1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp nhân hoá trong thơ viết cho thiếu nhi của Nguyễn Trọng Tạo

18 387 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 272,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo không những giải quyết được yêu cầu của việc học tập, trau dồi vốn ng

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nhân hóa là một biện pháp tu từ quan trọng giúp cho việc hình thành ở học sinh Tiểu học tình cảm gần gũi, yêu thích thế giới xung quanh Nhân hóa được

sử dụng rất nhiều trong văn thơ thiếu nhi

1.2 Nguyễn Trọng Tạo là một nhà thơ tài năng với nhiều bài văn, thơ, nhạc viết cho thiếu nhi.Ông đã thể hiện được tài năng sáng tạo nghệ thuật của mình, đồng thời cũng khẳng định được chỗ đứng của mình trên thi đàn văn học Việt Nam.Thơ của ông

đã được lựa chọn đưa vào giảng dạy trong chương trình Tiểu học

Qua việc khảo sát chúng tôi thấy nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo là một nhà thơ

đã vận dụng linh hoạt, phong phú và sáng tạo các biện pháp tu từ, đặc biệt là biện pháp nhân hóa Thơ của ông trong sáng, hồn nhiên và rất phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi

Bởi vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo không những giải quyết được yêu cầu của việc học tập, trau dồi vốn ngôn ngữ dân tộc và còn khẳng định được phong cách sáng tạo của nhà thơ

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Hiệu quả của biện pháp

nhân hóa trong thơ viết cho thiếu nhi của Nguyễn Trọng Tạo”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Việc nghiên cứu nhân hoá trong các giáo trình phong cách học

2.2 Việc nghiên cứu nhân hoá gắn với SGK và yêu cầu giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học

2.2.1 Cung cấp lý thuyết về nhân hoá

Trang 2

2.2.2 Hướng dẫn học sinh thực hành, sử dụng biện pháp nhân hoá

2.2.2.1 Thực hành nhận diện, phân tích, cảm thụ biện pháp nhân hoá

2.2.2.2 Luyện tập thực hành và vận dụng làm văn

2.3 Các khóa luận nghiên cứu về biện pháp nhân hóa

2.4.Việc nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Nguyễn trọng Tạo

Kết luận

Có thể nói có nhiều tác giả nghiên cứu về biện pháp nhân hóa cũng như tìm hiểu về Nguyễn Trọng Tạo Nhưng cho tới nay trong số những công trình nghiên cứu mà chúng tôi tìm hiểu được chưa có một chuyên luận nào nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo Trên cơ sở những gợi ý của những tác giả đi trước, ở đề tài này chúng tôi khảo sát thống kê, phân loại và phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ

Nguyễn Trọng Tạo một cách có hệ thống và chuyên sâu hơn

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Khẳng định, củng cố những vấn đề lí thuyết ngôn ngữ thuộc chuyên ngành Phong cách học Cụ thể là biện pháp tu từ nhân hóa

- Qua việc nghiên cứu tìm hiểu và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa chúng tôi rút ra nhận xét về phong cách nghệ thuật và vẻ đẹp của ngôn ngữ trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo

- Phục vụ cho việc học tập trong hiện tại và giảng dạy trong tương lai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài

- Khảo sát, thống kê, phân loại các biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo

Trang 3

- Phân tích từ góc độ tu từ để nhận thấy hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và rút ra những kết luận cần thiết

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ viết cho thiếu nhi Nguyễn Trọng Tạo

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát 30 bài thơ và 15 bài thơ phổ nhạc trong cuốn “Tuyển tập văn thơ nhạc tuổi thơ”-Nhà xuất bản Thanh niên năm 2004 của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

5.2 Phương pháp phân tích

5.3 Phương pháp tổng hợp

5.4 Phương pháp hệ thống

6 Bố cục khoá luận

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Biện pháp nhân hoá

1.1 Định nghĩa

Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ

Tiếng Việt” (Nxb GD, 1999) định nghĩa về nhân hoá: “Nhân hoá là một dạng của

ẩn dụ, dùng những từ ngữ biểu thị thuộc tính của con người cho đối tượng không phải là người nhằm làm cho đối tương được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn,

Trang 4

đồng thời giúp cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình”

1.2 Cơ sở phát hiện và đánh giá nhân hoá

1.2.1 Dựa vào ngữ cảnh

1.2.2 Dựa vào tính có lí và hợp logic

1.2.3.Về mặt nội dung

1.2.4 Nguyên tắc bình giá giá trị nghệ thuật của nhân hoá

1.3 Phân loại nhân hoá

Có nhiều cách phân loại nhân hoá của các tác giả khác nhau nhưng trong khuôn khổ khoá luận này chúng tôi lựa chọn cách phân loại của tác giả Phan Thị Thạch (Giáo trình phong cách Tiếng Việt_ĐHSP Hà nội 2_1992) làm cơ sở để phân loại, nhân hoá được phân chia thành 3 kiểu như sau:

- Dùng từ ngữ chỉ tình cảm, hoạt động của con người để gắn cho đối tượng không phải là con người: chạy, nhảy, khóc, vui, cười…

- Dùng những từ ngữ chỉ quan hệ thân thuộc của con người trong gia đình

để gọi tên các đối tượng không phải là người :ông, bà, chú, bác…

- Coi các sự vật không phải là người như là con người để tâm tình trò chuyện vời chúng

1.4 Mục đích của nhân hóa

Mỗi nhân hóa khi sử dụng sẽ đạt một mục đích riêng, hiệu quả riêng và nhằm một dụng ý riêng:

- Nhân hóa giúp người ta thể hiện tình cảm một cách tế nhị, tinh tế

- Nhân hóa làm cho thế giới xung quanh thêm sinh động, hồn nhiên từ đó dùng nó trở thành người bạn tâm tình của trẻ thơ, giúp trẻ dễ hiểu và nhận biết thế giới xung quanh

- Nhân hóa có tác dụng giáo dục rất phù hợp với tâm lí trẻ thơ

Trang 5

2 Đôi nét về tác giả Nguyễn Trọng Tạo

2.1 Cuộc đời và sự nghiệp

2.2 Giá trị trong tác phẩm thơ, nhạc thiếu nhi của Nguyễn Trọng Tạo

CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA BIỆN PHÁP

NHÂN HOÁ TRONG THƠ VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA

NGUYỄN TRỌNG TẠO

1 Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại

1.1.Thống kê theo bài thơ

Chúng tôi khảo sát 30 bài thơ và 15 bài thơ phổ nhạc, trong đó 28 bài thơ và 15 bài thơ phổ nhạc là xuất hiện nhân hoá Có tới 25 bài là có sử dụng nhân hoá cho toàn văn bản

1.2 Thống kê theo tần số xuất hiện của đối tượng nhân hóa

Nhân hóa

Đối tượng

Dùng từ chỉ tính chất hoạt động

Dùng từ chỉ quan

hệ thân thuộc

Tâm tình trò chuyện

Tổng số

Loài vật Sống trên trời 20 8 4 32

103 con vật (37%)

Sống tự nhiên trong rừng

Được nuôi và sống cùng con người

Trang 6

Cây cối Cây lương thực 4 0 0 4 51 loài

cây (18,4%)

Thiên nhiên (TN) tồn tại tự

nhiên

(27,4%)

Đồ dùng

(Đ d)

(6,4%)

Sự vật

(SV)

(10,8%)

Tổng

cộng

217 (78%)

49 (17,6%)

12 (4,4%)

278 (100%)

2 Nhận xét sơ bộ kết quả thống kê

Qua kết quả thống kê ở trên ta thấy nhân hóa là một biện pháp tu từ có vai trò không nhỏ trong tác phẩm nghệ thuật để diễn đạt nội dung tư tưởng của tác phẩm Chúng tôi thống kê được có 278 lần sử dụng biên pháp nhân hóa trong 30 bài thơ và 15 bài thơ phổ nhạc Nhân hóa làm cho ngôn ngữ nghệ thuật giàu có, phong phú, phù hợp với tư duy, tình cảm còn non trẻ của trẻ em

3 Phân tích kết quả thống kê

3.1 Dùng những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người cho đối không phải

là người

Trang 7

Đây là dạng nhân hóa được sử dụng nhiều nhất, chúng tôi thống kê được 217 lần nhân hóa chiếm 78% Đối tượng nhân hóa rất đa dạng và phong phú

3.1.1 Đối tượng nhân hóa là đồ vật

Đối tượng nhân hoá là đồ vật chiếm số lượng không nhiều, có 18 lần xuất hiện chiếm 8,2% Đồ vật ở đây có thể là đồ dùng trong học tập hay đồ dùng trong sinh hoạt, tuy số lượng ít nhưng nó cũng thể hiện sự đa dạng của đối tượng nhân hoá

Ví dụ :

Đều đều võng đưa Giữa trưa êm ả

Bé ngủ say sưa Sân tròn bóng lá

Bé ngủ ngon quá Đẫy cả giấc trưa

Bé ơi! Mình chiếc võng thức hoài đu đưa

Có riêng mình mắt võng thức hoài đu đưa…

(Võng ru bé ngủ) Lời bài hát được tác giả lựa chọn phù hợp, với ngững âm thanh rất hay và dễ thuộc Lời thơ thật ý nghĩa, ở đây đồ vật là cái võng - một sự vật vô tri vô giác được tác giả nhân hoá trở nên có tình cảm,có hành động như con người Võng cũng biết thương bé, cũng biết thức để ru bé ngủ Nghệ thuật nhân hoá kết hợp với sử dụng điệp ngữ đã tạo ra ngữ điệu cho bài hát,tạo ra tiết tấu êm đềm như bài hát ru đưa em bé vào giấc ngủ ngon lành, đồng thời nhấn mạnh trạng thái “thức” của võng, võng vẫn miệt mài ru em ngủ và em vẫn ngủ ngon lành với giấc ngủ bình yên “Mắt võng” là cách nói ẩn dụ hình thức tạo nên sự ngộ nghĩnh, sinh động,

“mắt võng” cũng thức để “trông” cho bé ngủ Võng trở thành một người bạn thân

Trang 8

thiết, gắn bó và chăm sóc em bé Qua đó ta cũng thấy được sự trân trọng đối với trẻ thơ, dành mọi sự yêu thương quan tâm cho trẻ thơ Nhân hoá giúp cho thơ có

“tình” hơn, cảnh trở nên sống động và có hồn hơn Tình cảm yêu thương dành cho

em bé ngây thơ hồn nhiên cũng từ đó được bộc lộ

3.1.2 Đối tượng nhân hóa là cây cối

Loại đối tượng nhân hóa là cây cối chúng tôi thống kê được 43 phiếu và cũng rất phong phú đa dạng Cây cối có thể là cây lương thực cây hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây bóng mát…Nhân hóa đã biến các loại cây này từ trường hữu sinh nhưng vô tri vô giác trở thành có hành động như con người

Cây lúa là một loại cây lương thực gắn bó với làng quê Việt Nam, nhờ có nhân hoá tác giả đã làm cho hình ảnh cây lúa thật sinh động:

Lúa vui lá vẫy, chào bác xã viên

Lá lúa xanh rờn múa muôn cánh mỏng…

(Tiếng máy về làng) Đối tương nhân hoá ở đây là cây lúa đang thời tươi tốt Cách nói nhân hoá thật ngộ nghĩnh, cây lúa như một bạn nhỏ ngoan ngoãn vẫy chào bác xã viên Hình ảnh nhân hoá miêu tả cánh đồng lúa mơn mởn, đầy sức sống và diễn tả được niềm phấn khởi, niềm vui dào dạt của người nông dân trước vụ mùa hứa hẹn bội thu

Cùng với những loại cây ở trên thì loại cây cảnh như cây mai, cây đào cũng trở thành đối tượng để nhân hóa:

Chợ Tết nhiều trẻ con

Nhiều áo màu sặc sỡ Mai đào đua nhau nở Chợ dập dìu đua chen

(Chợ Tết quê)

Trang 9

Mai, đào là một loài hoa, đồng thời cũng là một loại cây cảnh dùng để trang trí trong những ngày tết Hoa mai, hoa đào được nhân hóa cũng có những hoạt động như con người Mai, đào đua nhau cùng nở để đón tết sang, cùng với những hoạt động náo nhiệt của con người trong những ngày chuẩn bị tết, ngày mà trẻ em rất thích và mong chờ Câu thơ vẽ nên bức tranh mùa xuân rực rỡ và tràn đầy sức sống, bức tranh bầu trời và cảnh vật trong những ngày chớm xuân

3.1.3 Đối tượng nhân hóa là động vật

Đây là đối tượng được nhân hóa nhiều nhất chúng tôi thống kê có 69 phiếu (chiếm 31,8%) bao gồm nhiều con vật rất đáng yêu và gần gũi với thiếu nhi

Trong bài thơ “Trên bãi biển”, con gà trống được dùng để làm đối tượng nhân hóa:

Gà trống khoe khoang cùng ngọn gió

Mặt trên lên nhờ tiếng gáy của ta

(Trên bãi biển)

Gà trống là một loại vật nuôi trong gia đình được nhân hóa có tính cách như con người, đó là thích khoe khoang Nhân hóa làm cho con vật cũng mang tính cách giống như con người Bài thơ viết về cuộc nói chuyện của những sinh vật ở trên bãi biển đang tranh giành nhau xem mặt trời mọc là nhờ ai Gà trống cũng đang khoe với ngọn gió rằng mặt trời mọc lên là nhờ tiêng gáy của mình Bài thơ như muốn nhắc nhở các bạn nhỏ không nên vỗ ngực, ra vẻ ta đây Bài thơ giáo dục cho thiếu nhi đức tính khiêm tốn, nhắc nhở các em trong khi ứng xử với bạn bè cần phải phải khéo léo biết nhường nhịn bạn bè, như vậy mới trở thành một bạn nhỏ ngoan

3.1.4 Đối tượng nhân hóa là sự vật hiện tượng tự nhiên

Đây là loại đối tượng có tần số sử dụng đứng thứ hai (65 phiếu chiếm 30%) Tuy là đối tượng vô tri vô giác nhưng khi được nhân hóa chúng lại trở nên thi vị và đầy sức sống Chúng tôi phân tích một số ví dụ tiêu biểu để minh hoạ:

Trang 10

Dòng sông mới điệu làm sao Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha Trưa về trời rộng bao la

Áo xanh sông mặc như là mới may Chiều trôi thơ thẩn áng mây

Cài lên màu áo hây hây ráng vàng Rèm thêu trước ngực vầng trăng Trên nền nhung tím trăm ngàn sao lên Khuya rồi, sông mặc áo đen

Nép trong rừng bưởi lặng yên đôi bờ…

Sáng ra thơm đến ngẩn ngơ Dòng sông đã mặc bao giờ áo hoa Ngước lên bỗng gặp la đà

Ngàn hoa bưởi đã nở nhòa áo ai…

(Dòng sông mặc áo) Đọc qua bài thơ, chúng ta nhận ra một bức tranh sinh động về dòng sông, chúng ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp một dòng sông hiền hòa suốt một ngày đêm Đó là dòng sông quê thơ mộng, thân thương, yểu điệu, duyên dáng, nhí nhảnh, ngộ nghĩnh

Cảnh dòng sông buổi sáng thì: "Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha" , Ấy thế

mà buổi trưa thì lại: " Áo xanh sông mặc như là mới may", buổi chiều thì dòng sông có vẻ " hây hây ráng vàng" của áng mây, buổi tối trông rõ vầng trăng bơi lặn trên sông và thêm nữa là "trên nền nhung tím muôn ngàn sao lên" Đêm đến, dòng sông quê hiền lành ngủ yên, mà cứ "Nép trong rừng bưởi lặng yên đôi bờ" Đoạn

thơ có nhiều hình ảnh đẹp Đây là một bài thơ tả cảnh thiên nhiên khá tinh tế Phép

Trang 11

nhân hóa đã được tác giả sử dụng rất khéo léo tài tình, kết hợp tinh tế với sử dụng các điệp ngữ đã tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp về dòng sông thơ mộng, hiền hoà

Mấy câu kết thúc bài thơ cũng rất thú vị Khi tả đến cảnh đêm rồi, bài thơ vẫn chưa dừng lại mà vẫn tiếp tục mở ra sang sáng hôm sau, với hình ảnh áo mới của sông là hoa bưởi trắng:

Sáng ra thơm đến ngẩn ngơ Dòng sông đã mặc bao giờ áo hoa Ngước lên bỗng gặp la đà

Ngàn hoa bưởi đã nở nhòa áo ai…

Như vậy, bài thơ hứa hẹn tiếp tục một và nhiều vòng quay mới của ngày

đêm,đồng nghĩa với việc dòng sông quê mến yêu vẫn liên tục thay áo mới

Tiểu kết

Trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, đối tượng nhân hoá được xây dựng rất đa dạng nhưng thường là những cây cối, con vật gần gũi thân thương quanh ta Đó là con chim, dòng sông, con cá, con cò, cây bàng…Tác giả đã tài tình khi phát hiện ra những nét tương đồng giữa con vật, loài vật với đặc điểm tính cách hoạt động của con người để tạo liên tưởng bất ngờ, sinh động Ẩn đằng sau bức tranh thiên nhiên sống động gần gũi giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh là những lời nhắc nhở, những bài học đạo đức đến với trẻ thơ nhẹ nhàng, thấm thía

3.2 Dùng đại từ nhân xưng của con người cho đối tượng không phải là người

Trong tập thơ- nhạc tuổi thơ của Nguyễn Trọng Tạo tác giả đã sử dụng một

số đại từ nhân xưng để làm đối tượng nhân hoá, tuy số lượng không nhiều (49phiếu trên tổng số 278 phiếu, chiếm 17,6%) nhưng nó đã giúp cho bài thơ, bài hát thật thân thương gần gũi với trẻ thơ

3.2.1 Dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất

Trong bài thơ dưới đây ta thấy đối tượng nhân hóa được xưng là “tớ”:

Trang 12

Tớ là tàu hỏa Giọng tớ rất khỏe Vang khắp núi ngàn Chân tớ săn gân Chạy nghìn cây số Lưng tớ vạm vỡ Cõng chục ngôi nhà…

………

Hồi còi thân yêu Vẫy trong nắng chiều Bàn tay khói trắng

Tớ quen chạy thẳng Xình xịch xình xịch

(Tàu hỏa)

Tàu hỏa- đồ vật vô tri vô giác được nhân hóa trở thành một con người có nhiều phẩm chất đáng quý: khỏe mạnh, làm việc tích cực ( Giọng tớ… Chân tớ săn gân…chạy nghìn cây số…), luôn mong muốn đem lại niềm vui và hạnh phúc đến cho mọi người (Tớ lại tiễn đưa…chào mùa xuân tới) Tác giả để tàu hỏa tự kể

về bản thân mình, tàu hỏa xưng “tớ”, tàu hỏa cũng như một con người với thân hình vạm vỡ, to khỏe và cũng có giọng nói vang khắp núi ngàn…Tàu hỏa có tính tình rất hồn nhiên , vui vẻ và tốt bụng.Từ hình ảnh tàu hỏa chúng ta liên tưởng tới những người làm trong ngành đường sắt đáng kính trọng Bằng biện pháp nhân hóa tác giả ca ngợi con người lái những con tàu chạy khắp đất nước, đưa mọi người đi đến nơi về đến chốn, mang lại niềm vui hạnh phúc cho mọi nhà

3.2.2 Dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ ba

Dạng này được sử dụng rất đa dạng và phong phú

Ngày đăng: 19/03/2018, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm