Suy dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý mà nguyên nhân chính do chế độ ăn thiếu hụt các chất dinh dưỡng sinh năng lượng và các chất dinh dưỡng không sinh năng lượng, nhưng nó đóng vai trò q
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
6 Tổng quan tài liệu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM 10
1.1 TỔNG QUAN VỀ SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM 10
1.1.1 Một số khái niệm 10
1.1.2 Phân loại suy dinh dưỡng trẻ em 12
1.1.3 Nguyên nhân suy dinh dưỡng 13
1.1.4 Hậu quả của tình trạng suy dinh dưỡng 16
1.2 NỘI DUNG CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM 18
1.2.1 Cải thiện việc cung cấp lương thực thực phẩm 18
1.2.2 Cải thiện điều kiện chăm sóc y tế để hạn chế suy dinh dưỡng 20
1.2.3 Cải thiện vệ sinh môi trường 21
1.2.4 Cải thiện chất lượng chăm sóc trẻ em 23
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN TINH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM 24
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 24
1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội 25
1.3.3 Đầu tư công tác xã hội 26
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẢI THIỆN SUY DINH DƯỠNG TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN HÕA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 27
2.1 TÌNH HÌNH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN HÕA VANG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM 27
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 27
2.1.3 Đầu tư công tác xã hội 29
2.2 THỰC TRẠNG CẢI THIỆN SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÕA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 31
2.2.1 Tình hình cải thiện suy dinh dưỡng trẻ em trên địa bàn huyện Hòa Vang 31
2.2.2 Thực trạng cải thiện việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho trẻ trên địa bàn huyện 34
2.2.3 Thực trạng cài thiện điều kiện chăm sóc y tế trên địa bàn huyện Hòa Vang 41
2.2.4 Thực trạng cải thiện công tác vệ sinh môi trường 47
2.2.5 Thực trạng cải thiện chất lượng chăm sóc trẻ em 54
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC PHÕNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG TẠI ĐỊA PHƯƠNG 58
2.4 NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ HẠN CHẾ 59
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÕA VANG 60
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 60
3.2 BỐI CẢNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CÁC VẤN ĐỀ VỀ DINH DƯỠNG TRẺ EM TRONG 10 NĂM TỚI 61
3.2.1 Bối cảnh 61
Trang 63.2.2 Các vấn đề dinh dưỡng cần giải quyết 63
3.3 CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM TẠI HUYỆN HÕA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 63
3.3.1 Nhóm giải pháp cải thiện quản lý việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho trẻ 63
3.3.2 Giải pháp cải thiện chính sách bảo đảm điều kiện chăm sóc y tế 67
3.3.3 Giải pháp cải thiện công tác vệ sinh môi trường 71
3.3.4 Giải pháp cải thiện quản lý chăm sóc trẻ em 78
3.3.5 Nhóm giải pháp khác 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN (Bản sao)
KIỂM TRA HÌNH THỨC LUẬN VĂN
Trang 7QĐ : Quyết định SDD : Suy dinh dƣỡng
THCS : Trung học cơ sở UBND : Ủy ban nhân dân VCDC : Vi chất dinh dƣỡng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng các xã thuộc huyện Hòa
2.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em các quận/huyện thuộc
2.3 Nguồn cung cấp thực phẩm cho các trường mầm non
2.4 Ý kiến đánh giá về công tác quản lý cung cấp LTTP tại
2.5 Tỷ lệ trẻ em sinh ra được cấp thẻ Bảo hiểm y tế 42
2.6
Đánh giá về chất lượng chỉ đạo thực hiện công tác bảo
đảm các điều kiện chăm sóc y tế trên địa bàn huyện
Hòa Vang
45
2.7 Đánh giá các chỉ tiêu công tác chăm sóc trẻ em 56
Trang 92.7 Tỷ lệ phụ huynh quan tâm đến môi trường sống của trẻ 50
2.8 Tỷ lệ % trường mầm non đảm bảo điều kiện vệ sinh
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là mầm non, thế hệ tương lai của xã hội Một đất nước muốn phát triển toàn diện không thể không chú trọng đến việc bồi dưỡng, chăm sóc trẻ
em Tuy nhiên, theo thống kê của Liên hợp quốc, 90% trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi trên thế giới tập trung ở 36 nước, trong đó có Việt Nam Suy dinh dưỡng không chỉ tác động đến tăng trưởng trong ngắn hạn, mà còn giới hạn
sự phát triển của xương và trí tuệ của trẻ trong dài hạn Vì vậy vấn đề suy dinh dưỡng là vấn đề mà các quốc gia, tổ chức trên thế giới quan tâm
Thành phố Đà Nẵng đang hoàn thiện trở thành thành phố đáng sống và
có nền kinh tế phát triển bền vững Song song với điều đó, vấn đề con người luôn được thành phố quan tâm hàng đầu, trong đó có bồi dưỡng và phát triển thể chất trẻ em Theo số liệu của Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản thuộc Sở Y tế thành phố Đà Nẵng năm 2016, thành phố có 3.065/80.135 trẻ
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng Có thể nhận thấy, những thành tựu kinh tế của thành phố sẽ bị mờ nhạt đi khi tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng còn cao
Suy dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý mà nguyên nhân chính do chế độ
ăn thiếu hụt các chất dinh dưỡng sinh năng lượng và các chất dinh dưỡng không sinh năng lượng, nhưng nó đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thu
và chuyển hóa các chất, tác động đến quá trình tăng cân, phát triển khối cơ, xương và các tổ chức nội tạng trong cơ thể Trẻ bị suy dinh dưỡng có thể để lại những hậu quả khó lường như tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, tăng các nguy cơ bệnh lý các bệnh nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy…, chậm phát triển thể chất ảnh hưởng đến tầm vóc, đặc biệt là chiều cao, chậm phát triển tâm thần và trí tuệ,… Huyện Hòa Vang là huyện nông nghiệp, huyện ngoại thành duy nhất trên đất liền của thành phố Đà Nẵng Trẻ em suy dinh dưỡng
Trang 11huyện Hòa Vang chiếm khoảng 34,06% trẻ em suy dinh dưỡng toàn thành phố với 1.044 trẻ, gần gấp đôi số lượng trẻ quận Liên Chiểu đứng thứ hai (527 trẻ, chiếm 17,2%)
Việc nâng cao sức khoẻ, cải thiện dinh dưỡng cho trẻ em là rất cần thiết và cấp bách trên cả nước nói chung và huyện Hòa Vang nói riêng Để đóng góp dẫn liệu về suy dinh dưỡng trẻ em và một số giải pháp khắc phục dựa trên đặc điểm
riêng của huyện Hòa Vang, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài "Giải pháp cải thiện tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận văn là khái quát những vấn đề lý luận và
thực tiễn của vấn đề suy dinh dưỡng, nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em ở huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp cải thiện tình trạng trẻ em duy dinh dưỡng
Để đạt được mục tiêu trên, mục tiêu cụ thể đặt ra là:
- Khái quát được lý luận suy dinh dưỡng, lý luận về cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em
- Đánh giá được thực trạng cải thiện tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng trên địa bàn huyện Hòa Vang
- Đưa ra một số giải pháp cải thiện tình hình suy dinh dưỡng của trẻ em
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn huyện Hòa Vang Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng dẫn đến tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng từ đó hoàn thiện chính sách của các cơ quan chính quyền nhằm cải thiện tình trạng này
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung đề tài tập trung nghiên cứu tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi
Không gian: Huyện Hòa Vang
Thời gian: Phạm vi thu thập số liệu cho nghiên cứu từ 2012-2016; Phạm
vi thời gian tác động của chính sách 2018 – 2022
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc, thu thập, tổng hợp và khái quát
hoá tài liệu liên quan đến lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, làm cơ
sở lý luận cho đề tài
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả là phương pháp thông qua các
số liệu thu thập được nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội Từ đó vận dụng phương pháp này để phân tích thực trạng trẻ em suy dinh dưỡng trên địa bàn huyện Hòa Vang
- Phương pháp mô tả so sánh là phương pháp liên quan đến việc thu thập
số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh tình hình suy dinh dưỡng của trẻ em từ đó so sánh thực trạng khác nhau qua các giai đoạn thời gian
- Phương pháp chuyên gia: trao đổi với các chuyên gia có hiểu biết và
nghiên cứu về lĩnh vực này như là cán bộ Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản thành phố Đà Nẵng, phòng Giáo dục và Đào tạo, phòng Nội vụ huyện,
- Phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên: là phương pháp chọn mẫu
mà các đơn vị được chọn theo nguyên tắc ngẫu nhiên, không phụ thuộc và ý muốn chủ quan
Xác định kích thước mẫu: áp dụng công thức:
Trang 13Với xác suất 95% có
Chọn khoảng sai lệch mong muốn
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản thành phố thì năm 2016 tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi huyện Hòa Vang chiếm 7,44%, suy ra n 160 Như vậy, tác giả chọn cỡ mẫu nghiên cứu là 160 mẫu
- Phương pháp đánh giá là việc đưa ra nhận định tổng hợp sau khi phân
tích các số liệu thống kê và điều tra bằng cách đối chiếu và so sánh
- Phương pháp thực chứng là phương pháp phân tích lý giải khách quan
về bản thân các vấn đề kinh tế và xã hội, từ đó ta có thể phỏng đoán được phản ứng của các chính sách khác nhau của chính phủ và hiệu quả có thể của các chính sách này
Các phương pháp này được sử dụng theo nhiều cách từ kết hợp đến riêng
lẻ với nhau Chúng được sử dụng trong việc khảo cứu, phân tích, so sánh và đánh giá các nghiên cứu lý luận và thực trạng trẻ em suy dinh dưỡng và được dùng đánh giá hiệu quả của việc thực thi các chính sách nhằm phòng chống
và hạn chế trẻ suy dinh dưỡng Từ đó chỉ ra các nguyên nhân và các vấn đề tồn tại để hình thành các giải pháp hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng
- Số liệu tham khảo chủ yếu từ thống kê của Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Sinh sản thuộc Sở Y tế thành phố Đà Nẵng, số liệu từ Chi cục thống kê huyện Hòa Vang qua các năm và các báo cáo về giáo dục, nội vụ, y tế huyện… Trong đó có báo cáo khảo sát đánh tình hình suy dinh dưỡng và tình hình thực hiện công tác chỉ đạo giải quyết vấn đề suy dinh dưỡng của trẻ em ở huyện Hòa Vang của Huyện ủy Hòa Vang, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Nội vụ huyện
Trang 145 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống cơ sở lý luận về suy dinh dưỡng
- Đánh giá tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất giải pháp cải thiện tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu, bài viết về dinh dưỡng và suy dinh dưỡng của trẻ em:
Dinh dưỡng: Theo định nghĩa của giới Y học, là quá trình cung cấp năng
lượng từ thức ăn và chuyển hóa năng lượng trong tế bào để nuôi dưỡng cơ thể Dinh dưỡng chiếm một vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển cơ thể và giữ gìn sức khỏe của con người Ở mỗi thời kỳ phát triển của một đời người, nhu cầu về dinh dưỡng hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên việc đáp ứng nhu cầu ấy một cách hợp lý lại luôn luôn là vấn đề đáng chú ý, vì đó là nền tảng của sức khỏe
Tình trạng dinh dưỡng: Theo Viện Dinh dưỡng Việt Nam là tập hợp các
đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề về dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của một cộng đồng
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi
chất dinh dưỡng Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức
độ khác nhau, nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ
Trang 15Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi, theo
các tác giả Mann J & Truswell AS [25] trong tác phẩm Essentials of human
nutrition, hiện nay có bốn phương pháp được dùng để đánh giá tình trạng
dinh dưỡng của trẻ em: Các chỉ tiêu nhân trắc; Điều tra khẩu phần và tập quán
ăn uống; Thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật
có liên quan đến ăn uống; Các xét nghiệm hóa sinh
Giải pháp cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng, theo Quyết định số
226/QĐ-TTg ban hành ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ
“Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn
2011-2020 và tầm nhìn 2030”[13] thì có các giải pháp chủ yếu: giải pháp về chính
sách, giải pháp về nguồn lực, giải pháp về truyền thông vận động và thông tin truyền thông giáo dục dinh dưỡng…
Trong nghiên cứu của Bùi Quang Bình [1] đã khẳng định vấn đề suy dinh dưỡng có ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ, trẻ em và phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia Biện pháp để giải quyết tình trạng này là kiểm soát việc cung cấp lương thực phẩm, trong đó vấn đề quan trọng là kiểm soát giá và tăng thu nhập cho người dân Ngoài ra biện pháp can thiệp bằng dinh dưỡng cũng có thể thực hiện nhưng hiệu quả thường không cao
Tác giả Nguyễn Công Khẩn [10] đã thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến SDD trẻ em ở Việt Nam Trong nghiên cứu, tác giả tập trung chủ yếu đến các đặc điểm hộ gia đình như trình độ giáo dục, số thành viên trong gia đình, thu nhập của hộ gia đình… và đưa ra kết luận chỉ có trình độ giáo dục của người cha ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em, hộ gia đình có điều kiện sống tốt thì nguy cơ trẻ suy dinh dưỡng thấp hơn, trẻ thuộc gia đình nông dân, điều kiện sống kém hơn thì tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn
Trang 16Tác giả Lê Thị Hợp và cộng sự Nguyễn Thị Hải Anh [7] tiến hành nghiên cứu cho rằng liệu cho ăn bổ sung sớm có liên quan đến sự kém phát triển của trẻ em Việt Nam không? Kết quả cho thấy mặc dù 87,1% bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất một năm nhưng chỉ có 4,3% trẻ được nuôi sữa
mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu Tác giả cũng nhận thấy việc nuôi con bằng sữa mẹ không hoàn toàn và trẻ cai sữa sớm sẽ lớn chậm hơn những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn Từ 1-3 tháng, trẻ nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn sẽ phát triển tốt cả về cân nặng và chiều cao Từ 3-6 tháng, trẻ nuôi sữa mẹ hoàn toàn cũng có sự phát triển về cân nặng nhanh hơn; từ 6-12 tháng có sự phát triển về chiều cao nhanh hơn so với các bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn hoặc cai sữa sớm
Nghiên cứu của Vũ Phương Hà [4] tại hai huyện Hương Hóa và Đăkrong của tỉnh Quảng Trị trong năm 2010 cho thấy: Tỷ lệ SDD của trẻ khu vực nghiên cứu là rất cao so với tỷ lệ SDD chung toàn quốc Tỷ lệ SDD cao ở cả 3 chỉ số, trong đó SDD thể nhẹ cân là 42,1% (CN/T), thể thấp còi 48,2% (CC/T) và thể gầy còm 13,9% (CN/CC) Kiến thức của bà mẹ về nuôi con bú
và ăn bổ sung còn nhiều hạn chế Có tới 27,0% bà mẹ không biết cho bú lần đầu vào thời gian nào và bú hoàn toàn trong mấy tháng là phù hợp Chỉ có 46,8% bà mẹ cho rằng nên cho bú hoàn toàn đến 6 tháng Trên 50% các bà
mẹ cho rằng phải cho con ăn bổ sung trước 6 tháng hoặc không biết nên bắt đầu cho ăn vào thời điểm nào Nghiên cứu này cũng chỉ ra tầm quan trọng của các chính sách của các cơ quan nhà nước liên quan tới cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em
Nghiên cứu của tác giả Đinh Đạo [3] tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam đã xác định được tình trạng suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số làm cơ sở lựa chọn 3 nhóm giải pháp can thiệp hiệu quả như: nâng cao năng lực cộng đồng, giáo dục truyền thông
Trang 17tích cực và hỗ trợ của dịch vụ y tế Các nhóm giải pháp này đã cải thiện được kiến thức, thực hành và niềm tin bà mẹ thông qua vai trò người có uy tín về cách nuôi dưỡng trẻ em, biết tận dụng nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương cho con ăn uống đều đặn hàng ngày; Cải thiện được tình trạng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My mắc các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp, thiếu máu lâm sàng; Cải thiện khả năng giảm suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cao hơn gấp 2 lần cũng như cải thiện được cân nặng và chiều cao trung bình trẻ em; Xây dựng được mô hình can thiệp có thể áp dụng mở rộng cho các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng miền núi cao ở khu vực Quảng Nam nói riêng và Việt Nam nói chung
Các nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương [6] được thực hiện tại huyện Cẩm Thủy, Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa và huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị năm 2007 và 2008 cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh là khá cao (gần 90%) Tuy nhiên tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn đến 4 tháng ở Cẩm Thủy là 23,0%; Lang Chánh là 17,8% và Hải Lăng là 28,5% và đến 6 tháng là 19,0%; 8,6% và 18,3% Trong số trẻ đã được ăn bổ sung có 28,1%, 53,7% và 31,9% số trẻ tương ứng tại ba địa phương được cho ăn bổ sung sớm trước 4 tháng tuổi Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và trình độ học vấn của mẹ, cần có các biện pháp tuyên truyền giáo dục và nâng cao kiến thức và hiểu biết của các
bà mẹ Vai trò của các đoàn thể như hội phụ nữ và công tác truyền thông dân
số rất quan trọng
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ánh Thi [17] tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng cho thấy có nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em Các nguyên nhân tồn tại ở các phạm vi khác nhau từ gia đình đến cộng đồng Nhìn chung có 4 nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cao là: (i) khẩu
Trang 18phần ăn của trẻ không hợp lý, (ii) kỹ năng chăm sóc trẻ kém, (iii) tỷ lệ trẻ em
bị bệnh cao, (iv) tỷ lệ bà mẹ kém dinh dưỡng cao Có nhiều nguyên nhân gián tiếp tác động đến 4 nguyên nhân trực tiếp nói trên, nhưng nguyên nhân bao trùm chính là vấn đề nghèo và phát triển đô thị kém Đây là một kết cục có tính tương tác qua lại giữa nguyên nhân và hậu quả, mà phải thấy rằng yếu tố mang tính chất quyết định đó là nghèo đói Giải pháp giúp tăng trưởng kinh
tế, thoát nghèo đói và phân phối phúc lợi nhằm phát triển đồng bộ đô thị trở thành quan trọng bậc nhất
Trang 19Theo định nghĩa của giới Y học, dinh dưỡng là quá trình cung cấp năng lượng từ thức ăn và chuyển hóa năng lượng trong tế bào để nuôi dưỡng cơ thể Dinh dưỡng chiếm một vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển cơ thể và giữ gìn sức khỏe của con người
Ở mỗi thời kỳ phát triển của con người, nhu cầu về dinh dưỡng hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên việc đáp ứng nhu cầu ấy một cách hợp lý lại luôn luôn là vấn đề đáng chú ý, vì đó là nền tảng của sức khỏe Điều này càng đặc biệt quan trọng đối với trẻ nhỏ, vì các sai lầm về dinh dưỡng trong giai đoạn ấu thơ có khi gây nên những hậu quả nghiêm trọng và không thể phục hồi kéo dài theo suốt đời
b Tình trạng dinh dưỡng
Theo Viện Dinh dưỡng Việt Nam: Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng của cá thể là kết quả của ăn uống và
sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng
có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá, sinh lý trong quá trình
Trang 20chuyển hoá Việc sử dụng thực phẩm phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của
cá thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào
và tình trạng sức khoẻ Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng), là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng, hoặc cả hai
Tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi vấn đề về dinh dưỡng nói lên tình trạng dinh dưỡng của một tập hợp dân cư Thông thường, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng của một cộng đồng, và có thể được sử dụng để đối chiếu so sánh với số liệu của quốc gia hoặc các cộng đồng khác Theo tổ chức Y tế Thế giới, các số đo nhân trắc (cân nặng, chiều cao) là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em, trong đó khuyến cáo 3 chỉ tiêu nên dùng là: cân nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/tuổi (CC/T) và cân nặng/chiều cao (CN/CC)
c Suy dinh dưỡng
Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm suy dinh dưỡng trẻ em, tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả sử dụng định nghĩa SDD của Tiểu ban Dinh dưỡng của tổ chức Y tế Thế giới:
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức
độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần
và vận động của trẻ
SDD là một trong những biểu hiện lâm sàng của bệnh thiếu DD ở trẻ em Trong cộng đồng, SDD biểu hiện ở ba thể: thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi thấp), thể thấp còi (chiều cao/tuổi thấp), và thể gày còm (cân nặng/chiều cao thấp) SDD là một kết quả của nhiều yếu tố kết hợp, trong đó bao gồm 3 nhóm yếu
tố chính là nhóm tiêu thụ lương thực thực phẩm trực tiếp; nhóm chăm sóc và các yếu tố kinh tế xã hội gián tiếp như dịch vụ chăm sóc sức khỏe; phúc lợi xã
Trang 21hội; tương quan giữa giáo dục, văn hóa và xã hội Hiện nay, SDD đang là vấn
đề sức khỏe nghiêm trọng ở nhiều nước đang phát triển Nguyên nhân SDD thường phức tạp và phụ thuộc vào đặc thù của mỗi nước Nghiên cứu các đặc điểm đó dựa vào các chỉ tiêu thích hợp là một công việc cần thiết để xây dựng nên các can thiệp dự phòng để điều trị kịp thời và thích hợp
1.1.2 Phân loại suy dinh dưỡng trẻ em
Trong cộng đồng, SDD thể vừa và nhẹ thường gặp nhiều nhất Phát hiện SDD có ý nghĩa sức khỏe quan trọng vì ngay cả suy dinh dưỡng nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ em Hậu quả do bị suy dinh dưỡng lúc nhỏ còn ảnh hưởng lâu dài đến khả năng lao động thể lực, trí lực cũng như một số bệnh mạn tính ở tuổi trưởng thành Để xác định tình trạng suy dinh dưỡng chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc (cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao)
* Cách phân loại SDD của Tổ chức Y tế thế giới:
Năm 1981, Tổ chức Y tế thế giới chính thức khuyến nghị sử dụng khoảng giới hạn từ -2 SD đến + 2 SD để phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ
em Quần thể tham khảo được sử dụng là NCHS (National Center for Health Statistics) Cho tới nay, đây là thang phân loại được chấp nhận rộng rãi trên thế giới Thang phân loại theo các chỉ số như sau:
- Cân nặng/tuổi:
Những trẻ có cân nặng/tuổi từ - 2SD trở lên được coi là bình thường Suy dinh dưỡng chia ra các mức độ sau:
Từ dưới - 2 SD đến - 3 SD: suy dinh dưỡng độ 1
Từ dưới - 3 SD đến - 4 SD : suy dinh dưỡng độ 2
Dưới - 4 SD: suy dinh dưỡng độ 3
- Chiều cao/tuổi:
Từ - 2SD trở lên: Coi là bình thường
Trang 22Từ dưới - 2SD đến - 3 SD: Suy dinh dưỡng độ 1
Dưới - 3 SD: Suy dinh dưỡng độ 2
- Cân nặng theo chiều cao: thấp so với điểm ngưỡng là dưới - 2 SD
* Để phân biệt thiếu dinh dưỡng mới xảy ra gần đây hay đã lâu, tác giả Waterlow (1976) đã đề nghị một cách phân loại như sau:
- SDD thể nhẹ cân: Cân nặng thấp hơn so với mức tiêu chuẩn của trẻ
cùng tuổi và giới (sử dụng điểm ngưỡng cân nặng theo tuổi dưới -2SD)
- SDD thể thấp còi: Là giảm mức độ tăng trưởng của cơ thể, biểu hiện
của SDD mạn tính, có thể bắt đầu sớm từ SDD bào thai do mẹ bị thiếu dinh dưỡng Được xác định khi chiều cao thấp hơn với mức tiêu chuẩn của trẻ cùng tuổi và giới (dưới-2SD)
- SDD thể gày còm: Là hiện tượng cơ và mỡ cơ thể bị teo đi, được coi là
SDD cấp tính vì thường biểu hiện trong thời gian ngắn Được xác định khi
cân nặng theo chiều cao dưới -2SD
1.1.3 Nguyên nhân suy dinh dưỡng
Rõ ràng mức sống và các điều kiện kinh tế của các gia đình là yếu tố cực
kỳ quan trọng ảnh hưởng đến vấn đề SDD của trẻ em hiện nay Sự thiếu đói trong khẩu phần ăn của người lớn cũng như của trẻ nhỏ đương nhiên sẽ dẫn đến tình trạng thiếu dinh dưỡng nên càng không thể nói đến dinh dưỡng cân đối và hợp lý Lượng năng lượng mà trẻ em nghèo đói nhận được có lẽ chỉ cố giúp duy trì cho các hoạt động sống chứ chưa giúp được gì cho quá trình phát triển Tại Hội thảo Quốc gia về dinh dưỡng năm 1993, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam đã khẳng định một nguyên nhân quan trọng hàng đầu để trẻ em suy dinh dưỡng là một số bộ phận chị em phụ nữ quá nghèo mà không đủ thức ăn để nuôi con ngay từ giai đoạn bào thai Điều kiện kinh tế khó khăn của con người sẽ kéo theo nhiều yếu tố ảnh hưởng khác như về nhà ở, vệ sinh – môi trường, sự tiêu dùng của các dịch vụ chăm
Trang 23sóc sức khỏe, văn hóa Sẽ không quá khi nói rằng “nghèo đói - ốm đau – bệnh tật là cái vòng xoắn khôn cưỡng”
UNICEF đã xây dựng mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng vào năm
1998 Sau đó, một số tổ chức khác cũng đã xây dựng những mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặc dựa trên mô hình của UNICEF để phát triển
mô hình mới Mô hình nguyên nhân SDD cho thấy nguyên nhân của SDD khá
đa dạng, phức tạp, có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề y tế, lương thực - thực phẩm và thực hành việc chăm sóc trẻ tại hộ gia đình, nêu ra ở các cấp độ khác nhau thì tiềm ẩn các nguyên nhân khác nhau: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân tiềm tàng, nguyên nhân cơ bản và các yếu tố ở cấp độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác
- Nguyên nhân trực tiếp: bao gồm hai yếu tố cơ bản là khẩu phần ăn không đủ và mắc các bệnh nhiễm khuẩn Dễ dàng thấy, khẩu phần ăn không
đủ về chất và kém lượng dinh dưỡng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến SDD Trẻ không được nuôi đúng cách ngay từ mới sinh ra như không bú mẹ
đủ, cai sữa sớm, cho ăn dặm sớm, ăn thức ăn đặc trễ không cung cấp đủ dinh dưỡng cho các hoạt động dễ dẫn đến SDD Trẻ em sinh ra trong các gia đình nghèo, không có đủ thực phẩm để ăn, cha mẹ thiếu kiến thức nuôi con, trẻ biếng ăn do thường xuyên mắc các bệnh lý nhiễm trùng, chế biến thức ăn không hợp khẩu vị và lứa tuổi của trẻ, cách chăm sóc trẻ không phù hợp (quá căng thẳng dẫn đến biếng ăn tâm lý); Các bệnh nhiễm trùng thường hay gặp như tiêu chảy và nhiễm trùng đường hô hấp ảnh hưởng nhiều đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Trẻ bị bệnh trong thời gian dài dẫn đến biếng ăn, hao hụt các chất dinh dưỡng Nguyên nhân sâu xa trẻ hay mắc các bệnh nhiễm trùng
là do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, các vấn đề nước sạch,
vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh
Trang 24- Nguyên nhân tiềm tàng: đó là sự yếu kém trong kiến thức của người chăm sóc trẻ, dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, yếu tố chăm sóc của gia đình, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh, an ninh thực phẩm không tốt, trẻ thiếu sự chăm sóc dẫn đến hay mắc bệnh, các nguyên nhân này thường xuất phát từ nguồn gốc là đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung bao gồm sự mất bình đẳng về kinh tế
- Nguyên nhân cơ bản: do kiến trúc thượng tầng, chính sách, chế độ xã hội Cấu trúc chính trị - xã hội – kinh tế và môi trường sống (các điều kiện xã hội - văn hoá là những yếu tố ảnh hưởng đến SDD trẻ em ở tầm vĩ mô Ở các nước phát triển, chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng, có tác động đến xã hội và đời sống ngày càng sâu sắc Đặc biệt, khủng hoảng kinh tế trong thời gian này thường kéo dài dẫn đến đảm bảo an ninh lương thực và đáp ứng cung cấp những dịch vụ y tế, dinh dưỡng tại các nước đang phát triển càng trở nên khó khăn Và đó là hệ lụy làm cho SDD là gánh nặng sức khoẻ, kinh tế và
xã hội ở nhiều nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ em trước tuổi đi học bị suy dinh dưỡng chiếm từ 20-50% Khu vực Nam Á có tỷ lệ mắc khá cao 40-50% Tỷ lệ này tăng lên vào thời gian xảy ra nạn đói hoặc có các tình trạng khẩn cấp khác như chiến tranh, thiên tai (hạn hán, bão lụt, động đất…) Số liệu từ các cuộc điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe của 11 quốc gia cho thấy hầu hết ở các nước này, nhóm trẻ thuộc tầng lớp nghèo có tỷ lệ thấp còi cao gấp đôi so với nhóm trẻ có gia đình tầng lớp khá giả
- Một số nguyên nhân khác ít gặp hơn: trẻ năng động hoạt động quá nhiều, hoặc sống trong môi trường quá nóng hoặc quá lạnh, làm tiêu hao năng lượng nhiều; hoặc trẻ bị bệnh nặng có nhu cầu các dưỡng chất cao mà không được cung cấp tăng cường
Trang 251.1.4 Hậu quả của tình trạng suy dinh dưỡng
a Hậu quả đối với bản thân trẻ
Những hậu quả của suy dinh dưỡng trẻ em để lại thường nặng nề và kéo dài đến tương lai Theo tác giả Trần Thanh Tú [19] suy dinh dưỡng trẻ em mang lại những hậu quả sau:
- Trẻ em SDD thường xuyên bị mắc bệnh và có thời gian bị ốm kéo dài Trẻ em có cân nặng theo tuổi thấp thường hay mắc các bệnh tiêu chảy và viêm phổi SDD là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý này xảy ra và kéo dài, làm cho trẻ em ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng nên SDD ngày càng trở nên nặng nề hơn SDD làm trẻ em kém phát triển về thể chất Mức
độ chậm phát triển tăng song song với thời gian kéo dài của bệnh và nhóm tuổi của trẻ Giai đoạn đầu tiên của cuộc đời từ trong bụng mẹ đến 2 tuổi, nếu trẻ em bị SDD có thể để lại những hậu quả về thể chất và tinh thần không phục hồi được và kéo dài sang thế hệ sau Nếu tình trạng SDD kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ em sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn Các nghiên cứu về nhân trắc thể lực của người Việt Nam trong thế kỷ XX cho thấy trong khoảng gần 50 năm (1938-1985) không có các biểu hiện gia tăng
về tầm vóc thể lực, chiều cao người trưởng thành gần như đứng yên: khoảng 160cm ở nam và 150cm ở nữ Tình trạng đó chắc chắn có liên quan đến điều kiện sống khó khăn trong thời kỳ chiến tranh và sau chiến tranh Gần đây đã
có một số công trình nghiên cứu và phân tích khuynh hướng thế tục và tăng trưởng ở người Việt Nam (cả ở trẻ em và người trưởng thành) và nhận định
đã có khuynh hướng gia tăng tăng trưởng ở cả trẻ em và người lớn, ước đạt 1,2cm/ thập kỷ ở nam trưởng thành và 1cm/thập kỷ ở nữ trưởng thành Hiện nay chiều cao của nam trưởng thành khoảng 163,7cm và nữ 153cm Tính đến năm 2016, chiều cao của người Việt Nam nằm trong số 5 nước có chiều cao trung bình thấp nhất thế giới
Trang 26- Tử vong: SDD làm tăng tỷ lệ tử vong và tăng gánh nặng xã hội SDD trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 54% trong số 11,6 triệu trẻ tử vong trên toàn cầu hàng năm giai đoạn 1980-1995 và là nguyên nhân sâu xa của hơn 2,6 triệu trẻ
em tử vong mỗi năm hiện nay Thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm liên quan đến tử vong trẻ em dưới 5 tuổi lần lượt là 19%, 14,5% và 4,4% Thiếu vi chất dinh dưỡng liên quan với 10% tất cả trường hợp tử vong trẻ em, hay khoảng một phần ba số trẻ em tử vong do SDD
- Suy dinh dưỡng với phát triển hành vi và trí tuệ: SDD làm trẻ em chậm phát triển tâm thần, nhất là ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của não
bộ trong giai đoạn trẻ em dưới 6 tuổi Trí thông minh dễ dàng bị ảnh hưởng nếu trẻ bị SDD bào thai và dưới 12 tháng tuổi Tác hại của SDD càng nặng, nếu bệnh xuất hiện lúc cơ thể chưa trưởng thành
- Suy dinh dưỡng và sức khỏe khi trưởng thành: Tầm vóc của dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng SDD không được cải thiện qua nhiều thế hệ Khả năng lao động về thể lực cũng như về trí lực của những người SDD trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức tối ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn đối với các nước đang phát triển Nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản
b Hậu quả về y tế
Ðối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, suy dinh duỡng làm giảm khả năng miễn dịch và tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng Những nguời truởng thành từng bị thấp còi khi còn nhỏ thuờng có xu huớng mắc các bệnh như cao huyết áp, tiểu đuờng, bệnh tim và béo phì
c Các hậu quả về kinh tế và giáo dục
Trẻ bị suy dinh duỡng có xu huớng bắt đầu đi học muộn hơn, bỏ học và khả năng học tập kém hơn do tổn thương não bộ và chậm phát triển trí lực
Trang 27trong những năm đầu đời Thấp còi lúc 2 tuổi thuờng dẫn đến việc nghỉ học với tổng số ngày nghỉ lên đến khoảng gần một năm và làm tăng nguy cơ lưu ban ít nhất một lớp lên đến 16%
Trẻ tăng truởng kém có thể dẫn tới khả năng lao động kém và thu nhập thấp
Nghiên cứu chỉ ra rằng chiều cao cứ tăng 1% thì mức lương sẽ tăng 2,4% Suy dinh duỡng tồn tại suốt cuộc đời có thể làm giảm đến 10% thu nhập về sau của trẻ.[14]
Thấp còi còn ảnh huởng đến cả quốc gia Ngân hàng Thế giới uớc tính rằng đầu tư vào dinh duỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể làm tăng 2% đến 3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia [22]
1.2 NỘI DUNG CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM
1.2.1 Cải thiện việc cung cấp lương thực thực phẩm
Một nguyên nhân chủ yếu của trẻ suy dinh dưỡng là không đủ lương thực, thực phẩm để ăn Nhu cầu ăn uống là một trong những nhu cầu cơ bản của con người Ngày nay, khi mà cuộc sống người dân ngày càng cải thiện thì ăn no không phải là vấn đề cấp thiết nữa mà là cân bằng dinh dưỡng, hợp
lý và an toàn thực phẩm
Cải thiện chính sách cung cấp lương thực, thực phẩm là quá trình các
cơ quan quản lý nhà nước tạo ra cơ chế, các điều kiện và nguồn lực tác động vào quá trình cung cấp các hàng hóa dịch vụ nhằm đạt được mục tiêu bảo đảm chất lượng dinh dưỡng được cung cấp và hạn chế tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng
Rõ ràng nhận thấy chủ thể thực hiện nội dung này là các cơ quan quản
lý nhà nước bằng công cụ chính sách của mình và phối hợp đồng bộ với các ban ngành liên quan tác động vào quá trình cung cấp lương thực, thực phẩm
Trang 28và quản lý chất lượng khi đưa vào thị trường Cụ thể đối với huyện Hòa Vang thì đây là nhiệm vụ của Phòng Y tế, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp …bằng các cơ chế, chính sách quản lý Nhà nước: chính sách phát triển nông nghiệp, chính sách bình ổn giá cả, tăng cường vi chất dinh dưỡng, cơ chế, chính sách huy động tốt hơn vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, bởi phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc sản xuất, chăn nuôi nhỏ lẻ tại cộng đồng, cũng như bảo đảm an toàn thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày của mỗi gia đình Chính sách giám sát và khen thưởng nhằm phát huy vai trò giám sát của người dân…
Nội dung cải thiện việc cung cấp lương thực thực phẩm bao gồm các công việc:
- Làm tốt việc kiểm soát giá lương thực, thực phẩm, nâng cao mức sống
và thu nhập cho các hộ gia đình;
- Làm tốt việc ban hành tiêu chuẩn và quy định về chất lượng lương thực thực phẩm cho trẻ cũng như những hàng hóa dịch vụ liên quan đặc biệt là các trường mầm non;
- Tổ chức thông tin tuyên truyền cho các đối tượng liên quan, hướng tuyên truyền là các bậc cha mẹ, các đối tượng chuẩn bị làm cha, làm mẹ về các tiêu chuẩn quy định này một cách sâu rộng;
- Theo dõi, giám sát và kiểm tra việc tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn quy định về chất lượng lượng lương thực thực phẩm cho trẻ cũng như những hàng hóa dịch vụ liên quan;
- Hỗ trợ cơ sở vật chất và điều kiện để thực hiện như cung cấp tài liệu, tư vấn chuyên môn kỹ thuật cho cơ sở trẻ mầm non tốt hơn;
- Xử lý và điều chỉnh các vi phạm về chất lượng lương thực thực phẩm cho trẻ cũng như những hàng hóa dịch vụ liên quan
Trang 29Tiêu chí đánh giá:
- Nhận thức của cha mẹ về việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho trẻ;
- Đánh giá của nhà quản lý, hội phụ nữ, nhà trường và bà mẹ về các tiêu chuẩn và quy định về chất lượng lương thực thực phẩm cho trẻ cũng như những hàng hóa dịch vụ liên quan;
- Số lượng và các hình thức tuyền truyền;
- Sự hài lòng về mức hỗ trợ của các cơ quan quản lý;
- Mức tăng lượng LTTP đủ tiêu chuẩn chất lượng cho học sinh;
- Mức tăng tỷ lệ các cơ sở mầm non được cung cấp LTTP đủ chất lượng;
- Tỷ lệ cơ sở kiểm soát được nguồn cung cấp
1.2.2 Cải thiện điều kiện chăm sóc y tế để hạn chế suy dinh dưỡng
Cải thiện chính sách bảo đảm điều kiện chăm sóc y tế là quá trình bảo đảm cơ chế và các biện pháp khác nhau theo hướng hoàn thiện hơn để không ngừng hoàn thiện điều kiện cung cấp các dịch vụ y tế, y tế dự phòng tại khu vực sống của trẻ và thực hiện chăm sóc y tế trong các cơ sở trường học cho đối tượng suy dinh dưỡng Đây là nỗ lực của tất cả các cơ quan nhà nước tạo
ra các biện pháp và cơ chế khác nhau nhằm bảo đảm các điều kiện chăm sóc y
tế cho trẻ Để làm tốt nội dung này, các cơ quan nhà nước cần làm tốt cơ chế phối hợp, điều hòa một cách hiệu quả, có sự giám sát của người dân và các cơ quan liên quan
Điều kiện đầu tiên để cải thiện chăm sóc y tế là nguồn lực kinh tế bởi
có đủ nguồn lực kinh tế là tiền đề cho việc thực hiện các chính sách y tế Các điều kiện khác bao gồm nguồn nhân lực: bác sĩ, nhân viên y tế, chuyên viên
y tế dự phòng, cơ sở vật chất, trang thiết bị về y tế,…cơ chế phối hợp hoạt động cung cấp dịch vụ y tế trong các trường, nhân viên y tế làm việc trong trường học…
Trang 30Cải thiện chăm sóc y tế cần đặt trong bối cảnh có sự khác biệt về đặc điểm lịch sử, trình độ phát triển, bản sắc của vùng, miền… vì huyện Hòa Vang là một trong những địa bàn có dân tộc thiểu số của thành phố
Nguồn lực để thực hiện các chính sách hầu hết là từ ngân sách nhà nước, nguồn lực từ việc mua BHYT của người dân, thu viện phí, xã hội hóa y tế, huy động đóng góp từ cộng đồng…
- Mức và tỷ lệ tăng các trường học có nhân viên y tế;
- Mức tăng và tỷ lệ tăng các trường quan tâm thực hiện các biện pháp y học dự phòng
1.2.3 Cải thiện vệ sinh môi trường
Vấn đề vệ sinh môi trường cũng rất quan trọng và liên quan mật thiết tới tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ Vệ sinh môi trường không đảm bảo tiêu chuẩn
là nguyên nhân khiến trẻ ốm đau, mắc bệnh … hậu quả trẻ sẽ biếng ăn, lười ăn
và nếu kéo dài sẽ trở thành suy dinh dưỡng
Vì vậy, để cải thiện tình trạng sức khoẻ của trẻ em, ngoài việc chúng ta cần giải quyết tận gốc các vấn đề về môi trường (giảm thiểu các tác hại xấu của môi trường đối với sức khoẻ của trẻ) còn cần phải đẩy mạnh tuyên truyền đến các đối tượng (gia đình có con nhỏ, đặc biệt là các bà mẹ) về các biện pháp phòng chống, hạn chế các tác động xấu của môi trường đến sức khỏe, và tạo điều kiện cho các hộ gia đình, các bà mẹ tiếp xúc với các nguồn thông tin hữu
Trang 31ích và cần thiết
Mục tiêu nghiên cứu của nội dung này nhằm hỗ trợ các cơ quan chính quyền hình thành cơ chế các điều kiện và nguồn lực để thực hiện tốt và khắc phục những yếu kém trong các hoạt động về vệ sinh môi trường
Để hoàn thiện công tác này cần làm tốt các công việc:
- Ban hành quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện, khu dân cư Các quy định này phải đảm bảo các yêu cầu trong Quyết định số 23/2010/QĐ-UBND về việc ban hành quy định bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ban hành ngày 10 tháng 8 năm 2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, trong đó có: Khuyến khích việc thành lập các tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường tại các khu dân cư; Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện tạo điều kiện cho các tổ chức tự quản hoạt động, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm; Ủy ban nhân dân cấp phường, xã có trách nhiệm quy định về hoạt động của các tổ chức tự quản bảo vệ môi trường và tạo điều kiện
để các tổ chức tự quản hoạt động hiệu quả;
- Tổ chức thông tin tuyên truyền cho các đối tượng liên quan về các tiêu chuẩn quy định này một cách sâu rộng cho các đối tượng;
- Theo dõi, giám sát và kiểm tra việc tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn quy định về vệ sinh môi trường;
- Xử lý và điều chỉnh các vi phạm về vệ sinh môi trường;
- Hỗ trợ cơ sở vật chất và điều kiện để thực hiện như cung cấp tài liệu, tư vấn chuyên môn kỹ thuật cho các khu dân cư, trường học
Tiêu chí:
- Tỷ lệ khu dân cư chấp hành tốt các quy định;
- Đánh giá của các cơ sở về công tác quản lý vệ sinh môi trường của các
cơ quan quản lý;
- Số lượng các đợt tập huấn và triển khai quy định vệ sinh môi trường;
Trang 32- Tỷ lệ số cơ sở hay trường học đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường;
- Mức và tỷ lệ tăng các cơ sở khắc phục những yếu kém về vệ sinh môi trường
1.2.4 Cải thiện chất lượng chăm sóc trẻ em
Chăm sóc trẻ em là các hoạt động từ thu thập thông tin về chế độ dinh dưỡng, tình hình sức khỏe, điều kiện chăm sóc y tế, và áp dụng các biện pháp nuôi dạy chăm sóc và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em
Cải thiện chất lượng chăm sóc trẻ em nhằm mục đích hướng đến khuyến khích các bậc cha mẹ, trường học thực hiện tốt các quy trình giáo dục có chất lượng đi đôi với phát triển sức khỏe thể chất tăng cường cho trẻ
Việc cải thiện chất lượng chăm sóc được thực hiện thông qua nhiều chương trình hay các hoạt động khác nhau, có thể là chính sách hỗ trợ sữa học đường, sữa cho trẻ em trong các hộ nghèo và cận nghèo, chính sách khám chữa bệnh hỗ trợ cho trẻ em suy dinh dưỡng, chính sách cân đo định kỳ để theo dõi trẻ em suy dinh dưỡng tại các trung tâm y tế dự phòng và chính sách vận động của các hội đoàn thể…
Quản lý chất lượng chăm sóc trẻ tùy theo cách tiếp cận có thể bao gồm:
- Ban hành các quy định về chất lượng giáo dục cho trẻ ngoài các tiêu chuẩn đã nêu trên trong đó tập trung vào phương pháp giáo dục trẻ;
- Tổ chức thông tin tuyên truyền cho các đối tượng liên quan về các tiêu chuẩn quy định này một cách sâu rộng cho các đối tượng;
- Theo dõi, giám sát và kiểm tra việc tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn quy định về chất lượng chăm sóc cho trẻ;
- Xử lý và điều chỉnh các vi phạm về chất lượng chăm sóc cho trẻ
Tiêu chí:
- Hài lòng của cơ sở về hỗ trợ vật chất và cơ chế từ chính quyền giúp nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ;
Trang 33- Hài lòng của cơ sở về hỗ trợ chuyên môn từ chính quyền giúp nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ;
- Tỷ lệ cha mẹ đánh giá sức khỏe của trẻ tốt hơn;
- Tỷ lệ cha mẹ đánh giá hài lòng về kỹ năng sống của trẻ;
- Tỷ lệ cha mẹ đánh giá khả năng tự lập của trẻ;
- Mức tăng và tỷ lệ tăng số trẻ em tham gia các chương trình chăm sóc sức khỏe
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CẢI THIỆN TINH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Bất cứ sự phát triển của hoạt động kinh tế xã hội nào cũng luôn không thể tách rời khỏi điều kiện tự nhiên Đặc biệt là đối với sức khỏe và sinh hoạt con người, điều kiện tự nhiên có sự tác động và ảnh hưởng rất quan trọng về mọi mặt: lương thực thực phẩm, nguồn nước uống và sinh hoạt, nơi
ở và các điều kiện sống Có thể nói, con người và điều kiện tự nhiên không thể tách rời nhau
Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để phân bố sản xuất và phát triển kinh tế Chính các nhân tố này quyết định đến kết quả cuối cùng của nền kinh
tế nhất là ngành nông nghiệp Các nhân tố vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng nông nghiệp và qua đó sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của các ngành khác Sản lượng nông nghiệp là yếu tố cơ bản bảo đảm những nhu cầu thiết yếu quan trọng của con người trong đó quyết định không nhỏ đến tình trạng suy dinh dưỡng ở mỗi quốc gia
Điều kiện tự nhiên về đất, nguồn nước, thời tiết, ánh sáng, khí hậu tác động tới sức khỏe con người cũng như ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống, tình trạng cơ thể và suy dinh dưỡng của trẻ em Suy dinh dưỡng ở trẻ thường
Trang 34do nhiều nhân tố gây ra, một trong số đó là trẻ sống trong môi trường có thời
tiết, khí hậu quá lạnh hoặc quá nóng làm trẻ tiêu hao năng lượng nhiều
1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội là điều kiện quan trọng để phát triển toàn diện
xã hội Bất kỳ một nền kinh tế nào muốn phát triển thì hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị - xã hội như các chính sách vĩ mô, tình hình chính trị phải thông thoáng và ổn định, rồi mới tính đến các yếu tố vốn, lao động,…
Trình độ phát triển kinh tế xã hội không chỉ đảm bảo cơ sở vật chất đầy
đủ mà còn cho phép các nguồn lực cho xây dựng phát triển các cơ sở hạ tầng
y tế và mở rộng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế được phân bổ thích đáng Đây là điều kiện để cải thiện tình hình suy dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em và chăm sóc sức khỏe cho người dân
Phát triển kinh tế xã hội hiệu quả còn là điều kiện quyết định cho phép nâng cao và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân, nâng cao chất lượng đời sống kinh tế của người lao động, đây là nền tảng để cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em ở mức thấp nhất
Suy dinh dưỡng là một bệnh do ảnh hưởng của nghèo nàn và lạc hậu, có liên quan đến kinh tế, văn hóa, dân trí Một đất nước có nền kinh tế phát triển, ngoài điều kiện sống tăng lên thì văn hóa sống và đào tạo dân trí cũng được cải thiện Đặc biệt, cách nuôi trẻ của người Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng bởi truyền thống và tập tục Một số quan niệm trong cách nuôi con vẫn còn chưa khoa học Do vậy, cải thiện dân trí nâng cao sự hiểu biết của người mẹ trong cách chăm sóc con là một yếu tố quan trọng cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ Hiện nay, trong quá trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, tác động đến xã hội trên nhiều phương diện, hậu quả ngày càng sâu sắc Đặc biệt, các cuộc khủng hoảng
Trang 35kinh tế diễn ra trong thời gian dài làm cho việc đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm và khả năng cung cấp các dịch vụ y tế, dinh dưỡng càng trở nên khó khăn Đây chính là nguyên nhân làm cho SDD là gánh nặng sức khoẻ ở nhiều nước đang phát triển
1.3.3 Đầu tư công tác xã hội
Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược lâu dài, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Đầu tư cho trẻ em là đầu tư cho thế hệ tương lai, đầu tư cho sự phát triển của đất nước Suy cho cùng, chăm sóc trẻ em cũng là một hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế cho dù
ai thực hiện Để thực hiện quá trình này chắc chắn sẽ phải có các nguồn lực như vốn, lao động và kỹ thuật Hiện nay, nguồn tài trợ cho công tác này có thể đa dạng theo quá trình xã hội hóa ngày càng rộng Tuy nhiên nguồn tài trợ của nhà nước cho dịch vụ y tế và chăm sóc trẻ em vẫn có vai trò quyết định nhất là cho khu vực vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn
Đầu tư công tác xã hội của nhà nước cho chăm sóc trẻ em ngoài nguồn vốn trung ương thì còn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn của địa phương Những địa phương có tiềm lực kinh tế mạnh nhờ hành lang pháp lý thông thoáng, dịch vụ hành chính thuận lợi sẽ có thành quả phát triển kinh tế hơn và thường đầu tư nhiều cho công tác này Việc tập trung đầu tư vào lĩnh vực công tác xã hội không chỉ bảo đảm chăm sóc tốt cho trẻ mà còn bảo đảm phát triển một ngành dịch vụ tiềm năng cho nền kinh tế
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẢI THIỆN SUY DINH DƯỠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÕA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 TÌNH HÌNH ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN HÒA VANG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Hòa Vang là huyện nông nghiệp của thành phố Đà Nẵng, diện tích đất tự nhiên là 73.488 ha (chiếm 74,8% diện tích của thành phố Đà Nẵng) Huyện nằm bao bọc quanh phía Tây khu vực nội thành của thành phố
Đà Nẵng, có tọa độ từ 15055' đến 16013' độ vĩ Bắc và 107049' đến 108013' độ kinh Đông
Phía Bắc giáp: các huyện Nam Đông, A Lưới và Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên Huế
Phía Nam giáp: Thị xã Điện Bàn, huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam; Phía Đông giáp: Quận Cẩm Lệ, quận Liên Chiểu của thành phố Đà Nẵng; Phía Tây giáp: Huyện Đông Giang của tỉnh Quảng Nam;
Trong đó đất nông nghiệp 65.316 ha, đất phi nông nghiệp 7.271 ha và đất chưa sử dụng 901,7 ha Toàn huyện có 11 xã với 119 thôn, trong đó có 3
xã đồng bằng, 4 xã trung du, 4 xã miền núi Dân số 124.844 người, mật độ dân số 172 người/km2, trên địa bàn huyện có 03 thôn với gần 1.000 đồng bào dân tộc Cơtu (thôn Tà Lang, Giàn Bí (xã Hòa Bắc), thôn Phú Túc (xã Hòa Phú) và 01 thôn người Hoa sinh sống (thôn Trung Nghĩa, xã Hòa Ninh)
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Kinh tế - xã hội của huyện Hòa Vang trong những năm qua phát triển khá, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ở mức 10%, cơ cấu kinh tế
Trang 37chuyển dịch theo hướng Dịch vụ (tỷ lệ 51,4%) - Công nghiệp (tỷ lệ 30,5%) - Nông nghiệp (tỷ lệ 18,1%) Tuy nhiên, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3,6 lần (từ 253,5 tỷ đồng năm 2006 lên 926 tỷ đồng năm 2016) Hạ tầng phục
vụ sản xuất nông nghiệp được đầu tư cơ bản đáp ứng yêu cầu; năng suất, chất lượng vẫn ổn định ở mức 55-62,5 tạ/ha, duy trì ổn định sản xuất từ 1.200-1.300 ha lúa giống kỹ thuật; mở rộng diện tích lúa giống trên 200ha; chuyển đổi 353,9 ha đất lúa sản xuất không hiệu quả sang cây trồng khác; cơ giới hóa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đạt đến 95% Từng bước hình thành các vùng sản xuất, chăn nuôi tập trung, quy mô hợp lý, khép kín theo hướng công nghệ cao Duy trì diện tích nuôi trồng thủy sản 399 ha (giảm 21 ha so với năm 2006), sản lượng khai thác hằng năm đạt 850 tấn (tăng 330 tấn so với năm 2006) Hoàn thành phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng giai đoạn 2011-2020,
hằng năm trồng mới 1.400 ha rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 64%
Kinh tế của huyện phát triển tương đối ổn định, đạt tốc độ tăng trưởng khá Giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 13,2%/năm, trong đó ngành công nghiệp tăng 19,8%, đến nay huyện có 91 doanh nghiệp sản xuất Một số ngành chủ lực có lợi thế như khai thác đá, may mặc, đồ mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, thép xây dựng…
Ngành thương mại - dịch vụ phát triển khá nhanh, tổng giá trị thương mại - dịch vụ đạt 124,7 tỷ đồng năm 2006 lên 2.416 tỷ đồng năm 2016 (tăng 19,3 lần) Hiện nay, trên địa bàn huyện có 450 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh với tổng vốn đăng ký hơn 1.300 tỷ đồng (tăng 320 doanh nghiệp và 1.150 tỷ đồng vốn đăng ký so với năm 2006) góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động địa phương Hạ tầng thương mại, dịch vụ tiếp tục được quan tâm đầu tư, triển khai xây mới, nâng cấp mở rộng
09 chợ, các cụm thương mại dịch vụ có mật độ tập trung cao như: Túy Loan,
Lệ Trạch, Miếu Bông, An Ngãi Tây, cơ bản đáp ứng nhu cầu bán lẻ hàng hóa
Trang 38trên địa bàn Tổng mức lưu chuyển hàng hóa tăng từ 405,7 tỷ đồng năm 2006 lên 2.172 tỷ đồng năm 2016 (tăng 5,3 lần), kim ngạch xuất khẩu tăng từ 272,5 ngàn USD năm 2006 lên 16,8 triệu USD năm 2016 (tăng 61,6 lần)
Các khu du lịch được hình thành và tiếp tục nâng cấp mở rộng với nhiều loại hình dịch vụ: khu du lịch Bà Nà Hill, suối nước nóng Phước Nhơn, trượt thác Hòa Phú Thành, Ngầm Đôi, Suối nước nóng núi Thần Tài, Suối Hoa Hiện nay, huyện đang triển khai xây dựng Đề án phát triển du lịch sông nước gắn với phát triển du lịch văn hóa - sinh thái thôn Thái Lai (Hòa Nhơn)
Thu nhập bình quân đầu người đạt 27,24 triệu đồng/người/năm (năm 2016) Kinh tế của huyện tăng trưởng khá, nhưng quy mô còn nhỏ Sản xuất kinh doanh đứng trước nhiều thách thức mới Nguồn thu ngân sách còn hạn chế Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu Mặt trái của cơ chế thị trường và đô thị hóa làm phát sinh các vấn đề xã hội bức xúc, tình trạng thiếu việc làm, các tệ nạn xã hội Hòa Vang với thế mạnh là sản xuất nông nghiệp nhưng diện tích đất nông nghiệp sẽ tiếp tục giảm do đô thị hóa Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh bất thường…đó là những khó khăn, thách thức lớn
trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương
2.1.3 Đầu tư công tác xã hội
Văn hóa, xã hội, môi trường có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng giáo dục tăng lên cả về số lượng và chất lượng, mạng lưới trường lớp được
mở rộng, thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 24 của Thành uỷ thực hiện các chính sách hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời học sinh có nguy cơ bỏ học Từ năm 2010 đến nay không có học sinh tiểu học bỏ học, tỷ lệ học sinh THCS bỏ học mỗi năm giảm 0,01%, năm 2014 tỷ lệ bỏ học cấp THCS là 0,06%, năm 2015 là 0,04%
và năm 2016 là 0,03%, thực hiện tốt công tác xã hội hóa bậc mầm non Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được thực hiện tốt, công tác chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm; dịch bệnh luôn được kiểm soát;
Trang 39vệ sinh an toàn thực phẩm được kiểm tra chặt chẽ; đến nay tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 99,94%, nước máy 86,49% Đưa bệnh viện đa khoa huyện đi vào hoạt động, có 9/11 trạm y tế xã có bác sĩ (tăng 01 bác sĩ/trạm y tế so với năm 2006), 11/11 trạm y tế xã đạt Chuẩn Quốc gia giai đoạn 2011-2020 (tăng 08 trạm y tế so với năm 2006); vận động nhân dân tham gia BHYT đến nay đạt tỷ lệ 95,1%
Các chính sách về an sinh - xã hội được quan tâm kịp thời Huy động mọi nguồn lực đảm bảo an sinh xã hội: hỗ trợ xây mới, sửa chữa 2.398 nhà cho các đối tượng chính sách với tổng kinh phí 39,7 tỷ đồng, xóa 1.761 nhà tạm, giải quyết việc làm 22.312 lao động, giảm 16.360 lượt hộ thoát nghèo
góp phần thực hiện tốt chương trình “5 không, 3 có” của thành phố Phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nếp sống văn hóa – văn minh được chuyển biến tích cực và đi vào chiều sâu Hệ thống thiết chế văn hóa từ huyện đến xã được đầu tư và cơ bản hoàn thiện; việc bảo tồn, trùng tu, tôn tạo và phát huy hiệu quả giá trị các di tích văn hóa, lịch sử được quan tâm Di tích căn cứ Huyện ủy Hòa Vang được xếp hạng cấp Quốc gia Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao được tổ chức với nhiều hình thức, nội dung phong phú Thực hiện chính sách an sinh xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, đặc biệt là chăm lo người có công cách mạng, đời sống hầu hết các gia đình chính sách được nâng lên rõ rệt, đã đầu tư hơn 114 tỷ đồng để thực hiện giảm 8.133 hộ nghèo, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 6,3% xuống còn 0,52% (theo chuẩn Trung ương), xây mới và sửa chữa 1.405 nhà chính sách, hỗ trợ xây dựng 100% công trình vệ sinh tự hoại (2.415/2.415 công trình), giải quyết việc làm hằng năm trên 2.000 lao động
Trang 402.2 THỰC TRẠNG CẢI THIỆN SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÕA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.2.1 Tình hình cải thiện suy dinh dưỡng trẻ em trên địa bàn huyện Hòa Vang
Hiện nay, trên địa bàn huyện Hòa Vang có 11 xã với mật độ dân cư
không đồng đều Huyện Hoà Vang địa hình bao gồm miền núi, trung du và
đồng bằng, dân số trên 127.446 người, trong đó trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 26,61% tổng dân số Toàn huyện có 248 trẻ em thuộc dân tộc thiểu số, 587 trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt, 2.044 trẻ có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, số trẻ em suy dinh dưỡng nhiều, tỷ lệ trẻ khuyết tật cao Đặc biệt, trên địa bàn huyện có gần 357 hộ đồng bào dân tộc Cơtu đang sinh sống, đại bộ phận người dân sống bằng nghề nông nghiệp Huyện Hòa Vang là nơi thường gánh chịu hậu quả của thiên tai, lũ lụt, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, lao động
và việc làm của người dân không ổn định, thu nhập còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn chiếm cao nhận thức của người dân về bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em
có những mặt hạn chế nhất định Năm 2016 theo số liệu Trung tâm Chăm sóc sinh sản thành phố Đà Nẵng, huyện Hòa Vang có 14.041 trẻ em dưới 5 tuổi thuộc huyện quản lý, trong đó có 1.044 trẻ SDD Theo dõi tỷ lệ SDD trẻ em của huyện Hòa Vang trong giai đoạn 2012 – 2016, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em đã được cải thiện