Ngoài ra, đến thời điểm hiện tại cũng có rất nhiều các bài báo, tạp chí, bài nghiên cứu khoa học về đề tài hợp đồng mua bán hàng hóa như bài viết “Vận dụng bất khả kháng để miễm trách n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ NHUNG
MỘT SỐ SAI SÓT TRONG QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO
VÀ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: TS Đồng Ngọc Ba
HÀ NỘI – 2016
Trang 2Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
TS Đồng Ngọc Ba – người hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn của mình
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật Kinh tế
và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của TS Đồng Ngọc Ba, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ Do trình độ nghiên cứu và thời gian có hạn, luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận được sự góp ý và chỉ dẫn của quý thầy cô
Cuối cùng xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2016
Tác giả
Trần Thị Nhung
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Đồng Ngọc Ba Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực Các số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài
ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất
cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2016
Tác giả
Trần Thị Nhung
Trang 4Chương 1 : KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 7
1.1 Khái quát về hoạt động mua bán hàng hóa 7
1.2 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 9
1.3 Điều kiện có hiệu lực hợp đồng mua bán hàng hóa 16
1.3.1 Người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự 17
1.3.2 Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. 18
1.3.3 Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. 18
1.3.4 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định 19
1.4 Những điểm tiến bộ của Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng 22
1.4.1 Quy định về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân 23
1.4.2 Quy định về hình thức giao dịch dân sự - điều kiện có hiệu lực của giao dịch 23
1.4.3 Quy định về thời hiệu khởi kiện hợp đồng 25
1.4.4 Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung thêm quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. 26
Chương 2THỰC TRẠNG MỘT SỐ SAI SÓT TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 28
2.1 Vi phạm điều kiện về chủ thể của hợp đồng 28
Trang 5không đáp ứng điều kiện thương nhân 29
2.1.2Bên bán không có quyền bán hàng hóa 30
2.1.3Bên bán không đủ điều kiện kinh doanh ngành nghề có điều kiện 30
2.1.4 Chi nhánh của doanh nghiệp không được doanh nghiệp ủy quyền để ký hợp đồng mua bán hàng hóa 29
2.1.5 Vi phạm quy định lấy sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên công ty 32
2.2 Người ký hợp đồng không có thẩm quyền hoặc vượt quá phạm vi ủy quyền 34
2.3 Không thỏa thuận rõ về quy cách, chất lượng của hàng hóa 41
2.4 Giá cả hàng hóa và điều khoản thanh toán không thỏa thuận rõ 42
2.5 Không thỏa thuận cụ thể về sự kiện bất khả kháng 49
2.6 Không thỏa thuận cụ thể về thời điểm chuyển rủi ro 50
2.7 Không thỏa thuận rõ về bảo hành hàng hóa 49
2.8 Không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không đúng về phạt hợp đồng 54
2.9 Không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không đúng về phạt hợp đồng 51
Chương 3 : NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÒNG NGỪA, HẠN CHẾ MỘT SỐ SAI SÓT TRONG QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO VA KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 56
3.1 Nguyên nhân một số sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hành hóa … 52
3.1.1 Chủ thể tham gia hợp đồng có hiểu biết pháp luật về mua bán hàng hóa còn hạn chế………… 52
3.1.2 Chủ thể tham gia hợp đồng sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý còn hạn chế………53
3.1.3 Dịch vụ tra cứu thông tin doanh nghiệp còn hạn chế………54
3.2 Một số giải pháp phòng ngừa, hạn chế một sô sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa ……… 55
Trang 63.2.2 Tìm hiểu về hàng hóa trước khi hợp tác 62
3.2.3 Soạn thảo hợp đồng chặt chẽ, cụ thể, đảm bảo quyền lợi của cả hai bên 63
3.2.4 Ký kết hợp đồng mua bán háng hóa ……….………70 3.2.5 Kiến nghị điều chỉnh quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam ……… 72 3.2.6 Sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý ………79
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện tích cực cơ chế hội kinh tế, quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển của nền kinh tế, cùng với đó hoạt động mua bán hàng hóa ở Việt Nam cũng được đẩy mạnh và đóng góp vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế đất nước Hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động rất phổ biến và đóng góp thị phần lớn trong nền kinh tế quốc dân
Tuy nhiên do đặc thù hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận, luôn gắn liền với sự biến động của thị trường, nhu cầu cũng như thị hiếu của khách hàng, vì vậy hoạt động mua bán hàng hóa cũng chứa đựng nhiều rủi ro cho các bên tham gia giao dịch mua bán hàng hóa Hơn nữa, ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại thực trạng là sự hiểu biết pháp luật, tôn trọng pháp luật của người dân còn ở mức thấp Vì vậy tình trạng hợp đồng mua bán hàng hóa còn nhiều sai sót, nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa bị vô hiệu, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên khi tham gia giao dịch
Quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình tiền
đề để đưa ra hợp đồng mua bán hang hóa – là căn cứ pháp lý để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ sau khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Những sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hang hóa không chỉ gây nhiều thiệt hại cho các bên tham gia hoạt động mua bán mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế Việc nghiên cứu những sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa và tìm ra những giải pháp hạn chế những sai sót phát sinh trong hợp đồng hàng hóa ở
Trang 8Việt Nam là rất cần thiết Vì vậy tác giả lựa chọn và phân tích đề tài: “Một số
sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề tài hợp đồng mua bán hàng hóa, cụ thể như:
Trước hết, có nhiều giáo trình, bài giảng của các trường đại học đào tạo
chuyên ngành Luật có viết về nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa như:
“Giáo trình Luật thương mại Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội do
Nguyễn Viết Tý chủ biên, Nxb Công an Nhân dân phát hành năm 2001; “Giáo
trình Luật thương mại 2” do Bùi Ngọc Cường (chủ biên); Đồng Ngọc Ba; Lê
Đình Vinh; Đoàn Trung Kiên biên soạn; Nxb Giáo dục phát hành năm 2008;
“Giáo trình Luật thương mại tập 2” của Trường Đại học Luật Hà Nội do
Nguyễn Viết Tý chủ biên, Nxb Công an Nhân dân phát hành năm 2014… Các tài liệu trên đã nghiên cứu và đưa ra một cách có hệ thống, khoa học cơ sở lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa như: khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa, chủ thể tham gia hợp đồng, nội dung của hợp đồng mua bán hang hóa….đồng thời các tài liệu trên còn đưa ra quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa Trên cơ sở đó, các giáo trình trên cung cấp cho người đọc cơ sở lý luận và những kiến thức cơ bản nhất
về hợp đồng mua bán hàng hóa
Các luận án, luận văn viết về đề tài hợp đồng mua bán hàng hóa gồm: luận
văn thạc sĩ luật học “Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước
ngoài, những vấn đề ký kết và thực hiện”của Đào Ngọc Lý ; PGS PTS Hoàng
Ngọc Thiết hướng dẫn năm 1997; Luận văn thạc sỹ Luật học “Ký kết thực hiện
hợp đồng mua bán hàng hoá ngoại thương và thực tiễn ở Việt Nam” của
Nguyễn Ngọc Lâm; PGS PTS Nguyễn Thị Mơ hướng dẫn; luận văn thạc sĩ
luật học “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hoá ở Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”của Phạm Lê Vân Hà; TS Nguyễn
Trang 9Am Hiểu hướng dẫn năm 2002; luận văn thạc sĩ luật học“Hợp đồng mua bán
hàng hoá theo pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm của cộng hoà Pháp”của
Nguyễn Tuấn Mạnh; Người hướng dẫn: PGS TS.Trần Đình Hảo, GS Jasmin
Schmeidler năm 2004; luận văn thạc sĩ luật học“Hợp đồng mua bán hàng hóa
theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Đinh Thị Thanh Huyền, người hướng
dẫn: PGS.TS Nguyễn Như Phát năm 2007 Nhìn chung, những công trình nghiên cứu này đã tiếp cận nhiều góc độ khác nhau về hợp đồng mua bán hàng hóa như thực trạng pháp luật về mua bán hàng hóa, nguồn luật điều chỉnh, xử lý
vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa, kinh nghiệm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa của nước ngoài… Tuy nhiên nội dung liên quan đến sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa, giải pháp hạn chế sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa chưa được đề cập một cách có hệ thống
Ngoài ra, đến thời điểm hiện tại cũng có rất nhiều các bài báo, tạp chí, bài
nghiên cứu khoa học về đề tài hợp đồng mua bán hàng hóa như bài viết “Vận
dụng bất khả kháng để miễm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá Quốc tế” của tác giả Hoàng Ngọc Thiết, in trên tạp chí Luật Học số 6 năm
1998;bài viết “Quan điểm xử lý khi nghiên cứu, giải quyết loại án tranh chấp
hợp đồng mua bán hàng hoá do lỗi của bên bán” của tác giả Lê Song Lê in trên
tạp chí Viện Kiểm sát nhân dân số 05/2009; bài viết“Mua bán hàng hóa, lập
hợp đồng loại nào?”của Luật sư Lê Văn Đài bài viết đăng trên báo điện tử của
Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đăng ngày 07/06/2016;
đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Pháp luật về mua bán hàng hoá quốc
tế của Việt Nam - Sự phát triển và hoàn thiện trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế” của trường Đại học Luật Hà Nội do Nông Quốc Bình chủ nhiệm đề
tài…Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu về những nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa, quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa còn nội dung cụ thể về những sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về nội dung này
Trang 10Chính vì vậy, việc tìm hiểu về những sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp là cần thiết và không trùng lặp với bất
kỳ công trình nghiên cứu nào đã thực hiện trước đây
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về một số sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, một số giải pháp để hạn chế xảy ra sai sót trong quá trình soạn thảo, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa Quá trình soạn thảo và giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình rất quan trọng và kết thúc quá trình này, các bên đưa ra sản phẩm là hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa là căn cứ pháp lý để các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo cam kết, là căn cứ để giải quyết nếu các bên xảy ra tranh chấp Vì vậy nếu hợp đồng mua bán hàng hóa bị sai sót như: bị vô hiệu,chứa đựng rủi ro, quy định không đúng với quy định của pháp luật hiện hành thì quyền lợi của các bên tham gia giao dịch sẽ bị ảnh hưởng Vì vậy, Luận văn nghiên cứu về sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa – là giai đoạn tiền đề và rất quan trọng cho các bên khi hợp tác kinh doanh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa – một trong số rất nhiều loại hợp đồng thương mại ở Việt Nam, đây là dạng hợp đồng thường gặp
ở Việt Nam hiện nay
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ hợp đồng mua bán hàng hóa hiện nay được chia thành hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, căn cứ vào hình thức giao dịch thì mua bán hàng hóa được chia thành hai hình thức: mua bán hàng hóa trực tiếp và mua bán hàng hóa thông qua sở giao dịch Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu về một số sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa trực tiếp trên phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 11Luận văn nghiên cứu về một số sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa
ở Việt Nam, việc áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa trên thực tế ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế một số sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu về các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam, một số sai sót mà các chủ thể tham gia giao dịch có thể gặp phải trong quá trình soạn thảo, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, một số giải pháp để hạn chế một số sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa Bởi quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình tiền đề cơ bản để đưa ra bản hợp đồng mua bán hàng hóa cho các bên thực hiện Vì vậy nếu phát hiện và đưa ra được các giải pháp hạn chế sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa thì các bên sẽ có được một bản hợp đồng mua bán hàng hóa hoàn chỉnh để thực hiện Tác giả nghiên cứu đề tài luận văn này với mong muốn tìm ra được giải pháp tổng thể để góp phần hỗ trợ các chủ thể tham gia giao dịch có thể ứng dụng để hạn chế một số sai sót có thể gặp phải khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đảm bảo sự công bằng về quyền lợi hợp pháp cho các bên
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn được triển khai xoay quanh các câu hỏi sau:
- Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về hợp đồng mua bán hàng hóa?
- Những điểm mới của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa?
- Những sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa là những sai sót nào?
Trang 12- Giải pháp nào để hạn chế những sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa?
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về xây dựng nhà nước và pháp luật; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế trong nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; những thành tựu khoa học: triết học, xã hội học, luật học Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác -Lênin, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, so sánh pháp luật, dự báo để nghiên cứu thực tiễn, từ đó rút
ra kết luận cần thiết, đưa ra những đánh giá và những luận chứng về những rủi
ro, nguyên nhân và những giải pháp hạn chế những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa ở Việt Nam
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
8 Bố cục (các chương) của luận văn
Nội dung của luận văn gồm các chương sau:
Chương 1: Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 13Chương 2: Thực trạng sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 3: Những giải pháp khắc phục một số sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 14Điều3LuậtThươngmạinăm2005quy định:“Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”
Điều 46 Luật thương mại năm 1997 định nghĩa về hoạt động mua bán
hàng hóa như sau: “Mua bán hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người
bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua và nhận tiền; người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thoả thuận của hai bên”
Như vậy hoạt động mua bán hàng hóa được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 cơ bản giống như định nghĩa về hoạt động mua bán hàng hóa trong Luật thương mại năm 1997, bổ sung thêm quyền “nhận quyền sở hữu hàng hoá” cho bên mua Theo đó mua bán hàng hóa bao gồm hai hoạt động là: bán hàng hóa và mua hàng hóa Trong đó bên bán phải chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, giao hàng hóa cho bên mua còn bên mua phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận quyền sở hữu hàng hóa
Khái niệm mua bán hàng hóa được định nghĩa trong Luật thương mại năm
2005 hợp lý, đầy đủ, thể hiện được nội dung, bản chất của hoạt động mua bán hàng hóa
Hoạt động mua bán hàng hóa là một trong số các hành vi thương mại, mang bản chất thương mại rõ rệt nhất Hoạt động mua bán hàng hóa rất đa
Trang 15dạng, việc phân loại hoạt động mua bán hàng hóa được phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau, như:
Dựa vào phạm vi lãnh thổ hoạt động mua bán hàng hóa được thực hiện, hoạt đông mua bán hàng hóa được phân thành hai loại là mua bán hàng hóa quốc tế và mua bán hàng hóa trong nước
Dựa vào phương thức thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa thì mua bán hàng hóa được phân thành hai loại là mua bán hàng hóa trực tiếp và mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
1.2 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1 Khái niệm
Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa không được định nghĩa trong Luật thương mại năm 2005 mà chỉ có khái niệm hợp đồng được quy định tại điều
388 Bộ luật dân sự năm 2005: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Như vậy ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, bên bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu có bên mua, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa tùy theo sự thỏa thuận của các bên tuy nhiên sự thỏa thuận này không được trái quy định pháp luật
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.2.1 Chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa
Chủ thể của hoạt động mua bán hàng hóa là những cá nhân, pháp nhân tham gia vào quá trình đàm phán, thỏa thuận giao kết hợp đồng và thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa
Theo quy định của Luật thương mại năm 2005 hoạt động mua bán hàng hóa được thực hiện bởi các chủ thể được quy định như: (i) Thương nhân hoạt
Trang 16động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật Thương mại (2005); (ii) Tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại
i Chủ thể giao dịch là thương nhân
Theo điều 6 Luật thương mại năm 2005 thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam thương nhân có thể là cá nhân hoặc là
tổ chức kinh tế thỏa mãn các điều kiện sau: Hoạt động thương mại một cách độc lập; hoạt động thương mại thường xuyên và có đăng ký kinh doanh
Khác với pháp luật của nhiều nước trên thế giới như: Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ, Cộng hòa liên bang Đức, Cộng Hòa Pháp, nhìn nhận “Thương nhân là người
thực hiện hành vi thương mại thường xuyên như một nghề nghiệp” (Xem điều
L121 – 1 của Bộ luật thương mại Công Hòa Pháp),pháp luật Việt Nam không đi theo hướng thừa nhận cả những thương nhân thực tế (không có đăng ký) mà Việt Nam chỉ thừa nhận những các cá nhân, tổ chức kinh tế phải có đăng ký kinh doanh mới được coi là thương nhân Việc không công nhận thương nhân thực tế là hợp
lý, tuy nhiên chính việc không công nhận thương nhân thực tế dẫn đến tình trạng không kiểm soát được một lực lượng lớn các đối tượng vẫn tiến hành hoạt động thương mại nhưng không có đăng ký kinh doanh
Chủ thể hoạt động mua bán hàng hóa là thương nhân, bao gồm: Công ty
cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh; công ty nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác
xã, hộ kinh doanh cá thể và cá nhân có đăng ký kinh doanh
ii Chủ thể của giao dịch là những người liên quan
Bên cạnh một bên chủ thể của giao dịch phải là thương nhân tham gia hoạt động mua bán hàng hóa, các bên khác có thể là thương nhân hoặc là người liên quan Hoạt động mua bán hàng hóa có thể được thực hiện giữa thương nhân với
Trang 17thương nhân hoặc thương nhân với người có liên quan, chỉ cần có ít nhất một bên trong giao dịch mua bán hàng hóa là thương nhân
Những người có liên quan bao gồm: cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan Nhà nước… những chủ thể không phải là thương nhân Những người có liên quan
có thể là bên mua hoặc bên bán Những người có liên quan có thể thực hiện hoạt động nhằm mục đích sinh lời hoặc không nhằm mục đích sinh lời Những người liên quan muốn trở thành chủ thể của một bên giao dịch mua bán hàng hóa thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
1.2.2.2 Hàng hóa – đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa
Hàng hóa là một trong những khái niệm quan trọng trong hoạt động thương mại nói chung trong hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng
Theo khoản 3 Điều 5 của Luật thương mại năm 1997 quy định hàng hóa
như sau: “Hàng hoá gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,
hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng
để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán”
Như vậy Luật thương mại năm 1997 định nghĩa về hàng hóa theo cách liệt
kê những đối tượng được coi là hàng hóa Định nghĩa theo cách thức liệt kê như trên chưa mang tính khái quát và đầy đủ Khắc phục điều này, Điều 3 Luật thương mại năm 2005 đã định nghĩa hàng hóa như sau:
“2 Hàng hóa bao gồm:
a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; b) Những vật gắn liền với đất đai”
Như vậy, đối tượng hàng hóa theo quy định của Luật thương mại năm
2005 được mở rộng hơn so với đối tượng hàng hóa theo quy định của Luật thương mại năm 1997 Ngoài những động sản hiện đang có sẵn trên thị trường thì cả những động sản sắp hình thành trong tương lai cũng được coi là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa Mặt khác nhà và các công tŕnh xây
Trang 18dựng cũng đều được xem là hàng hóa Việc mở rộng đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa như vậy góp phần thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa, hoạt động thương mại trong nước phát triển, phù hợp với cơ chế chung phát triển thương mại của thị trường
Khái niệm hàng hóa được quy định trong Luật thương mại năm 2005 cũng tương đồng với pháp luật của các nước trên thế giới, đều thừa nhận tất
cả mọi thứ là động sản đều là hàng hóa kể cả nhà ở, công trình xây dựng Bộ Luât thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) đưa ra khái niệm hàng hóa như sau:
Hàng hóa là mọi thứ (bao gồm cả những hàng hóa được sản xuất đặc biêt) mà là động sản tại thời điểm tham gia hợp đồng, khác hơn tiền chứng khoán đầu tư và những quyền vô hình Hàng hóa cũng bao gồm súc vật chưa
ra đời và cây trồng và những vật nhận biết khác gắn liền với bất động sản như được mô tả trong phần nói về hàng hóa được tách rời từ bất động sản
Luật thương mại năm 2005 đã quy định về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa rộng hơn so với Luật cũ Tuy nhiên để đảm bảo cho hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra lành mạnh, đảm bảo dưới sự quản lý chặt chẽ của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đảm bảo phù hợp với đạo đức, văn hóa của dân tộc và phù hợp với đường lối phát triển chung của đất nước trong từng thời
kỳ, Luật thương mại và các văn bản có liên quan đã quy định cụ thể các đối tượng bị cấm mua bán; danh mục hàng hóa hạn chế kinh doanh và danh mục các hàng hóa kinh doanh có điều kiện
Các mặt hàng nhà nước cấm kinh doanh được quy định rất cụ thể trong phụ lục I của Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ quy định quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện và được bổ sung trong Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 sửa đổi,
bổ sung danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định số
Trang 1959/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ quy định quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện Theo đó, có 19 mặt hàng cấm kinh doanh nói chung, cấm được trao đổi mua bán nói riêng, ví dụ như: ma túy, vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an; quân trang (bao gồm cả phù hiệu, cấp hiệu, quân hiệu của quân đội, công an), quân dụng cho lực lượng vũ trang; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật
tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng; các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục thẩm
mỹ, nhân cách; các loại pháo; thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu……
Ngoài việc quy định các mặt hàng cấm kinh doanh, pháp luật còn quy định một số mặt hàng kinh doanh có điều kiện Các mặt hàng nhà nước hạn chế kinh doanh được quy định rất cụ thể trong phụ lục II của Nghị định số 59/2006/NĐ-
CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh
có điều kiện Theo đó các mặt hàng hạn chế kinh doanh bao gồm có 7 mặt hàng: súng săn và đạn súng săn, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ; hàng hóa có chứa chất phóng xạ, thiết bị phát bức xạ hoặc nguồn phóng xạ; hóa chất bảng 2
và bảng 3 (theo Công ước quốc tế); thực vật, động vật hoang dã quý hiếm (bao gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến); thuốc lá điếu, xì
gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác; rượu các loại
Tại phụ lục III của Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm
2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện cũng quy định
về các hàng hóa kinh doanh có điều kiện Theo đó, các chủ thể chỉ được kinh doanh khi đảm bảo các điều kiện pháp luật các mặt hàng sau: xăng, dầu các loại, khí đốt các loại; các thuốc dùng cho người, thực phẩm thuộc Danh mục thực phẩm có nguy cơ cao; thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật; nguyên liệu sản
Trang 20xuất thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; phim, băng, đĩa hình; nguyên liệu thuốc lá
Như vậy đối tượng được phép trao đổi, mua bán được pháp luật quy định rất cụ thể Các bên chỉ được tiến hành mua bán những hàng hóa được tự do lưu thông trên thị trường; đối với những hàng hóa hạn chế kinh doanh thì các bên chỉ được tiến hành mua bán khi có đủ điều kiện được phép kinh doanh theo quy định của pháp luật Các bên không được tiến hành mua bán những hàng hóa mà pháp luật cấm kinh doanh Những hợp đồng mua bán hàng hóa cấm kinh doanh hoặc mua bán những hàng hóa hạn chế kinh doanh mà không đủ điều kiện được phép kinh doanh theo quy định của pháp luật thì đều bị vô hiệu và bên vi phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình theo quy định của pháp luật
1.2.2.3 Mục đích thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Các chủ thể thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân nên mục đích chủ yếu khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa là để kinh doanh thu lợi nhuận
Trường hợp một bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa không nhằm mục đích sinh lợi thì họ thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm mục đích tiêu dùng hoặc các mục đích khác tùy theo nhu cầu của họ
1.2.2.4 Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa
Mặc dù cả Luật Thương mại năm 2005 và Bộ Luật dân sự năm 2005 đều quy định hình thức hợp đồng mua bán có thể được thể hiện dưới các hình thức như: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động kinh doanh thương mại, do đối tượng của hợp đồng thường là những hàng hóa có số lượng, giá trị lớn Vì vậy để đảm bảo lợi ích giữa các bên sau khi giao kết, tránh xảy ra tranh chấp thì hình thức hợp đồng bằng văn bản được sử dụng là chủ yếu Mặt khác, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa thường là thương nhân, có kinh doanh thương mại
Trang 21thường xuyên và lâu dài nên để đảm bảo an toàn nhất cho hoạt động kinh doanh của họ thì họ chọn hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa là bằng văn bản Bên cạnh đó, trong một số trường hợp do đối tượng của hợp đồng mua bán
có yêu cẩu phải làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu, chiếm hữu, định đoạt của chủ sở hữu thì các bên cần tiến hành thủ tục như công chứng khi ký hợp đồng mua bán, làm thủ tục sang tên chuyển nhượng cho chủ sở hữu mới theo quy định của pháp luật, ví dụ như trong trường hợp mua nhà, mua xe ô tô…
1.2.2.5 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 là nội dung thỏa thuận trong quan hệ mua bán, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng
Các điều khoản cơ bản: là những điều khoản không thể thiếu trong hợp đồng mua bán hàng hóa, nếu thiếu một trong các điều khoản này thì không thể hình thành được hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa của bên bán cho bên mua, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán Vì vậy hợp đồng mua bán hàng hóa không thể thiếu các điều khoản sau: chủ thể của hợp đồng, đối tượng của hợp đồng, giá cả hàng hóa, phương thức thanh toán, thời gian thanh toán
Các điều khoản thông thường: là những điều khoản được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Mặc dù các điều khoản này không được thỏa thuận và quy định trong hợp đồng song các bên khi thực hiện hợp đồng mặc nhiên đã biết, phải tuân thủ nghiêm túc như pháp luật quy định Điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng Do pháp luật đã quy định cụ thể những điều khoản này nên các bên có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận về các nội dung này Vì vậy, nếu có tranh chấp về những nội dung này thì quy định của pháp luật sẽ là căn cứ để xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
Trang 22Các điều khoản tùy nghi: là những điều khoản được đưa vào hợp đồng theo sự thỏa thuận của các bên, căn cứ vào khả năng và nhu cầu của các bên để thỏa thuận thêm một số các điều khoản khác cho phù hợp với thực tế Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi mà vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia1
Như vậy để đảm bảo quyền lợi tối đa cho mình, các bên cần phải tìm hiểu, nắm rõ các quy định của Bộ luật dân sự, các quy định của Luật thương mại và các quy định của Luật chuyên ngành (nếu có) Điều này, giúp cho các bên khi thỏa thuận nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa không có những thỏa thuận vi phạm pháp luật, bị vô hiệu Mặt khác, việc nắm vững các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa còn giúp các bên thỏa thuận được những nội dung có lợi cho mình, lường trước được và đưa ra được các thỏa thuận để giải quyết các rủi ro có thể gặp phải trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3 Điều kiện có hiệu lực hợp đồng mua bán hàng hóa và hậu quả pháp lý của hợp đồng mua bán hang hóa bị vô hiệu
Để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực thì hợp đồng đó phải đáp ứng được những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật Luật Thương mại
2005 không có điều khoản nào quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa Do đó, việc xác định các điều kiện sẽ dựa trên các quy định của Bộ Luật Dân Sự 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và các văn bản khác có liên quan để làm căn cứ Điều 122 Bộ Luật Dân Sự 2005 quy định: “ 1.Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
1
Hoàng Thế (Chủ biên): Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Viện Khoa học pháp lý,
Bộ Tư pháp, http://luatsurieng.vn/bo-luat-dan-su khai-quat/noi-dung-cua-hop-dong-dan-su.html
Trang 23b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”
Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
1.3.1 Người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự
Do chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân và hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu dưới dạng văn bản nên trong hợp đồng mua bán hàng hóa thường có cả: chủ thể của hợp đồng và người
ký hợp đồng
Trường hợp thứ nhất: nếu chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự Người ký hợp đồng mua bán hàng hóa phải phải là chính chủ thể của hợp đồng hoặc là người được chủ thể của hợp đồng ủy quyền hợp pháp
Trường hợp thứ hai: nếu chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa là pháp nhân thì chủ thể của hợp đồng mua bán phải có năng lực pháp luật dân sự (đối với pháp nhân); người ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải có năng lực hành vi dân sự và phải là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền hợp pháp của pháp nhân
Pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự khithỏa mãn các điều kiện: được thành lập hợp pháp, phải được phòng đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, phải đang hoạt động; trong trường hợp kinh doanh các mặt hàng có điều kiện thì phải được các cơ quan chức năng có thẩm quyền theo quy định cấp giấy phép đủ điều kiện khi kinh doanh ngành, nghề có điều kiện
Trang 24Cá nhân có năng lực hành vi dân sự khi thỏa mãn các điều kiện: có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình; đủ 18 tuổi trở lên, không bị mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi; không bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành
1.3.3 Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
Hợp đồng là sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên Vì vậy quy định người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện là điều kiện bắt buộc hợp đồng
có hiệu lực là quy định rất quan trọng và cần thiết Những hợp đồng không xuất phát từ ý chí tự nguyện của một hoặc các bên tham gia giao dịch thì hợp đồng này vô hiệu, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Điều 132 Bộ luật dân sự quy định những giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa thì bên tham gia giao dịch do bị lừa dối, đe dọa có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 251.3.4 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định
Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, hành vi hoặc bằng văn bản Tuy nhiên trong một số trường hợp, hợp đồng mua bán phải thể hiện dưới hình thức văn bản như hợp đồng mua bán điện, hợp đồng mua bán nhà chung cư, hợp đồng mua bán ô tô….Ngoài việc hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa phải được thể hiện dưới dạng văn bản thì các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa còn phải làm thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc sang tên, chuyển quyền sở hữu từ bên bán cho bên mua Ví dụ như quy định của pháp luật về giao dịch nhà ở, nhà chung cư tại thông tư số 03/2014/TT-BXD về việc Sửa đổi, bổ sung Điều 21 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01 tháng 9 năm 2010 của Bộ Xây dựng quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở quy định về hình thức của hợp đồng mua bán nhà ở, nhà chung cư như sau:
Điều 1 Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 21 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD như sau:
1 Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1 Các giao dịch về nhà ở phải được lập thành văn bản (gọi chung là hợp đồng về nhà ở) có các nội dung quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở, Bộ Luật dân sự, Điều 63 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP, tuân thủ các hợp đồng mẫu
và nội dung của hợp đồng về nhà ở quy định tại các phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này
Đối với hợp đồng mua bán nhà ở của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản thì các bên phải lập thành bốn bản, một bản người mua lưu giữ, ba bản còn lại để chủ đầu tư làm thủ tục nộp thuế, lệ phí trước bạ, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
Trang 26đất (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận) cho người mua và để lưu giữ; hợp đồng mua bán nhà ở này có giá trị pháp lý để xác định các quyền và nghĩa vụ của bên mua nhà ở trong suốt quá trình quản lý, sử dụng nhà ở đã mua, kể cả trường hợp bên mua nhà ở đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận"
2 Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
"2 Đối với hợp đồng mua bán căn hộ chung cư thương mại ký với chủ đầu
tư thì ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, các bên còn phải ghi
rõ thêm các nội dung sau đây: phần diện tích thuộc sở hữu, sử dụng chung, phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư; diện tích sàn xây dựng căn hộ; diện tích sử dụng căn hộ (diện tích thông thủy) để tính tiền mua bán căn hộ; khoản kinh phí bảo trì 2% tiền bán nhà ở; mức phí và nguyên tắc điều chỉnh mức phí quản lý vận hành nhà chung cư trong thời gian chưa thành lập Ban quản trị nhà chung cư Kèm theo hợp đồng mua bán căn hộ chung cư là Bản nội quy quản lý sử dụng nhà chung cư do chủ đầu tư ban hành, bản vẽ thiết kế mặt bằng căn hộ, mặt bằng tầng có căn hộ và mặt bằng nhà chung cư có căn hộ mua bán đã được phê duyệt
Trên đây là các điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực theo quy định của pháp luật mà các bên khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải tuân thủ nghiêm túc Nếu vi phạm các điều kiện có hiệu lực trên thì hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ bị vô hiệu Pháp luật Việt Nam quy định hợp đồng
vô hiệu theo hai dạng là hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là hợp đồng sẽ bị vô hiệu ngay lập tức nếu các bên vi phạm Một giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt đối trong các trường hợp sau: khi vi phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức của xã hội; khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác; khi hình thức của giao dịch không tuân thủ theo các quy định bắt buộc của pháp luật; khi giao dịch của pháp nhân xác lập vượt ra ngoài lĩnh vực hoạt
Trang 27động được cho phép, đăng ký; khi giao dịch được xác lập bởi người không có năng lực hành vi dân sự (người tham gia giao dịch chưa đủ 6 tuổi); người mất năng lực hành vi dân sự
Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tương đối trong các trường hợp: Khi giao dịch được xác lập bởi người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi cho đến chưa đủ
18 tuổi (có năng lực hành vi dân sự một phần); khi giao dịch được xác lập bởi người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; khi giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn; khi một bên chủ thể tham gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe doạ ; khi người xác lập giao dịch không nhận thức được hành vi của mình
Hậu quả pháp lý do giao dịch bị vô hiệu được quy định cụ thể tại Điều 137
Bộ luật dân sự năm 2005:
1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập
2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường
Tuỳ theo từng trường hợp vi phạm cụ thể mà Toà án có thể buộc các bên gánh chịu hậu quả theo các phương thức khác nhau Việc áp dụng phương thức nào tùy thuộc vào nguyên nhân làm cho hợp đồng vô hiệu; trách nhiệm của các bên tham giao giao dịch làm cho hợp đồng vô hiệu, cụ thể như sau:
Phương thức thứ nhất: Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu không do lỗi
của bên nào, ví dụ: hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức thì áp dụng phương pháp hoàn trả song phương, theo đó thì các bên đều phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được từ bên kia;
Phương thức thứ hai: Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu do lỗi của một
bên, bên kia không có lỗi, ví dụ: hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, cưỡng ép thì
áp dụng phương thức hoàn trả đơn phương, theo đó thì một bên được hoàn trả
Trang 28lại tài sản giao dịch, còn tài sản giao dịch thuộc bên kia (bên vi phạm) thì bị tịch thu sung công quỹ
Phương thức thứ ba:Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu do lỗi của tất cả
các bên thì áp dụng phương thức tịch thu toàn bộ, theo đó, mọi tài sản giao dịch của cả hai bên vi phạm đều bị tịch thu sung công quỹ
Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì Toà án chỉ áp dụng một trong số hai phương thức: hoặc hoàn trả song phương hoặc hoàn trả đơn phương Phương thức hoàn trả song phương thường được áp dụng đối với các trường hợp giao dịch vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; do
bị nhầm lẫn; do người xác lập không nhận thức được hành vi của mình, còn phương thức hoàn trả đơn phương thì thường được áp dụng đối với giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ
Đối với giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối thì tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà Toà án có thể áp dụng một trong cả ba phương thức nêu trên (hoặc hoàn trả song phương, hoặc hoàn trả đơn phương cho một bên và tịch thu đối với bên kia, hoặc tịch thu toàn bộ đối với cả hai bên)
Tóm lại, xét riêng phương thức tịch thu toàn bộ thì nhận thấy rằng phương thức này chỉ được áp dụng cho một số trường hợp vô hiệu tuyệt đối, chứ hoàn toàn không được áp dụng cho các trường hợp vô hiệu tương đối2
1.4 Những điểm tiến bộ của Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng
Bộ luật dân sự năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 Bộ luật dân sự là Bộ luật gốc, là nguồn quan trọng của các văn bản pháp luật nói chung, Luật thương mại nói riêng Luật thương mại dành riêng chương II để quy định về mua bán hàng hóa Tuy nhiên có
2
TS Bùi Đăng Hiếu (2001): Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối, Đại học
https://thongtinphapluatdansu.com/2008/06/27/2766880/
Trang 29nhiều quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa không được quy định cụ thể trong Luật thương mại mà phải dẫn chiếu áp dụng quy định của Bộ luật dân sự
Vì vậy những quy định mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng rất quan trọng trong việc vận dụng quy định pháp luật về mua bán hàng hóa Bộ luật dân sự năm 2015 đã kế thừa những điểm tiến bộ của Bộ luật dân sự năm 2005 và có một số nội dung điều chỉnh, sửa đổi quy định về hợp đồng nói chung, hợp đồng mua bán nói riêng, cụ thể như sau:
1.4.1 Quy định về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
Điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 so với Bộ luật dân sự năm 2005 liên quan đến hợp đồng là quy định về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
Tại khoản 2 Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể: “Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện
có quyền đại diện cho pháp nhân”
Như vậy mỗi pháp nhân có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Số lượng, chức danh, thẩm quyền cụ thể người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định cụ thể tại Điều lệ của pháp nhân, do pháp luật quy định hoặc theo quyết định của Tòa án trong quá trình tố tụng
Quy định mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có ý nghĩa rất quan trọng:
Đối với doanh nghiệp:
Đây là một quy định mang tính đột phá cho phép doanh nghiệp toàn quyền quyết định số lượng người đại diện theo pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể hội nhập nhanh hơn, tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật
Quy định này cho phép pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật, gỡ rối cho pháp nhân khi chỉ có một người đại diện theo pháp luật Bởi lẽ nếu pháp nhân chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì có thể không
Trang 30thể giải quyết được hết tất cả các công việc của pháp nhân Nếu như trước đây, pháp nhân chỉ có một người đại diện theo pháp luật, người này phải giải quyết tất cả các công việc của pháp nhân, kể cả công việc họ không chuyên sâu Theo quy định hiện nay, pháp nhân có thể có nhiều người đại diện, mỗi người phụ trách một lĩnh vực nhất định thì sẽ nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết công việc hơn, hạn chế được nhiều rủi ro cho pháp nhân
Mặt khác, nếu pháp nhân chỉ có một người đại diện thì người này sẽ giải quyết và ký tất cả các văn bản, giấy tờ của pháp nhân Các giấy tờ này chỉ có hiệu lực, có giá trị pháp lý khi có chữ ký của người đại diện của pháp nhân Vì vậy thẩm quyền của người đại diện của pháp nhân là rất lớn, có vai trò rất quan trọng Quy định pháp nhân có nhiều người đại diện theo pháp luật sẽ hạn chế được sự lạm quyền của người đại diện3
Đối với hệ thống pháp luật:
Luật doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực từ ngày tại khoản 2 Điều 13 đã quy định công ty TNHH hoặc công ty cổ phần có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật
Vì vậy quy định mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đã tạo ra sự thống nhất, đồng bộ khi quy định về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, đảm bảo được vai trò là nguồn luật của
3
Nguyễn Thị Tình (2014): “Một số ý kiến về quy định “người đại diện theo pháp luật” và “con dấu” trong dự thảo doanh nghiệp”, Trường Đại học Thương mại, dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/886/Một-số-ý-kiến-về-quy-định-
“người-đại-diện-theo-pháp-luật”-và-“con-dấu”-trong-Dự-thảo-Luật-Doanh-nghiệp.aspx
Trang 31tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong thời hạn nhất định, nếu các bên không thực hiện quy định về hình thức của hợp đồng thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu
So với Bộ luật dân sự năm 2005 khi quy định về điều kiện hình thức của hợp đồng, Bộ luật dân sự năm 2015 giới hạn hợp đồng chỉ bị vô hiệu về hình thức trong một số trường hợp nhất định, không phải trong mọi trường hợp như
Bộ luật dân sự năm 2005
Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định hợp đồng vi phạm hình thức nhưng không bị vô hiệu trong trường hợp hợp đồng được xác lập theo quy định bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định hoặc hợp đồng được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực nhưng đã được một hoặc các bên thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch
Quy định mới này của Bộ luật dân sự năm 2015 là quy định rất tiến bộ, hợp lý Quy định này góp phần tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham gia giao dịch, tôn trọng sự thỏa thuận của các bên khi tham gia giao dịch
Mặt khác, quy định này cũng hạn được tình trạng một hoặc các bên lạm dụng sơ hở do vi phạm quy định về hình thức để yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố giao dịch vô hiệu
1.4.3 Quy định về thời hiệu khởi kiện hợp đồng
Theo quy định của tại Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện hợp đồng là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm
Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện hợp đồng là ba năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm
Như vậy, so với thời hiệu khởi kiện hợp đồng được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện hợp đồng được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 dài hơn một năm
Trang 32Việc kéo dài thời hiệu khởi kiện này sẽ giúp đảm bảo được quyền lợi tối
đa cho các bên khi tham gia giao dịch, hạn chế được nhiều trường hợp Tòa án không giải quyết vụ việc dân sự do quá thời hiệu khởi kiện
1.4.4 Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung thêm quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Khoản 1 Điều 420 Bộ luật dân sự quy định về các điều kiện để được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, theo đó phải thỏa mãn tất cả năm điều kiện gồm:
a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được
về sự thay đổi hoàn cảnh;
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích
Trong trường hợp này, bên bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán sửa đổi hợp đồng trong thời gian hợp lý
Trong trường hợp các bên không thể thỏa thuận để sửa đổi hợp đồng thì một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi lại hợp đồng cho hợp lý
Đồng thời Bộ luật dân sự năm 2015 cũng ấn định cụ thể Tòa án chỉ có quyền quyết định chấm dứt hợp đồng nếu việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi
Trang 33Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung thêm quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản nhằm mục đích ổn định giao dịch dân sự, bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham gia giao dịch4
Trên đây là những quy định mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng Những quy định này quy định chi tiết, cụ thể, hợp lý đảm bảo được quyền lợi của các bên khi tham gia giao dịch, đồng thời góp phần tạo ra sự thống nhất, đồng bộ khi quy định về hợp đồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia giao dịch
4
Phạm Thị Hồng Thúy (2015) : Những nội dung mới cơ bản của Bộ luật dân sự năm 2015, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng,
http://vienkiemsathaiphong.gov.vn/nghien-cuu-phap-luat-l16/nhung-noi-dung-moi-co-ban-cua-bo-luat-dan-su-nam-2015-phan-2-n1530.htm
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG MỘT SỐ SAI SÓT TRONG QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO VÀ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Cùng với sự phát triển của các hoạt động kinh tế của đất nước, hoạt động mua bán hàng hóa cũng ngày càng phát triển và đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế đất nước Số lượng các thương nhân, doanh nghiệp, các giao dịch nói chung, các giao dịch mua bán hàng hóa nói riêng ngày càng nhiều, hoạt động của họ cũng ngày càng chuyên nghiệp Với vai trò là hình thức của hoạt động mua bán, hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện đầy đủ, rõ ràng là căn
cứ pháp lý quan trọng nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia giao dịch Tuy nhiên, hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau như: trình độ nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế, việc cập nhật quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa còn chưa kịp thời…dẫn đến tình trạng tồn tại nhiều sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa, làm cho hợp đồng vô hiệu hay ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch Dưới đây là một số sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa
2.1 Vi phạm điều kiện về chủ thể của hợp đồng
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Cá nhân gồm có những người kinh doanh tự do, kinh doanh cá thể Pháp nhân bao gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện….Hợp đồng mua bán hàng hóa bắt buộc phải có ít nhất một bên chủ thể của hợp đồng là thương nhân, ký và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm mục đích sinh lời, hoạt động kinh doanh mua bán hàng hóa là hoạt động được tiến hành thường xuyên
Trang 35Tất cả các pháp nhân trên đều có quyền tham gia vào giao dịch mua bán hàng hóa Tuy nhiên, chỉ có tổ chức kinh tế mới có thể trở thành thương nhân khi thỏa mãn các điều kiện về thương nhân Các pháp nhân khác có thể trở thành chủ thể của giao dịch mua bán hàng hóa với tư cách là người có liên quan
Sai sót về chủ thể của hợp đồng thường thể hiện dưới những dạng sau đây:
2.1.1 Chủ thể của hợp đồng không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, không đáp ứng điều kiện thương nhân
Năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân được quy định tại chương III của Bộ luật dân sự; năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được quy định tại Điều 86 của Bộ luật dân sự, quy định về thương nhân được quy định tại Điều 6 Luật thương mại năm 2005
Đối với cá nhân, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự khi cá nhân đó đủ 18 tuổi, không bị mắc các bệnh tâm thần, các bệnh khác làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành
vi, không bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự Đối với pháp nhân, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được hiểu là khi pháp nhân được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó Những hợp đồng có chủ thể là cá nhân không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành
vi dân sự; chủ thể là pháp nhân không có năng lực pháp luật dân sự thì hợp đồng bị vô hiệu
Đối với chủ thể của hợp đồng là thương nhân thì ngoài việc phải đáp ứng điều kiện nêu trên thì còn phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Đây là điều kiện bắt buộc theo quy định của pháp luật đối với thương nhân Khi muốn tiến hành hoạt động thương mại với tư cách thương nhân, các tổ chức kinh tế,
cá nhân phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh tại Phòng đăng ký kinh doanh
Trang 36thuộc Sở kế hoạch và đầu tư nơi đặt trụ sở kinh doanh, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì mới được hoạt động Nếu các tổ chức, cá nhân là thương nhân nhưng không có, hoặc bị thu hổi, bị mất giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đang tạm ngừng kinh doanh, bị đình chỉ kinh doanh do vi phạm thì không được tiến hành hoạt động thương mại, trong đó có hoạt động mua bán hàng hóa hay giao dịch mua bán hàng hóa được xác lập bởi chủ thể đó bị vô hiệu
2.1.2 Bên bán không có quyền bán hàng hóa
Quyền bán hàng hóa của bên bán được quy định rất cụ thể trong Bộ luật dân sự năm 2005 (xem điều 197,198 Bộ luật dân sự năm 2005) Trong các giao dịch hàng hóa nói riêng, đối tượng các bên hướng tới đó là hàng hóa, bên mua phải thanh toán một khoản chi phí cho hàng hóa đó Sẽ rất vô lý nếu bên mua
bỏ tiền ra mua một hàng hóa không thuộc quyền sở hữu bên bán hoặc không được phép bán
Theo quy định tại Điều 195 Bộ luật dân sự quy định chỉ có chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền mới được bán hàng hóa Người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền định đoạt tài sản của người khác trong trường hợp được chủ sở hữu uỷ quyền hoặc trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định (việc trưng mua, trưng thu tài sản theo quyết định của Nhà nước) Việc thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến tài sản đó
Như vậy, trong giao dịch mua bán hàng hóa, bên bán không thuộc một trong hai trường hợp là: chủ sở hữu của hàng hóa hoặc là người được chủ hàng hóa ủy quyền bán thì giao dịch mua bán hàng hóa cũng bị vô hiệu
2.1.3 Bên bán không đủ điều kiện kinh doanh ngành nghề có điều kiện
Tại phụ lục III của Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm
2006 của Chính phủ quy định quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện quy
Trang 37định rất rõ về các mặt hàng kinh doanh có điều kiện Theo đó, các thương nhân muốn kinh doanh các mặt hàng đó cần phải thỏa mãn các điều kiện nhất định, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh (giấy phép con) Vì vậy khi ký hợp đồng mua bán các mặt hàng này nhưng chủ thể hợp đồng không đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật thì hợp đồng mua bán hàng hóa đó cũng bị vô hiệu Ví dụ theo quy định tại Điều
13 Nghị định số 84/2009/NĐ-CP quy định về điều kiện để tổng đại lý kinh doanh xăng dầu gồm các điều kiện: doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký kinh doanh xăng dầu; có kho, bể dung tích tối thiểu năm ngàn mét khối (5.000m3), thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng dài hạn từ năm (05) năm trở lên để bảo đảm cung ứng ổn định cho hệ thống phân phối xăng dầu của mình; có hệ thống phân phối xăng dầu, bao gồm tối thiểu năm (05) cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu và tối thiểu hai mươi (20) đại lý bán lẻ xăng dầu Hệ thống phân phối này phải nằm trong hệ thống phân phối của thương nhân đầu mối và chịu sự kiểm soát của thương nhân đó….Nếu không thỏa mãn các điều kiện trên thì thương nhân không được quyền kinh doanh xăng dầu Vì vậy các hợp đồng mua bán xăng dầu với tổng đại lý này không đáp ứng yêu cầu về chủ thể của hợp đồng
2.1.4 Chi nhánh của doanh nghiệp không được doanh nghiệp ủy quyền để
Trang 38Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, chi nhánh cũng có giấy chứng nhận đăng ký chi nhánh, có người đại diện của chi nhánh, có con dấu của chi nhánh Tuy nhiên người đứng đầu chi nhánh chỉ có thẩm quyền được ký hợp đồng mua bán hàng hóa với đối tác khi được người đại diện doanh nghiệp ủy quyền bằng văn bản tại thời điểm ký hợp đồng Việc ký hợp đồng mua bán hàng hóa với người đứng đầu chi nhánh mà không yêu cầu đối tác xuất trình được giấy
ủy quyền của người đại diện doanh nghiệp cho người đại diện chi nhánh được ký hợp đồng là điều rất rủi ro, hợp đồng bị vô hiệu do không thỏa mãn điều kiện về chủ thể hợp đồng Trên thực tế đây là sai sót rất thường gặp khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam
2.1.5 Vi phạm quy định lấy sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viêncông ty
Đối với doanh nghiệp Đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên là bộ phận thể hiện cho ý kiến và quyền lợi tập thể cho các cổ đông hoặc thành viên của công ty, đối với những giao dịch của công ty tùy từng trường hợp cụ thể phải được sự đồng thuận của Đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên công ty Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định rất cụ thể
về các hợp đồng phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên
Đối với công ty cổ phần:
Điều 162 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định về hợp đồng, giao dịch phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấp thuận như sau:
Những hợp đồng, giao dịch giữa cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ; hợp đồng, giao dịch giữa thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người có liên quan của họ phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị công ty
Trang 39Những hợp đồng, giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính, gần nhất hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty phải được hội đồng quản trị chấp thuận
Những hợp đồng, giao dịch có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều
lệ công ty trở lên phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận Giao dịch, hợp đồng được coi là có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông khi có từ 65% tổng
số phiếu cổ đông có quyền biểu quyết tán thành hoặc theo một tỷ lệ khác được quy định trong Điều lệ công ty
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
Điều 67 Luật doanh nghiệp năm 2014 đã quy định những hợp đồng, giao dịch giữa công ty với thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, Giám đốc hoặc tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty, người có liên quan của những người này; giữa công ty với người quản lý công ty mẹ, người
có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty mẹ, người có liên quan của những người này Hợp đồng, giao dịch được chấp thuận nếu có sự tán thành của số thành viên đại diện ít nhất 65% tổng số vốn có quyền biểu quyết
Công ty TNHH một thành viên
Điều 86 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định hội đồng thành viên, hoặc chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc và kiểm soát viên xem xét chấp thuận những hợp đồng, giao dịch giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu với chủ sở hữu công ty, người có liên quan của chủ sở hữu công ty; giữa công ty với thành viên hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc và kiểm soát viên, người có liên quan của những người này; giữa công ty với người quản lý của chủ sở hữu công ty, người có thẩm quyền bổ nhiệm những người quản lý đó, những người có liên quan của những người này Những hợp đồng, giao dịch được chấp thuận khi có đa số phiếu có quyền biểu quyết đồng ý
Trang 40Như vậy pháp luật doanh nghiệp năm 2014 đã quy định rất rõ những giao dịch, hợp đồng phải được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị hay Hội đồng thành viên công ty Sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông hội đồng quản trị hay hội đồng thành viên được thể hiện ở Biên bản họp, quyết định Trong biên bản, quyết định họp phải thể hiện rõ nội dung họp liên quan đến việc chấp thuận hay không chấp thuận giao dịch mua bán hàng hóa; số lượng thành viên/cổ đông tham dự, chiếm bao nhiêu % số lượng cổ đông/thành viên có quyền biểu quyết, tỷ lệ biểu quyết tán thành ký hợp đồng
Tuy nhiên trên thực tế khi ký hợp đồng mua bán hàng hóa với các đối tác là công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn mà không có văn bản thể hiện rõ được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị hay hội đồng thành viên là rất thường gặp Điều này rất rủi ro, làm cho hợp đồng bị vô hiệu
2.2 Người ký hợp đồng không có thẩm quyền hoặc vượt quá phạm
vi ủy quyền
Chủ thể của giao dịch mua bán hàng hóa có thể là cá nhân có thể là pháp nhân Tuy nhiên hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ được ký kết bởi một con người cụ thể Trong từng trường hợp chủ thể của hợp đồng là cá nhân hay pháp nhân thì người ký kết hợp đồng được quy định khác nhau Những hợp đồng do người ký hợp đồng không có thẩm quyền hoặc vượt quá phạm vi ủy quyền thì hợp đồng đó bị vô hiệu
Về việc ủy quyền cho người khác ký hợp đồng mua bán hàng hóa cũng tương tự như các trường hợp ủy quyền để thực hiện các hành vi nhất định theo quy định của Bộ luật dân sự Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc ủy quyền
ký hợp đồng mua bán hàng hóa phải được lập thành hợp đồng và được công chứng theo quy định của pháp luật Theo khoản 1 Điều 18 của Nghị định số 04/2013/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng quy định như sau:
Việc ủy quyền có thù lao, có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền hoặc để chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải được lập thành