Bộ Tư pháp, Số 6/2006; “Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và cơ chế hỗ trợ của toà án” Của tác giả Bạch Thị Lệ Thoa , Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 14/2009; “Khái quát về trọng tài
Trang 1TRẦN MINH QUANG
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC CƠ QUAN THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Viết Tý
HÀ NỘI - NĂM 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy
giáo, cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội , đặc biệt là các thầy, cô trong Khoa Đào tạo sau đại học và Khoa Pháp luật kinh tế, đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho học viên trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Nhà trường
Đồng thời, tác giả xin được gửi lời cảm ơn và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Viết Tý – giảng viên Khoa pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật
Hà Nội, người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Nội dung trình bày trong Luận văn là những kết quả nghiên cứu bước đầu Mặc dù đã cố gắng hết sức song trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chưa hoàn thiện Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô để hoàn thiện bài luận văn, nâng cao hiểu biết về đề tài này và tạo cơ sở cho việc nghiên cứu chuyên sâu hơn trong tương lai
Kính chúc các thầy, cô mạnh khỏe, thành công trong sự nghiệp !
Hà Nội, tháng 06 năm 2016
Học viên
Trần Minh Quang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Viết Tý Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau
có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Mọi sự giúp đỡ trong việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn và đều được ghi rõ nguồn gốc
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Minh Quang
Trang 4Mục lục
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu đề tài 4
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
5 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài 5
6 Các phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
8 Bố cục của đề tài 6
CHƯƠNG 1: Khái quát chung về trọng tài thương mại và sự hỗ trợ của các co quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại 7
1.1 Khái quát chung về Trọng tài thương mại 7
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại 7
1.1.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại 9
1.1.3 Các hình thức trọng tài thương mại 11
1.2 Khái quát về sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại 15
1.2.1 Khái quát chung về các cơ quan thực hiện quyền tư pháp 15
1.2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của trọng tài 20
1.2.3 Ý nghĩa của sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại 30
CHƯƠNG 2: Pháp luật hiện hành về sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại 34
2.1 Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại 34
2.1.1 Sự hỗ trợ của tòa án trong việc xem xét thẩm quyền trọng tài và thỏa thuận trọng tài 34
2.1.2 Sự hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài vụ việc 45
2.1.3 Tòa án hỗ trợ việc thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng và áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời 51
2.1.4 Tòa án hỗ trợ trong việc hủy phán quyết trọng tài 61
Trang 52.1.5 Tòa án hỗ trợ việc công nhận và cho thi hành quyết định của
Trọng tài nước ngoài 65
2.2 Sự hỗ trợ của cơ quan thi hành án đối với hoạt động của trọng tài thương mại 69
CHƯƠNG 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại 71
3.1 Thực tiễn hoạt động hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại 71
3.1.1 Những thành tựu 71
3.1.2 Một số hạn chế 73
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại 77
3.2.1 Giải pháp liên quan đến hoàn thiện pháp luật 77
3.2.2 Giải pháp liên quan đến việc áp dụng pháp luật 80
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, các tranh chấp về thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp Mặt khác, khi nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đây vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức đối với các nhà đầu tư Việt Nam Cùng với sự phát triển của các quan
hệ kinh tế Các tranh chấp thương mại ngày càng muôn hình muôn vẻ và với số lượng lớn Chính vì thế, việc lựa chọn một hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng là một vấn đề lớn đặt ra cho mỗi chủ thể trong tranh chấp thương mại
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các quốc gia khác trên thế giới đều có quy định về các phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản như : Thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và Tòa án Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định So với các phương thức khác, Trọng tại thương mại với những ưu điểm như thủ tục linh hoạt, nhanh chóng, đảm bảo bí mật kinh doanh cũng như uy tín của các bên tranh chấp
… đã thu hút được đông đảo các nhà kinh doanh trên thế giới sử dụng Có thể nói, từ khi Việt Nam nỗ lực hoàn chỉnh khung pháp lý cho hoạt động của Trọng tài bằng việc ban hành Pháp lệnh Trọng tài năm 2003 , Luật thi hành án dân sự 2008, Luật tố tụng dân sự 2004 và tiếp theo đó là sự ra đời của Luật Trọng tài thương mại 2010, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cùng với việc sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 Các chế định pháp luật này ra đời đã tạo thành một hành lang pháp lý quan trọng cho việc giải quyết các tranh chấp thương mại bằng hình thức Trọng tài
Tuy nhiên, mặc dù có những tiến bộ tích cực Trên thực tế cho thấy các tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài còn khá ít Trong khi đó hệ thống tòa án đã trở lên quá tải, dẫn đến lượng án tồn đọng có chiều hướng
Trang 7gia tăng, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguyên nhân của tình trạng trên thì có nhiều, nhưng về cơ bản nhất vẫn là
do sự hỗ trợ từ phía các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động trọng tài vẫn còn các hạn chế Điều này làm cho các nhà kinh doanh chưa thực sự tin tưởng vào Trọng tài và cho rằng giải quyết bằng Trọng tài
sẽ không có hiệu quả như mong muốn Do vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về vấn đề này, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động trọng tài có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận
và thực tiễn Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn vấn đề : “Pháp luật hiện hành về sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cơ chế hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp nói chung, hay của Tòa án nói riêng trong hoạt động trọng tài thương mại là vấn đề có tính thời sự cao Do đó từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề này thông qua các cấp độ khác nhau như: Luận án, Luận văn, Khóa luận hay các bài báo tạp chí chuyên ngành Luật Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu như :
“Sự hỗ trợ của cơ quan Tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại” của tác giả Nguyễn Thị Yến (Luận văn Thạc sĩ Luật học ,Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005);
“Sự hỗ trợ của toà án đối với hoạt động trọng tài thương mại và thực tiễn áp dụng tại toà án nhân dân thành phố Hà Nội” của tác giả Vũ Thanh Minh (Khoá luận tốt nghiệp; Trường Đại học Luật Hà Nội, 2008) ;
“Các biện pháp hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại” của tác giả Đặng Thanh Tú (Khoá luận tốt nghiệp; Trường Đại học Luật Hà Nội, 2009) ;
Trang 8“Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010” Của tác giả Phan Chân Nhân (Luận văn Thạc sĩ Luật học ,Trường Đại học Luật Hà Nội, 2012);
“Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài thương mại - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Đặng Thị Minh Ngọc (Luận văn Thạc sĩ Luật học ,Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013);
“Hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Phượng (Luận văn Thạc sĩ Luật học ,Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013);
“Những yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đời và phát triển của trọng tài thương mại” của tác giả Nguyễn Đình Thơ , Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Bộ Tư pháp, Số 6/2006;
“Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và cơ chế hỗ trợ của toà án” Của tác giả Bạch Thị Lệ Thoa , Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 14/2009; “Khái quát về trọng tài, mối quan hệ giữa toà án và trọng tài ở Liên bang Nga - Kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Trần Hoàng Hải Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 2/2011;
“Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về hủy phán quyết trọng tài thương mại và một số giải pháp khắc phục” của tác giả Vũ Thị Hồng Vân , Tạp chí Nghề Luật, Số 3/2016;
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này mặc dù xem xét trên các phương diện, góc độ nghiên cứu nào thì các ý kiến, đánh giá đều đi đến nhận thức chung là sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp có vai trò quan trọng đối với hoạt động của Trọng tài thương mại Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên lại bao quát rất nhiều vấn đề về Trọng tài chứ không đi sâu vào nghiên cứu một cách đầy đủ, mang tính hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với Trọng tài Hoặc có các công trình nghiên cứu đi sâu vào vấn đề này nhưng thời điểm công bố công trình chủ yếu phân tích dựa trên các quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 và luật Trọng tài thương mại 2010,
Trang 9chưa cập nhật được sự thay đổi của các quy định mới và sự phát triển chóng mặt của đời sống xã hội trong những năm gần đây Vì thế, đến nay,
về cơ bản việc nghiên cứu vấn đề “Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại” vẫn là vấn đề mới trong khoa học pháp lý Việt Nam, cần phải được quan tâm và tiếp tục phát triển
Trên cơ sở kế thừa những đóng góp khoa học của các công trình nghiên cứu trước Luận văn tập trung vào phân tích các quy định của pháp luật hiện hành đồng thời đưa ra thực trạng về việc áp dụng quy định này trên thực tế từ đó có những đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra những kiến nghị giúp việc thực thi được hiệu quả hơn
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu đề tài
Phù hợp đề tài đã chọn, luận văn không nghiên cứu toàn bộ hoạt động
của trọng tài thương mại mà chỉ tập trung nghiên cứu về sự hỗ trợ của các
cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với trọng tài thương mại dưới góc độ
lý luận và thực tiễn Luận văn đi sâu vào nghiên cứu, phân tích về sự cần thiết phải có sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với Trọng tài thương mại Bên cạnh đó, luận văn phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề liên quan cũng như có sự so sánh, đối chiếu với các quy định trước đây cũng như với pháp luật trọng tài của một số nước trên thế giới; nghiên cứu thực trạng của sự hỗ trợ này và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại trên thực tế
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhằm sáng tỏ hơn các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền
tư pháp đối với Trọng tài, đồng thời tìm hiểu thực trạng của vấn đề này trong những năm gần đây Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các thiết chế trong việc thi hành pháp
Trang 10luật về sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại
5 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài
- Khái niệm, đặc điểm của Trọng tài thương mại ?
