1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính nghiên cứu trường hợp ngân hàng thương mại cổ phần đại chúng việt nam

84 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 670,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, có thể đưa ra định nghĩa pháp luật hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính như sau: “Pháp luật hợp nhất NHTM và công ty tài chính là tổng hợp các quy phạm pháp luật

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐOÀN MINH ĐỨC

PHÁP LUẬT VỀ HỢP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM THỊ GIANG THU

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự

nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân

thành đến Phó giáo sư, tiến sỹ Phạm Thị Giang Thu đã hết lòng giúp đỡ, tận

tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn thạc sĩ

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này

Hà Nội, ngày 04 tháng 8 năm 2016

Tác giả

Đoàn Minh Đức

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là Phó giáo sư, tiến sỹ Phạm Thị Giang Thu Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả,

cơ quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình

Đoàn Minh Đức

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HƠP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 6

1.1 Những vấn đề cơ bản về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Đặc điểm của trường hợp hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 10 1.1.3 Các trường hợp hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 12

1.2 Những vấn đề cơ bản về pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 15

1.2.1 Khái niệm pháp luật về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính: 15

1.2.2 Nguyên tắc pháp lý hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính: 16

1.2.3 Những yêu cầu cơ bản đối với pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 20

1.2.4 Những bộ phận pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 21

1.3 Cơ sở thực hiện việc đánh giá pháp luật 27

1.3.1 Các nguyên tắc pháp lý 27

1.3.2 Cơ sở thực tiễn 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HỢP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH THÔNG QUA VỤ VIỆC HỢP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẠI CHÚNG VIỆT NAM 32

2.1 Nhu cầu tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam từ góc độ quản lý nền kinh tế và nhu cầu của chính ngân hàng thương cổ phần Phương Tây và Tổng Công ty Tài chính Cổ phần dầu khí Việt Nam 32

2.1.1 Nhu cầu tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam từ góc độ quản lý nền kinh tế ………32

2.1.2 Về nhu cầu tái cơ cấu của ngân hàng thương cổ phần Phương Tây và Tổng công ty tài chính Cổ phần dầu khí Việt Nam 33

2.2 Hệ thống các quy định pháp luật hiện hành 37

2.3 Những điểm tích cực và hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp nhất ngân hàng thương mại cổ phần và công ty tài chính thông qua vụ việc hợp nhất ngân hàng thương mại cổ phần Phương Tây và Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam…… 41

2.3.1 Về các điều kiện hợp nhất 41

Trang 5

thuận hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 46

2.2.3 Về việc kế thừa quyền và nghĩa vụ ngân hàng thượng mại và công ty tài chính bị hợp nhất ……….49

2.3.3 Về việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ của cổ đông và các bên có liên quan 50

2.3.4 Về hợp đồng hợp nhất 57

2.3.5 Về việc giải quyết các tranh chấp phát sinh và xử lý vi phạm 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 64

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 64

3.1.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 64

3.1.2 Những nguyên tắc trong việc hoàn thiện pháp luật về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 65

3.2 Kiến nghị về việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 67

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về nguyên tắc và điều kiện hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 67

3.2.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hồ sơ và trình tự, thủ tục chấp thuận hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 69

3.2.3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc kế thừa quyền và nghĩa vụ ngân hàng thương mại và công ty tài chính bị hợp nhất 70

3.2.4 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông các ngân hàng thương mại và công ty tài chính bị hợp nhất và các bên có liên quan 71

3.2.5 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính 72

3.2.6 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc giải quyết các tranh chấp phát sinh và xử lý vi phạm 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75

KẾT LUẬN 76

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 2008, thế giới đã phải hứng chịu hai cuộc khủng hoảng nặng

nề Từ hệ quả của cuộc khủng hoảng; nhiều định chế tài chính, ngân hàng đứng vững nhiều thập kỷ, thậm chí hơn thế kỷ như: UniCredit, AIG Merrill Lynch, Citi Group, JP Morgan Chase đã bị lung lay và tất yếu theo quy luật của thị trường, hàng loạt các vụ sáp nhập, hợp nhất các công

ty tài chính, ngân hàng xảy ra ở Mỹ đã có hơn 40 ngân hàng bị phá sản và hàng chục ngân hàng tự nguyện sáp nhập, Hợp nhất Các quốc gia Châu Âu cũng chứng kiến hoàng loạt vụ sáp nhập, HN Năm 2011, thế giới lại hứng chịu một “cơn địa chấn” thứ hai đó là khủng hoảng nợ công Khủng hoảng

nợ công bắt nguồn từ Hy Lạp đã lan ra cả Châu Âu, Châu Á, Mỹ Kinh tế các nước lâm vào tình trạng tồi tệ Hai cuộc khủng hoảng này đã làm cho kinh tế thế giới đi vào giai đoạn suy thoái

Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy Không những nước ta phải đối mặt với những biến đổi thất thường của kinh tế thế giới mà còn phải đối mặt với những vấn đề khó khăn nội tại như: lạm phát tăng cao, thâm hụt cán cân thương mại cũng tăng cao kỷ lục, thị trường chứng khoán sụt giảm liên tục thất nghiệp tăng mạnh Những vấn đề này đã làm cho nền kinh tế của nước ta tăng trưởng chậm lại Hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng chịu tác động nặng nề Các ngân hàng phải đối mặt với khó khăn trong kinh doanh ngày càng nhiều Không những thế ngân hàng phải tăng vốn điều lệ lên 1000 tỷ đồng vào cuối năm 2008 và 3000 tỷ đồng vào cuối năm 2010 theo quy định của nghị định 141/2006/NĐ-CP Đã có nhiều

vụ sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng xảy ra trên thực tế Tính từ năm 1997

Trang 7

đến năm 2004 đã có hàng chục vụ hợp nhất ngân hàng.Từ năm 2005 đến năm 2011, chủ yếu là các ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài mua cổ phần của các ngân hàng trong nước Từ 2011 trở lại đây, chính thức chỉ có

ba ngân hàng là Việt Nam Tín Nghĩa, Sài Gòn và Đệ Nhất tự nguyện HN

và đã đi vào hoạt động từ 01/01/2012 Vấn đề đặt ra hiện nay là cần nhanh chóng tái cấu trúc lại hệ thống ngàn hàng để đảm bảo hoạt động của hệ thống ngân hàng lành mạnh, hiệu quả, ngày càng phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, có khả năng cạnh tranh và ứng phó tốt trong quá trình hội nhập với nhiều biến động phức tạp, khó lường; có đủ năng lực và đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng có chất lượng, phục vụ tốt quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đảm bảo người dân được tiếp cận ngày càng sâu rộng với mọi loại hình dịch vụ của ngân hàng Tạo ra một hệ thống ngân hàng đa dạng quy mô; lành mạnh trong tổ chức, hoạt động và kinh doanh

Để giải quyết được những vấn đề nêu ra cần có rất nhiều yếu tố Trong đó việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Ngân hàng thương mại (NHTM) và (Công ty tài chính) CTTC là một yếu tố then chốt

Vì vậy tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về hợp nhất ngân hàng thương

mại và công ty tài chính – nghiên cứu trường hợp Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại chúng Việt Nam” để nghiên cứu nhằm góp phần xây

dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về HN NHTM và CTTC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các chuyên gia pháp luật và kinh tế đã có những công trình nghiên cứu, các bài viết sâu sắc, có giá trị khoa học cao về các vấn đề liên quan đến

Trang 8

hoạt động hợp ngân hàng Điển hình như: Luận văn thạc sĩ năm 2010 của

Thạc sĩ Vũ Phương Đông nghiên cứu vấn đề “Pháp luật về mua bán công ty

ở Việt Nam-Thực trạng và giải pháp” Luận văn thạc sỹ luật học năm 2006

của Thạc sỹ Trần Thị Bảo Ánh về vấn đề “Một số vấn đề pháp lý về tập

trung kinh tế theo Luật cạnh tranh Việt Nam” Luận văn thạc sỹ luật học

năm 2012 của Thạc sỹ Nguyễn Minh Tuyết về vấn đề: “Pháp luật về sáp

nhập, hợp nhất ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” Bài viết

“M&A ngân hàng thực trạng và xu hướng trong những năm tới” của Ths Bùi Thanh Lam trên tạp chí ngân hàng số 4, tháng 02/2009, Bài viết: “Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam” của TS Trịnh Quốc Trung đăng trên tạp

chí Ngân hàng số 14, tháng 07/2009 Những đề tài trên chủ yếu nghiên cứu

các vấn đề pháp lý về mua bán doanh nghiệp, tập trung kinh tế xét trên khía cạnh của Luật Cạnh tranh hay nghiên cứu sáp nhập, hợp nhất ngân hàng dưới góc độ kinh tế hoặc là nghiên cứu một vài khía cạnh pháp lý về sáp nhập, hợp nhất ngân hàng Tuy nhiên tất cả các đề tài nên chưa thực sự đi sâu nghiên cứu các vấn đề pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp nhất NHTM và CTTC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận

và thực tiễn của pháp luật hợp nhất NHTM và CTTC, phân tích những thành công và bất cập của pháp luật hiện hành từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp nhất NHTM và CTTC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 9

Để thực hiện được những mục đích hên nhiệm vụ của Luận văn là:

nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp nhất NHTM và CTTC

5 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến hợp nhất NHTM và CTTC đặc biệt là các NHTM và CTTC được thành lập

và hoạt động tại Việt Nam Các vấn đề pháp lý về hợp nhất các Tổ chức tín dụng (TCTD) khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận văn này

Đề tài luận văn đề cập đến trường hợp cụ thể là ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại chúng Việt Nam, với hồ sơ thực tế cho thấy đây là trường hợp hợp nhất giữa NHTM cổ phần và công ty tài chính cổ phần trên cơ sở

tự nguyện Vì vậy những nội dung phân loai các trường hợp sáp nhật, hợp nhất trong chương một Luận văn mang tính khái quát chung cho các trường hợp để đảm bảo cho tính đầy đủ của các nội dung mang tính lý thuyết Các nội dung cụ thể về nguyên tắc, nội dung, căn cứ nghiên cứu để giải quyết

đề tài được giới hạn trường hợp hợp nhất ngân hàng trên cơ sở tự nguyện

6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận, các nguyên tắc

Trang 10

và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế

Các phương pháp được sử dụng trong quá trình viết Luận văn là: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, phương pháp thống kê, tổng hợp

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm

vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài Ngoài lời cảm ơn, danh mục từ viết tắt, mục lục, lời nói đầu, tiểu kết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính và pháp luật về hợp nhất ngân hàng thương mại với công

ty tài chính

Chương 2: Thực trạng pháp luật hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính thông qua vụ việc hợp nhất Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Chúng Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp nhất ngân hàng cổ phần thương mại và công ty tài chính

Trang 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HƠP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 1.1 Những vấn đề cơ bản về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính

1.1.1 Khái niệm

Khái niệm về hợp nhất được đề cập đến trong một số văn bản pháp luật Khái niệm về hợp nhất pháp nhân quy định trong Bộ Luật Dân sự năm 2005; khái niệm hợp nhất doanh nghiệp quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Cạnh tranh năm 2004; khái niệm hợp nhất các TCTD được quy đinh trong Thông tư 36/2015/TT-NHNN

Theo điều 94 Bộ luật Dân sự năm 2005, “Các pháp nhân cùng loại

có thể hợp nhất thành một pháp nhân mới theo quy định của điều lệ, theo thoả thuận giữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt; các quyền, nghĩa vụ dân sự của các pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới.” Pháp nhân ở đây được hiểu là một tổ chức có đầy đủ các điều kiện như: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với các cá nhân tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một các độc lập (điều 84 Bộ luật dân sự 2005) Trong Bộ luật dân sự không đề cập đến “pháp nhân cùng loại” Có thể hiểu pháp nhân cùng loại là pháp nhân có cơ cấu tổ chức tương tự nhau; cùng hoạt động, kinh doanh trong một lĩnh vực Hợp nhất pháp nhân có thể xảy ra trong ba trường hợp: theo quy định của điều lệ,

Trang 12

theo thỏa thuận giữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc hợp nhất giữa các pháp nhân dẫn đến hậu quả là chấm dứt sự tồn tại của các pháp nhân cũ và các quyền, nghĩa vụ dân sự của các pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới Tuy nhiên, Bộ luật dân sự 2015 đã bỏ điều kiện pháp nhân hợp nhất cần phải cùng loại, cụ thể, điều 88 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Các pháp nhân có thể hợp nhất thành một pháp nhân mới Quy định trong Bộ luật dân sự 2005 rõ ràng không còn phù hợp với thực tế, hạn chế và cản trở các tổ chức nói chung và các doanh nghiệp nói riêng tổ chức lại doanh nghiệp theo cách thức hợp nhất, làm giảm cơ hội đầu tư của các doanh nghiệp

Khoản 1, điều 194, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng có quy định

“Hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất.” Một công ty mới hình thành sau hợp nhất, các công ty cũ chấm dứt sự tồn tại của mình Tất cả tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công ty bị hợp nhất được chuyển giao cho công ty hợp nhất

Luật cạnh tranh năm 2004 nêu ra khái niệm về hợp nhất tại khoản 2 điều 17 “Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp

bị hợp nhất” Vấn đề hợp nhất doanh nghiệp trong Luật cạnh tranh được quy định giống với Luật Doanh nghiệp Tuy nhiên, hợp nhất doanh nghiệp trong Luật Cạnh tranh được coi là một hoạt động tập trung kinh tế còn Luật Doanh nghiệp coi trường hợp hợp nhất công ty là một trong các trường hợp

tổ chức lại doanh nghiệp Các doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền,

Trang 13

nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình cho doanh nghiệp mới Và khi doanh nghiệp mới hình thành thì các doanh nghiệp cũ chấm dứt sự tồn tại Hai cách hiểu tuy khác nhau nhưng không mâu thuẫn với nhau Điều này xuất phát từ phạm vi điều chỉnh của mỗi luật là khác nhau Nếu Luật doanh nghiệp quan tâm đến khía cạnh thành lập tổ chức, quản lý, tổ chức lại…của các doanh nghiệp thì Luật cạnh tranh lại quan tâm đến khía cạnh các hành

vi của doanh nghiệp có là hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lạnh mạnh hay không Chính sự khác nhau về cách hiểu kể trên cũng dẫn tới các quy định của hai luật về cùng một vấn đề hợp nhất doanh nghiệp cũng khác nhau Luật doanh nghiệp quy định về thủ tục hợp nhất, trình tự hợp nhất, hợp đồng hợp nhất, thủ tục đăng ký doanh nghiệp trong trường hợp hợp nhất Trong khi đó Luật cạnh tranh lại xếp trường hợp nhất

là tập trung kinh tế nên đưa ra các quy định xoay quanh vấn đề này như: trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm, thông báo về việc tập trung kinh tế, hồ sơ thông báo, thụ lý

hồ sơ…

Trong khi đó, thông tư 36/2015/TT-NHNN quy định: “Hợp nhất tổ

chức tín dụng là việc hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ

chức tín dụng bị hợp nhất) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành một tổ chức tín dụng mới (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp nhất), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất” Thông tư 36/2015/TT-NHNN cụ thể hóa của các định nghĩa hợp nhất trong Luật Doanh nghiệp và Luật Cạnh tranh Các TCTD hợp nhất với nhau để có một TCTD mới được hình thành TCTD mới này

kế thừa toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các TCTD ban đầu Còn các TCTD bị hợp nhất thì chấm dứt sự tồn tại của mình

