), “Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về

năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình”, Luận văn Thạc sĩ Luật, chuyên ngành

Luật Quốc tế, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;

- Nguyễn Thị Hoàn (2012), “Pháp luật bảo đảm quản lý an toàn nhà máy

điện hạt nhân ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật, chuyên ngành Lý luận – Lịch sử

Nhà nước và pháp luật, Học viện Khoa học xã hội;

- Phạm Gia Chương (2015), “Pháp luật quốc tế về sử dụng năng lượng

nguyên tử vì mục đích hòa bình”, Luận án Tiến sĩ Luật, chuyên ngành Luật Quốc

tế, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Về cơ bản, các công trình khoa học đã công bố tại Việt Nam đã giải quyết được nhiều vấn đề lý luận ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến nội dung vấn đề

sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình dưới góc độ pháp lý Đặc biệt, Luận văn Thạc sĩ và Luận án Tiến sĩ của tác giả Phạm Gia Chương được coi là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về pháp luật quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, tập trung khai thác, phân tích các nội dung của điều ước quốc tế, pháp luật một số quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, để có sự

so sánh với pháp luật Việt Nam nhằm đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, trong cả hai công trình này, tác giả Phạm Gia Chương chưa có sự nhóm các quy định của điều ước quốc tế dựa trên tính chất của hoạt động sử dụng năng lượng nguyên tử, đồng thời tác giả chỉ đề cập đến các điều ước mà Việt Nam là thành viên nên chưa có sự hệ thống, tổng hợp; bên cạnh đó, việc phân tích, đánh giá Luật Năng lượng nguyên tử 2008 còn chưa toàn diện

Việc tác giả lựa chọn vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam làm đề tài Luận văn Thạc sĩ

là sự cố gắng tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở kế thừa và phát triển hệ thống hơn những luận cứ khoa học dưới góc độ pháp lý về năng lượng nguyên tử đặt trong điều kiện nhu cầu sử dụng nguồn năng lượng này đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Ninh Thuận

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Luận văn nghiên cứu về vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

Đề tài về vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam là một đề tài có phạm vi rộng, trong khuôn khổ của một Luận văn Thạc sĩ với giới hạn về số trang, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về năng lượng nguyên tử và việc sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình; nội dung chính của các điều ước quốc tế đa phương toàn cầu tiêu biểu có liên quan trực tiếp; các tài liệu hướng dẫn của IAEA

về xây dựng Luật hạt nhân; văn bản pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, trọng tâm là Luật Năng lượng nguyên tử 2008; phân tích và chỉ ra được

ưu điểm, hạn chế của điều ước quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam để từ đó làm

cơ sở đưa ra một số giải pháp hoàn thiện

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của Luận văn là đưa ra các luận cứ khoa học nhằm phân tích, làm

rõ tính chất của hoạt động sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình; đồng thời thông qua việc luận giải cơ sở lý luận cũng như thực tiễn vấn đề này trong pháp luật và đời sống quốc tế nói chung, ở Việt Nam nói riêng để từ đó đề xuất giải pháp xây dựng hoàn thiện pháp luật quốc tế và Việt Nam trong hoạt động sử dụng

năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình

Để đạt được mục đích đó, Luận văn có nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, phân tích bản chất của vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm

mục đích hòa bình dưới góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

Thứ hai, nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt

Nam liên quan đến hoạt động sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình bao gồm: vấn đề không phổ biến vũ khí hạt nhân, an toàn và an ninh hạt nhân, ứng phó sự cố và bồi thường thiệt hại hạt nhân

Thứ ba, phân tích thực trạng nhu cầu sử dụng năng lượng nguyên tử ở Việt

Nam trong giai đoạn hiện nay, đánh giá tính phù hợp và khả thi của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Luật Năng lượng nguyên tử 2008 Đồng thời đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này, có xét đến sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các khuyến cáo của IAEA

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để hoàn thiện Luận văn là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, tổng hợp, quy nạp, đối chiếu, … để làm sáng tỏ vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử trong pháp luật quốc tế cũng như đưa ra những đánh giá khách quan về lý luận, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn

Trước hết, khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn trang

bị thêm kiến thức chuyên sâu cho bản thân, nâng cao hiệu quả công việc trong vị trí

công tác hiện tại có liên quan đến ngành năng lượng nguyên tử

Đồng thời, các kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của việc sử dụng năng lượng nguyên tử của người dân Việt Nam, để từ đó, thay đổi cách nhìn nhận, sự chấp thuận của công chúng đối với các hoạt động liên quan đến phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử nói chung và đặc biệt là việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại tỉnh Ninh Thuận

Ngoài ra, Luận văn cũng có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về năng lượng nguyên tử trong các trường đại học chuyên ngành

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của Luận văn bao gồm 3 Chương:

Chương 1 Khái quát về vấn đề sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục

đích hòa bình Chương 2 Pháp luật quốc tế về sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục

đích hòa bình Chương 3 Chính sách, pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực sử dụng năng

lượng nguyên tử và một số giải pháp hoàn thiện

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

NHẰM MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH 1.1 Khái niệm năng lượng nguyên tử

Dưới góc độ khoa học tự nhiên, nguyên tử được hiểu là đơn vị cơ bản của vật chất chứa một hạt nhân ở trung tâm và được bao quanh bởi các electron mang điện tích âm Trong đó, hạt nhân nguyên tử là dạng gắn kết hỗn hợp giữa các proton mang điện tích dương và các nơtron không mang điện (ngoại trừ trường hợp của nguyên tử hydro, với hạt nhân ổn định chỉ chứa một proton duy nhất không có nơtron) Electron của nguyên tử liên kết với hạt nhân bởi tương tác điện từ và tuân theo các nguyên lý của cơ học lượng tử Ở trạng thái cơ bản, nguyên tử trung hòa về điện, khi đó tổng số điện tích dương của hạt nhân bằng tổng số điện tích âm của các điện tử (electron) quay xung quanh nó Nguyên tử có khả năng cho – nhận một số điện tử ở lớp ngoài cùng để tạo thành các ion mang điện tích dương hay âm hoặc cũng có thể bị biến dạng của nhiều lớp vỏ điện tử do tương tác với các nguyên tử khác Tuy nhiên trong các quá trình hóa học, hạt nhân nguyên tử luôn được bảo toàn, do đó có biến đổi như thế nào nhưng nguyên tử luôn luôn có khả năng phục

Thuật ngữ “năng lượng nguyên tử” là một khái niệm rộng và hiện nay trên thế

giới chưa có sự thống nhất về cách định nghĩa Đặc biệt, trên thực tế vẫn có sự tồn

tại và sử dụng song song hai thuật ngữ “năng lượng nguyên tử” và “năng lượng hạt

nhân”, trong đó “năng lượng hạt nhân là năng lượng được tạo ra từ quá trình hạt nhân chuyển đổi kèm theo phát phóng xạ, tổng hợp hạt nhân, phân hạch hạt nhân,

… khối lương hao hụt của chuyển đổi hạt nhân tương đương với năng lượng được giải phóng”2 Tuy nhiên, nếu xét về cấu tạo nguyên tử thì khối lượng nguyên tử chủ yếu tập trung ở hạt nhân do khối lượng electron ở lớp vỏ không đáng kể Đồng thời, trong hạt nhân nguyên tử, các proton và nơtron khi ở khoảng cách rất nhỏ, sẽ hút nhau rất mạnh, chính năng lượng liên kết này mà proton và nơtron kết hợp với nhau

ổn định trong hạt nhân, khi phân hạch hạt nhân hay tổng hợp hạt nhân, thì năng

Trang 13

lượng liên kết này sẽ được giải phóng Vì vậy, về bản chất, NLNT chính là năng lượng được sinh ra khi có sự phân hạch hoặc tổng hợp hạt nhân Năng lượng hạt nhân là năng lượng hữu ích từ hạt nhân nguyên tử thu được nhờ các lò phản ứng hạt nhân có kiểm soát Dựa trên các học thuyết vật lý hiện đại của thuyết tương đối và thuyết lượng tử thì năng lượng được hiểu là một đại lượng vật lý đặc trưng cho khả

- Phản ứng phân hạch: Phản ứng phân hạch là phản ứng tỏa nhiệt Tổng khối

lượng sản phẩm tạo thành sau phản ứng không bằng tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng ban đầu Khối lượng bị mất đã chuyển sang dạng nhiệt và bức xạ điện

từ, đồng thời giải phóng một năng lượng lớn Trong phản ứng phân hạch, hạt nhân nguyên tử bị các nơtron bắn phá thành những mảnh nhỏ khác với hạt nhân và nơtron ban đầu Các nơtron mới tạo thành lại tham gia vào phản ứng kế tiếp Từ đó hình thành phản ứng dây chuyền Khi phản ứng đạt đến khối lượng tới hạn, nó trở thành phản ứng tự hoạt động Nếu có quá nhiều nơtron được sinh ra, phản ứng sẽ mất kiểm soát dẫn đến cháy nổ lớn Để tránh điều này, người ta sử dụng chất hấp thụ nơtron và bộ đều hòa nơtron để thay đổi tỷ lệ nơtron tham gia vào các phản ứng

nhân, có thể phát ra năng lượng đến 200-210 MeV

- Phản ứng tổng hợp: Là loại phản ứng khác để tạo năng lượng hạt nhân Một

ví dụ thông dụng là triti và đơteri được kết hợp để tạo ra heli và một nơtron Không như phản ứng phân hạch, phản ứng này chỉ sinh ra năng lượng khoảng 18 MeV

- Phân rã phóng xạ: Phóng xạ là hiện tượng một số hạt nhân nguyên tử không

bền tự biến đổi và phát ra các bức xạ hạt nhân (thường được gọi là các tia phóng xạ) Sự tự biến đổi như vậy của hạt nhân nguyên tử thường được gọi là sự phân rã phóng xạ hay phân rã hạt nhân Ví dụ urani tự vỡ ra thành các mảnh hạt nhân kèm theo sự thoát ra nơtron và một số hạt cơ bản khác, cũng là một dạng của sự phân rã hạt nhân Trong quá trình phân rã hạt nhân đều có sự hụt khối lượng, tức là tổng khối lượng của các hạt tạo thành nhỏ hơn khối lượng hạt nhân ban đầu Khối lượng

bị hao hụt này chuyển hóa thành năng lượng khổng lồ được tính theo công thức nổi tiếng của Albert Einstein E=mc², trong đó E là năng lượng thoát ra khi phân rã hạt nhân, m là độ hụt khối và c=298.000.000 m/s là vận tốc ánh sáng trong chân không

3

Cao Chi, “Kiến thức cơ bản về năng lượng hạt nhân”, Tạp chí Năng lượng Việt Nam,

http://nangluongvietnam.vn/news/vn/khoa-hoc-va-cong-nghe/kien-thuc-co-ban-ve-nang-luong-hat-nhan.html