- Sự cần thiết hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động Trọng tài thương mại ?
- Pháp luật hiện hành về sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động Trọng tài thương mại ?
- Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động hỗ trợ của các
cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động Trọng tài thương mại ?
6 Các phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật và các phương pháp như :
- Phương pháp duy vật lịch sử được tác giả sử dụng để mô tả tiến trình phát triển của sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với Trọng tài thương mại trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam
- Phương pháp phân tích, so sánh luật học, phương pháp tổng hợp, trích dẫn, thống kê … về các vấn đề pháp lý liên quan đến sự hỗ trợ các cơ
quan thực hiện quyền tư pháp đối với trọng tài
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học : Luận văn tiếp tục làm sáng tỏ các quy mới nhất về
sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với trọng tài thương mại Trên cơ sở so sánh với các quy định pháp luật trước đây và pháp luật nước ngoài để phân tích, đánh giá khác quan các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như thực trạng của các quy định hiện hành về vấn đề này để tìm ra sự tiến bộ
Trang 11của các quy định pháp luật hiện hành cũng như các điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật nước ta với pháp luật một số nước trên thế giới
Về mặt thực tiễn : Căn cứ vào thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật Từ đó luận văn đưa ra một số kiến nghị , giải pháp giúp nâng cao hiệu quả sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với trọng tài thương mại
8 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương với kết cấu như sau :
Chương 1: Khái quát chung về trọng tài thương mại và sự hỗ trợ của
các co quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại;
Chương 2: Pháp luật hiện hành về sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại;
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại
Trang 12CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC CƠ QUAN THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát chung về Trọng tài thương mại
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại
Với lịch sử phát triển lâu dài như vậy, trong khoa học pháp lý, trọng tài nói chung và trọng tài thương mại nói riêng cũng được cũng được nghiên cứu dưới những bình diện khác nhau mà cũng chính vì vậy mà có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm trọng tài
Theo cuốn “Đại từ điển kinh tế thị trường”: “Trọng tài là một phương thức giải quyết một cách hòa bình các vụ tranh chấp Là chỉ đôi bên đương
sự tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách công bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người này
đưa ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên” 1
Theo Hội đồng trọng tài Mỹ (AAA- American Arbitration Association): “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình
vụ tranh chấp cho một hoặc một số người khách quan xem xét giải quyết và
họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải
thi hành” 2
Theo Từ điển ngoại thương: “Phương thức giải quyết tranh chấp bằng cách đưa vấn đề tranh chấp ra trước một người thứ ba để người này xét xử và quyết định trong trường hợp hai bên tranh chấp không thể giàn xếp với nhau
Trang 13bằng cách thương lượng mà không muốn đưa vụ tranh chấp ra xét xử trước pháp luật” 3.
Luật mẫu UNCITRAL quy định: “Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức Trọng tài thường trực”4 (Điều 2)
Tại Việt Nam, trọng tài theo đúng nghĩa là một phương thức giải quyết tranh chấp chỉ ra đời từ năm 1993 trên cơ sở Quyết định số 204-TTg củ thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993 về việc thành lập trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) Khái niệm về Trọng tài có 1 số thay đổi nhất định qua từng thời kỳ Theo Nghị định 116/CP ngày 5/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế thì "Trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội - nghề nghiệp có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về họp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau, liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; các tranh chấp có liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu" Tuy nhiên, trọng tài thương mại còn cụ thể và chi tiết hơn trọng tài kinh tế vì hoạt động thương mại chỉ là một phần của hoạt động kinh tế Hiểu một cách ngắn gọn thì trọng tài thương mại trước hết phải là một trong những hình thức trọng tài, chức năng của trọng tài thương mại là giải quyết các tranh chấp thương mại
Cho đến khi Pháp lệnh trọng tài thương mại của Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 08/2003 ra đời thì khái niệm tương đối đầy đủ về trọng tài thương mại như sau: "Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp lệnh này quy định” (điều 2 khoản 1 Pháp lệnh) Như vậy, khái niệm “thương mại” đã được hiểu theo nghĩa rộng theo đúng tinh thần của Luật mẫu về Trọng tài thương mại Quốc tế của Ủy ban Pháp luật Thương mại Quốc tế Liên
Trang 14hợp quốc (Luật Mẫu UNCITRAL) Việc đưa ra định nghĩa khái niệm thương mại là bước đột phá lớn thể hiện tính tiên phong trong công tác lập pháp vào thời điểm đó
Kế thừa quan điểm tiến bộ của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, Khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 (Luật Trọng tài Thương mại)
đã mở rộng thẩm quyền của trọng tài tại Điều 2, 3 Luật Trọng tài Thương mại
2010 và đưa khái niệm trọng tài thương mại “là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.”
Như vậy, Trọng tài thương mại được hiểu dưới nhiều cách khác nhau nhưng chung quy lại có thể được nhìn nhận với tư cách là: (i) Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại; (ii) Trọng tài là một cơ quan giải quyết tranh chấp có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo yêu cầu của các bên tranh chấp
1.1.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại
Thứ nhất, trọng tài thương mại là một phương thức để giải quyết tranh
chấp
Với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, trọng tài có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham
gia của bên thứ ba - một Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất Trọng tài do chính các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Trọng tài là người hoàn toàn độc lập với các bên, đứng giữa để giải quyết tranh chấp, đưa ra các phán quyết bắt buộc để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên
Hai là, Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp đảm bảo
tối đa quyền tự do thỏa thuận của các bên Mọi tranh chấp được đưa ra giải quyết bằng trọng tài đều dựa trên yếu tố thỏa thuận Các bên có thể tự do thỏa thuận về việc lựa chọn trung tâm trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài,
Trang 15trọng tài viên, luật áp dụng, ngôn ngữ hay về thời gian cũng như địa điểm giải quyết tranh chấp và nhờ vậy có thể chủ động và tiết kiệm thời gian trong việc kinh doanh Đây là điều mà các bên khó có thể thực hiện khi giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, vì họ phải tuân thủ những quy định tố tụng do luật định
Ba là, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua một
thủ tục tố tụng chặt chẽ Đối với trọng tài thường trực trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận thủ tục tố tụng riêng, ngoài ra, các trọng tài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra
Bốn là, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có tính ràng
buộc các bên đương sự về mặt pháp lý Phán quyết trọng tài là chung thẩm
và có hiệu lực thi hành ngay (không có thủ tục kháng cáo, chỉ có thủ tục yêu cầu hủy do vi phạm thủ tục tố tụng) Nếu đương sự không tự nguyện thi hành, cơ quan thi hành án sẽ cưỡng chế thi hành như một bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án Điều đó làm cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hữu hiệu hơn phương pháp hoà giải hay thương lượng Hoà giải hay thương lượng chỉ mang tính chất khuyến nghị chứ không có tính ràng buộc thực hiện về mặt pháp lý đối với các bên tranh chấp Còn phán quyết trọng tài mang hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa vụ phải thi hành
Thứ hai, trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp
Trọng tài được hiểu là một cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Trọng tài được luật pháp các nước có nền kinh tế thị trường thừa nhận là một cơ quan tài phán độc lập, tồn tại song song với Tòa án
Tuy nhiên, khi xét về bản chất, Trọng tài thương mại và tòa án hoàn toàn khác nhau, cụ thể:
