Tình hình nghiên cứu đề tài: Ở Việt Nam, do hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay quy định về hoạt động mua bán doanh nghiệp nói chung còn chưa đồng bộ, nằm rải rác trong các văn bản l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN NGỌC CHÂU
PHÁP LUẬT VỀ MUA, BÁN NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÚC
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN NGỌC CHÂU
PHÁP LUẬT VỀ MUA, BÁN NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÚC
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 03
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tuyến
HÀ NỘI - NĂM 2016
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ giáo viên hướng dẫn là TS Nguyễn Văn Tuyến Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được bản thân công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những dữ liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Hà Nội, ngày 05 tháng 8 năm 2016
Học viên
Trần Ngọc Châu
Trang 4Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuyến đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này
Hà Nội, ngày 05 tháng 8 năm 2016
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á
CAR Capital Adequacy Ratio Tỷ lệ/ Hệ số an toàn vốn tối thiểu
FDIC Federal Deposit Insurance
Corporation
Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Liên Bang Mỹ
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phầm quốc nội
KDIC Korea Deposit Insurance
VAMC Vietnam Asset Management
Company Công ty thu mua nợ quốc gia WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: ……… 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài: ……… 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: ……… 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ………3
5 Phương pháp nghiên cứu: ……… 4
6 Kết cấu của luận văn: ………4
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NGÂN HÀNG: ……… 5
1.1 Những vấn đề lý luận về mua bán ngân hàng: ……… 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của giao dịch mua bán ngân hàng:……….5
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động mua bán ngân hàng:……… 8
1.1.3 Các hình thức mua bán ngân hàng: ……… 12
1.1.4 Tác động của hoạt động mua bán ngân hàng đối với các chủ thể liên quan:.14 1.1.5 Các yếu tố tác động đến hoạt động mua bán ngân hàng:……… 18
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật mua bán ngân hàng: ……… 21
1.2.1 Khái niệm về pháp luật mua bán ngân hàng: ………21
1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về mua bán ngân hàng:………21
1.2.3 Cấu trúc của pháp luật về mua bán ngân hàng: ……….24
1.2.4 Kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động mua bán ngân hàng trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam: ……….25
1.2.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trong điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động mua bán ngân hàng: ……….25
1.2.4.2 Bài học rút ra cho Việt Nam từ kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động mua bán ngân hàng ở một số nước trên thế giới: ……….29
Kết luận chương I: ……… 30
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NGÂN HÀNG TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG: ……….32
2.1 Thực trạng pháp luật về mua bán ngân hàng trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam: ……….32
2.1.1 Bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam và sự tác động đến pháp luật về mua bán ngân hàng: ………32
2.1.1.1 Sự cần thiết của việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam : … …32
2.1.1.2 Chính sách tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam: ……… 35
2.1.1.3 Đánh giá việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam : ……….37
2.1.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động mua bán ngân hàng ở Việt Nam: ………46
2.1.2.1 Cơ sở hình thành và phát triển của pháp luật về mua bán ngân hàng trên thế giới và ở Việt Nam: ……….46
2.1.2.2 Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến mua bán ngân hàng ở Việt Nam hiện nay: ……….51
2.1.2.3 Đánh giá thực trạng quy định về mua bán ngân hàng ở Việt Nam: …… 54
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về mua bán ngân hàng ở Việt Nam: ………… 63
Trang 7Việt Nam: ……… 64 Kết luận chương II: ……….66 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NGÂN HÀNG TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG: ……… 68
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về mua bán ngân hàng ở
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động mua bán ngân hàng trên thế giới đã có từ lâu đời, nhưng đối với Việt Nam lĩnh vực này vẫn còn rất mới mẻ, chỉ mới hình thành và phát triển từ những năm đầu của thập niên 90 thế kỉ XX cho đến nay Hoạt động mua bán ngân hàng được xem là quy luật tất yếu, xu thế thời đại trong tình trạng khủng hoảng tài chính thế giới và suy thoái nền kinh tế toàn cầu Trong bối cảnh hội nhập kinh tế - quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những chuyển biến rõ rệt, tăng trưởng cả về quy mô lẫn loại hình hoạt động Bên cạnh những tác động tích cực, nhiều thách thức cũng đặt ra cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là khi những ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên đã chính thức hoạt động tại Việt Nam với nhiều rào cản được dỡ bỏ theo cam kết khi gia nhập WTO Áp lực cạnh tranh sẽ gia tăng do các ngân hàng trong nước yếu kém hơn về nhiều mặt: năng lực tài chính, kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, công nghệ ngân hàng hiện đại; tính chuyên nghiệp của đội ngũ lãnh đạo cũng như nhân viên ngân hàng
Để tồn tại và phát triển trong bối cảnh nói trên, mua bán ngân hàng chính là một trong những nhu cầu cấp thiết, phù hợp với xu thế đang diễn
ra trên thế giới và cũng là một trong những giải pháp quan trọng để đủ sức cạnh tranh với các định chế tài chính nước ngoài đang phát triển tại Việt Nam Tại Đại hội Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11, vấn đề tái cơ cấu kinh tế, trong đó có tái cấu trúc thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính đã được Trung ương Đảng thống nhất đưa ra Việc này đã được cụ thể hóa bằng Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số: 254/QÐ-TTg ngày 01/3/2012 Mục tiêu của đề án này là khuyến khích và tạo điều kiện cho các ngân hàng mua bán trên nguyên tắc tự nguyện để tăng quy mô hoạt động và khả năng cạnh tranh Đứng trước yêu cầu của việc tái cấu trúc lại thị trường tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng thì hệ thống pháp luật hoàn thiện và phù hợp với các điều kiện hội nhập là rất cần thiết Tuy nhiên, thực tiễn cho
Trang 9thấy, khung pháp lý điều chỉnh quy trình mua bán ngân hàng còn chưa hoàn chỉnh và thiếu sự đồng bộ nhất định, gây khó khăn cho các tổ chức tài chính tại Việt Nam
Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài luận văn “Pháp luật
về mua, bán ngân hàng và thực tiễn áp dụng trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Ở Việt Nam, do hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay quy định
về hoạt động mua bán doanh nghiệp nói chung còn chưa đồng bộ, nằm rải rác trong các văn bản luật khác nhau như: Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán; về phía lĩnh vực ngân hàng có thêm: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng và Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2011 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại tổ chức tín dụng Chính điều này dẫn đến việc gần như chưa có công trình nào chỉ nghiên cứu hoạt động mua bán ngân hàng nói riêng dưới góc độ pháp lý, phần lớn
là các nghiên cứu về hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng (M&A) nói chung
Tiêu biểu, có thể kể đến một số bài nghiên cứu và luận văn thạc sĩ có liên quan đến mua bán ngân hàng như sau:
- Bài báo: “Hành lang pháp lý liên quan đến sáp nhập và thâu tóm ngân hàng ở Việt Nam” của Ths Bùi Thanh Lam (2009);
- Bài báo: “Cần sớm hoàn thiện văn bản pháp luật về M&A ngân hàng” của LS Nguyễn Văn Phương và Nguyễn Cao Khôi;
- Bài báo: “Một số vấn đề thực tiễn thi hành pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại” của ThS Phạm Minh Sơn (2014);
- Bài báo: “Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam” của TS Trịnh Quốc Trung;
- Luận văn Thạc sỹ: “Khía cạnh pháp lý của hoạt động sáp nhập và mua lại các tổ chức tài chính ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương (2010);
Trang 10- Luận văn Thạc sỹ: “Pháp luật về sáp nhập ngân hàng thương mại
cổ phần ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Dung (2013);
- Luận văn Thạc sỹ: “Hoàn thiện pháp luật về mua lại và sáp nhập, hợp nhất ngân hàng ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2015);
- Luận văn Tiến sỹ: “Pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Minh Sơn (2016)
Có thể nhận thấy, các tài liệu nói trên bước đầu đã khái quát được khung pháp lý về hoạt động M&A ngân hàng nói chung và hoạt động mua bán ngân hàng nói riêng Tuy nhiên, những tài liệu này mới chỉ đề cập tới những mặt riêng lẻ xung quanh vấn đề mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ pháp lý, còn bức tranh toàn cảnh, những bài học kinh nghiệm từ những trường hợp cụ thể đã tiến hành mua bán thành công và xu hướng mua lại trong lĩnh vực ngân hàng trong bối cảnh hiện nay chưa được nghiên cứu toàn diện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về giao dịch mua bán ngân hàng; thực trạng pháp luật về mua bán ngân hàng và thực tiễn áp dụng trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam hiện nay; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán ngân hàng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu các vấn đề lý luận về mua bán ngân hàng và các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán ngân hàng cũng như thực tiễn thực hiện các quy định này ở Việt Nam;
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán ngân hàng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chủ yếu hướng vào khung pháp
lý quy định về giao dịch mua bán hàng hóa Thông qua đó, đánh giá tính hiệu quả và đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến giao dịch mua bán ngân hàng bằng việc phân tích các kết quả đạt được
và hạn chế còn tồn tại của hoạt động mua bán ngân hàng
Trang 11Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào những vấn đề lí luận
và thực tiễn pháp lý về mua bán ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn khoảng 10 năm trở lại đây, có so sánh đối chiếu với thực tiễn pháp lý về mua bán ngân hàng ở một số quốc gia trên thế giới để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về mua bán ngân hàng ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học có tính phổ quát trong khoa học xã hội và nhân văn như: phương pháp phân tích; tổng hợp; bình luận đánh giá; thống kê, khảo sát; so sánh đối chiếu… để giải quyết các yêu cầu về mặt lý luận cũng như thực tiễn mà đề tài đã đặt ra Các phương pháp nghiên cứu này được sử dụng riêng rẽ hoặc phối hợp nhằm giải quyết những vấn đề khác nhau thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương: Chương I: Những vấn đề lý luận về mua bán ngân hàng và pháp luật
Trang 12Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NGÂN HÀNG VÀ PHÁP
LUẬT VỀ MUA BÁN NGÂN HÀNG
1.1 Những vấn đề lý luận về mua bán ngân hàng:
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của giao dịch mua bán ngân hàng:
Mua bán ngân hàng vốn là khái niệm nằm trong phạm trù “mua bán
và sáp nhập” (tiếng anh là M&A – “Mergers and Accquisitions”) Khái niệm này vốn rất phổ biến ở các nền kinh tế thị trường phát triển mà trong
đó ngân hàng cũng được coi là một đối tượng đặc biệt của loại hình giao dịch này
Theo Từ điển tài chính và đầu tư, “hoạt động mua lại” được định nghĩa “là một trong những công ty mua lại quyền kiểm soát ở một công ty khác, nhà đầu tư luôn tìm ra cho các công ty có khả năng thu mua, bởi những người muốn mua lại công ty như vậy thường sẵn sàng trả nhiều tiền hơn giá trị thị trường cho các cổ phiếu mà họ cần để hoàn thành việc mua lại”
Theo Từ điển thuật ngữ tài chính Investopedia thì “mua lại (acquisitions) là hoạt động thông qua đó các công ty tìm kiếm lợi ích kinh
tế nhờ quy mô, hiệu quả và tăng cường khả năng chiếm lĩnh thị trường Khác với sáp nhập, mua lại liên quan đến việc một công ty tiến hành mua một công ty khác mà không có sự thay đổi cổ phiếu hoặc hợp nhất thành công ty mới”
Theo định nghĩa của David L.Scott: “mua lại là quá trình mua lại tài sản như máy móc, một bộ phận hoặc toàn bộ công ty”
Các quan điểm giao dịch mua bán trên thế giới có thể tồn tại những khác biệt nhất định nhưng vẫn có những điểm chung về nội dung, theo đó
“mua lại” được hiểu là hành động giao dịch nhằm trở thành chủ sở hữu của một tài sản nhất định Công ty mua lại gọi là công ty đi mua, công ty được mua lại gọi là công ty mục tiêu Sau khi mua lại, công ty mục tiêu trở thành
Trang 13tài sản của công ty mua lại (tài sản tham gia mua cổ phần, gom cổ phiếu trên thị trường để giành quyền sở hữu, mua lại tài sản công ty…)
Tại Việt Nam, các quy định về hoạt động mua bán doanh nghiệp được ghi nhận trong Luật Cạnh tranh 2004 và Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/2/2010 của Ngân hàng nhà nước quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng Cụ thể như sau:
Theo Luật Cạnh tranh, tại Điều 17 có quy định: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”; còn theo khoản 3, Điều 4 Thông tư số 04/2010/TT-NHNN, nhà làm luật đưa ra định nghĩa: “Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại) Sau khi mua lại, tổ chức tín dụng bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại”
Từ kết quả phân tích các định nghĩa nêu trên, có thể hiểu khái niệm mua bán ngân hàng như sau:
Mua bán ngân hàng là giao dịch thương mại theo đó một ngân hàng thương mại (gọi là bên mua) thỏa thuận trả số tiền nhất định cho chủ sở hữu một ngân hàng thương mại khác (gọi là bên bán) để được chuyển giao quyền sở hữu đối với ngân hàng này (gọi là ngân hàng bị mua lại), bao gồm toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của ngân hàng bị mua lại Sau khi mua lại, ngân hàng thương mại bị mua lại trở thành doanh nghiệp thuộc sở hữu của ngân hàng thương mại mua lại
Từ định nghĩa trên, có thể rút ra một số đặc điểm sau đây của giao dịch mua bán ngân hàng:
Một là, đối tượng của giao dịch mua bán ngân hàng chính là tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng mục tiêu Mục tiêu của hoạt động mua lại nhằm kiểm soát, chi phối ngân hàng mục tiêu Thông qua việc mua, tiếp nhận tài sản sẽ phát sinh nhiều quan hệ xã hội gắn với ngân hàng mua lại như quan hệ giữa chủ sở hữu với người lao động, với bên thứ ba; các
Trang 14nghĩa vụ nợ của ngân hàng đối với các khoản vay dưới mọi hình thức; các nghĩa vụ thuế đối với nhà nước; trách nhiệm tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ đối với quyền tài sản, quyền sở hữu công nghiệp và các quyền sở hữu khác do công ty đang sở hữu, quản lý Vì vậy, quyền sở hữu tài sản luôn gắn các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của ngân hàng mục tiêu
để trở thành đối tượng mua lại
Hai là, việc thực hiện hoạt động mua bán phải tuân theo nguyên tắc
tự nguyện, đáp ứng quyền tự do kinh doanh của các chủ thể Trong quan hệ mua bán, các bên tự nguyện thực hiện mua bán nhằm đáp ứng quyền tự do kinh doanh của các chủ thể theo quy định Doanh nghiệp có quyền kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; trong khi mua bán doanh nghiệp là một trong những phương thức mà các chủ thể thực hiện khi đầu tư, kinh doanh, thể hiện ý chí của các bên về quyền tự do kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, việc thừa nhận và đảm bảo quyền tự
do kinh doanh là cơ sở hình thành môi trường cạnh tranh cho từng lĩnh vực kinh tế cụ thể hoặc cho toàn bộ nền kinh tế Bất kỳ yếu tố nào làm hạn chế quyền tự do kinh doanh đều có thể là nguyên nhân tạo nên những khiếm khuyết về cạnh tranh cho thị trường Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh nói chung và việc thực hiện mua bán ngân hàng nói riêng phải tuân theo quy định của pháp luật
Ba là, trình tự, thủ tục mua bán là một trong những nội dung quan trọng của điều kiện khung pháp lý về mua bán ngân hàng Khi thực hiện mua bán, các bên phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định và trong một số trường hợp phải được sự cho phép, thừa nhận, kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tiến hành hoạt động mua bán nghĩa là các bên phải tiến hành những thủ tục theo quy định của pháp luật cạnh tranh về hành vi tập trung kinh tế; đăng ký kinh doanh; thay đổi quyền sở hữu tài sản và các thay đổi khác Trên cơ sở thực hiện các yêu cầu về trình tự, thủ tục, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cho phép, thừa nhận hay kiểm soát các thương vụ mua bán theo quy định của pháp luật
Bốn là, giao dịch mua bán ngân hàng làm phát sinh những hệ quả pháp lý khi thực hiện mua bán Sau mỗi giao dịch mua bán ngân hàng
Trang 15thành công, có ít nhất hai hậu quả pháp lý có thể xảy ra: quyền sở hữu đối với ngân hàng bị mua bán sẽ được chuyển từ chủ sở hữu ngân hàng này cho ngân hàng mua lại và khi đó, ngân hàng bị mua lại trở thành “công ty con” của ngân hàng mua lại; hoặc, ngân hàng bị mua bán không chấm dứt hoạt động sau khi kết thúc thương vụ mua bán mà vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, ngoại trừ sự thay đổi duy nhất – đó là sự thay đổi về chủ sở hữu đối với ngân hàng bị mua bán Sau khi tiến hành mua lại, toàn bộ hoạt động của ngân hàng bị mua lại sẽ được quản lý, điều hành bởi ngân hàng mua lại (với tư cách là chủ sở hữu mới của ngân hàng bị mua lại) Có thể thấy, tùy theo việc mua lại một phần hay toàn bộ mà ngân hàng mua lại sẽ
kế thừa một phần hay toàn bộ quyền, lợi ích và nghĩa vụ pháp lý của ngân hàng bị mua lại Ngân hàng bị mua lại không trở thành công ty trực thuộc của ngân hàng mua lại nếu chỉ bị mua lại một phần hoặc có thể nhập thành doanh nghiệp con hay vẫn để doanh nghiệp đó tồn tại độc lập khi bị mua lại toàn bộ
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động mua bán ngân hàng:
Mua bán và sáp nhập ngân hàng là xu thế lớn của ngành tài chính – ngân hàng trên thế giới trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Hàng năm, trong các thương vụ mua bán và sáp nhập, ngành tài chính chiếm tỷ trọng cao nhất về giá trị Trong nhiều năm qua, trên thế giới đã diễn ra nhiều làn sóng sáp nhập và mua lại ngân hàng
Tại Mỹ, đây là quốc gia được xem như ví dụ điển hình cho các thương vụ M&A ngân hàng trên thế giới Vào những năm 50 diễn ra hơn 1.400 vụ sáp nhập thì vào những năm 60 và 70 giảm đi còn dưới 1.400 vụ Giai đoạn khủng hoảng ngân hàng xuất hiện năm 1981 vì có quá nhiều khoản nợ xấu ở Châu Mỹ La Tinh và khu vực sản xuất dầu mỏ, cho vay bất động sản và tài trợ sáp nhập, mua lại Đó cũng là thời điểm dẫn đến các cuộc mua bán và sáp nhập ngân hàng lớn nhất thế giới diễn ra, đặc biệt là vào giữa năm 1982 và 1989, trong những năm 80 đã diễn ra 3.555 vụ sáp nhập, gấp hơn 2 lần các chỉ số của các thập niên trước đó Thêm vào đó, vào năm 1994, Đạo luật Riegle-Neal được ban hành, hoạt động mua bán và
Trang 16sáp nhập ngân hàng được nới rộng không còn giới hạn trong phạm vi tiểu bang mà có thể thực hiện xuyên tiểu bang Trong thập niên 90, mỗi năm trung bình có gần 400 thương vụ mua bán và sáp nhập, từ đó tạo ra các tập đoàn tài chính ngân hàng khổng lồ hoạt động trên phạm vi toàn cầu với sự chuyển hướng kinh doanh từ hoạt động cho vay sang hoạt động dịch vụ Sau cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất tại Mỹ nổ ra vào giữa năm 2007, hoạt động mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng xảy ra với tốc độ nhanh chưa từng thấy Từ đầu năm 2009 đến ngày 6/6/2009, đã có 37 ngân hàng buộc phải đóng cửa và phải bán tài sản của mình so với 25 ngân hàng
bị đóng cửa trong năm 2008 Tính đến hết quý I năm 2009, FDIC (Quỹ Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang) đã đưa trên 300 ngân hàng Mỹ vào diện “có vấn đề” so với 252 ngân hàng vào quý IV năm 2008 – cao hơn 21% so với cùng
kỳ năm 2008 và cao nhất trong 15 năm
Tại châu Âu, hoạt động sáp nhập và mua lại các ngân hàng ở châu
Âu diễn ra mạnh mẽ vào những năm thập niên 1990 cùng với sự hình thành
và phát triển của Liên minh tiền tệ châu Âu Tuy nhiên, trong thời gian tới, hoạt động này ở châu Âu vẫn diễn ra vì cần tạo ra những tổ chức tài chính lớn mạnh, đủ sức cạnh tranh trên thế giới, đặc biệt là cạnh tranh với các ngân hàng ở Mỹ Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh không đồng nhất giữa các quốc gia châu Âu vẫn còn tồn tại, chính vì thế quá trình xây dựng cộng đồng châu Âu thành một thị trường duy nhất, gần gũi hơn về mặt pháp lý và văn hóa sẽ tạo điều kiện cho tiến trình sáp nhập diễn ra mạnh mẽ hơn
Tại châu Á, vào giai đoạn những năm đầu thập niên 90 thế kỷ 20, nền kinh tế “bong bóng” Nhật Bản bị vỡ do các khoản nợ xấu phát sinh từ các khoản đầu tư bất động sản và các khoản đầu tư kém hiệu quả Để khắc phục tình hình yếu kém trên, chính phủ Nhật Bản và các ngân hàng thương mại đã thực hiện hàng loạt các hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động này không cao do nền kinh tế Nhật Bản đang vào giai đoạn suy thoái Đến những năm cuối thập niên 90 thế kỷ 20, các hoạt động sáp nhập và mua lại còn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ hơn với
Trang 17quy mô lớn hơn nữa do tác động cộng hưởng từ nền kinh tế Nhật Bản yếu kém và cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực châu Á
Tại các nước Đông Nam Á, hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng cũng diễn ra dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực châu Á năm 1997– 1998, theo đó hệ thống ngân hàng ở các quốc gia này đã lâm vào tình trạng thua lỗ và đứng trước nguy cơ phá sản Các ngân hàng phải tiến hành sáp nhập và mua lại với nhau và với các đối tác nước ngoài Ở Thái Lan, các ngân hàng nước ngoài mà cụ thể là HSBC Anh Quốc và các ngân hàng Singapore vốn ít chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, đã quyết định mua lại các tổ chức ngân hàng ở Thái Lan Ví dụ điển hình là tập đoàn ngân hàng Singapore UOB mua lại ngân hàng đang thua lỗ Nakornthon (Thái Lan) Ở Indonesia, chính phủ khuyến khích tái cấu trúc các ngân hàng bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn mà một ngân hàng phải đạt được như quy mô về vốn, chỉ tiêu tài chính, thị trường, năng lực cạnh tranh Nếu không đạt được các tiêu chuẩn này thì Ngân hàng Trung ương Indonesia sẽ cho các ngân hàng tiến hành sáp nhập và mua lại Các vụ giao dịch sáp nhập và mua lại ngân hàng ấn tượng ở Indonesia trong giai đoạn này đã tạo nên 14 ngân hàng có tầm cỡ chiếm đến 80% dư nợ tín dụng của
cả nước Tương tự như Indonesia, thông qua hoạt động sáp nhập và mua lại, các ngân hàng trong nước tại Malaysia đã thành công trong việc sáp nhập 54 ngân hàng thành 10 tập đoàn tài chính ngân hàng Anchor vào năm
2000 Mỗi tập đoàn tài chính ngân hàng Anchor có ít nhất một ngân hàng thương mại, một công ty tài chính và một ngân hàng đầu tư
Trong năm 2008, trước cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng sâu rộng, chính phủ ở một số nước đã bỏ tiền ra quốc hữu hóa một phần hoặc toàn bộ các ngân hàng và tổ chức tài chính lớn Bên cạnh đó là những vụ
“giải cứu” Citigroup, AIG, hay các ngân hàng của Anh (RBS, HBOS, Lloyds), Iceland (Landsbanki, Glitnir, Kaupthing)… Ngân hàng Trung ương phải bơm tiền vào để duy trì thanh khoản cho hệ thống, đóng cửa tổ chức tài chính yếu, khuyến khích hay bắt buộc sáp nhập Xu thế này làm làn sóng sáp nhập và mua lại diễn ra sôi động hơn trong hệ thống ngân
Trang 18hàng, làm cho số lượng ngân hàng và tổ chức tín dụng giảm đi, đồng thời
sẽ tạo ra nhiều tổ chức tài chính lớn hơn xuất hiện
Từ các hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng trên thế giới, có thể rút ra một số nhận định, kết luận như sau:
Thứ nhất, khủng hoảng kinh tế, sự thay đổi môi trường cạnh tranh làm nhiều ngân hàng đã gặp phải tình trạng khó khăn, thậm chí phá sản Do
đó cần phải thực hiện tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại Một số chính phủ cấp thêm vốn cho các ngân hàng yếu kém, quốc hữu hóa, hay sáp nhập các ngân hàng yếu kém với tổ chức khác
Thứ hai, cùng với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới là sự tự
do hoá trong dịch vụ tài chính Chính phủ các nước tìm cách huỷ bỏ những quy định cấm hoạt động ngân hàng xuyên quốc gia cũng đã tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động
Thứ ba, ở các nước phát triển, các ngân hàng đã phát triển đến mức bão hòa với quy luật lợi nhuận giảm dần, do đó chúng cần sáp nhập với nhau để giảm chi phí nhờ quy mô, mở rộng mạng lưới hoạt động, đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng quy mô kinh doanh, tạo nên ngân hàng có tính cạnh tranh cao hơn Mô hình công ty sở hữu ngân hàng mua lại các ngân hàng nhỏ và đưa chúng trở thành bộ phận của các tổ chức ngân hàng đa trụ sở ngày càng phổ biến để trở thành những tập đoàn siêu mạnh trên thế giới Ở các nước đang phát triển, hệ thống ngân hàng còn non trẻ, qui mô không lớn, kinh nghiệm kinh doanh chưa nhiều, sản phẩm còn nghèo nàn, luật lệ kinh doanh chưa rõ ràng, đầy đủ nên lý do dẫn đến việc mua bán và sáp nhập chủ yếu là do chính phủ muốn sắp xếp, củng cố hệ thống ngân hàng nhằm tăng cường qui mô vốn, an toàn cho hệ thống ngân hàng
Thứ tư, các hoạt động mua bán và sáp nhập cho thấy tỷ lệ nắm giữ thị phần ngân hàng ngày càng cao đối với Mỹ, các nước Tây Âu, một vài nước Đông Âu và châu Mỹ La tinh, song tỷ lệ này lại giảm ở châu Phi, Trung Á và một vài quốc gia ở các nước khu vực khác Mức tăng không đồng đều này do mức độ phát triển khác nhau của các quốc gia, song phần nào chứng minh rằng xu hướng mua bán và sáp nhập ngân hàng chỉ xảy ra
ở một số khu vực và quốc gia chứ không phải mang tính toàn cầu Những
Trang 19thương vụ mua bán quốc tế cho thấy ngân hàng nước ngoài thường là những ngân hàng lớn, có lợi nhuận cao, có trụ sở ở những nước phát triển, mua lại cổ phần của những ngân hàng tại nước có tiềm năng phát triển Việc sáp nhập và mua lại để hình thành các ngân hàng lớn, những tập đoàn lớn, những ngân hàng xuyên quốc gia, đa quốc gia đã trở thành một xu thế phổ biến trên thế giới Những ngân hàng được hình thành có quyền lực lớn chi phối không chỉ nền kinh tế của một quốc gia mà còn của nhiều quốc gia.Với những xu hướng quốc tế hoá về lĩnh vực ngân hàng như vậy, khi tham gia hội nhập vào hệ thống ngân hàng thế giới cũng như vào thị trường tài chính tiền tệ quốc tế, các ngân hàng Việt Nam phải là những ngân hàng
đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh để có thể được xếp hạng cùng các ngân hàng khác trong khu vực và trên thế giới
(ii) Giao dịch mua bán theo chiều dọc: Giao dịch này diễn ra giữa các doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng khác nhau về giai đoạn sản xuất hay chế biến: có thể là giữa một công ty với khách hàng hoặc nhà cung cấp của công ty đó Việc mua bán này tạo ra giá trị thông qua tận dụng kinh nghiệm và khả năng của các công ty trong một chuỗi nhằm tạo
ra giá trị gia tăng cho khách hàng Mua bán dọc có 2 phân nhóm nhỏ: (a) Mua bán tiến (forward) khi một công ty mua lại công ty khách hàng của mình, ví dụ công ty may mặc mua lại chuỗi cửa hàng bán lẻ quần áo; (b) Mua bán lùi (backward) khi một công ty mua lại nhà cung cấp của mình, chẳng hạn như công ty sản xuất sữa mua lại công ty chăn nuôi bò sữa ;
Trang 20(iii) Giao dịch mua bán hỗn hợp: Giao dịch này diễn ra giữa các công
ty khác nhau về lĩnh vực kinh doanh từ đó hình thành các tập đoàn lớn, hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau Mua bán hỗn hợp giúp giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa, tiết kiệm chi phí gia nhập thị trường mới, từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Loại này có thể được chia thành: a) Mua bán hỗn hợp thuần túy: Là hình thức mua bán mà hai bên không hề có mối quan
hệ nào với nhau, như một doanh nghiệp thuốc lá mua lại doanh nghiệp thực phẩm; b) Mua bán bành trướng về địa lý: Là hình thức mua bán giữa hai doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cũng loại sản phẩm nhưng tiêu thụ ở hai thị trường cách biệt nhau về mặt địa lý; c) Mua bán đa dạng hóa sản phẩm:
Là hình thức mua bán giữa hai doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hai loại sản phẩm khác nhau nhưng cùng ứng dụng một công nghệ sản xuất hoặc tiếp thị gần giống nhau, ví dụ như một doanh nghiệp sản xuất bột giặt mua một doanh nghiệp sản xuất thuốc tẩy vệ sinh
Thứ hai, nếu dựa vào tiêu chí phạm vi lãnh thổ, có thể phân chia các hình thức mua bán ngân hàng bao gồm:
(i) Giao dịch mua bán trong nước: là những giao dịch của những công ty trong 01 quốc gia nhất định (không có việc kết hợp tài sản xuyên biên giới);
(ii) Giao dịch mua bán xuyên biên giới: là những giao dịch diễn ra sự trao đổi hoặc kết hợp tài sản của các công ty không chỉ nằm trong lãnh thổ
01 quốc gia (xuyên biên giới)
Thứ ba, nếu dựa trên chiến lược mua lại có thể phân chia các hình thức mua bán ngân hàng thành 2 nhóm gồm: (i) Giao dịch mua bán thân thiện (friendly takeover), là một giao dịch mua bán mà cả hai bên đều muốn thực hiện vì họ cảm thấy sẽ có lợi từ thương vụ này; (ii) Giao dịch mua bán có ý đồ thôn tính (hostile takeover), là giao dịch mua bán ngân hàng mà một bên bằng cách này hay cách kia tìm cách mua lại bên kia bất
kể họ có đồng ý hay không Thông thường, bên mua sẽ dùng tiềm lực tài chính của mình để mua lại doanh nghiệp đối thủ nhằm triệt tiêu sự cạnh tranh của đối thủ đó Hành động thôn tính này thường được thực hiện thông
Trang 21qua việc âm thầm mua lại cổ phiếu của hội đồng quản trị để cuối cùng đạt được tỷ lệ sở hữu tối đa và nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp bị thôn tính
Ở Việt Nam hiện nay, việc mua bán ngân hàng được thực hiện thông qua hai hình thức mua bán gồm: hình thức tự nguyện và hình thức chỉ định (i) Hình thức tự nguyện: Đây là hình thức mà việc mua bán là quyền của chủ sở hữu TCTD Trên nguyên tắc tự do ý chí, TCTD có thể tham gia giao dịch mua bán để phù hợp với mục tiêu phát triển ngân hàng và nguyện vọng của chủ sở hữu với đa số cổ đông
(ii) Hình thức chỉ định: Đây là hình thức không tự nguyện mà các bên liên quan bị bắt buộc phải thực hiện giao dịch mua bán ngân hàng theo chỉ định của Nhà nước Một TCTD nào đó rơi vào hoạt động kinh doanh yếu kém, có nguy cơ đổ vỡ, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống, không gia tăng được nội lực hoặc không thực hiện mua bán theo phương thức tự nguyện thì có thể phải thực hiện theo lộ trình sắp xếp, chấn chỉnh củng cố
hệ thống ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Điển hình cho hình thức này là việc NHNN Việt Nam tiến hành mua lại 3 ngân hàng là OceanBank, VNCB và GPBank với giá 0 đồng
1.1.4 Tác động của hoạt động mua bán ngân hàng đối với các chủ thể liên quan:
Về lý thuyết, hoạt động mua bán ngân hàng có thể có những tác động theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực đối với các chủ thể có liên quan như Nhà nước, cộng đồng xã hội và chính các bên liên quan đến giao dịch mua bán ngân hàng
Về khía cạnh tác động tích cực, giao dịch mua bán ngân hàng có thể đem lại những lợi ích nhất định cho các chủ thể liên quan như sau:
Thứ nhất, lợi ích đối với ngân hàng
Nhờ có giao dịch mua bán ngân hàng, các ngân hàng thương mại có thể thu được những lợi ích cơ bản như:
- Lợi thế nhờ quy mô: Một thương vụ mua bán diễn ra sẽ giúp ngân hàng tăng quy mô về vốn và tài sản, từ đó tạo được khả năng cung ứng vốn lớn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế Bên cạnh đó, việc mua bán
sẽ giúp các ngân hàng cắt giảm những chi nhánh, phòng giao dịch bị trùng
Trang 22lặp trên cùng một địa bàn hoạt động; tăng thêm các chi nhánh ở những địa bàn mà mỗi ngân hàng riêng lẻ trước đây chưa từng có; kết hợp các sản phẩm của mỗi ngân hàng nhằm phục vụ khách hàng đa dạng hơn
- Tận dụng hệ thống khách hàng: Mỗi ngân hàng khi hoạt động riêng
lẻ sẽ có nhóm khách hàng mục tiêu riêng và có những lợi thế riêng trong việc cung ứng dịch vụ đối với nhóm khách hàng của ngân hàng mình, bởi vậy khi các ngân hàng kết hợp với nhau sẽ kết hợp được những nhóm khách hàng và lợi thế này Đối với khách hàng, họ sẽ có cơ hội sử dụng dịch vụ đa dạng hơn, còn đối với ngân hàng, họ sẽ kế thừa và khai thác hệ thống khách hàng của các ngân hàng trước đó
- Tận dụng nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động của bất kì một ngân hàng nào Việc mua lại sẽ góp phần
cơ cấu lại hệ thống nhân sự, ngân hàng sẽ tận dụng hệ thống nhân sự từ đội ngũ lãnh đạo, đội ngũ nhân viên mà không mất một quá trình tuyển dụng từng người một cũng như đào tạo mới, đồng thời tinh giảm được những nhân sự yếu kém, không phù hợp với môi trường mới
- Giảm chi phí giao dịch và tăng hiệu quả quản lý: Sau một thương
vụ mua bán, chi phí giảm thiểu bao gồm các chi phí về nhân công, chi phí dành cho các công việc gián tiếp, ví dụ các công việc văn phòng, tài chính
kế toán hay marketing… Bên cạnh đó, ban lãnh đạo mới với những kỹ năng và kiến thức của họ có thể giúp ngân hàng phát huy được hết các tiềm năng, phát triển vượt ra ngoài quy mô hiện tại hoặc thoát khỏi những khó khăn mà ban lãnh đạo cũ không có đủ năng lực để thực hiện
- Tăng giá trị cổ phiếu của ngân hàng: Nhờ các thương vụ mua bán, các ngân hàng có khả năng nâng cao chất lượng hoạt động do các lợi ích
mà thương vụ mang lại, dẫn đến doanh thu gia tăng làm tăng cổ tức, hoặc
có thể làm cho giá cổ phiếu tăng do những nhận định tích cực từ các nhà đầu tư Điều này sẽ góp phần làm tăng thêm niềm tin cho các cổ đông của các ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng bán, đồng thời thu hút thêm nhiều nhà đầu tư mới
Thứ hai, lợi ích đối với Nhà nước và nền kinh tế
Trang 23Hoạt động mua bán ngân hàng có đóng góp tích cực trong việc tái cấu trúc ngành ngân hàng và tái cấu trúc nền kinh tế Thông qua hoạt động mua bán, các ngân hàng yếu kém sẽ bị đào thải hoặc được tổ chức lại một cách có hiệu quả hơn Điều này sẽ khiến tình hình tài chính của các ngân hàng được lành mạnh hóa, góp phần tránh nguy cơ đổ vỡ và mất an toàn toàn hệ thống, nâng cao hiệu quả hoạt động toàn ngành, góp phần phát triển nền kinh tế
Bên cạnh đó, việc các ngân hàng nước ngoài mua lại một phần thông qua mua cổ phần các NHTM Việt Nam không những sẽ làm gia tăng nguồn vốn của ngân hàng nói riêng mà còn tăng nguồn vốn của nền kinh tế nói chung, góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài Ngoài ra, hoạt động mua bán ngân hàng ngày càng phát triển sẽ đẩy mạnh việc phát triển
và mở rộng các ngành dịch vụ hỗ trợ nhờ các công ty tư vấn pháp luật, các ngân hàng đầu tư, các trung gian môi giới Sự phát triển của các loại hình dịch vụ này còn có tác động ngược lại thông qua việc đảm bảo cho sự thành công của các thương vụ mua bán, nâng cao giá trị thực sự mang lại cho các ngân hàng cũng như toàn bộ nền kinh tế
Và cuối cùng, Nhà nước có thể thu được một khoản ngân sách đáng
kể từ các thương vụ nói trên Lợi điểm trực tiếp đó là các khoản thuế trong hoạt động mua bán, sẽ giúp cho nhà nước có thể tái đầu tư cho các hoạt động kinh tế xã hội, nâng cao lợi ích của nhân dân Lợi điểm gián tiếp, thay
vì sẽ không thu được đồng thuế nào từ các ngân hàng làm ăn thua lỗ - một gánh nặng cho nền kinh tế thì giờ đây, với việc thực hiện mua bán, doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng sau thương vụ sẽ được gia tăng nhờ những giá trị cộng hưởng đem lại, một phần lợi ích từ quá trình này được thể hiện thông qua dòng tiền thuế phải nộp sẽ tăng lên, làm gia tăng nguồn thu cho Nhà nước
Về khía cạnh tác động tiêu cực, giao dịch mua bán ngân hàng có thể gây ra những bất lợi nhất định cho các chủ thể liên quan Điều đó thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, các ảnh hưởng bất lợi đối với ngân hàng
Trang 24Thực tiễn cho thấy các giao dịch mua bán ngân hàng sẽ đem lại một
số ảnh hưởng bất lợi đối với ngân hàng như:
- Quyền lợi của cổ đông thiểu số bị ảnh hưởng: Quyền lợi và ý kiến của cổ đông thiểu số có thể bị bỏ qua trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông
để thông qua việc mua lại, bởi số cổ phiếu của họ không đủ để phủ quyết nghị quyết Đại hội đồng cổ đông Nếu khi các cổ đông thiểu số không hài lòng với phương án mua bán đưa ra, thì họ có thể bán cổ phiếu của mình, tuy nhiên điều này có thể gây thiệt hại cho họ do giá cổ phiếu bị sụt giảm Trong trường hợp các cổ đông này tiếp tục nắm giữ cổ phiếu, thì tỷ lệ quyền biểu quyết của họ trên tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết sẽ nhỏ hơn trước khi thương vụ diễn ra Điều này khiến cho các cổ đông thiểu số càng có ít cơ hội hơn trong việc thể hiện ý kiến của mình trong các cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông
- Xung đột lợi ích của các cổ đông lớn: Khi một giao dịch mua bán hoàn tất, số cổ phần nắm giữ tương ứng với tỷ lệ quyền biểu quyết của các
cổ đông lớn trước đây có thể bị giảm Điều này sẽ thúc đẩy các cổ đông lớn tìm cách liên kết với nhau để gia tăng quyền lực của mình cũng như kiểm soát ngân hàng sau thương vụ Tuy nhiên, bản thân những cổ đông lớn này không phải lúc nào cũng đồng quan điểm về những lợi ích chung và riêng, dẫn đến những xung đột về lợi giữa các cổ đông lớn, điều này có thể hạn chế sự thành công cũng như những lợi ích mà thương vụ có thể mang lại
- Văn hóa ngân hàng bị xáo trộn: Văn hóa của mỗi ngân hàng thể hiện một bản sắc riêng của ngân hàng đó, tạo nên lợi thế cạnh tranh vô cùng quý giá đối với ngân hàng Giá trị văn hóa này là kết quả của cả một quá trình xây dựng không ngừng mệt mỏi của cả đội ngũ lãnh đạo cũng như đội ngũ nhân sự ngân hàng Bởi vậy khi một thương vụ mua bán diễn ra, tất yếu sẽ khiến cho các giá trị văn hóa của các bên tham gia bị pha trộn để hòa hợp với điều kiện mới Hệ quả có thể dẫn đến sự lỏng lẻo, thiếu liên kết trong nội bộ hệ thống, điều này có thể dẫn đến những xung đột và nghiêm trọng hơn có thể gây đổ vỡ
- Xu hướng chuyển dịch nhân sự: Các vấn đề liên quan đến sử dụng lao động luôn là những vấn đề quan trọng trong tiến trình đám phán của
Trang 25một thương vụ mua lại ngân hàng Khi một thương vụ diễn ra rất có thể sẽ làm tinh giảm bộ máy nhân sự, những người ở lại có thể sẽ bị điều chuyển sang một vị trí khác hoặc một nơi làm việc khác Điều này sẽ gây ra những
áp lực cũng như những ức chế đến người lao động, khiến năng suất lao động giảm sút, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng
Thứ hai, những ảnh hưởng bất lợi đối với Nhà nước và nền kinh tế Đối với Nhà nước và nền kinh tế, các giao dịch mua bán ngân hàng
có thể gây ra một số điểm bất lợi như: Mặc dù những ngân hàng có nhiều thương vụ mua bán thành công sẽ đem lại một nguồn lực lớn về tài chính, quy mô, mạng lưới hoạt động và tiết giảm được nhiều chi phí trong các giao dịch nội bộ ngân hàng nhưng mặt khác, chính các giao dịch này nếu không được Nhà nước kiểm soát tốt, có thể sẽ dẫn đến nguy cơ các ngân hàng “thôn tính” lẫn nhau, gây ra tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” và từ đó tạo
ra các cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng và gây ra các sóng gió cho nền kinh tế, khiến Nhà nước khó khăn hơn trong việc quản lý, điều hành nền kinh tế Điều đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân là nếu các ngân hàng không biết xây dựng phương án kinh doanh để hài hòa lợi ích giữa khách hàng, ngân hàng và xã hội, sẽ có xu hướng độc quyền nắm giữ làm giá thị trường về các loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp như: nâng lãi suất cho vay, thu phí dịch
vụ thẻ tín dụng, thẻ ATM, đầu cơ và thao túng thị trường trong nước, triệt tiêu hoặc loại bớt khả năng cạnh tranh khách quan giữa các ngân hàng cùng hoạt động
1.1.5 Các yếu tố tác động đến hoạt động mua bán ngân hàng:
Ngoài những tác động của việc mua bán ngân hàng đối với các chủ thể có liên quan thì cũng cần phải nhận thấy rằng chính hoạt động mua bán ngân hàng cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau Về phương diện lý thuyết, có thể cho rằng hoạt động mua bán ngân hàng chịu sự tác động của các yếu tố cơ bản sau đây:
Thứ nhất, sự tác động của các yếu tố bên ngoài ngân hàng đối với hoạt động mua bán ngân hàng Các yếu tố này bao gồm:
Trang 26- Môi trường kinh tế - xã hội: Không chỉ riêng ngành ngân hàng – tài chính mà tất cả các ngành, lĩnh vực kinh doanh đều dựa trên các yếu tố kinh tế để đưa ra quyết định đầu tư Là một lĩnh vực nhạy cảm với tình hình sức khoẻ của nền kinh tế, nên khi có bất cứ tác động tích cực hay tiêu cực của kinh tế vĩ mô cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến ngành tài chính - ngân hàng nói chung và hoạt động mua bán ngân hàng nói riêng Khi mà sức nóng từ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng gia tăng mạnh mẽ, đòi hỏi các ngân hàng quy mô nhỏ muốn đứng vững trên thị trường thì cần phải bắt nhịp tốt với sự thay đổi, và tiến hành mua bán chính là một trong những lựa chọn để thay đổi Ngoài ra, khi mà nền kinh tế rơi vào suy thoái và đẩy các NHTM rơi vào tình cảnh khó khăn, buộc phải lựa chọn mua bán làm phương án để tồn tại và phát triển trong tương lai Tuy nhiên, nếu như hoạt động mua bán và sáp nhập NHTM diễn ra tràn lan, không suy tính kỹ càng, không có chiến lược quản lý hiệu quả thì rất có thể sẽ khiến cho các ngân hàng và ngành ngân hàng nói riêng, nền kinh tế nói chung rơi vào một vòng suy thoái mới Chính sách điều hành kinh tế cũng là yếu tố tác động đến nền kinh tế và thông qua đó tác động đến hoạt động mua bán ngân hàng Hiện nay tại Việt Nam, chính phủ đang đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế mà trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, theo đó, khuyến khích sự tham gia rộng rãi và tự nguyện của các NHTM vào hoạt động mua bán
- Môi trường pháp lý: Các yếu tố về thể chế, chính sách pháp luật có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động trong lĩnh vực tài chính nói chung, trong
đó có hoạt động mua bán ngân hàng nói riêng Các chính sách, quy định, đạo luật liên quan đến hoạt động mua bán nói chung và mua bán ngân hàng nói riêng nếu được xem xét xây dựng một cách có khoa học, đầy đủ, rõ ràng sẽ tạo một khung pháp lý vững chắc thúc đẩy hoạt động mua bán có hiệu quả
- Môi trường văn hóa xã hội: Khi một thương vụ mua bán đã hoàn thành thì văn hoá doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc quyết định tương lai của ngân hàng mới Một sự hiểu biết sâu sắc về văn hoá xã hội bản địa sẽ giúp Ban lãnh đạo ngân hàng mới đưa ra chiến lược hoà hợp các
Trang 27nền văn hoá doanh nghiệp nhằm tạo một khối đoàn kết vững mạnh đảm bảo cho ngân hàng mới tồn tại và phát triển
Thứ hai, sự tác động của các yếu tố có tính nội bộ bên trong ngân hàng đối với hoạt động mua bán ngân hàng Một cách khái quát, có thể hình dung các yếu tố này bao gồm:
- Năng lực quản trị, điều hành của giới lãnh đạo ngân hàng: Năng lực quản trị điều hành được thể hiện qua khả năng lập kế hoạch, quản lý sự thay đổi và vận hành hậu thương vụ nhằm mục tiêu tăng doanh thu và giảm chi phí hoạt động, sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả tối ưu Năng lực quản trị điều hành còn được thể hiện qua việc xây dựng các quy chế quản lý, quy trình hoạt động phù hợp với sự thay đổi sau thương vụ mua bán ngân hàng như quy trình quản trị rủi ro, quản trị tín dụng, quản trị vốn, quy trình kiểm tra kiểm soát nội bộ…
- Công nghệ ngân hàng: Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay, vấn đề công nghệ hiện đại trở thành vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng nói riêng Sự phát triển của khoa học công nghệ đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin trong những năm vừa qua đã giúp ngành ngân hàng đổi mới được
cơ cấu quản lý tổ chức, phát triển được các dòng sản phẩm dịch vụ tiện ích như ATM, thanh toán trực tuyến, Mobile banking (dịch vụ ngân hàng trên điện thoại), Internet banking (dịch vụ ngân hàng trên mạng Internet) …, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, đảm bảo an toàn tối đa quyền lợi cho người gửi tiền Dự đoán trong những năm tới, làn sóng công nghệ vẫn còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa, điều này rất có lợi cho hoạt động mua bán ngân hàng, bởi lẽ sau thương vụ, ngân hàng mới sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn do dữ liệu các hệ thống của các ngân hàng không khớp, gây nên tình trạng mất mát, sai lệch dữ liệu Ngoài ra khi mạng lưới kinh doanh mở rộng thì việc quản lý cũng khó khăn hơn nhiều đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn từ phía ngân hàng để nâng cấp, đổi mới hệ thống
- Chất lượng nguồn nhân lực: Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố nội sinh đóng vai trò quan trọng, có ảnh hưởng mang
Trang 28tính quyết định hiệu quả hoạt động mua bán ngân hàng Sau thương vụ, đội ngũ nhân sự sẽ có những vị trí thừa người, vị trí thiếu người, lựa chọn và giữ lại những nhân sự có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm làm việc
sẽ giúp cho ngân hàng mới phát huy được sức mạnh của mình
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật mua bán ngân hàng:
1.2.1 Khái niệm về pháp luật mua bán ngân hàng:
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp, vì vậy ngân hàng cũng bị điều chỉnh bởi các quy định chung của pháp luật về hoạt động mua bán Có nhiều quan hệ xã hội cần pháp luật điều chỉnh khi thực hiện mua bán ngân hàng Xuất phát từ việc xem xét hành vi mua bán dưới mỗi góc độ khác nhau thì hoạt động này sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật phù hợp với các quan hệ xã hội tương ứng Luật doanh nghiệp quy định về mua bán NHTM như là hình thức tổ chức lại doanh nghiệp Luật đầu tư quy định về mua bán NHTM như là hình thức đầu tư trực tiếp Luật cạnh tranh quy định về mua bán NHTM như là hình thức tập trung kinh tế Từ những lập luận về pháp luật mua bán doanh nghiệp, có thể thấy: “Pháp luật về mua bán ngân hàng thương mại được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện mua bán ngân hàng thương mại”
1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về mua bán ngân hàng:
Giống như bất kỳ lĩnh vực pháp luật nào, pháp luật về mua bán ngân hàng cũng mang những đặc điểm chung của pháp luật thương mại, nhưng đồng thời cũng phản ánh những đặc điểm riêng của mình Cụ thể là:
hứ nhất, pháp luật về mua bán ngân hàng là sự giao thoa và kết hợp giữa các quy phạm pháp luật chung và các quy phạm pháp luật chuyên ngành Điều đó thể hiện ở chỗ: ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp, vì vậy hoạt động mua bán ngân hàng được điều chỉnh bằng cả hệ thống luật chung và luật chuyên ngành về ngân hàng Khi xem xét hành vi mua bán dưới mỗi góc độ khác nhau thì hoạt động này chịu sự điều chỉnh của pháp luật phù hợp với quan hệ xã hội cần điều chỉnh Pháp luật mua bán ngân hàng xác định mối liên hệ chặt chẽ giữa pháp luật chuyên ngành với pháp luật về doanh nghiệp, cạnh tranh, đầu tư, sở hữu trí tuệ, lao động, bảo hiểm
Trang 29tiền gửi Trong hệ thống pháp luật, hoạt động mua bán được điều chỉnh bởi hai nhóm quy định chính: Quy định về thủ tục (quy trình thủ tục, hồ sơ giấy tờ, thẩm quyền giải quyết) và quy định về nội dung (các điều kiện, hạn chế, các nghiệp vụ trong việc tiến hành giao dịch mua bán) ở trong nhiều văn bản
Thứ hai, pháp luật chỉ cho phép NHTM được tiến hành mua bán đối với TCTD mà không cho phép TCTD hay các doanh nghiệp mua bán với ngân hàng Điều này xuất phát từ việc NHTM là loại hình doanh nghiệp duy nhất có quyền thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng, trong khi các loại hình của TCTD khác chỉ có thể được phép thực hiện một, một số hoặc tất
cả hoạt động ngân hàng Ngoài ra, không một tổ chức, cá nhân nào ngoài loại hình TCTD được phép tiến hành hoạt động ngân hàng
Thứ ba, để thực hiện mua bán NHTM cần phải tuân theo những tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác Các tiêu chuẩn, điều kiện mua bán NHTM đặt ra đối với nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, điều kiện NHTM trong nước bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài là rất cao Cũng chính vì thế mà các tiêu chuẩn, điều kiện đặt ra khi thực hiện mua bán cũng khắt khe hơn để đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, chống thâu tóm, chống tập trung kinh tế, không tạo ra sự độc quyền và giảm thiểu các rủi ro khi thực hiện mua bán Khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện này thì cơ quan có thẩm quyền mới cho phép thực hiện mua bán
Thứ tư, trình tự, thủ tục mua bán NHTM phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật, nhất là các yêu cầu về hồ sơ mua bán So với trình tự, thủ tục áp dụng cho doanh nghiệp thì trình tự, thủ tục mua bánNHTM có mức độ phức tạp cao hơn Việc xác định, thẩm định giá trị của ngân hàng cũng rất phức tạp nên cần tuân theo những quy trình, cách thức riêng để phù hợp tính đặc thù của NHTM Pháp luật về mua bán NHTM quy định bắt buộc phải có sự chấp nhận bằng văn bản của cơ quan quản lý ngân hàng ở trước, trong và sau khi thực hiện mua bán nhằm kiểm soát chặt chẽ các thủ tục Chủ sở hữu ngân hàng không được quyền quyết
Trang 30định việc mua bán nếu không được sự chấp thuận rõ ràng bằng văn bản từ
cơ quan quản lý ngân hàng
Thứ năm, quy định về thời điểm chuyển giao tài sản và thực hiện quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp giữa các bên khi thực hiện mua bán NHTM có ý nghĩa rất quan trọng Thời điểm này không chỉ có ý nghĩa đối với các bên tham gia mua bán mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với các cổ đông sáng lập, cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông và người gửi tiền khi họ đóng vai trò chủ sở hữu, khách hàng của ngân hàng của cả bên mua bán và bên bị mua bán Thời điểm này yêu cầu pháp luật cần quy định cụ thể một
số vấn đề như: cổ đông có thể tiếp tục thực hiện quyền chủ sở hữu ngân hàng, người gửi tiền tiếp tục thực hiện quan hệ tiền gửi trên cơ sở quy định
về lãi suất, thời hạn và các dịch vụ đang sử dụng của ngân hàng trước khi
bị mua bán
Thứ sáu, quyền lợi, nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân có liên quan khi mua bán được pháp luật quy định phải bảo đảm được giải quyết triệt để Khi thực hiện mua bán, pháp luật được thiết kế theo hướng trước tiên phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, sau đó mới tính đến quyền lợi của bên thứ ba và quyền lợi của nhà nước Đa số các quốc gia thường xây dựng một hệ thống các văn bản pháp luật bên cạnh pháp luật về bảo hiểm tiền gửi nhằm mục tiêu hướng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các TCTD và bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng
Thứ bảy, để đảm bảo an toàn hệ thống, đối với các NHTM yếu kém,
có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, pháp luật quy định cơ quan quản lý ngân hàng có quyền yêu cầu NHTM đó phải thực hiện tái cơ cấu bằng các hình thức nhất định mà một trong số đó là hình thức mua lại Pháp luật quy định quyền này bởi khi các chủ thể tiến hành hoạt động ngân hàng mà gặp bất ổn, trong khi không có khả năng khắc phục có thể gây ra những phản ứng tiêu cực mang tính dây chuyền, để lại những rủi ro, hậu quả hay tiêu cực to lớn mà nó mang lại cho xã hội và nền kinh tế Ngoài ra việc pháp luật ghi nhận quyền này cũng nhằm mục đích khi thực hiện mua bán thì hoạt động ngân hàng cần được an toàn, liên tục,
Trang 31ổn định, không ảnh hưởng đến quyền lợi người gửi tiền và quyền lợi, nghĩa
vụ của bên thứ ba, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, tài chính, tiền tệ quốc gia
Thứ tám, ngân hàng sau mua bán phải tuân thủ những chuẩn mực quốc gia và tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vốn nhằm nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng Bên cạnh việc tuân thủ các quy định bắt buộc của NHNN, các NHTM cũng đang rất nỗ lực để hoàn thiện hơn nữa hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng mình cho phù hợp với điều kiện hoạt động cụ thể của mỗi ngân hàng và từng bước tiếp cận với các chuẩn mực của Basel
1.2.3 Cấu trúc của pháp luật về mua bán ngân hàng:
Nói đến cấu trúc của pháp luật về mua bán ngân hàng là nói đến các nhóm quy phạm pháp luật cấu thành nên chế định pháp luật về mua bán ngân hàng Các nhóm quy phạm pháp luật này tuy có nội dung khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên quan mật thiết với nhau trong một thể thống nhất của chế định pháp luật về mua bán ngân hàng Ở mức độ khái quát, có thể hình dung cấu trúc của pháp luật về mua bán ngân hàng bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, các nhóm quy định về chủ thể và điều kiện thực hiện giao dịch mua bán Tùy thuộc vào những ngành nghề mà pháp luật quy định về chủ thể và điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh khi đáp ứng những tiêu chuẩn liên quan đến chủ thể và điều kiện kinh doanh và phải bảo đảm duy trì những tiêu chuẩn đó trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Từ những yêu cầu về quản lý kinh tế, xã hội và những ngành, nghề cụ thể mà pháp luật đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện khi mua bán Ngân hàng là một trong số những lĩnh vực được quy định về chủ thể và điều kiện mua bán rất ngặt nghèo
Thứ hai, các nhóm quy phạm pháp luật có nhiệm vụ xác định trình
tự, thủ tục mua bán Khi mua bán, các bên phải thực hiện các trình tự, thủ tục mua bán do pháp luật quy định Từ góc độ điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh, doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan thì phải tuân theo
Trang 32quy định về các thủ tục như kiểm soát tập trung kinh tế, thông qua quyết định mua bán, đăng ký chuyển quyền sở hữu tài sản, đăng ký kinh doanh Thứ ba, các quy định về hợp đồng mua bán ngân hàng Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ quy định cụ thể về thành phần chủ thể và điều kiện chủ thể tham gia hợp đồng mua bán ngân hàng; nội dung và hình thức của hợp đồng mua bán ngân hàng; hiệu lực của hợp đồng và quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng mua bán ngân hàng; xử lý vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán ngân hàng
1.2.4 Kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động mua bán ngân hàng trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam
1.2.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trong điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động mua bán ngân hàng
a) Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Mỹ là quốc gia có cơ chế pháp lý rõ ràng trong việc phân định chức năng của các cơ quan giám sát Cụ thể, 4 cơ quan giám sát hoạt động tài chính – ngân hàng hoạt động tại Mỹ bao gồm: Cục dự trữ liên bang (FED );
Cơ quan giám sát tiền tệ thuộc Bộ Tài chính (OCC ); Cơ quan giám sát các
tổ chức nhận tiền gửi phi ngân hàng thuộc Bộ Tài chính (OTS ); Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) Cụ thể, đối với FED, họ chịu trách nhiệm giám sát 08 NHTM liên bang lớn nhất tại Mỹ Trong phạm vi quyền hạn của mình, FDIC chịu trách nhiệm giám sát trực tiếp các ngân hàng tiểu bang không phải là thành viên của FED Để thống nhất các tiêu chuẩn, quy trình giám sát, chia sẻ thông tin và phối hợp giải quyết các vấn đề phát sinh của
4 cơ quan giám sát nêu trên, một tổ chức có tên gọi “Ủy ban giám sát định chế tài chính liên bang (FFIEC )” đã được thành lập Để đảm bảo tính độc lập, Ban điều hành của FFIEC gồm 5 thành viên đều do Tổng thống Hoa
Kỳ bổ nhiệm với sự chấp thuận của Quốc hội
Tại Mỹ, mỗi bang đều có luật ngân hàng riêng trong đó quy định hành lang pháp lý cho những ngân hàng thành lập theo luật pháp của bang
đó Năm 1994, theo FDIC, Đạo luật hiệu lực chi nhánh và ngân hàng liên bang Riegle Neal ra đời, đánh dấu một bước ngoặt trong lĩnh vực ngân
Trang 33hàng của Mỹ Kể từ tháng 6/1997, Đạo luật cho phép sáp nhập giữa các ngân hàng ở các vùng lãnh thổ khác nhau miễn là các ngân hàng này đẩy
đủ vốn đầu tư và quản lý, đánh giá của các cơ quan xếp hạng tín dụng được FDI chấp thuận Đạo luật cũng tăng thêm thời gian cho phép FDIC và Tập đoàn giải pháp tín thác (RTC ) để xem xét lại các vụ kiện đã hết hạn theo quy định của luật liên bang Quản lý ngân hàng nhà nước đã ký kết Hiệp định Hợp tác Toàn quốc và Hiệp định kiểm soát liên bang cho phép việc giám sát phối hợp đối với Ngân hàng liên bang và Ngân hàng của bang Như vậy, khi Đạo luật Riegle Neal có hiệu lực, các ngân hàng không
bị giới hạn trong hoạt động của tiểu bang của mình nữa mà có thể mở rộng hoạt động thường xuyên giữa các bang của nước Mỹ Ngoài ra, Đạo luật Riegle-Neal không chỉ cho phép các công ty nắm giữ ngân hàng mua lại ngân hàng ở các tiểu bang khác mà còn cho phép các công ty này hợp nhất những ngân hàng mà họ sở hữu thành những ngân hàng với nhiều chi nhánh ở những tiểu bang khác nhau Việc cho phép các ngân hàng thực thi hoạt động ngân hàng liên bang thông qua các chi nhánh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì nhiều ngân hàng cảm thấy rằng không thể khai thác hết quy mô kinh tế chỉ bằng cơ cấu công ty nắm giữ ngân hàng, mà chỉ có thể thông qua mạng lưới chi nhánh mà trong đó tất cả các nghiệp vụ ngân hàng đều có thể phối hợp một cách toàn diện
Năm 1997, Quốc hội sửa Đạo luật Riegle Neal cho phép ngân hàng liên bang có vốn nhà nước hoạt động theo một luật thống nhất và cung cấp sản phẩm và dịch vụ thống nhất với các ngân hàng quốc gia
Đối với những thương vụ mua bán giữa các ngân hàng gặp khó khăn, tất cả các ngân hàng đều có quyền thực hiện mua bán với một ngân hàng khác Tuy nhiên, đối với những ngân hàng không thể tìm được một ngân hàng khác để tiến hành mua bán thì bắt buộc phải nhờ đến sự can thiệp của FDIC Tại Hoa Kỳ, nhiệm vụ mua bán ngân hàng được giao cho FDIC FDIC được thành lập năm 1933 sau khủng hoảng tài chính đầu thế kỷ XX theo sắc lệnh của Tổng thống Franklin D.Roosevelt FDIC bắt đầu hoạt động ngày 1/4/1934 theo Luật Bảo hiểm tiền gửi ban hành năm 1933 và đây là mô hình bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên trên thế giới FDIC có
Trang 34vị trí độc lập với Chính phủ và chịu sự kiểm soát trực tiếp hoạt động của Quốc hội Tính đến nay, FDIC là tổ chức bảo hiểm tiền gửi được đánh giá
là có nhiều thành công, là mô hình nhiều quốc gia tham khảo và vận dụng.Với mục tiêu chủ động giải quyết nhanh các vụ mua bán và sáp nhập đạt hiệu quả cho xã hội và nền kinh tế, Quốc hội đã dành cho FDIC những thẩm quyền đặc biệt để đạt được mục tiêu đó Cụ thể, FDIC được phép toàn quyền tiếp nhận và thanh lý tài sản của tổ chức nhận tiền gửi thuộc diện mua bán và sáp nhập mà không chịu sự chi phối của cổ đông, Tòa án các cấp hay các cơ quan kiểm soát khác Ngoài ra, để đảm bảo khả năng thanh toán, FDIC được FED và Bộ Tài chính Hoa Kỳ cấp hạn mức tín dụng đặc biệt là 30 tỷ USD để bù đắp các khoản thua lỗ do chi trả bảo hiểm, phát hành và bán các trái phiếu của công ty cho Ngân hàng Tài trợ Liên bang hoặc vay các thành viên của Quỹ theo giới hạn bằng hạn mức tín dụng đặc biệt hoặc số tiền mặt mà Quỹ bảo hiểm đang giữ, hoặc 90% so với giá trị tài sản của công ty tính theo giá thị trường
Theo phần 14, 15 Luật Bảo hiểm tiền gửi Mỹ, mọi công cụ nợ do FDIC phát hành hoặc đi vay đều có bảo lãnh của Chính phủ Mỹ theo nghĩa được coi như tiền vay của Kho bạc Quốc hội Mỹ chấp thuận FDIC duy trì quỹ bảo hiểm ở mức tối thiểu 1,25% trên tổng số tiền bảo hiểm Khi Quỹ này xuống dưới mức 1,25%, FDIC có quyền điều chỉnh phí bảo hiểm để đảm bảo Quỹ đạt mức tối thiểu trong thời gian 1 năm Việc Quốc hội Mỹ chấp thuận tỷ lệ này là một phần trong nỗ lực khẳng định các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải gánh chịu chi phí cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi thông qua nộp phí chứ không phải là ngân sách nhà nước
FDIC đảm bảo thực hiện bốn nguyên tắc cơ bản trong hoạt động M&A, bao gồm: (i) Các ngân hàng thuộc diện M&A được xử lý với chi phí thấp nhất; (ii) Thực hiện M&A nhanh nhất; (iii) Tài sản tiếp nhận được quản lý và đưa ra thị trường để bán với giá trị cao nhất; (iv) Tiền gửi và các nghĩa vụ trả nợ khác được xử lý công bằng và tiết kiệm
b) Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Để duy trì và ổn định chính sách tài chính quốc gia, Hàn Quốc đã xây dựng mạng lưới an toàn tài chính với 03 Ủy ban là Ủy ban Giám sát tài
Trang 35chính (FSC ), Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc - Ủy ban Tài chính tiền tệ
và Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc (KDIC) Tại Hàn Quốc, một nền kinh tế thị trường hiện đại không thể vận hành một cách hiệu quả nếu không có một tổ chức tài chính có động lực rõ ràng và được quản lý chặt chẽ Ủy ban Giám sát tài chính hoạt động như một cơ chế kiểm soát, có trách nhiệm thiết lập các thông lệ ngân hàng toàn cầu, tạo dựng một hệ thống quy định và giám sát khôn ngoan cũng như một lịch trình cho công cuộc cải tổ Cùng với các Ủy ban khác, họ cùng tham gia chia sẻ thông tin tài chính để thực hiện các chức năng của mình
KDIC là một tổ chức được Chính phủ Hàn Quốc giao nhiệm vụ tổ chức tài chính trong các thương vụ mua bán KDIC có thể thành lập tổ chức tài chính để tiến hành kinh doanh hay cơ cấu lại tổ chức tài chính gặp khó khăn hay tiến hành giải quyết công việc của các tổ chức này (sau đây gọi là
“Tổ chức dàn xếp về tài chính”) khi có chấp thuận của Bộ trưởng Bộ Kinh
tế và Tài chính khi thấy cần thiết bảo vệ người gửi tiền và sự ổn định của
hệ thống tài chính Ngoài ra, KDIC còn phải chuẩn bị quy định về việc mua bán và sáp nhập bất cứ một Tổ chức dàn xếp về tài chính bao gồm những vấn đề sau: (i) Mục đích; (ii) Tên giao dịch; (iii) Tổng vốn đầu tư; (iv) Số
cổ phiếu phát hành tại công ty; (v) Giá trị danh nghĩa của cổ phiếu; (vi) Địa điểm của trụ sở chính; (vii) Hình thức thông báo rộng rãi ra công chúng Là
tổ chức độc lập thuộc Chính phủ, KDIC được trao quyền năng rất rộng Cụ thể, ngoài quyền được tiến hành mua bán và sáp nhập TCTD, còn có một
số quyền khác bao gồm: (i) Yêu cầu Chủ tịch FSC (quốc gia) đệ trình báo cáo kiểm soát tài chính của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị đổ vỡ; (ii) Yêu cầu những người điều hành tổ chức tài chính bồi thường vật chất và những rủi ro do họ gây ra; (iii) Bộ trưởng Bộ tài chính hay văn phòng giám sát phải có nhiệm vụ thông báo ngay cho KDIC khi phát hiện tổ chức tham gia bảo hiểm có dấu hiệu nguy cơ mất khả năng thanh toán; (iv) Được quyền thành lập cơ quan nghiệp vụ để giải quyết các tổ chức tài chính bị đổ vỡ; (v) Giám sát trực tiếp và đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động đối với tổ chức tài chính đổ vỡ thông qua các tổ chức nghiệp vụ; (vi) Khi cần
Trang 36thiết nếu không đủ vốn có thể sử dụng vốn nhà nước (vay Chính phủ, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, vay các TCTD khác)
KDIC được Chính phủ bảo lãnh các khoản vay từ Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc Riêng đối với nhiệm vụ giám sát trực tiếp và đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động đối với tổ chức tài chính đổ vỡ thông qua các
tổ chức nghiệp vụ, KDIC có nhiệm vụ cụ thể đối với việc xử lý đổ vỡ ngân hàng, bao gồm hai giai đoạn cơ bản: (i) Giai đoạn phục hổi (bao gồm các nghiệp vụ: hỗ trợ tài chính, mua lại nợ, thành lập ngân hàng bắc cầu…); (ii) Giai đoạn thanh lý (sau khi áp dụng các biện pháp khác không hiệu quả thì KDIC áp dụng biện pháp cuối cùng là chi trả tiền gửi được bảo hiểm Khi
đó, KDIC trở thành chủ nợ đối với số tiền đã chi trả cho người gửi tiền)
1.2.4.2 Bài học rút ra cho Việt Nam từ kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động mua bán ngân hàng ở một số nước trên thế giới
Từ kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động mua bán ngân hàng ở các nước trên cho thấy, bài học lớn nhất có lẽ là Việt Nam nên thành lập các cơ quan có chức năng trực tiếp chức năng giám sát hệ thống tài chính – ngân hàng quốc gia như Mỹ (FED, OCC, OST và FDIC)
và Hàn Quốc (FSC, Ngân hàng Trung ương Hàn quốc – Ủy ban Tài chính tiền tệ, KDIC) Đây là một cơ chế rất thành công, có hiệu quả không chỉ tại
Mỹ, Hàn Quốc mà còn nhiều quốc gia khác Ở Mỹ, còn có thêm cơ quan quản lý hoạt động của 4 cơ quan nói trên, điều này giúp sự phối hợp của các cơ quan trong hệ thống giám sát an toàn hoạt động hiệu quả hơn Hiện nay, trên thế giới, xu thế chung nhằm đạt hiệu quả trong việc giám sát là thiết kế mô hình đảm bảo nguyên tắc phối hợp và độc lập để tăng cường trách nhiệm, tránh việc chồng chéo hoặc bỏ trống giữa các bộ phận trong
hệ thống giám sát an toàn quốc gia
Tại Mỹ hay Hàn Quốc, đều có các cơ quan hỗ trợ việc mua bán và sáp nhập ngân hàng Tại Mỹ, đối với các thương vụ M&A thông thường thì các ngân hàng tự thương thảo với nhau, đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền, nếu được chấp nhận thì sẽ tiến hành theo cách thông thường Chính
vì có các quy định cụ thể giúp cho các ngân hàng mau chóng hoàn tất thủ
Trang 37tục mua bán, sáp nhập Đối với các giao dịch mua bán cần sự can thiệp của nhà nước thì hoạt động mua bán sẽ bắt đầu kể từ khi FED gửi thông báo cho FDIC về kế hoạch mua bán và chỉ định FDIC thực hiện FDIC sẽ dàn xếp để một hoặc một số ngân hàng mạnh chấp nhận mua lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của ngân hàng thuộc diện mua bán và tiếp nhận các nghĩa
vụ nợ của tổ chức đó
Ở Hàn Quốc, KDIC đã thực hiện rất tốt chức năng tái cấu trúc hệ thống tài chính, ngân hàng sau khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 thông qua một số công cụ nghiệp vụ tiếp nhận xử lý như: hỗ trợ tài chính, ngân hàng bắc cầu hoặc thông qua một số hoạt động như sáp nhập, mua lại
tổ chức tài chính hoạt động yếu kém Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, KDIC hoạt động theo mô hình tổ chức giảm thiểu rủi ro với chức năng rộng như kiểm tra, giám sát, xử lý đổ vỡ KDIC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng quốc gia sau khủng hoàng tài chính khu vực châu Á năm 1997
Có thể thấy, việc thành lập cơ quan có trách nhiệm hỗ trợ các ngân hàng trong giao dịch mua bán và sáp nhập ngân hàng là điều cần thiết tại Việt Nam; đặc biệt tại bối cảnh gấp rút thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong thời điểm hiện tại Cơ quan này nên được trao các quyền năng nhất định (như cấp một khoản tín dụng nhất định từ Chính phủ) nhằm có khả năng linh hoạt trong việc thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động đối với tổ chức tài chính đổ vỡ thông qua các tổ chức nghiệp vụ
Kết luận chương I
1 Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, việc tổ chức và hoạt động của ngân hàng có những đặc thù mà các doanh nghiệp thông thường không có, đó là được nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch
vụ thanh toán qua tài khoản liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng cho khách hàng Mặc dù có bản chất là doanh nghiệp nhưng việc thành lập, hoạt động và tổ chức lại ngân hàng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về ngân hàng.Chính bởi những đặc thù của ngân hàng thương mại, đặc biệt là của hoạt động mua bán ngân hàng thương mại nên pháp luật về mua
Trang 38bán ngân hàng thương mại có những đặc điểm riêng so với pháp luật về mua bán doanh nghiệp thông thường
2 Một số quốc gia đã xây dựng khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động liên quan đến lĩnh vực ngân hàng khá hiệu quả Do đó cần nghiên cứu, tìm hiểu những kinh nghiệm quốc tế trong việc tổ chức lại hệ thống ngân hàng nói chung, mua bán ngân hàng nói riêng để có thể học hỏi, vận dụng những kinh nghiệm hay, các bài học quý giúp hoàn thiện pháp luật về
tổ chức lại ngân hàng nói chung và hoạt động mua bán ngân hàng thương mại nói riêng ở Việt Nam
3 Pháp luật về mua bán ngân hàng cần đáp ứng vai trò là điều kiện khung pháp lý để giao dịch mua bán ngân hàng được diễn ra trên thực tế,
an toàn Ngoài việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình mua bán, khung pháp lý về hoạt động mua bán này cũng cần đáp ứng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp; để cơ quan quản lý ngân hàng, các ngân hàng có cơ sở pháp lý khi thực hiện và buộc phải thực hiện trong khung pháp lý đó, kể cả khi có sự can thiệp của nhà nước cũng phải mang tính khách quan, bình đẳng và minh bạch, vì lợi ích chung của nền kinh tế, đồng thời đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, tài chính, tiền tệ quốc gia
Trang 39
Chương II:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NGÂN HÀNG TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT
NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1 Thực trạng pháp luật về mua bán ngân hàng trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam
2.1.1 Bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam và sự tác động đến pháp luật về mua bán ngân hàng
2.1.1.1 Sự cần thiết của việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam
Trong giai đoạn vừa qua, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã có những tăng trưởng mạnh mẽ cả về quy mô tài sản và số lượng ngân hàng Tuy nhiên, phần lớn các ngân hàng Việt Nam có quy mô nhỏ, phân tán và thiếu các ngân hàng lớn có khả năng làm trụ cột cho cả hệ thống Cùng với
sự phát triển mạnh mẽ về quy mô, hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đang đương đầu với bốn nguy cơ lớn và cần phải có những cải tổ mang tính chiến lược, đó là: nợ xấu cao; nguy cơ vốn chủ sở hữu suy giảm mạnh do
nợ xấu có khả năng mất vốn tăng; thanh khoản không bền vững và cạnh tranh không lành mạnh Bốn vấn đề này đan xen lẫn nhau và có thể là nguyên nhân và hệ quả của nhau
Trong thời gian vừa qua, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng cao hơn rất nhiều so với tăng trưởng GDP Tăng trưởng tín dụng cao
là hệ quả của việc gia tăng về quy mô ồ ạt của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong những năm cuối của thập niên trước Quy mô của hệ thống ngân hàng tăng tuy làm gia tăng giá trị quy mô cung ứng sản phẩm của ngân hàng nhưng các ngân hàng thương mại chạy đua với nhau về lượng nhiều hơn là về chất Các ngân hàng thương mại đã huy động một khối lượng vốn rất lớn và tăng trưởng tín dụng cao nhưng một số ngân hàng thương mại mới thành lập chưa có đủ chuyên môn, công nghệ, nhân sự và khả năng quản lí Với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, các ngân hàng đã tạo ra một lượng cung tiền khổng lồ và hệ quả là lạm phát tăng cao
Trang 40Hệ quả của tăng trưởng tín dụng cao và việc đầu tư kém hiệu quả của các doanh nghiệp đã dẫn đến tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng mạnh Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam vào cuối quý I năm 2012 là 3,6%, trong khi Fitch Ratings ước lượng nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam là 12-13% Theo số liệu do ngân hàng Nhà nước công bố, nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam vào tháng 6 năm 2012 là 10% Sự gia tăng đột ngột của nợ xấu cho thấy mối đe dọa giảm sút nghiêm trọng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Với tỉ lệ nợ xấu này, nợ xấu toàn ngành ngân hàng hiện nay
là trên 250 nghìn tỉ đồng Nếu 1/3 trong số nợ xấu có khả năng làm mất vốn của các ngân hàng thì vốn chủ sở hữu của hệ thống ngân hàng giảm hơn 1/4 Tuy nhiên, khó khăn của hệ thống doanh nghiệp và các vụ vỡ nợ lớn liên tiếp xảy ra trong thời gian gần đây sẽ đẩy mức nợ xấu tăng nhanh Mặt khác, theo đánh giá của các tổ chức nước ngoài, tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam trong thực tế có thể cao hơn nhiều Do đó, tỉ lệ nợ xấu thực
tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam đang và sẽ là một ẩn số lớn và có thể làm giảm đáng kể vốn chủ sở hữu của các ngân hàng trong thời gian tới Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại thường được đánh giá qua các chỉ tiêu: vốn chủ sở hữu được xem là tấm đệm phòng chống rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh khoản và quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng; hệ thống an toàn vốn CAR ; tỉ lệ cho vay trung và dài hạn trên tổng số vốn ngắn hạn; và tăng trưởng tín dụng Biểu hiện rõ ràng nhất của tình trạng thanh khoản yếu của các ngân hàng là sự gia tăng quá mức lãi suất ngân hàng và sự chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng
Trong giai đoạn 2008 – 2012, khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại được cho là có sự cải thiện, cùng với việc hạ nhiệt lãi suất huy động Hệ số an toàn vốn của các ngân hàng nhà nước hiện nay phần lớn đạt mức yêu cầu của ngân hàng nhà nước (9%) Sau nhiều cố gắng, cả bằng biện pháp hành chính và các chính sách tiền tệ, lãi suất huy động ngắn hạn của ngân hàng thương mại được đưa về mức 9%/năm, kể từ ngày 11/06/2012 Với sự hạ nhiệt của lãi suất, ngân hàng nhà nước hy vọng sẽ