Trang 14

Dưới góc độ pháp lý, các điều ước quốc tế như Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân, Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện, Công ước An toàn hạt nhân, không đưa ra định nghĩa về NLNT hay năng lượng hạt nhân Tuy nhiên, pháp luật của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển mạnh mẽ các ứng dụng NLNT cũng có đưa ra các định nghĩa về NLNT hay năng lượng hạt nhân, chủ yếu khái niệm về các thuật ngữ này cũng dựa trên cơ sở khoa học vật lý như đã phân tích ở trên về bản chất của NLNT Chẳng hạn như, theo khoản 1, Điều 3 Luật Năng lượng

nguyên tử cơ bản năm 1955 của Nhật Bản, “thuật ngữ năng lượng hạt nhân được

hiểu là tất cả các dạng năng lượng phát sinh từ hạt nhân nguyên tử trong quá trình chuyển hóa hạt nhân” 4 Theo Điều 11, Chương 2, Luật Năng lượng nguyên tử năm

1954 của Hoa Kỳ, “Năng lượng nguyên tử có nghĩa là tất cả các dạng năng lượng

phát sinh trong quá trình phân hạch hạt nhân hoặc biến đổi hạt nhân” 5

Trong pháp luật Việt Nam, theo khoản 1 Điều 3 Luật NLNT 2008, “Năng

lượng nguyên tử là năng lượng được giải phóng trong quá trình biến đổi hạt nhân bao gồm năng lượng phân hạch, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng do phân rã chất phóng xạ; là năng lượng sóng điện từ có khả năng ion hóa vật chất và năng lượng các hạt được gia tốc.” Như vậy, quy định của pháp luật Việt Nam về khái

niệm NLNT cũng được tiếp cận dựa trên bản chất vật lý lượng tử và hóa học của quá trình giải phóng năng lượng hạt nhân

Cũng theo Luật NLNT 2008, hoạt động trong lĩnh vực NLNT được hiểu là hoạt động nhằm ứng dụng NLNT vào phục vụ đời sống kinh tế - xã hội của con người bao gồm:

nhân, cơ sở bức xạ;

nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân;

4

Tạm dịch từ “The term "Nuclear Energy" means all types of energy emitted from the nucleus of an atom

in the process of nuclear transmutation”, Article 3, Atomic Energy Basic Act,

http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=2233&vm=04&re=02

5 Tạm dịch từ “The term "atomic energy" means all forms of energy released in the course of nuclear fission

or nuclear transformation”, Article 11, Chapter 2, Atomic Energy Act of 1954,

http://pbadupws.nrc.gov/docs/ML1327/ML13274A489.pdf

Trang 15

- Xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ và các dịch vụ hỗ trợ ứng dụng NLNT

Có thể thấy, nguồn năng lượng lớn thu được từ các phản ứng biến đổi hạt nhân

có thể được sử dụng vào rất nhiều lĩnh vực khác nhau phụ thuộc chính vào chính

sách của mỗi quốc gia Thuật ngữ “năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình”

được sử dụng lần đầu tiên trong bài phát biểu của Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower trước Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 08/12/1953, theo đó, NLNT cho hòa bình (atoms for peace) được hiểu là việc chỉ sử dụng năng lượng giải phóng từ sự biến đổi hạt nhân nguyên tử vào mục đích dân sự, đồng thời, nhấn mạnh rằng không sử dụng NLNT cho bất cứ hoạt động quân sự nào, đặc biệt là chế tạo, sản xuất vũ khí hạt nhân, tiến hành các vụ nổ thử hạt nhân Như vậy, các quốc gia sử dụng NLNT nhằm mục đích hòa bình với mục tiêu chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống con người, cũng như đảm bảo an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường trước sự tác động ngày càng nghiêm trọng của vấn đề biến đổi khí hậu Trong đó, sử dụng NLNT nhằm mục đích hòa bình được chia thành hai nhóm: ứng dụng trong vấn đề năng lượng (sản xuất điện hạt nhân) và ứng dụng phi năng lượng hay về bản chất chính là ứng dụng các đồng vị phóng xạ (xạ trị ung thư, chiếu xạ trong nông nghiệp để bảo vệ thực vật, sản xuất phân vi sinh,… ) Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, những nguy cơ và hậu quả nghiêm trọng của sử dụng NLNT vào các mục đích phi hòa bình, bao gồm việc phổ biến vũ khí hạt nhân, tiến hành các vụ nổ thử hạt nhân và khủng bố hạt nhân đang trở thành mối quan tâm, lo ngại chung của cộng đồng quốc tế

1.2 Lịch sử hình thành và quá trình sử dụng năng lượng nguyên tử

Trong những năm qua, NLNT có nhiều ứng dụng đa dạng, phổ biến nhất là sản xuất năng lượng, chế tạo vũ khí hạt nhân và áp dụng trong nhiều lĩnh vực bao gồm trong y học hạt nhân, hình ảnh cộng hưởng điện từ, cấy ion trong kỹ thuật vật liệu, bức xạ cacbon xác định tuổi trong địa chất học và khảo cổ học, ứng dụng trong nông nghiệp để tăng sản lượng và chất lượng cây trồng, …

Trong những năm cuối thế kỷ XIX, urani – một trong những nguyên tố có khả năng dễ hấp thụ nơtron nhiệt và gây ra phân hạch hạt nhân nên được sử dụng làm nhiên liệu chủ yếu cho lò phản ứng hạt nhân, đã được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1789 bởi nhà hóa học người Đức, Martin Klaproth Sau đó, bức xạ ion được phát hiện vào năm 1895 bởi Wilhelm Ronghen trong thí nghiệm cho một dòng điện chạy qua một ống chân không thủy tinh và tạo nên các tia X liên tục Năm 1896,

Trang 16

Henri Henri Becquerel đưa ra nhận định về các phóng xạ beta và các hạt alpha phát

ra từ quặng uranit (có chứa radium và urani) Trong năm 1898, Pierre và Marie Curie đã tách được poloni và rađi từ quặng pecblen Cũng trong năm 1898, Samuel

Những thành công trong thí nghiệm về phân hạch hạt nhân đã gây nên sự hấp dẫn cho nhiều nhà khoa học khác trong việc thực hiện nghiên cứu vào những năm đầu thế kỷ XX Trong các nghiên cứu tiếp theo do Hahn và Strassmann thực hiện đã chỉ ra rằng, trong quá trình phân hạch hạt nhân không chỉ giải phóng rất nhiều năng lượng mà còn sản sinh ra các nơtron bổ sung Các nơtron này có thể tiếp tục tạo nên

sự phân hạch các hạt nhân urani khác từ đó hình thành nên một phản ứng dây chuyền tự duy trì nhằm tạo nên một nguồn năng lượng vô cùng lớn theo cấp số nhân Một nghiên cứu khác trong sự phát triển của năng lượng hạt nhân trong giai đoạn này chính là ý tưởng về bom phân hạch (bom nguyên tử) do nhà vật lý người Pháp Francis Perrin đưa ra vào năm 1939 Từ tháng 4/1939, nhà vật lý học người Đức Werner Heisenberg cùng học trò của mình đã bắt đầu thực hiện dự án năng lượng hạt nhân dưới sự giám sát của Ủy ban bom mìn Đức quốc xã Ban đầu, dự án được khởi động với mục tiêu chế tạo vũ khí hạt nhân nhưng đến năm 1942, dự án chính thức đóng cửa với kết luận về tính bất khả thi khi áp dụng năng lượng hạt nhân vào trong mục đích quân sự Dù vậy, sự tồn tại của dự án đã thúc đẩy sự phát

Trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ hai, với cuộc chạy đua vũ trang giữa các quốc gia tham chiến, các nhà khoa học Anh đã chịu áp lực lớn của Chính phủ trong việc nghiên cứu khai thác vũ khí hạt nhân Hai nhà vật lý tị nạn sang Anh là Peierls và Fisch đã góp phần không nhỏ trong việc quân sự hóa năng lượng hạt nhân với bản ghi chép về các khái niệm trong cơ chế hoạt động của bom nguyên tử Chính bản ghi chép của hai nhà nghiên cứu đã kích thích sự phát triển của việc chế tạo bom nguyên tử không chỉ tại Anh mà còn ở Hoa Kỳ trong những năm sau đó

Hai báo cáo đã được MAUD công bố vào tháng 7/1941 là “Sử dụng urani cho bom

nguyên tử” và “Sử dụng urani như một nguồn năng lượng” Báo cáo đầu tiên chỉ ra

sự khả thi khi chế tạo một quả bom nguyên tử nặng 12 kg với khả năng tạo ra một

Trang 17

http://khoahoc.tv/lich-su-hinh-thanh-va-phat-vụ nổ tương đương với 1800 tấn thuốc nổ TNT và giải phóng một lượng lớn chất phóng xạ có khả năng ảnh hưởng tại nơi xảy ra vụ nổ trong một khoảng thời gian dài Theo ước tính, cần phải sử dụng khoảng 5 triệu USD mỗi ngày và một lượng

Đức cũng có thể tạo ra loại vũ khí tương tự, Anh ngay lập tức muốn ưu tiên cộng tác với Hoa Kỳ nhằm nhanh chóng chế tạo bom nguyên tử để phục vụ cho nhu cầu cấp thiết của chiến tranh Báo cáo thứ hai của MAUD đã chỉ ra rằng hoàn toàn có thể sử dụng nhiệt lượng để cung cấp năng lượng ban đầu cho quá trình phân hạch trong bom nguyên tử đồng thời có thể bổ sung thêm một lượng lớn các đồng vị phóng xạ khác để thay thế cho urani trong phản ứng hạt nhân Báo cáo cũng chỉ ra rằng có thể sử dụng hỗn hợp nước nặng và than chì để kiểm soát quá trình thực hiện phản ứng Đây chính là mô hình lò hơi urani đầu tiên và vẫn còn được sử dụng để khai thác NLNT cho đến nay Có thể nói, hai báo cáo trên đã định hình cho việc chế tạo thành công bom nguyên tử cũng như các lò hơi hạt nhân

Với diễn biến phức tạp của tình hình chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ cho rằng cần phải nhanh chóng sở hữu vũ khí hạt nhân, đây được coi là nhiệm vụ cấp thiết sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng và Hoa Kỳ chính thức tham chiến vào tháng 7/1941; tại thời điểm đó, tất cả các nguồn lực của Hoa Kỳ đều dành cho việc phát triển bom nguyên tử Sau các nghiên cứu của Hoa Kỳ, quả bom nguyên tử đầu

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nghiên cứu trước đó về vũ khí hạt nhân bắt đầu được các quốc gia xem xét để phục vụ cho mục đích hòa bình Bên cạnh nguồn kinh phí để duy trì tiềm lực quân sự với vũ khí hạt nhân thì các quốc gia tiên phong ngành NLNT như Hoa Kỳ, Nhật, Liên Xô, … cũng đã có một nguồn ngân sách đầu tư nhằm phát triển năng lượng hạt nhân cho hơi nước và điện năng Trong quá trình chạy đua vũ trang, các nước phương Tây bao gồm cả Liên Xô đều mua hàng loạt công nghệ xoay quanh năng lượng hạt nhân và trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng còn có thể khai thác trực tiếp năng lượng hạt