Trang 16Một là, Trọng tài thương mại là một tổ chức xã hội- nghề nghiệp, do
các trọng tài viên tự nguyện thành lập để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh,thương mại Do là cơ quan hoạt động độc lập với các cơ quan do chính phủ thành lập nên các trung tâm trọng tài không hoạt động bằng nguồn ngân sách nhà nước Có trụ sở làm việc, Điều lệ hoạt động
và Quy tắc tố tụng riêng do chính các trung tâm đặt ra Các trọng tài viên không phải là các công chức, viên chức Nhà nước, không do Nhà nước bổ nhiệm và không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Trọng tài hoạt động vì mục đích lợi nhuận
Hai là, thẩm quyền của cơ quan trọng tài không tự nhiên mà có chỉ
được hình thành khi có sự thỏa thuận của các bên tranh chấp đối với trọng tài Pháp luật quy định, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn trọng tài giải quyết Nếu không có thỏa thuận trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp về việc lựa chọn trọng tài hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết
Ba là, Trọng tài thương mại cần đến sự hỗ trợ của cơ quan Nhà nước
trong quá trình giải quyết tranh chấp Như đã phân tích ở trên, trọng tài thương mại là một tổ chức xã hội-Nghề nghiệp, chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo sự lựa chọn của các bên nên phán quyết trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước, không đại diện cho ý chí của Nhà nước mà đại diện cho ý chí của các bên tranh chấp Phán quyết trọng tài chỉ có giá trị bắt buộc với các bên tranh chấp mà không có giá trị bắt buộc với bên thứ ba Trong trường hợp các bên không tự nguyện thi hành, cần phải có sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cưỡng chế thi hành
Qua những đặc điểm trên, trọng tài - là cơ quan giải quyết tranh chấp, tồn tại song song với Tòa án, tuy nhiên có những nét đặc thù và khác biệt so với tòa án
1.1.3 Các hình thức trọng tài thương mại
Trọng tài các nước nói chung và Việt Nam nói riêng được tổ chức
Trang 17dưới các dạng khác nhau với các tên gọi khác nhau, nhưng chủ yếu tồn tại dưới hai hình thức là trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực Pháp luật Việt Nam ghi nhận hai hình thức trọng tài thương mại này tại khoản 6, 7 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại 2010, theo đó: (i) Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật này và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó; (ii) Trọng tài vụ việc
là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự, thủ
tục do các bên thoả thuận
● Trọng tài vụ việc (Trọng tài Ad-hoc,) là loại hình trọng tài xuất
hiện sớm nhất và rất phổ biến trên thế giới Đây là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vu tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự giải thể khi tranh chấp đã đã được giải quyết
Trọng tài vụ việc có các đặc trưng cơ bản sau đây:
- Trọng tài vụ việc tồn tại chỉ có tính chất lâm thời, không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên riêng Do đó, trọng tài vụ việc có ưu thế hơn so với trọng tài thường trực
ở quyền lựa chọn trọng tài viên không bị giới hạn Các bên có thể lựa chọn bất kì trọng tài viên có tên trong và ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào
- Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng nào dành cho riêng mình trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình, mà quy tắc tố tụng để giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng Thông thường, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến nào, thường là quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài
có uy tín ở trong nuớc và quốc tế Như vậy các bên tranh chấp có quyền rộng rãi trong việc xác định quy tắc tố tụng để giải quyết tranh chấp, đây là một ưu thế so với trọng tài thường trực
Như vậy, tính chất tố tụng của trọng tài vụ việc khá đơn giản, thời gian tiến hành tố tụng có thể nhanh chóng và ít tốn kém Tuy nhiên, trọng tài vụ việc cũng có những hạn chế nhất định, hạn chế lớn nhất là phải phụ thuộc
Trang 18hoàn toàn vào thiện chí của các bên Nếu một bên không có thiện chí quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng Trọng tài, bởi vì không có quy tắc tố tụng nào được áp dụng Mặt khác trong quá trình tố tụng cũng không có tổ chức nào giám sát nên kết quả phần lớn phụ thuộc vào việc tiến hành tố tụng và khả năng kiểm soát quá trình tố tụng của các trọng tài viên Trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội nhận được sự ủng hộ và trợ giúp đặc biệt từ một tổ chức Trọng tài thường trực trong trường hợp phát sinh sự kiện không dự kiến trước và trong trường hợp các trọng tài viên không thể giải quyết được vụ việc Sự hỗ trợ mà các bên có thể nhận được là chỉ là sự hỗ trợ từ các các cơ quan thực hiện quyền
tư pháp
● Trọng tài thường trực (Trọng tài quy chế) Khác với trọng tài Ad
hoc, trọng tài quy chế là loại trọng tài được thành lập và hoạt động thường xuyên, có trụ sở cố định và có cơ chế hoạt động rõ ràng Ở các nước trên thế giới, trọng tài thường được tổ chức dưới những hình thức đa dạng như các trung tâm trọng tài (Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore- SIAC, Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông- HIAC …) các hiệp hội trọng tài ( Hiệp hội trọng tài Hoa kỳ- ICDR (AAA), Hiệp hội trọng tài Nhật Bản- JCAA…) hay các viện trọng tài (Viện trọng tài Anh Quốc- CIarb, Viện Trọng tài Thụy Sĩ - SCAI…) Nhưng phổ biến nhất là được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài
Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các Trung tâm trọng tài Các trung tâm trọng tài có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Trung tâm trọng tài là các tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau và không có quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới Hoạt động của các trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước
- Dù không được thành lập bởi Nhà nước nhưng các trung tâm trọng tài vẫn đặt duới sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước, thông qua các hoạt động như:
Trang 19ban hành các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài; cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của các trung tâm trọng tài; hỗ trợ trung tâm trọng tài trong việc hủy hoặc không hủy quyết định trọng tài, hỗ trợ trong việc cuỡng chế thi hành quyết định trọng tài
- Khác với trọng tài vụ việc không có cơ cấu tổ chức phân thành các phòng, ban thì tại trung tâm trọng tài có cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành, các phòng, ban và nhân viên Trung tâm trọng tài có Ban điều hành và ba thư ký Ban điều hành gồm có Chủ tịch, một hoặc các Phó Chủ tịch Trung tâm Trọng tài và có thể có tổng thư ký Trung tâm Trọng tài do Chủ tịch Trung tâm Trọng tài cử Chủ tịch Trung tâm Trọng tài là trọng tài viên (Khoản 4 Điều 27 Luật Trọng tài Thương mại 2010) Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm trọng tài được quy định trong điều lệ hoạt động Không giống như trọng tài vụ việc khi kết thúc vụ việc tự động giải thể, hoạt động của trung tâm trọng tài thường trực, thường xuyên và chỉ chấm dứt hoạt động trong những trường hợp nhất định theo quy định tại Điều lệ của Trung tâm, bị thu hồi giấy phép thành lập hoặc giấy đăng ký hoạt động Trình tự, thủ tục để chấm dứt hoạt động của trung tâm trọng tài cũng phải tuân thủ quy định của pháp luật
- Mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và đặc biệt là quy tắc tố tụng riêng được xây dựng căn cứ vào đặc thù về tổ chức, hoạt động của trung tâm và không trái với quy định của pháp luật về trọng tài thương mại Việc xây dựng quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài thường dựa trên cơ sở là một số bản quy tắc trong tài hay một số công uớc quốc tế có liên quan cũng như bản quy tắc tố tụng của một số trung tâm trọng tài quốc tế
có uy tín Và tùy theo khả năng chuyên môn của đội ngũ trọng tài viên, mỗi trung tâm trọng tài có quyền tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời có thể mở rộng hoặc Trong quá trình hoạt động, các trung tâm trọng tài có quyền mở rộng hoặc thu hẹp lĩnh vực hoạt động trên cơ sở sự chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài viên của trung tâm Việc chọn hoặc chỉ định trọng tài viên tham gia giải
Trang 20quyết tranh chấp chỉ được giới hạn trọng danh sách trọng tài viên của trung tâm Vì vậy, hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài chỉ được tiến hành bởi các trọng tài viên của chính trung tâm
Tóm lại, với những đặc trưng riêng về tổ chức và tố tụng, Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp phi chính phủ nên hoạt động trọng tài ngoài những ưu điểm vốn có, hình thức trọng tài cũng mang một số nhược điểm như : Trọng tài không có quyền tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời , triệu tập nhân chứng… Vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp, Trọng tài gặp rất nhiều khó khan, những khó khăn này vượt ra khỏi sự kiểm soát của Trọng tài và cần đến sự giúp đỡ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp Mặt khác, do phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tham gia giải quyết tranh chấp, nên cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên nếu có
sự vi phạm, không trung thực, sai sót từ phía trọng tài Nếu những vấn đề này không được đảm bảo thì việc giải quyết tranh chấp khó thành công , làm giảm hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Vì vậy, cần phải có sự hỗ trợ cũng như giám sát từ phía các cơ quan Nhà nước đối với hoạt động trọng tài, góp phần tăng tính hiệu quả và khách quan khi giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1.2 Khái quát về sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại
1.2.1 Khái quát chung về các cơ quan thực hiện quyền tư pháp
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết 49-NQ/TW) tiếp tục chỉ ra
hệ thống các cơ quan thực hiện quyền tư pháp mà trọng tâm là Tòa án nhân dân thực hiện quyền xét xử; Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; các cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ điều tra trong
tố tụng hình sự và các cơ quan thi hành án Phạm vi của luận văn không đi sâu vào tìm hiểu chi tiết về các vấn đề lý luận về tất cả các cơ quan thực hành
tư pháp đó, mà chỉ tìm hiểu về ba cơ quan thực hiện quyền tư pháp tham gia
Trang 21hỗ trợ hoạt động trọng tài thương mại Đó là cơ quan tòa án, cơ quan kiểm sát và cơ quan thi hành án
- Cơ quan tòa án
Tòa án là là cơ quan xét xử của nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước xét xử các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội Tòa án ra bản án, quyết định buộc các bên đương sự phải thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Ở các nước có nền kinh tế phát triển, bên cạnh tổ chức trọng tài phi chính phủ thi Tòa thương mại cũng góp phần đáng kể trong việc giải quyết tranh chấp thương mại Theo pháp luật của một số nước, tòa thương mại có thể tồn tại một cách độc lập như một Tòa chuyên trách Ví dụ tại Pháp, Tòa thương mại sơ thẩm (Tribunal de Commerce), đây là một tòa khá đặc biệt vì bắt buộc một bên trong vụ kiện phải là thương nhân Một tranh chấp thương mại giữa 2 thương nhân bắt buộc sẽ bị đưa ra Tòa thương mại Nếu tranh chấp đó diễn ra giữa một người bình thường kiện một thương nhân thì nguyên đơn có quyền chọn Tòa thường hoặc Tòa thương mại Nếu thương nhân đứng đơn kiện thì bắt buộc vụ án phải được đưa ra xét xử ở Tòa thương mại Đây là nguyên tắc đặc trưng của Tòa này5
Một số nước khác thi thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại được trao cho Tòa dân sự trên cơ sở không có sự phân biệt giữa tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh tế Ví dụ Đức không có Tòa thương mại độc lập,
do đó, các tranh chấp về kinh tế, dân sự được giải quyết thông qua hệ thống Tòa án thông thường Trong các Tòa án thông thừơng có một bộ phận chuyên giải quyết các tranh chấp thương mại và dân sự (Tòa dân sự) Hệ thống tòa thông thường này gồm 4 cấp là Tòa án khu vực,Tòa án liên khu vực, Tòa án cấp cao của Bang và Tòa án Liên bang về dân sự và hình sự6.Hàn Quốc cũng không có sự phân biệt giữa tố tụng dân sự với tố tụng thương mại Các tranh chấp kinh tế, đầu tư, kinh doanh, thương mại, vì thế,
Trang 22cũng được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự thông thường và tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Korean Civil Procedure Code) năm
1960 (sửa đổi, bổ sung gần nhất vào năm 2011).7
Pháp luật trọng tài thương mại các nước đều quy định, khi một phán quyết của trọng tài thương mại có hiệu lực pháp luật thì các bên phải thi hành phán quyết đó, trong trường hợp các bên không tự nguyện thi hành thì có quyền yêu cầu tòa án công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài thương mại Các quốc gia có pháp luật trọng tài thương mại phát triển đều thiết lập cơ chế hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại
Theo pháp luật Việt Nam, Tòa án là cơ quan xét xử của nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước xét xử các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội Tòa án ra bản án, quyết định buộc các bên đương sự phải thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định như sau: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Trong hoạt động xét xử, tòa án phải dựa trên các nguyên tắc xét xử cơ bản như: Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm; Tòa án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương
sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín; Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn ; Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm ; Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.(Điều 102 Hiến pháp 2013)
Điều 7 Luật Trọng tài Thương mại 2010 xác định tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài thương mại thương mại là Tòa án nhân dân
7
Nguyễn Văn Giàu, Nguyễn Văn phúc, Nguyễn Đình Cung, tlđd chú thích 9, tr.393
Trang 23tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được các bên lựa chọn Tuy nhiên, việc giải quyết các tranh chấp thương mại chủ yếu thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế - Tòa án chuyên trách trong hệ thống Tòa án nhân dân tỉnh Bởi vì, xuất phát từ tính chất của vụ tranh chấp được trọng tài giải quyết là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại mà các bên tranh chấp là cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh Và hoạt động thương mại được định nghĩa trong luật thương mại là “ hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.….” (Khoản 1, Điều 3 LTM 2005) Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cũng quy định Tòa kinh tế có thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài; Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại (Khoản 2, 5 Điều 31) Các quy định này cơ sở pháp lý quan trọng để Trọng tài và các đương sự yêu cầu Tòa án hỗ trợ khi cần thiết
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định chỉ có tòa kinh tế với thẩm quyền giải quyết các tranh chấp có tính chất tương tự như Trọng tài mới tham gia
hỗ trợ hoạt động trọng tài Còn các tòa án khác như: Tòa hình sự, tòa dân sự, tòa lao động, tòa hành chính không tham gia vào hoạt động hỗ trợ này, vì hoạt động của các Tòa trên khác cơ bản so với hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại
- Cơ quan thi hành án
Cơ quan thi hành án là cơ quan Nhà nước, có trách nhiệm đưa các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và các cơ quan Tài phán khác vào thực tế thông qua việc thi hành án Hoạt động của cơ quan thi hành
án dân sự một mặt đảm bảo việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội, công dân đối với phán quyết của tòa án, trọng
Trang 24tài, mặt khác là công cụ hữu hiệu để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội 8
Đối với trọng tài thương mại, Điều 8 Luật Trọng tài Thương mại 2010 xác định cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Trọng tài là Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọng tài
ra phán quyết hoặc nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng Như vậy, hoạt động hỗ trợ của cơ quan thi hành án đối với trọng tài là hoạt động
hỗ trợ trọng tài trong việc thi hành phán quyết trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Trọng tài
Việc cơ quan thi hành án hỗ trợ hoạt động của trọng tài có vai trò quan trọng, vì phán quyết của trọng tài có công bằng, chính xác đến đâu, nhưng nếu không được bảo vệ và đảm bảo thi hành thì quyền và lợi ích hợp pháp của các bên không được bảo vệ, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín của trọng tài9
- Cơ quan kiểm sát
Căn cứ theo khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013: Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp;Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 24/11/2014, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện Kiểm sát hoạt động tư pháp để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận
và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc
8
Nguyễn Công Bình ( Chủ biên 2011), Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật
Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, tr.75.
9
Phan Chân Nhân (2012) , Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại Học luật Hà Nội, Hà Nội, tr.38.
Trang 25dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật (Khoản 1, Điều 4) Luật Trọng tài Thương mại 2010 đã đề cập vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài đang thụ lý giải quyết vụ tranh chấp trong việc hỗ giám sát hoạt động hỗ trợ của Tòa án đối với Hội đồng trọng tài trong việc thu thập chứng cứ (Điều 46); triệu tập người làm chứng (Điều 47)
và khi Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài (Điều 71) Như vậy, Việm kiểm sát không kiểm tra, giám sát trực tiếp hoạt động của trọng tài mà chỉ kiểm tra, giám sát hoạt động hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài Điều này thể hiện đúng bản chất của hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan kiểm sát cũng như không làm mất đi bản chất của Trọng tài Trọng tài vẫn là tổ chức giải quyết các tranh chấp có tính chất “quyền lực tư”, thể hiện ý chí tự định đoạt tối đa của các đương sự mà không bị sự can thiệp quá sâu của các cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan kiểm sát nói riêng.10
Như vậy, các cơ quan thực hiện quyền tư pháp tham gia hỗ trợ trọng tài theo Pháp luật hiện hành bao gồm: Cơ quan Tòa án, cơ quan Kiểm soát và cơ quan thi hành án Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan
đó mà pháp luật có quy định sự hỗ trợ khác nhau đối với hoạt động trọng tài
Sự trợ giúp của các cơ quan này đã giúp cho hoạt động trọng tài có sự chuyển biến tích cực; góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân, ổn định và lành mạnh môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam
1.2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của trọng tài
Hoạt động trọng tài luôn cần đến sự hỗ trợ của các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan thực hiện quyền tư pháp nói riêng Điều đó xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn sau :
Trang 26- Xuất phát từ bản chất của trọng tài: trọng tài là cơ quan tài phán phi
chính phủ có quyền lực bắt nguồn từ “quyền lực hợp đồng” do các bên tranh chấp giao phó, ủy nhiệm Phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nuớc, không đại diện cho ý chí của nhà nuớc mà đại diện cho ý chí của các bên tranh chấp Điều này đã đặt ra cho trọng tài những khó khăn khi không có sự đồng thuận, hợp tác thiện chí của cả hai bên tranh chấp trong quá trình tố tụng cũng như việc thi hành phán quyết trọng tài
Trong quá trình trọng tài thụ lý vụ kiện, có trường hợp việc giải quyết của trọng tài không thể tiến hành, ví dụ: Khi không chọn được trọng tài viên giải quyết tranh chấp trong quá trình thành lập Hội đồng trọng tài, khi xem xét thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài Cuối cùng, điều đặc biệt quan trọng là quyết định trọng tài không được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước do trọng tài là cơ quan tài phán tư, không có cơ quan cưỡng chế của riêng mình để cưỡng chế thi hành Nếu các bên không tự giác thi hành thì phán quyết của trọng tài cũng không có giá trị trên thực tế Điều này lý giải việc pháp luật quy định các cơ quan thực hiện quyền tư pháp hỗ trợ trọng tài bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự Đây là những cơ quan có chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh
- Xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động trọng tài:
Nhà nước nói chung và cơ quan Nhà nước nói riêng có quyền quản lý hoạt động của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó có trọng tài Với tư cách là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động theo pháp luật và quy chế về trọng tài thương mại Thuật ngữ trọng tài phi Chính phủ không có nghĩa là cơ quan trọng tài này sẽ không chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước Phi Chính phủ là để phân biệt với một cơ quan tài phán Nhà nước, có quyền lực Nhà nước Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của các cơ quan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật trọng tài Tạo ra hành lang pháp lý cho trọng tài hoạt động Ngoài việc ban hành pháp luật, Nhà nước còn thông qua các cơ
Trang 27quan Nhà nước như: Cấp, thu hồi Giấy phép thành lập và Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài; Chi nhánh, Văn phòng đại diện của tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; Công bố danh sách Trọng tài viên của các
tổ chức trọng tài hoạt động tại Việt Nam; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật
về Trọng tài; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trọng tài; hướng dẫn việc đào tạo, bồi dưỡng Trọng tài viên; Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật
về Trọng tài … Qua đó tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước quản lý hoạt động trọng tài
- Xuất phát từ yêu cầu giảm bớt “gánh nặng”cho tòa kinh tế: Do ảnh
hưởng của nền kinh tế hàng hóa tập trung, mọi kế hoạch do Nhà nước định sẵn mà các doanh nghiệp trong nước mang nặng tâm lý chỉ có cơ quan Nhà nước mới giải quyết vụ việc khách quan, công bằng, đúng luật Như Luật sư
Phan Thông Anh đã nhận xét : “Họ cho rằng quyết định của Tòa án có giá
trị pháp lý cao hơn quyết định của trọng tài; họ chưa tin lắm về hiệu lực thi hành các quyết định trọng tài và do họ chưa nhận biết được tính ưu việt hơn của phương thức giải quyết tranh chấp trọng tài so với phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án”11 Ngoài ra, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã khiến cho các tranh chấp thương mại ngày càng trở lên đa dạng và phức tạp về nội dung cũng như sự gay gắt về mức độ tranh chấp Những lý
do này khiến cho các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh được đưa đến Tòa án ngày càng nhiều, dẫn đến tình trạng quá tải án tồn đọng tại các Tòa Kinh tế, đặc biệt là tại tòa án ở những thành phố lớn Với yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh tế thật nhanh gọn, hạn chế tối đa sự gián đoạn trong kinh doanh, đảm bảo quyền lợi chính đáng của các chủ thể tham gia tranh chấp, việc giải quyết tình trạng quá tải tại các Tòa kinh tế rất cần có những tổ chức Trọng tài mạnh, đủ sức hấp dẫn đối với các nhà kinh doanh để giảm bớt gánh nặng cho Tòa án Với sự ra đời của Luật Trọng tài Thương mại 2010 Nhà nước đã chính thức “ủy thác” cho trọng tài đảm nhiệm chức năng giải quyết các tranh chấp kinh doanh bằng một văn bản pháp lý với
11
Phan Thông Anh (2009), “Tại sao các doanh nghiệp Việt Nam không mặn mà với việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại bằng trọng tài” , Dân chủ và Pháp luật (7), tr 26
Trang 28những quy định thực tế, khả thi trong việc hỗ trợ hoạt động của trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp
● Cơ sở thực tiễn
* Thực tiễn hoạt động của các Trung tâm trọng tài Việt Nam khi chưa
có sự hỗ trợ của các các cơ quan thực hiện quyền tư pháp
So với lịch sử trọng tài trên thế giới Lịch sử trọng tài phi Chính phủ Việt Nam còn rất non trẻ Năm 1963 ở Việt Nam mới có một tổ chức trọng tài phi Chính phủ đầu tiên đó là “Hội đồng trọng tài ngoại thương” được tổ chức theo Nghị định số 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng Chính phủ Năm
1964 thành lập thêm một tổ chức trọng tài phi Chính phủ thứ hai là: “Hội đồng trọng tài hầng hải Việt Nam” theo nghị định số 153/CP ngày 5/10/1964 của Hội đồng Chính phủ Hai hội đồng trọng tài này là các tổ chức trọng tài nằm bên cạnh Phòng thương mại Việt Nam – một tổ chức kinh tế tự quản, có
tư cách pháp nhân và chịu sự giám sát trực tiếp của bộ Ngoại thương Đến ngày 28/04/1993 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 204/TTg
về việc thành lập Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cở sở hợp nhất hai Hội đồng trọng tài này Khi mới thành lập, Trung tâm này chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế như các hợp đồng mua bán ngoại thương, các hợp đồng đầu tư du lịch, bảo hiểm quốc tế… Năm 1996, Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế đối với các quan hệ kinh tế trong nước Đề nghị này được chấp thuận bằng quyết định số 114/TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 16/07/1996
Cùng với sự ra đời của Hiến pháp 1992 nhà nước Việt Nam đã chủ trương chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang một nền kinh
tế nhiều thành phần vận thành theo cơ chế thị trường có có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Bước ngoặt đó đã dẫn đến một loạt cải cách trong nền kinh tế Trong đó đáng chú ý là chủ trương bình đẳng giữa các thành phần trong nền kinh tế, khuyến khích và phát triển kinh tế tư
Trang 29nhân; phát triển đầu tư trong nước và khuyến khích đầu tư nước ngoài, phát triển đa dạng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế Chính vì vậy hệ thống pháp luật kinh tế trước đây được thiết lập chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ kinh doanh giữa các doanh nghiệp Nhà nước giờ đây đã không còn phù hợp với một nền kinh tế với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế khác nhau Trong bối cảnh đó, đồng thời với việc chấm dứt hoạt động của Trọng tài Kinh tế Nhà nước và thành lập Tòa kinh tế trong hệ thống Tòa án nhân dân Ngày 05/09/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116/CP về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế với tính chất là một tổ chức xã hội-nghề nghiệp Sau gần 10 năm thực hiện Nghị định số 116/CP, đã có 5 Trung tâm trọng tài được thành lập với hơn 130 trọng tài viên Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài từ năm 1994 đến năm 2003, 05 Trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo nghị định 116/CP hầu như hoạt động rất kém hiệu quả Cụ thể
số liệu thực tế các vụ tranh chấp đã được đưa ra trọng tài giải quyết trong giai đoạn 1994-2003 như sau12:
- Trung tâm Trọng tài Quốc Tế Việt Nam (VIAC) từ năm 1993 đến năm 2003, thụ lý được 198 vụ, trong đó xét xử được 123 vụ;
- Trung tâm TTKT Hà Nội ( HEAC): Từ khi thành lập đến năm 2000, tổng số vụ việc thụ lý: 11 vụ ; trong 2 năm (2000-2001) giải quyết 5 vụ, từ
2002 đến 2003: Chưa thụ lý vụ tranh chấp nào ;
- Trung tâm TTKT Thăng Long (ECOARCEN): Cho đến năm 2003: chưa thụ lý vụ tranh chấp nào;
- Trung tâm TTKT Bắc Giang: Cho đến năm 2003: Đã thụ lý và giải quyết bằng hòa giải 01 vụ;
- Trung tâm TTKT Sài Gòn: Năm 1998 thụ lý 10 vụ, năm 1999: 07 vụ, năm 2000: 06 vụ, năm 2001: 03 vụ, năm 2002: 02 vụ, 6 tháng đầu năm 2004 : Chưa giải quyết vụ nào
- Trung tâm TTKT Cần Thơ: Năm 2002 mới thụ lý vụ tranh chấp đầu tiên
12
Trần Thị Vân Anh (2007), Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.18-19i
Trang 30Như vậy, từ số liệu trên có thể thấy trong giai đoạn từ 1994 cho đến năm 2003 05 Trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo NĐ 116/CP hoạt động rất kém hiệu quả, các vụ tranh chấp được đưa ra trọng tài giải quyết không nhiều Còn Trung Tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam mặc dù xử lý
số lượng các vụ tranh chấp lớn nhất, hoạt động nhiều nhất trong số các trung tâm nhưng khi so sánh số vụ tranh chấp với tòa kinh tế thì rất khiêm tốn Chỉ tính riêng Tòa kinh tế, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội Trong 05 năm đầu thành lập từ 1994 đến 1999 số án thụ lý và giải quyết là 183/206 vụ án Số án thụ lý và giải quyết từ 1999 đến 2004 là 298/302 vụ án.13 Còn khi so sánh với trung tâm Trọng tài nước ngoài thì không hề đáng kể Tại Trọng tài kinh tế ICC chỉ riêng trong năm 2003 đã thụ lý giải quyết 580 yêu cầu của các đương sự ở 120 quốc gia khác nhau14 Mặt khác, các tranh chấp mà VIAC giải quyết chủ yếu là tranh chấp có yếu tố nước ngoài, chỉ có 15/198 vụ việc
là giải quyết tranh chấp trong nước Như vậy, có thể thấy hoạt động của các Trung tâm trọng tài trong thời gian này rất hạn chế, số vụ việc được thụ lý không phản ánh được tình hình hoạt động kinh tế trong nước cũng như hoạt động của các Trung tâm trọng tài
Lý giải cho thực trạng này, có thể kể đến nhiều nguyên nhân như: Chất lượng và danh tiếng của các Trung tâm trọng tài, hình thức trọng tài thương mại mới xuất hiện, chưa được các doanh nghiêp quan tâm tìm hiểu mà vẫn
có thói quen sử dụng tòa án để giải quyết các tranh chấp… Nhưng nguyên nhân lớn nhất đến từ các quy định pháp luật về Trọng tài Ở thời điểm đó, ngoại trừ Pháp lệnh công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài năm 1995 Các văn bản pháp luật điều chỉnh về trọng tài
ở giai đoạn này đều có giá trị pháp lý thấp, mới dừng ở mức cao nhất là Nghị định Nghị định ban hành quy chế hoặc Quyết định của Thủ tướng chính phủ Các văn bản này không hề đề cập đến các chế định cơ bản của Trọng tài như: Xác định hiệu lực thỏa thuận trọng tài, sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện
Trang 31quyền tư pháp trong việc chỉ định; thay đổi trọng tài viên; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài… Hạn chế
từ các quy định của pháp luật đã dẫn đến sự trì trệ và kém hiệu quả trong hoạt động của các trung tâm trọng tài Tòa án (Tòa kinh tế) và các Trung tâm trọng tài là những tổ chức tài phán khác nhau về bản chất và chúng tồn tại, hoạt động độc lập với nhau
Trong hệ thống pháp lý của bất cứ quốc gia nào, quan hệ và sự liên kết giữa trọng tài và toà án vẫn tồn tại, dù ở những mức độ khác nhau Sẽ là sai lầm khi đối lập toà án - một thể chế nhà nước, và trọng tài - một thể chế xã hội Trọng tài có tính độc lập và sự tồn tại của nó có tác dụng chia sẻ gánh nặng xã hội mà cơ quan xét xử nhân danh Nhà nước không thể gánh vác hết
Mối quan hệ biện chứng giữa toà án và trọng tài là ở chỗ: Nhà nước càng muốn thực hiện tốt chức năng xã hội thì càng phải cần dựa vào các tổ chức xã hội, và các tổ chức xã hội muốn phát triển thì cần phải có được sự hỗ trợ của nhà nước Trọng tài là thiết chế giải quyết tranh chấp mang tính xã hội Trọng tài chính là một phần của hệ thống cơ quan tài phán của một xã hội cụ thể, của một quốc gia cụ thể Nếu đối lập hai thiết chế này là sai lầm
về lý luận, và từ sai lầm về lý luận, về nhận thức, sẽ dẫn đến những sai lầm trong quản lý phát triển xã hội mà giải quyết tranh chấp phát sinh là một thành tố vô cùng quan trọng Nếu phân tích quan hệ của tòa án và trọng tài trong bối cảnh của Việt Nam thì càng nhận rõ mối quan hệ và sự liên kết giữa thiết chế tòa án và trọng tài Cùng quan điểm như vậy, PGS.TS Dương
Đăng Huệ đã nhận xét “Nhưng cái sai sót mà chúng ta đã phạm phải trong
thời gian vừa qua đã làm cho hai cơ quan tài phán này hoàn toàn biệt lập với nhau, giữa chúng không có bất cứ một mối quan hệ pháp lý nào, vô hình chung, chúng ta đã làm Trọng tài kinh tế yếu đi rất nhiều.” 15
Minh chứng cho quan điểm này, chúng ta có thể thấy vai trò hỗ trợ duy nhất của Tòa án đối với trọng tài thương mại trong nước ở thời điểm đó
15
Dương Đăng Huệ (1999), “Những nguyên nhân làm hạn chế tác dụng của trọng tài kinh tế và những giải pháp khắc phục”, Nhà nước và Pháp luật (7), tr 49
Trang 32là ở việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp “sự việc đã được các
bên thỏa thuận trước là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài” (Khoản 5,
Điều 32, Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994) Tuy nhiên, quy định này trên thực tế tồn tại nhiều bất cập, chỉ đề cập đến việc Tòa án phải từ chối giải quyết tranh chấp khi các bên đã có thỏa thuận trước là giải quyết bằng trọng tài mà không hề có quy định nào về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, dẫn tới nhiều trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
Còn về các quy định về việc thi hành phán quyết của trọng tài Nghị định 116/CP có sự quy định rất mâu thuẫn: Điều 5 Nghị định quy định:
“Quyết định giải quyết tranh chấp của Trung tâm Trọng tài kinh tế (sau đây gọi là quyết định trọng tài) có hiệu lực thi hành, không bị kháng cáo” Tuy nhiên Điều 31 Nghị định lại quy định: “ Trong trường hợp quyết định của Trọng tài không được một bên chấp hành thì bên kia có quyền yêu cầu tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế”
Quy định này làm cho phán quyết trọng tài không hề có cơ chế đảm bảo thi hành mà hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức tự giác của các bên Điều này tạo điều kiện cho những người cố tình trì hoãn việc giải quyết tranh chấp, né tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình trước đối tác Quy định này trái với thông lệ quốc tế về trọng tài thương mại và không tạo được hành lang pháp lý cần thiết cho sự hoạt động của trọng tài
* Thực tiễn hoạt động của các Trung tâm trọng tài Việt Nam sau khi
