1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tòa án hiến pháp tại một số quốc gia trên thế giới và việc áp dụng xây dựng tòa án hiến pháp việt nam trong giai đoạn hiện nay

83 209 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 727,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm qua, hoạt động bảo hiến ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện thông qua sự giám sát tối cao của Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ chế thẩm định, kiểm tra các văn b

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HUỲNH NHẬT MINH

TÒA ÁN HIẾN PHÁP TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆC ÁP DỤNG XÂY DỰNG TÒA ÁN HIẾN PHÁP TẠI VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HUỲNH NHẬT MINH

TÒA ÁN HIẾN PHÁP TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

VÀ VIỆC ÁP DỤNG XÂY DỰNG TÒA ÁN HIẾN PHÁP TẠI VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 60380102

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Thái Vĩnh Thắng

HÀ NỘI - NĂM 2016

Trang 3

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Sự cần thiết xây dựng tòa án hiến pháp tại Việt Nam trong

giai đoạn hiện nay

10

1.1 Những biểu hiện vi hiến và nhu cầu thành lập Tòa án hiến pháp tại

Việt Nam

10

1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tòa án hiến

pháp tại Việt Nam

2.2 Tổ chức hoạt động của các mô hình cơ quan bảo hiến trên thế giới 39

Chương 3: Tòa án hiến pháp của một số quốc gia trên thế giới và

những kinh nghiệm đối với Việt Nam

48

3.2 Tòa án hiến pháp của Cộng hòa liên bang Đức 52

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiến pháp là văn bản chính trị - pháp lý, là đạo luật cơ bản của quốc gia, có vị trị đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị xã hội Hiến pháp quy định việc tổ chức nhà nước, chức năng, thẩm quyền các cơ quan nhà nước của trung ương, địa phương và quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việc đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp, bảo đảm Hiến pháp được tất cả các chủ thể tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành luôn là vấn đề quan trọng

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã xây dựng được một cơ quan độc lập với hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Đó là một cơ quan hiến định độc lập, được quy định trong Hiến pháp của từng quốc gia Trong những cơ quan hiến định độc lập đó, có một cơ quan đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo việc xây dựng và thi hành pháp luật đúng theo Hiến pháp, có tính chất kiềm chế quyền lực của các cơ quan quyền lực còn lại trong hệ thống pháp luật Đó là cơ quan bảo hiến Tại mỗi quốc gia khác nhau, cơ quan bảo hiến được xây dựng và tổ chức khác nhau thành các mô hình khác nhau với tên gọi khác nhau

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ra đời trong bối cảnh đất nước Việt Nam đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng với thế giới Nền kinh tế - xã hội Việt Nam phát triển một cách ổn định trước sức

ép của các cuộc khủng hoảng Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã đánh dấu sự thay đổi mạnh mẽ trong quá trình lập pháp bằng việc quy định các chế định về quyền con người, mở rộng phạm vi các quyền cơ bản của con người và cơ quan hiến định độc lập Tuy nhiên, khác với hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều có chế định riêng về cơ quan bảo hiến trong Hiến pháp, thì Hiến pháp Việt Nam năm 2013 lại chưa có quy định riêng, cụ thể về cơ quan bảo hiến

Việc xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp đã được đặt ra trong văn kiện Đại hội

Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, nội dung là: “Xây

Trang 5

dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” và “ xây dựng cơ chế phán quyết

về những vi phạm HIến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã tiếp tục yêu cầu “xây dựng từng

bước hoàn thiện cơ chế, kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” Với mục tiêu như vậy, có thể

thấy rằng, yêu cầu bảo hiến đã trở thành một yêu cầu cấp bách trong đời sống pháp

lý HIến pháp 2013 đã chú trọng hơn đến quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, để bảo vệ các quyền nói trên ở nước ta vẫn còn một số khó khăn Việc phân định thẩm quyền giữa các thiết chế nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và các cơ quan nhà nước ở địa phương chưa thật sự rõ ràng, nên còn có sự đùn đẩy trách nhiệm khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân

Những năm qua, hoạt động bảo hiến ở Việt Nam chủ yếu được thực hiện thông qua sự giám sát tối cao của Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ chế thẩm định, kiểm tra các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo từ công dân Theo mô hình này, chỉ có Quốc hội mới có quyền kiểm tra các văn bản pháp luật do mình thông qua Như vậy, Quốc hội đang thực hiện chức năng kép, vừa có thẩm quyền ban hành luật, vừa kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật do mình ban hành Với những chức năng, nhiệm vụ như vậy sẽ tạo ra sự không khách quan trong hoạt động của Quốc hội Để đảm bảo cho Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất, có giá trị pháp lý cao nhất, được tất cả các chủ thể tuân thủ và chống lại những hành vi vi phạm mà ta thường gọi là vi hiến, nhiều nước trên thế giới đã lập ra cơ quan chuyên biệt có trách nhiệm và thẩm quyền phù hợp để bảo vệ Hiến pháp

Trang 6

Việc nghiên cứu mô hình Tòa án Hiến pháp tại một số quốc gia cụ thể trên thế giới sẽ tạo điều kiện để Việt Nam có thể tham khảo và xây dựng một cơ quan bảo hiến phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị của đất nước trong giai đoạn hiện nay và tương lai

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu, luận văn, bài viết về cơ quan bảo hiến nói chung

và mô hình Tòa án hiến pháp nói riêng Một số bài viết trên các tạp chí pháp luật đã

so sánh các mô hình cơ quan bảo hiến của các quốc gia để thấy được những ưu điểm, nhược điểm của từng mô hình cơ quan bảo hiến Có thể liệt kê một số công trình khoa học rất công phu đã được xuất bản thành sách hoặc được đăng trên các tạp chí uy tín như sau:

- PGS.TS Nguyễn Như Phát (chủ biên), Tài phán Hiến pháp – Một số vấn đề lý

luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam, Nxb Khoa

học xã hội, 2011

- GS.TSKH Đào Trí Úc và PGS.TS Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Giám sát và cơ

chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Công an

nhân dân, 2003

- GS.TSKH Đào Trí Úc và PGS.TS Nguyễn Như Phát (Chủ biên), Tài phán Hiến

pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam, Nxb Công an

nhân dân, 2007

- GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb Đại học quốc

gia, 2005

- TS Nguyễn Sỹ Dũng (Chủ biên), Quyền giám sát của Quốc hội – Nội dung và

thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005

- Đặng Văn Chiến (Chủ biên), Cơ chế bảo hiến, Nxb Tư pháp, 2005

- Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2006

Trang 7

- PGS.TS Nguyễn Như Phát, Mô hình tài phán Hiến pháp ở Cộng hòa Liên bang

Đức, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11, 2004

- GS.TS Thái Vĩnh Thắng, Mô hình cơ quan bảo hiến ở các nước trên thế giới, Tạp

chí luật học, số 5, 2004

- GS TSKH Đào Trí Úc, Tài phán Hiến pháp và xây dựng tài phán Hiến pháp ở

Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10, 2006

- GS.TS Trần Ngọc Đường, Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, 2011

- Bùi Ngọc Sơn, So sánh mô hình bảo vệ Hiến pháp của Mỹ và Đức, Tạp chí

Nghiên cứu Châu Âu, số 60, 2004

Ngoài ra, còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học khác mà các nhà nghiên cứu khoa học tập trung tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề lý luận xung quanh các cơ chế bảo hiến ở nước ta, đồng thời xem xét chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ chế bảo vệ Hiến pháp qua các thời kỳ, và đặt trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học

đã thể hiện sinh động và hiên thực về thực trạng tổ chức và hoạt động của cơ chế nhà nước trong việc bảo vệ Hiến pháp, những bất cập, hạn chế cũng như những phân tích những ưu điểm và nhược điểm, từ đó đưa ra những đề xuất để khắc phục những nhược điểm nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cơ chế bảo hiến Để sau đó, tiếp tục đẩy mạnh, tăng cường hơn nữa vai trò của các cơ quan này đối với vấn đề bảo hiến, góp phần tôn vinh Hiến pháp của Việt Nam Đây chính là nguồn nhận thức cơ bản và quan trọng, là những kiến thức, cơ sở lý luận để học viên tham khảo, vận dụng, học hỏi để thực hiện đề tài luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài: “Tòa án bảo hiến tại một số quốc gia trên thế giới

và việc áp dụng xây dựng tòa án bảo hiến tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

là tạo ra một công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn cấp thạc sĩ, có tính hệ thống

Trang 8

về các Tòa án hiến pháp của một số quốc gia trên thế giới Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị mang tính xây dựng trong việc xây dựng Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phân tích khái niệm, phân loại cơ quan bảo hiến nói chung và Tòa án Hiến pháp nói riêng

- Phân tích và đánh giá ưu điểm và nhược điểm của các mô hình Tòa án Hiến pháp tại một số quốc gia trên thế giới

- Đánh giá thực tiễn xây dựng pháp luật tại Việt Nam và áp dụng mô hình Tòa

án Hiến pháp của các quốc gia vào việc xây dựng Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Các vấn đề lý luận chung về cơ quan bảo hiến như: khái niệm, đặc điểm,, cơ cấu tổ chức Từ đó có sự liên hệ đến Tòa án Hiến pháp của một số quốc gia cụ thể như: Cộng hòa Liên bang Đức, Liên bang Nga, …

- Đánh giá mức độ cần thiết để xây dựng Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam trong tương lai Những ưu điểm, nhược điểm của mô hình Tòa án Hiến pháp

- Một số công trình nghiên cứu cụ thể về mô hình Tòa án Hiến pháp của một số quốc gia

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào phân tích, đánh giá ưu điểm và nhược điểm của mô hình Tòa án Hiến pháp của một số quốc gia trên thế giới Từ

đó đưa ra những nhận định về việc xây dựng Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam một cách phù hợp với yêu cầu và điều kiện phát triển của kinh tế - xã hội Việt Nam thời

kỳ mới Bên cạnh đó, còn đưa ra những quan điểm về sự cần thiết phải có Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam trong tương lai

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

(1) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin Để nghiên cứu có hiệu quả những vấn đề do đề tài đặt ra, luân văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn để đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm bảo, tính khách quan, chân thực Từ phương pháp chung đó, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể trong quá trính nghiên cứu các nội dung của luận văn mà tác giả vận dụng các phương pháp khác nhau cho phù hợp

(2) Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò của cơ quan bảo hiến nói chung và Tòa án Hiến pháp nói riêng trong hệ thống pháp luật của quốc gia

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp được sử dụng trong Chương 2 khi nghiên cứu về từng mô hình Tòa án Hiến pháp tại một số quốc gia cụ thể trên thế giới Từ đó có sự đánh giá về những ưu điểm và nhược điểm của từng Tòa án Hiến pháp tại từng quốc gia

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn giải được sử dụng trong Chương 3 khi nghiên cứu về việc xây dựng mô hình Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam trong tương lai

6 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Trang 10

Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài: “Tòa án bảo hiến tại một số quốc gia trên

thế giới và việc áp dụng xây dựng tòa án bảo hiến tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” có những ý nghĩa sau:

- Luận văn đã đưa ra được khái niệm, đặc điểm của cơ quan bảo hiến nói chung

và các mô hình cơ quan bảo hiến nói riêng, đặc biệt là mô hình Tòa án Hiến pháp

- Luận văn đã phân tích được ưu điểm và nhược điểm của mô hình Tòa án Hiến pháp tại một số quốc gia cụ thể

- Luận văn cũng đã phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm hướng đến xây dựng Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và tương lai Ngoài ra, luận văn chỉ ra được những bất cập trên thực tế trong hệ thống pháp luật

và sự cần thiết phải có một cơ quan bảo hiến để đảm bảo sự tuân theo Hiến pháp của các văn bản pháp luật được ban hành

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần cam đoan, danh mục từ viết tắt sử dụng trong luận văn, mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương, cụ thể như sau:

CHƯƠNG 1

SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG TÒA ÁN HIẾN PHÁP TẠI VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.1 Những biểu hiện vi hiến và nhu cầu thành lập Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam

1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam

1.2.1 Chức năng của Tòa án Hiến pháp

1.2.2 Vị trí, tính chất của Tòa án Hiến pháp

1.2.3 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án Hiến pháp

Trang 11

1.3 Những điều kiện cần thiết đảm bảo hiệu quả hoạt động của Tòa án HIến pháp

Kết luận chương 1

Chương 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ QUAN BẢO HIẾN VÀ TÒA ÁN HIẾN PHÁP

2.1 Một số vấn đề lý luận về cơ quan bảo hiến

2.1.1 Lịch sử phát triển của chế định cơ quan bảo hiến

2.1.2 Khái niệm và đặc điểm của cơ quan bảo hiến

2.2 Tổ chức hoạt động của các mô hình cơ quan bảo hiến trên thế giới

2.2.1 Mô hình bảo hiến tập trung

2.2.2 Mô hình bảo hiến phi tập trung

2.2.3 Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan bảo hiến

3.2 Tòa án Hiến pháp của Cộng hòa Liên bang Đức

3.2.1 Cơ cấu tổ chức hoạt động

3.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn

3.2.3 Nhận xét

3.3 Tòa án Hiến pháp của Liên Bang Nga

3.3.1 Nhiệm vụ và quyền hạn

Trang 12

3.3.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động

3.3.3 Nhận xét

3.4 Tòa án Hiến pháp của Vương quốc Thái Lan

3.4.1 Cơ cấu tổ chức hoạt động

3.4.2 Nhiệm vụ và quyền hạn

3.4.3 Nhận xét

Kết luận chương 3

Trang 13

CHƯƠNG 1

SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG TÒA ÁN HIẾN PHÁP TẠI VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.1 Những biểu hiện vi hiến và nhu cầu thành lập Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam

* Trên thực tế, Việt Nam đang áp dụng mô hình cơ quan bảo hiến đồng thời là

cơ quan lập pháp (Quốc hội) để xem xét, kiểm tra sự hợp hiến của các văn bản luật Chúng ta có thể đánh giá về hoạt động bảo hiến của Việt Nam trong thời gian

qua như sau:

Chủ thể thực hiện chức năng giám sát Hiến pháp tuy có nhiều nhưng thiếu một

cơ chế phân công trách nhiệm rõ ràng Hiến pháp giao cho Quốc hội quyền ban hành và sửa đổi Hiến pháp, các đạo luật, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật Tuy nhiên, cả Hiến pháp và pháp luật đều không quy định trách nhiệm phát sinh từ các văn bản pháp luật vi hiến do Quốc hội ban hành Vị trí quyền lực tối cao thuộc về Quốc hội bắt nguồn từ việc Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan lập hiến, lập pháp, cơ quan giám sát tối cao Tuy nhiên, vấn đề căn cốt thể hiện bản chất nguồn gốc quyền lwujc nhà nước đặt ra ở đây là chưa thực sự

rõ ràng ở mối quan hệ quyền lực của Quốc hội với quyền lực của Hiến pháp Trong Nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước chịu sự ràng buộc bởi Hiến pháp, pháp luật, có nghĩa là Quốc hội trong mối tương quan với Hiến pháp, phải tuân thủ quy định của Hiến pháp

Hoạt động giám sát của Quốc hộ ít có hiệu qua vì đa số đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, không phải là chuyên gia pháp luật Mặt khác, cơ chế hoạt động của Quốc hội không giống cơ chế hoạt động của cơ quan chuyên trách tài phán vì thế không thực sự phù hợp với hoạt động tài phán

Hiến pháp là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, trong đó ghi nhận quyền cơ bản của công dân những trong thực tế sự nhận thức đầy đủ về hiệu lực áp

Trang 14

dụng trực tiếp của Hiến pháp thì chưa có trong tư duy và trong hành động của công dân, của cán bộ nhà nước, cơ quan có thẩm quyền Đối với công dân, khi quyền hiến định của mình bị vi phạm thì cũng không biết phải khởi kiện tới cơ quan có thẩm quyền vì quyền đó chưa được Hiến pháp quy định Mặt khác, khi giải quyết các khiếu kiện của công dân, kể cả khi xét xử hay trả lời khiếu nại, Tòa án và cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa bao giờ viện dẫn quy định của Hiến pháp làm căn cứ pháp lý mà chỉ xem các vụ việc đó có được quy định trong các văn bản luật hay không Như vậy, trong suy nghĩ và thực tiễn hành động cuả công dân và chủ thể áp dụng pháp luật đều không đề cập đến quy định của Hiến pháp

* Một số trường hợp vi phạm Hiến pháp trong thời gian qua:

- Ngày 13/1/2003, Bộ Công an ban hành Thông tư số 02/2003/TT-BCA về tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông có quy định mỗi người chỉ được đăng ký một mô tô hoặc xe gắn máy Quy định này là một quy định trái với Hiến pháp, cụ thể, quy định này làm hạn chế quyền sở hữu của cải hợp pháp của công dân được Hiến pháp năm 1992 quy định tại Điều 58: “Công dân có quyền sở hữu

về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất…” Tuy nhiên, phải hơn hai năm sau ngày ban hành Thông tư nói trên, dưới áp lực của

dư luận cả nước, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 17/2005/TT-BCA ngày 21/11/2005 để sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02 nêu trên, trong đó, bãi bỏ quy định trái với Hiến pháp này

- Một trường hợp khác về việc văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, đó là trường hợp ở Đà Nẵng, Nghị quyết số 23/2011/NQ-HĐND ngày 24/12/2011 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành về những giải pháp phát triển

kinh tế xã hội năm 2012, trong đó có một quy định như sau: “tạm dừng giải quyết

đăng ký thường trú mới vào nội thành đối với các trường hợp chỗ ở là nhà thuê mượn, ở nhờ mà không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án tiền sự”, “học sinh chưa đủ tuổi theo quy định đi xe máy thì xử phạt nặng và tạm giữ xe 60 ngày”, hay

Trang 15

quy định “tạm dừng đăng ký mới với cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ” Bốn tháng

sau, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) đã “tuýt còi” ba quy định trên vì cho rằng vi phạm Hiến pháp nghiêm trọng và làm hạn chế quyền công dân Đặc biệt, đối với nội dung tạm dừng đăng ký thường trú, đây là nội dung làm hạn chế quyền tự do cư trú của công dân, vi phạm Điều 68 Hiến pháp năm 1992 về

việc “Công dân có quyền tư do đi lại và cư trú trong nước, có quyền ra nước ngoài

và tự nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.”

Trước động thái này của Cục, Giám đốc Sở Tư pháp Đà Nẵng thời điểm ấy là ông Nguyễn Bá Sơn khẳng định việc quy định này của thành phố là không trái luật

Lý giải cho điều này, ông Nguyễn Bá Sơn dẫn chứng việc Đà Nẵng vẫn hạn chế nhập cư tại hai quận trong trung tâm thành phố là quận Thanh Khê và quận Hải Châu Bổ sung cho ý kiến đó, chiều ngày 4/7/2012 tại kỳ họp thứ 4 của HĐND thành phố Đà Nẵng, Bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh cho rằng Đà Nẵng hạn chế chứ không tẩy chay dân nhập cư, nhưng đã nhập cư vào trung tâm thành phố thì phải có công việc ổn định

Không đồng ý với giải thích của thành phố Đà Nẵng, Cục kiểm tra văn bản (Bộ

tư pháp) tiếp tục có ý kiến Trong ba vấn đề của Nghị quyết 23 bị “tuýt còi”, vào tháng 7/2012, Đà Nẵng đã tự xử lý hai nội dung, riêng việc hạn chế đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành là vẫn giữ nguyên

Cuối tháng 9, Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng “yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Công an, Ủy ban nhân dân các quận, huyện quản lý

cư trú theo đúng quy định của Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ” Bộ Tư pháp cho rằng đây là giải pháp kịp thời khắc phục những hậu quả trước mắt có thể xảy ra khi tạm dừng đăng ký thường trú mới vào nội thành theo Nghị quyết 23, làm cơ sở thực hiện tiếp việc hủy bỏ nội dung trái với quy định của Luật cư trú và Hiến pháp

Trang 16

- Vi phạm Hiến pháp một cách thụ động là việc đã có quy định về việc phải đảm bảo được các quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định nhưng lại chưa có một văn bản pháp luật cụ thể để đảm bảo được điều đó Dạng vi phạm này thực chất là rất khó nhận thấy Ở dạng vi phạm này thì các cơ quan nhà nước có nghĩa

vụ đã không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa việc thực hiện các quy định của Hiến pháp hoặc không ban hành những văn bản quy phạm pháp luật mà theo quy định là phải ban hành Ví dụ, theo quy định tại Điều 25 Hiến pháp 2013 thì công dân có quyền tự do biểu tình theo quy định của pháp luật Phân tích điều luật này chúng ta sẽ thấy là công dân có quyền tự do biểu tình và muốn biểu tình thì phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật và muốn người dân tuân thủ các quy định của pháp luật thì phải có pháp luật để người dân tuân theo Nhưng thực tế, đến thời điểm hiện nay chúng ta chưa có bất kỳ văn bản nào quy định chi tiết về việc tự do biểu tình của người dân Do đó, quyền biểu tình của người dân không thể thực hiện được trên thực tế Như vậy, chúng ta thấy là khi các cơ quan nhà nước có trách nhiệm đã không ban hành một văn bản quy phạm pháp luật thì cũng đồng nghĩa với việc vi phạm Hiến pháp

Qua hai trường hợp nêu trên chúng ta có thể thấy việc xử lý hành vi vi phạm Hiến pháp hiện nay không đơn giản và mất nhiều thời gian Nhiều cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp nhưng lại không có cơ chế để xử lý nhanh gọn, kịp thời, có thể để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội

Mặc dù, vấn đề bảo hiến đã được quan tâm từ bản Hiến pháp đầu tiên và từng bước được hoàn thiện trong các bản Hiến pháp tiếp theo đã phần nào hạn chế các hành vi vi hiến nhưng hoạt động bảo hiến của Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế như sau:

Một là, việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp được giao cho nhiều cơ quan nhà

nước, cá nhân có thẩm quyền mà không giao cho một cơ quan chuyên trách có chức năng bảo vệ Hiến pháp Điều này dẫn đến tình trạng không xác định rõ phạm vi

Trang 17

nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan nên hoặc là đùn đẩy trách nhiệm hoặc chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giám sát và bảo vệ Hiến pháp

Hai là, việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp theo cơ chế hiện hành chủ yếu dựa vào

việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, trong khi đó giám sát tối cao của Quốc hội phụ thuộc vào các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Vì thế không tránh khỏi sự ỷ lại trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo hiến;

Ba là, chúng ta chưa có một cơ chế hữu hiệu nào để giám sát chính hoạt động

của Quốc hội và giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành cũng như việc giải quyết và hệ quả pháp lý trong trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội có dấu hiệu trái với Hiến pháp Mặc dù Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định “theo đề nghị của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định bãi

bỏ một phần hoặc toàn bộ luật, nghị quyết của Quốc hội trái Hiến pháp” Tuy nhiên, cho đến nay, Quốc hội vẫn chưa bãi bỏ một văn bản luật, nghị quyết nào của mình với lý do văn bản đó trái Hiến pháp, mặc dù việc sửa đổi, bổ sung luật diễn ra liên tục hàng năm;

Bốn là, thẩm quyền huỷ bỏ, đình chỉ văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến

pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong thực tiễn hầu như chưa được áp dụng Hình thức kiến nghị thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực sự đem lại hiệu quả vì pháp luật chưa quy định cụ thể trình tự, thủ tục xử lý văn bản trái pháp luật;

Trang 18

Năm là, Hiến pháp Việt Nam không có hiệu lực áp dụng trực tiếp Các cơ quan,

tổ chức khi áp dụng pháp luật thường không viện dẫn quy định của Hiến pháp để giải quyết một vụ việc cụ thể, người dân cũng ít khi viện dẫn điều khoản của Hiến pháp để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm khi khởi kiện hoặc khiếu nại;

Sáu là, các quy định của pháp luật về giám sát và bảo vệ Hiến pháp còn thiếu,

một số lĩnh vực còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng, chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Hơn nữa, những quy định này lại nằm rải rác trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, từ Hiến pháp, các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đến nội quy, quy chế hoạt động của các cơ quan của Quốc hội… Điều này phần nào đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giám sát và bảo vệ Hiến pháp

Từ những hạn chế, bất cập trong việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp trên đây cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu để đề xuất giải pháp hữu hiệu phục vụ việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát và bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Bởi vì, mục đích của Nhà nước pháp quyền là bảo vệ các quyền của công dân được Hiến pháp ghi nhận, bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp và các đạo luật trong điều chỉnh các quan

hệ xã hội Trong khi đó, cơ chế bảo hiến lại chính là bảo đảm để các quyền của công dân không bị vi phạm từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước

và là bảo đảm để mọi chủ thể phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khóa VII năm 1994, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu ra nhiệm vụ: “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây

Trang 19

dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo” Từ đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam Tư tưởng đó đã được phát triển trong các kỳ Đại hội Đảng tiếp theo và chính thức trở thành một nội dung Hiến định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” Một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là vị trí tối thượng của Hiến pháp trong đời sống chính trị, pháp lý Do

đó, yêu cầu tất yếu phải có phương thức bảo hiến hiệu lực, hiệu quả Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, coongn bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” (Điều 3) Trong quá trình thực hiện, khó tránh khỏi các trường hợp mà cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức vượt quyền, lạm quyền, vi phạm thẩm quyền được Hiến pháp quy định dẫn đến xâm phạm quyền cơ bản của con người và công dân Trong mối quan hệ giữa công dân với các cá nhân và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, công dân luôn bị đặt vào vị trí yếu thế hơn Do đó, cần phải có cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền cơ bản của con người và công dân mà Hiến pháp đã quy định

Chính bởi những khiếm khuyết trong hoạt động bảo hiến của Việt Nam hiện nay như đã nêu trên nên trong thực tế hầu như chưa có bất kỳ đề xuất nào xem xét một vụ việc vi phạm Hiến pháp Vì vậy, có thể thấy rằng hoạt động bảo hiến hiện nay ở Việt Nam có hiệu quả thấp xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu là do Việt Nam chưa có một cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp

Trang 20

Ngày nay, để đảm bảo xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tất yếu phải xây dựng thiết chế bảo hiến Đây là một vấn đề quan trọng và bức xúc, phản ánh yêu cầu của dư luận xã hội hiện nay là mong muốn có một thiết chế đặc biệt trong hệ thống pháp luật Việt Nam để ràng buộc các cơ quan nhà nước, các chủ thể có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật kể cả Quốc hội phải tuân thủ Hiến pháp, đảm bảo cho Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong thực tiến hoạt động Nhà nước và

xã hội, chứ không chỉ dừng lại ở việc là một văn bản mang tính tuyên ngôn chính trị

Tư tưởng về sự phát triển xã hội theo các mục tiêu công bằng và nhân đạo trên

cơ sở tự do của mỗi người là điều kiện, tiền đề cho tự do của tất cả mọi người trở thành động lực tinh thần thức tỉnh, lôi cuốn hàng trăm triệu người vào những cơn lốc chính trị - xã hội mang tính cách mạng ở thế kỷ XX

Pháp luật và hệ thống chính trị của các nước trên thế giới đã được cải cách mạnh mẽ Từ vài thập kỷ nay, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và kỹ thuật,

xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang thu hút sự chú ý của cộng đồng thế giới rộng rãi Toàn cầu hóa không đơn thuần chỉ là kinh tế, càng không chỉ liên quan đến kinh tế,

nó bắt buộc phải bắt đầu bằng pháp luật và tiếp tục triển khai nhờ sự điều chỉnh của pháp luật

Thương mại quốc tế ngày càng rộng mở làm nảy sinh nhu cầu về một hệ thống quy tắc pháp lý chung, thậm chí cả một cơ chế tài phán quốc tế thống nhất Để làm thương mại, các bên đối tác tiến hành giao dịch với nhau trên cơ sở một khung pháp luật chung, nghĩa là cùng tuân thủ các nguyên tắc giao dịch đã được thỏa thuận chung Đã xuất hiện khá nhiều con đường, mô hình, phương thức làm luật chung liên quốc gia, ví dụ: Cơ chế hòa giải, trọng tài xuyên quốc gia, Tổ chức thương mại thế giới và hệ thống pháp luật quốc tế giải quyết những tranh chấp đang liên kết các chế độ pháp luật khác nhau lại với nhau,… Những năm gần đây, các

Trang 21

hiệp định về mậu dịch tự do tổng quát, hiệp định đầu tư liên quan đến mậu dịch, hiệp định về các khía cạnh kinh tế của quyền sở hữu trí tuệ, hay gần đây nhất là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã ra đời, là bước khẳng định mạnh mẽ về quá trình xây dựng hệ thống pháp luật có tính phổ quát toàn cầu

Mặt khác, bản thân quá trình toàn cầu hóa kinh tế lại thúc đẩy xu hướng cải cách pháp luật trên quy mô toàn cầu Trong bối cảnh này hầu hết các quốc gia đều cải cách pháp luật nhằm xác lập, hoàn thiện hệ thống đảm bảo pháp luật, được xem như yếu tố cạnh tranh hàng đầu hiện nay Tuy các quá trình cải cách pháp luật diễn

ra ở mỗi nước, mỗi khu vực với những nội dung, hình thức khác nhau nhưng khái quát chúng thành một số xu hướng chủ yếu sau:

- Nhà nước tăng cường can thiệp vào đời sống xã hội, trong đó quyền lực hành pháp, hành chính được mở rộng và quyền lực lập pháp có một số biến động Điều

dễ nhận thấy là chủ thể lập pháp hiện nay không còn chỉ là Nghị viện nữa, mà còn

có thêm một số cơ quan hoặc cá nhân khác được nhận quyền lập pháp ủy nhiệm Theo đó, các cơ quan hành chính và cơ quan hành pháp có quyền tự do hơn trong

xử lý, điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, xã hội, chính trị, tinh thần…, không còn

bị ràng buộc quá khắt khe vào các văn bản luật kinh điển như trước

- Nhà nước và xã hội, cũng như giữa công pháp và tư pháp đã xích lại gần nhau hơn Xuất phát từ nền móng tư tưởng về quyền của các nhân trong sở hữu tư liệu sản xuất và quản lý xã hội của nhà nước ngày càng gia tăng, đã xuất hiện nhiều luật không còn nguyên nghĩa, không còn thuần khiết là công pháp hay tư pháp (ví dụ: Luật lao động, luật bảo hiểm xã hội,…)

- Sự gia tăng quyền lực của các tổ chức tư nhân, các tập đoàn xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, các tổ chức quốc tế đã xuất hiện nhiều hơn Những thực thể quyền lực mới này đều có mạng lưới quyền lực phức tạp, được quy phạm hóa thành hệ thống văn bản đồ sộ

Trang 22

- Luật quốc tế trở thành pháp luật liên quan hữu cơ đến thành viên của toàn bộ

xã hội quốc tế Toàn cầu hóa về kinh tế đã tạo ra điều kiện và nhu cầu hội nhập quốc tế về thể chế xã hội, sự đồng quy của các cơ cấu lập pháp và sự tương thích về luật định giữa các quốc gia, chính phủ

Chính những yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa đặt ra yêu cầu đảm bảo tính hợp hiến trong hoạt động của các thiết chế, vừa đảm bảo tính đặc thù của mỗi quốc gia, dân tộc, vừa đảm bảo tính thống nhất trong cộng đồng quốc tế, cũng chính từ đây, yêu cầu bảo hiến tại Việt Nam cũng được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết Trong tương lai, khi cơ chế quyền lực đã có nền tảng vững chắc thì chúng ta sẽ hướng tới thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách như mục tiêu của Đảng đã đề ra Vấn đề là chúng ta nên lựa chọn mô hình nào để phù hợp nhất với điều kiện của Việt Nam? Trong các mô hình cơ quan bảo hiến trên thế giới đã đề cập ở phần trên,

có thể thấy hai mô hình cơ quan có hiệu quả nhất là mô hình của Hoa Kỳ (mô hình Tòa án có thẩm quyền chung) và mô hình châu Âu lục địa (mô hình tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến)

Mô hình của Hoa Kỳ rất có hiệu quả trong điều kiện phải áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực một cách rõ ràng và hệ thống tòa án đặc biệt là Tòa án tối cao phải hoàn toàn độc lập với hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Mô hình này trên thực tế rất khó có thể áp dụng với Việt Nam, xuất phát từ lý do là hệ thống tòa án của Việt Nam chưa thực sự độc lập với hai nhánh quyền lực còn lại là lập pháp và tư pháp

Mô hình Tòa án Hiến pháp (hoặc Hội đồng bảo hiến) lại là mô hình mà ở đó Tòa án Hiến pháp là một thiết chế hiến định độc lập, không phải là một cơ quan thuộc hệ thống Tòa án Trong điều kiện văn hóa pháp luật của Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa pháp luật Pháp (trong thời kỳ Pháp thuộc) và văn hóa pháp luật của Nga (trong thời Xô Viết), là những nền pháp luật từ văn hóa pháp luật châu Âu Hơn nữa, trong thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường và

Trang 23

nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật Việt nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa Bộ máy nhà nước cũng chịu ảnh hưởng nhiều của mô hình Cộng hòa Nghị viện Do đó, mô hình Tòa án Hiến pháp có thể là mô hình phù hợp đối với Việt Nam

1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam

Có thể hình dung khái quát Tòa án hiến pháp Việt Nam trong tương lai với cách thức tổ chức hoạt động, chức năng như sau:

1.2.1 Chức năng của Tòa án Hiến pháp

Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án Hiến pháp có thể được điều chỉnh tùy thuộc vào điều kiện của nền pháp lý, chính trị Việt Nam Tuy nhiên, ở mức tối thiểu thì Tòa án Hiến pháp Việt Nam nên có những chức năng, nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền xem xét và phán quyết về tính hợp hiến của Văn bản quy phạm pháp luật

Đối với Văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành: Tòa án Hiến pháp

có quyền ra phán quyết về tính bất hợp hiến, qua đó làm phát sinh hệ quả pháp lý

vô hiệu hóa đạo luật và điều ước quốc tế đã được Quốc hội phê chuẩn Tòa án Hiến pháp sẽ không tự mình quyết định việc xem xét tính hợp hiến của các văn bản do Quốc hội thông qua và phê chuẩn mà phải có yêu cầu từ các chủ thể nhất định do Hiến pháp quy định, có thể là: Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc một lượng đại biểu Quốc hội nhất định

Đối với Văn bản quy phạm pháp luật do các chủ thể khác có quyền ban hành theo quy định của pháp luật, Tòa án Hiến pháp có quyền tự mình quyết định việc xem xét tính hợp hiến của các văn bản do các chủ thể ấy ban hành, có quyền ra phán quyết về tính bất hợp hiến và áp dụng chế tài đối với văn bản đó (có thể là hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ)

Trang 24

Đối với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, gia nhập và thực hiện, Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền thực hiện việc xem xét tính hợp hiến bằng hình thức giám sát trước khi khi Việt Nam tham gia và cũng trên cơ sở đề nghị của một số chủ thể nhất định, có thể là: Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,…

Thứ hai là giải thích Hiến pháp

Khi Tòa án Hiến pháp được thành lập thì việc Ủy ban thường vụ Quốc hội vẫn giữ chức năng giải thích hiến pháp là không hợp lý, mà phải giao cho Tòa án Hiến pháp thực hiện Tòa án Hiến pháp giải thích Hiến pháp để đảm bảo sao cho các nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp được hiểu thống nhất và áp dụng thống nhất trong lý luận cũng như trong thực tiễn pháp lý Hoạt động giải thích Hiến pháp phải được tiến hành theo một quy trình độc lập, và chỉ được thực hiện khi có đề nghị của một số chủ thể nhất định Các chủ thể có quyền đề nghị có thể là: Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, …

Thứ ba là giải quyết khiếu kiện vi hiến

Đối tượng của hoạt động này chủ yếu là hành vi vi hiến trong hoạt động hành pháp và tư pháp, được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Vi hiến dưới dạng hành động ở đây có thể là văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định, bản án Còn vi hiến dưới dạng không hành động là việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải ban hành văn bản hoặc quyết định nhưng không kịp thời ban hành trong một thời gian nhất định Đối với hành vi không hành động, Tòa án Hiến pháp xem xét và phán quyết về tính hợp hiến khi có đề nghị của những chủ thể nhất định, có thể là: Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, đại biểu Quốc hội,… Còn đối với hành vi ban hành các văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định, bản án vi phạm các quyền con người, quyền và tự do cơ bản của công dân thì công dân có quyền khiếu kiện ra Tòa án Hiến pháp Ở Việt Nam chỉ nên

Trang 25

giới hạn đối tượng bảo vệ của Tòa án Hiến pháp là các quyền con người, quyền và

tự do cơ bản về chính trị Còn những quyền tự do cơ bản về kinh tế, dân sự sẽ do hệ thống án tư pháp bảo vệ Cần phải quy định đối tượng, phạm vi, điều kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện một cách chi tiết, cụ thể để phân biệt khiếu kiện vi hiến với các loại khiếu kiện khác

Thứ tư là Giải quyết tranh chấp về địa giới đơn vị hành chính giữa các tỉnh

Hiện nay, ở nước ta có hành chục vụ tranh chấp về địa giới hành chính giữa các tỉnh, có nhiều vụ tranh chấp kéo dài nhiều năm, giải quyết nhiều lần không dứt điểm, nhất là những nơi có khả năng phát triển du lịch, suối nước khoáng, phát triển bến cảng v.v Ví dụ, tranh chấp giữa tỉnh Bình Thuận và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã được Bộ Nội vụ xem xét, giải quyết, nhưng thẩm quyền của Bộ Nội vụ giải quyết vấn đề này dường như không phù hợp Vì vậy, UBND hai tỉnh này không

"tâm phục, khẩu phục" quyết định giải quyết của Bộ Nội vụ Thẩm quyền sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh theo quy định Điều 84 Hiến pháp 1992 thuộc Quốc hội quyết định, nhưng khi các tỉnh có tranh chấp, Quốc hội không thể và cũng không có điều kiện để giải quyết tranh chấp loại này Nếu có Tòa án Hiến pháp và nhất là sau này tổ chức chính quyền địa phương theo nguyên tắc tự quản thì các tranh chấp về địa giới hành chính giữa các tỉnh, thành phố có thể giao cho Tòa án Hiến pháp giải quyết sẽ thích hợp hơn

1.2.2 Vị trí, tính chất của Tòa án Hiến pháp

Tòa án Hiến pháp là một thiết chế độc lập, có vị trí pháp lý đặc biệt trong bộ máy nhà nước, có vị trí tách biệt khỏi ba nhánh quyền lực là: lập pháp, hành pháp và tư pháp Quy định về Tòa án Hiến pháp là những quy định trong Hiến pháp

Về tính chất, Tòa án Hiến pháp là cơ quan vừa mang tính chính trị, vừa mang tính tài phán hiến pháp Tòa án Hiến pháp là cơ quan mang tính chính trị vì sứ mệnh, chức năng, nhiệm vụ của nó và tính chất của những vụ việc được giải quyết

là những vấn đề hiến định Tòa án Hiến pháp là cơ quan mang tính tài phán vì nó

Trang 26

được trao quyền để đưa ra các phán quyết về các hành vi vi hiến và được áp dụng các chế tài đối với những chủ thể của hành vi vi hiến theo một quy trình tố tụng đặc biệt

1.2.3 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa án Hiến pháp

Đầu tiên, về cơ cấu tổ chức của Tòa án Hiến pháp, do là một thiết chế hiến định độc lập nên cần quy định một cách chi tiết về cơ cấu đó là: số lượng thẩm phán, tổ chức bộ máy giúp việc của Tòa án Hiến pháp,… ngoài ra còn phải quy định về điều kiện để trở thành thẩm phán Tòa án Hiến pháp hoặc các chức danh Chánh án, phó Chánh án Tòa án Hiến pháp

Cụ thể, tiêu chuẩn của thẩm phán Tòa án Hiến pháp phải quy định một số vấn đề sau: Về tư cách công dân, về độ tuổi, về tiêu chuẩn kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, về tính chất hoạt động, về số lượng thẩm phán, về nhiệm kỳ của thẩm phán, về cơ chế chọn thẩm phán, bổ nhiệm thẩm phán…

Đối với cơ cấu của Tòa án Hiến pháp, nên có một trụ sở riêng, độc lập với các cơ quan nhà nước khác, có bộ máy riêng, không kiêm nhiệm, có ban thư ký riêng, hoạt động dựa trên ngân sách nhà nước cấp cho, độc lập, tự chủ trong hoạt động của mình,…

Việc quy định về điều kiện tuyển chọn hay tiêu chuẩn của thẩm phán của Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam trong điều kiện hiện nay, chúng ta có thể tham khảo quy định về thẩm phán Tòa án Hiến pháp tại một số quốc gia như Liên bang Đức hoặc Cộng hòa Liên bang Nga

Theo đó, có thể đưa ra quy định về tiểu chuẩn thẩm phán như sau: thẩm phán phải là công dân Việt Nam, có độ tuổi từ 30 tuổi trở lên, tốt nghiệp các trường đào tạo luật chính quy, đã làm việc chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật từ đủ 7 năm trở lên, trong đó có tối thiếu 4 năm làm việc trong tòa án để đảm bảo được kinh nghiệm khi trở thành thẩm phán Tòa án Hiến pháp

Về số lượng thẩm phán trong Tòa án Hiến pháp tại Việt Nam, nên quy định ở số

lẻ, có thể là 11 thẩm phán dựa vào điều kiện của Việt Nam giai đoạn mới Số lượng thẩm phán là số lẻ để đảm bảo được nguyên tắc biểu quyết theo đa số

Trang 27

Về điều kiện tuyển chọn, thẩm phán Tòa án Hiến pháp sẽ do các cơ quan nhà nước độc lập đề cử và được Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước bổ nhiệm Cụ thể hơn, trong số 11 thẩm phán của Tòa án Hiến pháp, sẽ có 4 thẩm phán do Tòa án nhân dân tối cao đề cử, 4 thẩm phán do Quốc hội đề cử và 3 thẩm phán do Chủ tịch nước trực tiếp bổ nhiệm

Bên cạnh đó, thẩm phán Tòa án Hiến pháp không được là người đang kiêm nhiệm các chức vụ, chức danh khác trong hệ thống bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo được tính độc lập

Thứ hai, về phương thức hoạt động của Tòa án Hiến pháp

Như đã phân tích ở phần trên về chức năng của Tòa án Hiến pháp, thì phương thức hoạt động của Tòa án Hiến pháp sẽ được chia thành các hoạt động khác nhau tùy thuộc vào từng chức năng cụ thể, gồm có:

- Khi xem xét tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, Tòa án Hiến pháp

sẽ tổ chức các phiên họp xem xét dựa trên yêu cầu của các chủ thể được pháp luật quy định Phán quyết được đưa ra sau phiên họp sẽ được công khai và được áp dụng một cách thống nhất, có giá trị chung thẩm

- Khi giải thích Hiến pháp, Tòa án Hiến pháp cũng sẽ tổ chức phiên họp với sự tham gia của chủ thể đề nghị Tòa án giải thích Hiến pháp theo một trình tự, thủ tục được quy định cụ thể trong Hiến pháp hoặc văn bản quy phạm pháp luật Nghị quyết của Tòa án Hiến pháp về việc giải thích Hiến pháp sẽ được công khai rộng rãi để cho tất cả người dân, cũng như các cơ quan nhà nước được biết, hiểu và có phương án áp dụng phù hợp

Thứ ba, về hệ quả pháp lý và hiệu lực của phán quyết của Tòa án Hiến pháp

Về tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật: Đối với văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế do Quốc hội ban hành hoặc phê chuẩn, Tòa án Hiến pháp có quyền ra phán quyết về việc vi hiến, qua đó làm vô hiệu hóa văn bản, điều luật đó Đối với văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan, cá nhân có thẩm

Trang 28

quyền khác ban hành, Tòa án Hiến pháp có quyền ra phán quyết về việc vi hiến và

có thể đặt râ chế tài nhằm hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản vi hiến đó

Về việc giải thích Hiến pháp: Tòa án Hiến pháp đưa ra sự phân tích, giải thích rõ ràng và cụ thể tình thần, nội dung của các quy phạm pháp luật mà Hiến pháp quy định; xác định hành vi nào là vi hiến Sự giải thích này có giá trị hiệu lực bắt buộc đối với mọi đối tượng

Về việc khiếu kiện hành vi vi hiến: Tòa án Hiến pháp thực hiện việc xác định đó

có phải là trường hợp khiếu kiện đúng thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp hay không Nếu đúng thẩm quyền, Tòa án Hiến pháp sẽ thụ lý giải quyết, sau đó, đưa ra phán quyết dưới dạng quyết định hoặc bản án đối với hành vi vi hiến, có hiệu lực bắt buộc đối với các đối tượng liên quan, có giá trị chung thẩm Ngoài ra, Tòa án Hiến pháp cũng có thể áp dụng thêm chế tài để xử lý hành vi vi hiến đó trên tinh thần của Hiến pháp

1.3 Những điều kiện cần thiết đảm bảo hiệu quả hoạt động của Tòa án HIến pháp

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đã được thông qua năm 2013 và đã có một quy định về cơ chế bảo hiến, cụ thể tại Điều 119, cụ thể: “Cơ chế bảo hiến do luật định” Đây là một quy định mở, chưa rõ ràng vì hệ thống các luật vẫn chưa có quy định cụ thể về hình thức của cơ chế bảo hiến Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay

và tương lai, khi mà xu thế xuất hiện cơ chế bảo hiến trong các quốc gia là một xu thế bắt buộc, và Tòa án Hiến pháp là một mô hình được hầu hết các quốc gia trên thế giới đã và đang áp dụng một cách thành công, thì Việt Nam cũng cần có những

sự chuẩn bị cần thiết để có thể trước mắt là nắm bắt được xu thế của quốc tế, và sau

đó là xây dựng Tòa án Hiến pháp ở Việt Nam trong tương lai

Để xây dựng được Tòa án Hiến pháp trong tương lai, cần phải có một nền tảng chắc chắn được xây dựng ngay từ bây giờ, bằng một số cách biện pháp sau:

Trang 29

Thứ nhất, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam qua việc thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội

Với tư cách là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng rãi nhất của mọi đối tượng, tầng lớp trong xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia giám sát và phản biện xã hội Nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội là một hoạt động thường xuyên, quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, phải thừa nhận rằng vai trò giám sát – phản biện của Mặt trận chưa được các cấp ủy Đảng và chính quyền coi trọng một cách đúng mức Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đã đề cập đến chức năng của Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam là “giám sát và phản biện xã hội”, cụ thể là: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát suy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc” Ngày 12/12/2013, Bộ Chính trị đã ra Quyết định số

217-QĐ/TW về việc ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”

Theo đó, mục đích của quy chế nhằm hướng đến góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh

Trang 30

Phản biện xã hội nhằm phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong cách văn bản dự thảo của các cơ quan Đảng, Nhà nước; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng cũng như chính sách và pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường sự đồng thuận trong

xã hội

Hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đang từng bước đi vào đời sống xã hội Tuy nhiên, đến nay vẫn còn không ít lĩnh vực giám sát của Mặt trận chưa được pháp luật cụ thể hóa thành cơ chế, nên hiệu quả hoạt động chưa cao, đặc biệt là trong giám sát đầu tư công Việc tham gia ý kiến vào các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước của

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, kể cả khi công bố rộng rãi dự thảo để lấy ý kiến của nhân dân, đã thực hiện từ nhiều năm trở lại đây nhưng do chưa có quy định rõ ràng về trách nhiệm tiếp thu và giải trình của cơ quan có thẩm quyền lấy ý kiến nên hoạt động này vẫn còn đang nặng về hình thức

Để thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Hiện nay tuy có nhiều văn bản pháp luật đã đề cập đến vai trò và trách nhiệm giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhưng vẫn còn mang tính hình thức, thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, chưa có các chế tài thích hợp đối với việc tiếp nhận và xử lý kết quả giám sát do Mặt trận và các đoàn thể kiến nghị Từ

đó dẫn đến tình trạng các cơ quan chức năng khi xử lý, giải quyết kết quả giám sát đều chỉ thực hiện cho qua, mang tính chất chiếu lệ

Về phản biện xã hội, đến nay vẫn chưa được luật hóa, nên còn nhiều lúng túng, vướng mắc trong quá trình thực hiện Để hoạt động giám sát và phản biện xã hội

Trang 31

của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có thể phát huy hiệu quả, nhất thiết phải có một hệ thống cơ chế đầy đủ và đủ mạnh Vì vậy, trước mắt Hiến pháp và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phải có sự bổ sung một cách đầy đủ, chi tiết hơn về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội Bên cạnh đó, cần ban hành một văn bản quy phạm pháp luật quy định về giám sát của nhân dân Đánh giá đúng thực trạng để bổ sung hoàn chỉnh các quy định pháp luật để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên thực hiện tốt chức năng của mình trên thực tế

- Dành nhiều sự quan tâm hơn nữa cho công tác tổ chức và đào tạo cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo điều kiện về kinh phí cho hoạt động giám sát nói riêng và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nói chung Để giám sát và phản biện xã hội có chất lượng và hiệu quả thì chủ thể giám sát và phản biện phải mạnh, có bản lĩnh và trình độ chuyên môn, có năng lực nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề Vì vậy, các cấp ủy Đảng cần quy hoạch, đào tạo,

bố trí cán bộ có năng lực về công tác ở Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội Chú trọng cán bộ trẻ, có năng lực, trình độ cả về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị, có đạo đức tốt

Văn kiện Đại hội X của Đảng cũng nhấn mạnh: “Đổi mới, nâng cao chất lượng

hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các hội quần chúng, khắc phục tình trạng hành chính hóa, phô trương, hình thức; làm tốt công tác dân vận theo phong cách trọng dân, gần dân và có trách nhiệm với dân” Để thực hiện tốt nội

dung này, mỗi cấp ủy Đảng cần tiến hành rà soát, có cơ chế đánh giá thật chính xác năng lực cán bộ trên các lĩnh vực này mà bố trí lại cho phù hợp Đồng thời, có chế

độ đãi ngộ thỏa đáng, khuyến khích những người có tâm, có tầm vào làm việc Đặc biệt phải thu hút được lực lượng trí thức trẻ, những người được đào tạo một cách bài bản, đã kinh qua thực tiễn công tác ở nhiều môi trường khác nhau về làm việc Mặt khác, các cấp ủy Đảng và chính quyền tạo mọi điều kiện thuận lợi và thực sự

Trang 32

cầu thị trong việc lắng nghe ý kiến góp ý của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân Nói cách khác, chỉ khi nào các cấp ủy Đảng và chính quyền từ Trung ương đến địa phương thực sự xem Mặt trận và các đoàn thể nhân dân là lực lượng giám sát và phản biện tích cực, thì khi ấy tính chính xác và khả năng thực thi đầy đủ những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước vào trong đời sống xã hội càng được đảm bảo

- Thực hiện tốt mối quan hệ giữa tổ chức Đảng, chính quyền với và các đoàn thể Cần xây dựng quy chế và xác định rõ mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận Đảng phải đặt trong mối quan hệ vừa là tổ chức lãnh đạo của Mặt trận đồng thời là thanh viên của Mặt trận Chỉ có xác định đúng mối quan hệ đó mới tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội Thường xuyên đánh giá, sửa đổi bổ sung quy chế phối hợp giữa Mặt trận tổ quốc với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp Cần nghiên cứu để thống nhất việc sinh hoạt của tổ chức Đảng, quản lý Nhà nước, sinh hoạt Công đoàn của các doanh nghiệp sao cho đồng bộ, hợp lý Xây dựng cơ chế thích hợp nhằm phát huy vai trò của các tổ chức thành viên, nhân sĩ, trí thức, Hội đồng tư vấn vào hoạt động phản biện xã hội Quy định cụ thể và đầy đủ về quyền hạn, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc đối với các tổ chức thành viên; về trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền đối với những kiến nghị, phản ánh của Mặt trận Tổ quốc và của nhân dân trong quá trình giám sát phản biện Như vậy, Mặt trận Tổ quốc mới thể hiện đúng

và đầy đủ vai trò là tổ chức liên minh chính trị rộng lớn, đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân

- Tạo vị thế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội Muốn giám sát và phản biện được, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải giữ được một vị thế của một chủ thể giám sát và phản biện xã hội độc lập Do

đó, Đảng và Nhà nước cần tạo cho Mặt trận thực sự có được vị trí tương đối độc lập, không còn lệ thuộc vào Nhà nước về tổ chức, cán bộ và tài chính Có quy định

Trang 33

cụ thể về việc biểu dương khích lệ những người làm tốt công tác giám sát, phản biện, bảo vệ những người trung thực, thẳng thắn trong đấu tranh giám sát và phản biện

Giám sát và phản biện xã hội là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đối với dân, với Đảng Đảng là thành viên đồng thời là tổ chức lãnh đạo cảu Mặt trận, do đó, Đảng cần phải tạo mọi điều kiện để Mặt trận hoàn thành nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội và đưa hoạt động này vào cuộc sống, trở thành một nếp sinh hoạt thường xuyên ở mọi nơi trong cả nước

Thứ hai, tăng cường kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

Hiến pháp năm 2013 không những đã tiếp tục khẳng định tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” mà còn bổ sung thêm một nội dung mới là “kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Sự bổ sung này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện một bước phát triển mới về nhận thức lý luận xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước

ta Vì vậy, cần xây dựng cơ thế cụ thể để tăng cường sự kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước theo hướng sau:

- Phân định rõ chức năng của từng cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải có một hệ thống pháp luật, cơ sở pháp lý hoàn thiện cho hoạt động của bộ máy nhà nước Trước đây, chúng ta đã phân định nhưng chưa rạch ròi ba cơ quan lập pháp, hành pháp và

tư pháp, cho nên, trong thực tế còn bị chồng chéo chức năng của nhau, gây khó khăn cho tổ chức thực hiện Sự phân định này đã được Hiến pháp năm 2013 quy định một cách rõ ràng hơn Đây là cơ sở cho việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan Theo đó, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính

Trang 34

phủ là cơ quan được giao quyền hành pháp và Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp Nó tạo điều kiện để quy định nhiệm vụ, quyền hạn một cách đúng đắn, mạch lạc giữa các cơ quan Quốc hội, Chính phủ và Tòa án nhân dân trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Đây là cơ sở để kiểm soát quyền lực nhà nước, nhân dân có căn cư để nhận xét, đánh giá hiệu lực và hiệu quả thực hiện quyền lực nhà nước của mỗi quyền Đồng thời, việc phân chia rõ ràng này cũng khắc phục được sự trùng lặp hoặc không rõ trách nhiệm trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa trước đây và xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong bộ máy nhà nước Các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước sẽ lần lượt được sửa đổi theo các tư tưởng mới nói trên của Hiến pháp để hình thành một cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong bộ máy nhà nước

- Phân cấp quản lý phù hợp gắn với quy trách nhiệm cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức Hiện nay, “cơ chế, chính trách về quản lý kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực vẫn còn sơ hở, bất cập; một số quy định thiếu nhất quán, thiếu chặt chẽ, vẫn còn tình trạng “xin – cho”” Có một thực tế đáng buồn vẫn đang diễn ra là một đối tượng lại chịu sự quản lý của nhiều cơ quan nên khi phát sinh trách nhiệm lại không thể quy được cụ thể cho ai, mà lại đùn đẩy trách nhiệm Việc quy trách nhiệm tập thể, cá nhân do đó còn nhiều kẽ hở, thực hiện các chế định về vai trò, quyền hạn, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức còn nhiều bất cập Vì vậy, cần tạo đột phá trong quản lý vĩ mô nhằm nâng cao hiệu lực quản lý xã hội

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính trên thực tế Nhà nước pháp quyền lấy luật pháp làm tối thượng, nên để kiểm soát quyền lực nhà nước cho tốt, thì việc hoàn thiện pháp luật và thực thi nghiêm chỉnh pháp luật là đòi hỏi tất yếu và là yêu cầu cao đối với xây dựng và hoàn thiện nhà nước ta hiện nay Hiện nay, chúng ta đặc biệt “còn thiếu những cơ chế, chính sách đồng bộ, khoa học để chủ động ngăn ngừa những vi phạm” Cho

Trang 35

nên, phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt các chế định về kiểm soát quyền lực nhà nước: kê khai tài sản, chống tham nhũng; thuế thu nhập… để nâng cao hiệu quả trong ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực Cùng với đó, cần tiếp tục đẩy mạnh tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ, củng cố kỷ cương làm việc… để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, tăng cường hiệu quả thực thi quyền lực nhân dân

Kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các chủ thể nói trên không phải là những hoạt động độc lập tách rời nhau mà có sự thâm nhập, quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng phát huy hiệu quả đối với một số đối tượng: quyền lực nhà nước Chỉ có thực hiện toàn diện, chặt chẽ sự kiểm soát của cả ba lực lượng mới đảm bảo cho tổ chức

và hoạt động của Nhà nước vận hành nhịp nhàng, ăn khớp và thông suốt, ngăn chặn tình trạng lạm dụng quyền lực, để tư tưởng “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” trở thành hiện thực

Thứ ba, tăng cường hoạt động đào tạo thẩm phán nói chung và thẩm phán chuyên trách về Hiến pháp nói riêng

Để xây dựng được một Tòa án Hiến pháp đảm bảo được hoạt động chuyên trách của mình thì yêu cầu đặt ra là việc thẩm phán Tòa án Hiến pháp phải có trình

độ rất cao về pháp luật nói chung và Hiến pháp nói riêng Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã và đang từng bước cải cách hệ thống tư pháp bằng nhiều hoạt động, trong đó có việc tăng cường đào tạo các thẩm phán có trình độ chuyên môn cao và quy định về tính độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử Tuy nhiên, trên thực tế, tính độc lập của thẩm phán vẫn chỉ là tương đối, thẩm phán vẫn bị tác động bởi các cá nhân, tổ chức khác Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc đưa ra phán quyết của các Tòa án trong việc giải quyết vụ án Do vậy, cần quy định cụ thể

về quy trình đào tạo các thẩm phán chuyên trách về Hiến pháp, tổ chức các kỳ thi

để sàng lọc, sau đó đưa ra quy trình để tuyển chọn và bổ nhiệm những thẩm phán sau khi đạt đủ điều kiện để trở thành thẩm phán chuyên trách về Hiến pháp, họ là

Trang 36

những người có đủ chuyên môn và bản lĩnh vững vàng, không bị phụ thuộc vào các quyết định của các cá nhân, tổ chức, cơ quan nào khác, thể hiện rõ quan điểm và sự độc lập của mình

Kết luận chương 1

Qua những phân tích nói trên, việc xây dựng Tòa án Hiến pháp ở Việt Nam là điều cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đã và đang hội nhập ngày một sâu rộng vào sự phát triển chung của thế giới Hầu hết quốc gia trên thế giới qua quá trình phát triển của hệ thống pháp lý đều đã lựa chọn Tòa án Hiến pháp là mô hình bảo hiến cho quốc gia, trong đó có một số các quốc gia có mối liên hệ về mặt lịch sử cũng như vị trí địa lý đối với đất nước ta như Nga (Xô Viết), Thái Lan… Trong các mô hình bảo hiến trên thế giới, Tòa án Hiến pháp đã thể hiện được nhiều ưu điểm cũng như

là sự phù hợp với nền chính trị, kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Xây dựng Tòa án Hiến pháp ở Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho việc đảm bảo Hiến pháp được thi hành và giải thích một cách thống nhất, để xứng đáng với văn bản pháp lý cao nhất cho các văn bản quy phạm pháp luật khác được xây dựng và ban hành theo đúng tinh thần của Hiến pháp

Trang 37

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ QUAN BẢO HIẾN

VÀ TÒA ÁN HIẾN PHÁP 2.1 Một số vấn đề lý luận về cơ quan bảo hiến

2.1.1 Lịch sử phát triển của chế định cơ quan bảo hiến

2.1.1.1 Nguồn gốc hình thành chế định cơ quan bảo hiến

Người ta cho rằng tư tưởng về giám sát bảo hiến xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào đầu thế kỷ XVII và gắn liền với hoạt động của Hội đồng tư vấn Hội đồng này bác bỏ hiệu lực của các đạo luật do các cơ quan lập pháp thuộc địa ban hành nếu chúng trái với các đạo luật của Nghị viện Anh hoặc mâu thuẫn với thông luật Nhưng giám sát bảo hiến hiểu theo nghĩa hôm nay lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ, và không phải trên cơ sở hiến pháp mà từ án lệ Quan điểm này được Chánh án Toà án

Tối cao J Marshall thể hiện một cách rõ rệt nhất trong phán quyết về vụ Marbury

v Madison (Marbury kiện Madison) năm 1803: “Chỉ có toà án mới có quyền và có

nghĩa vụ tuyên bố cái gì được gọi là luật”, “một văn bản luật trái với Hiến pháp không phải là luật” Tiền lệ này đã đặt nền tảng cho mô hình Mỹ về hoạt động bảo hiến với đặc điểm chính là sự giám sát bảo hiến do các toà án bình thường thực hiện

Sau đó, sau Đại chiến thế giới lần thứ I, ở châu Âu đã xuất hiện mô hình của

mình, một mô hình mới về nguyên tắc, do học giả người Áo Hans Kelsen sáng tạo

ra Khác biệt chủ yếu của mô hình này so với mô hình Mỹ là hoạt động bảo hiến tách khỏi hệ thống tư pháp nói chung và do cơ quan chuyên trách thực hiện: toà án

hiến pháp Mô hình này được gọi là mô hình châu Âu (hay còn gọi là mô hình Áo)

Đến nay, chế định này đã lan truyền rộng rãi, được khẳng định ở các nước châu Âu,

ở nhiều quốc gia mới thành lập sau Đại chiến thế giới lần thứ II tại châu Á, châu

Trang 38

Phi, châu Mỹ La tinh, ở các nước Đông Âu cũ, các nước đang phát triển mà trước

đó chế định này hoặc bị huỷ bỏ hoặc không hề tồn tại

2.1.1.2 Giai đoạn phát triển của chế định cơ quan bảo hiến

Trước Chiến tranh thế giới thứ I

Những yếu tố ban đầu của bảo hiến được cho là xuất hiện vào thời cổ Hy Lạp, khi pháp luật nước này phân biệt giữa một nomos (văn bản pháp luật có chức năng như hiến pháp) và một psephisma (văn bản pháp luật có chức năng như một nghị định, hiệu lực thấp hơn) Một psephisma, bất kể nội dung quy định về vấn đề gì, cũng không được trái với nomos, nếu trái sẽ bị coi là vô hiệu

Một số khía cạnh của bảo hiến sau đó được áp dụng trong hệ thống pháp luật của Đức từ năm 1180 (về sau được đề cập trong Hiến pháp Weimar) Ngoài ra, các hình thức sơ khai của bảo hiến cũng xuất hiện ở một số nước châu Âu khác như ở Pháp (từ giữa thế kỷ XIII), Bồ Đào Nha (từ thế kỷ XVII), Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp,

Áo, Romania (thế kỷ XIX) Mặc dù không có hiến pháp thành văn, nước Anh cũng được coi là có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của lý luận và pháp luật về bảo hiến, vì từ thời trung cổ, người Anh đã khởi xướng ra thủ tục impeachment (hạch tội để bãi miễn quan chức nhà nước), đồng thời từ năm 1610 đã đề xướng nguyên tắc về tính tối thượng (supremacy) của Hiến pháp và quyền của tòa án được xem xét tính hợp hiến của các hoạt động của chính phủ - những điều mà sau đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thiết lập cơ chế bảo hiến ở Hoa Kỳ

Ở Hoa Kỳ, vào cuối thế kỷ XVIII, tòa án đã ra một phán quyết tuyên bố các luật của đế chế Anh không có hiệu lực trên lãnh thổ các bang Bắc Mỹ Tuy nhiên, phải đến năm 1803, trong vụ án nổi tiếng Marbury kiện Madison, quyền bảo hiến của tòa án mới được xác lập một cách chính thức ở Hoa Kỳ Vụ Marbury kiện Madison cũng xác lập mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ, do các tòa án thực hiện - một trong những mô hình bảo hiến chính trên thế giới hiện được áp dụng ở nhiều quốc gia

Trong thời gian giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ I và thứ II

Trang 39

Giai đoạn này được gọi là “thời kỳ của nước Áo” (the Austrian Period) Chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của hai nhà luật học Adolf Merkl và Hans Kelsen, Hiến pháp năm 1920 của Áo đã xác lập nền tảng của Tòa án Hiến pháp nước này, với độc quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Mô hình tòa án hiến pháp chịu trách nhiệm về bảo hiến sau đó được áp dụng ở nhiều quốc gia khác, đặc biệt là ở châu Âu, trở thành một trong các mô hình bảo hiến chính hiện nay trên thế giới

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ II

Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cơ chế bảo hiến tiếp tục được thiết lập ở khắp nơi trên thế giới Trong thời kỳ này, ngoài tòa án (tòa án thường và tòa án hiến pháp) như ở Mỹ và Áo, ở một số nước, pháp luật còn giao quyền bảo hiến cho một

số cơ quan khác, ví dụ như Hội đồng bảo hiến, các tòa đặc biệt thuộc Toà án tối cao, hoặc cho bản thân Nghị viện

2.1.2 Khái niệm và đặc điểm của cơ quan bảo hiến

2.1.2.1 Khái niệm cơ quan bảo hiến

Cơ quan bảo hiến là một bộ phận trong cơ chế bảo hiến nói chung Do đó, để có thể đưa ra một khái niệm chính xác và rõ ràng về cơ quan bảo hiến, cần xuất phát

từ cơ chế bảo hiến Tại sao lại hình thành nên cơ chế bảo hiến?

Ở các nước trên thế giới, không có một khái niệm thống nhất về cơ chế bảo hiến Thuật ngữ “bảo hiến” được sử dụng theo các cách hiểu khác nhau tùy vào hoàn cảnh chính trị và cơ cấu tổ chức nhà nước Xét về ý nghĩa cốt lõi, bảo hiến được hiểu là kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật, tức là xem xét những đạo luật được đưa ra có phù hợp với tinh thần và nội dung của hiến pháp hay không Tuy nhiên, với cách hiểu này thì bảo hiến sẽ không nhằm vào các văn bản dưới luật mà chỉ tập trung vào những đạo luật do Quốc hội thông qua bởi vì những văn bản này

có giá trị pháp lý trực tiếp dưới hiến pháp Do đó, cách hiểu bảo hiến chỉ là kiếm soát tính hợp hiến của các đạo luật là một cách hiểu theo nghĩa hẹp Thực tiễn của

Trang 40

chế độ bảo hiến ở các nước cho thấy, các định chế bảo hiến được sinh ra không chỉ đơn thuần là kiểm soát tính hợp hiến của hành vi lập pháp

Tòa án hiến pháp hoặc các thiết chế bảo vệ hiến pháp khác như tòa án tối cao, hội đồng hiến pháp ở nhiều quốc gia trên thế giới được coi là công cụ kiểm soát quyền lực đắc lực để bảo vệ hiến pháp Bên cạnh việc kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật của nghị viện, tòa án hiến pháp còn thực hiện nhiều chức năng khác để bảo vệ nội dung và tinh thần của hiến pháp như giải quyết tranh chấp giữa lập pháp

và hành pháp, giữa liên bang và các bang, giữa trung ương và địa phương; kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi của tổng thống cũng như của các quan chức trong

bộ máy hành pháp Ở nghĩa rộng hơn, bảo hiến được hiểu là kiểm soát tính hợp hiến của các hành vi của những thiết chế nhà nước được quy định trong hiến pháp

Ý nghĩa quan trọng và giá trị pháp lý của Hiến pháp chính là nguồn gốc phát sinh vấn đề bảo vệ, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và là cơ sở hình thành cơ chế bảo hiến Bởi lẽ, cơ chế bảo hiến chỉ tồn tại khi Hiến pháp có ưu thế hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật khác Trước đây, trong một số tài liệu pháp lý, hoạt động bảo hiến được hiểu là sự giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật Đến nay, khái niệm này được hiểu rộng hơn, theo đó hoạt động bảo hiến không chỉ là sự kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật mà còn bao gồm nhiệm vụ bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp như là nền tảng của hệ thống pháp luật quốc gia, bảo đảm các quyền hiến định, mối quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước Khái niệm cơ chế bảo hiến vì vậy cũng có nội hàm rộng hơn, bao gồm toàn bộ các thiết chế, nguyên tắc và biện pháp

tổ chức và thực hiện các hoạt động giải thích Hiến pháp; kiểm tra và giám sát hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền

Ngày đăng: 18/03/2018, 21:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w