Trang 18

http://khoahoc.tv/lich-su-hinh-thanh-va-phat-nhân để tạo ra điện năng Điều này đã mở ra rất nhiều tiềm năng cho năng lượng hạt nhân, từ cung cấp lưới điện quốc gia cho đến động cơ cho tàu ngầm

Tại Liên Xô, vào tháng 5/1946, Viện Vật lý kỹ thuật điện đã được thành lập với mục tiêu phát triển công nghệ điện hạt nhân Các nhà máy điện hạt nhân được thành lập dựa trên nguyên lý trước đó là sử dụng than chì và nước nặng để kiểm soát quá trình phản ứng dây chuyền Đây là mô hình cơ bản vốn được sử dụng cho mục đích quân sự trong thời chiến để làm giàu plutoni bao gồm cả nhà máy hạt

nhân nổi tiếng Chernobyl Tháng 6/1954, AM-1 là nhà máy điện hạt nhân đầu tiên

trên thế giới tại Obninsk (Liên Xô cũ) đã chính thức hoạt động Lò phản ứng AM-1

Sau chiến tranh, Chính phủ Hoa Kỳ khuyến khích phát triển NLNT cho mục đích dân sự hòa bình Sau sự kiện thành lập Ủy ban Năng lượng nguyên tử (AEC) vào năm 1946, Hoa Kỳ đã tiến hành xây dựng các lò phản ứng nghiên cứu tại Idaho,

lò phản ứng tạo ra điện năng đầu tiên vào ngày 20/12/1951 Vào năm 1953, Tổng

thống Hoa Kỳ Eisenhower đã đề xuất chương trình “hạt nhân cho hòa bình” nhằm

kêu gọi các nghiên cứu hạt nhân hướng tới phát điện đồng thời thiết lập phát triển ngành công nghiệp điện hạt nhân dân sự tại Hoa Kỳ Nhà máy mang tên Yankee Rowe được khởi công xây dựng từ năm 1960 và chính thức đi vào hoạt động vào năm 1992 Cùng lúc đó, lò phản ứng nước sôi (BWR) với công suất 250 MW được phát triển bởi phòng thí nghiệm quốc gia Argonne Nhà máy đầu tiên áp dụng công nghệ lò BWR mang tên Dresden-1 được chính thức thiết kế và xây dựng bởi

Trong thập niên 70 của thế kỷ XX, khủng hoảng dầu mỏ đã thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt của điện hạt nhân, mô hình lò PWR và BWR đã có được đặt hàng từ rất nhiều nơi với công suất được nâng lên đến 1000 MW Tuy nhiên, vào tháng 03/1979, tai nạn nghiêm trọng tại nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island (Hoa Kỳ) và tai nạn đặc biệt nghiêm trọng tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl vào tháng 04/1986 đã tác động rất lớn tới vấn đề đánh giá lại việc ứng dụng NLNT vào sản xuất điện bởi hậu quả từ mức độ ảnh hưởng của bức xạ ra môi trường, con

Trang 19

người và việc xử lý chất thải phóng xạ rất phức tạp Một trong bốn lò phản ứng tại nhà máy Chernobyl, cách Kiev, Ucraina 110 km phát nổ và chỉ hai ngày sau, bụi phóng xạ được phát hiện tận Thụy Điển, Na Uy và Phần Lan, cách đó hơn 1600 km Theo Báo cáo năm 2005 của Chernobyl Forum - Tổ chức được thành lập bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Liên hợp quốc và Chính phủ các nước Belarus, Nga, Ucraina đã kết luận rằng, có 212 người chết trong tổng số 72.000 người bị phơi nhiễm phóng xạ Tổ chức Hoà bình Xanh đánh giá sẽ có thêm 270.000 ca ung thư

công nghiệp năng lượng hạt nhân gặp phải một số suy giảm và trì trệ Sau thảm họa Chernobyl và dư luận toàn thế giới về vấn đề an toàn đối với hoạt động của các nhà máy điện hạt nhân, các quốc gia đã tập trung chú trọng vào việc sửa chữa, nâng cấp

hệ thống an toàn lò phản ứng, tăng cường an ninh thanh sát đồng thời tạm dừng hoạt động của một số nhà máy điện hạt nhân hoặc ngừng xây thêm các tổ máy mới Trong giai đoạn này, ứng dụng NLNT chủ yếu trong lĩnh vực y tế như xạ trị ung thư, chẩn đoán hình ảnh; trong lĩnh vực nông nghiệp như gây giống cây trồng, chế tạo các chế phẩm kích thích tăng trưởng và bảo vệ thực vật hay được ứng dụng trong việc nghiên cứu nâng cao hiệu suất thăm dò và khai thác dầu khí; …

Tuy nhiên, giai đoạn những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhằm mục đích đảm bảo an ninh năng lượng, cụ thể đó là sự cần thiết đa dạng hóa nguồn để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng trên toàn thế giới trong khi nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt; đồng thời sự nóng lên toàn cầu do hiệu ứng nhà kính và những vấn đề môi trường, sinh thái, các quốc gia đã có những chính sách mới để tái khởi động các nhà máy điện hạt nhân Trước năm 2011 (thời điểm xảy ra tai nạn Fukushima tại Nhật Bản), tổng 433 lò với tổng công suất 371.422

MW, tổng sản lượng năm 2011 là 2518 tỷ KW (chiếm 13,5% tổng sản lượng điện

vấn đề ứng dụng NLNT vào sản xuất điện lại tiếp tục gây ra nhiều tranh cãi Đức,

Bỉ và Thụy Sỹ quyết định loại bỏ dần điện hạt nhân, Chính phủ Đức đã đưa ra lộ trình đóng cửa tất cả các nhà máy điện hạt nhân trước năm 2022; một số quốc gia tiến hành đánh giá lại chương trình điện hạt nhân và tăng cường an toàn hạt nhân như Hoa Kỳ, Nhật, Nga,… Trong khi đó, nhóm các quốc gia mới bắt đầu khởi động

Trang 20

chương trình điện hạt nhân vẫn tiếp tục cam kết thực hiện như Việt Nam, Bangladesh, Belarus, Thổ Nhĩ Kỳ, Riêng tại Nhật Bản, năm 2014, 5 tổ máy mới được nối vào lưới điện, năm 2015, Chính phủ Nhật Bản quyết định tái khởi động các nhà máy điện hạt nhân, trong đó, nhà máy Sendai đã nạp nhiên liệu vào ngày

việc ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong nông nghiệp, công nghiệp, y tế vẫn đang tiếp tục được triển khai, phát triển ở các quốc gia trên thế giới với nhiều thành tựu nổi bật

1.3 Cơ sở pháp lý quốc tế đối với hoạt động sử dụng năng lượng nguyên

tử nhằm mục đích hòa bình

1.3.1 Các điều ước quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Thảm họa hạt nhân Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản năm 1945 đã khiến toàn thế giới nhận thức được cần phải có biện pháp hạn chế phổ biến và sử dụng vũ khí hạt nhân; đồng thời xuất phát từ thực tiễn các quốc gia ngày càng có xu hướng phát triển khoa học kỹ thuật hạt nhân vào các mục đích phi quân sự sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, lần lượt, các điều ước quốc tế về sử dụng NLNT đã được nhiều quốc gia thông qua, sửa đổi, bổ sung Các điều ước quốc tế chính là kết quả của sự thỏa thuận, thống nhất ý chí và hành động của cộng đồng quốc tế nhằm tạo lập, duy trì một hành lang pháp lý quốc tế thuận lợi cho sự phát triển của ngành NLNT trên cơ sở khuyến khích ứng dụng công nghệ hạt nhân vào sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

và nền văn minh thế giới; đồng thời, bảo vệ con người, xã hội và môi trường khỏi những tác hại từ chính việc sử dụng nguồn năng lượng này

Ngày 08/12/1953, Tổng thống Hoa Kỳ Aisenhower đã có bài phát biểu quan

trọng về vấn đề “Nguyên tử vì hòa bình” trước Đại hội đồng Liên hợp quốc Bài phát

biểu của Tổng thống Hoa Kỳ đã nhấn mạnh những ứng dụng hạt nhân trong lĩnh vực dân sự như nông nghiệp, y tế và đặc biệt là điện năng Đây được xem là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước khởi đầu của các cam kết về việc phát triển công nghệ hạt nhân và sử dụng NLNT vì mục đích hòa bình Năm 1957, Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và Cơ quan Năng lượng nguyên tử châu Âu (NEA) được thành lập với mục tiêu xúc tiến và hỗ trợ các quốc gia trong việc sử dụng hiệu quả NLNT vì mục đích hòa bình

Các điều ước quốc tế trong lĩnh vực NLNT được chia thành ba nhóm như sau:

14

IAEA (2015), “Nuclear Technology Review 2015”, Report by the Director General,

https://www.iaea.org/About/Policy/GC/GC59/GC59InfDocuments/English/gc59inf-2_en.pdf

Trang 21

Thứ nhất, các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề không phổ biến vũ khí hạt nhân và thanh sát hạt nhân Đây là các điều ước nhằm bảo đảm chính sách

không phổ biến vũ khí hạt nhân và giải trừ quân bị hạt nhân với mục tiêu cơ bản là kiểm soát việc sử dụng kỹ thuật hạt nhân, vật liệu hạt nhân vì mục đích hòa bình và không chuyển hướng sử dụng vào các mục đích quân sự, sản xuất vũ khí hủy diệt Những nỗ lực đàm phán quốc tế để đạt được Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân toàn cầu kéo dài hơn một thập kỷ, bắt đầu từ cuối những năm 1950 Đặc biệt, Liên Xô và Hoa Kỳ, hai quốc gia đầu tiên sở hữu vũ khí hạt nhân đều nỗ lực tìm cách kiềm chế các quốc gia khác, trước hết là Trung Quốc và Pháp, phát triển loại vũ khí hủy diệt này Với những nỗ lực đó, ngày 05/08/1963, Liên Xô, Hoa Kỳ

và Anh đã ký ở Matxcơva, Hiệp ước Cấm thử vũ khí hạt nhân một phần (Partial Test Ban Treaty – PTBT), cam kết sẽ không tiến hành các cuộc thử hạt nhân trong khí quyển, vũ trụ và dưới nước kể từ ngày 10/10/1963 Việc thực thi Hiệp ước này

đã làm giảm đi sự rơi lắng phóng xạ trên bề mặt trái đất, nhưng không làm giảm các

Cũng trong năm 1968, Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (Comprehensive Nuclear-Test Ban Treaty; gọi tắt là CTBT) bắt đầu được thảo luận nhưng không đạt kết quả Ba thập kỷ sau, trong xu thế chính trị thuận lợi, CTBT lại được đặt lên bàn đàm phán một lần nữa và kết quả đã chính thức được thông qua vào ngày 24/09/1996 Sự ra đời Hiệp ước CTBT là một mốc quan trọng góp phần vào việc kìm hãm các quốc gia nổ thử hạt nhân và cùng với Hiệp ước NPT, hy vọng trong tương lai thế giới sẽ không còn vũ khí hạt nhân Tới nay đã có 177 quốc gia ký CTBT với 138 quốc gia phê chuẩn Tuy nhiên Hiệp ước vẫn chưa có hiệu lực bởi vì chưa đạt được đầy đủ danh sách 44 nước tại Phụ lục II của Hiệp ước bắt buộc phải

