Để đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới, cùng với Luật kinh doanh Lào, Luật Phá sản Lào năm 1994 ra đời đã thể hiện một cách nhìn mới của những nhà lập pháp Lào về thủ
Trang 1SOULISACK THEPPHAVONG
HOÀN THIỆN LUẬT PHÁ SẢN LÀO NĂM 1994
VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TỪ KINH
NGHIỆM CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỒNG NGỌC BA
HÀ NỘI - NĂM 2016
Trang 2Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người hướng dẫn khoa học TS Đồng Ngọc Ba, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo
và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
SOULISACK THEPPHAVONG
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Mọi tài liệu, số liệu trong luận văn là khách quan, trung thực Những kết quả, những đánh giá trong luận văn chưa được ai công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào
Trang 4CHDCND : Cộng hoà dân chủ nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 4
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn 4
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn 4
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
8 Bố cục (các chương) của luận văn 5
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN, PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN 6
1.1 Phá sản và tác động của phá sản đến hoạt động của doanh nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm phá sản 6
1.1.2 Những tác động của phá sản đến hoạt động của doanh nghiệp 8
1.2 Thủ tục phục hồi hoạt động doanh nghiệp và sự cần thiết phải phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 12
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục phục hồi hoạt động doanh nghiệp 12
1.2.2 Sự cần thiết phải phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 21
1.3 Quy định về phục hồi hoạt động của doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới và sự hình thành và phát triển pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp ở Lào 24
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 24
1.3.2 Sự hình thành và phát triển pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp ở Lào 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
Trang 6TRẠNG PHÁ SẢN CỦA LÀO 35
2.1 Thực trạng pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Lào 35
2.1.1 Đối tượng áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động doanh nghiệp 35
2.1.2 Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 36
2.1.3 Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh 41
2.1.4 Kết thúc thủ tục phục hồi doanh nghiệp và hệ quả pháp lý 51
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật Lào về thủ tục phục hồi doanh nghiệp 53
2.2.1 Những khó khăn trong việc thi hành các quy định của Luật Phá sản Lào năm 1994 về thủ tục phục hồi doanh nghiệp 53
2.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62
CHƯƠNG 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN CỦA LÀO 64
3.1 Các quy định và bài học kinh nghiệm của Luật phá sản Việt Nam năm 2014 về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 64
3.1.1 Luật phá sản Việt Nam 2014 quy định trình tự thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán một cách khoa học, chi tiết, cụ thể, chặt chẽ 65
3.1.2 Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 đã quy định một cách rõ ràng vai trò trách nhiệm của từng chủ thể có liên quan trong quá trình phục hồi hoạt động kinh doanh 66
3.1.3 Luật phá sản Việt Nam năm 2014 quy định một cách cụ thể các vấn đề liên quan đến phương án phục hồi doanh nghiệp 69
3.1.4 Luật phá sản Việt Nam năm 2014 quy định rõ các trường hợp đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 72
Trang 73.2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật Lào về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trên cơ sở kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam 73 3.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trên cơ sở kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam 74 3.2.3 Giải pháp thực thi hiệu quả pháp luật Lào về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 82
KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của cứu đề tài
Phá sản là một hiện tượng kinh tế - xã hội, một thuộc tính không thể thiếu của nền kinh tế thị trường Xuất phát từ những lý do khác nhau, doanh nghiệp có thể lâm vào tình trạng không thanh toán được các khoản nợ đến hạn và có nguy cơ
bị phá sản, khi đó, doanh nghiệp có nguy cơ bị đào thải ra khỏi nền kinh tế thị trường để nhường chổ cho các doanh nghiệp mới hoạt động có hiệu quả hơn Khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản sẽ kéo theo những hậu quả nhất định như sự xáo trộn sản xuất, quyền lợi của các chủ nợ, giải quyết vấn đề về lao động, tình hình trật
tự an ninh tại địa phương…tất cả những điều đó làm cho nền kinh tế nói riêng và toàn xã hội nói chung phải gánh chịu
Doanh nghiệp bị phá sản sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực cho xã hội Để hạn chế và giảm thiểu các tác động đó, pháp luật về phá sản đã được ban hành với nhiều mục tiêu, trong đó có mục tiêu phục hồi hoạt động của doanh nghiệp Nhưng phục hồi hoạt động của doanh nghiệp như thế nào? Luật pháp của các nước khác nhau quy định không hoàn toàn giống nhau về vấn đề này
Ở nước CHDCND Lào, do điều kiện kinh tế - xã hội và hoàn cảnh lịch sử, trước năm 1975, ở Lào không có một văn bản pháp luật riêng dành cho phá sản Sau khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc cơ chế kinh tế, thực hiện đường lối phát triển kinhh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì Nhà nước Lào mới quan tâm nghiên cứu về các loại hình doanh nghiệp Quá trình này đã được bắt đầu từ Đại hội V (1991), và nhất là sau khi ban hành Hiến pháp 1991 Tình hình kinh tế - xã hội đã đặt ra cho khoa học kinh tế cũng như khoa học pháp lý của Lào phải xem xét tới việc thành lập và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp Để đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới, cùng với Luật kinh doanh Lào, Luật Phá sản Lào năm 1994 ra đời đã thể hiện một cách nhìn mới của những nhà lập pháp Lào về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khẳng định đây là một thủ tục độc lập và có vị trí quan trọng trong Luật Phá sản Tuy nhiên, những qui định này, ở một mức độ nào đó cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa tạo được niềm tin cho các chủ thể liên quan Chính vì thế, những quy định về thủ tục phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp chưa được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn Đây chính là những thiệt thòi rất lớn đối với các doanh nghiệp lâm vào tình trạng không thanh toán được các khoản nợ đến hạn
Trang 9Việc nghiên cứu thấu đáo các quy định của Luật Phá sản Lào năm 1994 về thủ tục phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, tìm ra những hạn chế của các quy định để giúp cho các qui định này, trên cơ sở học tập kinh nghiệm pháp luật phá sản của Việt Nam, có thể vận hành tốt hơn trong thực tiễn có ý nghĩa rất lớn trong việc phục hồi các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản Tạo cơ hội cho doanh nghiệp có thể hoạt động bình thường trở lại sau khi đã gặp khó khăn về tài chính
Đây chính là lý do tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện Luật Phá sản Lào năm 1994 về
thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ bài học kinh nghiệm của Việt Nam” làm đề tài Luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề phá sản doanh nghiệp là một vấn đề khá phức tạp và mang tính thời
sự Chính vì vậy, từ khi có các quy định về phá sản đã có nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam như: Chuyên đề “Thủ tục
phục hồi trong tố tụng phá sản”, của Ths Bùi Xuân Hải viết năm 2004 trong Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Một số định hướng hoàn thiện pháp luật
phá sản doanh nghiệp”, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh; Đề tài “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam”
do Bộ Tư pháp phối hợp với Chương trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Dự
án GTZ của Cộng hoà Liên bang Đức) và ông Lê Duy Bình tiến hành; chuyên đề
“Tìm hiểu các quy định của Luật Phá sản năm 2004 về thủ tục phục hồi, thủ tục thanh lý, tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản và một số kiến nghị”của tác
giả Bùi Thị Dung Huyền viết trong chuyên đề Tìm hiểu pháp luật phá sản do Viện Khoa học xét xử chủ biên, năm 2010
Bên cạnh những công trình nghiên cứu nêu trên, còn có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ của các học viên cao học đã tập trung nghiên cứu về các vấn đề của pháp luật
phá sản như:“Vấn đề điều hòa lợi ích của các bên trong pháp luật phá sản Việt
Nam”, của Nguyễn Hữu Kha, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí
Minh, năm 2010; “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong việc Phá sản”
của Trần Thị Thúy, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, năm
2010; “Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo Luật Phá sản 2004” của
Trương Kim Phụng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, năm
2013 … Bên cạnh đó, ở nước CHDCND Lào, cũng có khá nhiều công trình viết về Luật phá sản nói chung và thủ tục phục hồi doanh nghiệp nói riêng
Trang 10Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều mang lại những giá trị về mặt nghiên cứu khoa học, các kiến nghị, đề xuất đã đáp ứng được phần nào những nhu cầu của thực tiễn Tuy nhiên, vấn đề về phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các tác giả (ngay cả du học sinh Lào) cũng chỉ đề cập dưới góc độ pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật Lào (đối với học viên tại Lào), mà chưa có cái nhìn sâu sắc về thủ tục phục hồi doanh nghiệp theo pháp luật Lào Chính vì thế, tác giả đã
chọn đề tài: “Hoàn thiện Luật Phá sản Lào năm 1994 về thủ tục phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp từ bài học kinh nghiệm của Việt Nam” với hy vọng
góp phần làm sáng rõ thêm về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn đối với thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở Lào Giúp cho người nghiên cứu thấy được tầm quan trọng của thủ tục này, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng tại Lào nói chung
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật về phá sản và những quy định
về phục hồi hoạt động của doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành của Lào Đối tượng nghiên cứu của đề tài còn bao gồm cả những vấn đề khó khăn phát sinh khi thực thi pháp luật phá sản của Lào nói chung và thực thi các quy định về phục hồi hoạt động của doanh nghiệp theo Luật Phá sản Lào năm 1994 nói riêng
* Phạm vi nghiên cứu của Đề tài:
Về mặt không gian: Luận văn tập trung chỉ nghiên cứu vào những quy định
về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh trong Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật phá sản Việt Nam năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đang có hiệu lực
Về mặt nội dung: khi nghiên cứu những quy định của pháp luật phá sản, đề
tài không phân tích mọi nội dung của luật phá sản mà đặt trong tâm phân tích những quy định về phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật phá sản Doanh nghiệp năm 1994 của Lào và những quy định hiện hành trong pháp luật phá sản của Việt Nam hiện hành Việc phân tích tình hình thi hành các quy định về phục hồi doanh nghiệp theo Luật phá sản Lào năm 1994 cũng là nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 114 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản; chứng minh vai trò không thể thiếu của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng không thanh toán được các khoản nợ đến hạn; phân tích thực trạng của các quy định về phục hồi hoạt động kinh doanh trong pháp luật hiện hành
để tìm ra những mặt còn hạn chế, bất cập; đồng thời, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng thủ tục phục hồi trên thực tế ở Lào Và trên cơ sở những bài học kinh nghiệm của Luật phá sản Việt Nam 2014, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về thủ tục phục hồi của pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành, nâng cao khả năng áp dụng thủ tục này trên thực tế
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nội dung luận văn trả lời những câu hỏi chính sau đây:
(1) Khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết phải phục hội hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản?
(2) Thực trạng pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật phá sản Lào năm 1992 trên các khía cạnh: đối tượng áp dụng, điều kiện áp dụng, phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, kết thúc thủ tục phục hồi doanh nghiệp?
(3) Thực tiễn thi hành, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong thi hành pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp?
(4) Bài học kinh nghiệm Luật phá sản Việt Nam năm 2014 về thủ tục phục hồi doanh nghiệp? Từ đó, đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của nước CHDCND Lào?
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Để thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu tổng hợp dưới đây đã được
Trang 12- Phương pháp dẫn chiếu luậtđểphân tích, đối chiếu và so sánh;
- Phương pháp so sánh luật học để làm rõ những điểm khác biệt, những điểm
khuyết và bất cập trong luật phá sản hiện hành của Lào
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Nội dung luận văn có những đóng góp mới như sau:
- Luận văn là công trình đầu tiên của du học người Lào viết về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo quy định của pháp luật Lào;
- Luận văn đưa ra cái nhìn tổng quát nhất, sâu sắc nhất những quy định của Luật phá sản Lào năm 1994 về thủ tục phục hồi doanh nghiệp;
- Luận văn đã rút ra những bài học kinh nghiệm từ việc phân tích các quy định hiện hành của Luật phá sản Việt Nam 2014 về thủ tục phục hồi doanh nghiệp
để từ đó đưa ra các kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật phá sản Lào
Những nội dung của luận văn có đóng góp trong việc dạy học, nghiên cứu cũng như áp dụng thực tiễn trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi các quy định của Luật phá sản Lào nói chung, các quy định về thủ tục phục hồi doanh nghiệp Lào nói riêng cho phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp Lào được sửa đổi, bổ sung năm 2014, cũng như đáp ứng yêu cầu kinh tế- xã hội thời kỳ đổi mới tại Lào
8 Bố cục (các chương) của luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về phá sản, pháp luật phá sản và sự cần thiết phải
phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thủ tục
phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Lào
Chương 3: Bài học kinh nghiệm của Việt Nam và một số giải pháp hoàn
thiện pháp luật, thực thi pháp luật về thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Lào
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN, PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
Sự phá sản (tiếng Anh là Bankruptcy) đã xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử
nhân loại và được coi là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường1 Nó bắt nguồn từ tiếng La tinh bancus (nghĩa là cái bàn hay ghế ngồi) và
ruptus (nghĩa là bị gãy), còn trong Pháp là Banqueroute có nghĩa là chiếc ghế bị
gãy Trên cơ sở từ một tập quán thương mại từ thời La Mã cổ đại, các thương gia
thường hợp nhau lại thành đại hội thương gia, người nào không trả được nợ, thường
bị bắt làm nô lệ, mất quyền tham gia các đại hội thương gia và đồng thời chiếc ghế
ngồi của người đó cũng bị đem ra khỏi hội trường “Chiếc ghế bị gãy” từ đó là hình
ảnh tượng trưng cho sự đỗ vỡ nợ hay mất khả năng thanh toán nợ của một thương nhân2 Theo Từ điển tiếng Việt, phá sản là “lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì,
và thường là vở nợ, do kinh doanh bị thua lỗ thất bại”3 Từ điển Luật học định
nghĩa phá sản là “tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) mất khả năng thanh
điểm cơ bản: thứ nhất, con nợ đã mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn;
1
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, NXB Hồng Đức
– Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.412
Trang 14thứ hai, thủ tục giải quyết phải được cơ quan có thẩm quyền tiến hành (thường là
Tòa án)
Phá sản là một khái niệm được sử dụng để chỉ tình trạng làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả của một thương gia, một nhà buôn (theo cách quan niệm truyền thống) và của công ty, của doanh nghiệp (theo quan niệm hiện nay)
Về mặt ngôn ngữ, phá sản hay bị phá sản là thuật ngữ được dùng để chỉ sự chấm dứt hoạt động kinh doanh do làm ăn thua lỗ đi kèm với thanh lý tài sản và nghĩa vụ trả nợ của một chủ thể cụ thể trong nền kinh tế Nó được đánh dấu bởi việc chủ thể đó không có khả năng thanh toán cho các chủ nợ những khoản nợ mà người này đã và đang vay
Về mặt kinh tế, phá sản là khái niệm được dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi (giữa tài sản có và tài sản nợ) của một doanh nghiệp mà điều nhận thấy rõ nhất là doanh nghiệp này lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán những khoản nợ đến hạn.Tình trạng mất khả năng thanh toán này không phải là tình trạng nhất thời, không phải chỉ mất khả năng thanh toán đối với một chủ nợ mà ngược lại, mất khả năng thanh toán đồng loạt đối vớitất cả các chủ nợ5
Về mặt pháp luật, phá sản là một chế định vừa liên quan đến nghĩa vụ, vừa liên quan đến quyền của doanh nghiệp, đặc biệt là quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và được luật pháp bảo vệ Nghĩa là doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh thì cũng có nghĩa vụ thực hiện các quy định liên quan đến mở thủ tục phá sản Không chỉ có nghĩa vụ, doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán có quyền được pháp luật bảo vệ bằng cách đưa ra các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, muốn được pháp luật bảo vệ thì doanh nghiệp gặp thua lỗ trong kinh doanh, phải tuân theo những quy định liên quan đếnphá sản Vì vậy, dưới góc độ pháp luật, phá sản không chỉ là một khái niệm, một thuật ngữ mà là một thủ tục pháp lý gồm nhiều bước, nhiều quy trình, liên quan đến chủ nợ, con nợ, đến Tòa án, đến tổ quản lý, thanh lý tài sản và trong nhiều trường hợp, liên quan đến cả chính sách của Nhà nước với hàng hoạt quy định, quy tắc hết sức phức tạp
5
Công trình dự thi giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2009, “Phục hồi hoạt động của doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo luật của Pháp và những vấn đề đặt ra đối với pháp luật phá sản của Việt Nam”, Nhóm ngành XH2b, tr 7
Trang 15Về mặt xã hội, phá sản là một hiện tượng kinh tế - xã hội có nhiều đặc điểm, chi phối nhiều mối quan hệ xã hội, liên quan đến lợi ích của nhiều người Vì vậy, cần phải tìm hiểu đặc điểm của phá sản để xem xét mọi góc độ của nó
1.1.2 Những tác động của phá sản đến hoạt động của doanh nghiệp
Phá sản, như đã phân tích, là hiện tượng gắn liền với sự làm ăn kém hiệu quả của doanh nghiệp.Vì vậy, phá sản có những tác động nhất định đến hoạt động của doanh nghiệp Những tác động này vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Những tác động đó là:
1.1.2.1 Tác động tích cực
Trên khía cạnh kinh tế - xã hội, phá sản là quá trình thanh lọc các công ty làm ăn thua lỗ Bởi vậy nó cho phép xã hội tổ chức lại nguồn lực kinh tế theo hướng ngày càng hiệu quả hơn Có thể nói các doanh nghiệp bị phá sản là những doanh nghiệp yếu kém không đủ sức đứng vững trên thị trường Nếu các doanh nghiệp này tiếp tục lay lắt tồn tại, một mặt sẽ chiếm dụng một phần thị trường của các doanh nghiệp khác, mặt khác, người lao động mà đáng ra phải được đào tạo và sử dụng đúng cách thì lại không được giải phóng dẫn tới nghèo đói, thất nghiệp, tay nghề giảm Cơ hội về mặt bằng, máy móc, các phương tiện sản xuất và cung ứng dịch vụ cũng như cơ hội về các yếu tố đầu vào khác không được các công ty làm ăn tốt tận dụng Nếu cứ để tình trạng trì trệ như vậy tiếp tục diễn ra thì nền kinh tế sẽ như một
cơ thể đau ốm; các nguồn lực không được phát huy tối đa và dần trở nên tụt hậu Điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội mà ảnh hưởng tiêu cực đến ngay
cả doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp chủ nợ hay bản thân doanh nghiệp bị phá sản
Có thể lấy ví dụ như một số doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam ở thời kỳ bao cấp Nền kinh tế chỉ đạo tập trung, bao cấp là một nền kinh tế mà ở đó, các doanh nghiệp tồn tại dựa vào ý muốn chủ quan của nhà nước Phá sản và các quy định của pháp luật về phá sản không có ý nghĩa gì trong một nền kinh tế như vậy bởi nếu các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nhà nước sẽ có các biện pháp hỗ trợ, bù lỗ Kết quả là chính sự thiếu vắng những công cụ mạnh tay để gạt bỏ những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả lại chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ỷ lại, thiếu động cơ sáng tạo để đổi mới và vươn lên của chính các doanh nghiệp này, từ đó, dẫn đến sự trì trệ và tụt hậu của cả nền kinh tế trong những năm đầu sau giải phóng Phá sản và những quy định về phá sản do vậy, đóng vai trò như phương thuốc giúp cho toàn bộ cơ thể là nền kinh tế khỏe mạnh và vận hành trơn tru bằng cách loại bỏ
Trang 16tất cả cáctế bào đã chết, tức là các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, hoặc tìm cách tái tạo chúng
Nếu đứng từ góc độ của chủ nợ để nhìn nhận về tác động tích cực của phá sản và pháp luật phá sản, thì bên cạnh những yếu tố xã hội như đã đề cập ở phần trên, chúng ta còn thấy nhiều lợi ích thiết thực khác Phá sản cũng đồng nghĩa với việc con nợ phải thanh lý tài sản để trả nợ Vì vậy, đứng ở góc độ của người cho vay, phá sản giúp họ có thể thu hồi lượng vốn tồn đọng từ quá lâu ở chỗ con nợ Qua đó, có thể chọn một khu vực đầu tư được đánh giá là hiệu quả để đầu tư mới Như vậy, phá sản không những góp phần đẩy nhanh quá trình lưu chuyển vốn của các doanh nghiệp có vốn - các doanh nghiệp chủ nợ - đang tồn đọng ở các doanh nghiệp bị phá sản mà còn giúp cho lượng vốn này có thể được sử dụng hiệu quả hơn nhờ những kinh nghiệm đánh giá hiệu quả đầu tư cũng như kinh nghiệm dự báo, dự đoán tích lũy được Như vậy có thể thấy phá sản và những quyđịnhvềphá sản sẽ trở thành một công cụ hữu ích và hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư
Từ góc độ của con nợ để nhìn nhận về tác động tích cực của phá sản, có thể thấy rằng, mặc dù không một doanh nghiệp nào thích phá sản nhưng phá sản thực
sự là một lối thoát cho các doanh nghiệp này Khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì việc kéo dài sự tồn tại lay lắt của doanh nghiệp là không hiệu quả bởi vì kết cục của việc kéo dài là những nguồn chi phí bị đội lên, những khoản nợ không thể thanh toán, những khoản tiền không thể chi trả, sự quẫn bách không lối thoát và đặc biệt
là lòng tự hào nghề nghiệp có thể đẩy các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp này tới các hành vi tiêu cực như lừa đảo, gian lậnhoặc thậm chí có thể tự vẫn Phá sản sẽ
là một cánh cửa mở, là cứu cánh cho doanh nghiệp trong tình thế như vậy Thông qua việc mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp có thể thoát hoàn toàn khỏi tình trạng nợ nần chồng chất Phá sản và các quy định về phá sản trong trường hợp này đóng vai trò là một công cụ bảo vệ hoàn hảo cho con nợ bởi sau khi thủ tục thanh lý kết thúc, mọi khoản nợ sẽ biến mất và con nợ thật sự được tự do Tất nhiên, đứng ở vị trí của nhà quản lý doanh nghiệp bị phá sản, cái giá phải trả là bị tước quyền làm giám đốc hoặc quyền quản lý một doanh nghiệp khác trong một khoảng thời gian nào đó Nhưng lợi ích đem lại còn lớn hơn nhiều: Bên cạnh sự giải phóng về tinh thần cho chủ doanh nghiệp, phá sản còn cho các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ cơ hội bắt đầu lại từ đầu thay vì tiếp tục lún sâu vào sai lầm và nợ nần ngày một tăng thêm
Trang 171.1.2.2 Tác động tiêu cực
Phá sản có thể đem lại nhiều lợi ích cho xã hội cũng như bản thân doanh nghiệp bị phá sản Song trên thực tế, các doanh nghiệp vẫn thường trốn tránh mở thủ tục phá sản Điều này được giải thích một phần bởi những tác động tiêu cực cả
về kinh tế - xã hội mà phá sản gây ra
Về mặt xã hội, phá sản một doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc sẽ có một bộ phận người lao động của doanh nghiệp đó không có việc làm, nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Mặc dù phá sản không phải là nguyên nhân giải thích toàn bộ
tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế nhưng nó vẫn là một trong những nguyên nhân trực tiếp và có ảnh hưởng nhanh nhất tới người lao động Có thể lấy ví dụ về vụ phá sản trong năm 2008 của Ngân hàng Lehman Brothers của Hoa Kỳ (thành lập năm 1850 bởi ba anh em Henry, Emanuel và Mayer Lehman - người Do Thái từ Đức di cư sang) Đây là ngân hàng lớn thứ 4 và là ngân hàng tư nhân lâu đời nhất của Hoa Kỳ với 158 năm tồn tại cho đến khi bị phá sản Lĩnh vực chính của Lehman Brothers làtín dụng tư nhân, buôn bán cổ phiếu, trái phiếu, nghiên cứu thị trường, quản lý đầu tư Ngày 15/ 9/2008, Lehman Brothers bị tuyên bố phá sản với khoản nợ 613
tỷ USD sau khi không có công ty nào chấp nhận mua lại Đây là vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ Lehman Brothers phá sản đã tác động tiêu cực đến xã hội Hoa Kỳ vì có đến 26.200 nhân viên bị mất việc chưa kể hàng loạt chủ nợ
và các dự án đầu tư khác cũng bị đổ bể6
Doanh nghiệp dừng hoạt động thì điều tất yếu là lao động của doanh nghiệp mất việc làm và nền kinh tế luôn đòi hỏi phải có thời gian mới có thể hấp thụ và giải quyết được tình trạng này Nghĩa là tình trạng thất nghiệp nảy sinh và trong một khoảng thời gian tìm việc nhất định, cuộc sống của người lao động cũng như gia đình của họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn Đối với bất kỳ nền kinh tế nào, thất nghiệp là một mối lo lắng thường trực không chỉ của các nhà quản trị doanh nghiệp mà còn của nhà nước, của toàn xã hội Thất nghiệp là bạn đường của nghèo đói, của bất bình đẳng và của các tệ nạn xã hội - những vấn đề nóng bỏng của tất cả các nền kinh tế - dù là nền kinh tế phát triển hay kém phát triển
6
Đan Hội (tổng hợp, 2008), “Lehman Brothers phá sản - cú sốc mới cho thị trường tài chính toàn cầu”, tại địa chỉ: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2008/1853/Lehman-Brothers-pha- san-cu-soc-moi-cho-thi-truong-tai.aspx , ngày truy cập 19/9/2008
Trang 18Về mặt kinh tế, phá sản gây ra nhiều tác động xấu đến sự phát triển ổn định của nền kinh tế Khi một doanh nghiệp bị phá sản thì doanh nghiệp khác là bạn hàng của doanh nghiệp cũng phải chịu ảnh hưởng theo kiểu dây chuyền - không bán được hàng, không cung cấp được sản phẩm (nếu doanh nghiệp bị phá sản trước đây mua sản phẩm của mình) hoặc không có nguyên vật liệu cho sản xuất (nếu doanh nghiệp bị phá sản là doanh nghiệp bán nguyên vật liệu cho họ) Một doanh nghiệp phá sản còn là tác nhân gây ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng, nhà đầu tư,
từ đó làm toàn bộ thị trường trở nên bất ổn Tác động đó sẽ càng trầm trọng nếu doanh nghiệp bị phá sản là một doanh nghiệp lớn Ví dụ, vụ phá sản của ngân hàng Lehman Brothers không chỉ khiến hàng ngàn người lao động mất việc mà nghiêm trọng hơn là tác động của nó tới thị trường chứng khoán toàn cầu Ngay sau khi có tin Lehman Brothers phá sản, các thị thường chứng khoán đều đồng loạt giảm giá: chỉ số Down Jones Mỹ sụt giảm 2,6%; chỉ số FTSE tại thị trường chứng khoán London giảm 3%; các thị trường chứng khoán Pháp và Đức cũng giảm hơn 3%; chỉ
số Nikkei của Nhật đã giảm tới 4,7%; đặc biệt là thị trường Nga đã phải tạm ngừng giao dịch sau khi chỉ số giảm tới 16% 7 Chỉ số chứng khoán giảm mạnh đe doạ đến
sự sụp đổ của hàng loạt các công ty khác và tiếp tục đẩy hàng nghìn người trên toàn thế giới vào tình trạng thất nghiệp
Từ góc độ của chủ nợ để quan sát, sự phá sản của con nợ mặc dù đồng nghĩa với việc chủ nợ có thể thu hồi được khoản nợ đó nhưng lại là một khoản tiền dưới giá trị Việc giảm giá trị của khoản nợ bị tồn đọng tại doanh nghiệp bị phá sản có thể được giải thích bởi hai nguyên nhân sau:
Thứ nhất, con nợ khi phá sản không chỉ mắc nợ với một chủ nợ Có nghĩa là
khi tình trạng không thể thanh toán nợ xảy ra, con nợ đã mắc nợ với rất nhiều chủ
nợ và buộc lòng phải thanh lý tài sản để trả nợ Khi đó, giá trị thu được từ tài sản bị chia cho nhiều chủ nợ dẫn đến một hiện trạng là khoản nợ phải thu lớn hơn các khoản nợ nhận về của các chủ nợ Hơn nữa, sau khi phá sản, việc phát mại thanh lý tài sản của doanh nghiệp bị phá sản là không dễ dàng Thường thì trong các phiên phát mại như vậy, tài sản được định giá rất rẻ so với giá trị thựcvà làm cho số tiền thu về dùng để trả nợ là rất thấp Ví dụ như trường hợp phá sản Công ty thủy sản
7
Đan Hội (tổng hợp, 2008), “Lehman Brothers phá sản - cú sốc mới cho thị trường tài chính toàn cầu”, tại địa chỉ: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2008/1853/Lehman-Brothers-pha- san-cu-soc-moi-cho-thi-truong-tai.aspx , ngày truy cập 19/9/2008
Trang 19khu vực II Đà Nẵng: Số nợ phải thu là 10.479.775.313VNĐ; số nợ phải trả 50.498.514.864 VNĐ; số nợ đã thu là 100.000.000đ đạt tỉ lệ 0,95%8 Nếu số nợ thu
về chỉ đạt tỉ lệ chưa đầy 1% so với số phải thu thì khoản tiền mà các doanh nghiệp chủ nợ phải chia nhau sẽ ít ỏi đến thế nào
Thứ hai, nguồn vốn đọng tại doanh nghiệp của con nợ không những không
sinh lời mà còn bị trượt giá Với tình hình biến đổi giá tiêu dùng như hiện nay, mặc
dù chính phủ đã có những biện pháp để kiềm chế lạm phát và ổn định môi trường đầu tư nhưng độ trượt giá qua thời gian làm cho đồng tiền mất giá là điều không thể tránh khỏi Hơn nữa, vốn cho vay còn tồn đọng tại doanh nghiệp phá sản không phải chỉ trong một khoảng thời gian ngắn là có thể lấy lại được Bao giờ cũng vậy, khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, điều đầu tiên mà con nợ nghĩ tới không phải là tuyên bố phá sản mà là làm sao đó để kéo dài “sự sống” cho mình Có nghĩa
là dù có trả được nợ hay không, con nợ vẫn sẽ bằng mọi giá trì hoãn thời gian, khất lần để tìm phương án trả hoặc trốn nợ Chưa kể, quá trình phá sản kéo dài cũng khiến cho chủ nợ càng bị thiệt hại về kinh tế nhiều hơn Theo kết quả công bố trong Doing Business Ranking mới nhất vào tháng 6/2015, Việt Nam xếp thứ 123 trên tổng số 189 nền kinh tế trên thế giới do có thời gian giải quyết phá sản rất dài với mức trung bình là 5 năm9 Thời gian giải quyết một vụ phá sản lâu như vậy, chưa kể khoảng thời gian trước khi mở thủ tục phá sản, thực sự là một khoản “thất thu” rất lớn đối với bất cứ một doanh nghiệp chủ nợ nào
1.2 Thủ tục phục hồi hoạt động doanh nghiệp và sự cần thiết phải phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục phục hồi hoạt động doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm thủ tục phục hồi hoạt động doanh nghiệp
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể sẽ không bị tuyên bố phá sản nếu được cứu vãn kịp thời, xu hướng pháp luật hiện đại ngày nay của các nước trên thế giới thường tạo ra cơ chế để phục hồi doanh nghiệp bằng cách quy định bên
cạnh thủ tục thanh lý là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
Xuất phát từ những điều kiện kinh tế, chính trị khác nhau, pháp luật phá sản của các nước thường không giống nhau Tuy nhiên, do tính chất nhạy cảm và mức
Doing Business Ranking, “Economy Rankings”, tại địa chỉ:
http://www.doingbusiness.org/EconomyRankings/ , ngày truy cập 30/6/2015
Trang 20độ ảnh hưởng rộng đến nhiều đối tượng khác nhau nên pháp luật phá sản của hầu hết các nước đều quy định hai thủ tục cơ bản (thủ tục phục hồi, thủ tục thanh lý) trong việc giải quyết phá sản doanh nghiệp Tùy vào từng thời điểm lịch sử khác nhau cũng như mục tiêu cần bảo vệ mà thủ tục nào sẽ được xem trọng và khuyến khích Bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của chủ nợ, pháp luật phá sản hiện đại thường hướng vào con nợ, tìm biện pháp nào đó để con nợ có thể đem lại lợi ích tốt nhất có thể được cho chủ nợ và cho toàn xã hội Đó là cho phép con nợ có thể áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
Luật phá sản Việt Nam năm 2014 sử dụng cụm từ “thủ tục phục hồi hoạt
động kinh doanh”, còn Luật phá sản Lào năm 1994 sử dụng cụm từ “thủ tục phục hồi chức năng doanh nghiệp” nhưng đều quy định rằng đây là thủ tục độc lập trong
tiến trình giải quyết yêu cầu phá sản, thủ tục này có thể được áp dụng hoặc không tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Mặc dù thủ tục phục hồi có nhiều ý nghĩa nhưng rất tiếc cho đến thời điểm hiện tại pháp luật về phá sản của Lào cũng như Việt Nam chưa có định nghĩa về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Chính vì thế có nhiều ý kiến khác nhau về khái
niệm này Nhìn chung các ý kiến đều cho rằng “thủ tục phục hồi là đem lại cho
người mắc nợ đang trong tình trạng khó khăn những điều kiện và cơ hội tiếp tục
nổi bật bản chất pháp lý của thủ tục phục hồi mà khái niệm chỉ nêu lên được tầm quan trọng của thủ tục phục hồi, tức là chỉ khái quát được mục đích và ý nghĩa của thủ tục phục hồi mà thôi Do đó, cần phải có một hướng dẫn cụ thể, rõ ràng từ phía Nhà nước để có một định nghĩa chung, thống nhất và mang tính khoa học
Theo từ điển tiếng Việt, “phục hồi” có nghĩa là khôi phục cái đã mất đi làm
cho nó có lại được hay trở lại được như trước Còn theo hướng dẫn lập pháp về Luật mất khả năng thanh toán (Legislative Guide on Insovency Law 2004) của Ủy ban pháp luật thương mại Liên hiệp Quốc (UNITRAL), khái niệm “Reoganization” (thủ tục tổ chức lại) được hiểu là quá trình mà theo đó tình trạng tài chính ổn định và khả năng thanh toán của con nợ có thể được khôi phục và doanh nghiệp vẫn tiếp tục hoạt động, trên cơ sở tiến hành các biện pháp khác nhau, bao gồm việc miễn nợ,
Trang 21hoãn nợ, bù trừ nghĩa vụ và chuyển nhượng doanh nghiệp (hoặc một phần doanh nghiệp)11 Hướng dẫn này giúp chúng ta hiểu được mục đích và các biện pháp tiến hành của thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp
Thông thường khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán,
để không bị tuyên bố phá sản mà thay vào đó có thể được phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp này phải thực hiện một thủ tục đặc biệt Nghiên cứu các quy định của pháp luật phá sản, ta thấy, thủ tục này cần phải được tiến hành thông qua thủ tục tư pháp tại Tòa án theo một trình tự nhất định dưới sự giám sát của các chủ thể có liên quan
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng dù là tên gọi nào đi chăng nữa
(“phục hồi”, “tổ chức lại”) thì chúng cũng khái quát lên một quá trình “sống lại” của doanh nghiệp bên bờ vực Như vậy, có thể hiểu rằng: thủ tục phục hồi hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chính là thủ tục khôi phục lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo thủ tục tư pháp đặc biệt, dưới
sự giám sát của Tòa án và các chủ nợ nhằm giúp doanh nghiệp có thể hoạt động kinh doanh trở lại bình thường và thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn 12
Từ khái niệm trên, có thể thấy thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có những đặc điểm như sau:
1.2.1.2 Đặc điểm của thủ tục phục hồi hoạt động doanh nghiệp
Doanh nghiệp có thể thực hiện việc phục hồi hoạt động kinh doanh một cách độc lập nằm ngoài thủ tục tố tụng tư pháp Khi nhận thấy tình trạng kinh doanh thua
lỗ, sản xuất bị đình trệ thì doanh nghiệp có thể tự mình tiến hành hoạt động phục hồi như cải tiến lại kỹ thuật sản xuất, cải tổ lại quá trình sản xuất, áp dụng các giải pháp tài chính… Quá trình này được tiến hành hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của
doanh nghiệp trên cơ sở tự chủ và tự chịu trách nhiệm Ví dụ: Cotec Star với 60%
vốn điều lệ thuộc sở hữu của Cotec Group, đã lỗ 1 tỉ đồng năm 2009 và 2,8 tỉ đồng năm 2010, sau đó công ty triệu tập đại hội cổ đông bất thường vào ngày 29.8 để công ty tuyên bố thua lỗ và phá sản Nhưng chỉ một tuần sau đó, ông chủ Cotec Group cho biết sẽ mua lại 30% cổ phần từ cổ đông nhỏ lẻ của Cotec Star và cùng
Trương Kim Phụng (2013), Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo Luật phá sản 2004, Luận văn thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, tr.10
Trang 22với một đối tác tư vấn của Pháp xây dựng thương hiệu Cotec Star thành Cotec
động phục hồi nằm ngoài thủ tục tư pháp
Còn thủ tục phục hồi nằm trong thủ tục tư pháp là thủ tục phục hồi được áp dụng trong khi tiến hành thủ tục phá sản doanh nghiệp, tức là khi doanh nghiệp đã
bị mở thủ tục phá sản Chủ thể ra quyết định phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản là Tòa án
Nhìn chung việc giải quyết vụ việc phá sản ở các nước trên thế giới đều được tiến hành theo trình tự tố tụng tư pháp mà ở đó chủ thể ra quyết định là Tòa án Thủ tục phục hồi nằm trong thủ tục phá sản có mối liên hệ mật thiết với thủ tục phá sản
Để tiến hành thủ tục giải quyết phá sản đòi hỏi phải tiến hành hai loại thủ tục cơ bản
sau: Thứ nhất, thủ tục nộp và thụ lý việc yêu cầu giải quyết phá sản Thứ hai, thủ
tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Như vậy, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, muốn áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, theo quy định phải tham gia ngay từ thủ tục đầu tiên, tức là thủ tục nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Doanh nghiệp có thể chủ động nộp đơn yêu cầu hoặc là đối tượng bị chủ thể khác yêu cầu mở thủ tục phá sản Cả hai trường hợp này doanh nghiệp đều là một chủ thể trong quan hệ pháp luật phát sinh từ thủ tục này, có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
Ở Lào, Luật Phá sản năm 1994 quy định phá sản gồm bốn thủ tục: thủ tục nộp đơn thỉnh cầu hoặc yêu cầu mở thủ tục phá sản; thủ tục xem xét một thỉnh cầu hoặc đơn yêu cầu phá sản; thủ tục phục hồi chức năng doanh nghiệp; thủ tục tuyên
bố doanh nghiệp phá sản và thanh lý tài sản, các khoản nợ; Giữa thủ tục tuyên bố phá sản và thanh lý với thủ tục phục hồi doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau Theo đó, Điều 35 Luật phá sản Lào năm 1994 quy định rằng:
“Điều 35 Tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong bất kỳ trường hợp sau đây:
1 Một chủ doanh nghiệp hoặc đại diện không có kế hoạch phục hồi
2 Một chủ doanh nghiệp hoặc đại diện là không thể thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Luật này
13
Nhịp cầu đầu tư, “Vì sao ít doanh nghiệp Việt Nam phá sản?”, tại địa chỉ:
http://vietstock.vn/PrintView.aspx?ArticleID=200920, ngày truy cập 14/09/2011
Trang 233 Hội nghị chủ nợ không chấp nhận các phương án phục hồi chức năng của doanh nghiệp
4 Thời gian cho kế hoạch phục hồi chức năng của doanh nghiệp đã hết hạn nhưng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tạo ra bất kỳ lợi nhuận và các chủ nợ đã yêu cầu xem xét phá sản
5 Các doanh nghiệp đã vi phạm nghiêm trọng quyết định của tòa án trong quá trình phục hồi chức năng của doanh nghiệp
6 Các chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn, hoặc đã chết và người thừa kế từ chối việc thừa kế hoặc không có người thừa kế trong thời gian xét xử [và] tuyên
bố phá sản của doanh nghiệp”
Như vậy, thủ tục phục hồi doanh nghiệp được coi là thủ tục bắt buộc là nghĩa
vụ của chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc đại diện14 Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phương án phục hồi nếu doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng kế hoạch tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp thì vẫn có thể bị đình chỉ để chuyển sang thủ tục thanh lý tài sản Hoặc trong trường hợp các chủ doanh nghiệp
đã bỏ trốn, hoặc đã chết và người thừa kế từ chối việc thừa kế hoặc không có người thừa kế trong thời gian xét xử và tuyên bố phá sản của doanh nghiệp thì có thể không áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp mà vẫn có thể tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản
Tóm lại, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp là một thủ tục tư pháp vì thủ tục phục hồi được Luật Phá sản quy định, do Tòa án có thẩm quyền áp dụng, và luôn đặt dưới sự giám sát của Tòa án, các điều kiện để được áp dụng, trình tự cũng như thời hạn áp dụng phương án phục hồi phải tuân theo quy định của pháp luật Nếu có sự vi phạm các quy định của pháp luật phá sản thì thủ tục này không có giá trị pháp lý Mặt khác, đối tượng áp dụng của thủ tục này cũng rất đặc biệt, là doanh nghiệp đã bị mở thủ tục phá sản
14
Điều 26 Luật Phá sản nước CHDCND Lào năm 1994 quy định:
“Điều 26 Nghĩa vụ của chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc đại diện
Các chủ doanh nghiệp hoặc đại diện có trách nhiệm triển khai thực hiện các kế hoạch phục hồi chức năng của các doanh nghiệp theo quyết định của tòa án”.
Trang 241.1.2.2 Đối tượng áp dụng thủ tục phục hồi là những doanh nghiệp đã bị mở thủ tục phá sản
Như đã trình bày ở phần trên, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là thủ tục tư pháp nên đối tượng áp dụng của nó cũng rất đặc biệt Đó chính là những doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản
Những doanh nghiệp tuy có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nhưng chưa
có quyết định mở thủ tục phá sản thì vẫn không được xem là đối tượng để áp dụng thủ tục phục hồi theo quy định của pháp luật phá sản Bởi vì lúc này các doanh nghiệp này chưa chịu sự điều chỉnh của Luật Phá sản
Tương tự, ở một số nước trên thế giới để giải quyết hậu quả của việc kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán, các chủ nợ và con nợ đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau, trong đó có những giải pháp mềm dẻo mang tính tự phát nhưng hiệu quả rất cao, đó là sự giải quyết tình trạng phá sản không có sự can thiệp của Tòa án mà dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa chủ nợ và con nợ gọi là thủ tục không chính thức (một số nước trên thế giới người ta phân biệt hai thủ tục giải quyết phá sản, bao gồm thủ tục chính thức và thủ tục không chính thức Thủ tục không chính thức là thủ tục giải quyết tình trạng phá sản không có sự can thiệp của Tòa án mà dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa chủ nợ và con nợ)15 Trong khoa học pháp lý thường gọi thủ tục này là thủ tục tiền tố tụng Nếu nhìn nhận từ góc độ
kỹ thuật thì thủ tục tiền tố tụng hay còn gọi là thủ tục không chính thức có những đặc điểm giống như thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh trong thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp Bởi vì, sự thỏa thuận này nhằm tiến tới mục tiêu là
sự phát triển của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ phải cải tiến lại quy trình sản xuất,
cơ cấu lại sản phẩm đầu ra hoặc tìm ra những giải pháp khắc phục khác như kêu gọi nhà đầu tư, thay đổi người quản lý… Khi các bên nhận thấy khả năng tìm ra được hướng ra nhằm thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán thì sẽ tiến hành đàm phán, thỏa thuận với nhau Tuy thủ tục không chính thức này rất giống với thủ tục phục hồi nhưng nó vẫn không phải là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh trong thủ tục phá sản Bởi vì, thủ tục này không được tiến hành trên cở sở của pháp luật phá sản và không được tiến hành theo thủ tục tố tụng tại Tòa án
15
Phan Thị Thu Hà (2010), “Tìm hiểu pháp luật Phá sản trên thế giới”, Chuyên đề tìm hiểu pháp luật phá
sản, Viện khoa học xét xử, tr.87
Trang 25Cũng có trường hợp doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản, tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp nhưng lúc này Tòa án chưa có quyết định mở thủ tục phá sản thì việc phục hồi của doanh nghiệp cũng không phải là thủ tục phục hồi theo quy định của Luật Phá sản Ví dụ như trường hợp của Công ty cổ phần thủy sản Bình An (Bianfishco) đã lâm vào tình trạng phá sản, theo báo cáo tổng số nợ của công ty này lên đến khoảng 1.500 tỉ đồng, trong đó khoảng 261 tỉ đồng nợ 41 hộ nông dân, phần còn lại là nợ ngân hàng và các đối tác bên ngoài Ngày 11/4/2012, luật sư đại diện cho các hộ nông dân là chủ nợ của Công ty đến TAND Thành phố Cần Thơ nộp đơn yêu cầu tiến hành thủ tục phá sản
đối với Bianfishco nhưng bị từ chối Ngày 23/7/2012, Tòa kinh tế TAND Thành
phố Cần Thơ đã thụ lý vụ mở thủ tục phá sản đối với Công ty Cổ phần thủy sản Bình An (Bianfishco) Nhưng TAND Thành phố Cần Thơ vẫn không có ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với Công ty cổ phần thủy sản Bình An Sau đó, Công ty xây dựng 584 (quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh) đầu tư trực tiếp 150 tỷ và vay thêm 350 tỷ đồng từ ngân hàng để đầu tư vốn cho Bianfishco, giúp công ty này khôi phục hoạt động16 Ngày 9/5 Công ty trở lại hoạt động bình thường17 Ngày 11/10/2012 lượng sản xuất tại nhà máy fillet của công ty đã đạt 70 tấn nguyên liệu/ ngày18 Như vậy, Công ty Cổ phần thủy sản Bình An đã được phục hồi hoạt động kinh doanh sau khi đã lâm vào tình trạng phá sản, nhưng việc phục hồi này không phải là áp dụng thủ tục phục hồi theo Luật Phá sản bởi vì Tòa án chưa có ra quyết định mở thủ tục phá sản nên công ty Cổ phần thủy sản Bình An chưa phải là đối tượng để áp dụng thủ tục phục hồi theo luật định
Nói như thế không có nghĩa là doanh nghiệp nào lâm vào tình trạng phá sản
bị mở thủ tục phá sản theo quy định đều được áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Theo quy định tại Khoản 6 Điều 35 Luật Phá sản Lào năm 1994, trong trường hợp các chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn, hoặc đã chết và người thừa kế từ chối việc thừa kế hoặc không có người thừa kế trong thời gian xét xử và tuyên bố phá
Phạm Tâm, “1.000 công nhân Bianfishco trở lại làm việc sau "bão nợ"”, tại địa chỉ:
http://dantri.com.vn/su-kien/1000-cong-nhan-bianfishco-tro-lai-lam-viec-sau-bao-no-593242, ngày truy cập
7/7/2012
18
Báo cáo tình hình quản trị công ty Bianfishco 6 tháng đầu năm 2013, tại địa chỉ:
http://finance.vietstock.vn/0/0/BAF/tai-tai-lieu.htm , ngày truy cập 31/12/2013
Trang 26sản của doanh nghiệp, thì Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp đó ngay mà không cần phải tiến hành thủ tục phục hồi
1.1.2.3 Khi áp dụng thủ tục phục hồi thì tài sản của doanh nghiệp không bị phân chia
Pháp luật phá sản hiện đại có xu hướng quan tâm nhiều đến thủ tục phục hồi, tạo điều hiện cho các doanh nghiệp phá sản có cơ hội tiếp tục hoạt động kinh doanh thêm một thời gian nhất định Trong khoảng thời gian áp dụng thủ tục phục hồi, tài sản của doanh nghiệp sẽ không bị phân chia mà còn được khuyến khích tăng cường Đây chính là đặc trưng cơ bản của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và là điểm khác biệt cơ bản giữa thủ tục phục hồi với thủ tục thanh lý theo pháp luật phá sản
Cụ thể, trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, tài sản của doanh nghiệp sẽ luôn đặt dưới sự giám sát của các chủ nợ và Tòa án Chính
vì thế, các giao dịch được thực hiện với mục đích cất giấu, tẩu tán tài sản, gây thiệt hại cho các chủ nợ sẽ bị tuyên bố vô hiệu Tài sản thu hồi được từ việc tuyên bố vô hiệu các giao dịch nói trên phải được nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp Đồng thời, những giao dịch có dấu hiệu của giao dịch tư lợi nếu doanh nghiệp muốn thực hiện thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của thẩm phán thì mới được thực hiện Thêm vào đó, với mục đích là bảo toàn tài sản còn lại của doanh nghiệp sau khi đã lâm vào tình trạng phá sản để cho doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản này để tiếp tục hoạt động thì các yêu cầu đòi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài sản sẽ được Tòa án tạm đình chỉ Ngoài ra, chủ nợ và doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ đối với những giao dịch được xác lập trước khi
có quyết định mở thủ tục phá sản
Như vậy, trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi, toàn bộ các giao dịch của doanh nghiệp luôn được quy định một cách chặt chẽ nhằm bào toàn khối tài sản còn lại của doanh nghiệp không bị hao hụt mà còn khuyến khích được tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc áp dụng thành công thủ tục phục hồi kinh doanh Để làm được điều đó, quá trình này phải luôn đặt dưới sự giám đặt biệt của các chủ thể có thẩm quyền liên quan, đó là Tòa án và các chủ nợ
1.1.2.4 Luôn đặt dưới sự giám sát đặc biệt của chủ nợ và Tòa án
Vì pháp luật phá sản có mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ nên pháp luật phá sản luôn dành cho các chủ nợ quyền rất lớn trong việc cho phép doanh nghiệp có được áp dụng thủ tục phục hồi hay không Thông qua HNCN, các chủ nợ
Trang 27có quyền thảo luận và quyết định có thông qua các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hay không Khi được áp dụng thủ tục phục hồi, doanh nghiệp vẫn có quyền tiếp tục kinh doanh nhưng phải chịu một số hạn chế nhất định trong việc quản lý, định đoạt đối với tài sản cũng như trong việc điều hành của doanh nghiệp Đồng thời, để đảm bảo cho việc doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh một cách đúng đắn và có hiệu quả thì pháp luật quy định phải có cơ chế giám sát của Tòa án và các chủ nợ trong quá trình áp dụng thủ tục này
Phương án phục hồi phải được giám sát chặt chẽ bởi các chủ nợ và Tòa án bởi vì phương án phục hồi hoạt động kinh doanh là được xem như bản thỏa hiện giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ Doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thực hiện đúng các cam kết trong phương án HNCN thông qua Các chủ nợ có thể thực hiện quyền giám sát của mình thông qua các hoạt động sau: Yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục thanh lý đối với tài sản của doanh nghiệp mắc nợ nếu phát hiện doanh nghiệp mắc nợ thực hiện không đúng hoặc không thực hiện phương án phục hồi; hoặc đồng ý để Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh trong trường hợp xét thấy con nợ thực hiện phương án phục hồi có hiệu quả
Bên cạnh chủ nợ, Tòa án cũng là chủ thể quan trọng trong việc giám sát quá trình áp dụng thủ tục phục hồi của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Tòa án
là thiết chế trung tâm trong thủ tục phá sản, thay mặt cho nhà nước để giải quyết các vấn đề liên quan, nhằm giải quyết công bằng hợp lý và đúng pháp luật Tòa án giữ vai trò quyết định trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý cơ bản Tuy nhiên, pháp luật của các nước lại quy định khác nhau về vai trò của Tòa án trong giải quyết phá sản doanh nghiệp Ở đa số các nước, Tòa án không chủ động đưa ra phương án cơ cấu lại doanh nghiệp, cũng không đưa ra quan điểm của mình về tính hợp lý hay không hợp lý, tính hiệu quả hay không hiệu quả của phương án phục hồi mà chỉ phê chuẩn sự thỏa thuận giữa chủ nợ và con nợ19
Theo Luật Công ty của Úc, Tòa án không tham gia vào việc tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì những lý do sau: (1) Tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp là công việc của chủ nợ và những người có quyền và lợi ích liên quan, Tòa án không có quyền can thiệp; (2) Tòa án không quan tâm về mối quan hệ
19
Dương Đăng Huệ (2005), Pháp luật phá sản của Việt Nam, NXB Tư pháp, tr.42
Trang 28giữa chủ nợ và con nợ trong việc dàn xếp tự nguyện các khoản nợ; (3) Quan tòa chỉ
là người có kinh nghiệm và khả năng về những vấn đề có tính chất pháp luật chứ không có kiến thức, kinh nghiệm trong kinh doanh nên không thể và không nên tham gia vào quá trình này20
Ở nước CHDCND Lào, quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp nói chung
và áp dụng thủ tục phục hồi nói riêng, Tòa án có vai trò rất lớn Tòa án có quyền xem xét phương án phục hồi trước khi đưa ra HNCN Theo đề nghị của HNCN, thẩm phán có thể ra các quyết định như: quyết định áp dụng thủ tục phục hồi, công nhận Nghị quyết về phương án phục hồi kinh doanh, công nhận sự thỏa thuận về sửa đổi, bổ sung phương án phục hồi, cử người khác quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi Các quyết định của Tòa án có giá trị bắt buộc chung, buộc các bên liên quan phải thi hành
1.2.2 Sự cần thiết phải phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Những tác động tích cực và tiêu cực của phá sản đối với doanh nghiệp cũng như đối với nền kinh tế cho thấy sự cần thiết phải phục hồi hoạt động của các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Sự cần thiết này được giải thích bởi các lý do dưới đây:
1.2.2.1 Phục hồi hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích tái tạo lại doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Phục hồi hoạt động của doanh nghiệp bị phá sản nghĩa là trợ giúp doanh nghiệp đó, có thể bằng tài chính hoặc cố vấn về phương án hoạt động kinh doanh,
để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể tự mình đứng dậy Một cách so sánh hình tượng, phục hồi doanh nghiệp giống như một trong những phương thuốc của phá sản nhưng không nhằm loại bỏ tế bào chết mà nhằm giúp cho các tế bào ốm yếu khỏe lại và phục hồi được chức năng vốn có Bằng cách đó nó giúp cho “cơ thể” là nền kinh tế mạnh khỏe trở lại
Thông thường, khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, để không bị tuyên bố phá sản mà thay vào đó, để được phục hồi, doanh nghiệp này phải thực hiện nhiều thủ tục Thủ tục phục hồi doanh nghiệp là một bước trước
20
Hà Thị Thanh Bình (2003), “Pháp luật về thanh toán công ty vì lý do vỡ nợ ở Úc”, Tạp chí Khoa học pháp
lý, tr.55
Trang 29khi tiến hành thủ tục thanh lý Có nghĩa là sau khi quá trình phục hồi doanh nghiệp thành công, doanh nghiệp sẽ trả được nợ cho chủ nợ Điều khác biệt là doanh nghiệp khi đó sẽ có đủ tiền trả nợ và việc trả nợ không còn khó khăn đến mức không thể như trước khi phục hồi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản sẽ không cần phải thanh lý tất cả tài sản để trả nợ nữa Đồng thời, sau khi trả xong nợ, doanh nghiệp này có thể sẽ hồi sinh, sẽ được tái tạo và do đó sẽ tiếp tục phát triển mạnh lên với những phương án hoạt động hiệu quả hơn
Đứng từ góc độ của chủ nợ, sau khi con nợ lâm vào tình trạng phá sản được phục hồi, chủ nợ có cơ hội thu hồi lại được 100% khoản nợ còn tồn đọng Trong các tác động tiêu cực của phá sản có tác động về giảm giá trị của các khoản mà chủ nợ cho doanh nghiệp vay Phục hồi doanh nghiệp bị phá sản cho phép “chữa lành” một trong hai nguyên nhân gây ra sự thiệt hại về kinh tế đó cho chủ nợ Mặc dù không thể ngăn chặn một cách tuyệt đối quá trình suy giảm giá trị của số vốn qua thời gian nhưng ít nhất, số tiền mà chủ nợ thu được cũng tương ứng với số tiền mà họ phải thu Điều này chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp được tái tạo, được phục hồi, được sống lại nhờ những biện pháp hỗ trợ tích cực của pháp luật, của Nhà nước, của
các doanh nghiệp chủ nợ và của cả Tòa án
1.2.2.2 Phục hồi hoạt động của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của phá sản đối với xã hội
Phục hồi hoạt động của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh một cách bình thường nhưng với phương án hoạt động mới, được nghiên cứu
và tính toán một cách tỉ mỉ dựa trên tình hình và thực trạng kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp nhằm tìm kiếm giải pháp tối ưu (như cắt giảm các bộ phận dôi dư, đổi mới công nghệ, cải cách bộ máy quản lý, phát động tinh thần thi đua…) để nhanh chóng phục hồi thành công và đưa doanh nghiệp trở lại hoạt động Điều này cho phép giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực của phá sản Thay vì dừng hoạt động và sa thải hàng loạt người lao động, quá trình phục hồi doanh nghiệp chỉ phải cân nhắc tính toán chi phí dành cho người lao động sao cho phù hợp với tình hình của doanh nghiệp Nói vậy có nghĩa là vẫn có thể xảy ra việc cắt giảm biên chế, sa thải lao động nhưng không phải là sa thải 100% lao động mà chỉ loại bỏ những bộ phận thừa hoặc những bộ phận làm việc không hiệu quả Số lao động được giữ lại
sẽ là số lao động tối ưu đối với doanh nghiệp Dựa vào số lao động này, doanh nghiệp sẽ tiếp tục vòng đời của mình Số người lao động được giữ lại đương nhiên
Trang 30sẽ tiếp tục cuộc sống bình thường của họ và của gia đình họ Bên cạnh đó, số người lao động bị sa thải lại được thủ tục phục hồi hỗ trợ một phần, gián tiếp qua doanh nghiệp Doanh nghiệp được phục hồi sẽ có chính sách đảm bảo cho người lao động hưởng lương cần thiết trong giai đoạn chưa có việc cũng như hỗ trợ tìm việc làm mới cho họ
Có thể nói, mặc dù phục hồi doanh nghiệp không triệt tiêu hoàn toàn nguy
cơ tỷ lệ thất nghiệp đột ngột tăng lên do phá sản nhưng nó lại giải quyết được bài toán kinh tế cho người lao động Qua đó nó hạn chế gia tăng tỉ lệ đói nghèo, bất bình đẳng cũng như tệ nạn xã hội21
1.2.2.3 Phục hồi hoạt động của doanh nghiệp góp phần làm thay đổi nhận thức về phá sản
Trước đây, khi chưa có thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp, phá sản chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ chính của nó: Loại bỏ các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Bởi vậy, nhắc đến hai chữ phá sản là nhắc đến sự kết thúc vòng đời của một doanh nghiệp Điều này làm cho các thương nhân cũng như các doanh nghiệp, các nhà sản xuất cũng như các nhà cung ứng dịch vụ đều rất sợ hai chữ này Phá sản trở thành một hình phạt quá nặng đối với mọi chủ thể của nền kinh tế Đã có những giai đoạn trong lịch sử, việc gây ra phá sản cấu thành tội phạm trong pháp luật hình sự của các nước22 Có nghĩa là không những phá sản làm cho người chủ doanh nghiệp phải xấu hổ, không thể tiếp tục kinh doanh mà còn làm cho họ bị kết tội Trong những giai đoạn ít căng thẳng hơn thì người gây ra phá sản không bị coi là tội phạm nữa, nhưng người ta vẫn thường thấy chủ doanh nghiệp nhảy lầu tự vẫn hoặc bằng cách nào đó khác, kết thúc cuộc đời mình vì phá sản Phá sản đồng nghĩa với biến mất, chết chóc hay hủy diệt Ở Liên bang Đức, phá sản bị coi còn tệ hơn một sự sỉ nhục, vì vậy các doanh nghiệp Đức thường ghép mình bên trong các công ty lớn như Siemens, hơn là rời bỏ để thiết lập các doanh nghiệp thuộc sở hữu riêng của mình
Từ khi thủ tục phục hồi doanh nghiệp ra đời, nó đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm về phá sản Phá sản đúng là nơi kết thúc, là nơi biến mất nhưng đó là đối với sự phi hiệu quả hoặc phi kinh tế Một mặt khác, nó trở thành nơi bắt đầu của
21
Công trình dự thi giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” năm 2009, Phục hồi hoạt động của doanh
nghiệp lâm vào tính trạng phá sản theo luật của Pháp và những vấn đề đặt ra đối với pháp luật phá sản của Việt Nam, Nhóm ngành: XH2b, Hà Nội, tr.18
Trang 31một doanh nghiệp khỏe mạnh trên nền tảng doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã được phục hồi Ngày nay, chúng ta chứng kiến rất nhiều vụ phá sản mà sự chủ động hoàn toàn thuộc về doanh nghiệp Doanh nghiệp nộp đơn xin mở thủ tục phá sản, nộp bản phương án phục hồi kinh doanh, nhận sự trợ giúp hoặc những chính sách ưu đãi của Nhà nước và sau đó “sống dậy” Có thể kể đến vụ phá sản của Kmart năm 2002 hay hai lần phá sản của hãng hàng không Continental Airlines (Hoa Kỳ) năm 1983 và năm 1990 như những ví dụ điển hình Kể từ ngày Kmart tự đứng dậy, sau khi lâm vào tình trạng phá sản năm 2002, từ tháng 5/2003, giá cổ phiếu của Kmart đã tăng đến 700% tính đến mùa xuân năm 200523 còn với Continental Airlines, hai năm rưỡi sau khi phá sản, công ty này trở thành một hang hàng không độc lập và hiện là hãng hàng không lớn thứ 9 trên thế giới24 Phá sản không còn là tội ác hay hình phạt nữa, trái lại, phá sản đang dần trở thành một phương án chiến lược của những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ muốn tìm đường
quay lại để hoạt động một cách hiệu quả và thành công hơn
1.3 Quy định về phục hồi hoạt động của doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới và sự hình thành và phát triển pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt
động của doanh nghiệp ở Lào
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Lịch sử pháp luật về phá sản cho thấy, với mục tiêu nhằm bảo vệ tuyệt đối các lợi ích của chủ nợ, luật phá sản cổ đã thể chế hóa thành các quy định gắn liền với hình luật rất khắt khe Khái niệm phá sản lúc này được hiểu là “khánh tận” hay
“vỡ nợ” và việc của tòa án – một thiết chế của nhà nước, là làm thể nào để chủ nợ
có thể thu hồi được nợ25, còn con nợ thì phải chịu những chế tài rất nghiêm khắc Những quy định theo mục tiêu này tồn tại ở các nước Âu Mỹ cho đến đầu thế kỷ
XX26 Ở Việt Nam, những quy định theo dạng này dễ tìm thấy trong Bộ luật Thương mại Trung phần (1942) được du nhập từ luật thương mại Pháp thời kỳ thực
23
CNN Money (2002), “Kmart files Chapter 11”, tại địa chỉ:
http://money.cnn.com/2002/01/22/companies/kmart/ , ngày truy cập 22/1/2002
24
Xem thêm: http://www.continental.com/web/en-US/content/company/history/1978-1990.aspx , ngày truy cập 20/7/2016
25
Xem thêm: Khuất Thị Thu Hiền (2013), “Phá sản và Luật phá sản ở Việt Nam”, Chuyên đề khoa học xét
xử, Viện khoa học xét xử của Tòa Tối cao
26
Xem thêm: Phạm Duy Nghĩa (2003), “Đi tìm triết lý của luật phá sản”, Bài tham luận tại hội thảo lấy ý
kiến về Luật phá sản doanh nghiệp (sửa đổi), tổ chức ngày 20/11/2003 tại VCCI
Trang 32dân với hai chế định “khánh tận” và “thanh toán tư pháp”27 Mục tiêu này của luật phá sản được gọi là “hướng vào chủ nợ” với những quy định chủ yếu nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích của chủ nợ bằng cách thanh lý tài sản con nợ và áp dụng chế tài cho con nợ bị phá sản
Cùng với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế ở các nước Phương Tây thời kỳ tiền tư bản là sự tăng lên về số lượng và quy mô của các doanh nghiệp, đồng thời sự liên kết chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp thì mục tiêu của luật phá sản “hướng vào chủ nợ” đã không còn phù hợp, việc áp dụng những quy định này sẽ gây ra những tác động tiêu cực to lớn đối với kinh tế, xã hội Một doanh nghiệp lớn đổ vỡ sẽ kéo theo sự thất nghiệp, tệ nạn, nhiều khi còn dẫn đến phá sản dây chuyền là nguyên nhân của bất ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội Bên cạnh đó, quá trình thụ lý và tiến hành các thủ tục để thanh lý thường gây ra những thất thoát, lãng phí rất lớn cho xã hội Luật phá sản lúc này chuyển sang một mục tiêu mới là làm cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản “hồi sinh” Chủ
nợ thì lấy được nợ, doanh nghiệp thì thoát khỏi tình trạng phá sản, trở lại hoạt động một cách bình thường Mục tiêu này của luật phá sản được nhiều nhà nghiên cứu
gọi là “hướng vào con nợ” hay “bảo hộ đối với con nợ”, từ đó các quy định của
luật phá sản sẽ tập trung theo chiều hướng trên Bên cạnh đó, thủ tục thanh lý bộ phận cấu thành không thể thiếu của luật phá sản, hoàn thiện trên cơ sở là trình tự pháp lý cuối cùng khi khi con nợ lâm vào tình trạng phá sản không thể phục hồi
thành công “Vì vậy, pháp luật phá sản các nước thường quy định khi con nợ mất
khả năng thanh toán có thể áp dụng hai thủ tục là thủ tục phục hồi hoặc thủ tục thanh toán” 28
Như vậy, xu hướng của luật phá sản hiện đại đã cho phép con nợ được phép lựa chọn áp dụng một trong hai thủ tục giải quyết khi không thanh toán được các khoản nợ đến hạn Để giải quyết hậu quả kinh doanh thua lỗ, không thanh toán được các khoản nợ đến hạn của các doanh nghiệp; hạn chế những hậu quả tiêu cực của nó đối với nền kinh tế; bảo vệ lợi ích của các bên có liên quan, pháp luật của các nước cần phải có sự điều chỉnh cụ thể về vấn đề này.Có thể nói việc phục hồi khả năng thanh toán của con nợ là công việc đương nhiên và luôn được pháp luật
27
Xem them: Phạm Duy Nghĩa (2003), “Đi tìm triết lý của luật phá sản”, Bài tham luận tại hội thảo lấy ý
kiến về Luật phá sản doanh nghiệp (sửa đổi), tổ chức ngày 20/11/2003 tại VCCI
28
Bùi Xuân Hải (2011), “Quy định về Hội nghị chủ nợ trong Luật Phá sản 2004: Một số bất cập và hạn chế”,
Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2011, tr.3
Trang 33quan tâm, tạo điều kiện áp dụng Điều này đã được thể hiện trong Luật phá sản của một số nước như:
Pháp luật về phá sản của Pháp đưa ra ba thủ tục có thể áp dụng tùy theo mức
độ nghiêm trọng của tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Thủ tục cứu doanh nghiệp, thủ tục thanh lý và thủ tục phục hồi29
Thủ tục cứu doanh nghiệp là một thủ tục đặc biệt được áp dụng đối với những DN chưa thật sự lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nhưng tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp đã ở mức rất xấu, việc mất khả năng thanh toán
là điều khó tránh khỏi và sớm muộn cũng xảy ra30 Thủ tục phục hồi và thủ tục thanh lý là hai thủ tục được áp dụng đối với những doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản Tùy từng trường hợp doanh nghiệp có thể áp dụng thủ tục phục hồi trước và chuyển sang thủ tục thanh lý nếu việc phục hồi không thành công hoặc có thể áp dụng thủ tục thanh lý ngay nếu xét thấy tình hình DN khó cứu vãn được
Luật phá sản của Mỹ được đánh giá là có sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư, bởi vì thủ tục phục hồi luôn được xem trọng và là mục tiêu cơ bản của các nhà làm luật Tức là, họ chú trọng đến khả năng có thể phục hồi của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, làm cho nó có thể “vực dậy” hơn là phải thanh toán nó31
Pháp luật phá sản ở Liên Bang Nga quy định các thủ tục gồm: thủ tục tổ chức lại và thủ tục thanh lý Thủ tục phục hồi chỉ là một phần trong thủ tục tổ chức lại
Tương tự như pháp luật về phá sản ở các nước châu Âu, Luật phá sản của
Mỹ cũng cho phép doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán được phép lựa chọn theo hai cách:
Thứ nhất: lựa chọn đóng cửa theo chương 7 của Luật Phá sản
Pháp luật về phá sản của Nhật Bản được thể hiện qua nhiều đạo luật khác nhau như: Luật Phá sản 1922, Bộ luật Thương mại 1938, Luật về thỏa hiệp 1922 và
Trương Kim Phụng (2013), Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo Luật phá sản 2004, Luận văn thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, trang 20-21
32
Bùi Xuân Hải (2011), “Quy định về Hội nghị chủ nợ trong Luật Phá sản 2004: Một số bất cập và hạn chế”,
Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2011, tr.4
Trang 342000, Bộ luật phục hồi dân sự 1999 và 2000, Luật về tổ chức lại công ty 195233; đây là những đạo luật điều chỉnh về thủ tục phá sản Nhìn chung ở Nhật Bản quá trình giải quyết một vụ phá sản cũng đươc thể hiện qua hai thủ tục chính là thủ tục thanh lý và thủ tục phục hồi Trong đó, thủ tục phục hồi bao gồm ba thủ tục nhỏ: tổ
chức lại công ty, thủ tục phục hồi dân sự và thủ tục sắp xếp công ty Thủ tục tổ chức
lại công ty chỉ áp dụng cho những công ty lớn, công ty tài chính, bảo hiểm, ngân
nghiệp có thể lựa chọn thủ tục phục hồi nào cho phù hợp với doanh nghiệp mình Tuy nhiên, dù thủ tục nào đi chăng nữa thì mục tiêu chính của thủ tục phục hồi vẫn không thay đổi, đó là, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mắc nợ có thể tái thiết lại doanh nghiệp, khắc phục những khó khăn về tài chính để doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh chứ không phải là thanh toán nó
Tóm lại, cùng với sự phát triển của lịch sử, pháp luật về phá sản trải qua các thời kỳ đã có nhiều thay đổi và phù hợp hơn đối với yêu cầu của nền kinh tế Ngày nay, trong xu hướng hiện đại, vai trò của thủ tục phục hồi đối với nền kinh tế càng thể hiện một cách rõ nét và được quy định cụ thể trong pháp luật phá sản của các quốc gia Tuy nhiên, do điều kiện, hoàn cảnh cũng như thái độ chính trị của các nước khác nhau mà việc quy định thủ tục phục hồi trong luật phá sản sẽ có sự khác nhau
Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lập pháp của một số nước điển hình trên thế giới về phục hồi doanh nghiệp
Nghiên cứu quá trình lập pháp một số nước điển hình trên thế giới tác giả rút
ra một số kết luận sau về mục tiêu lập pháp trong luật phá sản hiện đại37 như sau:
Dương Hương Sơn (2013), “Phục hồi doanh nghiệp phá sản, một mục tiêu lớn trong vấn đề lập pháp đối
với pháp luật phá sản hiện đại”, Trang thông tin điện tử của Bộ tư pháp, tại địa chỉ:
http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=5976, ngày 25/11/2013
Trang 35Thứ nhất, xúc tiến phục hồi hoạt động của con nợ lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán) là mục tiêu và là xu thế chung của luật phá sản hiện đại trên thế giới
Cùng với sự phát triển về kinh tế, việc chuyển mục tiêu lập pháp của luật phá sản từ bảo hộ đối với quyền lợi của chủ nợ sang “hướng vào con nợ” là một xu thế khách quan Luật phá sản truyền thống với việc chỉ bảo vệ cho lợi ích của chủ nợ (với một thủ tục được áp dụng đó đó thanh lý tài sản) dể dẫn đến những tiêu cực nảy sinh cho cả chủ nợ, con nợ và xã hội, đặc biệt khi nền kinh tế phát triển nhất định thì quy định đơn cực này trở thành rào cản Với quan điểm cứu tế con nợ là giải pháp hữu hiệu cho bảo vệ lợi ích của chủ nợ, bảo vệ lợi ích của xã hội luật phá sản hiện đại chuyển sang mục tiêu mới là “hướng vào con nợ” Tất nhiên, dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, phá sản là một hiện tượng tất yếu Tuyên bố phá sản con nợ là một việc không thể không diễn ra, nếu ví các doanh nghiệp như là một
“bộ phận cơ thể” trong hệ thống các đơn vị kinh tế của nền kinh tế, thì việc loại bỏ
“những bộ phận ốm yếu ra khỏi cơ thể” là một việc đương nhiên Nhưng việc làm
đó trước hết cần phải thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương thuốc “chữa trị”, nếu không tác dụng mới tiến hành loại bỏ, hoặc nhiều trường hợp, việc xác định ngay từ đầu việc sử dụng các phương thuốc là không thể cứu vãn nổi Thủ tục phục hồi chính là phương thuốc cứu vãn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Hiện nay nhiều nước còn đưa thêm các quy định tiền phá sản mang tính chất phòng ngừa để tránh xảy ra hiện tượng doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, như pháp luật phá sản của Pháp
Thứ hai, thủ tục phục hồi không đơn thuần là một trình tự thủ tục pháp lý, nó còn là một giải pháp lý tưởng nhằm cứu vãn con nợ thoát khỏi lâm vào tình trạng phá sản, phòng ngừa phá sản
Thủ tục phục hồi mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau như sự quản lý ở Anh
và các nước thuộc khối thịnh vượng chung (Canada, Úc); chế độ người quản lý Mỹ (năm 1898); thủ tục hòa giải và tổ chức lại (chỉnh lý, chỉnh đốn) như ở Mỹ (Luật Phá sản sửa đổi năm 1874), Trung Quốc (1986); thủ tục phục hồi như ở Mỹ (1978), Pháp (từ 1967), Trung Quốc (2007), song các thủ tục đều thể hiện một mục tiêu đó chính
là áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm tạo điều kiện cho con nợ trong tình trạng phá sản được “hồi sinh” Thủ tục phục hồi trước hết nó là một giải pháp nhằm cứu vãn con nợ lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán) tránh bị phá sản,
Trang 36bên cạnh đó nó còn là giải pháp trong việc bảo hộ đối với lợi ích của chủ nợ (chủ nợ
có thể thu hồi được toàn bộ nợ nếu phục hồi thành công) Trong giải pháp này, được
cụ thể bằng nhiều biện pháp nhằm tổ chức lại hoạt động của con nợ lâm vào tình trạng phá sản Đi liền với quy định về thủ tục phục hồi, các quy định về các biện pháp là không thể thiếu Những biện pháp này tùy theo tình hình thực tiễn kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia để tạo nên sự hợp lý, có tình khả thi
Thứ ba, điều kiện và nguyên nhân để được áp dụng thủ tục phục hồi luôn được quy định dựa trên những tiêu chí rõ ràng
Để xác định con nợ lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán, hoặc mất năng lực trả nợ) đòi hỏi cần phải dựa vào những tiêu chí cụ thể, những tiêu chí này là điều kiện, là cơ sở để từ đó xác định con nợ được áp dụng thủ tục phục hồi hay bị áp dụng thủ tục thanh lý Có hai loại tiêu chí thường được sử dụng,
đó là tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính Các tiêu chí định lượng thường xác định trên cơ sở một lượng giá trị bằng tiền mà con nợ không trả được vào một thời điểm nhất định (như luật phá sản Nga quy định 100000 rúp đối với doanh nghiệp,
10000 rúp đối với cá nhân, luật phá sản Mỹ là 5000 USD) Các tiêu chí này thường kết hợp với tiêu chí về thời gian để xác định thời điểm con nợ lâm vào tình trạng phá sản (mất khả năng thanh toán, hoặc mất năng lực trả nợ) Tiêu chí định tính chỉ nêu ra trạng thái con nợ lâm vào tình trạng phá sản mà không cần xác định bởi các con số cụ thể (ví dụ như Luật phá sán Pháp xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được áp dụng thủ tục phục hồi là khi các tài sản có sẵn của doanh nghiệp không đủ để bù đắp các tài sản nợ phải trả (Điều L631-1 Bộ Luật Thương mại Pháp năm 2009)) Việc xác định các tiêu chí này nhằm mục tiêu gì, hoặc trên cơ sở mục tiêu gì Thông thường các nước khi đưa ra các tiêu chí trong luật phá sản đều thể hiện mục tiêu cụ thể, đó có thể là mục tiêu nhằm phòng ngừa con nợ bị phá sản, có thể là nhằm mục tiêu phục hồi sự hoạt động của con nợ, có thể là mục tiêu cứu vãn con nợ, thậm chí có thể là mục tiêu nhằm thanh lý tài sản của con nợ Việc can thiệp vào con nợ lâm vào tình trạng phá sản sớm hay muộn, ở giai đoạn nào khi con nợ có khó khăn về tài chính là tùy quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia để từ đó có các quy định về tiêu chí phù hợp
Thứ tư, đối tượng áp dụng thủ tục phục hồi luôn có xu hướng mở rộng
Việc lựa chọn đối tượng áp dụng thủ tục phục hồi nói riêng, đối tượng của luật phá sản nói chung luôn do điều kiện nền kinh tế của quốc gia đó quyết định Có
Trang 37những nước quy định thủ tục phục hồi chỉ áp dụng cho các công ty lớn (ví dụ như ở Nhật Bản, “Luật Tái tạo doanh nghiệp” chỉ áp dụng cho công ty cổ phần), hoặc như Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1986 của Trung Quốc đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp nhà nước, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 2007 của Trung Quốc chỉ
áp dụng cho đối tượng doanh nghiệp là pháp nhân Song đối tượng trong luật phá sản nói chung luôn có xu hướng mở rộng, tạo nên sự bình đẳng cho các đối tượng Trong thủ tục phục hồi, việc chọn đối tượng áp dụng cũng có xu hướng đó, ví dụ một số nước phát triển như Anh, Mỹ, Pháp đối tượng áp dụng bao gồm cả pháp nhân và thể nhân; bao gồm doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, ở Mỹ còn áp dụng cho các pháp nhân chính quyền
Thứ năm, mục tiêu hướng vào con nợ còn được thể hiện trong quy định luật phá sản của các nước theo các chiều hướng sau:
(1) Tạo sự chủ động cho chính con nợ tham gia vào quá trình khởi động của thủ tục phá sản
Điển hình là luật phá sản Mỹ, từ những hình thành ban đầu của mục tiêu
“hướng vào con nợ” với thủ tục hòa giải, trong thủ tục hòa giải lần đầu tiên con nợ được tham gia và có ý kiến liên quan đến việc quyết định “số mệnh” của mình, thì nay con nợ có tư cách pháp lý độc lập chủ động hơn trong vấn đề phá sản, có quyền
lự chọn hoặc áp dụng theo quy định tại chương 7 (thanh lý tài sản) hoặc áp dụng chương 11 (phục hồi doanh nghiệp), những quy định tạo ra sự lựa chọn này được nhiều nước và khu vực học tập như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan Việc đưa ra quy định này nhằm tránh cho chủ nợ, con nợ và cả tòa án khỏi những phức tạp khi
áp dụng cả hai thủ tục phục hồi và thanh lý trong một thủ tục chung là thủ tục phá sản Luật phá sản của Pháp còn đưa ra nhiều loại thủ tục (như đã trình bày ở trên) để con nợ có thể lựa chọn tùy vào mức độ khó khăn về tài chính của mình Thực tế, chủ doanh nghiệp là người nắm rõ nhất “sức khỏe” của doanh nghiệp, do đó việc quy định nhiều loại thủ tục cho con nợ được lựa chọn với các trình tự thủ tục giải quyết khác nhau sẽ tạo nhiều cơ hội cho con nợ phục hồi thành công hơn là chỉ có một trình tự thủ tục
(2) Đa dạng hóa chủ thể nộp đơn và nghĩa vụ hóa việc nộp đơn của con nợ lên tòa án để tuyên bố mất khả năng thanh toán (lâm vào tình trạng phá sản)
Con nợ mất khả năng thanh toán là cơ sở của việc áp dụng thủ tục phục hồi, nếu việc phát hiện càng sớm thì việc phục hồi đối với con nợ càng có nhiều cơ hội
Trang 38thành công Do đó luật phá sản các nước đều quy định cho nhiều chủ thể có thể nộp đơn lên tòa án yêu cầu mở thủ tục phá sản Chủ thể có thể là chủ nợ, con nợ, cổ đông, người lao động, ở Pháp còn quy định Viện kiểm sát có quyền nộp đơn và Tòa
án có quyền tự mở thủ tục phục hồi Bên cạnh đó, đối với con nợ, việc nộp đơn còn
là nghĩa vụ Thực tế cho thấy, con nợ là người nắm rõ nhất tình trạng tài chính của mình, nên việc quy định nghĩa vụ này cho con nợ là cơ sở pháp lý rất quan trọng trong việc áp dụng chế tài đối với con nợ khi phá sản Việc gắn nghĩa vụ nộp đơn đối với con nợ mất khả năng thanh toán là một hình thức răn đe đối với các thương nhân, chủ doanh nghiệp thiếu ngay thẳng, biết mình lâm vào tình trạng phá sản song vẫn cố tình không tiến hành phục hồi để cứu vãn doanh nghiệp Những quy định này thể hiện rất rõ trong luật phá sản của các nước phát triển Luật phá sản Pháp quy định, chậm nhất là sau 15 ngày kể từ thời điểm mất khả năng thanh toán phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản lên tòa án Nếu con nợ cố tình không tuyên bố tình trạng mất khả năng thanh toán, Tòa án có thể tuyên bố “phá sản cá nhân”, theo
đó con nợ không được tham gia quản lý, điều hành, lãnh đạo, dù là gián tiếp hay trực tiếp, bất kỳ một hoạt động kinh doanh, thủ công, nông nghiệp hoặc bất kỳ hoạt động nghề nghiệp độc lập nào, những chế tài này được áp dụng đối với con nợ là các cá nhân hoặc lãnh đạo của một pháp nhân Có thế khẳng định, việc nghĩa vụ hóa nộp đơn lên tòa án của con nợ là cơ sở quan trọng để áp dụng hay không áp dụng chế tài đối với con nợ bị phá sản
(3) Đơn giản hóa việc thụ lý đơn do con nợ đệ trình tuyên bố mất khả năng thanh toán
Cả luật phá sản Mỹ và Pháp đều xác định việc nộp đơn yêu cầu một vụ phá sản lên tòa án của con nợ không chỉ là nghĩa vụ, mà đó còn là quyền của con nợ, quyền được phục hồi Do đó, các quy định về việc thụ lý đều nhằm tạo thuận lợi tối
đa trong việc thụ lý đơn do con nợ đệ trình Trong luật phá sản của Mỹ việc nộp đơn do hai loại chủ thể tiến hành, đó là nộp đơn tự nguyện do con nợ tiến hành và nộp đơn không tự nguyện do chủ nợ tiến hành Nếu là nộp đơn tự nguyện luật phá
Mỹ quy định chỉ cần con nợ nộp đơn (kèm các giấy tờ, sổ sách chứng minh mất khả năng thanh toán) thì việc đó chính là lí do để thụ lý, còn nếu là chủ nợ nộp đơn thì ngoài việc chủ nợ phải chứng minh con nợ mất khả năng thanh toán, Toà án còn phải tiến hành thẩm tra việc này
Trang 391.3.2 Sự hình thành và phát triển pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động của doanh nghiệp ở Lào
Ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, pháp luật về phá sản chỉ xuất hiện
từ thời kỳ thực dân pháp đô hộ và nó chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật Pháp Bối cảnh lịch sử của Lào từ năm 1945 đến năm 1975 không cho phép nước Lào có một bộ luật thống nhất về doanh nghiệp nói chung cũng như Luật phá sản nói riêng
Từ sau khi đất nước thống nhất, Lào xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không thừa nhận các hình thức sở hữu tư nhân, không khuyến khích cạnh tranh Mọi hoạt động kinh tế đều thực hiện theo kế hoạch đã vạch sẵn, do nhà nước quản
lý theo nguyên tắc mệnh lệnh, khép kín, nếu có thua lỗ thì nhà nước sẽ bù đắp Do
đó, khái niệm phá sản doanh nghiệp trong thời kỳ này không được đặt ra và Luật Phá sản cũng không cần thiết
Mặt khác, mọi hoạt động của các tổ chức kinh tế lúc bấy giờ đều đặt dưới sự bảo hộ của nhà nước nên các đơn vị kinh doanh không có động lực để cạnh tranh và như thế việc kinh doanh thua lỗ là điều khó tránh khỏi Tuy nhiên, việc thua lỗ đã
có nhà nước bù đắp nên vấn đề phục hồi hoạt động kinh doanh không được các tổ chức kinh tế quan tâm Như vậy, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chưa xuất hiện trong giai đoạn này
Từ năm 1986, Đại hội IV của Đảng nhân dân cách mạng Lào đã khẳng định
để đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch “chúng ta phải khẩn trương xây dựng pháp luật
kinh tế” nhưng trong thực tiễn thì trong suốt giai đoạn từ năm 1986 đến 1994 chưa
có văn bản quy phạm pháp luật quy định về phá sản doanh nghiệp Tuy nhiên, một điều đáng ghi nhận, sau khi Đảng và Nhà nước Lào tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện đường lối phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong thời gian tiếp theo, Nhà nước Lào đã quan tâm nghiên cứu đến sự hình thành, phát triển cũng như chấm dứt hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Lào Quá trình này đã được bắt đầu từ Đại hội V (1991), đặc biệt là sau khi ban hành Hiến pháp năm 1991 Khi nền kinh tế đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập và được nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hoạt động một cách bình đẳng và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Lúc này bắt đầu xuất hiện hiện tượng cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp Các doanh nghiệp bên cạnh
sự điều chỉnh của pháp luật còn phải tuân theo quy luật của thị trường Doanh
Trang 40nghiệp nào không vượt qua thì sẽ bị đào thải Do đó, hiện tượng doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, nợ nần chồng chất và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn đã xuất hiện Vấn đề cứu vãn hay loại bỏ các doanh nghiệp này ra khỏi nền kinh tế đã bắt đầu đặt ra Tức là nhu cầu phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả hay phá sản nó là nhu cầu của thực tiễn khách quan Trước tình hình này đòi hỏi phải có những quy định cụ thể của pháp luật nhà nước hướng dẫn
Tình hình kinh tế - xã hội của Lào những năm đầu thập niên 90 như vậy đã đặt ra yêu cầu cho khoa học pháp lý của Lào phải nghiên cứu về việc hình thành, hoạt động cũng như chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cùng với Luật Kinh doanh được Quốc hội Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, khóa III, kỳ họp thứ 4 thông quan ngày 18/7/1994 và có hiệu lực ngày 13/8/1994, Luật Phá sản của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã được Quốc Hội Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thông qua ngày 14/10/1994 và có hiệu lực 05/11/1994 Đây là văn bản pháp luật đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào quy định về phá sản doanh nghiệp Nội dung của Luật phá sản Lào năm 1994 gồm 9 chương, trong đó, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định từ Điều 26 đến Điều 34 Chương 4 Luật này Hiện nay, Luật kinh doanh của Lào đã được sửa đổi, bổ sung qua hai lần là vào năm 2005 và hiện nay là Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013, do vậy, thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản của Lào, bên cạnh việc tuân theo quy định tại Luật Phá sản Lào năm 1994, phải tuân thủ các quy định liên quan của Luật Doang nghiệp Lào năm 2014
Có thể nói, pháp luật phá sản ở Lào tuy được hình thành muộn hơn so với các nước trên thế giới và trong khu vực, nhưng nó đã góp phần quan trọng vào việc hình thành một cơ chế pháp lý cho hoạt động xử lý nợ của các doanh nghiệp, làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh, đồng thời cũng góp hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế thời kỳ đổi mới
Tương tự như pháp luật các nước, pháp luật phá sản Lào hiện nay cũng cố gắng đặt ra mục tiêu ưu tiên phục hồi hoạt động của doanh nghiệp thay vì trừng phạt doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu này, phục hồi hoạt động của doanh nghiệp được coi là một thủ tục trong thủ tục phá sản Đây là một trong những điểm mới của pháp luật phá sản của hầu hết các nước hiện nay, trong đó có CHDCND Lào Tuy nhiên, pháp luật của các nước khác nhau quy định về thủ tục phục hồi hoạt động