Nghiên cứu, tìm ra giải pháp xác định tổ chức và hoạt động, phạm vi và thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND Lào nhằm đảm bảo sự thống nhất trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
CHANTHAVONG SILIPANYA
SO SÁNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CỦA CỘNG HÒA DCND LÀO VÀ CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM QUÝ TỴ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong hai năm học cao học tại trường Đại học Luật Hà Nội, tác giả luận văn đã được học và sinh sống trong môi trường giáo dục tốt nhất Việt Nam Với lòng say mê học hỏi và yêu mến đất nước, con người Việt Nam, tác giả luận văn đã rất vinh dự được học tập ở trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến tập thể cán bộ, giáo viên trường Đại học Luật Hà Nội và khoa sau Đại học trường Đại học Luật Hà Nội Đặc biệt là thầy TS Phạm Quý Tỵ đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tác giả luận văn trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Tác giả
CHANTHAVONG SILIPANYA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn khoa học và các đồng nghiệp Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5SÁT NHÂN DÂN 1.1 Khái niệm cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
1.4 Khái quát quy định của pháp luật về cơ quan điều tra của Cộng hoà DCND
CHƯƠNG II
SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIẾM SÁT NHÂN DÂN NƯỚC CỘNG
HOÀ DCND LÀO VÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 2.1 Pháp luật Lào về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát
2.2 Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm
2.3 So sánh pháp luật của Lào và Việt Nam về tổ chức và hoạt động của cơ quan
Trang 6CHƯƠNG III THỰC TRẠNG, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN Ở CỘNG HOÀ DCND LÀO 3.1 Thực trạng thi hành pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra
Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa DCND Lào 55 3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện tổ chức và hoạt động của cơ
quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân ở Cộng hoà DCND Lào 55 3.1.2 Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện tổ chức và hoạt động của cơ
quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân ở Cộng hoà DCND Lào 60 3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
63
3.2 Những yêu cầu cải cách tư pháp đối với việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức
và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân ở Cộng hoà DCND Lào
65
3.3 Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân ở Cộng hoà DCND Lào trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Việt Nam
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bộ máy nhà nước của Việt Nam cũng như Lào, cơ quan điều tra Viện Kiểm sát đều là cơ quan tư pháp rất quan trọng Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát của hai nước đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ chính quyền nhà nước, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân tại nước mình Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi nghiên cứu so sánh về vấn đề
cơ cấu tổ chức của cơ quan điều tra Viện kiểm sát giữa Việt Nam và cơ quan điều tra Viện kiểm sát Lào Chính vì thế mà pháp luật TTHS chỉ quy định những cơ quan và những chủ thể nhất định mới được thực hiện chức năng điều tra Cơ quan điều tra VKSND Lào là một hệ thống cơ quan điều tra hình sự của Nhà nước Lào, là một trong những công cụ không thể thiếu đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phát hiện, ngăn chặn và
đề xuất xử lý hành vi phạm tội
Nghiên cứu, tìm ra giải pháp xác định tổ chức và hoạt động, phạm vi và thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND Lào nhằm đảm bảo sự thống nhất trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm quyền dân chủ và sự
an toàn của công dân, nhằm đáp ứng với các yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và kế thừa phát huy các thành tựu trong lịch sử tố tụng hình sự, qua đó đề xuất những kiến nghị bổ sung, hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tổ chức và hoạt động của Cơ quan diều tra VKSND Lào đang là vấn
đề cấp thiết đặt ra đối với ngành Kiểm sát nhân dân Lào
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện cả hai nước Việt Nam và Lào đều tiến hành cải cách tư pháp, sửa đổi và bổ sung pháp luật Tổ chức và hoạt động của
Cơ quan điều tra nói chung và tổ chức, hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND nói riêng đang chi phối quá trình sửa đổi BLTTHS của cả Lào và Việt Nam Vì
Trang 8vậy, tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND cần được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, đảm bảo phù hợp với thực tiễn
Từ những lý do đã nêu trên, cho thấy việc lựa chọn đề tài “So sánh tổ
chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân của Cộng hoà DCND Lào với Cộng hoà XHCN Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn
Thạc sỹ luật học là hết sức cần thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn, đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng, hoàn thiện pháp luật; phù hợp với định hướng sửa đổi, bổ sung BLTTHS và Luật Tổ chức VKSND của Nhà nước Việt Nam và Lào, cũng như đáp ứng với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND mới chỉ được
đề cập đến trong một số ít công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam và Lào
mà chủ yếu là các bài viết trên các tạp chí thí dụ như: “Một số ý kiến về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân” - Đỗ Thị Tuyết, Tạp chí Tòa án nhân dân số 4/1999; “Thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cùa Viện kiểm sát nhân dân” - Phạm Quang Luyện — Tạp chí Kiểm sát số 6/1999 Ở cấp độ nghiên cứu sâu hơn có đề tài nghiên cứu Khóa luận: “Thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam”;
“Thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên theo yêu cầu cải cách tư pháp” — Nguyễn Ngọc Khánh - Tạp chí Kiểm sát số Tết tháng 02/2011; “Địa vị pháp lý và thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Tối cao”
— Lê Hồng Thanh - Tạp chí Kiểm sát số 11/2012; “Tăng cường phối hợp, phân loại xử lý thông tin về xâm phạm hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao” - Hà Như Khuê - Tạp chí Kiểm sát số 11/2012 Ngoài ra, còn có Luận văn thạc sĩ luật học của Phut Sa Đy Bu
Đa Phét năm 2005: “Pháp luật về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của cơ quan điều tra công an - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” – trường Đại học Quốc Gia Lào; Luận văn thạc sĩ của Phon Sa Đy: “Hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức điều tra Viện kiểm sát tỉnh ViêngChan năm 2007” –
Trang 9Khoa Luật Học viện an ninh nhân dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học của Indavong Sorphap Mixay : “Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao CHDCND Lào so sánh với CHXHCN Việt Nam” – trường Đại học Luật Hà Nội năm 2015 Tuy nhiên chưa có công trình nào so sánh pháp luật của hai nước Việt Nam và Lào về tổ chức và hoạt động của các cơ quan điều tra VKSND
Các nghiên cứu và các ý kiến nêu trên chưa nhiều nhưng đã có những cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, có những giá trị khoa học nhất định, là nguồn tài liệu tham khảo cho việc xây dựng các nội dung của luận văn về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này còn có những vấn đề chưa được đề cập một cách đầy đủ và toàn diện hoặc có đề cập nhưng mức độ nghiên cứu chưa sâu
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện các quy định tại Điều 22, 23 Bộ Luật TTHS Lào năm 2009, Điều 11, Điều 25 Luật Viện kiểm sát Lào năm 2009 và các điều luật khác có liên quan và Khoản 3 Điều 163 BLTTHS 2015, Điều 29, 30 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, Điều 20 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 của Cơ quan điều tra VKSND Việt Nam Do giới hạn của luận văn nên tác giả không phân tích so sánh cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương hai nước mà chỉ tập trung so sánh cơ quan điều tra của VKSND là Cơ quan điều tra VKSNDTC Việt Nam và cơ quan điều tra của VKSND Lào là Uỷ ban công tố ở VKSNDTC và Văn phòng công tố công cộng ở địa phương
Luận văn tập trung nghiên cứu những đường lối chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và của Nhà nước Lào, Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam, các hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam và của CHDCND Lào về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài:
Trang 10Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, diễn giải, chứng minh, đối chiếu, so sánh pháp luật, quy nạp, hệ thống hóa
5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:
- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đưa ra phương hướng và những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân ở CHDCND Lào
- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là: a) Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Cộng hòa DCND Lào và Việt Nam; b) Nghiên cứu và so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật; c) Đưa ra những nguyên tắc, phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân ở Cộng hòa DCND Lào
6 Những đóng góp mới của Luận văn:
- Luận văn đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức
và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát ở Lào và ở Việt Nam;
- Luận văn đã nghiên cứu và so sánh một cách đầy đủ, có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về tổ chức và hoạt động của
cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân;
- Luận văn đã trình bày được những nguyên tắc, phương hướng và các giải pháp cụ thể, thiết thực, có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về tổ chức
và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân ở Cộng hòa DCND Lào
7 Kết cấu của Luận văn:
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương là :
Trang 11Chương I Những vấn đề lý luận về cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Chương II So sánh quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của
cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân của nước Cộng hoà DCND Lào và nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Chương III Thực trạng, Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân ở Cộng hòa DCND Lào
Trang 12CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Qua tìm hiểu các tài liệu khoa học pháp lý, nhất là các giáo trình giảng dạy trong các trường đại học chuyên ngành Luật đều không đưa ra khái niệm về
Cơ quan điều tra một cách độc lập, chủ yếu định nghĩa, khái niệm về Cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Cơ quan điều tra Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội thì phần viết về Cơ quan tiến hành tố tụng không có khái niệm chung về cơ quan tiến hành tố tụng mà phân tích từng
Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Nội dung về từng cơ quan tiến hành tố tụng cũng không đưa ra khái niệm riêng biệt mà chủ yếu phân tích về tổ chức và nguyên tắc hoạt động; nhiệm vụ và quyền hạn1 Tham khảo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam – Nhà xuất bản giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội, thì Cơ quan tiến hành tố tụng là những
cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giao thực hiện chức năng tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nhằm giải quyết vụ án khách quan, công bằng, bảo đảm và tôn trọng quyền con người, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, mọi hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên cơ sở và trong phạm vi của pháp luật tố tụng hình sự2 Theo khái niệm này thì Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Tòa
án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra Tuy nhiên cũng không
có khái niệm riêng biệt về từng cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Cơ quan điều tra mà chỉ tập trung làm rõ về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động điều tra, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan điều tra Như vậy rất khó tìm hiểu về Cơ
1
Trần Viết Kiên (2015), Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân – một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học – Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 8-9
2
Trần Viết Kiên (2015), Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân – một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học – Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.10
Trang 13quan điều tra trên cơ sở một khái niệm hay định nghĩa pháp lý ở các tài liệu giảng dạy tại các trường chuyên ngành Luật ở bậc Đại học, do đó khái niệm về
Cơ quan điều tra do PGS.TSKH Lê Văn Cảm – Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa luật trong cuốn Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền là khái niệm đầy đủ nhất về Cơ quan điều tra: Cơ quan điều tra là một chủ thể TTHS có thẩm quyền nhân danh Nhà nước (công quyền) thực hiện hoạt động bảo vệ pháp luật bằng việc tham gia vào quá trình điều tra vụ án hình sự để xác định sự thật khách quan của vụ án và vấn đề TNHS của người phạm tội, đồng thời có các quyền hạn và nghĩa vụ nhất định do luật TTHS quy định căn cứ vào gia đoạn khởi tố - điều tra tương ứng với hoạt động của mình khi giải quyết các vụ án hình sự nhằm góp phần làm cho hoạt động của hệ thống TPHS đạt hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh chống tội phạm3 Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một trong những hệ thống của Cơ quan điều tra nói chung nhưng có đối tượng điều tra (thẩm quyền và phạm vi thẩm quyền) riêng biệt so với các Cơ quan điều tra khác và trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao Dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành có thể khái quát mang tính quy nạp về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân như sau:
Cũng theo từ điển tiếng Việt, “điều tra” là hoạt động “tìm tòi, xem xét để biết rõ sự thật”4 Điều tra phát hiện, tìm ra chứng cứ buộc tội là chức năng của
Cơ quan điều tra do pháp luật TTHS quy định Dĩ nhiên, để củng cố thêm các chứng cứ buộc tội, các cơ quan này có thế thu thập thêm thông tin ngoài tố tụng nhưng đó không là chứng cứ, chỉ là công việc hỗ trợ hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra Để phân biệt với các cơ quan tham gia điều tra phát hiện tội phạm như các cơ quan phát hiện, ngăn chặn tội phạm bằng biện pháp nghiệp vụ, biện pháp trinh sát, PGS.TS Trần Đình Nhã cho rằng: Cơ quan điều tra trong TTHS chính là cơ quan chuyên trách điều tra tội phạm theo pháp luật TTHS, là Cơ
3
Trần Viết Kiên (2015), Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân – một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học – Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 11
4
Trần Đình Nhã (2012), Chế định điều tra tội phạm trong Bộ luật tổ tụng hình sự, Tạp chí Kiểm sát số
21, tháng 11/2012, Hà Nội
Trang 14quan điều tra tố tụng hình sự5 Theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam,
Cơ quan điều tra bao gồm: Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra thuộc VKSNDTC Theo quy định của pháp luật TTHS của Lào, Cơ quan điều tra của Lào là các tổ chức điều tra bao gồm: các tổ chức điều tra (cảnh sát, sĩ quan quân đội, công chức hải quan, cán bộ lâm nghiệp, chính phủ); các tổ chức điều tra của Viện kiểm sát; các
tổ chức điều tra của Toà án Ngoài ra, pháp luật TTHS Việt Nam cũng quy định một số cơ quan khác như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Đây không phải là các
cơ quan tiến hành tố tụng Nhưng do tính chất đặc biệt trong hoạt động của các
cơ quan này là thường xuyên đấu tranh với các vi phạm trong lĩnh vực mà mình quản lý Do đó, để đảm bảo kịp thời ngăn chặn tội phạm thì pháp luật TTHS đã quy định cho các cơ quan này được tiến hành một số hoạt động điều tra ở mức
độ giới hạn, mức độ “điều tra ban đầu” Như vậy, Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền thay mặt Nhà nước thực hiện những hành vi tố tụng nhất định trong một phạm
vi, một giai đoạn tố tụng nhất định Thẩm quyền đó là quyền tiến hành những hoạt động điều tra để phát hiện và chứng minh tội phạm theo quy định của pháp luật TTHS và giai đoạn để tiến hành các hoạt động điều tra là giai đoạn điều tra
Trước đây, ở Việt Nam, Cơ quan điều tra trong ngành Kiểm sát được thành lập ở cả hai cấp VKSNDTC và VKSND cấp tỉnh nhưng từ năm 2002, Quốc hội ban hành Luật Tổ chức VKSND đã không thiết lập cơ quan điều tra ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh Do đó, theo quy định của BLTTHS năm 2003
và BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 thì Cơ quan điều tra chỉ còn được thành lập ở VKSNDTC và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát Quân sự Trung ương (Khoản 1, khoản 2 Điều 29 Luật Tổ chức điều tra hình sự năm 2015) Trong phạm vi của Luận văn này chỉ bàn đến tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra VKSNDTC
5
Xoom Khay Xikha Chay (2002), Hoàn thiện pháp luật TTHS trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay, Nxb.Tư pháp, tr 25
Trang 15Theo quy định tại Điều 35 BLTTHS 2015; Điều 30, Điều 31 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, thì Cơ quan điều tra VKSNDTC có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan Điều tra, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân
Các tổ chức điều tra của Viện kiểm sát theo Điều 11, Luật Viện kiểm sát
Lào 2009 quy định “Các tổ chức điều tra của Viện kiểm sát nước Cộng hoà dân
chủ nhân dân Lào là các Văn phòng công tố công cộng ở Viện kiểm sát địa phương và Uỷ ban công tố ở Viện kiểm sát tối cao…”
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 25, Luật Viện Kiểm sát Cộng hoà dân
chủ nhân dân Lào năm 2009: “Uỷ ban công tố có trách nhiệm xem xét đơn
khiếu nại tố cáo của cơ quan tổ chức nhà nước, Mặt trận yêu nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và công dân theo luật định; tiến hành đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật nhằm hạn chế và loại trừ những điều kiện nguyên nhân phát sinh tội phạm”thì cơ quan điều tra VKSTC là Uỷ ban
công tố có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự các loại tội phạm xâm phạm hoạt động của các cơ quan tổ chức nhà nước, doanh nghiệp và công dân Lào
Khoản 2, Điều 25 quy định: “Văn phòng công tố công cộng có trách nhiệm xem
xét đơn khiếu nại tố cáo của cơ quan tổ chức nhà nước, Mặt trận yêu nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và công dân theo luật định; tiến hành đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật nhằm hạn chế và loại trừ những điều kiện nguyên nhân phát sinh tội phạm”
Qua đó, ta có thể thấy Tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, kinh
Trang 16doanh thương mại Hành vi này là những hành vi làm cho quá trình giải quyết của các cơ quan tư pháp bị sai lệch, không đúng pháp luật, từ đó gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân Do đó, hoạt động điều tra và xử
lý đối với loại tội phạm này có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm đảm bảo cho các hoạt động tư pháp được tuân thủ theo các quy định của pháp luật, đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước vào các Cơ quan điều tra nói riêng và các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung
Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm cơ quan điều tra của
VKSND: “Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một trong hệ thống
Cơ quan điều tra, trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân, được tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật nhằm thu thập, kiểm tra và đánh giá các chứng cứ chứng minh sự kiện phạm tội đối với các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp
mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp”
1.2 Đặc điểm cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Về mặt lý luận và thực tiễn thì Cơ quan điều tra VKSND có thẩm quyền điều tra đối với một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người thực hiện tội phạm là cán bộ, công chức ngành tư pháp như: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Chấp hành viên Đây là những chủ thể có sự am hiểu pháp luật nên khi thực hiện hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp đều sử dụng những thủ đoạn tinh vi, ít để lại dấu vết nên rất khó có bằng chứng để phát hiện, xử lý, bất kể vụ án đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện hay cấp tỉnh
Xuất phát từ đâu mà pháp luật lại quy định cho Cơ quan điều tra VKNDTC có thẩm quyền điều tra những loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp? Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong đó có những tội chủ thể là
Trang 17những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tư pháp như điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, chấp hành viên Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định, mọi hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp giao cho cơ quan điều tra VKSNDTC điều tra mà không giao cho cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an là để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra Việc pháp luật TTHS Việt Nam quy định mỗi Cơ quan điều tra trong bộ máy Nhà nước có thẩm quyền điều tra các loại tội phạm khác nhau xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của từng cơ quan Điều
đó làm nên nét đặc trưng, làm nên đặc điểm riêng biệt trong thẩm quyền điều tra của mỗi cơ quan điều tra, đồng thời khắc phục tình trạng bị chồng chéo về thẩm quyền, bảo đảm điều tra nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả, không để lọt tội phạm Dựa trên những lý do đó mà BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự quy định: Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc lĩnh vực quốc phòng; Cơ quan điều tra VKSNDTC điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp; Cơ quan điều tra của Bộ Công an điều tra tất cả các loại tội phạm còn lại
Ở Lào, VKS ngoài chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp còn kiểm sát chung việc tuân theo pháp luật của các cơ quan hành chính, kinh tế, xã hội do đó các cơ quan điều tra của VKS có thẩm quyền điều tra không chỉ những tội phạm xảy ra trong hoạt động tư pháp mà còn điều tra những tội phạm xảy ra của các cơ quan hành
chính, kinh tế, xã hội “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan kiểm sát của Nhà
nước, có chức năng kiểm sát và tuân thủ việc thi hành pháp luật của các Bộ, cơ quan, mặt trận yêu nước , tổ chức xã hội, cơ quan chính quyền địa phương, doanh nghiệp, công dân để đảm bảo tính đúng đắn và thống nhất và truy tố bị can lên toà án theo luật định” (Điều 87, Hiến pháp Lào năm 2009)
Quy định này xuất phát từ đặc thù trong lĩnh vực hoạt động của từng ngành và tư tưởng lập pháp khác nhau của từng quốc gia mà có thể lý giải đối với tư tưởng lập pháp của Việt Nam như sau:
Trang 18Lực lượng Công an nhân dân là lực đông đảo có chức năng quản lý Nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Từ đó pháp luật quy định cho Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân có thẩm quyền rộng nhất, điều tra tất cả các tội phạm còn lại không thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và trong VKSND như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh, các tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội6
Quân Đội nhân dân là lực lượng vũ trang có nhiệm vụ bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, tinh nhuệ Do đặc thù của nhiệm vụ trên mà Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền điều tra những tội phạm thuộc lĩnh vực quốc phòng mà
bị can là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sằn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý; hoặc bị can không là những đổi tượng nêu trên nhưng phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội7
Riêng đối với VKSND, Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tổ, kiểm sát hoạt động tư pháp Trong phạm vi chức năng của mình, VKSND có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật
6
Đỗ Khắc Hưởng (2005), Thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Công an
nhân dân, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội, tr 11
7
Nguyễn Văn Phúc (2008), Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Bộ đội biên phòng, Luận văn thạc
sỹ, Đại học Luật Hà Nội