15 Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, “CTBT - Sự ra đời và các nét cơ bản của nó”,

cac-net-co-ban-cua-no-.html

Trang 22

http://www.inst.gov.vn/index.php/bai-viet/28/114/468/Hiep-uoc-Cam-thu-hat-nhan-toan-dien-Su-ra-doi-va-Hiệp định về việc áp dụng thanh sát theo http://www.inst.gov.vn/index.php/bai-viet/28/114/468/Hiep-uoc-Cam-thu-hat-nhan-toan-dien-Su-ra-doi-va-Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (hay còn gọi là Hiệp định Thanh sát, tên tiếng Anh là Safeguards Agreements, viết tắt là SA) được Liên hợp quốc thông qua ngày 01/06/1972 Hiệp định được ký giữa IAEA và quốc gia thành viên của NPT do Ủy ban mở rộng của Hội đồng Thống đốc IAEA xây dựng Nội dung của Hiệp định Thanh sát là kịp thời phát hiện việc chuyển hướng sử dụng lượng vật liệu hạt nhân đáng kể cho việc sản xuất vũ khí hạt nhân hoặc các thiết bị nổ hạt nhân khác hoặc cho các mục đích không biết được; đồng thời ngăn chặn việc chuyển hướng sử dụng NLNT nhờ phát hiện sớm Nghị định thư bổ sung của Hiệp định Thanh sát (Additional Protocol, viết tắt là AP) sẽ được mỗi quốc gia không có vũ khí hạt nhân sẽ ký và phê chuẩn với nội dung giống nhau, theo mẫu do Hội đồng thống đốc IAEA (NFRC/540) thông qua ngày

hiệu quả của hệ thống thanh sát hạt nhân đặc biệt sau khi phát hiện những kẽ hở trong hệ thống thanh sát hạt nhân trước đây, thể hiện qua các bài học của Irắc, Triều Tiên, Nam Phi Nghị định thư đã bổ sung thêm các đối tượng chịu thanh sát cũng như tăng cường thêm một số biện pháp và quyền hạn cho thanh tra viên Đây là một trong những cam kết quốc tế nhằm tăng cường tính hiệu quả của thanh sát hạt nhân

và do đó, củng cố, thúc đẩy hơn nữa cơ chế không phổ biến vũ khí hạt nhân

Hiệp ước Phi vũ khí hạt nhân khu vực Đông Nam châu Á - SEANWFZ (hay gọi là Hiệp ước Băng Cốc) được ký ngày 15/12/1995 và có hiệu lực ngày 27/3/1997 với sự tham gia đầy đủ của 10 nước trong khu vực Đông Nam Á đó là: Brunei, Campuchia, Indonexia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapo, Thái Lan và Việt Nam Việc tổ chức thực hiện Hiệp ước hiện này còn mang tính hình thức và

Thứ hai, các điều ước quốc tế về an ninh hạt nhân Mục tiêu cơ bản của những

điều ước về an ninh hạt nhân là duy trì sự kiểm soát của Nhà nước và chủ quản lý của các cơ sở hạt nhân về mặt an ninh nhằm chống lại mọi hành động khủng bố, đánh cắp, buôn lậu hoặc sử dụng trái phép vật liệu hạt nhân

Công ước Bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân (Convention on the Physical Protection of Nuclear Materials) được Liên hợp quốc thông qua ngày 26/10/1979, có

Trang 23

hiệu lực ngày 08/02/1987 và sửa đổi năm 2005 Công ước Bảo vệ thực thể vật liệu hạt nhân là văn bản có tính pháp lý bắt buộc các quốc gia thành viên phải bảo vệ vật liệu hạt nhân và các cơ sở hạt nhân được sử dụng, lưu giữ cho các hoạt động hoà bình tại quốc gia mình, cũng như trong quá trình vận chuyển Công ước sửa đổi cũng cho phép mở rộng phạm vi hợp tác giữa các quốc gia trong việc áp dụng các biện pháp để nhanh chóng xác định vị trí và thu hồi vật liệu hạt nhân bị lấy cắp, giảm thiểu các hậu quả phóng xạ do các hành động phá hoại, cũng như để ngăn chặn và chống lại các hành vi vi phạm Bên cạnh đó, Công ước cũng nhấn mạnh tới yếu tố bảo đảm an ninh, chống khủng bố, đột nhập, lấy cắp tại cơ sở hạt nhân cũng như trong quá trình vận chuyển

Công ước quốc tế về Triệt tiêu các hành động khủng bố hạt nhân được Liên hợp quốc thông qua ngày 13/04/2005 Các quy định của Công ước là sự chi tiết hoá các hành vi vi phạm liên quan đến việc sử dụng hay phá hoại các cơ sở hạt nhân Các quốc gia thành viên của Công ước sẽ phải phê chuẩn các biện pháp cần thiết để hình

sự hoá các hành vi vi phạm này Công ước cũng yêu cầu các quốc gia thành viên phải hết sức nỗ lực để đưa ra các biện pháp nhằm bảo đảm việc bảo vệ vật liệu phóng xạ có tính đến khuyến nghị của IAEA

Thứ ba, các điều ước về an toàn hạt nhân Các điều ước trong lĩnh vực an toàn

hạt nhân chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm hoạt động và sử dụng an toàn đối với các

cơ sở và vật liệu hạt nhân cũng như nguồn phóng xạ, không gây ra những tác động bức

xạ có ảnh hưởng xấu đến con người và môi trường xung quanh

Công ước An toàn hạt nhân (Convention on Nuclear Safety) được thông qua ngày 17/06/1993 và có hiệu lực từ 24/10/1996 Việc ra đời Công ước đánh dấu một bước tiến lớn trong việc tăng cường và củng cố hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn hạt nhân Công ước là văn bản pháp luật quốc tế đầu tiên và cơ bản nhất về an

Công ước chung về An toàn quản lý nhiên liệu đã qua sử dụng và An toàn quản lý chất thải phóng xạ được mở để ký từ ngày 29/9/1997 Công ước nhấn mạnh trách nhiệm quốc gia trong việc bảo đảm an toàn trong quản lý chất thải phóng xạ

và nhiên liệu đã qua sử dụng Mặt khác, xuất phát từ đặc điểm chất thải phóng xạ hoặc nhiên liệu đã qua sử dụng nếu không được xử lý trong điều kiện an toàn, xuất

18

Nguyễn Nữ Hoài Vi (2015), An toàn và an ninh hạt nhân, Tài liệu Khóa bồi dưỡng về Cơ sở hạ tầng điện

hạt nhân, Hà Nội

Trang 24

hiện nguy cơ rò gỉ thì sẽ có tác động có hại đến môi trường trong và ngoài biên giới quốc gia gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, do đó, theo Công ước, việc ngăn chặn mối đe dọa này là trách nhiệm của tất cả các quốc gia trên thế giới

Thứ tư, các điều ước quốc tế về ứng phó sự cố và trách nhiệm pháp lý bồi thường thiệt hại hạt nhân Thời kỳ những năm 1980-1990, các quốc gia tập trung

vào việc bảo đảm an toàn của lò phản ứng hạt nhân sau sự kiện Three Mile Island

và Chernobyl về hỗ trợ khẩn cấp Công ước về Thông báo sớm trong những trường hợp sự cố hạt nhân (Convention on Early Notification of a Nuclear Accident) được Liên hợp quốc thông qua ngày 26/09/1986, có hiệu lực từ ngày 7/10/1986 nhằm mục tiêu vạch ra khuôn khổ hợp tác quốc tế để cung cấp thông tin về sự cố bức xạ và tai nạn hạt nhân giữa các quốc gia thành viên một cách sớm nhất để hạn chế những hậu quả phóng xạ vượt qua biên giới của quốc gia xảy ra sự cố đó Công ước Trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc tai nạn phóng xạ có hiệu lực ngày 26/2/1987

Thực tế đã cho thấy cơ chế trách nhiệm bồi thường thiệt hại hạt nhân hiệu quả

là nền tảng cơ bản cho sự thành công của chương trình hạt nhân dân sự Năm 1960, Công ước Paris về trách nhiệm của bên thứ ba trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân

1960 ra đời dưới sự bảo trợ của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) Công ước Paris mở ký cho các quốc gia thành viên OECD và các quốc gia khác khi được sự đồng thuận của các quốc gia thành viên, chính thức có hiệu lực từ năm

1968 và được bổ sung bởi Công ước bổ sung Brussels 1963 Công ước Paris năm

1960 được sửa đổi, bổ sung bởi các Nghị định thư ngày 28/01/1964 và ngày 16/11/1982 về trách nhiệm bồi thường thiệt hạt trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân Năm 1963, Công ước Viên về Trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại hạt nhân ra đời dưới sự bảo trợ của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) Công ước Viên được mở ký cho mọi quốc gia, chính thức có hiệu lực từ năm 1977

Năm 1997, bên cạnh việc thông qua Nghị định thư sửa đổi Công ước Viên, IAEA đã thông qua Công ước Bổ sung bồi thường thiệt hại hạt nhân (CSC) nhằm hiện đại hoá và tăng cường chế độ pháp lý quốc tế sau ảnh hưởng của tai nạn Chernobyl năm 1986 CSC bắt đầu có hiệu lực từ ngày 15/04/2015 CSC nhằm mục đích tăng số tiền bồi thường hiện có trong trường hợp xảy ra sự cố hạt nhân bằng cách thiết lập một số tiền bồi thường tối thiểu cấp quốc gia và một quỹ quốc tế mà ở

đó, các bên ký kết dự kiến sẽ đóng góp khi xảy ra tai nạn hạt nhân Công ước cũng

Trang 25

xây dựng một chế độ trách nhiệm trên toàn cầu mà tất cả các nước đều có thể tham gia; theo đó, CSC không chỉ dành cho các quốc gia tham gia Công ước Viên và Công ước Pari mà còn cho các quốc gia khác với điều kiện luật pháp của họ phù

1.3.2 Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc

Sau sự kiện ngày 11/09/2001 tại Hoa Kỳ, để phản ánh tình hình mới và nhu cầu mới đối với an ninh hạt nhân, ngày 28/9/2001 Nghị quyết 1373 được Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua Nội dung chính của Nghị quyết 1373 là cản trở sự thành lập và hoạt động của các nhóm khủng bố dựa trên nền tảng là các quy định từ Nghị quyết 1189 năm 1998, Nghị quyết 1269 năm 1999 và Nghị quyết 1368 năm

2001 liên quan đến vấn đề chống khủng bố Đồng thời, Nghị quyết kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc khẩn trương đưa ra các biện pháp nhằm ngăn ngừa

và trừng trị việc tài trợ cho các hoạt động khủng bố cũng như việc thực hiện các hành động khủng bố trên phạm vi lãnh thổ quốc gia; hình sự hóa các hành vi cung cấp nguồn tài chính cho khủng bố, không dung túng, chứa chấp những kẻ khủng bố và

hỗ trợ các quốc gia khác trong việc điều tra hình sự cũng như việc thực hiện các thủ tục tố tụng hình sự liên quan đến hành vi tài trợ khủng bố Nghị quyết cũng nhấn mạnh nhu cầu tăng cường ứng phó toàn cầu đối với thách thức về việc vận chuyển bất hợp pháp vật liệu hạt nhân, với hàm ý rằng các quốc gia cần xây dựng

