1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của TPP đối với pháp luật thuế xuất nhập khẩu của việt nam và phương hướng hoàn thiện

93 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra cho công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong bối cảnh hội nhập sâu r

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ HƯƠNG GIANG

TÁC ĐỘNG CỦA TPP ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận, số liệu trong luận văn tốt nghiệp này là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./

Trang 4

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS.Đinh Dũng Sỹ – thầy giáo kính mến đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn thạc sĩ

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Hà Nội, ngày 05 tháng 08 năm 2016

Hv Trần Thị Hương Giang

Trang 5

DN Doanh nghiệp

FTA

Free Trade Agreement

(Hiệp định thương mại tự do)

Thuế XNK Thuế xuất nhập khẩu

TPP

Trans-Pacific Strategic Partnership Agreement

(Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Các Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam và tình trạng - trang 6

Bảng 2 Trạng thái của các thành viên của Hiệp định TPP - trang 12

Sơ đồ 1 Lịch sử và diễn biến của TPP - trang 13

Biểu đồ 1 Thực trạng thuế xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn từ năm

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 4

7 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1 6

KHÁI QUÁT VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) VÀ PHÁP LUẬT THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 6

1.1 Giới thiệu chung về Hiệp định TPP 6

1.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình đàm phán của Hiệp định TPP 10

1.1.2 Tóm tắt các nội dung chính của Hiệp định TPP 16

1.2 Khái quát về pháp luật Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam 20

1.2.1 Khái niệm Thuế xuất nhập khẩu và vai trò của Thuế xuất nhập khẩu 20

1.2.2 Khái niệm Pháp luật Thuế xuất nhập khẩu và so sánh những điểm mới cơ bản giữa Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016 với Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 34

Chương 2 56

TÁC ĐỘNG CỦA TPP ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN KHI VIỆT NAM THAM GIA TPP 56

2.1 Tóm tắt các cam kết về thuế quan của Việt Nam trong TPP 56

2.1.1 Cam kết về thuế Nhập khẩu của các nước dành cho Việt Nam 57

2.1.2 Cam kết về thuế Nhập khẩu của Việt Nam dành cho các nước 62

2.1.3 Cam kết về thuế xuất khẩu của Việt Nam 63

Trang 7

2.2 Tác động của TPP đối với pháp luật Thuế xuất nhập khẩu của khi Việt

Nam tham gia TPP 64 2.2.1 Tác động tích cực của TPP 65 2.2.2 Tác động tiêu cực của TPP 67 2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam tham gia TPP 74 2.3.1 Hoàn thiện các biện pháp bảo đảm thực thi Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2016 và bảo đảm thực hiện các cam kết trong TPP của Việt Nam 75 2.3.2 Đón nhận những thách thức khi Việt Nam tham gia TPP 77 KẾT LUẬN 81

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thế giới hiện đại, hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại

đã trở thành một xu thế nổi bật, một quá trình phát triển tất yếu của xã hội loài người Xu thế này cuốn hút tất cả các nước – từ giàu đến nghèo, từ lớn đến nhỏ hội nhập vào nền kinh tế thế giới Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó Kể từ khi bắt đầu tiến hành đổi mới vào cuối những năm 1980, Việt Nam đã liên tục theo đuổi hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Nhiều văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hội nhập quốc tế như một phương tiện để phát triển đất nước Gần đây nhất, vào tháng 4 năm 2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế, khẳng

định: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Những định hướng như vậy đã dẫn tới chính

sách thương mại quốc tế khá tự do của Việt Nam trong ba thập niên qua

Đến năm 2016, sau 30 năm hội nhập, về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới,

mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ Biểu hiện rõ nét nhất chính là sự theo đuổi quyết liệt của Việt Nam đối với các hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương lẫn song phương với nhiều đối tác khác nhau, đặc biệt là trong những năm

gần đây (chi tiết xem tại Bảng 1, trang 6) Trong số các Hiệp định thương

mại tự do hiện này, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương được biết đến như là một thoả thuận thương mại tự do đặc biệt, một FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao; được Tổng thống Obama của Mỹ và nhiều nhà lãnh đạo khác trên thế giới đánh giá là một hiệp định tiến bộ và kỳ công nhất trong lịch sử Lý do chủ yếu là bởi đây là một FTA có mức độ cam kết tự do hóa cao nhất, với

Trang 9

phạm vi bao trùm nhiều lĩnh vực nhất không chỉ với Việt Nam mà với tất cả các nước thành viên TPP Với tầm quan trọng và sự đánh giá cao như vậy, điều này giúp lý giải cho ý chí chính trị mạnh mẽ nhằm theo đuổi hiệp định TPP của Việt Nam Tham gia vào Hiệp định TPP cũng đang đặt ra nhiều vận hội cho sự phát triển của đất nước cùng nhiều thách thức mà chúng ta thực sự phải nỗ lực thì mới đạt được những mục tiêu phát triển mong muốn

Quá trình hoà nhập quốc tế này đòi hỏi phải có sự thống nhất ngày càng rộng rãi những luật lệ quốc tế trong hợp tác phát triển Sự hoà nhập tất yếu của Việt Nam vào hợp tác khu vực và quốc tế cũng đang đặt ra nhiệm vụ thích hợp hoá các chính sách quản lý phát triển kinh tế Để đáp ứng đáp ứng được công cuộc hội nhập, Việt Nam phải tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức và nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết mà các nước đã cùng nhau đồng thuận ký kết Trong đó việc thích hợp hóa các chính sách thuế xuất nhập khẩu, đối với các điều kiện và thông lệ chung được đặc biệt nhấn mạn, bởi thuế xuất nhập khẩu là một trong những công cụ

để thực hiện các chiến lược kinh tế của đất nước Với mong muốn tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra cho công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trước tình hình Việt Nam vừa ký kết thành công Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

(TPP), tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tác động của TPP đối với

pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam và phương hướng hoàn thiện”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được nghiên cứu ở nhiều ngành khoa học như kinh tế học, luật học v.v… Tuy nhiên, mỗi ngành khoa học chuyên biệt nghiên cứu về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở những giác độ khác nhau Quyết tâm tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

là một nỗ lực của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình này đòi hỏi phải nghiên cứu và đánh giá về chế độ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu một cách toàn diện trong hai xu hướng đối lập của hệ thống chính

Trang 10

sách kinh tế - thương mại thống nhất của một quốc gia: xu hướng tự do hóa thương mại và xu hướng, bảo hộ mậu dịch Bên cạnh đó, sự hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia trong khuôn khổ các liên kết kinh tế quốc tế không ngừng mở rộng quy mô, phạm vi và tính chất phức tạp của các vấn đề liên quan đến việc hoạch định chính sách, hoàn thiện thể chế, xây dựng môi trường pháp luật của mỗi nước

Pháp luật về thuế xuất nhập khẩu không phải là vấn đề mới nhưng mang tính thời sự, phụ thuộc vào sự phát triển trình độ kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia và sự hợp tác, đấu tranh giữa các nước trong xu hướng toàn cầu hóa Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu khoa học về pháp luật thuế xuất khẩu, thuế xuất khẩu gắn với từng bước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tuy nhiên, đối với sự kiện Việt Nam ký kết thành công Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đánh giá một cách toàn diện, có hệ thống tác động của TPP đối với sự phát triển của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Vì vậy, đề tài nghiên

cứu : “Tác động của TPP đối với pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam

và phương hướng hoàn thiện” được thực hiện ở cấp độ Luận văn Cao học

luật với mong muốn trên cơ sở phân tích lý luận, đánh giá tương đối đầy đủ thực trạng và đưa ra những khuyến nghị hoàn thiện pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa hội nhập với kinh tế quốc tế

Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đã và đang triển khai tiến hành hội nhập một cách rộng lớn và hiệu quả Để thực hiện nhiệm vụ và chương trình hành động hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đang tiến hành xây dựng, sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện pháp luật, cơ chế, chính sách kinh

tế thương mại với mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật thích hợp với các định chế của TPP và các cam kết quốc tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy phạm pháp luật Việt Nam về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các văn kiện của Đảng và Nhà nước

Trang 11

liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại, các tài liệu về thực tiễn áp dụng pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Việt Nam cũng như pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của một số nước và đặc biệt là Hiệp định TPP

Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các quy định của pháp luật Việt Nam

về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu gắn với việc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các cam kết của Việt Nam trong TPP

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống nội dung các quy định của Hiệp định TPP và pháp luật quốc gia về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, luận văn đưa ra những đánh giá về tác động và đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội nói chung, khoa học pháp lý nói riêng, đó là các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, chứng minh, diễn giải, quy nạp, Các phương pháp này được được kết hợp nhằm làm rõ các quy định của pháp luật thực định, nhìn nhận, đánh giá chúng trong mối liên hệ với pháp luật quốc gia, khu vực và thế giới cũng như thực tiễn áp dụng

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Đề tài nghiên cứu của tác giả là công trình khoa học pháp lý ở trình độ Cao học luật tiếp cận và nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong xu hướng tất yếu của quá trình toàn cầu hóa

Luận văn góp phần sáng tỏ lý luận pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là trước động thái nỗ lực tham gia vào Hiệp định TPP - một thỏa thuận thương mại được coi là thế hệ mới của thế kỷ 21, đánh giá về tác động của Hiệp định đối với pháp luật Việt Nam về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

và đưa ra đề án về phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới Kết quả

Trang 12

nghiên cứu của đề tài đóng góp nguồn tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật và nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Tên đề tài: Tác động của TPP đối với pháp luật thuế xuất nhập khẩu

của Việt Nam và phương hướng hoàn thiện

Luận văn bao gồm các phần: mở đầu, nội dung, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo; trong đó phần nội dung chính bao gồm 02 chương:

Chương 1.Khái quát về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

(TPP) và pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam

Chương 2 Tác động của TPP đối với pháp luật Thuế xuất nhập khẩu

của Việt Nam và phương hướng hoàn thiện khi Việt Nam tham gia TPP

Trang 13

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) VÀ PHÁP LUẬT THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM

1.1 Giới thiệu chung về Hiệp định TPP

Kể từ khi bắt đầu tiến hành đổi mới vào cuối những năm 1980, Việt Nam đã liên tục theo đuổi hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Nhiều văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hội nhập quốc tế như một phương tiện để phát triển đất nước Ví dụ, Đại hội IX của Đảng năm 2001 đã

đề ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.” Tháng 11 năm 2011,

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về “hội nhập kinh tế quốc tế.” Tại Đại hội X năm 2006, ĐCSVN tái khẳng định chính sách “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác.” Ngày mùng 5 tháng 2 năm 2007, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về “một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.” Gần đây nhất, vào tháng 4 năm

2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc

tế, khẳng định “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Những định hướng như vậy đã dẫn tới chính sách thương mại quốc tế khá tự do của Việt Nam trong hơn hai thập niên qua

Biểu hiện rõ nét của chính sách này là sự theo đuổi quyết liệt của Việt Nam đối với các hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương lẫn song phương với nhiều đối tác khác nhau, đặc biệt là trong những năm gần đây

(xem Bảng 1)

Trang 14

1 Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN

2 Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN

-Trung Quốc (ACFTA) Có hiệu lực

3 Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Hàn

4 Quan hệ Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN -

Nhật Bản (AJCEP)

Có hiệu lực

5 Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN

-Úc - New Zealand (AANZFTA) Có hiệu lực

6 Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Ấn

9 Hiệp định Thương mại Việt - Lào Ký ngày 03/03/2015,

đang chờ phê chuẩn

10 Hiệp định Thương mại Tự do Việt - Hàn Ký ngày 05/05/2015,

đang chờ phê chuẩn

11 Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam

-Liên minh Kinh tế Á Âu

Ký ngày 29/05/2015, đang chờ phê chuẩn

12 Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU

Kết thúc đàm phán ngày 05/04/2015, đang chờ

13 Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên

Thái Bình Dương (TPP)

Ký ngày 04/02/2016, đang chờ phế chuẩn

14 Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trang 15

Bảng 1 Các Hiệp định thương mại tự do của Việt Nam và tình trạng

Trong số các FTA Việt Nam đang theo đuổi, TPP có tầm quan trọng đặc biệt bởi một số lý do:

Thứ nhất, TPP là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: Về nguyên

tắc, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đòi hỏi các cam kết mở cửa sâu hơn các cam kết mở cửa thương mại thông thường Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa hoạt động thương mại trên thế giới đã chứng kiến 03 thế hệ các FTA, bắt đầu từ các FTA thế hệ thứ nhất tập trung vào tự do hóa lĩnh vực thương mại hàng hóa (cắt giảm thuế quan, loại bỏ các rào cản phi thuế) FTA thế hệ thứ hai với việc mở rộng phạm vi tự do hóa sang các lĩnh vực dịch vụ nhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực dịch vụ liên quan) và FTA thế hệ thứ ba tiếp tục mở rộng phạm vi tự do về dịch vụ đầu tư Đặc biệt, gần đây, các FTA có sự tham gia của Hoa Kỳ đã chứng kiến một xu hướng mới trong đàm phán và ký kết Không chỉ có những lĩnh vực truyền thống là thương mại mở cửa mà cả những vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường cũng được đưa vào hiệp định Là hiệp định mới nhất được đàm phán trong thời gian này, rõ ràng TPP sẽ không nằm ngoài xu hướng nói trên Phạm vi của TPP, là sẽ rất rộng, rất phức tạp với các vấn đề thương mại và phi thương mại đan xen

Thứ hai, TPP là sự phát triển của P4: Với nền tảng là hiệp định P4

(Hiệp định ký kết vào ngày 03/6/2005, có hiệu lực từ ngày 28/05/2006 giữa 4 quốc gia Singapore, Chile, New Zealand và Brunei Hiệp định này lấy tên là Pacific - 4 (P4)), TPP sẽ mở rộng các lĩnh vực cam kết mà Hiệp định P4 đã đề cập Trong khi P4 đã có cam kết mạnh về thuế quan và nhiều vấn đề phi thuế quan như xuất xứ hàng hóa, các biện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp vệ sinh dịch tễ, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, sở hữu trí tuệ, mua sắm công, chính sách cạnh tranh, các vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường thì Hiệp định TPP chắc chắn sẽ có phạm vi rộng hơn nhiều

Thứ ba, TPP là FTA của thế kỷ XXI: Tham gia đàm phán TPP, Mỹ

tuyên bố TPP sẽ tạo ra một chuẩn mới cho các FTA của thế kỷ XXI Rõ ràng

Trang 16

đây không phải là một tuyên bố hình thức khi nhìn vào các FTA mà Mỹ đàm phán trong thời gian gần đây Đó là FTA với Panama, Colombia và đặc biệt là FTA với Hàn Quốc Mong muốn đằng sau tuyên bố này là Mỹ sẽ cố gắng để TPP có phạm vi lớn nhất có thể và ở mức độ mở cửa rộng nhất có thể

Những yếu tố trên là căn cứ để nhiều chuyên gia cho rằng, TPP sẽ có phạm vi điều chỉnh rộng với xu hướng đàm phán tự do mạnh mẽ, cụ thể:

- Về thuế quan, cắt giảm hầu hết các dòng thuế (ít nhất 90%) đặc biệt là các loại thuế xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên, thực hiện ngay hoặc thực hiện với lộ trình rất ngắn

- Về dịch vụ, tăng mức độ mở cửa các lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch

vụ tài chính

- Về đầu tư, tăng cường các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài

và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư

- Về quyền sở hữu trí tuệ, tăng mức độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cao hơn so với mức trong WTO

- Về các biện pháp SPS, TBT, siết chặt các yêu cầu về vệ sinh dịch tễ

Trang 17

1.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình đàm phán của Hiệp định TPP

TPP là từ viết tắt của từ Trans-Pacific Strategic Partnership Agreement (có nghĩa là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương), là một thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 12 thành viên của TPP bao gồm: Australia, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Vietnam, Mỹ và Nhật Bản

TPP bắt đầu từ một thỏa thuận giữa Singapore, Chile, New Zealand vào

năm 2002 Khi đó TPP được biết đến với tên tiếng Anh là Pacific Three Closer Economic Partnership (P3-CEP) và được tổng thống Chile Ricardo

Lagos, thủ tướng Singapore Goh Chok Tong và thủ tướng New Zealand Helen Clark đưa ra thảo luận tại một cuộc họp các nhà lãnh đạo của APEC diễn ra tại Los Cabos, Mexico

Sau đó, vào tháng 04 năm 2005, Brunei nhanh chóng tham gia đàm phán ở vòng 5 Sau vòng đàm phán này, P3 trở thành P4, hiệp định lấy tên là

Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPSEP

hoặc P4) Ngày 3 tháng 6 năm 2005, Hiệp định được ký kết bởi bốn nước thành viên và bắt đầu có hiệu lực từ tháng 5 năm 2006 Mục tiêu ban đầu của Hiệp định là giảm 90% các loại thuế xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên trước ngày 01 tháng 01 năm 2006 và cắt giảm bằng không tới năm 2015

Năm 2007, các nước thành viên P4 quyết định mở rộng phạm vi đàm phán của Hiệp định này ra các vấn đề dịch vụ tài chính và đầu tư và trao đổi với Hoa Kỳ về khả năng nước này tham gia vào đàm phán mở rộng của P4 Phía Hoa Kỳ cũng bắt đầu tiến hành nghiên cứu vấn đề, tham vấn nội bộ với các nhóm lợi ích và Nghị viện về vấn đề này Tháng 9/2008, USTR thông báo quyết định của Hoa Kỳ tham gia đàm phán P4 mở rộng và chính thức tham gia một số cuộc thảo luận về mở cửa thị trường dịch vụ tài chính với các nước P4

Tháng 11 cùng năm, các nước Australia, Peru và Việt Nam cũng bày tỏ

sự quan tâm và tham gia đàm phán TPP, nâng tổng số thành viên tham gia lên 8

Trang 18

Quốc gia Trạng thái

Ngày bắt đầu đàm phán

Sáng lập

Kết thúc đàm phán

Kết thúc đàm phán

Kết thúc đàm phán

kỳ bầu cử Tổng thống và Chính quyền mới của Tổng thống Obama tham vấn

và xem xét lại việc tham gia đàm phán TPP Tháng 12/2009 USTR mới thông báo quyết định của Tổng thống Obama về việc Hoa Kỳ tiếp tục tham gia TPP Chỉ lúc này đàm phán TPP mới được chính thức khởi động

Các thành viên tiếp theo của TPP là Malaysia tham gia đàm phán là thành viên chính thức của TPP vào tháng 10/2010 Canada và Mexico chính thức tham gia TPP vào tháng 6/2012 Nước cuối cùng là Nhật Bản chính thức trở thành thành viên thứ 12 của TPP vào tháng 7/2013

Trang 19

Quốc gia Trạng thái

Ngày bắt đầu đàm phán

Kết thúc đàm phán

Sáng lập

Kết thúc đàm phán

Kết thúc đàm phán

Ngỏ ý muốn tham gia

Ngỏ ý muốn tham gia

Ngỏ ý muốn tham gia

Ngỏ ý muốn tham gia

Ngỏ ý muốn tham gia

Trang 20

Quốc gia Trạng thái

Ngày bắt đầu đàm phán

Ký kết

Đài Loan Ngỏ ý muốn

tham gia

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiệp_định_Đối_tác_xuyên_Thái_Bình_Dương

Bảng 2 Trạng thái của các thành viên của Hiệp định TPP

Vòng đàm phán TPP đầu tiên được tiến hành tại Melbourn - Australia vào tháng 3/2010 Năm 2010 đã chứng kiến 4 vòng đàm phán trong khuôn khổ TPP (Vòng 2, 3 đã tiến hành tại San Francisco - Hoa Kỳ tháng 6/2010 và tại Brunei tháng 10/2010, Vòng 4 kết thúc vào trung tuần 12/2010 tại New Zealand) Các nước đàm phán đặt mục tiêu là sẽ hoàn thành đàm phán TPP vào cuối 2011 sau 5 vòng đàm phán dự kiến trong năm này Mục tiêu này được đánh giá là hơi quá tham vọng bởi các đối tác tham gia TPP hiện còn khá xa nhau về quan điểm trong một số vấn đề cũng như kỳ vọng ở TPP Tuy nhiên với quyết tâm của các nước, khả năng những vấn đề quan trọng và cơ bản nhất của TPP sẽ được thống nhất trước khi kết thúc năm 2011 là tương đối hiện thực

Sau hơn 5 năm đàm phán với hơn 30 phiên làm việc ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm phán ở cấp Bộ trưởng, các nước TPP đã chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định vào ngày 05 tháng 10 năm 2015 tại Hội nghị Bộ trưởng tại Át-lan-ta, Hoa Kỳ Hiệp định bao gồm 30 chương, đề cập không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước v v Đây là một thoả thuận thương mại lớn nhất trong khu vực từ trước tới nay với khả năng trở thành chuẩn mực mới cho nền thương mại trên toàn thế giới cũng như tiêu chuẩn về lao động hợp nhất cho 40% tổng GDP của thế giới, từ Canada, Chile tới Nhật, Australia và đặc biệt là Việt Nam

Trang 21

Ngày 04 tháng 02 năm 2016, Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam đã tham dự Lễ ký kết để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, New Zealand Sau khi ký chính thức, các nước sẽ tiến hành thủ tục phê chuẩn Hiệp định theo quy định của pháp luật nước mình Hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày nhận được thông báo sau cùng bằng văn bản về việc các Bên đã hoàn thành thủ tục pháp lý nội

bộ

Được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Công Thương

Vũ Huy Hoàng đã thay mặt Chính phủ Việt Nam ký xác thực lời văn Hiệp định TPP và 35 thỏa thuận song phương trong các lĩnh vực liên quan đến dịch

vụ tài chính, dệt may, nông nghiệp, sở hữu trí tuệ… mà Việt Nam đã thống nhất với một số nước TPP Các thỏa thuận song phương này sẽ có hiệu lực cùng thời điểm với Hiệp định TPP

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một thoả thuận thương mại tự do thế hệ mới của thế kỷ 21 hướng tới mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài TPP được Tổng thống Obama của Mỹ và nhiều nhà lãnh đạo khác trên thế giới đánh giá là một hiệp định tiến bộ và kỳ công nhất trong lịch sử.Có thể tóm tắt những cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành của TPP theo sơ đồ sau:1

Trang 22

1 Ezlaw (2015), “Lịch sử hình thành và các cột mốc quan trọng của TPP”, Ezlaw Blog, tại địa chỉ: http://www.ezlawblog.com/2015/05/lich-su-hinh-thanh-cac-cot-moc-quan.html, ngày truy cập 22/7/2016

Trang 23

15

Sơ đồ 1: Lịch sử

và diễn biến của TPP

Trang 24

1.1.2 Tóm tắt các nội dung chính của Hiệp định TPP

Ngày 05/10/2015, Hiệp định Đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) chính thức được thông qua

Hiệp định TPP được coi là hình mẫu cho hợp tác kinh tế khu vực trong những năm đầu của thế kỷ 21 Hiệp định bao gồm 30 chương, đề cập không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước , doanh nghiệp vừa và nhỏ vv Riêng về mở cửa thị trường, các nước tham gia Hiệp định đồng ý xóa bỏ cho nhau gần như toàn bộ thuế nhập khẩu theo lộ trình; xóa bỏ thuế xuất khẩu hoặc chỉ duy trì ở mức hạn chế, không mở rộng thêm thuế xuất khẩu trong tương lai

Có năm nội dung chính đã làm TPP trở thành một Hiệp định quan trọng của thế kỷ 21, đặt ra các tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu, đồng thời tiếp tục giải quyết các vấn đề của thời đại mới Những nội dung đó bao gồm:

- Tiếp cận thị trường toàn diện

- Cách tiếp cận cam kết trong khu vực

- Xem xét các thách thức thương mại mới

- Thương mại toàn diện

- Nến tảng hội nhập khu vực

Hiệp định TPP gồm có 30 Chương, cụ thể như sau:

1 Quy định chung và các định nghĩa

2 Thương mại hàng hóa

3 Dệt may: Các Bên tham gia TPP nhất trí xóa bỏ thuế quan đối với hàng dệt may – ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế tại một số thị trường của các nước TPP Hầu hết thuế quan sẽ được xóa bỏ ngay lập tức, mặt dù thuế quan đối với một số mặt hàng nhạy cảm sẽ được xóa bỏ với lộ trình dài hơn do các Bên thống nhất Chương Dệt may cũng bao gồm các quy tắc xuất xứ cụ thể yêu cầu việc sử dụng sợi và vải từ khu vực TPP - điều này sẽ thúc đẩy việc thiết lập các chuỗi cung ứng và đầu

Trang 25

tư khu vực trong lĩnh vực này, cùng với cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” cho phép việc sử dụng một số loại sợi và vải nhất định không có sẵn trong khu vực Ngoài ra, Chương này còn bao gồm các cam kết về hợp tác và thực thi hải quan nhằm ngăn chặn việc trốn thuế, buôn lậu và gian lận cũng như cơ chế tự vệ đặc biệt đối với dệt may để đối phó với thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước trong trường hợp có sự gia tăng đột biến về nhập khẩu…

4 Quy tắc xuất xứ: 12 nước thành viên TPP đã thống nhất về một bộ quy tắc xuất xứ chung để xác định một hàng hóa cụ thể “có xuất xứ” và do vậy được hưởng thuế quan ưu đãi trong TPP Hiệp định TPP cũng quy định

về “cộng gộp” để các nguyên liệu đầu vào từ một Bên TPP được đối xử như những nguyên liệu từ một Bên khác nếu được sử dụng để sản xuất ra một sản phẩm tại bất kỳ một Bên TPP Các quy tắc được đưa ra để bảo đảm rằng doanh nghiệp có thể hoạt động một cách dễ dàng xuyên khu vực TPP thông qua việc thiết lập một hệ thống chung trên toàn TPP về chứng minh và kiểm tra xuất xứ của hàng hóa TPP

5 Hải quan và thúc đẩy thương mại: Các nước TPP nhất trí áp dụng những quy định thông báo trước về xác định trị giá hải quan và các vấn đề khác nhằm giúp cho doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp lớn và nhỏ, kinh doanh với khả năng có thể dự báo trước được tình hình, nhất trí về các quy định hải quan đối với chuyển phát nhanh Để cắt giảm chi phí cho các doanh nghiệp TPP, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, các thành viên TPP nhất trí các quy định giúp xóa bỏ các quy trình kiểm tra và chứng nhận trùng lắp đối với các sản phẩm, thiết lập quy trình dễ dàng hơn giúp các công ty tiếp cận thị trường các nước TPP…

6 Các biện pháp vệ sinh dịch tễ

7 Rào cản kỹ thuật trong thương mại

8 Biện pháp phòng vệ thương mại

9 Đầu tư

10 Thương mại dịch vụ xuyên biên giới

11 Dịch vụ tài chính

Trang 26

12 Tạm nhập cảnh hàng hóa

13 Viễn thông

14 Thương mại điện tử: 12 Thành viên TPP đồng ý hợp tác để giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tận dụng lợi thế của thương mại điện tử và Chương này khuyến khích hợp tác chính sách liên quan tới việc bảo vệ thông tin cá nhân, bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến, sự đe dọa của tội phạm máy tính và khả năng của tội phạm máy tính

15 Mua sắm công

16 Chính sách cạnh tranh

17 Doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp độc quyền được chỉ định Tất cả các Thành viên TPP đều có Doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thường đóng vai trò cung cấp dịch vụ công và các hoạt động khác, nhưng các Thành viên TPP đều nhận thấy lợi ích của việc thống nhất một khung khổ quy định

về cạnh tranh liên quan đến các DNNN Chương này điều chỉnh những DNNN chủ yếu tham gia vào các hoạt động thương mại

Các Thành viên nhất trí bảo đảm rằng các SOEs của mình sẽ tiến hành các hoạt động thương mại trên cơ sở tính toán thương mại, trừ trường hợp không phù hợp với nhiệm vụ mà các SOEs đó đang phải thực hiện để cung cấp các dịch vụ công Các Thành viên cũng đồng ý bảo đảm rằng các DNNN hoặc đơn vị độc quyền sẵn có không có những hoạt động phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ của các Thành viên khác

Các Thành viên đồng ý trao cho tòa án quyền tài phán đối với các hoạt động thương mại của các DNNN nước ngoài và bảo đảm rằng các cơ quan hành chính quản lý cả các DNNN và doanh nghiệp tư nhân cũng làm như vậy một cách công bằng Các Thành viên TPP đồng ý sẽ không tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với lợi ích của các Thành viên TPP khác khi cung cấp hỗ trợ phi thương mại cho các DNNN hay làm tổn hại đến ngành trong nước của Thành viên khác thông qua việc cung cấp các hỗ trợ phi thương mại cho SOEs sản xuất và bán hàng hóa trên lãnh thổ của DNNN khác đó

Các Thành viên TPP đồng ý chia sẻ danh sách các DNNN với các Thành viên khác và khi được yêu cầu sẽ cung cấp các thông tin bổ sung về

Trang 27

mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của chính phủ và những hỗ trợ phi thương mại cung cấp cho các DNNN Chương này cũng tạo ra các trường hợp ngoại lệ cho các DNNN không có ảnh hưởng trên thị trường TPP, cũng như những ngoại lệ cụ thể theo từng nước, được quy định trong các phụ lục, gắn liền với Hiệp định TPP

và vừa bao gồm các cam kết của mỗi Bên về thiết lập một trang web thân thiện với người sử dụng dành cho đối tượng sử dụng là các doanh nghiệp vừa

và nhỏ để dễ dàng tiếp cận các thông tin về Hiệp định TPP và những cách thức mà các doanh nghiệp nhỏ có thể tận dụng Hiệp định này, bao gồm cả việc diễn giải các điều khoản của Hiệp định TPP liên quan tới doanh nghiệp vừa và nhỏ; các quy định và thủ tục liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ; các quy định về đầu tư nước ngoài; các thủ tục về đăng ký kinh doanh; các quy định về lao động và các thông tin về thuế

Ngoài ra, Chương này quy định việc thành lập Ủy ban Doanh nghiệp vừa và nhỏ được tiến hành họp định kỳ để rà soát mức độ hỗ trợ của Hiệp định TPP cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cân nhắc các cách thức để nâng cao hơn nữa những lợi ích của Hiệp định và giám sát các hoạt động hợp tác hoặc nâng cao năng lực để hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua tư

Trang 28

vấn xuất khẩu, hỗ trợ, đào tạo cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; chia sẻ thông tin; cấp vốn thương mại và các hoạt động khác

25 Sự đồng bộ trong quy định

26 Minh bạch và chống tham nhũng

27 Quy định về hành chính và thể chế

28 Giải quyết tranh chấp: Chương này có mục tiêu nhanh chóng giúp

đỡ các Bên giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện Hiệp định TPP

29 Các vấn đề ngoại lệ

30 Điều khoản thi hành

Để cắt giảm chi phí cho các doanh nghiệp TPP, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, các thành viên TPP nhất trí các quy định giúp xóa bỏ các quy trình kiểm tra và chứng nhận trùng lắp đối với các sản phẩm, thiết lập quy trình dễ dàng hơn giúp các công ty tiếp cận thị trường các nước TPP

Các cam kết về thuế quan được quy định trong chương II - “Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa” của TPP, bao gồm 02 nhóm: cam kết về thuế nhập khẩu và cam kết về thuế xuất khẩu Trong TPP, các cam kết về thuế quan được thể hiện chi tiết theo từng dòng thuế trong Biểu thuế và mỗi nước TPP sẽ có một Biểu cam kết thuế quan riêng áp dụng cho từng đối tác hoặc tất cả các đối tác của TPP

1.2 Khái quát về pháp luật Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam

1.2.1 Khái niệm Thuế xuất nhập khẩu và vai trò của Thuế xuất nhập khẩu

1.2.1.1 Khái niệm Thuế xuất nhập khẩu

Thuế nói chung vừa là một phạm trù mang tính khách quan vừa là phạm trù mang tính lịch sử Thuế tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại

và hoạt động của nhà nước Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, giai cấp và tầng lớp xã hội xuất hiện, thì nhà nước cũng hình thành Để thực hiện các chức năng của mình thì nhà nước cần có một nguồn tài chính Nguồn tài chính đó có thể là sự huy động của các tổ chức cá nhân trong xã hội Theo một cách nào đó có thể hiểu nguồn tài chính này là thuế Nhà nước đặt ra nhiều sắc thuế khác nhau áp dụng đối với từng lĩnh vực từng đối tượng Qua

Trang 29

đó ta có thể hiểu thuế là khoản đóng góp bắt buộc được thể chế bằng luật do các pháp nhân và thể nhân đóp góp cho ngân sách nhà nước Thuế không có tính hoàn trả trực tiếp, không phải là khoản thù lao của dân chúng trả cho các dịch vụ của nhà nước

Thuế được áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau và được chia thành nhiều loại thuế Trong đó, thuế xuất nhập khẩu là một khoản thuế không thể thiếu, đặc biệt khi hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia ngày càng trở nên sôi động Thuế xuất nhập khẩu có thể hiểu là khoản thu bắt buộc điều tiết vào giá của hàng hoá dịch vụ khi trao đổi với nước khác mà người sở hữu nó phải nộp cho nhà nước Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vai trò và ý nghĩa thiết thực không chỉ trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà quan trọng hơn, nó còn là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ra nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại của Chính phủ trong từng thời kỳ, đối với từng quốc gia hoặc từng nhóm quốc gia cụ thể Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa nhưng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã nhanh chóng khẳng định được vai trò to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa với bên ngoài và bảo hộ nền sản xuất trong nước Ngày nay, cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang ảnh hưởng đến tình trạng của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này ở mỗi quốc gia song về cơ bản, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vẫn sẽ là giải pháp

vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước, nhất là đối với mỗi quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường như Việt Nam

Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận

Xét về phương diện kinh tế, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền mặt của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới một nước Với cách tiếp cận này, thuế xuất

Trang 30

khẩu, thuế nhập khẩu được quan niệm như là một hệ phân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh giữa chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là Nhà nước Mặt khác, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có thể được hiểu như là đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế để Nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi khu vực và toàn cầu

Xét về phương diện pháp lý, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có thể hình dung là quan hệ pháp luật phát sinh giữa Nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hành thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn làm phát sinh quyền thu thuế cho Nhà nước và nghĩa vụ đóng góp thuế cho các tổ chức, cá nhân là người nộp thuế Việc tiếp cận khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ góc độ pháp lý

có nhiều ý nghĩa thiết thực, trước hết là giúp chúng ta nhận diện rõ hơn về bản chất của thuế nói chung và thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng, thực chất

là một quyết định hành chính đơn phương của quốc gia đối với người đóng thuế, hay là một “thỏa thuận” song phương giữa người thu thuế và người nộp thuế? Trên cơ sở lý thuyết đó, giúp cho Nhà nước hoạch định và thực thi chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp với quyền lợi của quốc gia

và của người đóng thuế, xét trong mối quan hệ lợi ích với quốc gia khác trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Văn bản pháp lý điều chỉnh trực tiếp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là Luật thuế xuất khẩu - thuế nhập khẩu Luật Thuế xuất khẩu - thuế nhập khẩu lần đầu tiên được Quốc hội ban hành vào ngày 26/12/1991 Sau đó, Luật Thuế xuất khẩu - thuế nhập khẩu đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần: lần 1 vào 05/7/1993; lần 2 vào 20/5/1998 Cho đến thời điểm hiện tại, văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực điều chỉnh lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 Tuy vậy qua hơn 10 năm thực hiện, luật thuế xuất nhập khẩu vẫn còn nhiều hạn chế và có những điểm

Trang 31

chưa phù hợp với tình hình thực tế trong nước và quá trình hội nhập quốc tế Bằng nhiều nỗ lực, ngày 06 tháng 4 năm 2016, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 đã được Quốc hội 13 ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2016 Có thể thấy rằng, qua mỗi lần sửa đổi, bổ sung, pháp luật thuế xuất nhập khẩu ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội với điều kiện kinh tế xã hội của nước ta và thông

lệ quốc tế

Tựu chung lại, khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được hiểu là:

“Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế thu đánh vào hành vi xuất khẩu, nhập khẩu các loại hàng hóa:

- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam

- Hàng hóa xuất khẩu từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan, hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước

- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, quyền phân phối” (theo Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016)

1.2.1.2 Đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

So với các loại thuế nội địa thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có nhiều điểm khác biệt Những khác biệt này có nguồn gốc sâu xa từ bản chất và chức năng của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm:

a Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam

Theo quy định của pháp luật hiện hành, về cơ bản, hàng hóa được chia thành 3 nhóm:

- Nhóm 1: Hàng cấm xuất khẩu – nhập khẩu là những loại hàng hóa mà khi tiến hành xuất khẩu, nhập khẩu sẽ có tác động rất lớn đến tình hình chính trị, xã hội của Việt Nam như ma túy, văn hóa phẩm đồi trụy…; hoặc vì mục đích bảo hộ sản xuất trong nước (hàng rào phi thuế quan)

- Nhóm 2: Hàng hóa hạn chế xuất khẩu hoặc nhập khẩu là những loại hàng hóa mà theo quy địn chỉ được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu khi thỏa mãn những điều kiện nhất định, bao gồm:

Trang 32

+ Thứ nhất, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải có sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đây là những hàng hóa có khả năng ảnh hưởng đến hệ sinh thái, môi trường, sức khỏe của con người Ví dụ: (i) các loại cây trồng, giống vật nuôi của nước ngoài chỉ được phép xuất khẩu vào Việt Nam khi Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép nhằm đảm bảo giống cây trồng, vật nuôi đem lại lợi ích nhất định về kinh tế, không làm ảnh hưởng đến môi trường sống, phù hợp với hệ sinh vật ở Việt Nam; (ii) nhập khẩu thuốc y tế phải có sự cho phép của Bộ Y tế; (iii) nhập khẩu đồ chơi trẻ em, đồ dung dạy học, văn hóa phẩm phải có sự đồng ý của Bộ Giáo dục đào tạo, Bộ thông tin và truyền thông…

+ Thứ hai, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo định mức (là những hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được quản lý bằng hạn ngạch hay quota): Đây

là những hàng hóa chiến lược của nền kinh tế, Nhà nước cho phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu với số lượng trong phạm vi hạn mức đã được xác định Ví dụ: hạn ngạch gạo xuất khẩu (liên quan đến việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia), hạn ngạch vàng nhập khẩu (liên quan đến sự bình ổn của giá vàng, ngoại tệ, thị trường tài chính trong nước)…

+ Thứ ba, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo sự chỉ định của Chính phủ: là những hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu bởi các tổ chức, doanh nghiệp do Chính phủ chỉ định Những chủ thể khác không có quyền xuất khẩu hoặc nhập khẩu các loại hàng hóa này Về cơ bản, hàng hóa xuất khẩu - nhập khẩu theo sự chỉ định của Chính phủ là những hàng hóa mang tính chiến lược,

có khả năng tác động sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế Chính vì vậy, việc xuất khẩu - nhập khẩu những mặt hàng này cần sự chỉ đạo, điều hành sát sao của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm ổn định số lượng và giá cả hàng hóa, đảm bảo sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế Ví dụ: nhập khẩu xăng, dầu

Có thể nói rằng, các giải pháp nhằm hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nêu trên, thực chất là các biện pháp hành chính, nói cách khác, đó là các hàng rào phi thuế quan Nhằm thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế khu vực

và quốc tế, các hàng rào phi thuế quan đã và đang từng bước được dỡ hoặc thay thế bằng các biện pháp thuế quan nhằm đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng, minh bạch, giữa các chủ thể kinh doanh trong và ngoài

Trang 33

nước, hạn chế tối đa các tiêu cực có thể xảy ra (ví dụ: việc mua, bán quota) Tuy nhiên, khi các hàng rào phi thuế quan được tháo dỡ, cũng có nghĩa là Nhà nước không thể công khai bảo hộ sản xuất trong nước, đây cũng là một thách thức rất lớn đối với nền kinh tế nội địa và các doanh nghiệp trong nước trước sức ép của các doanh nghiệp nước ngoài đang ồ ạt đầu tư vào Việt Nam khi thị trường thật sự mở cửa

- Nhóm 3: Hàng hóa tự do xuất khẩu, nhập khẩu là những loại hàng hóa không thuộc nhóm nêu trên Đối với các loại hàng hóa này, Nhà nước cho phép mọi tổ chức, cá nhân có thể tự do tiến hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với điều kiện là phải thực hiện đầy đủ thủ tục hải quan, nộp đủ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác phát sinh từ hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa với Nhà nước

Tóm lại, đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm:

1 Hàng hóa tự do xuất khẩu, nhập khẩu

2 Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện

b Hàng hóa chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải là hàng hóa được mang qua biên giới Việt Nam

Cơ sở để Nhà nước thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu là những hàng hóa này phải được vận chuyển một cách hợp pháp qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam Như vậy, nếu hàng hóa không được vận chuyển qua biên giới Việt Nam, hoặc vận chuyển một cách trái phép qua biên giới Việt Nam, sẽ không phải là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Hành vi tác động vào những loại hàng hóa này sẽ không chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thông thường, hàng hóa được vận chuyển một cách hợp pháp qua biên giới Việt Nam được thực hiện trên cơ sở quan hệ mua bán ngoại thương, trao đổi, tặng cho,…

Để làm rõ đặc điểm hàng hóa phải vận chuyển qua biên giới Việt Nam mới là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, vấn đề quan trọng cần được xác định “biên giới Việt Nam” được hiểu như thế nào? Khái niệm biên giới theo quy định của pháp luật thuế xuất, thuế nhập khẩu không đồng nhất

Trang 34

với khải niệm biên giới quốc gia theo quy định của công pháp quốc tế “Biên giới quốc gia” theo công pháp quốc tế chính là “biên giới hành chính”, nó phân biệt lãnh thổ địa lý giữa quốc gia này với quốc gia khác, bao gồm biên giới đường bộ, đường sông, đường biển, đường hàng không “Biên giới” theo quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là biên giới kinh tế Có thể hiểu biên giới kinh tế một cách đơn giản là bất cứ đâu có sự phân định giữa nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế nước ngoài thì đó là biên giới kinh

tế

Như vậy, “biên giới” theo pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sẽ bao gồm cả biên giới hành chính và những địa điểm khác như cửa khẩu bưu điên, cửa khẩu khu phi thuế quan Trong đó, khu phi thuế quan là khu vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, có ranh giới địa lý xác định , được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu2 Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế - thương mại đặc biệt, khu thương mại -công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ3

Việc Nhà nước tác động đến hàng hóa có sự dịch chuyển qua biên giới Việt Nam thông qua việc đánh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu lên những hàng hóa này một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mặt khác thực hiện quản lý hàng hóa lưu thông từ thị trường trong nước ra nước ngoài và ngược lại Qua đó, cơ quan quản lý nhà nước (hải quan) nắm được chủng loại,

số lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, từ đó thống kê và kiểm soát cán cân thương mại của quốc gia, đồng thời cung cấp số liệu về tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cho các cơ quan chức năng nhằm phục vụ công tác quản

lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế

c Đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là tổ chức, cá nhân

có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa

Như đã trình bày, đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hóa được phép xuất nhập khẩu qua biên giới Việt Nam Như vậy, những chủ thể

Trang 35

nào có hành vi dịch chuyển hàng hóa chịu thuế qua biên giới Việt Nam sẽ là đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Những chủ thể này bao gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp thực hiện hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa

d Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu

Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là thuế gián thu (indirect tax) bởi tiền thuế phải nộp được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành của giá cả hàng hoá.Thuế gián thu là hình thức thuế gián tiếp qua một đơn vị trung gian (thường là các doanh nghiệp) để đánh vào người tiêu dùng.Thuế gián thu

là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một Chẳng hạn, chính phủ đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng

1.2.1.3 Vai trò của Thuế xuất nhập khẩu

Thuế xuất nhập khẩu được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Giống như bất kỳ loại thuế nào, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng thể hiện những vai trò cơ bản của nó Tuy nhiên, xuất phát từ đặc trưng cơ bản của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là đánh vào các hàng hóa xuất, nhập khẩu và sau đó được cấu thành trong giá cả của hàng hóa xuất, nhập khẩu nên loại thuế này còn có một vai trò khá đặc thù, đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước

và chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa ngoại nhập Như vậy thuế xuất nhập khẩu có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp rất lớn đến hoạt động thương mại ngoại thương nói riêng và sự phát triển kinh tế nói chung Nhưng có thể tóm tắt các vai trò của thuế xuất nhập khẩu, đó là: đóng góp một phần to lớn vào nguồn thu của ngân sách nhà nước, góp phần bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước, góp phần hướng dẫn tiêu dùng và là công cụ điều tiết hoạt động thương mại

2 Khoản 1 Điều 4 Luật thuế xuất khẩu - thuế nhập khẩu 2016

3 Khoản 2 Điều 2 Nghị định 134/NĐCP ngày 01/09/2016 quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu năm 2016

Trang 36

-a Đóng góp phần lớn vào nguồn thu của ngân sách nhà nước

Nguồn thu ngân sách nhà nước bao gồm các nguồn chính: thuế, phí lệ phí Trong đó thuế đóng góp một tỷ trọng lớn ảnh hưởng đến quy mô của ngân sách

Trong cơ cấu thuế, thuế xuất nhập khẩu cũng chiếm một phần quan trọng

Sở dĩ thuế xuất 4nhập khẩu lại đóng góp lớn vào ngân sách bởi hoạt động thương mại diễn ra ngày một sôi động, nhu cầu xuất nhập khẩu ngày càng tăng Ngân sách thực chất là bản dự toán thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định hay chính là hoạt động thu chi tài chính của Nhà nước Ngân sách đóng vai trò rất quan trọng trong việc: duy trì hoạt động của các cơ quan nhà nước, chi cho các công tác công cộng, các hoạt động phúc lợi xă hội, chi cho các hoạt động đầu tư phát triển, các hoạt động đẩu tư rủi ro cao khả năng thu lời nhỏ nhưng có lợi cho quốc tế dân sinh Vai trò của ngân sách giúp cho ổn định phát triển kinh tế của quốc gia Trong khi đó thuế xuất nhập khẩu đóng góp với tỷ lệ trung bình 12,3% vào ngân sách đã khẳng định được vai trò của thuế xuất nhập khẩu đối với ngân sách nhà nước

4 Vũ Đình Ánh (2015), “Thu Ngân sách Nhà nước, thực trạng năm 2014 và dự báo năm 2015”, Tạp chí kinh

tế và dự báo, (4), tr.11-13

Trang 37

Thu từ hải quan

Thuế giá trị gia tăng hàng NK

Biểu đồ 1: Thực trạng thuế xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn từ năm

% Th từ hải quan/Tổng thu NS từ Thuế

Biểu đồ 2:

Tỷ trọng và

cơ cấu thuế xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 2000-2012

Tổng thu NS từ Thuế

Thuế XNK; Thuế TTĐB hàng NK Thu chênh lêch giá hàng NK

Trang 38

Tuy nhiên, kể từ năm 2007 đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Hải quan thế giới và ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do trong và ngoài khu vực Theo đó, Việt Nam hàng năm đều thực hiện cắt giảm thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng nghìn dòng thuế nhập khẩu để thực hiện các cam kết quốc tế Tỷ trọng thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong tổng thu NSNN có xu hướng giảm (từ bình quân 9,51% giai đoạn 2005 -2010 giảm xuống còn bình quân 8,31% giai đoạn 2011-2015)

b Góp phần bảo hộ và khuyến khích sản xuất trong nước

Ở mỗi quốc gia, ở mỗi giai đoạn phát triển, tuỳ vào chiến lược của từng thời kỳ mà Nhà nước đề ra chính sách thuế phù hợp để có thể khuyến khích xuất khẩu, hoặc nhập khẩu

Thuế xuất nhập khẩu cộng thêm vào giá thành chính vì thế mà làm tăng giá cả của hàng hoá Đối với những hàng hoá là tài nguyên đất nước, các hàng hoá cần được nhà nước bảo vệ thì nhà nước đánh thuế xuất khẩu cao để bảo vệ và phát triển sản xuất trong nước Đối với mặt hàng muốn hạn chế lượng nhập khẩu để khích thích sản xuất trong nước thì nhà nước đánh thuế nhập khẩu cao để hạn chế lượng hàng nhập khẩu này Đối với mặt hàng xuất khẩu là nguyên liệu đầu vào cho các ngành khác thì thuế nhập khẩu có thể đánh thấp để giảm giá thành cho các mặt hàng đó Ví dụ

ở nước Nhật, sau chiến tranh thế giới thứ hai nền kinh tế của nước Nhật suy thoái một cách nghiêm trọng nhưng ngay sau đó qua các giai đoạn phát triển chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành một nước có nền kinh tế hướng vào xuất khẩu Sự thành công đó là nhờ chính sách công nghiệp nổi tiếng Trong giai đoạn những năm 1950 mục tiêu là bảo hộ sản xuất trong nước phát triển bởi nền kinh tế còn đang bị kiệt quệ, chính phủ có chính sách giảm mạnh biểu thuế nhập khẩu và có các biện pháp hỗ trợ thuế nhập khẩu khác đối với các ngành như: sản xuất thép, khai thác than đóng tàu, điện lực, sợi tổng hợp phân hoá học Đến những năm 1960 kinh tế Nhật bắt đầu thâm nhập vào thị trường thế giới, quốc tế mở rộng thuế quan thông thoáng hơn Số doanh nghiệp hạn chế nhập khẩu giảm từ 466 (năm

Trang 39

1962) xuống 27 (năm 1975) Ta có thể thấy vai trò của chính sách thuế nhập khẩu được phát huy trong hoàn cảnh cụ thể của nước Nhật

Còn ở nước ta nền kinh tế còn yếu kém các doanh nghiệp còn non trẻ

do vậy việc bảo hộ sản xuất là rất cần thiết ngay cả khi tự do hoá thương mại tăng lên thì những lĩnh vực cơ bản của nền kinh tế vẫn được bảo hộ

Do vậy mà thường vai trò to lớn trong việc điều tiết hoạt động thương mại trao đổi hàng hoá và dịch vụ Thuế xuất nhập khẩu tác động trực tiếp vào giá cả của hàng hoá, do vậy mà cũng tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường Thuế nhập khẩu cao làm tăng thêm giá thành của mặt hàng nhập khẩu do vậy sẽ hạn chế lượng hàng nhập khẩu trên thị trường, tăng tính cạnh tranh cho mặt hàng nội địa Hơn nữa tạo cơ hội phát triển cho các mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu ở thị trường nội địa đó Giữa mặt hàng nhập khẩu có thuế đánh cao và mặt hàng nhập khẩu

có thuế đánh thấp hơn cũng tạo ra tính cạnh tranh khác nhau cho với mỗi mặt hàng Ngược lại, khuyến khích xuất khẩu hạn chế nhập khẩu cho nên thuế xuất khẩu thường thấp còn thuế nhập khẩu thì cao hơn

Trong xu thế kinh tế thế giới hiện nay tính cạnh tranh ngày càng trở nên khắc nghiệt, nhưng đối với đất nước ta nhiều ngành còn rất non trẻ Chính vì vậy mà việc bảo hộ sản xuất trong nước thông qua hàng rào thuế quan là cần thiết Tuy nhiên cũng khẳng định là Việt Nam không lấy chính sách bảo hộ làm chiến lược phát triển, vì việc gia nhập WTO, sự mở cửa phát triển của khối ASEAN, AFTA, các Hiệp định FTA

mà gần đây nhất là TPP buộc ta phải tháo rỡ hàng rào thuế quan này Chúng

ta cũng hiểu vai trò của hàng hóa nhập khẩu bởi nó là đầu vào của hàng hóa xuất khẩu nhưng cũng không thể không bảo hộ sản xuất trong nước ở từng thời điểm, ở từng vùng và từng ngành nghề nhất định Bảo hộ tạo cơ

sở cho các doanh nghiệp trong nước có thời gian đó học hỏi kinh nghiệm, khoa học công nghệ của nước ngoài, cải thiện tình hình sản xuất của mình, nâng cao khả năng cạnh tranh với các mặt hàng khác Trong giai đoạn hiện nay chúng ta vẫn tiến hành bảo hộ nhưng bảo hộ khác hẳn với xu thế hướng nội không bó chặt nền kinh tế và bảo hộ ở những lĩnh vực cần thiết, mũi nhọn đặc biệt cần sự hỗ trợ của nhà nước Nhưng việc bảo hộ

Trang 40

cũng chỉ trong một thời hạn nhất định, nhà nước cần nghiên cứu kỹ đối tượng bảo hộ tránh tình trạng ỷ lại nhà nước

Bên cạnh đó thuế xuất nhập khẩu còn có tác dụng khuyến khích sản xuất trong nước phát triển Bởi từ chính sách bảo hộ mà tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước, ưu thế cạnh tranh hơn, thị phần trong nước nhiều hơn Các doanh nghiệp có cơ hội hơn trong việc chiếm lĩnh thị trường có động lực hơn để sản xuất kinh doanh Tạo cho doanh nghiệp một thời gian chuẩn bị trước khi bước vào cạnh tranh trên thị trường quốc tế

c Góp phần định hướng người tiêu dùng

Thuế cao hay thấp sẽ có tác dụng hạn chế hay kích thích tiêu dùng,

ví dụ đánh thuế nhập khẩu cao khiến cho giá cả hàng nước ngoài tại Việt nam cao tương đối so với cùng mặt hàng trong nước, người tiêu dùng sẽ

sử dụng hàng hoá trong nước nhiều hơn Ngược lại những mặt hàng được đánh thuế thấp thì lại được tiêu thụ tốt ở thị trường nước ta Do vậy nhà nước đánh thuế cũng là định hướng cho người tiêu dùng nên sử dụng loại mặt hàng nào và không nên sử dụng loại mặt hàng nào Mặt hàng khuyến khích phát triển thuế nhập khẩu đánh thấp thậm chí không đánh Đối với mặt hàng hạn chế việc sử

dụng thì thuế đánh rất cao ví dụ như rượu và thuốc lá

d Là công cụ điều tiết hoạt động thương mại

Để quản lý hoạt động thương mại chính phủ các nước có thể sử dụng đồng bộ các biện pháp thuế quan và phi thuế quan (như hạn ngạch, hạn chế phân bổ ngoại tệ,… ) Nhưng công cụ thuế quan vẫn được đánh giá là quan trọng nhất bởi một số nguyên nhân sau:

Một là, khác với hạn ngạch, đối với thuế quan, thông tin về sự

biến động giá cả hàng hóa dịch vụ được truyền đến người đầu tư, người sản xuất, người tiêu dùng một cách nhanh chóng và chính xác Bởi thuế đánh trực tiếp vào giá cả của hàng hóa và dịch vụ đó Thông qua việc nắm bắt thông tin này nhanh hay chậm mà người ra quyết định có quyết định nhanh chóng chính xác hay không

Ngày đăng: 18/03/2018, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w