Trang 19Với chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp nên Viện kiểm sát tham gia vào toàn bộ quá trình tố tụng hình sự, từ giai đoạn phát hiện tội phạm, khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, điều tra vụ
án hình sự, đến khi kết thúc quá trình tố tụng (bản án có hiệu lực pháp luật) và chấm dứt khi thi hành xong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Bên canh
đó, Viện kiểm sát các cấp có phạm vi kiểm sát rất rộng, bao gồm công tác kiểm sát việc giải quyết các loại án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế và những việc khác theo quy định của pháp luật Thông qua các công tác này, Viện kiểm sát có thể phát hiện những thiếu sót, vi phạm cùa các cơ quan tư pháp, cán bộ tư pháp để yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục vi phạm; nếu phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thì chuyển cho Cơ quan điều tra VKSND để khởi tố, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật Chính vì vậy, Viện kiểm sát có điều kiện thuận lợi để phát hiện các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp Từ đó mà pháp luật quy định cho
Cơ quan điều tra VKSNDTC có thẩm quyền điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp
Từ những phân tích và từ khái niệm Cơ quan điều tra VKSND đã nêu trên, cho phép làm rõ đặc điểm của Cơ quan điều tra VKSND như sau:
- Thứ nhất: Cơ quan điều tra VKSND là một hệ thống cơ quan điều tra của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, độc lập về tổ chức và hoạt động với các Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân cũng như các cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ở các cơ quan khác như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, có thẩm quyền điều tra đối với các vụ án xảy ra trong lĩnh vực hoạt động tư pháp mà không chỉ riêng các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXIII BLHS Vì có những trường hợp cán bộ tư pháp có hành vi tham ô, nhận hối lộ để làm sai lệch hồ sơ vụ án, ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật thì tuy rằng những hành vi tham ô, nhận hối lộ thuộc Chương các tội phạm về chức vụ, Mục A các tội phạm về tham
Trang 20nhũng, nhưng rõ ràng gắn với hành vi phạm tội tham nhũng này là các hành vi thuộc loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà suy đến cùng là xâm phạm trật
tự tư pháp
- Thứ hai: thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân “hẹp” hơn so với thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân chỉ tiến hành điều tra một số tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc cơ quan tư pháp, nhưng có sự khác biệt với thẩm quyền giữa Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân Lào là ngoài chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp còn kiểm sát chung việc tuân theo pháp luật của các cơ quan hành chính, kinh tế, xã hội do đó các cơ quan điều tra của VKS có thẩm quyền điều tra không chỉ những tội phạm xảy ra trong hoạt động tư pháp mà còn điều tra những tội phạm xảy ra của các cơ quan hành chính, kinh tế, xã hội
- Thứ ba: Những vụ án trong lĩnh vực hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp phải thuộc thẩm quyền xét xử của cơ quan điều tra của Viện kiểm sát, nếu thuộc thẩm quyền xét xừ cùa Tòa án quân
sự thì thuộc thấm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát Quân sự Trung ương
1.3 Vai trò cùa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
Sự tồn tại của Cơ quan điều tra VKSND trong lịch sử pháp luật và đến nay là Cơ quan điều tra VKSND đã chứng tỏ vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết của Cơ quan điều tra VKSND trong việc thực hiện thẩm quyền điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp Điều này thể hiện rõ hơn ở các mặt sau:
Thứ nhất, đảm bào cho VKSND thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Theo quy định của Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 thì: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Viện kiểm sát
Trang 21thực hiện chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định bằng sáu mặt công tác, trong đó có nhiệm vụ: “Điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ các cơ quan tư pháp” (khoản 2, Điều 30 Luật
Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, khoản 3 Điều 163 Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2015); và theo quy định của Điều 87 Hiến pháp Lào năm 2010, Điều 25 Luật Viện kiểm sát Lào năm 2009, Điều 22, Điều 23 Bộ Luật TTHS Lào năm
2009 việc thực hiện thẩm quyền điều tra ở VKSND Lào và Việt Nam được giao cho Cơ quan điều tra chuyên trách thực hiện, đó là Cơ quan điều tra VKSND
Tổ chức Cơ quan điều tra ở VKSND xuất phát từ chức năng công tố của VKSND trong TTHS Cơ quan điều tra cho dù tổ chức ở bộ, ngành nào thì cũng
để phục vụ chức năng công tố, giúp cơ quan thực hành quyền công tố đưa vụ án
ra Tòa xét xử và buộc tội người phạm tội trước Tòa án Công tác điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp của Cơ quan điều tra VKSND là một trong những mặt công tác quan trọng nhằm bảo đảm cho VKSND thực hiện có hiệu quả và làm tốt hơn chức năng thực hành quyền công tố Mặt khác, VKSND
là cơ quan chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo đảm chống làm oan sai, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Đồng thời, trong điều kiện hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng nền công tố mạnh, nhằm thực hiện chủ trương của Đảng đã nêu trong Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị là: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra Vì vậy, Cơ quan điều tra VKSND đóng vai trò quan trọng, cần thiết phải củng cố và tăng cường năng lực cho Cơ quan điều tra VKSND để Viện kiểm sát phát huy hiệu quả và thực hiện tốt hơn chức năng công tố đã được Đảng và Nhà nước giao phó
Bên cạnh đó, thông qua việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND là cơ quan có ưu thế trong việc nắm bắt, phát hiện các vi phạm
và tội phạm trong lĩnh vực hoạt động tư pháp; quan trọng hơn, kết quả điều tra cùa Cơ quan điều tra VKSND sẽ hỗ trợ cho VKSND thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Như vậy, việc giao cho Cơ quan điều tra VKSND thực hiện thẩm quyền điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt
Trang 22động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ các cơ quan tư pháp là hoàn toàn cần thiết
Thứ hai, thực trạng nền tư pháp Việt Nam và Lào còn có những hạn chế, tồn tại đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đánh giá tại Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005: “Chất lượng hoạt động tư pháp còn chưa cao vẫn còn tình trạng bắt, giam, giữ người trái pháp luật, để xảy ra oan, sai trong điều tra, truy tố, xét xử; một bộ phận cán bộ tư pháp xuống cấp về đạo đức ”, chính điều đó dẫn đến tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp có xu hướng gia tăng và ngày càng phức tạp Vì vậy, việc duy trì Cơ quan điều tra VKSND với tư cách là Cơ quan điều tra chuyên trách, có kỉnh nghiệm và đang hoạt động tích cực để phát hiện, điều tra xử lý và phòng ngừa có hiệu quả đối với tội phạm này là hoàn toàn phù hợp Hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra VKSND góp phần tăng cường sự kiểm soát quyền lực tư pháp của các cơ quan tư pháp, góp phân bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của các cơ quan tư pháp
Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 và Kết luận 79/KL-TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng xác định: “Trước mắt tiếp tục thực hiện mô hình tổ chức Cơ quan điều tra theo pháp luật hiện hành, nghiên cứu và chuẩn bị mọi điểu kiện đế tiến tới tổ chức lại các Cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối” Quá trình triển khai thực hiện chủ trương thu gọn đầu mối Cơ quan điều tra theo yêu cầu của cải cách tư pháp, có quan điểm cho rằng: không tổ chức Cơ quan điều tra ở VKSND Bởi vì:
Về lý luận, việc tổ chức Cơ quan điều tra ở VKSND thành một hệ thống thì không thể: “Kết hợp chặt chẽ giữa trinh sát với hoạt động của Cơ quan điều tra’ [20] và như vậy khó có thể phát huy được hiệu quả trong hoạt động điều tra Hơn nữa, theo Hiến pháp năm 2013 thì chức năng cơ bản của VKSND là kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố (Hiến pháp Lào năm 2010 còn trao thêm quyền kiểm sát chung cho Viện kiểm sát Lào) Vì vậy nên tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát tập trung để thực hiện tốt hai chức năng cơ bản này