Trên cơ sở Nghị quyết số 1373, ngày 28/04/2004, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 1540 về việc không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt Nghị quyết quy định các nghĩa vụ theo Chương VII của Hiến chương Liên hợp quốc cho các quốc gia thành viên trong việc phát triển và thực thi hợp pháp các biện pháp điều tiết nhằm chống lại sự gia tăng của các vũ khí hóa học, sinh học và vũ khí hạt nhân Đồng thời, Nghị quyết 1540 buộc các quốc gia phải chấp nhận và thực thi một cách có hiệu quả pháp luật nhằm ngăn cấm các chủ thể phi nhà nước chế tạo, thu nhận, sở hữu, phát triển hay sử dụng vũ khí hạt nhân, đặc biệt cho mục đích khủng bố Nội dung Nghị quyết cũng đề nghị các quốc gia

19

Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, “Công ước bổ sung về bồi thường thiệt hại hạt nhân có hiệu lực”,

luc.html

http://www.varans.vn/tin-tuc/3211/Cong-uoc-bo-sung-ve-b%C3%B4i-thuong-thiet-hai-hat-nhan-co-hieu-20

United Nations Security Council Resolution 1373,

https://en.wikipedia.org/wiki/United_Nations_Security_Council_Resolution_1373

Trang 26

xây dựng và thực hiện các quy chế của quốc gia nhằm đảm bảo thực hiện được các cam kết của mình đối với các điều ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân mà quốc gia tham gia; tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế có liên quan; thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn vận chuyển trái phép vật liệu hạt nhân và các vật liệu liên quan Để làm được điều này, các quốc gia buộc phải thực hiện nhiều biện pháp kế toán và kiểm soát khác nhau; các biện pháp bảo vệ thực thể, kiểm soát biên giới; các biện pháp phát hiện, trì hoãn, ngăn chặn và chống lại buôn bán bất

1.3.3 Quy định của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế

Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) chính thức được thành lập ngày 29/07/1957 Quy chế của IAEA được các quốc gia thành viên thông qua gồm có 23 điều, phụ lục và Ủy ban soạn thảo Trong quá trình hoạt động, IAEA đã xuất bản Luật mẫu và Sổ tay hướng dẫn về xây dựng Luật năng lượng nguyên tử, hệ thống các tiêu chuẩn an toàn Xuất phát từ hoạt động NLNT đòi hỏi có chu trình kiểm định, cấp phép, thanh tra ngặt nghèo, yêu cầu nhiều yếu tố kỹ thuật đặc thù do đó, các quy định của IAEA mặc dù là nguồn bổ trợ nhưng lại có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng

Sổ tay hướng dẫn xây dựng Luật Năng lượng nguyên tử của IAEA ra đời năm

2003 do tập thể các luật sư, các nhà khoa học nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực NLNT

từ nhiều quốc gia trên thế giới biên soạn Sổ tay nhằm hỗ trợ các quốc gia thành viên trong công tác soạn thảo, đánh giá và xem xét lại luật NLNT của quốc gia mình Sổ tay hướng dẫn của IAEA được nhiều quốc gia xem như cẩm nang pháp lý tương đối toàn diện, đầy đủ về các vấn đề quan trọng cần được quy định trong luật NLNT quốc gia Nội dung Sổ tay gồm 5 phần: Phần 1: Những yếu tố cơ bản của luật NLNT, bao gồm các khái niệm, nguyên tắc cơ bản và cơ sở pháp lý cho việc thực thi luật thông qua hệ thống cơ quan pháp quy; Phần 2: Bảo vệ bức xạ; Phần 3: An toàn bức xạ và hạt nhân; Phần 4: Trách nhiệm pháp lý hạt nhân; Phần 5: Không phổ biến vũ khí và bảo

vệ thực thể Đặc điểm quan trọng của cuốn Sổ tay chính là tài liệu tham khảo về các tiêu chuẩn an toàn và hướng dẫn do IAEA xây dựng trong quá trình xây dựng, thực thi luật NLNT của mỗi quốc gia

Luật Mẫu của IAEA về xây dựng luật NLNT là tài liệu đúc rút kinh nghiệm từ lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động

21

United Nations Security Council Resolution 1540,

https://en.wikipedia.org/wiki/United_Nations_Security_Council_Resolution_1540

Trang 27

NLNT trên toàn thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua Mục đích của các quy định trong Luật Mẫu nhằm cho phép sử NLNT vì mục đích hòa bình, bảo vệ dân chúng, xã hội

và môi trường khỏi tác hại từ bức xạ, thiết lập cơ quan pháp quy nhằm bảo đảm thi hành mục đích của Luật phù hợp với các điều ước quốc tế Luật Mẫu gồm 15 chương

và 112 điều, bao trim các yếu tố cơ bản cho người soạn thảo hoặc quan chức của cơ quan lập pháp trong việc xây dựng và áp dụng luật NLNT

1.4 Vai trò của việc sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình

Trong những năm qua, khoa học và kỹ thuật hạt nhân đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ của quốc gia và chất lượng cuộc sống của con người

Trước hết, việc sử dụng NLNT được xem là một trong những biện pháp giải quyết vấn đề thiếu hụt năng lượng trên toàn cầu và ứng phó với biến đổi khí hậu

Hiện nay, biến đổi khí hậu đã trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của không chỉ một quốc gia mà với toàn thế giới Đối mặt với các vấn đề về biến đổi khí hậu và mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng, các quốc gia đã xác định

sự cần thiết của việc phát triển ngành công nghiệp điện hạt nhân một cách nhanh chóng và hiệu quả Mặc dù, ngành công nghiệp thủy điện, nhiệt điện đã và đang phát triển với nhiều thành tựu đáng kể, tuy nhiên, việc xây dựng và duy trì hoạt động các nhà máy thủy điện sẽ gây tác động xấu đến môi trường, kinh tế và xã hội

khí hậu dẫn đến sự thay đổi mực nước sẽ ảnh hưởng đến chu kỳ thủy văn và dòng chảy của sông, dẫn đến sự ảnh hưởng đối với các nhà máy thủy điện Ngoài ra, việc duy trì các nhà máy nhiệt điện tiêu thụ một lượng lớn nhiên liệu và giải phóng chất thải độc hại Sự thay đổi khí hậu dẫn đến nhiệt độ không khí cao hơn sẽ làm giảm hiệu suất phát điện của nhà máy nhiệt điện; do đó làm giảm đầu ra của máy phát điện Mặt khác, trong những năm qua, sự bùng nổ của công nghiệp hoá toàn cầu, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội là một trong những nguyên nhân chủ yếu đẩy nhu cầu dầu lửa, than đá, khí đốt – những nguyên liệu chính để vận hành nhà máy nhiệt điện của thế giới ngày càng tăng một cách nhanh chóng Theo các số liệu tìm kiếm, thăm dò và nhận định về trữ lượng dầu toàn cầu của Văn phòng Tổ chức kiểm soát năng lượng Anh (EWG) cho biết, dưới lòng đất chỉ còn có khoảng 1.255 tỉ thùng, đủ để cho con người sử dụng trong 42 năm tới Với tốc độ khai thác như hiện

Trang 28

nay, trong vòng 30 năm nữa nguồn dầu lửa dưới lòng đất không còn nhiều và 50 đến 60 năm nữa sẽ hoàn toàn cạn kiệt Than đá và khí đốt cũng ở tình trạng tương

tự Theo ước tính của các chuyên gia, trữ lượng than đá và khí đốt tự nhiên chỉ còn

các khu vực trọng điểm chiến lược về dầu lửa của thế giới như Trung Đông, Trung

Á, Mỹ Latinh, châu Phi và các đại dương lại thường là khu vực xảy ra bất ổn chính trị và xung đột vũ trang Tại những quốc gia, vùng lãnh thổ giàu tiềm năng về năng lượng đặc biệt là dầu lửa như Trung Đông vẫn tồn tại những mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo bị dồn nén từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh, làm nảy sinh các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh cục bộ Tại Ả Rập Saudi (hay còn gọi là Ả Rập Xê-út, quốc gia chiếm 25% trữ lượng dầu thế giới với những nhà máy lọc dầu và hệ thống kho chứa khổng lồ từng là mục tiêu tấn công của các tổ chức khủng bố quốc tế Dự tính, chỉ cần một vài nhà máy lọc dầu trọng yếu của quốc gia này bị tấn công thì thị trường

Chính những bất ổn chính trị tại một số nước Mỹ La tinh, Trung Á, … cũng góp phần làm giảm nguồn cung cấp dầu lửa thế giới

Đối mặt với các vấn đề về biến đổi khí hậu và mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã xác định sự cần thiết phải xây dựng và phát triển ngành công nghiệp điện hạt nhân một cách nhanh chóng và hiệu quả Năng lượng nguyên tử là một dạng năng lượng sạch, các phản ứng hạt nhân không

nhà kính, kiềm chế được mối nguy hiểm nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu Trong năm 2015, thế giới có 436 lò phản ứng có khả năng vận hành với tổng công suất 377,7 GW, so với năm 2014 là 435 lò phản ứng với tổng công suất là 375,3

GW Có khoảng 70 lò phản ứng đang được xây dựng với tổng công suất gần 74

GW Các nhà máy điện hạt nhân cung cấp hơn 11% sản lượng điện năng của thế

nhân chủ yếu là các nước như Canada, Australia là những quốc gia có tình hình chính trị và kinh tế ổn định có thể cung ứng nguồn nhiên liệu lâu dài Hơn nữa vì

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2008/1284/Khung-hoang-nang-luong-toan-24 Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, “Triển vọng phát triển điện hạt nhân thế giới”,

dien-hat-nhan-the-gioi.html

Trang 29

http://nangluongvietnam.vn/news/vn/dien-hat-nhan-nang-luong-tai-tao/dien-hat-nhan/trien-vong-phat-trien-urani có thể sử dụng để tạo điện năng với một khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với dầu nên có ưu điểm là dễ vận chuyển và bảo quản Ví dụ để vận hành nhà máy điện công suất 1000 MW trong vòng một năm thì phải cần tới hơn 1 triệu tấn dầu trong

nhân khi nạp nhiên liệu vào lò phản ứng là có thể liên tục phát điện trong vòng một năm mà không cần phải thay thế nhiên liệu Lượng chất thải phóng xạ phát sinh trong nhà máy điện hạt nhân rất ít so với lượng chất thải công nghiệp thông thường,

do vật có thể quản lý được một cách chặt chẽ, an toàn

Như vậy, trong bối cảnh các nguồn năng lượng hoá thạch ngày càng cạn kiệt, không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu trong tương lai, các nguồn năng lượng mới tái tạo như gió, mặt trời lại chưa chứng minh được tính hiệu quả thực sự, thì NLNT vẫn là sự lựa chọn của nhiều quốc gia nhằm đảm bảo an ninh năng lượng và sự phát triển bền vững cũng như giải quyết tích cực vấn đề môi trường NLNT không thể một mình đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng an toàn và bền vững trên toàn thế giới và cũng không thể được coi như là phương tiện duy nhất để giảm phát thải khí nhà kính Tuy nhiên, cùng với các nguồn năng lượng tái tạo, chuyển đổi nhiên liệu hóa thạch được cải thiện, điện hạt nhân có thể tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược năng lượng toàn cầu

Thứ hai, NLNT được sử dụng để cung cấp các chẩn đoán chính xác và quan trọng giúp phát hiện và điều trị các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm

Cho đến nay, có hơn 10.000 bệnh viện trên toàn thế giới sử dụng đồng vị phóng xạ trong y học Ở Hoa Kỳ có hơn 20 triệu lượt sử dụng y học hạt nhân mỗi năm với

315 triệu người và ở châu Âu là khoảng 10 triệu lượt trên tổng số 500 triệu

đang góp phần tích cực trong việc nâng cao sức khỏe con người

Ở khâu chuẩn đoán xét nghiệm, tia phóng xạ với cường độ nhỏ được đưa vào

cơ thể để theo dõi sự hoạt động của các bộ phận bên trong cơ thể, dưới các hình thức phổ biến như: chụp X quang, CT scan Việc sử dụng tia X đặc biệt hữu dụng trong việc xác định bệnh lý về xương và các mô mềm Chụp X quang đặc biệt hiệu quả trong việc chẩn đoán hình ảnh về các khối u và để nghiên cứu các bệnh liên quan đến tim, phổi, gan, thận và cấu trúc xương bao gồm cả răng hàm mặt Thêm

Trang 30

http://www.world-nuclear.org/information-nữa, các đồng vị phóng xạ có thể sử dụng trong các xét nghiệm đo nồng độ hormone, enzyme, viêm gan virut tại phòng thí nghiệm Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, ước tính có khoảng 40 triệu xét nghiệm như vậy được thực hiện mỗi năm và ở khu vực châu Âu là khoảng 15 triệu người Việc sử dụng các ứng dụng NLNT trong chẩn

dụng để khử trùng diệt khuẩn đối với các thiết bị giải phẫu

Một trong những ứng dụng đồng vị phóng xạ quan trong nhất trong y tế đó là điều trị bệnh ung thư Đây là phương pháp điều trị tại chỗ có khả năng chữa trị tốt đối với một số loại ung thư như: ung thư hạch bạch huyết, ung thư da, ung thư cổ tử cung, ung thư vòm họng, tuyến giáp và một số ung thư vùng đầu cổ… nếu như còn

ở giai đoạn sớm Điều trị tia xạ phối hợp với phẫu thuật thường được áp dụng trong nhiều trường hợp khi ung thư đã phát triển tương đối lớn hơn Tia xạ trước mổ nhằm giảm bớt thể tích u để dễ mổ, hạn chế di căn xa trong lúc mổ, có khi tia sau

mổ nhằm diệt nốt những tế bào ung thư còn sót lại sau mổ Trong trường hợp cần thiết, tia xạ cả trước mổ cả sau mổ hoặc tia xạ phối hợp với hoá chất để tăng khả năng diệt tế bào ung thư tại một khu vực mà điều trị hoá chất không đủ khả năng

các tế bào ung thư để phá hủy hoặc làm teo nhỏ và ngăn chặn sự phân tán rộng tế

các hốc tự nhiên của cơ thể (tử cung, âm đạo, các xoang…) hoặc cắm vào các tổ

kháng thể đặc hiệu có gắn đồng vị phóng xạ để giảm đau và hỗ trợ quá trình tiêu

Thứ ba, ứng dụng NLNT góp phần tăng sản lượng, chất lượng lương thực trong bối cảnh an ninh lương thực vẫn là thách thức lớn của toàn cầu Dưới tác

động của biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất gây ra xói mòn, xâm lấn nước mặn và thời tiết khắc nghiệt đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực trên toàn cầu Trong nông nghiệp, kỹ thuật hạt nhân được sử dụng chủ

Trang 31

http://benhvienhyvongmoi.com/chi-yếu để tăng sản lượng hoa màu, năng suất cây trồng, làm giảm việc sử dụng phân bón cũng như cải thiện sức khỏe cho vật nuôi Trên thực tế, ứng dụng NLNT đã được sử dụng để cải thiện sức sống đối với vật nuôi, tăng hiệu quả sinh sản và khả năng kháng bệnh ở động vật Đồng thời, kỹ thuật hạt nhân còn có thể được sử dụng trong việc kiểm soát côn trùng phá hoại cây trồng và các bệnh lây lan ở các loài thực vật thoong qua kỹ thuật vô trùng SIT bằng bức xạ gamma Phương pháp SIT không chỉ mang lại hiệu quả mà còn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thân thiện với môi trường thay vì các thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu hóa học SIT đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia và thu được những kết quả khả quan, chẳng hạn như tiêu diệt được Ruồi Địa Trung Hải – một mối đe dọa lớn của khoảng 250 loài cây ăn quả và rau củ từ Chile, Mexico, Guatemala và Hoa Kỳ Theo IAEA, kỹ thuật SIT được đưa vào áp dụng đã góp phần làm giảm 600.000 lit thuốc trừ sâu mỗi năm, đồng thời kỹ thuật này đã góp phần cải thiện thu nhập cho 18.000 người nông dân Ví dụ, việc sử dụng SIT ở Guatemala giảm số lượng ruồi giấm đã làm

xạ thực phẩm sau thu hoạch bằng bức xạ gamma có thể giết chết các vi khuẩn và sinh vật gây hại khác mà không ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng, cho đến nay, chiếu xạ được xem là giải pháp hiệu quả nhất để tiêu diệt vi khuẩn trong thực phẩm sống và đông lạnh Tùy thuộc liều chiếu mà sẽ có những sự tác động nhất định trên thực phẩm, chẳng hạn như liều thấp (khoảng 1kGy) có khả năng ức chế sự nảy mầm trên khoai tây, hành tây, tỏi, gừng, …, tiêu diệt côn trùng, ký sinh trùng trên ngũ cốc, trái cây tươi và thực phẩm khô; với liều trung bình (1-10kGy) có thể tăng hạn

sử dụng, tiêu diệt mầm bệnh ở hải sản, thịt gia cầm; với liều cao (10-50Gy) được sử

của NLNT trong nông nghiệp còn được ghi nhận bởi hiệu quả gia tăng sản lượng, chất lượng nông phẩm Ví dụ như, với các kết quả về nghiên cứu đột biến tạo giống, Việt Nam đã được xếp vào hàng thứ tám trên thế giới về lai tạo hiệu quả giống lúa đột biến cho năng suất cao, chất lượng tốt, ngắn ngày như: VND 95-19, VND 95-

20, TNĐB, THĐB, DT10, Riêng giống VND 95-20 là một trong năm giống lúa xuất khẩu chủ lực ở đồng bằng sông Cửu Long Hay Ghana đã thành công trong

Trang 32

http://www.world-nuclear.org/information-việc tạo giống sắn đột biến với khả năng kháng bệnh tốt, hàm lượng tinh bột cao

Thứ tư, NLNT đang ngày càng được sử dụng phổ biến và rộng rãi trong các ngành công nghiệp Ở các quốc gia phát triển, các đồng vị phóng xạ được sử dụng

để cải thiện các quy trình đo lường, tự động hóa và kiểm soát chất lượng chu trình sản phẩm Chẳng hạn như trong ngành công nghiệp ô tô, đồng vị phóng xạ được sử dụng để kiểm tra chất lượng của thép trong xe, thử độ bền kim loại và các phản ứng

ăn mòn; trong các nhà máy sản xuất máy bay, các chất phóng xạ được sử dụng để kiểm tra sai sót trong động cơ phản lực; trong khai thác dầu mỏ và các nhà máy lọc dầu, NLNT có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xác định vị trí và định lượng dầu, khí thiên nhiên và khoáng sản, Ngoài ra, kỹ thuật hạt nhân nguyên tử còn được sử dụng để làm đồng hồ có độ nhạy cao nhằm kiểm soát chất lượng sản phẩm trong chu trình sản xuất hàng loạt và tự động hóa toàn bộ dây chuyền sản xuất ở tốc

độ cao, nhờ đó, lượng sản phẩm tạo thành cao hơn, giảm chi phí đầu vào và nhân công Thêm nữa, chiếu xạ cường độ cao cũng là phương pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với các sản phẩm cần được khử trùng để sử dụng

cạnh việc sử dụng NLNT trong các ngành công nghiệp, kỹ thuật hạt nhân còn có thể khử mặn nước biển, tạo ra nguồn cung ứng nước ngọt trước tình trạng hiệu ứng nhà kính Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,7 tỷ người đang sống ở các khu vực khan hiếm nước, với tác động của biến đổi khí hậu, xâm lấn mặn đang ngày càng gia tăng thì việc bảo vệ nguồn nước, kiểm soát ô nhiễm và cải tạo nguồn nước đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết với nhiều quốc gia Theo số liệu của IAEA, công nghệ

Thêm nữa, trước tình trạng dần cạn kiệt nhiên liệu hóa thạch thì công nghệ sản xuất hydro bằng kỹ thuật hạt nhân đang đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo

an ninh năng lượng Hydro gần như tương thích với các loại tuabin đốt và các động

cơ nên có thể thay thế xăng, dầu chạy máy, đồng thời, hydro không làm phát thải các hiệu ứng nhà kính

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Lịch sử đã chứng minh sử dụng NLNT mang lại những kết quả tích cực trên rất nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội như y tế, nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt, song song với các nguồn năng lượng tái tạo, chuyển đổi nhiên liệu hóa thạch được cải thiện, điện hạt nhân có thể tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng toàn cầu Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các ứng dụng của NLNT ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia hơn Tuy nhiên, sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là hậu quả nặng nề từ việc

sử dụng bom nguyên tử tại Nagasaki và Hiroshima, các quốc gia trên thế giới bắt đầu đánh giá lại việc sử dụng NLNT phục vụ cho các hoạt động phi quân sự, tăng cường hợp tác quốc tế trong nỗ lực giải trừ vũ khí hạt nhân, ngăn chặn các hành động thử hạt nhân và khủng bố hạt nhân Hiện nay, NLNT vẫn thể hiện vai trò trong việc giải quyết vấn đề thiếu hụt năng lượng trên toàn cầu, ứng phó với biến đổi khí hậu; góp phần tăng sản lượng, chất lượng lương thực trong bối cảnh an ninh lương thực vấn là thách thức lớn của toàn cầu cũng như các ứng dụng ngày càng rộng rãi trong y học, công nghiệp Điều đó chứng tỏ việc sử dụng NLNT nhằm mục đích hòa bình đã, đang và sẽ góp phần quan trọng trong việc duy trì hoa bình, an ninh quốc tế, giải quyết các vấn đề xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống con người