đã có sự hỗ trợ của các các cơ quan thực hiện quyền tư pháp
Nhằm khắc phục những hạn chế về pháp luật trọng tài Ngày 25/03/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/2003/PL-UBTVQH (Có hiệu lực từ ngày 01/07/2004) và ngày 15/01/2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh trọng tài thương mại Pháp lệnh đã quy định sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp mà cụ thể
là Tòa án, cơ quan Thi hành án đối với trọng tài bằng các quy định từ việc xác
Trang 33định hiệu lực pháp lý của thỏa thuận trọng tài, chỉ định trọng tài viên, giải quyết việc khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu hủy quyết định trọng tài,lưu trữ hồ sơ trọng tài và thi hành quyết định trọng tài Đây là vấn đề quan trọng được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm và mong đợi Với việc ban hành một loạt các quy định trong đó có xác lập vai trò của Tòa án và cơ quan Thi hành án đối với trọng tài, Pháp lệnh đã lấp đầy “khoảng trống” của hệ thống pháp luật trọng tài trước đây Điều này góp phần làm tăng tính hấp dẫn và hiệu quả của trọng tài, đồng thời thúc đẩy trọng tài phát triển Có thể nói đây là một sự tiếp sức cho trọng tài, thể hiện quan điểm của Nhà nước về việc đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các chủ thể kinh doanh được sự bảo hộ của Nhà nước về mặt pháp lý trong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại (20) Số vụ tranh chấp trong nước được giải quyết tại VIAC từ năm 2003 đên tháng 8 năm 2010 là 73 vụ trong tổng số 269 vụ đã cho thấy việc các doanh nghiệp đã tin tưởng và sử dụng Trọng tài nhiều hơn Nhưng khi so sánh với hàng ngàn vụ việc được thụ lý tại Tòa án thì vẫn là con số quá nhỏ Cụ thể số liệu thống kê số lượng án kinh
tế cấp sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao trong giai đoạn từ 2006 đến 2010 như sau16: năm 2006: 1978 vụ; năm 2007: 3783 vụ; năm 2008: 4748 vụ; năm 2009: 6574 vụ; năm 2010: 6879 vụ
Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ cả phía doanh nghiệp, chất lượng của các trung tâm trọng tài Song, một trong các lý do quan trọng nhất
là Pháp lệnh (2003) còn có nhiều bất cập Ví dụ như các quy định về: thỏa thuận trọng tài vô hiệu, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc triệu tập nhân chứng, vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, việc hủy quyết định trọng tài mà đặc biệt là cơ chế hỗ trợ của Tòa án, Cơ quan thi hành án đối với các quyết định của trọng tài Để khắc phục những bất cập trong một số quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, Luật trọng tài thương mại đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
16
http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/5901712 Ngày truy cập : 08/05/2016
Trang 34chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm
2010, có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011
Luật Trọng tài Thương mại đã có những thay đổi rất mới Thứ nhất, tính an toàn với thỏa thuận trọng tài của Luật cao hơn Pháp lệnh trọng tài Tính vô hiệu của thỏa thuận trọng tài cũng được hạn chế bớt để gần gũi hơn với thực tiễn trọng tài thương mại Thứ hai, hội đồng trọng tài cũng được thêm một số quyền, chẳng hạn như quyền được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trực tiếp Thứ ba, hội đồng trọng tài có thể triệu tập các nhân chứng
để hỗ trợ cho trọng tài Ngoài ra, điểm khiến phán quyết trọng tài trở nên hấp dẫn hơn, đó là căn cứ để hủy phán quyết trọng tài rõ ràng minh bạch hơn Luật cũng mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài (như được thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng) và giảm nguy cơ phán quyết của trọng tài bị Tòa án tuyên hủy Trước đây, không ít bên thua kiện không muốn thi hành phán quyết, trọng tài có thể yêu cầu Tòa án hủy nhưng do một số nhược điểm nên căn cứ hủy có thể bị lạm dụng Theo Luật, tính minh bạch của căn cứ hủy phán quyết trọng tài được nâng lên mức cao hơn Một trong những tâm điểm quan trọng nhất của Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 là giải quyết mối quan hệ giữa trọng tài với toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối quan hệ pháp lý quan trọng này Cụ thể Điều 7 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 xác định rõ Tòa án nào có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài Quy định này đã khắc phục được những bất cập của Pháp lệnh trọng tài thương mại Tính xác định và rõ ràng này của Luật sẽ tạo điều kiện để các toà
án và hội đồng trọng tài cũng như các bên tranh chấp tránh được lúng túng trong các trường hợp cụ thể Và đó chính là điều kiện thuận lợi để trọng tài hoạt động có hiệu quả Sau hơn ba năm thực thi Luật, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2014/HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại Nghị quyết này có hiệu lực từ đầu tháng 7/2014 với nhiều quy định cho thấy Tòa án nhân dân tối cao ủng hộ Trọng tài và đây là dấu hiệu rất tích cực cho hệ thống trọng tài Việt Nam
Trang 35Nếu so sánh với các nước trên thế giới, đặc biệt là ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, nơi các nhà kinh doanh thường lựa chọn trọng tài
để yêu cầu giải quyết tranh chấp cho mình, có thể thấy rằng không phải ngay
từ đầu Tòa án và trọng tài đã có mối quan hệ hỗ trợ, hợp tác
Nghiên cứu về lịch sử mối quan hệ giữa Tòa án và Trọng tài, đặc biệt là
ở các cường quốc thương mại châu Âu (Anh, Pháp,Đức…) có thể thấy một bức tranh tương đối phổ biến với ba giai đoạn phát triển: Từ đối đầu, nghi kỵ, bất hợp tác Tòa án của các nước đã chuyển dần sang thái độ thừa nhận sự tồn
tại của thực thể “phi Nhà nước”- trọng tài, đồng thời tìm tách khống chế,
kiểm soát nghiêm ngặt đối với quá trình trọng tài thông qua các quy định hoặc các án lệ về quyền của Tòa án để kiểm tra, xem xét các phán quyết trọng tài giống như cấp xét xử phúc thẩm Cuối cùng là giai đoạn hiện nay với xu thế
hỗ trợ, hợp tác là chủ yếu kết hợp với sự giám sát hợp lý của Tòa Án đối với trọng tài nhằm nâng cao hiệu quả của Trọng tài để cùng Tòa án đáp ứng tốt hơn, kịp thời hơn các yêu cầu, đòi hỏi đa dạng của giới kinh doanh trong nước
và quốc tế khi phải giải quyết tranh chấp.17
1.2.3 Ý nghĩa của sự hỗ trợ của cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy việc pháp luật quy định một cách đầy đủ và chi tiết về các hoạt động hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động trọng tài, cụ thể:
Thứ nhất, tạo điều kiện cho Trọng tài hoạt động thuận lợi, giải quyết
được vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp
Trong quá trình trọng tài thụ lý vụ kiện, có trường hợp trọng tài không thể tiến hành, ví dụ như không lựa chọn được trọng tài viên, khi cần xem xét thẩm quyền giải quyết tranh chấp của hội đồng trọng tài … Nếu không có sự giúp đỡ của tòa án, vụ tranh chấp đó khó có thể giải quyết tại trọng tài, bởi vì
17
Dương thanh mai (1997), “Về mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài trong việc đảm bảo hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài”, Nhà nước và pháp luật (12), tr.4
Trang 36các bên đã không thống nhất được ý chí trong quá trình kiện tụng Hậu quả tất yếu là tranh chấp rơi vào bế tắc, gây cản trở đối với quá trình kinh doanh thương mại của hai bên Vì vậy, sự hỗ trợ của Tòa án có vai trò quan trọng nhằm tránh bế tắc cho hoạt động trọng tài, để trọng tài có thể giải quyết các tranh chấp một cách nhanh chóng, công bằng, ít tốn kém cho các bên tham gia tranh chấp
Thứ hai, sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với
hoạt động trọng tài đã đảm bảo hiệu quả của hoạt động trọng tài
Trọng tài thương mại, với rất nhiều ưu điểm khi so sánh với tòa án như: đảm bảo tối đa quyền tự do thỏa thuận của các bên; đảm bảo được bí mật kinh doanh và uy tín nghề nghiệp cho các bên có liên quan tới vụ tranh chấp, nhất là trong các tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh… Tuy nhiên, không có một phương thức nào có ưu thế tuyệt đối Với