Trang 14

Khái niệm hợp nhất NHTM và CTTC chưa được quy định cụ thể một văn bản pháp luật nào Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành có thể định nghĩa hợp nhất ngân hàng và công ty tài chính như sau: Hợp nhất ngân hàng và công ty tài chính là hình thức hai hoặc một số ngân hàng thương mại và công ty tài chính (sau đây gọi là ngân hàng thương mại

bị hợp nhất, công ty tài chính bị hợp nhất) hợp nhất thành một ngân hàng thương mại mới (sau đây gọi là ngân hàng thương mại hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang ngân hàng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các ngân hàng bị hợp nhất, công ty tài chính bị hợp nhất

Việc hợp nhất NHTM và công ty tài chính sẽ đi đến hình thành một ngân hàng mới Khi hai tổ chức tín dụng khác loại hình theo quy định của Luật tổ chức tín dụng hợp nhất với nhau, một trong những vấn đề nảy sinh

là pháp nhân mới hình thành sẽ mang loại hình của pháp nhân nào Trong trường hợp cụ thể: hợp nhất NHTM và CTTC thì rõ ràng việc pháp luật quy định pháp nhân mới hình thành sẽ là một ngân hàng phù hợp hơn vì pháp nhân mới sẽ kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của các pháp nhân cũ, trong đó có NHTM Điểm lưu ý, ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng trong khi CTTC là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ được thực hiện một hoặc một số các hoạt động ngân hàng Nếu quy định pháp nhân hợp nhất là CTTC thì rõ ràng phạm vi hoạt động bị thu hẹp và pháp nhân mới không có cơ sở để kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của các pháp nhân tham gia hợp nhất

Ngân hàng mới là sự kết hợp của các NHTM và công ty tài chính bị hợp nhất Các ngân hàng và công ty tài chính này sẽ chấm dứt sự tồn tại

Vì ngân hàng là loại doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt động hợp nhất NHTM

Trang 15

và công ty tài chính bên cạnh sự điều chỉnh của các văn bản luật quy định chung về sáp nhật & hợp nhất còn chịu sự điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật ngân hàng nhà nước, thông tư 36/2015/TT-NHNN, Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp và Luật Cạnh tranh

1.1.2 Đặc điểm của trường hợp hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính

Thứ nhất, chủ thể của hợp nhất là ngân hàng và công ty tài chính Toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của ngân hàng bị hợp nhất và công ty tài chính bị hợp nhất được chuyển cho ngân hàng hợp nhất; ngân hàng bị hợp nhất và công ty tài chính bị hợp nhất chấm dứt sự tồn tại Thứ hai, Hợp nhất ngân hàng và công ty tài chính có thể thực hiện trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buộc Tự nguyện hợp nhất là việc các ngân hàng và công ty tài chính tự nguyện hợp nhất để phù hợp với mục tiêu phát triển và nguyện vọng của chủ sở hữu Bắt buộc hợp nhất là việc các ngân hàng và công ty tài chính không đảm bảo được mức vốn pháp định theo quy định hiện hành hoặc hoạt động yếu kém hoặc bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt không thực hiện được theo hình thức tự nguyện hợp nhất

và có nguy cơ làm ảnh hưởng đến an toàn hệ thống phải hợp nhất theo chỉ định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước (NHNN) sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận Có thể nói hợp nhất là quyền và cũng là nghĩa vụ của các ngân hàng và công ty tài chính Các ngân hàng và công ty tài chính

có thể tự nguyên hợp nhất với nhau thông qua thỏa thuận, đàm phán Trong trường hợp này hợp nhất được hiểu là quyền của các ngân hàng và công ty tài chính Nhưng trong trường hợp nhất ngân hàng yếu kém, mất khả năng thanh toán nghiêm trọng, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân

Trang 16

hàng thì NHNN có thể ra quyết định buộc ngân hàng phải hợp nhất (khoản

12 điều 4, Luật ngân hàng nhà nước 2010) Xét trong trường hợp này thì hợp nhất là nghĩa vụ của ngân hàng và công ty tài chính

Thứ ba, việc hợp nhất ngân hàng và công ty tài chính phải tuân thủ theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ hơn so với hợp nhất doanh nghiệp Vì việc hợp nhất ngân hàng và công ty tài chính không chỉ ảnh hưởng đến các chủ thể hợp nhất mà còn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, các nhà đầu tư, nhà nước, hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế nên phải quy định những tình tự, thủ tục nghiêm ngặt thể hiện ở những điểm được cơ quan có thẩm quyền quyết định của ngân hàng tham gia hợp nhất thông qua Đề án hợp nhất phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định của các tổ chức tín dụng tham gia hợp nhất thông qua và được người đại diện hợp pháp của các tổ chức tín dụng tham gia hợp nhất cùng

ký tên, đóng dấu và chịu trách nhiệm (khoản 1 điều 163 thông tư 36/2015/TT-NHNN) Đề án phải tuân theo những nội dung nghiêm ngặt (điều khoản 2 điều 13 thông tư 36/2015/TT-NHNN) Việc xin chấp thuận các nguyên tắc hợp nhất phải thông qua rất nhiều cơ quan như: NHNN Chi nhánh tỉnh thành phố, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi ngân hàng, công ty tài chính tham gia hợp nhất đặt trụ sở chính Việc chấp thuận cho các ngân hàng và công ty tài chính hợp nhất cũng được NHNN xem xét kỹ càng (điều 15 thông tư 36/2015/TT-NHNN) Thứ tư, hợp nhất là một trong những biện pháp để giúp các ngân hàng và CTTC thoát khỏi nguy cơ phá sản Nếu như phá sản, giải thể doanh nghiệp được coi như là những phương thức giải quyết số phận của những doanh nghiệp gặp khó khăn và kinh doanh kém hiệu quả thì hợp nhất ngân hàng sẽ góp phần cơ cấu lại các ngân hàng kinh doanh kém hiệu

Trang 17

quả song không làm giảm đi giá trị đầu tư của thị trường cũng không làm tổn hại tới lợi ích của người gửi tiền nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung

Thứ năm, hợp nhất NHTM và CTTC là một trường hợp đặc biệt của hợp nhất TCTD Điểm khác biệt lớn nhất giữa trường hợp hợp nhất NHTM

và CTTC so với việc hợp nhất các TCTD khác đó là chủ thể tham gia Chủ thể tham gia việc hợp nhất là hai loại hình TCTD khác nhau theo phân loại của Luật các tổ chức tín dụng Một bên là ngân hàng một bên là tổ chức tín dụng phi ngân hàng Vì có sự khác biệt giữa các chủ thể tham gia có những chức năng thực hiện những nghiệp vụ ngân hàng khác nhau nên việc quy định về tổ chức hình thành sau hợp nhất phải cân nhắc đến việc lựa chọn một loại hình tổ chức phù hợp để đảm bảo thực hiện được tất cả các chức năng của của tổ chức tham gia hợp nhất

1.1.3 Các trường hợp hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính

Phân loại dựa trên mục đích hợp nhất:

Hợp nhất mở rộng thị trường

Loại hợp nhất này diễn ra đối với NHTM và CTTC kinh doanh cùng loại sản phẩm nhưng ở những thị trường khác nhau: có thể lấy ví dụ, một NHTM ở miền Bắc với một CTTC ở miền Nam cùng kinh doanh cùng loại sản sản phẩm ví dụ như kinh doanh sản phẩm bảo lãnh, tiền gửi với khách hàng doanh nghiêp; tiền gửi, thu hộ với khách hàng định chế tài chính Việc hợp nhất NHTM và CTTC này sẽ đem lại lợi ích mở rộng thị trường

cả miền Nam và miền Bắc, mở rộng được địa bàn khách hàng, tận dụng hệ thống phân phối

Trang 18

Hợp nhất mở rộng sản phẩm:

Hợp nhất mở rộng sản phẩm đối với NHTM và CTTC kinh doanh những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một thị trường Ví dụ: NHTM và CTTC cùng ở khu vực miền Bắc nhưng NHTM kinh doanh hoạt động tiết kiệm, cho vay, thẻ ghi nợ nội địa đối với khách hàng cá nhân và kinh doanh hoạt động tiền gửi, thanh toán quốc tế đối với khách hàng doanh nghiệp Trong khi công ty tài chính kia lại kinh doanh tiền gửi, bảo lãnh dự thầu, cho vay ưu đãi với khách hàng doanh nghiệp Việc hợp nhất sẽ đem đến việc mở rộng sản phẩm, thu hút thêm được khách hàng, tận dụng hệ thống phân phối

cố định, tăng cường hiệu quả hệ thống phân phối

Phân loại dựa trên ý chí của tổ chức hợp nhất:

Hợp nhất bắt buộc

Hợp nhất bắt buộc là trường hợp NHTM hoặc CTTC bị bắt buộc phải hợp nhất với các TCTD khác bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền Hợp nhất bắt buộc có thể xảy ra trong trường hợp NHTM hoặc CTTC bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt do nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật dẫn

Trang 19

đến nguy cơ mất an toàn hoạt động Chủ sở hữu của các tổ chức này được NHNN yêu cầu xây dựng, trình NHNN phê duyệt, thực hiện kế hoạch hợp nhất với các TCTD khác trong trường hợp các TCTD này được kiểm soát đặc biệt và không có khả năng hoặc không thực hiện được việc tăng vốn điều lệ để đảm bảo giá trị giá trị thực của vốn điều lệ không thấp hơn mức

Hợp nhất tự nguyện:

Hợp nhất tự nguyện là trường hợp NHTM và CTTC hợp nhất trên cơ

sở thỏa thuận tự nguyện Hợp nhất tự nguyện xuất phát từ nhiều nguyên nhân, đối với các ngân hàng lớn thì lý do quan trọng là cắt giảm chi phí hoạt động, gia tăng quy mô kinh doanh, tăng vốn huy động, tăng vốn điều

lệ và tăng giới hạn cho vay từng khách hàng riêng lẻ nhờ việc hợp nhất Ngoài ra có thể do đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ kinh doanh, tăng uy tín của ngân hàng hoặc tiết kiệm chi phí thành lập chi nhánh Đối với các ngân hàng nhỏ thì hợp nhất với các TCTD khác vì thiếu vốn điều lệ theo luật hoặc tránh phá sản hoặc để tối đa hóa lợi ích của các cổ đông Ngoài ra các NHTM và CTTC có quy mô nhỏ cũng có thể tiến hành hợp nhất để hình thành một NHTM lớn hơn

1

Điểm g, khoản 1 điều 5 Thông tư 07/2013/TT-NHNN

Trang 20

1.2 Những vấn đề cơ bản về pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính

1.2.1 Khái niệm pháp luật về hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính:

Hiện nay chưa có khái niệm pháp luật hợp nhất NHTM và công ty tài chính Tuy nhiên, có thể đưa ra định nghĩa pháp luật hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính như sau: “Pháp luật hợp nhất NHTM và công ty tài chính là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước tổ chức quản lý hoạt động hợp nhất NHTM và công ty tài chính Từ các quan hệ đàm phán, ký kết hợp đồng, thực hiện thủ tục hợp nhất NHTM và công ty tài chính đến các quan

hệ chuyển giao quyền và nghĩa vụ trong hoạt động hợp nhất giữa các NHTM và công ty tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam” Cũng như các lĩnh vực pháp luật khác, đối tượng điều chỉnh của pháp luật hợp nhất NHTM và công ty tài chính là các quan hệ xã hội Tuy nhiên các quan hệ xã hội trong pháp luật hợp nhất NHTM và công ty tài chính là các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động hợp nhất NHTM và công ty tài chính

Căn cứ vào tính chất của quan hệ xã hội do pháp luật hợp nhất NHTM và công ty tài chính điều chỉnh và các phương pháp điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của pháp luật hợp nhất NHTM và công ty tài chính gồm hai nhóm chính: quan hệ quản lý nhà nước về hoạt động hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính và quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trong hoạt động hợp nhất ngân hàng

Trang 21

Quan hệ quản lý nhà nước về hoạt động hợp nhất NHTM và công ty tài chính là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước thực hiện hoạt động quản lý đối với các hoạt động hợp nhất trong nền kinh tế, Chủ thể quản lý trong quan hệ pháp luật này là Nhà nước còn các chủ thể bị quản lý là các ngân hàng và công ty tài chính và các cá nhân tổ chức có liên quan đến hoạt động hợp nhất ngân hàng như: khách hàng, chủ nợ, người lao động Có thể lấy một và ví dụ về các quan hệ pháp luật phát sinh trong hoạt động quản lý của nhà nước đối với các hoạt động hợp nhất ngân hàng như: quan hệ trong việc từ chối hay chấp thuận cho hợp nhất; quan hệ thanh tra, giám sát giữa ngân hàng nhà nước với các ngân hàng trong các quan hệ quản lý thì phương pháp điều chỉnh là mệnh lệnh phục tùng

Quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trong hoạt động hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện hoạt động hợp nhất của các NHTM và công ty tài chính Ví dụ như: quan hệ giữa các ngân hàng trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng hay quan hệ phát sinh giữa các NHTM thiết lập trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng Phương pháp điều chỉnh vì vậy là phương pháp bình đẳng, thỏa thuận

1.2.2 Nguyên tắc pháp lý hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính:

Nguyên tắc pháp lý là các nguyên tắc do pháp luật định ra và các ngân hàng và công ty tài chính phải tuyệt đối tuân thủ trong quá trình tham gia hoạt động hợp nhất Những nguyên tắc được phân tích cụ thể dưới đây

Trang 22

chỉ áp dụng cho trường hợp hợp nhất NHTM và công ty tài chính tự nguyện – trường hợp của ngân hàng cổ phẩn thương mại đại chúng:

Nguyên tắc thỏa thuận:

Ngân hàng và công ty tài chính tham gia thỏa thuận giải quyết các quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên có liên quan phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành Về nguyên tắc bên chủ thể có quyền bình đẳng, không bên nào có quyền ép buộc bên nào Từ khâu đàm phán, tham gia xây dựng đề án, hợp đồng, điều lệ hợp nhất các ngân hàng đều phải thỏa thuận, bàn bạc để cùng đi đến thống nhất ý kiến sao cho quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan đều được đảm bảo, không trái với các quy định của pháp luật đã đề ra

Nguyên tắc bảo vệ khách hàng:

Ngân hàng và công ty tài chính tham gia hợp nhất phải đảm bảo không ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng, đặc biệt quyền lợi của người gửi tiền tại từng ngân hàng tham gia hợp nhất Vì vậy trong quá trình đàm phán cũng như khi đi đến những thỏa thuận trong hợp đồng hợp nhất ngân hàng không bên nào được đề xuất những điều khoản có lợi cho mình nhưng đi ngược lại lợi ích của khách hàng Hơn nữa, quyền lợi của người gửi tiền tại từng ngân hàng tham gia hợp nhất càng phải chú trọng hơn Phải đảm bảo quyền và lợi ích tối đa cho các đối tượng này Không được

có hành động như giấu giếm, thông tin sai sự thật, hoặc cản trở khách hàng rút tiền đây là một trong những nguyên tắc quan trọng mà các ngân hàng khi tham gia vào hoạt động hợp nhất buộc phải tuân thủ

Nguyên tắc bảo mật thông tin:

Trang 23

Các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và các tổ chức, cá nhân có liên quan của các ngân hàng công ty tài chính tham gia hợp nhất phải có trách nhiệm bảo mật thông tin để các ngân hàng này được hoạt động ổn định trước khi Đề án hợp nhất được cơ quan có thẩm quyền quyết định của ngân hàng, công ty tài chính thông qua Nguyên tắc này đòi hỏi khi quá trình hợp nhất còn đang trong giai đoạn “phôi thai” thì các tổ chức, cá nhân liên quan không được để lộ thông tin mà phải bảo mật thông tin thật nghiêm ngặt Vi phạm nguyên tắc này có thể dẫn đến sự hoang mang của khách hàng ví dụ: người gửi tiền lo lắng hợp nhất sẽ không đảm bảo quyền lợi của mình nên đến các ngân hàng rút tiền hàng loạt Điều này gây bất ổn định cho hoạt động của các ngân hàng, có thể ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của cả hệ thống ngân hàng Khi đề án hợp nhất được cơ quan có thẩm quyền quyết định của ngân hàng thông qua thì lúc này các ngân hàng mới có quyền công bố thông tin còn bất cứ hành

vi nào làm rò rỉ thông tin đều là bất hợp pháp

Nguyên tắc cung cấp thông tin:

Trong quá trình tiến hành các thủ tục liên quan đến việc hợp nhất ngân hàng Hội đồng quản trị ngân hàng có trách nhiệm cung cấp kịp thời, đầy đủ, thống nhất, trung thực, chính xác và không phân biệt cho các chủ

sở hữu của tất cả các bên tham gia hợp nhất và các tổ chức khác có thẩm quyền thông tin về quá trình hợp nhất trong đó có tình hình tài chính, tổ chức và hoạt động của ngân hàng

Việc cung cấp thông tin cho các chủ sở hữu là bắt buộc để họ có thể nắm được tiến trình các ngân hàng hợp nhất và có những góp ý, kiến nghị trong phạm vi quyền và lợi ích hợp pháp của họ Không những thế cung

Trang 24

cấp thông tin để các chủ sở hữu hiểu đúng các vấn đề hợp nhất, không có những hiểu lầm gây ảnh hưởng đến quá trình hợp nhất diễn ra

Nguyên tắc này được đặt ra nhằm bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông của các ngân hàng, công ty tài chính có đầy đủ những thông tin cần thiết để

họ có thể ra quyết định có thể tiếp tục trở thành cổ đông của ngân hàng sau hợp nhất hay chấm dứt tư cách cổ đông và chuyển nhượng lại cổ phần của mình trên thị trường chứng khoán

Thêm nữa phải cung cấp thông tin cho các tổ chức khác có thẩm quyền như Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc NHNN; Cục Quản lý cạnh tranh Các ngân hàng phải cung cấp thông tin cho các cơ quan để các cơ quan này có thể thực nắm được tình hình đang diễn ra đối với các ngân hàng, công ty tài chính hợp nhất và có thể có những can thiệp kịp thời khi cần thiết Các thông tin được cung cấp về tình hình tài chính,

tổ chức và hoạt động của ngân hàng, công ty tài chính phải được cung cấp kịp thời, đầy đủ, thống nhất, trung thực, chính xác

Các hồ sơ, tài liệu và quảng cáo của các ngân hàng, công ty tài chính tham gia hợp nhất phải đảm bảo nguyên tắc thận trọng, chính xác, không gây hiểu nhầm Điều này đòi hỏi trong quá trình tham gia hợp nhất thì các tài liệu như: sổ sách kế toán, chứng từ, văn bản và những mục về quảng cáo phải đảm bảo không được sai sót, không được cẩu thả, tùy tiện Những thông tin không chính xác có thể gây ra những hiểu nhầm đáng tiếc và có thể dẫn đến hậu quả rất khó khắc phục

Nguyên tắc ra quyết định hợp nhất:

Cơ quan có thẩm quyền quyết định của các ngân hàng, công ty tài chính tham gia hợp nhất thông qua quyết định về việc hợp nhất theo điều

Trang 25

kiện, thể thức họp và biểu quyết theo quy định của pháp luật hiện hành Nguyên tắc này đòi hỏi phải tuân theo những trình tự, thủ tục luật định để tiến hành lấy ý kiến biểu quyết của các cổ đông Nếu đạt được tỷ lệ biểu quyết pháp luật quy định thì vấn đề hợp nhất mới được thông qua

Đối với những vấn đề liên quan đến tổ chức hợp nhất, điều kiện, thể thức họp và biểu quyết thông qua các quyết định do các ngân hàng, công ty tài chính bị hơp nhất thảo thuận, nếu cụ thể tại Đề án hợp nhất và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành Những quy định cụ thể đòi hỏi phải tuân thủ trình tự, thủ tục đã được đề cập trong Đề án hợp nhất Những quy định của pháp luật liên quan về vấn đề này trong Luật Doanh nghiệp và Luật các tổ chức tín dụng cần phải được các bên tuân thủ theo

1.2.3 Những yêu cầu cơ bản đối với pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính

pháp luật liên quan

hoạt động bình thường của tổ chức tín dụng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trong quá trính hợp nhất

động của tổ chức tín dụng để TCTD dễ thực hiện, thuận lợi đối với

cơ quan quản lý trong việc quản lý, kiểm tra và thanh tra

đốc Ngân hàng nhà nước về tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng

Trang 26

1.2.4 Những bộ phận pháp luật điều chỉnh hoạt động hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính

Quy định của pháp luật về nguyên tắc và điều kiện hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính

Để được hợp nhất các NHTM và công ty tài chính cần đáp ứng được các điều kiện sau:

a) Không thuộc trường hợp tập trung kinh tế bị cấm, trừ trường hợp được miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm theo quy định của pháp luật

về cạnh tranh;

b) Có Đề án hợp nhất theo quy định tại Điều 13 Thông tư 36/2015/TT-NHNN và được cơ quan có thẩm quyền quyết định của các tổ chức tín dụng tham gia, hợp nhất thông qua, các nội dung cần phải đảm bảo gồm: Tên, địa chỉ, trang thông tin điện tử (nếu có) của tổ chức tín dụng tham gia hợp nhất; Tên, địa chỉ và số điện thoại liên lạc của chủ sở hữu, Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị, Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Trưởng ban và thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng tham gia, hợp nhất; Lý do hợp nhất; Tóm tắt tình hình tài chính và kết quả hoạt động của tổ chức tín dụng tham gia hợp nhất trong 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận nguyên tắc, hợp nhất; Giá trị thực của vốn điều lệ, nợ xấu, các giới hạn, tỷ

lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động và việc tuân thủ các giới hạn, tỷ lệ này của tổ chức tín dụng tham gia hợp nhất trước khi, hợp nhất; vốn điều lệ của

tổ chức tín dụng sau, tổ chức tín dụng hợp nhất; Lộ trình hợp nhất; Phương thức và thời gian chuyển đổi vốn góp, vốn cổ phần; các hình thức chuyển đổi vốn góp, vốn cổ phần và tỷ lệ chuyển đổi tương ứng; Việc tổ chức cuộc

Trang 27

họp của cơ quan có thẩm quyền quyết định của các tổ chức tín dụng tham gia, hợp nhất, tổ chức tín dụng sau tổ chức tín dụng hợp nhất với điều kiện, thành phần, thể thức họp, cách thức biểu quyết theo quy định của pháp luật

và Điều lệ của tổ chức tín dụng để thông qua việc hợp nhất; việc ủy quyền cho tổ chức tín dụng nhận tổ chức tín dụng đại diện tổ chức triệu tập cuộc họp này; Quyền lợi, nghĩa vụ của các tổ chức tín dụng tham gia hợp nhất, các tổ chức và cá nhân có liên quan (nếu có); Phương án xử lý đối với người lao động làm việc tại tổ chức tín dụng tham gia hợp nhất; Danh sách

và tỷ lệ góp vốn của cổ đông sáng lập, cổ đông lớn, thành viên góp vốn của

tổ chức tín dụng sau tổ chức tín dụng hợp nhất; Dự kiến về sơ đồ tổ chức, nhân sự, mạng lưới hoạt động và các vấn đề khác liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng sau hợp nhất; Biện pháp chuyển đổi, kết hợp hệ thống thông tin quản lý, kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, hệ thống truyền dữ liệu để đảm bảo thông suốt hoạt động trong và sau hợp nhất; Phương án kinh doanh dự kiến trong 03 năm đầu của tổ chức tín dụng sau tổ chức tín dụng hợp nhất, trong đó tối thiểu phải bao gồm các nội dung: Phân tích thị trường, chiến lược, mục tiêu và kế hoạch kinh doanh; các báo cáo tài chính dự kiến của từng năm (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm

an toàn trong hoạt động, các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động và thuyết minh khả năng thực hiện các chỉ tiêu tài chính trong từng năm); Đánh giá tác động và phương án xử lý (nếu có) của việc hợp nhất nhằm bảo đảm hoạt động bình thường của các tổ chức tín dụng tham gia hợp nhất và an toàn,

ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng;

Trang 28

c) Sau khi hợp nhất, tổ chức tín dụng sau hợp nhất phải bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn,

tỷ lệ phần vốn góp, sở hữu cổ phần và điều kiện hoạt động ngân hàng

Quy định của pháp luật về hồ sơ và trình tự, thủ tục chấp thuận hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính

Trước hết các ngân hàng và công ty tài chính tham gia hợp nhất phải xây dựng đề án, Hợp đồng, điều lệ Sau đó các ngân hàng, công ty tài chính tham gia hợp nhất có văn bản thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh về việc không thuộc trường hợp cấm tập trung kinh tế hoặc đề nghị được hưởng miễn trừ đối với trường hợp hợp nhất bị cấm theo quy định của Luật Cạnh tranh Các ngân hàng làm hồ sơ xin chấp thuận nguyên tắc hợp nhất Nếu được Thống đốc NHNN chấp thuận nguyên tắc hợp nhất thì các ngân hàng, công ty tài chính phải tuân thủ và đăng bố cáo theo quy định của pháp luật Các quy định cụ thể về trình tự thủ tục hợp nhất ngân hàng và công ty tài chính được quy định trong các điều 12, 13, 15 thông tư 36/2015/TT-NHNN

Quy định của pháp luật về việc kế thừa quyền và nghĩa vụ ngân hàng thương mại và công ty tài chính bị hợp nhất

Hệ quả pháp lý của hoạt động hợp nhất các NHTM và CTTC là việc chấm dứt pháp nhân đối với các NHTM bị hợp nhất, đồng thời khai sinh một pháp nhân NHTM mới Về mặt pháp lý, NHTM mới sẽ kế thừa toàn

bộ quyền và nghĩa vụ pháp lý của các NHTM, CTTC bị hợp nhất, cụ thể: (i) Quyền chủ nợ của các ngân NHTM và CTTC bị hợp nhất đối với các khoản cấp tín dụng, khoản đầu tư vào trái phiếu, chứng khoán nợ khác được chuyển sang cho NHTM mới; (ii) Quyền cổ đông, thành viên góp vốn, chủ sở hữu của các NHTM, CTTC bị hợp nhất đối với các khoản góp

Trang 29

vốn, mua cổ phần được chuyển sang NHTM mới; (iii) Quyền sở hữu đối với các tài sản của NHTM, CTTC bị hợp nhất (như trụ sở, bất động sản, tài sản khác ) được chuyển sang NHTM mới; (iv) Các nghĩa vụ nợ đối với khoản vay, tiền gửi dưới mọi hình thức của các NHTM, CTTC bị hợp nhất cũng được chuyển sang NHTM mới Hay nói cách khác, quyền của người gửi tiền tại các NHTM bị hợp nhất được bảo đảm Việc bảo vệ quyền lợi của khách hàng, đặc biệt là người gửi tiền đã được pháp luật quy định thuộc trách nhiệm của các NHTM liên quan; (v) Các quyền và nghĩa

vụ khác theo hợp đồng/ thỏa thuận của các NHTM, CTTC bị hợp nhất được chuyển giao sang NHTM mới

Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông và các bên

có liên quan của các ngân hàng thương mại và công ty tài chính bị hợp nhất

Hiện nay, pháp luật có một số quy định bảo vệ quyền lợi của cổ đông Theo quy định tại khoản 1 điều 129 Luật Doanh nghiệp 2014, Cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình Còn trường hợp không thỏa thuận được về giá các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá Mặt khác điểm d, khoản 3 điều 59 Luật các TCTD và khoản 3 điều 144 Luật doanh nghiệp 2014 thì các cổ đông có quyền dồn phiếu bầu trong trường hợp bầu thành viên trong hội đồng quản trị và ban kiểm soát Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số khi NHTM

và CTTC tham gia vào hoạt động hợp nhất

Về quyền lợi của người lao động, Pháp luật Việt Nam quy định rõ trách nhiệm của bên nhận quyền sở hữu doanh nghiệp tại điều 45 Bộ luật Lao động 2012, trong trường hợp hợp nhất doanh nghiệp người sử dụng lao

Trang 30

động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục sử dụng số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động Trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có, thì người sử dụng lao động kế tiếp

có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Lao động Trong trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều này, thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật Bộ luật lao động

Quy định của pháp luật về hợp đồng hợp nhất ngân hàng thương mại

lệ của NHTM mới Tuy nhiên, một số vấn đề quan trọng khác cần được các NHTM, CTTC bị hợp nhất thỏa thuận và đưa vào nội dung Thỏa thuận hợp nhất như: (i) thỏa thuận về chi phí thực hiện hợp nhất; (ii) Cơ cấu nhận sự tham gia quản trị, kiểm soát, điều hành (đặc biệt trong trường hợp có sự tham gia của tổ chức, cá nhân bên ngoài các NHTM bị hợp nhất); (iii) Thỏa thuận về xử lý các khoản cấp tín dụng, góp vốn, mua cổ phần giữa một

Trang 31

NHTM bị hợp nhất, công ty con của một NHTM bị hợp nhất còn lại; (iv) Thỏa thuận xử lý các khoản cấp tín dụng của NHTM bị hợp nhất cho người quản trị, điều hành, các cổ đông pháp nhân của NHTM bị hợp nhất khác

Quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc hợp nhất ngân hàng thương mại và công ty tài chính và xử lý vi phạm

Theo quy định của Luật chứng khoán: cổ đông của một ngân hàng là công ty đại chúng đã có cổ phiếu được niêm yết trên sàn chứng khoán, trong quá trình ngân hàng này tham gia hợp nhất với một ngân hàng khác

mà quyền lợi của cổ đông này bị xâm phạm thì có thể giải quyết tranh chấp thông qua Luật chứng khoán (Điều 131, 132, 133) hoặc là trong khi hai ngân hàng thực hiện hợp nhất là các ngân hàng khác thấy rằng việc hợp nhất này có thể dẫn đến tập trung kinh tế và gây ảnh hưởng lớn đến quyền

và lợi ích hợp pháp của mình có thể đưa vụ việc ra theo trình tự tố tụng cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh hay trong trường hợp quyền lợi của nhà đầu tư bị ảnh hưởng trong quá trình thực hiện hợp nhất thì có thể xem xét thông qua luật đầu tư

Về vấn đề hợp nhất TCTD nói chung và các NHTM và CTTC nói riêng đã được đề cập đến trong một số văn bản pháp luật như: Bộ luật dân

sự (dưới góc độ hợp nhất pháp nhân); Luật Cạnh tranh (dưới góc độ tập trung kinh tế); Luật doanh nghiệp (dưới góc độ tổ chức lại doanh nghiệp); Luật Chứng khoán (dưới góc độ quản lý thao túng thị trường), thông tư 36/2015/NĐ-CP về tổ chức lại TCTD Nhưng các văn bản nói trên chủ yếu quy định về hình thức pháp luật hợp nhất còn rất nhiều nội dung quan trọng thì chưa thấy quy định trong đó có vấn đề xử lý vi phạm Theo quy định tại điều 25 trong thông tư 04/2010/TT-NHNN thì mọi hành vi vi phạm quy

Trang 32

định tại thông tư tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

1.3 Cơ sở thực hiện việc đánh giá pháp luật

1.3.1 Các nguyên tắc pháp lý

Nguyên tắc khách quan:

Pháp luật là hiện tượng có tính khách quan, pháp luật sinh ra do nhu cầu đòi hỏi của xã hội, phản ánh đúng nhu cầu khách quan của xã hội, xuất phát từ thực tế cuộc sống, phù hợp với thực tế cuộc sống Nhà làm luật không tự làm ra luật, họ chỉ ghi nhận những quy luật phát triển của xã hội bằng những quy phạm pháp luật Do vậy, văn bản pháp luật phải phản ánh được những yêu cầu khách quan về sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội nhất định Nội dung của các quy định pháp luật phải phù hợp với các quy luật khách quan, bảo đảm phát huy vai trò tích cực của pháp luật đối với đời sống xã hội

Mặt khác nguyên tắc khách quan còn đòi hỏi phải luôn đặt các quy định pháp luật trong mối liên hệ với sự phát triển về mọi mặt của xã hội và làm sao để các quy định pháp luật phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước Các dự án luật phải được nhiều cơ quan tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng, đặc biệt là cần có nhiều phương án để cho các cơ quan có thẩm quyền lựa chọn Sau khi đã có phương án điều chỉnh cần phải có sự thẩm định về các mặt kinh tế xã hội, khoa học…

Nguyên tắc khoa học:

Nguyên tắc này không chỉ đòi hỏi đối với nội dung của các quy định pháp luật mà còn đòi hỏi đối với cả hình thức thể hiện của chúng Về nội

Trang 33

dung, các quy định pháp luật phải được xây dựng trên cơ sở những thành tựu khoa học mới nhất, về hình thức bố cục, cấu trúc, cách thức trình bày các quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật phải mang tính khoa học Xây dựng pháp luật trên cơ sở khoa học chính là điều kiện để đảm bảo hiệu lực

và hiệu quả thực tế của các văn bản, quy phạm pháp luật

Nguyên tắc khoa học là yêu cầu chung đối với hoạt động xây dựng pháp luật, nó cho phép loại trừ những mâu thuẫn của pháp luật, bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định pháp luật Tính khoa học trong hoạt động xây dựng pháp luật đòi hỏi phải nhận thức đựơc quy luật khách quan của

xã hội, biết sử dụng những thành tựu của các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học pháp lý, biết phân tích dự đoán đúng đắn các số liệu về kinh tế,

kỹ thuật phục vụ công tác xây dựng pháp luật Mỗi một quy phạm phải được sắp xếp lôgic, hợp lý, mang tính hệ thống trong văn bản Nội dung văn bản phải chính xác, biểu đạt rõ ràng, dễ hiểu Tính khoa học còn được biểu hiện ở kế hoạch xây dựng pháp luật chặt chẽ và có tính khả thi, các hình thức thu thập tin tức, xử lý thông tin, tiếp thu ý kiến của nhân dân, ở việc thông qua, công bố văn bản pháp luật

Nguyên tắc tuân thủ:

Nguyên tắc tuân thủ được thể hiện ở hai nội dung cơ bản:

Một là, tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng,

ban hành pháp luật Để đảm bảo các quy định pháp luật khi đã được ban hành có giá trị pháp lý, thì chúng phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục về nội dung cũng như hình thức Điều này có nghĩa là các cơ quan nhà nước chỉ được ban hành những văn bản pháp luật phù hợp

Trang 34

với thẩm quyền của mình, theo trình tự thủ tục luật định, với những hình thức qui định trong Hiến pháp và luật

Hai là, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn

bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi các quy định pháp luật phải thống nhất với nhau không mâu thuẫn chồng chéo, bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý và phải tôn trọng tính tối cao của hiến pháp và luật (các văn bản pháp luật khác phải phù hợp với hiến pháp)

Đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong xây dựng pháp luật sẽ tránh được tình trạng ban hành văn bản vượt quá thẩm quyền, tránh được tình trạng “Pháp luật từng địa phương”, “Pháp luật riêng của từng vùng, ngành” tránh được sự chồng chéo, sai phạm ở nội dung và hình thức các loại văn bản pháp luật

Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi của các quy định pháp luật:

Khi xây dựng pháp luật luôn phải chú ý để làm sao các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trên thực tế Sự phù hợp với các điều kiện thực tế (về vật chất, kỹ thuật, tổ chức ) bảo đảm cho quy định pháp luật có thể thi hành được trên thực tế Nếu quy định pháp luật không phù hợp với thực tế thì nó sẽ khó được thi hành trong thực tế hoặc được thi

1.3.2 Cơ sở thực tiễn

Trước hết, hoạt động hợp nhất TCTD nói chung và hợp nhất NHTM

và CTTC nói riêng là hoạt động đã và đang diễn trong thực tế Từ khi hệ

2

http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1536

Trang 35

thống ngân hàng Việt Nam được chuyển đổi từ ngân hàng một cấp trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thành thệ thống ngân hàng hai cấp theo

cơ chế thị trường đã ghi nhận nhiều thương vụ hợp nhất ngân hàng Cụ thể: trong những năm 1997-2004, diễn ra những vụ hợp nhất ngân hàng cổ phần

đô thị như các vụ: Đông Á – Tân Hiệp, Sacombank – Thạnh Thắng Các trường hợp hợp nhất ngân hàng lại bắt đầu được khởi động trở lại với việc

3 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Đệ Nhất, Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa và Ngân hàng TMCP Sài Gòn tự nguyện hợp nhất năm 2011; Tổng công ty Tài chính cổ phần dầu khí hợp nhất với Ngân hàng TMCP Phương Tây 2013

Để điều chỉnh quan hệ xã hội về hợp nhất NHTM và CTTC đòi hỏi các quy phạm pháp luật cần phải:

Đảm bảo việc tổ chức lại được thực hiện theo thỏa thuận, bảo đảm hoạt động bình thường của tổ chức tín dụng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trong quá trình hợp nhất

Tạo được môi trường thuận lợi cho hoạt động hợp nhất; tạo hành lang pháp lý để thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua hoạt động hợp nhất các TCTD Đảm bảo an ninh xã hội và đảm bảo quản lý, kiểm soát hiệu quả Tháo gỡ triệt để các khó khăn, vướng mắc cản trở hoạt động hợp nhất NHTM và CTTC

Các quy phạm pháp luật cần đơn giản, cụ thể, rõ ràng trên cơ sở các quy định pháp luật về hoạt động của tổ chức tín dụng để TCTD dễ thực hiện, thuận lợi đối với cơ quan quản lý trong việc quản lý, kiểm tra và thanh tra

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hợp nhất ngân hàng và công ty tài chính là hình thức hai hoặc một số ngân hàng và công ty tài chính hợp nhất thành một ngân hàng mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang ngân hàng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các ngân hàng bị hợp nhất, công ty tài chính bị hợp nhất Trường hợp hợp nhất NHTM và CTTC

tự nguyên vừa mang những đặc điểm của việc hợp nhất TCTD và cũng có những nguyên tắc pháp lý riêng biệt chỉ áp dụng trong trường hợp hợp nhất

tự nguyện Luận văn đưa ra sự phân loại các trường hợp nhất NHTM và CTTC Đồng thời, Luận văn cũng nghiên cứu về khái niệm pháp luật và nguyên tắc pháp lý của trường hợp hợp nhất NHTM và CTTC tự nguyện, chỉ ra những bộ phận pháp luật điều chỉnh hoạt động này Những vấn dề lý luận nghiên cứu ở chương 1 là cơ sở để đưa ra những đánh giá, nhận định ở những chương tiếp theo

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HỢP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH THÔNG QUA

VỤ VIỆC HỢP NHẤT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

ĐẠI CHÚNG VIỆT NAM

2.1 Nhu cầu tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam từ góc độ quản lý nền kinh tế và nhu cầu của chính ngân hàng thương cổ phần Phương Tây và Tổng Công ty Tài chính Cổ phần dầu khí Việt Nam

2.1.1 Nhu cầu tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam từ góc

độ quản lý nền kinh tế

Thứ nhất, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng và từng tổ chức tín dụng là một quá trình thường xuyên, liên tục nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém và chủ động đối phó với những thách thức để các tổ chức tín dụng không ngừng phát triển một cách an toàn, hiệu quả,vững chắc và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới Thứ hai, từ góc độc quản lý kinh tế, các nhà quản lý khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh

tế của các bên có liên quan theo quy định của pháp luật Để bảo đảm an toàn, ổn định của hệ thống, một số tổ chức tín dụng có mức độ rủi ro, nguy

cơ mất an toàn cao sẽ được áp dụng các biện pháp xử lý đặc biệt theo quy định của pháp luật

Thứ ba, không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước Quá trình chấn chỉnh, củng cố và cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng hạn chế tới mức thấp nhất tổn thất và

Trang 38

chi phí của ngân sách nhà nước cho xử lý những vấn đề của hệ thống các tổ

2.1.2 Về nhu cầu tái cơ cấu của ngân hàng thương cổ phần Phương Tây

và Tổng công ty tài chính Cổ phần dầu khí Việt Nam

Trước thời điểm hợp nhất, khoảng cuối năm 2012 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, ngành tài chính ngân hàng có một năm đầy

ảm đạm Cả Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây (WTB) đều rơi vào tình trạng giảm lợi nhuận và nợ xấu tăng cao Đồng thời mỗi bên đều có những

lý do riêng để thúc đầy hợp nhất, cụ thể:

Về phía PVFC

Thứ nhất, tính đến ngày 31/12/2012, tổng tài sản PVFC đạt mức 87.736,02 tỷ đồng, tăng 324 tỷ đồng so với kế hoạch nhưng vẫn thấp hơn 1.070,6 tỷ so với năm 2011 Doanh thu sau trích lập dự phòng đạt 7.569,98

tỷ đồng, tăng 10% so với kế hoạch (6.860 tỷ đồng), lợi nhuận sau trích lập

dự phòng đạt gần 54 tỷ đồng, tăng 7,4% so với kế hoạch (50 tỷ) Dẫu vậy,

so với năm 2011, PVFC đã giảm lợi nhuận tới 89% Nguyên nhân chủ yếu

là do PVFC có các khoản cho vay không thu hồi được vốn Tiêu biểu là những khoản tín dụng liên quan đến Vinashin và các khoản choVinalines chiếm quá lớn Dư nợ gốc đến 31/5/2012 của nhóm khách hàng Vinashin là

1068 tỷ đồng và của nhóm khách hàng Vinalines là 1.745 tỷ đồng Do biến động không thuận lợi của thị trường vận tải thế giới, hai khách hàng này

3

Quyết định số 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015, ngày 01/03/2012

Trang 39

rơi vào trạng thái khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ Nợ xấu của PVFC cao khiến PVFC buộc phải có những chính sách hợp lý

Thứ hai, nguyên nhân chính mà PVFC muốn tham gia vào thương vụ này vì công ty muốn chuyển sang kinh doanh hình thức NHTM Trong thời điểm NHNN thắt chặt quy định đầu tư thì việc đăng kí được giấy phép kinh doanh ngân hàng là khá khó khăn Hợp nhất với WTB là lối vào ngành NHTM mà PVFC cần PVFC muốn chuyển đổi trở thành NHTM là để giảm bớt sự phụ thuộc vào công ty Dầu khí Phân tích doanh thu và lợi nhuận thuần cho thấy lãi của PVFC chủ yếu đến từ việc cho vay trong ngành, mà đối tượng chủ yếu là các công ty con của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) Các khoản vay này có chi phí và độ rủi ro thấp hơn bởi PVFC

có thể sử dụng cổ phần của PVN làm thế chấp Việc PVN phải rút vốn ra khỏi PVFC sẽ ảnh hưởng lớn tới thu nhập từ nguồn này Vậy cho nên PVFC muốn chuyển đổi sang mô hình NHTM để có thể cải thiện thu nhập

từ lãi vay bán lẻ và doanh nghiệp ngoài ngành dầu khí Mô hình công ty tài chính hiện nay của PVFC bị hạn chế ở một số hoạt động như dịch vụ thanh toán, ATM, ngân hàng đầu mối và thanh toán quốc tế Tại thời điểm trước hợp nhất, PVFC có quy mô tương đương với các NHTM cỡ vừa như ngân hàng Quốc tế VIB, NH Sài Gòn Hà Nội SHB nhưng hiệu quả kinh doanh thì lại thấp hơn nhiều Nguyên nhân chủ yếu là do hiệu quả kém của hoạt

Trang 40

Thứ nhất, tính đến ngày 31/12/2012, tổng tài sản WTB đạt 15.112,5

tỷ đồng, giảm 26,41% so với năm 2011 (tương đương gần 5.428 tỷ đồng) Thu nhập lãi thuần giảm 14,73% so với năm 2011, đạt 352 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế đạt 51 tỷ đồng, giảm 68% so với năm 2011 Lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản ROA = 0.337%, lợi nhuận trước thuế trên vốn bình quân ROE =1.59% Cũng trong năm 2012, tổng dư nợ cấp tín dụng tại 31/12/2012 là 5928 tỷ đồng, giảm 41% so với năm 2011 (8.854 tỷ đồng);

tỷ lệ nợ xấu 7.26% tăng so với năm 2011 (1.30%) So sánh với những năm trước đó, mặc dù doanh thu tăng 175 tỷ nhưng lợi nhuận giảm mạnh đạt 57

tỷ đồng, giảm 8 tỷ so với năm 2010 và giảm 104 tỷ so với năm 2011 Điều này cho thấy WTB đang gặp khó khăn trong việc xử lý các khoản nợ Cùng với đó, hai mảng thị trường mà Ngân hàng đang bỏ vốn nhiều nhất là bất động sản và đầu tư chứng khoán không mấy khả quan Tại thời điểm 29/12/2012 tổng tài sản của Ngân hàng giảm từ 16.598 tỷ còn 15.667 tỷ đồng, gây khoản lỗ lũy kế trên hạch toán là 761 tỷ đồng Vốn chủ sở hữu sau khi điều chỉnh số liệu trích lập dự phòng bổ sung của WTB giảm xuống còn 2.310 tỷ đồng, thiếu 690 tỷ đồng so với mức vốn điều lệ tối thiểu theo quy định Bên cạnh đó, dư nợ tín dụng của WTB có nhiều khoản nằm dưới dạng ủy thác đầu tư và đặt cọc môi giới chứng khoán Khoản đầu

tư trái phiếu 1.800 tỷ đồng chưa có tài sản đảm bảo NHNN cho rằng, WTB duy trì khả năng thanh khoản trong ngắn hạn (trong vòng 6 tháng) Nhưng ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn trong trung và dài hạn nếu không

có những cơ cấu điều chỉnh nguồn vốn và tài sản Đây có thể là điều kiện

để đẩy nhanh việc hợp nhất Sau khi hợp nhất, WTB có một khoản tiền mặt

đủ để cải thiện tình hình tài chính và nợ xấu của mình

Thứ hai, cuối năm 2011, NHNN công bố danh sách 9 ngân hàng yêu

Ngày đăng: 18/03/2018, 21:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w