Trang 34

Chương 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ

NHẰM MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH 2.1 Quy định của pháp luật quốc tế về sử dụng năng lượng nguyên tử nhằm mục đích hòa bình

2.1.1 Các quy định về không phổ biến vũ khí hạt nhân và thanh sát hạt nhân

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cộng đồng quốc tế nhận ra rằng chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra nếu tiếp tục phổ biến vũ khí hạt nhân Bên cạnh đó, vũ khí hạt nhân là thiết bị nổ có khả năng giải phóng năng lượng hạt nhân ở mức không kiểm soát được, sức công phá của vũ khí hạt nhân rất lớn và không những tàn sát con người, môi trường và các công trình xây dựng mà lượng phóng xạ phát tán ra từ

vũ khí hạt nhân có khả năng ảnh hưởng đến cấu trúc gen của người, động vật, thực vật, ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau này Chính vì vậy, các quốc gia nhận thức được rằng cần có một cam kết quốc tế về việc ngừng chạy đua vũ khí hạt nhân và thực hiện những biện pháp có hiệu quả nhất nhằm giải trừ loại vũ khí này, đồng thời thúc đẩy hơn nữa mục tiêu sử dụng NLNT phi quân sự, các điều ước quốc tế về vấn đề không phổ biến vũ khí hạt nhân và thanh sát hạt nhân đã được thiết lập, tiêu biểu là: Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân; Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện; Hiệp định Thanh sát liên quan đến Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân và Nghị định thư bổ sung;

2.1.1.1 Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân

Trước hết, vũ khí hạt nhân được hiểu là “thiết bị nổ có khả năng giải phóng

năng lượng hạt nhân ở mức không kiểm soát được nhưng vũ khí hạt nhân không bao gồm các phương tiện vận chuyển hoặc kích hoạt các thiết bị đó nếu các phương tiện được để riêng hoặc không phải thành phần không thể tách rời đối với thiết bị

nổ đó” 35 Các nhân tố hủy diệt của vũ khí hạt nhân là sóng xung kích, bức xạ xuyên,

bức xạ quang, nhiễm xạ và hiệu ứng điện từ

Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (gọi tắt là NPT) đã xác định rõ “các

quốc gia có vũ khí hạt nhân” là những quốc gia sản xuất và gây nổ một vũ khí hạt

35

Trích khoản c Điều 1 Hiệp ước về Khu vực Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân

Trang 35

nhân hoặc thiết bị gây nổ hạt nhân khác trước ngày 01/01/1967; bao gồm Hoa Kỳ,

xem là “các quốc gia phi hạt nhân” NPT mang tính ràng buộc đối với các quốc gia

phi hạt nhân (các quốc gia không có vũ khí hạt nhân) và có tính tự nguyện đối với

05 quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân Do đặc thù kiểm soát không phổ biến vũ khí hạt nhân nên mọi hoạt động hạt nhân dân sự liên quan tới vật liệu hạt nhân phải chịu sự giám chặt chẽ của IAEA và cộng đồng quốc tế, tuy nhiên đối với các quốc gia hạt nhân, các hoạt động hạt nhân trong quân sự đều không thuộc diện kiểm soát theo quy định của Hiệp ước Chỉ đến khi các vật liệu hạt nhân trong quân sự được chuyển giao sang lĩnh vực dân sự thì mới chịu sự tác động của NPT Hiệp ước là văn bản pháp lý có tính chất nền tảng, góp phần tạo dựng nên khung pháp lý quốc tế

về vấn đề không phổ biến vũ khí hạt nhân trên phạm vi toàn cầu với bốn nội dung chính như sau:

Thứ nhất, ngăn chặn hoạt động phổ biến vũ khí hạt nhân và các công nghệ

có liên quan được quy định chủ yếu trong Điều 1 và 2 của NPT Theo đó, quốc gia

có vũ khí hạt nhân hay không có vũ khí hạt nhân cam kết không chuyển giao và nhận sự chuyển giao bất cứ vũ khí hạt nhân, các thiết bị gây nổ hạt nhân hoặc quyền kiểm soát các thiết bị nổ hay vũ khí hạt nhân một cách trực tiếp hay gián tiếp; không bằng bất kỳ hình thức nào khuyến khích hoặc xúi giục sản xuất; không chế tạo, không yêu cầu hay nhận trợ giúp để chế tạo vũ khí hạt nhân Ngoài ra, khoản 2 Điều 3 NPT còn quy định các quốc gia tham gia Hiệp ước không cung cấp nguồn hoặc vật liệu hạt nhân phân hạch đặc biệt, trang thiết bị hoặc vật liệu dùng để chế tạo, sử dụng, sản xuất vật liệu phân hạch đặc biệt

Thứ hai, thiết lập hệ thống thanh sát IAEA, cụ thể các quốc gia thành viên

NPT mà không sở hữu vũ khí hạt nhân phải chấp nhận các biện pháp thanh sát theo một Hiệp định với IAEA nhằm ngăn ngừa việc chuyển hướng mục đích sử dụng NLNT dân sự sang chế tạo vũ khí hoặc thiết bị nổ hạt nhân theo quy định tại khoản

1 Điều 3 NPT Các biện pháp bảo đảm sẽ được thưc hiện đối với nguồn hoặc vật liệu hạt nhân phân hạch đặc biệt trong mọi hoạt động ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc ở bất cứ nơi nào trong phạm vi kiểm soát của quốc gia đó

36

Khoản 3 Điều 9 Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân

Trang 36

Thứ ba, thúc đẩy việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình,

cụ thể tại khoản 3 Điều 3, Điều 4, NPT khẳng định các quy định của Hiệp ước sẽ không ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, sản xuất, sử dụng NLNT hòa bình; không cản trở đối với việc phát triển kinh tế và công nghệ của các quốc gia tham gia NPT hay sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân hòa bình, bao gồm cả việc trao đổi quốc tế về thiết bị hay vật liệu hạt nhân để xử lý, sử dụng hoặc sản xuất vật liệu hạt nhân cho các mục đích dân sự phù hợp với các nguyên tắc bảo đảm trong lời mở đầu của Hiệp ước NPT cũng cho phép các quốc gia thành viên phát triển kỹ thuật của các nước hoặc hợp tác quốc tế liên quan đến các hoạt động hạt nhân hòa bình, bao gồm trao đổi quốc tế về nguyên liệu và thiết bị hạt nhân để chế tạo và sản xuất nguyên liệu hạt nhân vì mục đích hòa bình phù hợp với các điều khoản ghi trong Hiệp ước này

Thứ tư, tiến tới giải trừ quân bị, theo Điều 6 của Hiệp ước, mỗi quốc gia

thành viên sẽ cam kết theo đuổi các cuộc đàm phán một cách chân thành nhằm đạt được các biện pháp hiệu quả để sớm chấm dứt cuộc chạy vũ khí đua hạt nhân và giải trừ toàn bộ vũ khí hạt nhân dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt và có hiệu quả của quốc tế

Như vậy, NPT ra đời với vai trò như một trong những giải pháp được Đại hội đồng Liên hợp quốc đề ra nhằm ngăn ngừa sự phổ biến rộng rãi vũ khí hạt nhân, góp phần làm dịu bớt tình trạng căng thẳng quốc tế và tăng cường niềm tin giữa các quốc gia, hướng đến việc chấm dứt sản xuất vũ khí hạt nhân, loại trừ loại vũ khí này

ra khỏi kho vũ khí quốc gia Cứ 5 năm một lần, các quốc gia thành viên sẽ nhóm họp để đánh giá lại nội dung và việc thực hiện Hiệp ước trên thực tế Điều 10 của Hiệp ước cũng quy định sau 25 năm kể từ khi Hiệp ước có hiệu lực, các thành viên

sẽ quyết định thời gian gia hạn hiệu lực cho Hiệp ước Theo đó, năm 1995, Hội nghị

nhiên, trong khi quy chuẩn của việc không phổ biến vũ khí hạt nhân và tính hợp pháp của NPT đạt được sự ủng hộ cao trên thế giới, thì việc tuân thủ Hiệp ước này lại không phải hoàn toàn tự động Thực trạng ngày một trở nên phức tạp hơn với việc chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân phải đối mặt với vấn đề phổ biến vũ khí kéo dài và chưa được giải quyết của Bắc Triều Tiên và các quốc gia khu vực Trung

37

Lê Thành Lâm, “Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân”, uoc-khong-pho-bien-vu-khi-hat-nhan-npt/

Trang 37

http://nghiencuuquocte.org/2015/06/20/hiep-Đông38 Một trong những điểm không hợp lý của Hiệp ước đó là công nhận 05 quốc gia có vũ khí hạt nhân đồng thời chính là 05 thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, điều này dẫn đến tình trạng khó tránh khỏi việc thực thi NPT chịu nhiều ảnh hưởng của các quốc gia này trong đó chủ yếu là vai trò của Hoa Kỳ và trong giai đoạn gần đây là cả Trung Quốc Trong khi đó, hiện nay, trên thế giới số nước được cho là đang sở hữu vũ khí hạt nhân gồm có chín quốc gia Ngoài các quốc gia được xác định là có vũ khí hạt nhân theo NPT, còn có Ấn Độ, Pakistan, Israel và Bắc Triều Tiên Năm 2003, Bắc Triều Tiên tuyên bố rút khỏi NPT, Ấn Độ, Pakistan, Israel không phải thành viên của Hiệp ước, vì vậy, các quy định thanh sát không thể được áp dụng đối với các quốc gia này, trong khi tại Triều Tiên đã phân tách thành công đủ khoảng 30-50 kg Plutoni ở cấp độ đủ để sản xuất một số loại vũ khí hạt

nhiên liệu hạt nhân ở Yongbyon được xây dựng sau tháng 4/2009 (là lần cuối cùng

trong những thách thức lớn đang đặt ra cho cộng đồng quốc tế, khi chỉ có thể tạo các sức ép về kinh tế, chính trị, và sự phản đối mạnh mẽ từ quốc tế để kìm hãm hoạt động hạt nhân phi hòa bình của các quốc gia Trung Đông và Triều Tiên

2.1.1.2 Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện

Sự ra đời Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (gọi tắt là CTBT) là một mốc quan trọng góp phần vào việc kìm hãm các quốc gia nổ thử hạt nhân và cùng với Hiệp ước NPT trở thành những điều ước quốc tế đa phương toàn cầu có giá trị pháp

lý quốc tế trong việc không phổ biến và giải trừ vũ khí hạt nhân trên toàn thế giới CTBT đã được mở ký tại trụ sở Liên hợp quốc ngày 24/9/1996, đến nay, sau

20 năm, Hiệp ước đã được 182 quốc gia ký và 161 quốc gia phê chuẩn, nhưng chưa

có hiệu lực do chưa có đủ 44 quốc gia thuộc Phụ lục II của Hiệp ước (có vũ khí hạt nhân hoặc cơ sở hạt nhân) phê chuẩn Trong số 44 quốc gia này hiện có 8 quốc gia chưa phê chuẩn Hiệp ước đó là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ, Iran, Israel,

38

Trần Thị Thục Huyền, “Liệu Nhật Bản có thể duy trì cam kết không phổ biến vũ khí hạt nhân hay không”, http://nghiencuuquocte.net/wp-content/uploads/2014/04/Nghiencuuquocte.net-160-Nhat-Ban-khong-pho- bien-vu-khi-hat-nhan.pdf

39

Lê Thị Thu Hiền, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân,

vu-khi-hat-nhan.pdf

http://nghiencuuquocte.net/wp-content/uploads/2013/10/nghiencuuquocte-net-66-tq-btt-va-van-de-pho-bien-40 Lê Thị Thu Hiền, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân,

vu-khi-hat-nhan.pdf

Trang 38

http://nghiencuuquocte.net/wp-content/uploads/2013/10/nghiencuuquocte-net-66-tq-btt-va-van-de-pho-bien-Triều Tiên và Pakistan41 Khác với NPT, CTBT cấm mọi vụ thử nổ do phản ứng hạt nhân, việc cấm này tạo nên một rào cản quan trọng đối với bất kỳ nước nào kể cả những nước đã có vũ khí hạt nhân theo NPT có ý đồ tìm cách phát triển khả năng

vũ khí hạt nhân mới, đây là một trong những lý do quan trọng khiến Hoa Kỳ, Trung Quốc còn ngần ngại chưa phê duyệt CTBT, ngoài ra, hai cường quốc này cũng muốn sử dụng NLNT như một sức mạnh mềm trong việc nâng tầm ảnh hưởng của quốc gia mình về mặt quân sự và chính trị Bên cạnh đó, Ấn Độ, Triều Tiên là các quốc gia có vũ khí hạt nhân nhưng không được ghi nhận theo NPT và cũng là hai quốc gia dành nhiều đầu tư về kinh tế, nhân lực cho NLNT, đặc biệt là Triều Tiên với chính sách ứng dụng NLNT vào lĩnh vực quân sự Ngoài ra, việc Irắc mới quyết định phê chuẩn CTBT ngày 27/09/2013 đã có những tác động mạnh mẽ tới Iran, Pakistan và Israel trong quá trình thúc đẩy một khu vực phi vũ khí hạt nhân tại

Hiệp ước CTBT có 17 Điều và các Nghị định thư kèm theo, quy định các vấn

đề mang tính kỹ thuật của Hiệp ước Trên cơ sở CTBT, một tổ chức Liên hợp quốc mới được hình thành, tách ra từ IAEA gọi là CTBTO Nội dung chính của CTBT là cấm hoàn toàn các hoạt động nổ thử vũ khí hạt nhân Theo Điều 1 của Hiệp ước, mỗi quốc gia thành viên cam kết không tiến hành bất kỳ một vụ nổ để thử vũ khí hạt nhân hoặc bất kỳ một vụ nổ thử hạt nhân nào khác, và ngăn cấm mọi vụ nổ hạt nhân như vậy ở bất cứ địa điểm nào thuộc quyền tài phán hay kiểm soát của quốc gia Mỗi quốc gia thành viên đồng thời cam kết kiềm chế không gây ra, khuyến khích hoặc bằng bất cứ cách nào khác tham gia vào việc tiến hành bất kỳ một vụ nổ

để thử vũ khí hạt nhân hoặc bất kỳ vụ nổ thử hạt nhân nào khác

Hiệp ước có quy định một Cơ chế kiểm chứng để khẳng định nghĩa vụ cơ bản nêu trên được tuân thủ Cơ chế kiểm chứng này bao gồm: Hệ thống quan trắc quốc

tế (có khả năng phát hiện bất cứ vụ nổ thử hạt nhân nào có công suất tương đương

vụ nổ 1000 tấn thuốc nổ); quá trình trao đổi và làm sáng tỏ; quá trình thanh sát tại chỗ và các biện pháp xây dựng lòng tin Và khi CTBT có hiệu lực, CTBTO sẽ triển khai một hệ thống quan trắc rộng rãi trên toàn thế giới với hơn 300 trạm quan trắc

Trang 39

http://www.vietnamplus.vn/iraq-phe-chuan-hiep-uoc-cam-thu-hat-khác nhau43 Việc tham gia Hiệp ước sẽ buộc các quốc gia thành viên phải tuân thủ một số nghĩa vụ theo quy định của Công ước như thông tin báo cáo, cho phép thanh sát tại chỗ nhằm làm sáng tỏ nhưng nghi vấn về nổ thử hạt nhân Cụ thể, khi một quốc gia có các căn cứ để cho rằng một quốc gia khác đang hoặc sẽ thực hiện một

vụ nổ thử hạt nhân và đưa vấn đề này ra trước cộng đồng quốc tế, thì Cơ chế kiểm chứng theo CTBT sẽ được khởi động Quá trình trao đổi thông tin và làm sáng tỏ sẽ được thực hiện nhằm đi đến thống nhất là có hay không một vụ nổ thử hạt nhân giữa hai quốc gia này với sự tham gia của tổ chức CTBTO Các bằng chứng khách quan được dựa trên số liệu quan trắc của hệ thống quan trắc quốc tế Nếu quá trình trao đổi và làm sáng tỏ cho thấy có các bằng chứng về vụ nổ, giai đoạn thanh sát tại chỗ được tiến hành để tìm thêm những bằng chứng tại nơi thực hiện vụ nổ để khẳng định đã có vụ nổ được tiến hành Tại Điều 4 và Nghị định thư II của Hiệp ước

CTBT quy định: “Mỗi quốc gia thành viên có nghĩa vụ tiếp nhận thanh sát tại chỗ

theo quy định của Hiệp ước Các quốc gia nên có sẵn một kế hoạch (ít nhất phải ở mức cơ bản) nhằm xử lý vấn đề thanh sát tại chỗ Ngoài ra, khi Hiệp ước có hiệu lực, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành thanh sát tại chỗ sau này, mỗi quốc gia phải cung cấp một số thông tin có bản sau: Chỉ định các điểm nhập cảnh

và chỉ rõ các thủ tục cho việc sử dụng máy bay ngoài dự kiến; Có thể ký kết một thỏa thuận thường trực với CTBTO về khả năng quốc gia đó có thể hỗ trợ cho một cuộc thanh sát tại chỗ; Các quốc gia có thể đề cử công dân có đủ trình độ của mình làm thanh sát viên” Trong trường hợp thanh sát tại chỗ, quốc gia chịu thanh sát sẽ

có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho công việc của nhóm thanh sát và phải tìm cách chứng tỏ sự tuân thủ của mình đối với Hiệp ước Đây là một quá trình nhạy cảm, mọi bằng chứng phải rất khách quan và chính xác Chính vì có cơ chế kiểm

quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống quan trắc quốc tế và giúp đỡ các quốc gia thành viên xây dựng năng lực kỹ thuật quốc gia của mình để đảm bảo nắm chắc các vấn đề kỹ thuật, công nghệ sử dụng trong mạng quan trắc và công việc thu nhận và

xử lý số liệu của các trạm quan trắc quốc tế

43

Trung tâm Dữ liệu quốc gia cho Hiệp ước CTBT, Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, “CTBT - Sự ra đời

và các nét cơ bản của nó”, nhan-toan-dien-Su-ra-doi-va-cac-net-co-ban-cua-no-.html

http://www.inst.gov.vn/index.php/bai-viet/28/114/468/Hiep-uoc-Cam-thu-hat-44 Trung tâm Dữ liệu quốc gia cho Hiệp ước CTBT, Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, “CTBT - Sự ra đời

và các nét cơ bản của nó”, nhan-toan-dien-Su-ra-doi-va-cac-net-co-ban-cua-no-.html

Trang 40

http://www.inst.gov.vn/index.php/bai-viet/28/114/468/Hiep-uoc-Cam-thu-hat-Nhằm thực hiện các nghĩa vụ của quốc gia thành viên theo Hiệp ước, Điều 3 CTBT quy định mỗi quốc gia chỉ định hoặc lập ra một cơ quan là liên lạc cấp quốc gia để liên hệ với CTBTO và với các quốc gia thành viên khác Các trách nhiệm chính của cơ quan này bao gồm: Xây dựng các văn bản pháp quy; làm đầu mối thông báo như nhận các yêu cầu về trao đổi và làm rõ thanh sát tại chỗ; liên lạc với CTBTO về các ứng dụng khoa học của dữ liệu do hệ thống quan trắc quốc tế (IMS) thu được

Trong Hội nghị thượng đỉnh về An ninh hạt nhân (NSS) lần thứ tư tại Thủ đô Washington (Hoa Kỳ), vấn đề thúc đẩy, vận động các quốc gia phê chuẩn CTBT là một trong những vấn đề trọng tâm được đặt ra, trong bối cảnh hai quốc gia có chương trình hạt nhân gây tranh cãi là Iran và Triều Tiên Trong khi Iran đã được các cường quốc phương Tây dỡ bỏ lệnh trừng phạt thì Triều Tiên tiếp tục khiến cộng đồng quốc tế lo ngại với các vụ phóng tên lửa trong thời gian qua Mới đây nhất, sáng ngày 06/01/2016, đài truyền hình quốc gia Triều Tiên đã chính thức thông báo thử thành công bom nhiệt hạch (bom H) và khẳng định Triều Tiên là quốc gia có tiềm lực vũ khí hạt nhân Đây là vụ nổ thử hạt nhân lần thứ 4 của Triều Tiên kể từ năm 2006 và là vụ nổ thử loại vũ khí có sức công phá rất lớn so với bom hạt nhân thông thường Các nước trong khu vực đã lên tiếng quan ngại về việc Triều Tiên thực hiện nổ thử hạt nhân, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc

nhân hay không, cần phải phát hiện được hạt nhân phóng xạ trong khí quyển phát ra

từ vụ nổ này Ngay trong ngày 06/01/2016, CTBTO đã tiến hành các hoạt động kỹ thuật tích cực liên quan đến vụ nổ tại Triều Tiên từ các trạm quan trắc địa chấn và cung cấp cho các quốc gia thành viên của Hiệp ước Kết quả phân tích cho thấy có một sự kiện địa chấn bất thường xảy ra lúc 1:30:00 (giờ UTC) tức 8:30 sáng ngày 6/1 giờ Việt Nam, tại một vị trí trong khu vực tuyên bố nổ thử hạt nhân của Triều Tiên Tuy nhiên, kết quả này chỉ xác nhận là thực sự có một sự kiện địa chấn xảy ra tại địa điểm này, còn sự kiện đó có phải là vụ nổ thử hạt nhân hay không còn phải tìm kiếm thêm bằng chứng về hạt nhân phóng xạ thoát ra từ vụ nổ thử Mô phỏng

45 Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, “Thông tin về sự kiện nổ hạt nhân ngày 06/01/2016 của Triều Tiên”, http://truyenthongkhoahoc.vn/vn/Thong-tin-ve-su-kien-no-hat-nhan-ngay-06-01-2016-cua-Trieu-Tien- c1048/Thong-tin-ve-su-kien-no-hat-nhan-ngay-06-01-2016-cua-Trieu-Tien-n8375

Ngày đăng: 19/03/2018, 17:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w