tư cách là một cơ quan phi Chính phủ Nên trong một số trường hợp hoạt động của trọng tài không đảm bảo tính hiệu quả, không đảm bảo quyền và lợi ích của các bên Với việc Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tòa án hủy quyết định trọng tài nếu quyết định trọng tài rơi vào những trường hợp pháp luật quy định hay cơ quan thi hành án thi hành phán quyết trọng tài giống như bản án, quyết định của tòa án… Quyền lợi của các bên tham gia tố tụng trọng tài đã được đảm bảo Đồng thời, các quy định đó cũng đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của hoạt động trọng tài, làm cho trọng tài có thể thực sự phát huy được các ưu điểm vốn có
Thứ ba, sự hỗ trợ của cơ quan thực hiện quyền tư pháp sẽ đảm bảo
tính khả thi cho các phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, qua
đó góp phần tạo điều kiện tốt cho thương mại quốc tế ở Việt Nam phát triển
Phán quyết Trọng tài có giá trị bắt buộc với các bên tham gia tranh chấp nhưng lại không có một biện pháp thi hành nào nên chúng được thi hành chủ yếu dựa vào sự tự nguyện của các bên Bởi vậy, nếu công đoạn này không được thực hiện hoặc thực hiện không phù hợp thì nó sẽ làm cho việc
Trang 37xét xử tranh chấp của trọng tài trở nên vô nghĩa nếu như bên phải thi hành quyết định đó không tự nguyện thi hành
Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia trong luật quốc tế, quyết định của trọng tài một nước chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước đó Tuy nhiên, trong quan hệ quốc tế, các tranh chấp phát sinh giữa các cá nhân
và pháp nhân của các nước được trọng tài giải quyết đặt ra nhiều trường hợp phải có sự hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong việc công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài quốc gia này tại lãnh thổ quốc gia khác Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng Cụ thể:
Trước hết về phương diện chính trị, điều đó sẽ thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác và xây dựng giữa Việt Nam với các quốc gia khác Sự công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài ở các quốc gia sẽ khẳng định chủ quyền và vị trí của các Việt Nam trên chính trường quốc tế Điều này thể hiện Việt Nam không chỉ bảo vệ lợi ích của cá nhân pháp nhân nước mình mà con cả lợi ích của cá nhân pháp nhân nước ngoài Công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện quan hệ hợp tác hữu nghị với tấc
cả các nước trên thế giới (muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển) Việc ban hành pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài ngày 14/9/1995 và sau đó là các quy định về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài trong bộ luật tố tụng dâ sự năm 2015 sau khi nước ta gia nhập công ước New-york năm 1958 là viêc làm thiết thực tạo tâm
lý an toàn cho các nhà kinh doanh trên thế giới trrong quan hệ vơi doanh nghiệp Việt Nam và cũng làm hài lòng các quốc gia muốn bảo vệ lợi ích chính đáng của các nhà kinh doanh nước họ Việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài trong các điều kiện hợp lý là phù hợp với xu hướng văn minh tiến bộ trên thế giới hiện nay Chính vì vậy chính sách đó sẽ được ủng hộ rộng rãi trên thế giới
Trang 38Về phương diện kinh tế, công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay Điều này được thể hiện ở chỗ, nếu như quyết định của trọng tài không được công nhận và thi hành tại Việt Nam thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ giảm bớt đầu tư vì lo ngại rằng trong trường hợp có tranh chấp nảy sinh và được giải quyết tại trọng tài nước ngoài, thì bên nước ngoài khó
hy vọng bảo vệ lợi ích của mình, nếu như bên Việt Nam thua kiện và tài sản liên quan đến tranh chấp ở Việt Nam Do vậy sự hỗ trợ từ các cơ quan thực hiện quyền tư pháp mà cụ thể là tòa án và cơ quan thi hành án dân sự sẽ tạo điều kiện cho các phán quyết của trọng tài nước ngoài được đảm bảo thi hành một cách nghiêm chỉnh, công bằng Tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài khi họ đầu tư vào Việt Nam Qua đó giúp cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam
Tóm lại : Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh
chấp có nhiều ưu điểm và đang trở thành sự lựa chọn phổ biến của cộng đồng doanh nghiệp trên thế giới Nhưng không có một phương thức giải quyết tranh chấp nào là hoàn hảo tuyệt đối, xuất phát từ bản chất của mình, trọng tài thương mại cũng có những hạn chế nhất định Vì vậy, cần thiết phải có sự
hỗ trợ của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp để nâng cao hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp này
Trang 39CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC CƠ QUAN THỰC HIỆN QUYỀN TƯ PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI
THƯƠNG MẠI
Như đã trình bày ở trên, các cơ quan thực hiện quyền tư pháp tham gia
hỗ trợ Trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài Thương mại 2010 bao gồm các cơ quan: Tòa án, cơ quan Thi hành án và Viện kiểm sát Tuy nhiên, khác với hai cơ quan còn lại, Viện kiểm sát không hỗ trợ trực tiếp hoạt động trọng tài mà chỉ kiểm tra, giám sát hoạt động hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài Vì vậy, trong phạm vi luận văn, người viết chủ yếu phân tích sự hỗ trợ của Tòa
án và cơ quan thi hành án mà sẽ không tiếp tục đề cập sâu đến vai trò hỗ trợ của Viện kiểm Sát đối với hoạt động của trọng tài thương mại
2.1 Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại
Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại được thể hiện thông qua các quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Luật đã đưa ra hàng loạt các quy định thể hiện rõ nét sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài thương mại Cụ thể như sau:
2.1.1 Sự hỗ trợ của tòa án trong việc xem xét thẩm quyền trọng tài
và thỏa thuận trọng tài
Trong giai đoạn trước khi thành lập Hội đồng Trọng tài, Tòa án đóng vai trò duy trì công lý, bảo đảm sự tôn trọng thỏa thuận trọng tài và ý chí của các bên trong việc đưa vụ tranh chấp ra Trọng tài Đó là trách nhiệm từ chối thụ lý vụ tranh chấp khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài,trừ trường hợp tòa
án tuyên rằng thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được Điều này đảm bảo cho thỏa thuận trọng tài được tôn trọng, tránh tình trạng một trong các bên không tự giác giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài như đã thỏa thuận Điều 6 Luật Trọng tài thương mại quy định như sau: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một
Trang 40bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.”
Thực tiễn thi hành các quy định tại Pháp lệnh Trọng tài thương mại
2003 và nghị quyết 5/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại đã xuất hiện những xung đột về thẩm quyền của tòa án và trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp giữa tòa án
và trọng tài về việc xác định thẩm quyền
Tháng 7-2002, Công ty TNHH TS (huyện Thuận An, Bình Dương) và ông S (Đài Loan) ký hợp đồng thành lập một công ty liên doanh với ngành nghề sản xuất gia công mộc mỹ nghệ Thời gian hoạt động của công ty là 50 năm với tổng vốn là hơn 650.000 USD, trong đó ông S góp 78%, phía công
ty góp 22% bằng nhà xưởng, trang thiết bị Hai bên thống nhất chọn ông S làm tổng giám đốc, một đại diện phía Việt Nam làm phó tổng giám đốc
Trong quá trình hợp tác, phía Việt Nam cho rằng ông S đã lạm quyền,
vi phạm điều lệ công ty liên doanh, dẫn đến việc công ty bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính Cụ thể ông S tự ý mở phân xưởng mới không thông qua hội đồng quản trị, không xin phép, kết quả là bị Công an Bình Dương phạt 15 triệu đồng Ngoài ra, ông còn cho doanh nghiệp khác gửi hàng vào container của công ty để xuất đi Đài Loan mà không khai báo hải quan, kết quả là bị Hải quan Đài Loan phát hiện, cảnh báo với Hải quan Việt Nam
Mâu thuẫn được đẩy lên cao trào khi bà phó tổng giám đốc phía Việt Nam bị bệnh phải nằm bệnh viện nhưng ông S ra quyết định đuổi việc với lý
do công ty đang gặp khó khăn mà bà này lại đi du lịch, không báo cho tổng giám đốc biết Cùng với bà phó tổng giám đốc, hai quản lý sản xuất người Việt Nam cũng bị cho nghỉ
Tháng 7-2007, phía Việt Nam gửi thư khuyến cáo cho phía ông S, nêu
rõ không thể hợp tác tiếp và sẽ kiện ra tòa để giải quyết việc liên doanh Một tháng sau, thấy phía ông S không phản đối gì, phía Việt Nam đã nộp đơn đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương