1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tiếp cận và chi trả khám chữa bệnh của bệnh nhi điều trị nội trú tại bệnh viện nhi hải dương năm 2016

98 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại tai nạn thương tích TNTT có thể được phân loại theo nhiều cách, như: Dựa vào lĩnh vực, theo cơ chế gây TNTT, chủ ý của người gây TNTT hoặc người bị TNTT, nguyên nhân gây ra TN

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI BÌNH - 2016

Trang 2

===*****===

NGUYỄN THANH PHÖC

THỰC TRẠNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRẺ DƯỚI 5 TUỔI VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÕNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ TẠI HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM NĂM 2015

THÁI BÌNH - 2016

Trang 3

Sau 2 năm học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình đến nay tôi đã hoàn thành khóa học và hoàn thiện được bản luận văn tốt nghiệp của mình Nhân dịp này, tôi xin chân thành cám ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Thái Bình Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, các phòng chức năng, Khoa Y tế công cộng và các bộ môn liên quan thuộc Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã cung cấp cho tôi những kiến thức chuyên môn cơ bản, các phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập cũng như triển khai đề tài cao học

Tôi xin trân trọng cảm ơn: TS Vũ Minh Hải, PGS.TS Nguyễn Quốc Tiến những người thầy đã tận tình giúp đỡ tôi tích lũy kiến thức và phương pháp tư duy khoa học giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam, UBND và Trạm y tế các xã Thanh Bình, Thanh Phong, Liêm Túc, Thanh Lưu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thu thập số liệu để hoàn thiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã nhiệt tình cộng tác, động viên, giúp đỡ tôi suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện luận văn này

Thái Bình, tháng 6 năm 2016

Nguyễn Thanh Phúc

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc đăng tải trong bất kỳ tài liệu khoa học nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Phúc

Trang 5

ICD 10 International Classification of Diseases, Revision 10

Phân loại bệnh tật quốc tế chỉnh sửa lần thứ 10

TNTT Tai nạn thương tích

Tổ chức Y tế Thế giới YPLL Years of Potential Life Lost

Số năm sống tiềm tàng bị mất

Trang 6

Trang DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Kiến thức chung về tai nạn thương tích 3

1.2 Mô hình dịch tễ học tai nạn thương tích 4

1.3 Phân loại tai nạn thương tích 4

1.4 Các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích 7

1.5 Tình hình nghiên cứu tai nạn thương tích trên Thế giới và Việt Nam 12 1.6 Ảnh hưởng của tai nạn thương tích 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng, địa bàn, thời gian nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.2 Địa bàn nghiên cứu 23

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.2.2 Cỡ mẫu 25

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 26

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu và các biện pháp hạn chế sai số 27

2.2.5 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu 28

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 29

2.2.7 Biện pháp khắc phục sai số 29

2.2.8 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 30

Trang 7

địa bàn nghiên cứu 313.2 Kiến thức, thực hành về phòng tránh tai nạn thương tích của người chăm sóc trẻ 40CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 514.1 Thực trạng tai nạn thương tích của trẻ dưới 5 tuổi tại 4 xã huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam năm 2015 514.2 Kiến thức, thực hành phòng tránh tại nạn thương tích của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi 60KẾT LUẬN 71KIẾN NGHỊ 73TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Đặc điểm số trẻ dưới 5 tuổi trong gia đình của đối tượng nghiên

cứu 31

Bảng 3.2 Đặc điểm chung của trẻ bị tai nạn thương tích 32

Bảng 3.3 Số lần bị tai nạn thương tích trong 1 năm theo giới 33

Bảng 3.4 Phân bố các loại tai nạn thương tích của trẻ theo giới 34

Bảng 3.5 Vị trí trên cơ thể bị tai nạn thương tích 35

Bảng 3.6 Nơi xảy ra tai nạn thương tích 35

Bảng 3.7 Nguyên nhân dẫn đến tai nạn thương tích 36

Bảng 3.8 Người đi cùng, ở bên khi bị tai nạn thương tích 36

Bảng 3.9 Tỷ lệ người tham gia sơ cấp cứu cho nạn nhân 37

Bảng 3.10 Khoảng thời gian từ lúc bị TNTT cho đến khi được sơ cấp cứu 38

Bảng 3.11 Nơi nạn nhân được điều trị sau khi được sơ cứu 38

Bảng 3.12 Thời gian nằm viện của nạn nhân 39

Bảng 3.13 Ảnh hưởng của tai nạn thương tích đến sức khỏe 39

Bảng 3.14 Đặc điểm tuổi và giới của người chăm sóc trẻ được phỏng vấn 40

Bảng 3.15 Đặc điểm nghề nghiệp của người chăm sóc trẻ được phỏng vấn 41 Bảng 3.16 Đặc điểm TĐHV của người chăm sóc trẻ được phỏng vấn 42

Bảng 3.17 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã từng chứng kiến TNTT 43

Bảng 3.18 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu cho rằng tai nạn thương tích có thể phòng tránh 43

Bảng 3.19 Quan điểm của người chăm sóc trẻ về sự cần thiết phải tuyên truyền giáo dục về phòng tránh TNTT cho trẻ em 44

Bảng 3.20 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu sẵn sàng tham gia khi địa phương tổ chức tuyên truyền giáo dục về phòng tránh TNTT 44

Bảng 3.21 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các biện pháp phòng tránh tai nạn giao thông khi đi bộ cho trẻ 45

Trang 9

Bảng 3.23 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có đội mũ bảo hiểm cho trẻ và tần xuất 48Bảng 3.24 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phòng tránh TNGT trong 1

tháng qua 48Bảng 3.25 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các biện pháp phòng tránh

ngã cho trẻ 45Bảng 3.26 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các biện pháp phòng tránh

ngộ độc cho trẻ 46Bảng 3.27 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phòng tránh ngộ độc cho trẻ

trong 1 tháng qua 47Bảng 3.28 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các biện pháp phòng tránh

đuối nước cho trẻ 47

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ trẻ bị tai nạn thương tích 32Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nạn nhân có được sơ cấp cứu 37Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã nghe nói về tai nạn thương tích 42Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có biết bơi 49Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có ý định cho con đi học bơi 50

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam, trẻ em có quyền được sống trong một xã hội an toàn, được chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đang là vấn đề quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có nước ta

Sự quan tâm được thể hiện bằng việc Đảng, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật; thông qua nguồn lực đầu tư của Nhà nước, của xã hội và của từng gia đình; thông qua sự chăm lo đầy trách nhiệm của nhiều cấp, nhiều ngành trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tạo điều kiện để trẻ

em được thực hiện quyền của mình theo luật định, trong đó có quyền được chăm sóc sức khoẻ, được bảo vệ tính mạng thân thể

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khẳng định tai nạn thương tích (TNTT) là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật và là vấn đề sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng trên thế giới [59] Trong những thập kỷ gần đây, mô hình bệnh tật trẻ em đang có nhiều thay đổi do sự phát triển kinh tế, xã hội Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định tầm quan trọng của việc phòng chống TNTT nói chung và phòng chống TNTT trẻ em nói riêng Tại các nước đang phát triển, TNTT là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tử vong

ở trẻ em Trong khi ở nhóm trẻ 1 - 4 tuổi, tình trạng bệnh nhiễm trùng còn đang chiếm ưu thế thì ở nhóm trẻ 5 - 14 tuổi các bệnh không lây nhiễm và TNTT chiếm ưu thế [60]

Ở Việt Nam, TNTT đang là một vấn đề sức khoẻ đáng quan tâm đối với sức khoẻ của người dân và trẻ em trong cộng đồng Tình hình TNTT trẻ em không ngừng gia tăng trong những năm gần đây và cũng có sự thay đổi về nguyên nhân gây ra TNTT, nhất là ở những vùng đang đô thị hoá nhanh, phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch, chuyển đổi cơ cấu kinh tế Hầu hết các TNTT ở trẻ em là có thể phòng tránh được nếu như có sự hiểu biết, quan tâm

Trang 12

lưu ý của người lớn và biết được các yếu tố nguy cơ gây ra nó Đồng thời, khi

đã xảy ra TNTT, nếu sẵn có y dụng cụ, thuốc men và được trang bị kiến thức,

xử trí đúng, kịp thời thì sẽ giảm thiểu được các hậu quả, di chứng và gánh nặng bệnh tật do TNTT gây ra Đáng chú ý số trẻ em bị TNTT do tai nạn giao thông (TNGT) chiếm tỷ lệ lớn và có xu hướng tăng, từ 40 - 48% tổng số trẻ

em bị TNTT [12] Các TNTT khác thường gặp ở trẻ dưới 6 tuổi, trẻ trai chiếm

tỷ lệ cao hơn trẻ gái Nguyên nhân tai nạn do ngã chiếm tỷ lệ cao nhất (trên 55%), sau đó là TNGT, bỏng, dị vật cơ thể, đuối nuớc… Địa điểm xảy ra TNTT ở trẻ em thường xảy ra tại nhà và xung quanh nhà, chiếm xấp xỉ 57% Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em bị TNTT từ 1 đến 15 tuổi là do đuối nước [15] Phần lớn các TNTT gây ra gẫy, vỡ xương và chấn thương sọ não Các thương tích chủ yếu là vùng đầu, các chi, vùng mặt [26]

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng tại

nạn thương tích trẻ dưới 5 tuổi và kiến thức, thực hành phòng tránh tai nạn thương tích của người chăm sóc trẻ tại huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam năm 2015” với mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng tai nạn thương tích của trẻ dưới 5 tuổi tại 4 xã huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam năm 2015

2 Mô tả kiến thức, thực hành phòng tránh tại nạn thương tích cho trẻ

em của người chăm sóc trẻ tại địa bàn nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Kiến thức chung về tai nạn thương tích

+ Thương tích: Theo WHO năm 1999 và E.Marie Wilson: Thương tích

là tổn thương thực thể của cơ thể do phải chịu một tác động đột ngột hoặc quá nhanh (có chủ định hoặc không chủ định), gây ra bởi sự tiếp xúc với nguồn năng lượng (do tác nhân cơ học, nhiệt, điện, hoá học, phóng xạ ) tác động vượt quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể hay sự rối loạn chức năng do thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống (không khí, nước, nhiệt độ phù hợp ) Thời gian giữa phơi nhiễm và sự xuất hiện của thương tích là rất ngắn

+ Tai nạn: Theo WHO năm 1995: tai nạn là một sự kiện không chủ

tâm, dẫn đến một thương tích rõ ràng Tai nạn là bất cứ một sự kiện không chủ ý, ngẫu nhiên can thiệp vào công việc hàng ngày của ai đó Tai nạn dùng

để chỉ một sự kiện gây ra hay có khả năng gây ra thương tích

+ TNTT còn gọi là chấn thương: Được xuất phát từ chữ Injury trong

tiếng Anh với nghĩa là sự gãy, vỡ, sự xé rách, sự bào mòn (trầy da), sự dập nát gây ra đau đớn, sự làm mất, làm hỏng tính toàn vẹn của cơ thể TNTT là những tổn thương do vết cắt, đâm, ngã, TNGT, TNLĐ dẫn đến bị vết thương phần mềm chảy máu, bong gân, phù nề, sây xát, gãy xương, gãy răng,

vỡ thủng nội tạng phải mổ, chấn thương sọ não, bỏng, ngộ độc các loại… mà cần đến sự chăm sóc hoặc điều trị y tế, hoặc bị hạn chế sinh hoạt bình thường mất tối thiểu 1 ngày [39]

+ Trường hợp TNTT: Là những TNTT để lại hậu quả là chết hoặc gây

thương tích cần đến sự chăm sóc y tế, phải nghỉ học hay nghỉ lao động hoặc hạn chế sinh hoạt bình thường tối thiểu 1 ngày

Trang 14

+ Tử vong do TNTT: Là những trường hợp tử vong do nguyên nhân

TNTT trong vòng 1 tháng sau khi xảy ra TNTT

+ Cộng đồng: Cộng đồng có thể là một vùng dân cư hẹp đến một quốc

gia (như cộng đồng là một làng, xã, một vùng sinh thái, một quốc gia hay một khu vực )

1.2 Mô hình dịch tễ học tai nạn thương tích

Thay vì TNTT là vấn đề được đặt ngoài tình trạng bệnh và hầu như không được quan tâm trong phạm vi y học dự phòng, TNTT cũng là vấn đề y

tế công cộng như bệnh sởi TNTT tuân theo cách tiếp cận dịch tễ học tương tự (như đối với bệnh sởi) và điều tối thiểu mà mọi người thấy rõ là TNTT có thể phòng ngừa và kiểm soát được

TNTT được coi là nhóm bệnh hay quá trình bệnh chứa đựng đầy đủ các cấu phần của diễn biến bệnh, lịch sử tự nhiên của bệnh và các yếu tố dịch tễ của bệnh

TNTT luôn luôn tồn tại tối thiểu ở dưới dạng của tình trạng bệnh, các biện pháp nhằm kiểm soát TNTT rất phong phú và được sử dụng rộng rãi John E.Gordon từ khoảng hơn 30 năm trước đây đã cho rằng TNTT khi được đặc tính hoá theo vụ dịch, thay đổi mang tính chất mùa, xu hướng dài và các

sự phân bố theo vùng địa lý, kinh tế, xã hội, thành thị, nông thôn thì nó tự thể hiện theo nhiều khía cạnh hay phương diện khác nhau giống như các bệnh truyền nhiễm rất cổ điển và các dạng bệnh học khác đã được hiểu cặn kẽ Trong thực tế tất cả các phân bố TNTT được biết thì rất không ngẫu nhiên theo các khía cạnh thời gian, nơi chốn và con người

1.3 Phân loại tai nạn thương tích

TNTT có thể được phân loại theo nhiều cách, như: Dựa vào lĩnh vực, theo cơ chế gây TNTT, chủ ý của người gây TNTT hoặc người bị TNTT, nguyên nhân gây ra TNTT, tác nhân gây TNTT

Trang 15

1.3.1 Phân loại theo lĩnh vực

- TNTT trong giao thông (thường gọi là TNGT): là những TNTT xảy ra trên đường công cộng dành cho người và các phương tiện giao thông đi lại, có hậu quả là một hoặc nhiều người bị chết hoặc thương tổn, và có ít nhất một phương tiện giao thông liên quan Các TNGT cũng bao gồm cả những va chạm giữa xe cộ và động vật hoặc những vật cố định trên đường Những trường hợp do tự ngã trên đường (không va chạm với bất kỳ ai, cái gì) cũng được tính là TNGT

- TNTT trong lao động (thường gọi là TNLĐ): Là những trường hợp TNTT xảy ra đối với người lao động hoặc học sinh khi đang tham gia làm việc, lao động trong giờ làm việc theo sự điều động, phân công của người có thẩm quyền tại nơi làm việc (các công sở của cơ quan, đơn vị, nhà xưởng, công nông trường của các doanh nghiệp; trường học ) Những trường hợp lao động, sản xuất cho gia đình hoặc cá nhân cũng được tính là TNLĐ

- TNTT trong sinh hoạt (thường gọi là TNSH): Là những TNTT xảy ra trong lúc vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi hoặc làm các công việc theo nhu cầu sinh hoạt của cá nhân, gia đình, ngoài thời gian lao động sản xuất, TNSH có thể xảy ra tại nhà, ở cơ quan hoặc ở nơi công cộng

- TNTT trong trường học: Là tất cả những trường hợp TNTT xảy ra đối với cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh gắn liền với các hoạt động giảng dạy, học tập, lao động, vui chơi giải trí, các hoạt động ngoại khoá và các sinh hoạt

do nhà trường quản lý

- TNTT trong cộng đồng: Tập hợp tất cả các trường hợp TNTT trong cộng đồng, gây ra bởi mọi nguyên nhân và xảy ra ở mọi lứa tuổi Do đó TNTT trong cộng đồng có thể được hiểu là một khái niệm rộng, bao hàm nhiều phân loại TNTT khác hiện đang được sử dụng, như TTGT, TNLĐ,

TNSH, TNTT trong trường học

Trang 16

1.3.2 Phân loại tai nạn thương tích theo chủ ý

Một phương pháp được dùng phổ biến để phân loại TNTT là dựa vào

sự có chủ ý hay không chủ ý của nạn nhân và người khác Với nhiều mục đích khác nhau, bao gồm cả việc xác định các cơ hội can thiệp, cách phân loại đặc biệt hữu ích và là cơ sở cho phân loại thống kê về bệnh tật và các vấn đề sức khoẻ liên quan (ICD-10) Theo những nguyên tắc và quy ước của ICD-10, TNTT nằm trong phần nguyên nhân ngoài của tử vong và bệnh tật trong phân loại này, TNTT được chia thành 3 nhóm chính như sau:

- TNTT không chủ định (Tai nạn, vô ý): Là TNTT gây nên không do chủ ý của những người bị TNTT hay của những người khác Ví dụ: TNTT trong giao thông: ô tô, xe máy, người đi bộ, tàu hoả, tàu thuỷ, máy bay; TNTT

do ngã, do lửa cháy; do chết đuối; do ngộ độc

- TNTT có chủ định (Cố ý): Là những TNTT gây nên có sự chủ ý của người bị TNTT hay của những người khác, bao gồm: Bạo lực giữa các cá nhân (Ví dụ: hành hung, giết người, bạo lực ); bạo lực hướng vào bản thân hay tự làm hại bản thân (Ví dụ: cố ý uống thuốc hoặc rượu quá liều, tự làm tổn thương thân thể, tự tử

- Chủ ý không xác định: Là những TNTT xảy ra trong trường hợp khó xác định là do chủ định hay vô ý

1.3.3 Phân loại theo tác nhân gây tai nạn thương tích

- Vật sắc, nhọn: Là những trường hợp TNTT do dao, các đồ dùng có cạnh sắc hoặc mũi nhọn gây ra

- Vật tày, vật cùn: Là những trường hợp TNTT do các loại vật cứng có cạnh tày (gạch, đá, gỗ, sắt thép…) gây ra

- Đuối nước: Là những trường hợp TNTT xảy ra do bị chìm trong nước hoặc chất lỏng khác (xăng, dầu) dẫn đến ngạt do thiếu ô xy hoặc ngừng

Trang 17

tim dẫn đến tử vong trong vòng 24 giờ hoặc cần đến chăm sóc y tế hoặc bị các biến chứng khác [15]

- Ngộ độc: Là những trường hợp hít phải, ăn vào, uống vào, tiêm vào, ngấm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc cần đến chăm sóc y tế TNTT do ngộ độc có thể phân loại thành ngộ độc do thức ăn và ngộ độc do các loại thuốc hoặc hoá chất độc khác

- Té, ngã: Là những trường hợp TNTT do bị trượt, vấp dẫn đến ngã trên cùng một mặt bằng hoặc từ trên cao xuống

- Điện giật: Là những trường hợp TNTT do tiếp xúc trực tiếp với nguồn điện dẫn đến bị thương hoặc tử vong

- Động vật cắn, tấn công: Là những trường hợp TNTT do động vật (trâu, bò, chó, mèo, ong, rắn, chim ) cắn, húc, đốt, đâm phải

- Bỏng: Là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa Các tổn thương da do sự phát xạ của tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, chất hoá hoặc cũng như tổn thương phổi do bị khói xộc vào cũng được coi là những trường hợp bỏng

- Bị tổn thương do máy móc, công cụ lao động: Là những TNTT xảy

ra khi tiếp xúc, vận hành máy móc, trang thiết bị dẫn đến thương tổn thực thể hoặc tử vong

Và còn nhiều loại tác nhân khác có thể gây TNTT

1.4 Các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích

Theo một số tác giả khi nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây TNTT ở các nước đang phát triển cho thấy: nam giới có nguy cơ TNTT thường cao hơn so với nữ giới Điện giật, va đụng ô tô, đánh nhau là những nguyên nhân TNTT thường gặp nhiều hơn ở nam giới, trong khi đó nữ thường có nguy cơ TNTT như: lửa, ngộ độc cao hơn so với nam Trẻ dưới 15 tuổi có các nguy cơ như: lửa, ngã, đuối nước, ngộ độc Tình trạng kinh tế xã hội thấp thường dễ bị

Trang 18

nguy cơ TNTT do lửa, đánh nhau Với những người uống rượu có nguy cơ cao các TNTT do lửa, va đụng ô tô, mô tô, ngã, đánh nhau, đuối nước, ngộ độc Những trẻ được giáo dục về an toàn thấp có rất nhiều nguy cơ TNTT như: lửa, sốc điện, va đụng ô tô, xe máy, ngã, đuối nước, ngộ độc

1.4.1 Đối với tai nạn giao thông

Tai nạn giao thông là tai nạn chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nguyên nhân gây TNTT Hàng năm có khoảng 700.000 người bị tử vong, 10.000.000 người bị TNGT với ước tính hàng trăm triệu Đô la Mỹ [55] Hiện nay Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định nhằm chấn chỉnh lại trật tự an toàn giao thông, nhiều biện pháp can thiệp hiệu quả góp phần làm giảm bớt tỷ lệ này như: các biện pháp kiểm soát tốc độ của xe cơ giới, xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm luật giao thông, bắt buộc đội mũ bảo hiểm với người ngồi trên xe gắn máy, đo nồng độ cồn với những người điều khiển phương tiện giao thông Kết quả đã làm giảm đáng kể số vụ tai nạn giao thông và giảm được đáng kể tử vong và tai biến chấn thương sọ não do tai nạn giao thông [29]

Theo sơ đồ gánh nặng về bệnh tật, những yếu tố nguy cơ gần sẽ gây nên các bệnh tật và tai nạn thương tích làm ảnh hưởng, tổn thương, hạn chế chức năng sống của cơ thể cũng như sự tàn tật Vấn đề này dẫn đến suy giảm sức khỏe hoặc tình trạng tử vong Theo Tổ chức Y tế Thế giới có 7 yếu tố liên quan đến tai nạn giao thông

a) Tai nạn giao thông ở các nước có thu nhập thấp và trung bình chiếm

tỷ lệ khoảng 90% Trong đó chỉ có khoảng 48% phương tiện giao thông có đăng ký kiểm định phương tiện giao thông

b) Tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông xảy ra đối với người đi bộ, đi xe đạp và người điều khiển xe mô tô hai bánh chiếm tỷ lệ khoảng 48%

Trang 19

c) Kiểm soát tốc độ lái xe là một biện pháp hữu hiệu làm giảm tai nạn giao thông Có khoảng 1/3 các quốc gia trên thế giới đã triển khai các khu vực hạn chế tốc độ khi điều khiển xe cơ giới

d) Việc sử dụng các loại rượu, bia làm tăng nguy cơ bị tai nạn giao thông Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo giới hạn của nồng độ cồn trong máu (BAC: blood alcohol concentration) là 0,05g/dl đối với người lớn điều khiển

xe cơ giới Thực tế chỉ có khoảng 1/2 số các quốc gia trên thế giới thực hiện khuyến cáo về vấn đề này

đ) Đội mũ bảo hiểm có chất lượng tốt khi tham gia giao thông có thể làm giảm khoảng 40% nguy cơ tử vong do tai nạn giao thông và khoảng 70% nguy cơ bị thương tích nặng Thực tế chỉ có khoảng 40% số quốc gia trên thế giới ban hành luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông

e) Thắt dây an toàn khi ngồi trên xe ô tô làm giảm khoảng 40-65% nguy

cơ tử vong đối với người hoặc hành khách ngồi ở hàng ghế trước và giảm khoảng 25-75% nguy cơ tử vong đối với người hoặc hành khách ngồi ở hàng ghế sau Thực tế chỉ có khoảng 75% các nước trên thế giới ban hành luật bắt buộc thắt dây an toàn trên xe ô tô đối với người hoặc hành khách ngồi ở hàng ghế trước và hàng ghế sau

f) Sử dụng loại ghế giữ an toàn cho trẻ em có thể làm giảm khoảng 54% đến 80% trường hợp tử vong ở trẻ em trong trường hợp có va chạm vì tai nạn giao thông Thực tế chỉ có khoảng dưới 1/2 số quốc gia trên thế giới có quy định này

1.4.2 Đối với tai nạn lao động

Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra do tác động của các yếu tố nguy hiểm độc hại trong lao động, gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của

cơ thể người lao động hoặc gây tử vong xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (trong thời gian làm việc, chuẩn bị hoặc thu dọn sau khi làm việc) Các yếu tố thường dẫn đến tai nạn là:

Trang 20

+ Về phía cơ quan quản lý lao động:

a) Không huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động

b) Không có quy trình, biện pháp an toàn lao động

c) Thiết bị không đảm bảo an toàn

d) Không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động + Về phía người lao động:

a) Vi phạm các quy trình, biện pháp làm việc an toàn về an toàn lao động b) Không sử dụng các trang thiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân

c) Do người khác vi phạm quy định về an toàn lao động

+ Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước:

a) Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực Bảo hộ lao động, an toàn lao động hiện nay là khá đầy đủ Tuy nhiên, việc triển khai hướng dẫn, thanh kiểm tra việc thực hiện chưa thực sự hiệu quả dẫn đến tình trạng còn nhiều người sử dụng lao động, người lao động cố ý không chấp hành

b) Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề, nông nghiệp chưa được quan tâm hướng dẫn đầy đủ quy định nhà nước về an toàn vệ sinh lao động dẫn đến việc vi phạm các quy định về An toàn - vệ sinh lao động và nguy cơ TNLĐ và bệnh nghề nghiệp cao

1.4.3 Đối với ngã/té

Ngã là nguyên nhân thường gây nên những chấn thương nghiêm trọng khiến cho nạn nhân buộc phải nằm viện Ngã thường gây ra các thương tật vĩnh viễn và dẫn đến rất nhiều chấn thương nhỏ khác Phần lớn các vụ gãy xương, chấn thương sọ não và tủy sống đều do ngã gây ra Các nhân tố gây nên ngã bao gồm:

a) Uống thuốc, rượu, bia, sử dụng ma túy thường do gây ra chóng mặt, tụt huyết áp, buồn ngủ, mất ngủ dẫn đến ngã

Trang 21

b) Trong nhà có thể cầu thang không có tay vịn an toàn, thiếu ánh sáng, sàn nhà trơn trượt, không có các thanh giữ an toàn trong nhà tắm và nhà cầu, thảm lỏng lẻo, vật dụng hay chó mèo làm vướng víu chân Những cái bẫy ngoài đường như đường trơn, lề đường không bằng phẳng, xe cộ…

c) Người già thường tổn thương của các giác quan như tai nghe kém, mắt mờ, rối loạn về thăng bằng ở tiền đình ốc tai Các tổn thương về nhận thức như sa sút trí tuệ Rối loạn về tâm lý như lo lắng, trầm cảm Bệnh tim, tăng huyết áp, đái tháo đường, bướu giáp Các bệnh cơ khớp, nhất là của bàn chân… cũng góp phần làm các cụ té ngã

1.4.4 Đối với đuối nước [15], [36]

Đuối nước là trường hợp tử vong do bị ngạt khi bị chìm lâu dưới nước Chết đuối được chia làm 2 loại: chết đuối nước và chết đuối khô Ở dạng chết đuối nước, một người hít phải nước và nước tràn vào hệ thống hô hấp khiến cho hệ thống tuần hoàn không hoạt động được Chết đuối khô ít gặp hơn Chết đuối khô là trường hợp đường thở bị đóng lại do co thắt do nước gây ra Trường hợp suýt chết đuối vẫn có thể dẫn đến tổn thương hệ thần kinh Sự phục hồi hoàn toàn còn phụ thuộc vào nạn nhân có được cấp cứu và hồi sức một cách kịp thời hay không Việt Nam là một nước có bờ biển kéo dài dọc theo đất nước, và một hệ thống sông ngòi chằng chịt Đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long, sông rạch là nguy cơ chết đuối rất cao Ngập lụt hàng năm do mưa và bão lũ cũng gây ra rất nhiều vụ chết đuối Các nguyên nhân của đuối nước thường là:

a) Không nhận biết được sự nguy hiểm của vùng nước sâu, chảy xiết b) Không biết bơi

c) Không che chắn ao, hồ, bể chứa nước mà người lớn để trẻ chơi một mình ở đó

Trang 22

d) Bị lên cơn động kinh, ngất… rồi ngã xuống nước nhưng không có ai cứu giúp

1.4.5 Các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích cho trẻ em

Sức khỏe bà mẹ và trẻ em ngày càng nhân được sự quan tâm của toàn

xã hội dưới nhiều góc độ khác nhau Hiện nay đã có nhiều các nghiên cứu riêng về tình hình TNTT ở trẻ em cả ở Việt Nam và trên thế giới [15], [27], [31], [36], [39]

Việt Nam mang đặc thù của các nước đang phát triển và các nước có thu nhập thấp Một số kết quả nghiên cứu chấn thương tại cộng đồng của Việt Nam cho thấy: Trẻ em nam có nguy cơ bị TNTT cao gấp đôi so với trẻ em nữ Các nguy cơ gây TNTT thường gặp ở trẻ là: tai nạn giao thông, ngã, bỏng, TNTT do động vật cắn, tấn công, TNTT do vật sắc nhọn, ngộ độc và đuối nước Trẻ em dưới 5 tuổi thường phải đối mặt với các nguy cơ TNTT hiện diện ngay trong ngôi nhà của mình như: ngã do đồ dùng trong gia đình sắp xếp không khoa học; bỏng, ngộ độc và bị cắt bởi vật sắc nhọn do người lớn để các

đồ vật nóng, nước sôi, các vật sắc, thuốc hay hoá chất trong tầm với của trẻ

1.5 Tình hình nghiên cứu tai nạn thương tích trên Thế giới và Việt Nam

1.5.1 Trên Thế giới

Hàng năm trên thế giới đã có ít nhất 5,5 triệu người chết, gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viễn do tai nạn thương tích (TNTT) Đây là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 trong 10 nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất Ở nhiều nước,

số người bị TNTT phải nhập viện chiếm 10-30% so với tổng số bệnh nhân, thiệt hại ước tính hàng ngàn tỷ USD, chiếm 5-6% tổng thu nhập quốc dân (số liệu của Tổ chức Y tế thế giới 1993) Dự báo đến năm 2020, số người bị TNTT mỗi năm sẽ tăng thêm 20% Tai nạn giao thông luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số các trường hợp TNTT Hàng năm, trên thế giới có khoảng 700.000 người chết và 10.000.000 người bị thương vì tai nạn giao thông gây

Trang 23

thiệt hại ước tính hàng trăm tỷ USD Sau tai nạn giao thông là các thương tích

do thảm họa thiên tai với số chết trung bình hàng năm khoảng 128.000 người (riêng châu Á trên 43.000 người) Thiệt hại trong 5 năm từ 1991 đến 1995 khoảng 440 tỷ USD Các TNTT trong lao động sản xuất, thương mại dịch vụ ước tính hàng năm xảy ra 250.000.000 trường hợp, làm 330.000 người chết gây tổn thất tương đương 4% tổng sản phẩm xã hội toàn cầu TNTT trong sinh hoạt gia đình chiếm 30-40%, học đường 10%, hoạt động thể thao 15-20%, hoạt động văn hoá và các hoạt động vui chơi giải trí 2 - 4% [55]

TNTT có chủ định và không chủ định hiện nay đang là vấn đề nổi cộm của y tế công cộng Theo số liệu thống kê của WHO trong những năm gần đây cho thấy: tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm có xu hướng thuyên giảm, nhưng tỷ

lệ mắc và tử vong do TNTT có xu hướng gia tăng Mỗi ngày trên thế giới có khoảng 16.000 người chết vì các loại TNTT [59], [60]

Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), mỗi năm, thế giới

có hơn 2,2 triệu người chết vì tai nạn hay bệnh tật liên quan đến lao động Con số chính thức này thấp hơn nhiều so với thực tế do việc thu thập các thông tin chưa được tiến hành đầy đủ tại nhiều nước

Tình hình tai nạn giao thông trên thế giới đã và đang diễn ra ngày một phức tạp với gần 1,3 triệu người chết và 50 triệu người bị thương do TNGT mỗi năm Ngày 02/3/2010, Liên hợp quốc đã ra Nghị quyết số A/RES/L64/

255 tuyên bố giai đoạn 2011 - 2020 là ―Thập kỷ hành động vì an toàn đường

bộ toàn cầu‖

Theo WHO, tai nạn thương tích không chỉ là vấn đề y tế công cộng

mà còn là vấn đề của sự phát triển, nhất là TNTT ở trẻ em Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 830.000 trẻ tử vong do TNTT không chủ định, tương đương 2.000 trẻ tử vong mỗi ngày Nguyên nhân TNTT gây tử vong hàng đầu ở trẻ em là TNGT đường bộ (khoảng 260.000 trẻ/năm); đuối nước

Trang 24

(175.000 trẻ/năm); bỏng (96.000 trẻ/năm); ngã (47.000 trẻ/năm)… Một nghiên cứu tiến hành tại Banladesh, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Việt Nam cho thấy TNTT là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ từ 01 tuổi trở lên ở tất cả các quốc gia điều tra Trong khi ở các nước phát triển chỉ dưới 135 trẻ tử vong do TNTT/100.000 rẻ được sinh ra thì tỷ suất này ở các nước Đông Á là trên 1.000/100.000 Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng với mỗi trường hợp tử vong do TNTT ở trẻ dưới 18 tuổi thì có 12 trẻ cần phải nhập viện hoặc để lại khuyết tật vĩnh viễn và 34 trẻ cần chăm sóc y tế hoặc phải nghỉ học, nghỉ làm việc [60]

1.5.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tình hình TNTT đang diễn biến hết sức phức tạp Theo báo cáo tại Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 2 về phòng chống TNTT (tháng 10/2011) trung bình hằng năm có khoảng 900.000 trường hợp mắc TNTT, trong đó có trên 34.000 người tử vong, chiếm 11-12% tổng số tử vong toàn quốc Tỷ suất tử vong trong những năm gần đây là 45,4/100.000 dân Đứng đầu là tử vong do TNGT 44,8% với khoảng 15.000 người/năm; đứng thứ hai là đuối nước với trung bình 6000 người/năm và cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em Ngoài ra các nguyên nhân gây TNTT khác như TNLĐ, tự tử, bỏng, ngộ độc, bạo lực… vẫn phổ biến trong cộng đồng [35]

Theo báo cáo của Vụ An toàn giao thông, Bộ Giao thông vận tải tại Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 2 về phòng chống TNTT, năm 2009 có 11.516 người bị thương và 7.914 người tử vong do TNGT (tỷ suất tử vong là 9,9/100.000 dân) Tỷ suất này đặc trưng cho một nước đang ở trong giai đoạn

ô tô, xe máy hoá cao, tỷ lệ tử vong thấp trên khía cạnh quần thể, nhưng cao trên khía cạnh liên quan tới số phương tiện được đăng ký

Trang 25

Các tai nạn nghề nghiệp hay tai nạn lao động là nguyên nhân đứng thứ

ba (chiếm 19%) dẫn đến tử vong nghề nghiệp trên toàn cầu Ở Việt Nam, TNLĐ cũng là vấn đề nổi cộm trong công tác vệ sinh an toàn lao động và được xếp trong nhóm những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tàn tật cho người lao động Lực lượng lao động xấp xỉ 46 triệu người vào năm 2007 Theo báo cáo mới nhất về thực trạng cung - cầu lao động được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố (năm 2010) thì cả nước hiện có trên 48 triệu lao động Theo Thông báo số 33/TB-BLĐTBXH ngày 10/02/2012 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về tình hình tai nạn lao động năm 2011 tổng hợp báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì trong năm 2011 trên toàn quốc đã xảy ra 5896 vụ tai nạn lao động làm 6154 người

- Số nạn nhân là lao động nữ 944 người

Các số liệu trên chỉ nói lên phần nào của tình hình TNTT ở nước ta, một nước có tỷ lệ dân số ở tuổi trẻ cao, đang trên đà cơ giới hoá cao, trong khi

đó cơ sở hạ tầng cũng như các biện pháp bảo vệ khỏi TNTT chưa được quan tâm đúng mức và hữu hiệu

Theo kết quả điều tra TNTT và tử vong do TNTT toàn quốc (VMIS) năm 2001 cho thấy một xu hướng tương tự khi xét các nguyên nhân TNTT, bệnh mạn tính và bệnh truyền nhiễm trong số các trường hợp không gây tử vong: trừ nhóm tuổi sơ sinh (dưới 1 tuổi) và nhóm trên 50 tuổi, TNTT hiện là nguyên nhân lớn nhất gây ra các trường hợp bệnh, tiếp theo sau là các bệnh mạn tính và các bệnh truyền nhiễm Bên cạnh đó, khi xét chung ở tất cả các

Trang 26

nhóm tuổi, TNTT cũng là một nguyên nhân đáng kể dẫn đến các trường hợp bệnh, xấp xỉ bằng bệnh mạn tính và hơn hẳn so với bệnh truyền nhiễm Theo kết quả điều tra 27.000 hộ gia đình, trong năm 2001, ở Việt Nam có tổng cộng

7011 trường hợp chấn TNTT không tử vong với tỉ suất là 5.449,7/100.000 Con số này có nghĩa là có khoảng 5,5% người Việt Nam đã bị thương trong năm đó, với mức độ nghiêm trọng đủ để phải cần đến các can thiệp y tế hay phải nghỉ học hay nghỉ làm ít nhất là một ngày

Ở Việt Nam có một mô hình dịch tễ học đặc thù về tử vong do TNTT

và mô hình này tuỳ thuộc vào từng lứa tuổi khác nhau Nghiên cứu cho thấy rằng từ tuổi sơ sinh cho tới lứa tuổi dậy thì, đuối nước là một nguyên nhân nổi bật gây tử vong ở tất cả các nhóm tuổi, vượt xa các nguyên nhân khác Bắt đầu từ sau lứa tuổi dậy thì, tai nạn giao thông đường bộ (TNGT) bắt đầu nổi bật và sau đó tăng nhanh khi tuổi tăng Chấn thương do giao thông đường bộ trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở những nhóm tuổi từ 15 tuổi trở lên Mô hình bao gồm đuối nước vượt trội ở lứa tuổi trẻ nhỏ và chấn thương do giao thông đường bộ nổi bật ở lứa tuổi trẻ lớn là một mô hình phổ biến ở cả các quốc gia láng giềng của Việt Nam Ở lứa tuổi trẻ em, hai nguyên nhân gây tử vong này gây ra hai phần ba tổng số trường hợp tử vong do chấn thương ở trẻ và vì thế đòi hỏi một sự quan tâm đặc biệt từ các nhà hoạch định chính sách y tế và xã hội Bên cạnh đó, cũng cần có các biện pháp tốt để hạn chế tối đa các trường hợp tử vong do TNGT, vì đây là nguyên nhân lớn nhất gây ra các trường hợp tử vong ở nhóm tuổi từ 15 trở lên [20]

Với tỉ suất 26,7/100.000, TNGT là nguyên nhân lớn nhất gây nên tử vong ở Việt Nam, và VNIS ghi nhận được tổng cộng 35 trường hợp tử vong

do tai nạn giao thông vào năm 2001 Với dân số khoảng 78 triệu vào năm

2001, tỉ suất này có nghĩa là trung bình có khoảng hơn 20.000 trường hợp tử vong do TNGT trong năm 2001, điều này có nghĩa là cứ mỗi ngày trung bình

Trang 27

có khoảng 57 trường hợp tử vong do TNGT Các chương trình can thiệp có hiệu quả sẽ cần phải xây dựng dựa vào mô hình các nguyên nhân TNGT cụ thể ở những nhóm tuổi khác nhau Đối với trẻ nhỏ, đa phần TNGT xảy ra khi trẻ đang đi bộ, với trẻ lớn hơn thì chấn thương xảy ra cả với những trẻ đi bộ cũng như đi xe đạp Với những nhóm tuổi lớn hơn, từ trên 15 trở lên, chấn thương do đi xe máy trở thành vấn đề hàng đầu dẫn đến các trường hợp tai nạn Các chương trình can thiệp sẽ cần nhắm tới đối tượng vị thành niên trở lên, bao gồm các cưỡng chế pháp luật cho qui định về đội mũ bảo hiểm, giáo dục các hành vi lái xe an toàn và phòng chống việc điều khiển xe khi say

Đuối nước là nguyên nhân đứng thứ nhì gây nên tử vong với tỉ suất tử vong là 22,6/100.000 Đuối nước chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi trẻ em, nếu tính riêng ở lứa tuổi từ 19 trở xuống thì, tỉ suất của đuối nước cao hơn hẳn so với tỉ suất của TNGT Do đuối nước chủ yếu xảy ra vào ban ngày, con số này có nghĩa là vào ban ngày cứ khoảng 20 phút lại có một trẻ chết đuối Tỉ suất chết

do đuối nước ở trẻ em Việt Nam cao gấp mười lần ở các nước phát triển Chấn thương do các ngã là nguyên nhân đứng thứ ba gây nên tử vong với tỉ suất tử vong là 9,5/100.000 và gây ra hơn 7.400 trường hợp tử vong ở Việt Nam mỗi năm, hay gần 20 người mỗi ngày Ngộ độc đứng ở vị trị thứ tư với tỉ suất ngộ độc gây tử vong là 7,3/100.000 và gây ra khoảng hơn 5.600 trường hợp tử vong trong năm 2001, hay khoảng gần 16 người mỗi ngày Vật sắc là nguyên nhân đứng hàng thứ 5 với tỉ suất là 5,3/100.000, hay có khoảng 11 trẻ

bị chết do ngã mỗi ngày

Đối với các trường hợp chấn thương không tử vong, TNGT cũng là nguyên nhân hàng đầu vởi tỉ suất trên 100.000 lên đến hơn 1.400, nghĩa là mỗi ngày trung bình có khoảng gần 3.000 số vụ TNGT không dẫn đến tử vong Trong số này thì phần lớn các trường hợp TNGT xảy ra ở những nhóm

Trang 28

tuổi từ 15 trở lên và mức độ nghiêm trọng chủ yếu là các chấn thương ở mức nhẹ và vừa

Ngã đứng thứ hai trong số các nguyên nhân hàng đầu gây nên các chấn thương không gây tử vong VMIS ghi nhận được tổng số 1668 trường hợp chấn thương không tử vong do ngã và tỉ suất là 1297/100.000 Con số này tương đương với số trường hợp chấn thương do ngã mỗi ngày là hơn 2.700 trường hợp

Vật sắc là nguyên nhân chấn thương không gây tử vong đứng hàng thứ

ba ở Việt Nam Vật sắc gây ra hơn 2.000 trường hợp chấn thương mỗi ngày Chấn thương do súc vật cắn là nguyên nhân đứng hàng thứ 4 với gần 1.800 trường hợp trung bình mỗi ngày Khoảng 18% các trường hợp là chấn thương

Trong năm 2009, tại 59 tỉnh/thành phố có 1.121.113 trường hợp mắc tai nạn thương tích (TNTT), trong đó có 7.799 trường hợp tử vong chiếm tỉ lệ 0,7%, giảm 0,08% so với năm 2008

Nhóm tuổi 20-60 có tỉ lệ mắc và tử vong do tai nạn thương tích cao nhất (tương ứng là 62,5% và 66,7%); tiếp theo là nhóm 15-19 tuổi (14,4% và 10,5%); 5-14 tuổi (10,5% và 6,8%); nhóm 0-4 tuổi (5,7% và 4,8%)

Nam giới có tỉ lệ mắc và tử vong do tai nạn thương tích (68,7% và

Trang 29

75,8%) cao hơn nữ giới (31,3% và 24,2%)

Tỉ lệ mắc tai nạn giao thông (TNGT) đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây TNTT chiếm 39,4%, giảm 1,6% so với năm 2008 Tiếp theo là tai nạn lao động 15,1%, ngã 12,3%, bạo lực 6,9% Một số nguyên nhân có xu hướng tăng gồm ngộ độc, ngã, các loại hình tai nạn thương tích còn lại có xu hướng giảm

Tỉ lệ tử vong do TNGT đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong TNTT chiếm 63,7%, giảm 1,9% năm 2008 Tiếp theo là tai nạn lao động 6,4%, đuối nước 6,1%, tự tử 4,0%, bạo lực xung đột 3,1% Tai nạn lao động, đuối nước và bạo lực xung đột có xu hướng tăng nhẹ

Các bộ phận bị tổn thương do TNTT: tổn thương chi có tỉ lệ mắc cao nhất 36,7%, tổn thương đầu mặt cổ gây tử vong cao nhất 52,1%

Đi ̣a điểm tai na ̣n : Tỷ lệ mắc và tử vong do tai nạn thương tích trên đường đi chiếm tỷ lê ̣ cao nhất (44,2% và 66,1%), chiếm tỷ lê ̣ cao thứ hai là tai na ̣n thương tích ta ̣i nhà với 25,3% và 13,8% Tai nạn thương tích ta ̣i trường ho ̣c có tỷ lê ̣ mắc và tử vong thấp nhất (3,2% và 3,31%)

10 tỉnh có số mắc tai nạn thương tích cao nhất lần lượt là: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Tháp, Bình Thuận, Long An, Kiên Giang, Cần Thơ, Đắc Lắc, Bến Tre

Ngày 10/6/2011, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký ban hành Quyết định số 1900/QĐ-BYT [4] phê duyệt Kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng của Ngành Y tế giai đoạn 2011 - 2015 Mục tiêu chung của Kế hoạch nhằm tăng cường triển khai các nhiệm vụ của Ngành Y tế trong công tác phòng chống TNTT tại cộng đồng, góp phần giảm tỷ lệ mắc, tử vong và tàn tật do TNTT

1.6 Ảnh hưởng của tai nạn thương tích

1.6.1 Ảnh hưởng về khía cạnh kinh tế

Trang 30

TNTT đòi hỏi các chi phí xã hội và kinh tế lớn, một mối đe doạ thực sự đối với phát triển đất nước Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy có mối liên quan giữa TNTT và đói nghèo Tất cả các nghiên cứu trên thế giới về TNTT đều cho thấy mức độ chi phí tuyệt đối do TNTT gây ra là vô cùng lớn, các chi phí hàng năm về kinh tế và y tế toàn cầu cho TNTT ước tính vượt quá

518 tỷ USD Một nghiên cứu năm 1998 tại bang Victoria (Úc) cho thấy chi phí thực sự do TNTT tương đương ít nhất 1/2 tổng chi phí sử dụng hàng năm trong ngân sách dành cho y tế của cả bang Các nghiên cứu của ADB ở Việt Nam cho thấy hàng năm ước tính mất khoảng 30.000 tỷ đồng cho việc chi phí

y tế, các dịch vụ cấp cứu, điều trị, phục hồi chức năng, mất khả năng lao động

do tử vong, tàn tật do TNTT gây ra (báo cáo của Bộ trưởng Bộ Y tế trong Hội nghị Quốc tế phòng chống TNTT và xây dựng Cộng đồng an toàn, Hà Nội 26/10/2006) Thiệt hại về người và vật chất do TNGT ở Việt Nam một năm là vào khoảng 885 triệu đô la Mỹ, chưa kể đến nguồn lực lớn của ngành Y tế dành cho việc cứu chữa, phục hồi chức năng cho nạn nhân Thực tế cho thấy, ngân sách nhà nước dành cho ngành Y tế hàng năm phải dành phần lớn cho hoạt động cấp cứu, phục hồi chức năng cho các trường hợp TNTT mà lẽ ra phải dùng cho công tác dự phòng và bảo vệ bà mẹ trẻ em, những chi phí liên quan đến tai nạn và tử vong do giao thông chiếm tới 75% ngân sách y tế trực tiếp của các bệnh viện ngoại khoa đô thị

Những con số nêu trên đã cho thấy phạm vi và mức độ nghiêm trọng của thương tích cả về người và của Hơn nữa nó còn gây nên một gánh nặng

cả về mặt tâm lý, xã hội và kinh tế cho các gia đình có người bị tàn tật, cho cộng đồng và xã hội

1.6.2 Ảnh hưởng về khía cạnh xã hội

Thông qua phương pháp đánh giá Những năm sống tiềm năng bị mất

(YPLL) do TNTT hay tử vong, chúng ta có thể lượng hoá được tác động với

Trang 31

một cá nhân hay xã hội Ở Hoa Kỳ, TNTT chiếm 40% của YPLL, còn tại Việt Nam chúng ta chưa có những nghiên cứu đánh giá chuẩn mực về YPLL, cho

tử vong của từng loại nguyên nhân, nhưng nhìn chung tử vong quá sớm do bệnh tật hoặc TNTT làm cho gia đình mất đi một thành viên, mất đi một người đóng góp tiền bạc (dù được trả tiền hay không) vào thu nhập của gia đình, mất đi một phần thu nhập đã được đầu tư vào giáo dục cho họ Những tài sản quan trọng như xe máy, xe đạp hay con vật nuôi quý giá có thể bị hỏng, bị chết, thiệt hại làm cho gia đình càng khó khăn thêm TNTT chắc chắn sẽ gây ra các chi phí trực tiếp như chăm sóc cấp cứu, điều trị nội trú, thuốc men, phục hồi chức năng, thiết bị trợ giúp, phương tiện đi lại cũng như các chi phí gián tiếp như mất thu nhập tạm thời hay vĩnh viễn, tuỳ thuộc vào TNTT nặng hay nhẹ Nhiều gia đình đang khá giả đã trở nên nghèo đi khi trong nhà có người bị TNTT, tử vong, chấn thương cột sống hoặc sọ não Ngoài ra một thành viên đang đi làm của gia đình có thể bắt buộc phải nghỉ việc để trong nom người bị TNTT Tử vong chỉ là một phần nhỏ của gánh nặng TNTT Số liệu của cảnh sát giao thông Việt Nam năm 2006 cho thấy cứ một ca tử vong trên đường, thì có gần 4 ca phải nhập viện, một vài ca chấn thương sọ não hay cột sống nghiêm trọng có ảnh hưởng lâu dài đến nạn nhân

và gia đình Các số liệu của Bộ Y tế cho thấy cứ 1 ca tử vong trong bệnh viện

do TNGT, chấn thương sọ não hay tự tử thì có 58 ca khác bị tàn tật

1.6.3 Ảnh hưởng về khía cạnh y tế

TNTT thực sự là một vấn đề sức khoẻ và là vấn đề thuộc về sức khoẻ cộng đồng Theo đánh giá của WHO: 1 TNTT chiếm 1 trong 2 nguyên nhân hàng đầu trong các nguyên nhân nhập viện; 2 TNTT là nguyên nhân chính gây tàn phế, chiếm tỷ lệ cao trong số các nguyên nhân làm mất đi những năm sống hữu ích; 3 TNTT chiếm 11% gánh nặng bệnh tật toàn cầu

Trang 32

Toàn thế giới trung bình mỗi năm có khoảng 4,2 triệu người tử vong liên quan tới TNTT (P.Gracer) Nhìn chung thì những nguyên nhân dẫn đến TNTT ở các nước đang phát triển thường là do các nguyên nhân xếp theo thứ

tự giảm dần theo mức độ trầm trọng: Do giao thông, ngã, ngộc độc, chết đuối, bỏng, tự tử, giết người…

Tỷ lệ đặc trưng theo nguyên nhân thay đổi theo từng nước Ở nước ta, theo các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong do TNTT được xếp theo thứ tự sau: Chết đuối, TNGT, ngã, ngộ độc, cháy bỏng, điện giật và các loại khác như súc vật cắn, ngạt…

TNTT đang ngày càng trở thành vấn đề toàn cầu, rất cần đến sự quan tâm sâu sắc của mọi quốc gia, vì tình trạng mắc TNTT đang ngày một tăng nhanh, gây tổn thất về con người và vật chất ngày càng lớn, hậu quả ngày càng nghiêm trọng, đe doạ sự phát triển của các quốc gia

Theo thống kê của WHO, TNTT là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em ở tất cả các nước phát triển, ước tính chiếm 40% các trường hợp tử vong ở lứa tuổi 1 - 14 Ở các nước OECD, mỗi năm ước tính khoảng 20.000 trẻ bị chết do các TNTT như TNGT, thương tích có chủ định, đuối nước, ngã, bỏng, ngộ độc và TNTT khác, trong đó TNGT chiếm khoảng 41% của tất cả

tử vong do TNTT gây ra Cứ 100.000 trẻ em sinh ra ở các nước thuộc OECD thì có khoảng 200 trẻ em sẽ chết trước 15 tuổi do bị TNTT [60]

Trang 33

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa bàn, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

* Tiêu chuẩn lựa chọn

- Trẻ em dưới 5 tuổi (trẻ sinh từ tháng 1/2010 đến hết tháng 12/2014)

- Người chăm sóc trẻ chính (là người biết rõ nhất về các hoạt động của trẻ trong gia đình hoặc theo thứ tự chọn ưu tiên bố/mẹ -> ông/bà) trên địa bàn

4 xã/thị trấn của huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Đối tượng nghiên cứu: Không ở các xã nghiên cứu trên

- Không hợp tác trong quá trình tham gia phỏng vấn

- Những trẻ dưới 5 tuổi bị tai nạn thương tích trước và sau thời gian nghiên cứu

* Tiêu chí đánh giá tai nạn thương tích

Có sự chăm sóc y tế của cơ sở y tế hoặc chuyên gia y tế

2.1.2 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn 4 xã/thị trấn của huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam

Thanh Liêm là huyện đồng bằng thấp của tỉnh Hà nam, thuộc lưu vực sông Đáy thuộc đồng bằng Bắc Bộ Diện tích 175.019Km2, phân bố thành 16

xã, 01 thị trấn, dân số người, mật độ dân số 285 người/km2 Với hệ thống giao thông thuận lợi cả đường bộ và đường thuỷ Trong những năm qua huyện đã

có sự phát triển tương đối toàn diện trong các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2015, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7,2%/ năm Mặc dù có những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và giao thông để phát

Trang 34

triển kinh tế, xã hội, tuy nhiên đó cũng là nguy cơ cao gây tai nạn thương tích trên địa bàn huyện Theo số liệu tổng hợp báo cáo của các Trạm Y tế xã, thị trấn năm 2014 tổng số người bị tai nạn thương tích 563, tử vong 15 người Trong đó trẻ em mắc 206 chiếm tỷ lệ 36,5%, tai nạn lao động, tai nạn giao thông vẫn chiếm tỷ lệ cao 4 xã/thị trấn của huyện Thanh Liêm được chọn là:

* Xã Thanh Bình

Xã Thanh Bình cách trung tâm huyện khoảng 3km, cách thành phố Phủ

Lý khoảng 7 km Tổng số dân của toàn xã 4237 người, số hộ dân là 1370 hộ Toàn xã tính trong năm 2015 có 367 trẻ em dưới 5 tuổi Về y tế, Trạm Y tế hiện tại có 04 cán bộ, trong đó có 03 cán bộ có trình độ Y sĩ, 01 cán bộ là Điều dưỡng

Xã Thanh Bình có một đường giao thông liên xã, hệ thống giao thông

đi lại không được thuận lợi, nhiều ngõ ngách khuất tầm nhìn Trong xã hiện tại có nhiều ao hồ, mương máng nước, đa phần các ao hồ ở xã không được xây tường bao quanh hoặc được rào bảo vệ che chắn xung quanh

* Xã Thanh Phong

Xã Thanh Phong cách trung tâm huyện khoảng 3 km, cách thành phố Phủ Lý khoảng 7 km Tổng số dân của toàn xã 5835 người, số hộ dân là 1715

hộ Toàn xã tính trong năm 2015 có 576 trẻ em dưới 5 tuổi Về y tế, Trạm Y

tế hiện tại có 04 cán bộ, trong đó có 01 Bác sĩ, 01 Cử nhân Điều dưỡng , 01 Y

sĩ , 01 Điều dưỡng trung học,

Xã Thanh Phong nằm gần trục đường 1A, hệ thống giao thông đi lại tương đối thuận tiện Hệ thống ao hồ của xã có nhiều nhưng những ao hồ này không được xây tường bao quanh để đảo bảo an toàn Xã chủ yếu làm nông nghiệp, hiện tại không có nghề phụ, thu nhập bình quan đầu người khoảng 16 triệu/ người/ năm

Trang 35

* Xã Liêm Túc

Xã Liêm Túc cách trung tâm huyện khoảng 4 km, cách thành phố Phủ

Lý khoảng 17 km Diện tích 5 km2 Dân số 5195 người, toàn xã có 1615 hộ Tổng số trẻ dưới 5 tuổi 517 trẻ Thu nhập bình quân 18 triệu/ người/ năm Trạm Y tế có 04 cán bộ trong đó 03 Y sĩ, 01 Điều dưỡng

* Xã Thanh Lưu

Xã Thanh Lưu cách trung tâm huyện khoảng 3,5 km, cách thành phố Phủ Lý 10 km Diện tích 696, 35 ha Dân số 6706 người, toàn xã có 1905 hộ gia đình, số trẻ em dưới 5 tuổi là 487 trẻ Trạm Y tế có 05 cán bộ trong đó 02

Y sỹ, 01 Bác sĩ, 02 Điều dưỡng Thu nhập bình quân 17 triệu/người/năm

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm

2015 đến tháng 4 năm 2016

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đề tài được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả với cuộc điều tra cắt ngang tiến cứu bằng phiếu phỏng vấn người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi để xác định tỷ lệ tai nạn thương tích thường gặp, nguyên nhân và một số yếu tố liên quan tại địa bàn nghiên cứu

) (

1

p

p p

Z n

Trang 36

: Sai số tương đối, với nghiên cứu này chúng tôi chọn  = 0,15

Thay các giá trị vào công thức ta có cỡ mẫu tối thiểu là n = 896 trẻ Trên thực tế đã điều tra 1208 hộ gia đình với 1814 trẻ dưới 5 tuổi

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

- Chọn xã: Từ danh sách 17 xã và thị trấn của huyện Thanh Liêm tỉnh

Hà Nam, chọn ngẫu nhiên đơn 4 xã/thị trấn để nghiên cứu

- Chọn số trẻ phỏng vấn của 1 xã: Theo báo cáo thống kê của các xã thì

xã Thanh Bình có 367 trẻ dưới 5 tuổi, xã Thanh Phong có 576 trẻ dưới 5 tuổi,

xã Liêm Túc có 517 trẻ dưới 5 tuổi, xã Thanh Lưu có 487 trẻ dưới 5 tuổi Như vậy, tổng cộng có 1947 trẻ em dưới 5 tuổi tại 4 xã nghiên cứu Theo tính toán,

cỡ mẫu tối thiểu là 896 trẻ Nhóm nghiên cứu đã ước lượng mỗi hộ gia đình

có 1 trẻ nên đã điều tra 900 hộ gia đình theo dự tính ban đầu (1 nửa số trẻ của địa bàn nghiên cứu), nhưng do số lượng trẻ điều tra của 900 hộ gia đình đã gần đạt tới tổng số trẻ là 1947 trẻ em dưới 5 tuổi (do có nhiều hộ gia đình có 2 đến 3 trẻ dưới 5 tuổi) nên nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn nghiên cứu toàn bộ số trẻ em dưới 5 tuổi của 4 xã nghiên cứu Trong quá trình điều tra, do

có một số hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi không có mặt tại địa bàn nghiên cứu nên không phỏng vấn được nên cuối cùng tổng số hộ gia đình đã nghiên cứu

là 1208 hộ với tổng số trẻ là 1814 trẻ dưới 5 tuổi

Trang 37

- Chọn trẻ/người chăm sóc trẻ: Tại mỗi xã, đến khu vực trung tâm của

xã, chọn ngẫu nhiên đơn một gia đình bất kỳ có trẻ dưới 5 tuổi để tiến hành điều tra Tại mỗi gia đình có trẻ dưới 5 tuổi phỏng vấn người chăm sóc trẻ (biết rõ về trẻ nhất và từ 18 tuổi trở lên) hoặc theo thứ tự ưu tiên (mẹ/bố -> ông/bà -> anh/chị) Chọn gia đình có trẻ dưới 5 tuổi tiếp theo bằng phương pháp cổng liền cổng về phía bên tay trái khi ra khỏi nhà đối tượng vừa phỏng vấn xong

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu

- Các thông tin chung về tình hình kinh tế văn hoá xã hội được thu thập từ các báo cáo, tài liệu lưu trữ tại mỗi địa phương, phối hợp các đơn vị liên quan để điều tra thu thập số liệu thống kê tình hình TNTT trẻ em trong 1 năm qua

- Các thông tin về TNTT: Được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp người chăm sóc trẻ bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước

Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa vào mục tiêu nghiên cứu Sau khi xây dựng xong, bộ câu hỏi này được thảo luận nhóm và được tiến hành điều tra thử, sau đó chỉnh sửa và hoàn thiện thành bộ công cụ điều tra chính thức Các điều tra viên được lựa chọn là các cán bộ y tế có kinh nghiệm từ Trung tâm Y tế huyện Thanh Liêm, sau đó được tập huấn kỹ về bộ câu hỏi để thống nhất phương pháp và cách thức thu thập thông tin cũng như hiểu đúng các nội dung, thông tin trong bộ câu hỏi Sau mỗi buổi điều tra tại cộng đồng, chủ nhiệm đề tài đều họp rút kinh nghiệm về buổi thu thập số liệu, đồng thời rà soát lại các bộ phiếu để có sự điều chỉnh, bổ sung kịp thời

Về cấu trúc, bộ công cụ điều tra tình hình TNTT của trẻ dưới 5 tuổi gồm 2 mẫu phỏng vấn

Trang 38

Mẫu 1: Phiếu điều tra sàng lọc về TNTT của trẻ dưới 5 tuổi và kiến thức, thực hành về phòng tránh TNTT của người chăm sóc trẻ (phụ lục 1) Trong mẫu này, các đối tượng nghiên cứu là người chăm sóc trẻ sẽ được phỏng vấn để tìm hiểu kiến thức, thực hành phòng chống tai nạn thương tích

ở trẻ em Các đối tượng sẽ được hỏi về tình hình mắc tai nạn thương tích ở trẻ

em trong gia đình Nếu gia đình có trẻ em bị tai nạn thương tích sẽ được phỏng vấn tiếp mẫu số 2

Mẫu 2: Phiếu điều tra tình hình TNTT của trẻ dưới 5 tuổi và tình hình

sơ cấp cứu (phụ lục 2) Mỗi trẻ em trong gia đình bị tai nạn thương tích sẽ được phỏng vấn bởi mẫu phiếu số 2 về loại tai nạn thương tích, đặc điểm tai nạn thương tích, tình hình sơ cấp cứu tai nạn thương tích…

2.2.5 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu

+ Nhóm thông tin về kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ, tỷ lệ trẻ bị

TNTT trong 1 năm qua và 1 tháng qua

- Tuổi: Trẻ dưới 12 tháng tuổi thì ghi là 0 tuổi (ghi thêm số tháng tuổi của trẻ ở trong ngoặc đơn, dưới 1 tháng tuổi thì làm tròn thành 1 tháng tuổi) Trẻ từ 12 tháng đến dưới 24 tháng tuổi thì ghi là 1 tuổi, trẻ từ 24 tháng đến dưới 36 tháng tuổi thì ghi là 2 tuổi, trẻ từ 36 tháng đến dưới 48 tháng tuổi thì ghi là 3 tuổi, trẻ từ 48 tháng đến dưới 60 tháng tuổi thì ghi là 4 tuổi

- Giới: trai và gái

- Dân tộc: Kinh, dân tộc khác

- Nghề nghiệp

- Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

- Vai trò lao động trong gia đình

- Số lần bị TNTT trong năm qua

Trang 39

- Kiến thức về TNTT và phòng tránh TNTT của người chăm sóc trẻ

- Thực hành về TNTT và phòng tránh TNTT của người chăm sóc trẻ + Nhóm các chỉ số về tỷ lệ TNTT, bao gồm:

- Tỷ lệ TNTT/tử vong theo dân số

- Tỷ lệ TNTT theo nhóm tuổi

- Tỷ lệ TNTT theo giới (%)

- Tỷ lệ TNTT theo thời gian (tháng trong năm)

+ Nhóm các chỉ số phân tích về nguyên nhân dẫn đến TNTT

+ Nhóm chỉ số nơi xảy ra TNTT

+ Thời gian xảy ra TNTT: Giờ trong ngày, tháng trong năm

+ Nhóm chỉ số hoạt động khi xảy ra TNTT

+ Các yếu tố nguy cơ dẫn đến ngã

+ Các yếu tố nguy cơ dẫn đến TNGT

+ Các yếu tố nguy cơ dẫn đến đuối nước, bỏng, ngộ độc, bạo lực…

+ Nhóm các chỉ số về sơ cứu, cấp cứu và điều trị TNTT

+ Nhóm các chỉ số về hậu quả của TNTT

+ Nhóm các chỉ số về sơ cấp cứu người bị TNTT

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập từ các phiếu điều tra (phụ lục 1&2) sẽ được xử lý theo phương pháp thống kê y học thực hiện trên máy vi tính bằng phần mềm EPI DATA 3.1 và SPSS 16.0

Các kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng bảng tần xuất và tỷ lệ phần trăm

2.2.7 Biện pháp khắc phục sai số

- Bộ câu hỏi được xây dựng và có tiến hành điều tra thử để hoàn thiện

Trang 40

- Cán bộ điều tra được tập huấn kỹ trước khi tiến hành điều tra

- Xây dựng chi tiết kế hoạch cho cuộc điều tra

- Các số liệu được làm sạch trước khi phân tích

2.2.8 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được thông qua Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y Dược Thái Bình, đồng thời được sự chấp thuận Trung tâm Y tế huyện Thanh Liêm và Ủy ban nhân dân các xã nghiên cứu và UBDN huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam

- Đối tượng khi tham gia nghiên cứu được xin phép phỏng vấn và giới thiệu mục đích của nghiên cứu Đối tượng có thể dừng tham gia bất cứ lúc nào và không trả lời một số câu hỏi mà đối tượng không muốn trả lời

- Thông tin thu thập được từ đối tượng nghiên cứu (thông tin cá nhân) được giữ bí mật, chỉ phục vụ mục tiêu nghiên cứu, không tiết lộ ra bên ngoài, với mục đích giúp giảm tỷ lệ thương tích cho trẻ em nói chung và huyện Thanh Liêm nói riêng

Ngày đăng: 18/03/2018, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w