Trang 23Việc tổ chức Cơ quan điều tra ở VKSND đã phá vỡ quan hệ tố tụng và không đảm bảo tính khách quan trong hoạt động kiểm sát các hoạt động điều tra Sẽ là không hợp lý nếu Cơ quan điều tra và cơ quan kiểm sát hoạt động điều tra là ngang quyền nhau dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND; cũng sẽ không hợp lý nếu cho rằng ĐTV của Cơ quan điều tra (thuộc Công an, Quân đội) vi phạm pháp luật còn ĐTV của Cơ quan điều tra VKSND không bao giờ vi phạm trong quá trình điều tra Nếu vi phạm thì cơ quan nào sẽ phát hiện
và cơ quan nào sẽ tiến hành điều tra và nếu để Cơ quan điều tra VKSND điều tra thì việc kiểm sát điều tra liệu có khách quan không khi mục đích xây dựng
Cơ quan điều tra VKSND để đảm bảo tính độc lập trong hoạt động tố tụng
Về thực tiễn, khi xây dựng Cơ quan điều tra VKSND chúng ta quá kỳ vọng là Cơ quan điều tra này sẽ đem lại những kết quả khách quan trong hoạt động điều tra Tuy nhiên qua nhiều năm thực hiện, kết quả lại rất khiêm tốn, tình hình tội phạm những năm gần đây có xu hướng gia tăng, trong đó có những tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND nhưng kết quả hoạt động điều tra của cơ quan này lại chưa có biến chuyển rõ rệt Điều đỏ là không tương xứng với quy mô tổ chức, làm lãng phí một đội ngũ cán bộ hùng hậu, cả
về chất xám cũng như tiền bạc của nhân dân, lại vừa gây khó khăn trong việc kiểm tra, giám sát cũng như việc phân định thẩm quyền điều tra8
Tuy nhiên, khi đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND cho thấy việc duy trì Cơ quan điều tra VKSND là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Nếu VKSND chỉ dừng lại ở mức độ phát hiện và yêu cầu
xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp thì chưa đi sâu, làm sáng tỏ những tội phạm do cán bộ tư pháp thực hiện Mặt khác, nếu để Cơ quan điều tra của Cảnh sát điều tra những loại tội phạm này thì không khách quan, vì Cảnh sát nằm trong cơ quan hành pháp Nghị quyết 54-NQ/TW ngày 07/6/2011 của
Bộ chính trị nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào về chiến lược cải cách tư
8
Lê Tiến Châu (2002), Một số vấn đề về Cơ quan điều tra, Tạp chí Khoa học pháp lý tháng 5/2002, Hà
Nội, tr.13
Trang 24pháp đến năm 2020 là: “tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra” “Viện kiểm sát phân công các tổ chức điều tra ở địa phương và trung ương phối hợp với các tổ chức điều tra của các ngành khác do pháp luật quy định” Do vậy, giao thẩm quyền điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp cho Cơ quan điều tra của VKSNDTC Việt Nam và VKSND Lào là một tất yếu Không có Cơ quan điều tra của ngành Kiểm sát nhân dân thì những vi phạm pháp luật của một số cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không được phát hiện, điều tra, xử lý hoặc để lọt tội phạm, nhiều việc làm oan người vô tội không được giải quyết, minh oan dẫn đến mất lòng tin của nhân dân vào Đảng
và Nhà nước, vào các cơ quan bảo vệ pháp luật Rõ ràng cần thiết phải có nhận thức đúng về thẩm quyền điều tra của các Cơ quan điều tra, trong đó pháp luật TTHS xác định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND là nhằm “hỗ trợ” cho VKSND thực hiện chức năng kiểm sát và duy trì quyền công tố Hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra VKSNDTC là hoạt động tố tụng độc lập để phục vụ cho chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố, vẫn phải chịu sự kiếm sát điều tra: “Trong quá trình điều tra, hoạt động điểu tra của Cơ quan điểu tra chịu sự kiếm sát điều tra của Cơ quan thực hành quyển công tố và kiểm sát điều tra (Vụ thực hành quyền công tổ và kiểm sát điều tra án hình sự về trật tự xã hội Vụ 1A Viện kiểm sát nhân dãn tối cao)” (Điều 5 Quy chế về tổ chức và hoạt động của Cục Điều tra VKSNDTC Lào năm 2010)
Bên cạnh đó, việc thiết lập cơ cấu chính trị xã hội của bộ máy Nhà nước, không đơn giản là cơ quan đó có nhiều việc hay ít việc, không thể so sánh hiệu quả bằng tiền như tổ chức kinh doanh Không thể cho rằng vì tiết kiệm ngân sách nên phải giảm bớt cơ quan này Mà phải xuất phát từ mục đích nếu có tội phạm xảy ra thì cơ quan này phải làm những gì để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm đó [30] Do đó, xuất phát từ yêu cầu khách quan của đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực tư pháp mà người phạm tội là cán bộ các cơ quan
tư pháp, xuất phát từ vị trí Hiến định trong bộ máy Nhà nước thì chỉ có Cơ quan điều tra của ngành Kiểm sát tiến hành điều tra các loại tội phạm trên mới có hiệu quả
Trang 25Xuất phát từ vai trò quan trọng của Cơ quan điều tra VKSND trong việc thực hiện thẩm quyền điều tra, tác giả cho rằng cần tiếp tục duy trì hệ thống Cơ quan điều tra trong ngành Kiểm sát nhân dân như hiện nay và cần thiết làm rõ hơn thẩm quyền điều tra, đổi mới tổ chức và hoạt động, nâng cao năng lực của
Cơ quan điều tra VKSND nhằm phát huy hiệu quả, chất lượng công tác điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp hiện nay
1.4 Khái quát quy định của pháp luật về cơ quan điều tra của Cộng hoà DCND Lào và của Cộng hoà XHCN Việt Nam
Việt Nam và Lào đều là hai quốc gia đang phát triển nhưng mỗi quốc gia
có một nét đặc thù riêng về mặt lịch sử, kinh tế – xã hội Chính vì vậy mà sự phát triển pháp luật nói chung, pháp luật về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của cơ quan điều tra viện kiểm sát nói riêng cũng có những điểm riêng biệt Thông qua việc nghiên cứu tiến trình phát triển pháp luật TTHS Lào và Việt Nam, ta có thể sơ lược như sau:
1.4.1 Sơ lược sự phát triển các quy định của pháp luật về cơ quan điều tra của CHDCND Lào
Sau những cuộc kháng chiến trường kỳ giành độc lập dân tộc, giải phóng đất nước Lào bắt tay vào xây dựng kinh tế- xã hội trong đó chú trọng xây dựng pháp luật Để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, năm 1977 Hội đồng bộ trưởng Lào đã ban hành Nghị định số 115/1977/NĐ-HĐBT quy định về điều tra các vụ án hình sự Tiếp đến, năm 1989 BLTTHS
1989 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự 1989 của Lào được ban hành trong
đó có quy định về Cơ quan điều tra VKSND Mặc dù còn chưa hoàn chỉnh, có những quy định còn chưa cụ thể và chưa thật sự hợp lý làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác điều tra, ảnh hưởng đến mục đích của pháp luật TTHS là xử lý kịp thời, nhanh chóng tất cả các vụ án hình sự nhưng đây là văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát
Trang 26Để khắc phục tình trạng trên, Đảng Nhân dân cách mạng và Nhà nước Lào đã chủ chương sửa đổi BLTTHS 1989, trong đó có việc xác định lại thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra VKSND Tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII, quan điểm của Đảng nhân dân cách mạng Lào nêu rõ:
“sắp xếp lại cơ quan điều tra theo hướng gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa trinh sát, điều tra ban đầu với hoạt động của Cơ quan điều tra nhằm đảm bảo sự thống nhất trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm quyền dân chủ và sự an toàn của công dân”9 Quan điềm này được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 02/01/1999 của Bộ Chính trị Lào: “Ở ngành Kiểm sát
tổ chức Cơ quan điều tra tại Viện kiểm sát tối cao, tổ chức cơ quan điều tra ở Viện kiểm sát cấp tỉnh, huyện để điều tra tội xâm phạm hoạt động tư pháp, xâm phạm hoạt động của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và công dân”10
Trên tinh thần đó, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã thông qua BLTTHS 1999 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình
sự năm 1999, trong đó có những quy định thay đổi cơ bản về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND, mở ra một thời kỳ mới cho sự hoàn thiện và phát triển của chế định này trong pháp luật TTHS Lào
Tuy nhiên trong giai đoạn này, các văn bản pháp luật của Lào còn mang nặng tính hình thức, chưa có tác dụng điều chỉnh nhiều quan hệ trong hoạt động điều tra của cơ quan điều tra Trước nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập thế giới, sự gia tăng của các loại tội phạm mới gây nguy hiểm cho chế độ Cộng hoà dân chủ, cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân Lào và học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật về TTHS nói chung và của cơ quan điều tra VKS nói riêng của Việt Nam đặc biệt trong tình hình phát triển kinh tế – xã hội cần
có một văn bản luật chuyên ngành của Viện kiểm sát, Quốc hội Lào đã thông qua BLTTHS năm 2004, Luật Viện kiểm sát 2004 và tiếp tục được sửa đổi năm
2009 là tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển quốc tế cũng như đáp ứng nhu cầu
9
Boun Thavy Inmedy (2003), Một số vấn đề đặt ra trong hoạt động của cơ quan điều tra, Nxb.Quốc
gia, Viêng Chăn
10
Cha Khăm Bupha Livan (2005), Tổ chức bộ máy cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Toà án trong cải
cách tư pháp ở Lào Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Quốc gia Lào
Trang 27trong nước Cho đến nay, BLTTHS năm 2009 và Luật Viện Kiểm sát năm 2009 vẫn có hiệu lực và đang được Quốc hội của Lào xem xét, sửa đổi, bổ sung
Dự thảo sửa đổi và bổ sung BLTTHS năm 2016 đang được Quốc hội Lào lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, chuyên gia Trong đó tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân ở cả ba cấp và đang xem xét thành lập cơ quan điều tra cho phù hợp với dự thảo Luật Tổ chức VKSND sửa đổi bổ sung năm 2016 đó là cơ quan điều tra ở VKSND khu vực, VKSND Tỉnh, VKSND Miền, VKSND Tối cao
1.4.2 Sơ lược sự phát triển các quy định của pháp luật về cơ quan điều tra của CHXHCN Việt Nam
Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân được thành lập trên cơ sở Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 20/LCT ngày 26 tháng 7 năm 1960 Luật tổ chức viện kiểm sát năm 1960 nhấn mạnh:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp thi hành nhiệm vụ trên bằng cách: a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân; b) Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; c)Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và cơ quan điều tra khác; d) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Tòa án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án; e) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam; f) Khởi tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của nhà nước và của nhân dân11
11
Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một sổ nhiệm vụ trọng tâm của Công tác tư pháp trong thời gian tới
Trang 28Ngày 18/4/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 12/LCT công bố Pháp lệnh quy định tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16/4/1962) Tại Điều 5 của Pháp lệnh này quy định: Bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Vụ Điều tra thẩm cứu12 Quy định này đã đánh dấu sự hình thành tổ chức Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân thực hiện điều tra những việc phạm pháp về hình sự theo quy định tại điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và được cụ thể hóa bằng Thông tư liên bộ số 427/LB ngày 25/6/1963 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an hướng dẫn quy định này cụ thể: Viện kiểm sát sẽ trực tiếp điều tra một số loại phạm pháp về kinh tế và trị an xã hội
mà kẻ phạm pháp và hành vi vi phạm đó tương đối rõ Ngay từ khi hình thành
và trong toàn bộ quá trình phát triển của Viện kiểm sát nhân dân, hoạt động điều tra luôn được coi là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình thực hiện chức năng của ngành kiểm sát Tuy nhiên, quy mô phát triển, vị trí của hoạt động điều tra trong việc thực hiện chức năng kiểm sát trong mỗi giai đoạn có sự khác nhau Thời kỳ đầu, trong ngành Kiểm sát, hoạt động điều tra chỉ là một trong những quyền năng của công tác kiểm sát điều tra mà không được coi là khâu công tác riêng biệt Vì thế, Viện kiểm sát không có cơ quan điều tra riêng,
mà chỉ ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới tổ chức thành một đơn vị là Phòng Điều tra thẩm cứu (Mặc dù Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/4/1962 quy định trong tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Vụ Điều tra thẩm cứu) Còn ở các địa phương, thì công tác điều tra thuộc nhiệm vụ của các đơn vị kiểm sát điều tra (Điều 5 của Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/4/1962 và Pháp lệnh sửa đổi ngày 15/01/1970)
Mặc dù ở giai đoạn này chưa có lực lượng điều tra chuyên trách, nhưng hoạt động điều tra được thực hiện ờ cả 03 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và điều tra với nhiều loại tội (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia) Đã có thời điểm công tác điều tra còn có chiều hướng trội hơn các công tác khác của ngành
12
Lê Hồng Thanh (2012), Địa vị pháp lý và thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Tạp chí Kiểm sát số 11, tháng 6/2012
Trang 29Kiểm sát Tổng kết công tác những năm 1970 của ngành Kiểm sát nhân dân đã nêu: “Trước năm 1970 Viện kiểm sát cấp huyện, thị làm công tác điều tra đến 50% và cấp tỉnh điều tra đến 25% số vụ án thụ lý”13
Năm 1978, Vụ điều tra thẩm cứu được thành lập trên cơ sở Phòng Điều tra thẩm cứu thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao Luật tổ chức Viện kiểm nhân dân năm 1981, tại khoản 1 Điều 10 quy định: “Trong trường hợp do pháp luật quy định thì Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp tiến hành điều tra Đó là các
vụ án do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên giao và các vụ án Viện trưởng Viện kiểm sát thấy cần thiết phải trực tiếp điều tra”14 Trên thực tế, Viện kiểm sát nhân dân vẫn phải tiến hành điều tra khi thấy cần thiết trong các trường hợp:
Do yêu cầu chính trị và cấp uỷ giao hoặc khi xét thấy các vụ án do cơ quan Công an điều tra không được khách quan, toàn diện, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật tới mức nếu để họ tiếp tục điều tra sẽ dẫn đến lọt tội phạm, oan sai và
dư luận xã hội không đồng tình Ngày 28/6/1988, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1989 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự, trong đó có hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra và Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân Ngày 04/4/1989, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự cũng được ban hành nhằm cụ thể hoá một bước về tổ chức và hoạt động điều tra của
Cơ quan điều tra cũng như việc quy định các quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên trong tố tụng hình sự Theo đó, có các hệ thống cơ quan điều tra chuyên trách gồm: Cơ quan điều tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Cơ quan điều tra của lực lượng An ninh nhân dân, Cơ quan điều tra An ninh Quân đội, Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 22/12/1988 đã có những quy định cụ thể, rõ ràng về công tác điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, coi đó là một cơ quan điều tra chuyên trách, độc lập
Trang 30Giai đoạn này, Kiểm sát viên không được tự tiến hành điều tra toàn bộ vụ án nữa, mà hoạt động này được giao cho Điều tra viên Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
Về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy định có tính chất “mở”, cho phép Cơ quan điều tra trong Viện kiểm sát nhân dân có thể lựa chọn vụ việc để điều tra, nhằm phục vụ thực hiện chức năng của ngành (khoản 3 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Điều 18 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989)
Đến năm 2000, theo tinh thần tại Thông báo số 136/TB-TW ngày 25/1/1996 của Bộ Chính trị đánh giá và định hướng cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, Chỉ thị số 01/2000/CT ngày 10/01/2000 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác điều tra năm 2000 đã khẳng định:
Thực hiện đổi mới Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng tăng cường tổ chức và hoạt động của Cục điều tra thuộc Viện kiếm sát nhân dân tối cao, chỉ để lại Phòng điều tra Viện kiểm sát cấp tỉnh ở những nơi xét thấy thật cần thiết Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân chỉ tập trung vào việc điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ của cơ quan tư pháp Thực hiện Chỉ thị trên, Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định: Đối với các Phòng điều tra Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chỉ để lại một số nơi cần thiết, đó là những tỉnh, thành phố tội phạm hình sự xảy ra nhiều, khởi tố vụ án nhiều, bắt tạm giam truy tố nhiều thì dễ xảy ra tội phạm tư pháp; nơi đó cần thiết có Phòng Điều tra Vì thế, thời gian này các Phòng điều tra Viện kiểm sát nhân dân chỉ còn tồn tại ở 10 tỉnh, thành phố (không kể Phòng điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương và 8 Ban Điều tra cấp thứ hai)
Giai đoạn từ năm 2003 đến nay, thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, và để đáp
Trang 31ứng yêu cầu đấu tranh và phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn mới, Quôc hội Việt Nam đã tiến hành sửa đổi và bổ sung, ban hành hàng loạt văn bản pháp luật mới : BLTTHS 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và tiếp tục được sửa đổi năm 2015, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức duy nhất ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân
sự trung ương
Trang 32CHƯƠNG II
SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIẾM SÁT NHÂN DÂN NƯỚC CỘNG HOÀ DCND LÀO VÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
2.1 Pháp luật Lào về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện
kiểm sát nhân dân
2.1.1 Pháp luật Lào quy định về tổ chức của cơ quan điều tra VKSND
Theo Luật Viện kiểm sát nhân dân Lào năm 2009 và Quyết định số 45/2012/QĐ-VKSTC ngày 18 tháng 11 năm 2005 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Lào về Quy chế tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Lào thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Lào được thành lập ở hai cấp Trung ương và địa phương Ở Trung ương là Uỷ ban công tố, đứng đầu Uỷ ban công
tố là Trưởng công tố viên, cấp phó là Phó trưởng công tố viên, có hai phòng là phòng công tố và phòng hành chánh kiểm sát, đứng đầu các phòng là các trưởng phòng làm công tác ngạch chuyên viên không phải ngạch công tố, các công tố viên cao cấp và chuyên viên giúp việc Thường thì các trưởng phòng ở Uỷ ban Công tố do Uỷ ban thường vụ quốc hội đặc phái sang làm việc Trong giải trình của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Lào kỳ họp thứ 3 ngày 26 tháng 11 năm 2009 giải thích: “công tố viên thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp, cơ quan giám sát công tố lại là một công tố viên thì trong quá trình hoạt động không tránh khỏi việc bao che và không hoàn thành chức trách Từ nay xin Quốc hội đặc phái một trong các thành viên của Quốc hội có tài năng, am hiểu pháp luật, hết lòng vì nước Lào Dân chủ giàu mạnh sang đảm nhiệm công tác Thứ nhất, đẩy mạnh cải cách tư pháp mà Đảng Nhân dân cách mạng Lào đưa ra Thứ hai, đẩy mạnh giám sát công tác pháp luật trên cả nước…” Ở địa phương là các Văn phòng công tố công cộng, đứng đầu là Trưởng công tố viên và không có cấp
Trang 33phó chỉ có trợ lý công tố, các công tố viên công cộng và các chuyên viên giúp việc Các công tố viên do Quốc hội trên cơ sở yêu cầu của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trực tiếp chỉ định bổ nhiệm và khi hoạt động : “Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, công tố viên Viện kiểm sát chỉ tuân theo pháp luật và không phụ thuộc người chỉ huy của các cơ quan, đơn vị kiểm sát” (Điều 25 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự Lào 2009)
Bên cạnh đó, pháp luật Tố tụng hình sự của Lào còn quy định quyền và nhiệm vụ của chức danh trợ lý công tố như Điều 37 Luật Viện kiểm sát Lào
2009 :
“1 Tham gia và ghi lời khai của người tham gia tố tụng vụ án,
2 Giúp nghiên cứu, tổng kết hồ sở vụ án và dự thảo bản cáo trạng của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân,
3 Ghi số vụ án vào sổ, liệt kê vụ án và lập danh mục tài liệu, lưu giữ
và lập bảng thống kê hồ sơ vụ án,
4 Lập danh mục và kiểm sát việc lưu giữ của công án hình sự,
5 Lập danh mục và thống kê bị can và phạm nhân,
6 Làm giấy triệu tập,
7 Đã tham gia khóa đào tạo và nâng cao trình nghiệp vụ kiểm sát,
8 Thực hành quyền và nhiệm vụ khác theo luật định”
Nghĩa là trợ lý công tố viên chỉ là người giúp việc cho công tố viên mà không có chức danh tố tụng Thẩm quyền tố tụng trong giai đoạn điều tra được pháp luật hiến định giao cho công tố viên và công tố viên phải chịu trách nhiệm
về quyết định của mình, còn Trợ lý công tố không phải là chức danh tố tụng nên không có thẩm quyền trong hoạt động điều tra Mặt khác, Hiến pháp và Luật TTHS Lào không có quy định chức danh trợ lý công tố là không hợp lý Hiện nay, ở Lào có hai quan điểm về vấn đề này, Thứ nhất, việc quy định trợ lý công
Trang 34tố trong Luật Viện kiểm sát nhân dân Lào 2009 là vi hiến Thứ hai, bổ sung chức danh Trợ lý công tố có quyền hạn và nhiệm vụ làm những việc trước đây thuộc quyền hạn và nhiệm vụ của một công tố viên (Luật Viện kiểm sát nhân dân Lào 2004 gọi là điều tra viên) sẽ làm tăng biên chế và gây tốn kém cho ngân sách nhà nước và không có hiệu quả Tuy nhiên theo tác giả, các nhà làm luật có
ý là do pháp luật Lào quy định cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Tối cao không có chức danh điều tra viên như điều tra viên trong cơ quan điều tra của
cơ quan công an mà chỉ có chức danh công tố viên vừa thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp lại vừa đảm nhận công tác điều tra của cơ quan điều tra VKS Lào mà Luật đã quy định sẽ không đảm bảo được hiệu quả công tác Việc chưa được quy định trong Hiến pháp và
Bộ Luật tố tụng hình sự chỉ là mặt kỹ thuật pháp lý, trong thời gian tới khi mà Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào sửa đổi và bổ sung hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự
2.1.2 Pháp luật Lào quy định về hoạt động của cơ quan điều tra VKSND
a Cơ sở pháp lý về nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Điều 22, Bộ luật Tố tụng hình sự Lào năm
2009 về các tổ chức tố tụng hình sự quy định bao gồm:
“1 Các tổ chức điều tra;
2 Các tổ chức điều tra của Viện kiểm sát ;
3 Các tổ chức điều tra của Toà án”
Theo Điều 23, Bộ luật tố tụng hình sự Lào năm 2009 quy định về các tổ chức tố tụng hình sự có quyền hạn và nhiệm vụ tổ chức điều tra là:
“1 Các tổ chức điều tra của cảnh sát;
2 Tổ chức điều tra của sĩ quan quân đội;
3 Các tổ chức điều tra của công chức hải quan;
Trang 354 Các tổ chức điều tra các cán bộ lâm nghiệp;
5 Các tổ chức điều tra của Chính phủ theo quy định của pháp luật;
6 Các tổ chức điều tra của Viện kiểm sát và toà án”
Và tại Điều 11, Luật Viện kiểm sát nhân dân Lào năm 2009 thì “Các tổ chức điều tra của Viện kiểm sát nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào là các Văn phòng công tố công cộng ở Viện kiểm sát địa phương và Uỷ ban công tố ở Viện kiểm sát tối cao…” và Điều 16 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự Lào năm 2009 và tại khoản 1 Điều 25, Luật Viện Kiểm sát nhân dân của Cộng hoà
dân chủ nhân dân Lào năm 2009: “Uỷ ban công tố có trách nhiệm xem xét đơn
khiếu nại tố cáo của cơ quan tổ chức nhà nước, Mặt trận yêu nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và công dân theo luật định; tiến hành đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật nhằm hạn chế và loại trừ những điều kiện nguyên nhân phát sinh tội phạm”và khoản 2 Điều 25: “Văn phòng công tố công cộng có trách nhiệm xem xét đơn khiếu nại tố cáo của cơ quan tổ chức nhà nước, Mặt trận yêu nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và công dân theo luật định; tiến hành đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật nhằm hạn chế và loại trừ những điều kiện nguyên nhân phát sinh tội phạm”
b Đặc điểm về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Lào
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một trong 6 tổ chức điều tra trong hệ thống các cơ quan điều tra của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Ngoài những đặc điểm chung của các cơ quan điều tra khác, thì nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Lào có những đặc điểm riêng như sau:
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao gắn liền và phối hợp việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm soát việc tuân theo pháp luật, chịu sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
Trang 36- Biện pháp điều tra chủ yếu bằng hình thức điều tra công khai (điều tra theo tố tụng hình sự), trong một số trường hợp (điều tra tội phạm liên quan đến tội phản quốc (Điều 51), tội ác chiến tranh (Điều 52), Gián điệp (Điều 53), Tiêu hủy tài sản công cộng với ý định làm suy yếu Nhà nước và nền kinh tế quốc gia
và phát hành hóa chất độc hại và vi rút (Điều 56), Tiêu hủy tài sản của các tổ chức nhà nước hoặc xã hội sử dụng vị trí của một người để làm suy yếu Nhà nước và làm suy yếu nền kinh tế (Điều 57), Gây chấn động với ý định phá hoại trật tự xã hội (Điều 61), Các cuộc tấn công vào nơi giam giữ và trường giáo dưỡng (Điều 62), Cướp tài sản thuộc về Nhà nước, của tập thể (Điều 98), tội hiếp dâm (Điều 119), … được phép sử dụng các biện pháp trinh sát nghiệp vụ trong sự phối hợp với các cơ quan điều tra khác khi có sự đồng ý của ông Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Pháp lệnh Điều tra vụ án hình sự Lào năm 2009)
- Đối tượng phạm tội là những người trong các cơ quan tư pháp, các tổ chức nhà nước, các tổ chức kinh tế, và công dân
- Lĩnh vực hoạt động của tội phạm là các hoạt động tư pháp và hoạt động hành chính – kinh tế – xã hội
c Nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
- Thu thập, tiếp nhận, kiểm tra xác minh tố giác tin báo về tội phạm của các của cơ quan tổ chức nhà nước, Mặt trận yêu nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và công dân theo luật định và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền
- Phân loại xử lý tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết
- Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra, lập hồ sơ vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự để làm rõ sự thật của vụ án một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện
Trang 37- Kết luận điều tra, đề nghị truy tố bị can, tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra,
áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ, thay đổi các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
d Về thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban công tố và các văn phòng công tố công cộng nước CHDCND Lào không được quy định riêng trong Luật TTHS Lào năm 2009 mà được quy định chung tại Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự về nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức điều tra khác trong hệ thống pháp luật Lào:
“…Tổ chức điều tra có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
1 Tiếp nhận và khiếu nại liên quan đến hành vi phạm tội;
2 Báo cáo ngay cho các văn phòng công tố công cộng liên quan đến
tội phạm;
3 Ra lệnh mở cuộc điều tra, và gửi một bản sao của lệnh khởi tố cho các công tố viên ngay lập tức;
4 Tiến hành điều tra khi có dấu hiệu nghi ngờ tội phạm;
5 Sử dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật, cũng như để tiến hành điều tra bất kỳ nghi ngờ người đã bị bắt giữ và phải báo cáo bằng văn bản đến các công tố viên công cộng;
6 Để kháng cáo đối với các đơn khởi tố của các công tố viên công cộng cấp dưới với cấp cao hơn các công tố viên công cộng”;
Tại Khoản 1, khoản 2 Điều 25, Luật Viện Kiểm sát Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào năm 2009 quy định Uỷ ban công tố và các văn phòng công tố công cộng có thẩm quyền xem xét đơn khiếu nại tố cáo của cơ quan tổ chức nhà nước, Mặt trận yếu nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và công dân theo luật định; tiến hành đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm
Trang 38pháp luật nhằm hạn chế và loại trừ những điều kiện nguyên nhân phát sinh tội phạm
Ở Điều 5 Luật Viện kiểm sát Lào năm 2009: “Điều 5: nguyên tắc về công tác của viện kiểm sát
Viện kiểm sát hoạt động theo những nguyên tắc sau:
1 Đảm bảo hiệu lực của pháp luật
2 Đảm bảo việc kiểm sát hoạt động tư pháp toàn diện ,
3 Đảm bảo chính xác, công bằng, kịp thời và công khai theo luật định
4 Đảm bảo tính thống nhất theo ngành dọc và hệ thống viện trưởng
5 Đảm bảo cho người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật và không làm oan người vô tội;
6 Đảm bảo việc phối hợp với các cơ quan hữu quan trong thực hành công vụ”
Căn cứ quy định của pháp luật hiện hành thì cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại chương IX Bộ luật Hình sự Lào năm 1990 sửa đổi bổ sung năm
2005 từ Điều 158 đến Điều 173 về các tội vi phạm hành chính và những tội phạm đó có nguồn gốc phát sinh hoặc có liên quan đến việc thi hành nhiệm vụ của các cán bộ, các cơ quan tư pháp như: cán bộ, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, chấp hành viên và những người tiến hành tố tụng khác thuộc các ngành: công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân, thi hành án các cấp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc tiến hành tố tụng đối với các vụ
án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động… các tội vi phạm về trách nhiệm công chức tại Chương VIII Bộ luật hình sự 1990 sửa đổi bổ sung năm
2005 từ Điều 153 đến Điều 156 gồm các tội về hối lộ và tham nhũng, lợi dụng chức vụ quyền hạn, sơ xuất trong thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn… và tội vi
Trang 39phạm kinh tế được quy định tại chương VII Bộ luật hình sự 1990 sửa đổi bổ sung năm 2005 từ Điều 139 đến Điều 152 và Điều 174 về tham nhũng được quy định tại Chương 10 về phần các tội phạm
Tuy nhiên do không có quy định cụ thể về tiến hành đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật Mà theo quy định tại Điều 6 Luật Hình sự Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 2009 về định nghĩa tội phạm:
“Mọi hành vi được coi là nguy hiểm cho hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, đối với tài sản của nhà nước, các tập thể cá nhân, cho tính mạng, sức khoẻ, các quyền và tự do của người dân, cho sự ổn định của quốc gia và trật tự xã hội như đã đề cập trọng bộ luật hình sự sẽ được coi là tội phạm Mọi hành vi khác không được coi là tội phạm.” Như vậy, mặc nhiên được hiểu là mọi hành vi được coi là nguy hiểm cho hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, đối với tài sản nhà nước, các tập thể cá nhân, cho tính mạng, sức khoẻ, các quyền và tự do của người dân, cho sự ổn định của quốc gia và trật tự xã hội Lào đều thuộc thẩm quyền của Uỷ ban công tố Theo Điều 23 Luật Tố tụng hình sự 2009 của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào quy định các tổ chức tố tụng hình sự có quyền và nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự là : các tổ chức điều tra của cảnh sát; tổ chức điều tra của sĩ quan quân đội; các tổ chức điều tra của công chức hải quan; các tổ chức điều tra các cán bộ lâm nghiệp; các tổ chức điều tra của Viện kiểm sát; các tổ chức điều tra của chính phủ theo quy định của pháp luật Do đó dễ dẫn tới sự chồng chéo xung đột giữa các cơ quan điều tra với nhau và giữa cơ quan điều tra của Viện kiểm sát với các cơ quan điều tra khác Theo tác giả, thì Viện kiểm sát là “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan kiểm sát của Nhà nước, có chức năng kiểm sát và tuân thủ việc thi hành pháp luật của các Bộ, cơ quan, mặt trận yêu nước , tổ chức xã hội, cơ quan chính quyền địa phương, doanh nghiệp, công dân để đảm bảo tính đúng đắn và thống nhất và truy tố bị can lên toà án theo luật định” (Điều 9, Luật Viện kiểm sát Lào 2009) nên quy định Uỷ ban công tố chỉ giữ quyền điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính, tổ chức kinh tế, xã hội ,
Trang 40còn các loại tội phạm còn lại Viện kiểm sát nên chỉ thực hiện quyền công tố để tránh xung đột với các cơ quan điều tra của các ngành khác
2.2 Pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
2.2.1 Pháp luật Việt Nam quy định về tổ chức của cơ quan điều tra VKSND
Theo Quyết định số 66/2005/QĐ-VKSTC-C6 ngày 13/4/2005 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trong đó, quy định tổ chức bộ máy cơ quan điều tra gồm ba phòng:
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã đổi tên cục điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thành cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các phòng nghiệp vụ vẫn giữ nguyên theo Quy chế 1169