ĐẶT VẤN ĐỀ Tai nạn thương tích là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu nghiêm trọng với tỷ lệ tử vong do tai nạn thương tích ngày càng tăng nhất là ở các nước dang phát triển, gây nhiều tổ
Trang 1TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BÌNH - 2016
Trang 2===*****===
VŨ XUÂN VIỆT
THỰC TRẠNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3Sau 2 năm học tập và nghiên cứu tại lớp Cao học K12 tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình đến nay tôi đã hoàn thành khóa học và hoàn thiện được bản luận văn tốt nghiệp của mình Nhân dịp này, tôi xin chân thành cám
ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Thái Bình, Ban Giám đốc Sở Y tế Tỉnh Thái Bình, UBND huyện Đông Hưng, Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đông Hưng tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, các phòng chức năng, Khoa Y tế công cộng và các bộ môn liên quan thuộc Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã cung cấp cho tôi những kiến thức chuyên môn cơ bản, các phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập cũng như triển khai đề tài cao học
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Tiến sĩ Lương Tuấn Khanh; Tiến sĩ Vũ Minh Hải, những người thầy đã tận tình giúp đỡ tôi tích lũy kiến thức và phương pháp tư duy khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã nhiệt tình cộng tác, động viên, giúp đỡ tôi suốt quá trình học tập nghiên cứu khoa học, hoàn thành luận văn này
Thái Bình, tháng 6 năm 2016
Vũ Xuân Việt
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc đăng tải trong bất kỳ tài liệu khoa học nào
Tác giả luận văn
Vũ Xuân Việt
Trang 5ATLĐ An toàn lao động
ICD 10 International Classification of Diseases, Revision 10
Phân loại bệnh tật quốc tế chỉnh sửa lần thứ 10
Tổ chức Y tế Thế giới YPLL Years of Potential Life Lost
Số năm sống tiềm tàng bị mất
Trang 6Trang DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm về tai nạn thương tích 3
1.2 Các nghiên cứu về tai nạn thương tích 13
1.2.1 Tình hình tai nạn thương tích trên thế giới: 13
1.2.2 Tình hình tai nạn thương tích ở Việt Nam 16
1.2.3 Tình hình tai nạn thương tích tại Thái Bình 18
1.3 Hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích 19
1.3.1 Phòng tránh tai nạn thương tích trên thế giới 19
1.3.2 Phòng tránh tai nạn thương tích tại Việt Nam 20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng, địa bàn, thời gian nghiên cứu 24
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 24
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 31
2.2.2 Cỡ mẫu 31
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu 31
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu và các biện pháp hạn chế sai số 32
2.2.5 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu 32
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 33
Trang 7CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Thực trạng tai nạn thương tích của học sinh trong 1 năm qua 35
3.2 Kiến thức, thực hành về phòng tránh tai nạn thương tích 46
CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 55
4.1 Thực trạng tai nạn thương tích học sinh trung học cơ sở huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình năm 2015 55
4.2 Kiến thức, thực hành phòng tránh tai nạn thương tích học sinh bốn trường trung học cơ sở nghiên cứu 66
KẾT LUẬN 75
KIẾN NGHỊ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.1 Tổng số học sinh được nghiên cứu 35
Bảng 3.2 Tỷ lệ tai nạn thương tích trên số học sinh theo địa bàn nghiên cứu35 Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ tai nạn thương tích theo vùng 36
Bảng 3.4 Phân bố tỷ lệ tai nạn thương tích theo giới tính 36
Bảng 3.5 Số lần bị tai nạn thương tích trong 1 năm theo vùng 37
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa tỷ lệ tai nạn thương tích với khoảng cách từ nhà đến trường 37
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tỷ lệ tai nạn thương tích với phương tiện đến trường 38
Bảng 3.8 Phân bố các loại tai nạn thương tích của học sinh theo vùng 38
Bảng 3.9 Phân bố các loại tai nạn theo lớp 39
Bảng 3.10 Nơi xảy ra tai nạn thương tích 40
Bảng 3.11 Nguyên nhân dẫn đến tai nạn thương tích 41
Bảng 3.12 Người đi cùng, ở bên khi bị tai nạn thương tích 41
Bảng 3.13 Tỷ lệ người tham gia sơ cấp cứu cho nạn nhân (n=170) 42
Bảng 3.14 Khoảng thời gian từ lúc bị TNTT cho đến khi được sơ cấp cứu 43
Bảng 3.15 Nơi nạn nhân điều trị sau khi được sơ cứu 44
Bảng 3.16 Thời gian nằm viện của nạn nhân 44
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của tai nạn thương tích đến sức khỏe 45
Bảng 3.18 Tỷ lệ học sinh đã nghe nói về tai nạn thương tích 46
Bảng 3.19 Tỷ lệ học sinh đã từng chứng kiến tai nạn thương tích 46
Bảng 3.20 Tỷ lệ học sinh cho rằng tai nạn thương tích có thể phòng tránh 47
Bảng 3.21 Tỷ lệ học sinh sẵn sàng tham gia khi địa phương tổ chức tuyên truyền giáo dục về phòng tránh TNTT 47
Trang 9Bảng 3.23 Kiến thức của học sinh về các biện pháp phòng tránh tai nạn giao
thông khi đi xe đạp 49Bảng 3.24 Thực hành của học sinh về phòng tránh TNGT trong 1 tháng qua 50Bảng 3.25 Kiến thức của học sinh về các biện pháp phòng tránh ngã 51Bảng 3.26 Thực hành của học sinh về phòng tránh ngã trong 1 tháng qua 51Bảng 3.27 Kiến thức của học sinh về các biện pháp phòng tránh ngộ độc 52Bảng 3.28 Thực hành của học sinh về phòng tránh ngộ độc trong 1 tháng qua 53Bảng 3.29 Kiến thức của học sinh về các biện pháp phòng tránh đuối nước 53
Trang 10Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nạn nhân có đƣợc sơ cấp cứu 42 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ học sinh có biết bơi 54 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ học sinh đã từng học bơi 54
Trang 11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai nạn thương tích là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu nghiêm trọng với tỷ lệ tử vong do tai nạn thương tích ngày càng tăng nhất là ở các nước dang phát triển, gây nhiều tổn thất nặng nề về tính mạng và tài sản của người dân, và ngày càng trở thành một vấn đề y tế quan trọng Theo thống kê của WHO, hàng năm có khoảng 5,8 triệu người chết, hơn 100 triệu người bị tàn tật do thương tích và tỷ lệ tai nạn thương tích chiếm 10% - 30% gây thiệt hại hàng ngàn tỷ USD Dự báo đến năm 2020 mỗi năm có khoảng 8 triệu người tử vong do thương tích và thương tích là nguyên nhân thứ tư trong mười nguyên nhân gây tử vong hàng đầu [55], [59]
Thương tích gây hậu quả rất nặng nề cho trẻ em và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em và vị thành niên ở hầu hết các nước trên thế giới Mỗi ngày trên khắp thế giới có khoảng trên 2000 gia đình phải rơi lệ vì
sự ra đi của một đứa trẻ do thương tích Ngoài ra, hàng năm trẻ khác phải chịu những di chứng rất nặng nề cả về thể xác lẫn tinh thần, là gánh nặng cho gia đình và xã hội, gây thiệt hại rất lớn về người và của đe dọa tới sự phát triển bền vững của các quốc gia [55]
Ở Việt Nam tai nạn thương tích đang trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại các bệnh viện, tai nạn có thể xảy ra ở bất cứ lúc nào, ở đâu, với bất kỳ lứa tuổi nào dưới nhiều hoàn cảnh khác nhau
Tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm giảm rõ rệt, nhưng tỷ lệ tử vong do thương tích đang tăng lên nhanh chóng và là nguyên nhân chính gây tử vong
ở trẻ em 5-19 tuổi Theo ước tính của UNICEF ở nước ta có khoảng 50.000 trẻ em dưới 16 tuổi bị chết hàng năm do thương tích và khoảng 250.000 trẻ khác phải chịu những thương tích nghiêm trọng [60]
Trang 12Huyện Đông Hưng là một huyện nằm ở trung tâm của tỉnh Thái Bình đang trên đà phát triển mọi mặt về kinh tế, xã hội nhưng rất dễ tiềm ẩn những nguy cơ gây thương tích cho trẻ em Do vậy việc xác nhận thực trạng thương tích của học sinh là bằng chứng khoa học trong việc xây dựng chương trình giáo dục cũng như chương trình phòng ngừa thương tích của trẻ em ở lứa tuổi học đường, góp phần và nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trẻ
em của huyện trong thời gian tới, trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành đề tài:
“Thực trạng tai nạn thương tích và kiến thức, thực hành phòng tránh tai nạn thương tích học sinh trung học cơ sở huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình năm 2015” với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng tai nạn thương tích của học sinh tại bốn trường trung học cơ sở huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình năm 2015
2 Đánh giá kiến thức, thực hành phòng tránh tai nạn thương tích của học sinh tại bốn trường trung học cơ sở nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm về tai nạn thương tích
- Tai nạn là một sự kiện bất ngờ xảy ra, không có nguyên nhân rõ ràng
và khó lường trước được
- Thương tích là gì: Là những thương tổn thực thể trên cơ thể người do tác động của những năng lượng (bao gồm cơ học, nhiệt, điện, hoá học hoặc phóng xạ) với mức độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể người Ngoài ra chấn thương còn là sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống như trong trường hợp đuối nước, bóp nghẹt hoặc đông lạnh [39]
- Thế nào là trường hợp bị thương được ghi chép: Là những chấn thương cần thiết đến sự chăm sóc y tế phải nghỉ học, nghỉ làm việc hoặc hạn chế sinh hoạt bình thường tối thiểu một ngày
- Thế nào là tử vong do thương tích: Là những trường hợp tử vong do nguyên nhân thương tích trong vòng một tháng sau khi xảy ra tai nạn
- Thế nào là vụ tai nạn: Là những vụ việc xảy ra do va chạm, đổ xe, lật thuyền, sập nhà, hầm lò… Một vụ tai nạn có thể dẫn đến hậu quả thiệt hại về vật chất hoặc người Một vụ tai nạn có thể không có nạn nhân hoặc có thể có nhiều hơn một nạn nhân
Tai nạn thương tích (TNTT) còn gọi là chấn thương được xuất phát từ chữ Injury trong tiếng Anh (trong đó chữ IN cộng với chữ JUS có nghĩa là không đúng) với nghĩa là sự gãy, vỡ, sự xé rách, sự bào mòn (trầy da), sự dập nát gây ra đau đớn, sự làm mất, làm hỏng tính toàn vẹn của cơ thể Tai nạn thương tích được định nghĩa như sau:
Tai nạn thương tích là những thương tổn do: Ngã, tai nạn ô tô, xe máy, tai nạn lao động … dẫn đến bị vết thương phần mềm chảy máu, bong gân,
Trang 14phù nề xây sát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng phải mổ, chấn thương
sọ não, bỏng các loại… mà cần đến sự chăm sóc hoặc điều trị y tế, hoặc bị hạn chế sinh hoạt hàng ngày mất tối thiểu 1 ngày
Ngoài định nghĩa trên, Tai nạn thương tích còn được định nghĩa theo cách khác: Tai nạn thương tích là những thương tổn thực thể trên cơ thể con người do tác động của năng lượng (bao gồm cơ học, nhiệt, điện, hóa học, hoặc phóng xạ…) với những mức độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của
cơ thể con người Ngoài ra Tai nạn thương tích còn do sự thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống (ví dụ như: các trường hợp đuối nước, bóp nghẹt, hoặc đông lạnh…) [15]
Theo định nghĩa mới đây nhất và được chấp nhận một cách rộng rãi thì: Tai nạn thương tích là những tổn thương cơ thể (có chủ định hay không có chủ định) gây nên bởi sự phơi nhiễm cấp đối với năng lượng mang tính gây tổn thương (cơ học, điện, nhiệt, hóa học) hay bởi sự thiếu vắng đột ngột của các yếu tố thiết yếu (ví dụ như thiếu ôxy trong chết đuối, hay sức nóng trong chấn thương do giảm nhiệt)
Tử vong do Tai nạn thương tích: là những trường hợp tử vong do nguyên nhân Tai nạn thương tích trong vòng 1 tháng sau khi xảy ra Tai nạn thương tích [19]
Tai nạn thương tích là vấn đề được đặt ngoài tình trạng bệnh và hầu như không được quan tâm trong phạm vi y học dự phòng, Tai nạn thương tích cũng là vấn đề y tế công cộng như bệnh sởi… Tai nạn thương tích tuân theo cách tiếp cận dịch tễ học tương tự (như đối với bệnh sởi) và điều tối thiểu mà mọi người thấy rõ là Tai nạn thương tích có thể phòng ngừa và kiểm soát được
Tai nạn thương tích được coi là nhóm bệnh hay quá trình bệnh chứa đựng đầy đủ các cấu phần của diễn biến bệnh, lịch sử tự nhiên của bệnh và các yếu tố dịch tễ học của bệnh
Trang 15Tai nạn thương tích luôn luôn tồn tại tối thiểu ở dưới dạng của tình trạng bệnh, các biện pháp nhằm kiểm soát Tai nạn thương tích rất phong phú
và được sử dụng rộng rãi JohnE Gordon từ khoảng hơn 30 năm trước đây đã cho rằng Tai nạn thương tích khi được đặc tính hóa theo vụ dịch, thay đổi mang tính chất mùa, xu hướng dài và các sự phân bố theo vùng địa lý, kinh tế
xã hội, thành thị nông thôn thì nó tự thể hiện theo nhiều khía cạnh hay phương diện khác nhau giống như các bệnh truyền nhiễm rất cổ điển và các dạng bệnh học khác mà đã được hiểu cặn kẽ Trong thực tế, tất cả các phân bố Tai nạn thương tích được biết thì rất không ngẫu nhiên theo các khía cạnh thời gian, nơi chốn và con người
Dựa trên kinh nghiệm của những người tiền nhiệm trong việc điều tra, nghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm, nhiều nhà dịch tễ học về Tai nạn thương tích đã tiến hành điều tra của họ khi lưu tâm đến mô hình lý thuyết được các nhà bệnh truyền nhiễm phát triển Các khía cạnh trọng tâm của quá trình này bao gồm vật chủ (người bị Tai nạn thương tích), tác nhân gây nên Tai nạn thương tích, vật hay vector chuyên chở tác nhân, cũng như các yếu tố môi trường khác
- Tai nạn thương tích giao thông: Là những Tai nạn thương tích xảy ra
trên đường công cộng dành cho người và các phương tiện giao thông đi lại, có hậu quả là một hoặc nhiều người bị chết hoặc thương tổn, và có ít nhất một phương tiện giao thông liên quan Các Tai nạn thương tích giao thông cũng bao gồm cả những va chạm giữa xe cộ và động vật, những vật cố định trên đường Những trường hợp do tự ngã xe trên đường (không va chạm với bất kỳ
ai, cái gì) trên đường cũng được tính là Tai nạn thương tích giao thông
- Tai nạn thương tích trong lao động: Là những trường hợp Tai nạn
thương tích xảy ra đối với người lao động khi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở và khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết
Trang 16mà luật lao động và nội quy lao động của cơ sở cho phép (như nghỉ giải lao,
ăn cơm giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh)
- Tai nạn thương tích trong trường học: Là tất cả những trường hợp
Tai nạn thương tích xảy ra đối với học sinh, cán bộ giáo dục gắn liền với hoạt động giảng dạy, học tập, lao động, vui chơi giải trí, các hoạt động ngoại khóa
và các sinh hoạt do nhà trường quản lý …
- Tai nạn thương tích trong cô ̣ng đ ồng: Tâ ̣p hơ ̣p tất cả các trường hợp
Tai nạn thương tích trong cô ̣ng đồng gây ra bởi nguyên nhân và xảy ra ở mo ̣i lứa tuổi Do đó Tai nạn thương tích cô ̣ng đồng có thể được biểu hiện là một khái niệm rộng , bao hàm nhiều phân loa ̣ i khái niê ̣m Tai nạn thương tích hiê ̣n đang đươ ̣c sử dụng như Tai nạn thương tích giao thông , Tai nạn thương tích lao đô ̣ng, Tai nạn thương tích trong trường ho ̣c
Tai nạn thương tích có thể được phân loại theo nhiều cách như dựa vào:
Cơ chế Tai nạn thương tích; ý định/kiểu Tai nạn thương tích; bản chất của Tai nạn thương tích; đặc điểm tổn thương của cơ thể; đặc điểm và hoạt động khi xảy ra Tai nạn thương tích Một phương pháp được dùng phổ biến để phân loại Tai nạn thương tích là dựa vào sự có chủ ý hay không chủ ý của nạn nhân
và người khác Với nhiều mục đích khác nhau, bao gồm cả việc xác định các
cơ hội can thiệp, cách phân loại đặc biệt hữu ích và là cơ sở cho phân loại thống kê về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan (ICD-10) Theo những nguyên tắc và quy ước của ICD - 10, Tai nạn thương tích nằm trong phần nguyên nhân ngoài của tử vong và bệnh tật trong phân loại này, Tai nạn thương tích được chia thành 3 nhóm chính như sau
- Tai nạn thương tích không chủ định (tai nạn, vô ý)
Tai nạn thương tích không chủ định là Tai nạn thương tích gây nên không chủ ý của những người bị Tai nạn thương tích hay của những người
Trang 17khác.Ví dụ: Tai nạn thương tích do giao thông: ô tô, xe đạp, xe máy, người đi
bộ, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay ; Tai nạn thương tích do ngã; do lửa cháy; do nghẹt thở; do chết đuối; do ngộ độc
- Tai nạn thương tích có chủ định (Cố ý): Tai nạn thương tích có chủ định là những Tai nạn thương tích gây nên có sự chủ ý của người Tai nạn thương tích hay của những người khác Bao gồm:
Bạo lực giữa các cá nhân (Ví dụ: hành hung, giết người, bạo lực giữa bạn tình, bạo lực tình dục); bạo lực hướng vào bản thân hay tự làm hại bản thân (Ví dụ: cố ý uống thuốc và rượu quá liều, tự làm tổn thương thân thể, tự tử); Can thiệp hợp pháp (Ví dụ: Hành động của cảnh sát hoặc những người thực thi pháp luật); chiến tranh, khởi nghĩa nhân dân và gây rối (Ví dụ: Biểu tình và nổi loạn)
- Chủ ý không xác định (nghĩa là trong trường hợp khó xác định là do chủ định hay do tai nạn)
Nguyên nhân chủ yếu của Tai nạn thương tích là do quá trình chuyển vận năng lượng không bình thường hoặc sự can thiệp vào quá trình chuyển năng lượng Theo Willam Haddon J thì đây là cơ chế năng lượng, mỗi sự chuyển vận của viên đạn, con dao, một cây đổ, hoặc năng lượng nhiệt, năng lượng điện, năng lượng bức xạ… có thể gây bỏng, shock, gây tổn thương phóng xạ… một cách riêng biệt [32]
Các nguyên nhân gây nên Tai nạn thương tích bao gồm:
- Tai nạn thương tích liên quan đến giao thông: Là những trường hợp
Tai nạn thương tích xảy ra do sự va chạm bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người; xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao thông công cộng; nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe; Đặc điểm của tai nạn giao thông:
Trang 18+ Xảy ra trên đường cộng cộng dành cho người và phương tiện giao thông đi lại
+ Có hậu quả là một hoặc nhiều người bị chết hoặc bị thương
+ Có ít nhất một phương tiện giao thông liên quan
Như vậy, Tai nạn giao thông được tính tất cả các trường hợp xảy ra trên các tuyến đường bao gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không
- Bỏng: Là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với
chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa Các tổn thương da do sự phát xạ của tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, chất hóa học cũng như tổn thương phổi do bị khói xộc vào cũng được coi là những trường hợp bỏng
- Đuối nước /ngạt: Ngạt là những trường hợp Tai nạn thương tích xảy
ra do bị chìm trong chất lỏng (nước, xăng, dầu…) dẫn đến ngạt do thiếu oxy hoặc ngừng tim dẫn đến tử vong trong vòng 24 giờ hoặc cần đến chăm sóc y
tế hoặc bị các biến chứng khác Chết đuối là trường hợp tử vong trong 24 giờ do bị chìm trong chất lỏng (như: nước, xăng, dầu…)
- Điện giật: Là những trường hợp Tai nạn thương tích do tiếp xúc trực
tiếp với nguồn điện dẫn đến bị thương hoặc tử vong
- Ngã: Là những trường hợp Tai nạn thương tích do bị ngã, rơi từ trên
cao hoặc ngã trên cùng một mặt phẳng Tính tất cả các trường hợp ngã không nằm trong lĩnh vực giao thông và lao động
- Động vật tấn công: Tai nạn thương tích do động vật tấn công là
những trường hợp Tai nạn thương tích do động vật cắn, húc, đâm phải như: chó, mèo, rắn, trâu, bò
- Ngộ độc: Là những trường hợp hít phải, ăn vào, ngấm vào, tiêm vào
cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cần đến sự chăm sóc y tế
Trang 19TNTT do ngộ độc còn có thể phân loại thành ngộ độc do thức ăn hoặc ngộ độc do các chất độc khác
- Máy móc: Là những Tai nạn thương tích xảy ra khi tiếp xúc, vận hành
máy móc trang thiết bị dẫn đến thương tổn thực thể hoặc tử vong
- Bạo lực: Là những hành động sử dụng vũ lực hăm dọa hoặc đánh đập
người, nhóm người, cộng đồng khác dẫn đến Tai nạn thương tích, tử vong, tổn thương tinh thần, chậm phát triển
- Tự tử: Là những trường hợp tử vong do Tai nạn thương tích, ngộ độc,
hoặc ngạt mà có đủ bằng chứng rằng tử vong đó do chính nạn nhân tự gây ra với mục đích đem lại cái chết cho chính họ
- Có ý định tự tử: Là những hành vi do tự làm thương tổn bản thân
nhưng chưa gây tử vong mà có đủ bằng chứng rằng nạn nhân định đem lại cái chết cho bản thân Một dự định tự tử có thể hoặc không dẫn đến thương tích
- Tai nạn lao động: Là những trường hợp chấn thương xảy ra do tác
động của các yếu tố nguy hiểm độc hại trong lao động gây tổn thương bất kỳ
bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ lao động trong thời gian làm việc, chuẩn bị hoặc thu dọn sau khi làm việc Tai nạn lao động bao gồm các tai nạn xảy ra trong các lĩnh vực sản xuất công, nông, lâm, ngư nghiệp
Trang 20Theo tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) thì số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thấy tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm có xu hướng thuyên giảm nhưng tỷ lệ Tai nạn thương tích vẫn không thay đổi mà còn xu hướng gia tăng [59]
Đối với các nước đang phát triển người ta cho rằng các nước đang phát triển đang chuyển dịch qua cái gọi là : "chuyển dịch Dịch tễ học’’ từ tình hình bệnh tật mà chủ yếu là các bệnh truyền nhiễm chuyển sang giai đoạn mà tình hình bệnh tật được chi phối chủ yếu bởi các bệnh không truyền nhiễm, trong
đó có Tai nạn thương tích [20], [35]
Những thay đổi về dân số học (chẳng hạn như sự chuyển dịch của cấu trúc tuổi và đô thị hóa) đã tác động lên dịch tễ học Tai nạn thương tích một cách cơ bản thông qua việc gia tăng những trường hợp Tai nạn thương tích mới gặp nhiều ở người già (chẳng hạn như ngã) và trong các nước môi trường đô thị (chẳng hạn như đâm ô tô) Sự thuyên giảm của số hiện mắc các bệnh truyền nhiễm trong vòng 10 -20 năm gần đây đã làm tăng thêm sự trầm trọng của Tai nạn thương tích, bởi vì nó đã làm nổi bật một cách rõ nét Tai nạn thương tích như là một nguyên nhân tử vong quan trọng nhất cho lứa tuổi từ 1 đến 44 [7]
Ở các nước có tốc độ công nghiệp hóa nhanh trong số các nước đang phát triển, các tỷ lệ tử vong tuyệt đối do Tai nạn thương tích cũng tăng lên nhanh chóng Cùng với sự phát triển là sự thay đổi về công nghệ và xã hội đã làm thay đổi nguy cơ Tai nạn thương tích [18] Những thay đổi này có tiềm năng tác động lên số mới mắc do Tai nạn thương tích đồng thời trên cả hai phương diện có hại (chẳng hạn qua việc tăng các yếu tố có hại hay tăng các hành vi có nguy cơ), và cả có lợi (chẳng hạn như qua các sản phẩm và hành vi
an toàn) Ở phần lớn các nước đang phát triển cho đến nay những thay đổi về môi trường và cách sống này đã làm trầm trọng hơn các vấn đề về Tai nạn thương tích hơn là cải thiện nó
Trang 21Sự gia tăng cơ giới hóa giao thông ở các nước đang phát triển có lẽ là một ví dụ thuyết phục nhất cho hậu quả có hại không mong muốn của sự thay đổi công nghệ Ví dụ ở Thái Lan, tỷ lệ tử vong do ô tô tăng gần 30% mỗi năm, từ những năm 1947 nguyên nhân tử vong do TNTT từ đứng hàng thứ 6
đã nhảy lên hàng thứ nhất Chỉ riêng tử vong do tai nạn giao thông đã chiếm nhiều hơn cả lao và sốt rét cộng lại [52]
Tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội mà mỗi vùng, mỗi quốc gia có những đặc điểm về yếu tố nguy cơ gây Tai nạn thương tích khác nhau Ở các nước đang phát triển, Tai nạn thương tích thường được nhìn nhận như là một hậu quả không thể tránh khỏi của sự thay đổi về công nghệ và phát triển kinh
tế, đó là một cái giá phải trả cho sự phát triển [60]
Trong cách nhìn bao quát chung cả về mặt thương mại và sức khỏe cộng đồng thì những thu nhập được trước mắt về kinh tế thường được quan tâm hơn, người ta chưa thực sự quan tâm tới các chi phí mà tử vong và tàn tật
do Tai nạn thương tích sẽ phải chi trả Vì phải chịu sự bất lợi về mặt kinh tế,
xã hội và chính trị nên những người dân ở các nước đang phát triển đang phải hàng ngày sống với nguy cơ gây Tai nạn thương tích mà điều đó không được chấp nhận ở các nước công nghiệp phát triển
Sự gia tăng cơ giới hóa giao thông , sự đô thi ̣ hóa và thay đổi công nghê ̣
ở các nước đang phát triển là một trong những nguyên nhân dẫn tới gia tăng tình tra ̣ng Tai nạn thương tích ở các nước này Mô ̣t ví dụ điển hình ở Thái Lan, tỷ lệ tử vong do va chạm ô tô tăng gần 30% mỗi năm, năm 1947 nguyên nhân gây tử vong do Tai nạn thương tích chỉ đứng thứ 6, đến nay đã chuyển lên hàng thứ nhất , chỉ riêng các trường hợp tử vong do giao thông đã chiếm số năm sống tiềm tàng bi ̣ mất nhiều hơn cả các trường hợp tử vong do Lao và Sốt rét cô ̣ng la ̣i [52]
Trang 22Theo Lopez khi nghiên cứu các yếu tố nguy cơ Tai nạn thươn g tích ở các nước đang phát triển cho thấy : nam giới có nguy cơ Tai nạn thương tích thường cao hơn so với nữ Điê ̣n, va cha ̣m ô tô , đánh nhau là những nguyên nhân Tai nạn thương tích thường gă ̣p nhiều hơn ở nam giới , trong khi đó nữ thường có nguy cơ Tai nạn thương tích như : lửa, ngô ̣ đô ̣c cao hơn so với nam Trẻ dưới 15 tuổi có các nguy cơ như : lửa, đuối nước, ngô ̣ đô ̣c Tình trạng kinh tế xã hô ̣i thấp thường dễ bi ̣ nguy cơ Tai nạn thương tích do lửa , đánh nhau Với những người uống rượu có nguy cơ các Tai nạn thương tích do lửa , giao thông, ngã, đánh nhau , đuối nước , ngô ̣ đô ̣c Người rối loa ̣n tâm thần có các nguy cơ Tai nạn thương tích do lửa , ngã, đánh nhau , chết đuối , ngô ̣ đô ̣c Những trẻ được giáo dục về an toàn thấp có rất nhiều nguy cơ Tai nạn thương tích như lửa, sốc điê ̣n, va cha ̣m ô tô, xe máy, ngã, đuối nước, ngô ̣ đô ̣c
Các yếu tố nguy cơ gây Tai nạn thương tích cho trẻ em Việt Nam mang đặc thù của các nước đang phát triển và các nước có thu nhập thấp Một số kết quả nghiên cứu Tai nạn thương tích tại cộng đồng của Việt Nam cho thấy: Trẻ
em có nguy cơ bị Tai nạn thương tích cao gấp đôi so với nữ Các nguy cơ gây Tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ là: đuối nước, Tai nạn giao thông, ngã, bỏng, Tai nạn thương tích do động vật cắn, tấn công, ngộ độc Trẻ em 5 tuổi thường phải đối mặt với các nguy cơ Tai nạn thương tích hiện diện ngay trong nhà mình như: ngã do đồ dùng trong gia đình sắp xếp không khoa học, bỏng, ngộ độc và bị cắt bởi vật sắc nhọn do người lớn để các đồ vật nóng, nước sôi, các vật sắc, thuốc men hay hoá chất trong tầm với của trẻ Đối với trẻ lớn hơn đến độ tuổi đi học, bên cạnh những nguy cơ gây Tai nạn thương tích hiện diện trong ngôi nhà của mình, trẻ còn phải tiếp cận với các nguy cơ Tai nạn thương tích ở trường học và ở cộng đồng như nguy cơ Tai nạn giao thông, đuối nước,
ngộ độc, ngã, Tai nạn thương tích vật sắc nhọn và bạo lực [39]
Trang 231.2 Các nghiên cứu về tai nạn thương tích
1.2.1 Tình hình tai nạn thương tích trên thế giới
Hàng năm trên thế giới đã có ít nhất 5,5 triệu người chết, gần 100 triệu người tàn tật vĩnh viễn do Tai nạn thương tích Đây là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 trong 10 nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất Ở nhiều nước, số người
bị tai nạn thương tích phải nhập viện chiếm 10-30% so với tổng số bệnh nhân, thiệt hại ước tính hàng nghìn tỷ đô la Mỹ, chiếm 5-6% tổng thu nhập quốc dân (số liệu của Tổ chức Y tế thế giới năm 1993) Dự báo đến năm 2020, số người bị tai nạn thương tích mỗi năm sẽ tăng thêm 20% [55]
Theo Tổ chức Y tế thế giới mỗi ngày trên thế giới có khoảng 16.000 người chết về các loại thương tích Cứ mỗi trường hợp tử vong thì có hơn vài ngàn người bị thương tích, rất nhiều người trong số họ bị tàn tật vĩnh viễn Thương tích xảy ra ở mọi khu vực và quốc gia, ảnh hưởng đến con người ở mọi lứa tuổi kể cả lứa tuổi lao động với nhiều mức độ khác nhau [59]
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tai nạn thương tích chiếm 12% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, là một trong những nguyên nhân nhập viện hàng đầu và là nguyên nhân chính gây tàn phế, làm mất khả năng sống tiềm tàng Theo thống kê hiện nay, Tai nạn thương tích chiếm tới 1/3 tổng số các trường hợp nhập viện, chiếm 10% số năm sống bị mất đã được điều chỉnh do tàn tật (DALY) của con người và ước tính con số này sẽ tăng lên 20% vào năm
2020 Tổn thất về xã hội và kinh phí do thương tích là rất lớn Hàng triệu người trên toàn cầu đang phải đối mặt với cái chết hoặc tàn tật của các thành viên trong gia đình do thương tích Ước tính tổn thất toàn cầu do thương tích giao thông đường bộ làm mất đi 1-2% tổng sản phẩm quốc nội của các nước, chiếm 518 tỷ đô la Mỹ trong một năm; ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, chi phí này chiếm 65 tỷ đô la Mỹ, nhiều hơn khoản viện trợ các nước này nhận được cho phát triển kinh tế [55] Xét trên góc độ kinh tế xã hội,
Trang 24khoản tài chính mất đi do Tai nạn thương tích rất lớn, bao gồm chi phí cho các dịch vụ cấp cứu, các chi phí cho điều trị, phục hồi chức năng và mất khả năng lao động Bên cạnh các chi phí y tế trực tiếp, tử vong và tàn tật do thương tích có thế tác động rất lớn đến các thành viên trong gia đình đặc biệt
là cha mẹ trẻ Đông Nam Á là một khu vực đông dân cư và có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất trên thế giới hiện nay Tất cả các nước trong khu vực hiện đang phải đối mặt với những vấn đề Tai nạn thương tích trầm trọng, tỷ suất thương tích phải nhập viện, tử vong và tàn tật khá cao Tại khu vực này hàng năm có khoảng 1,5 triệu trường hợp tử vong do Tai nạn thương tích, trong đó 75% là các Tai nạn thương tích không chủ định Mô hình Tai nạn thương tích cũng rất khác nhau giữa các quốc gia, trong đó nổi bật là tai nạn giao thông (TNGT) chiếm tới 36% tổng số Tai nạn thương tích, tiếp theo là đuối nước và bỏng Đối với Tai nạn thương tích có chủ định, tự tử là nguyên nhân hàng đầu Tai nạn thương tích đóng góp 16% tổng gánh nặng bệnh tật toàn cầu và là nguyên nhân hàng đầu gây nên thương tích và tàn tật cho quần thể dân cư trong 6 khu vực Theo ước tính, cứ mỗi một trường hợp tử vong do Tai nạn thương tích sẽ có từ 30 - 50 trường hợp phải nhập viện và 50 - 100 trường hợp khác phải đến khám và sơ cấp cứu tại các cơ sở y tế
Tuy mỗi khu vực có mô hình Tai nạn thương tích đặc thù nhưng các nguyên nhân gây Tai nạn thương tích hàng đầu ở hầu hết các quốc gia đều phải đối mặt là Tai nạn giao thông, đuối nước, bỏng, ngã, ngộ độc, thương tích do vật sắc nhọn, vấn đề thương tích có chủ định như bạo lực hay tự tử cũng cần được xem xét tại các quốc gia có tình hình kinh tế chính trị đang phát triển và không ổn định
Tai nạn giao thông luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số các trường hợp tai nạn thương tích Sau tai nạn giao thông là các thương tích do thảm họa thiên tai với số chết trung bình hàng năm khoảng 128.000 người (riêng Châu
Trang 25Á trên 43.000 người) Thiệt hại trong 05 năm từ 1991 đến 1995 khoảng 440 tỷ
đô la Mỹ Các tai nạn thương tích trong lao động sản xuất, thương mại dịch
vụ ước tính hàng năm xảy ra 250 trường hợp, làm 330.000 người chết gây tổn thất tương đương 4% tổng sản phẩm xã hội toàn cầu Tai nạn thương tích trong sinh hoạt gia đình chiếm 30-40%, học đường 10%, hoạt động thể thao 15-20%, hoạt động văn hoá và các hoạt động vui chơi giải trí 2-4%
Đuối nước: Trong các loại hình Tai nạn thương tích, đuối nước là một trong những mối quan tâm hàng đầu do mức độ trầm trọng của loại hình Tai nạn thương tích này Đuối nước là nguyên nhân nổi bật gây tử vong và đặc biệt là ở Trẻ em tại nhiều vùng trên thế giới Theo WHO, trong năm 2000 có 450.000 trường hợp đuối nước trên toàn thế giới, trong đó có 97% các trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập trung bình và thấp Đặc biệt, hơn 50% số tử vong do đuối nước toàn cầu xảy ra ở nhóm Trẻ em từ 0 – 14 tuổi Theo UNICEF, 50% các trường hợp đuối nước dẫn đến tử vong, một trong những nguyên nhân phải kể đến là do nạn nhân bị đuối nước thường không được can thiệp y tế kịp thời Đuối nước gây tử vong và không tử vong đang là một gánh nặng hàng đầu tại các nước khu vực Châu Á Các nghiên cứu cộng đồng gần đây tại các nước Châu Á bao gồm Bangladesh, Indonesia, Philipine, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam cho thấy đuối nước đang là vấn đề sức khoẻ trầm trọng đặc biệt đối với Trẻ em dưới 18 tuổi [39]
Bỏng: Theo ước tính của WHO năm 2004, trên toàn cầu có gần 96.000 người bị tử vong do bỏng lửa Tỷ lệ tử vong do bỏng ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình ở Châu Phi và Đông Nam Á cao gấp 11 lần so với tỷ lệ đó
ở các quốc gia thu nhập cao Khu vực Đông Nam Á đóng góp tới 10% các trường hợp bỏng trên thế giới Hàng loạt các nghiên cứu dựa vào số liệu bệnh viện cho thấy, TNTT do bỏng chiếm tỷ lệ tử vong cao (20 - 40%), và chiếm khoảng 10 - 30% số trường hợp nhập viện Hầu hết các trường hợp Tai nạn
Trang 26thương tích do bỏng đều xảy ra khi đun nấu bằng bếp củi, dầu hoặc chạm vào các đồ dùng nấu ăn còn nóng Ngoài ra các nguyên nhân do nước sôi và điện cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ [55]
Ngã: Theo báo cáo toàn cầu của WHO, trong năm 2004, ước tính 424.000 người ở tất cả mọi lứa tuổi đã tử vong do ngã trên toàn thế giới, trong số đó 46.000 là Trẻ em Ngã đứng thứ 12 trong các nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu ở trẻ từ 15 - 19 tuổi, trong đó 66% tử vong là do ngã từ trên cao xuống
Ngộ độc: Theo báo cáo của WHO về Tai nạn thương tích, trong năm
2004 ngộ độc cấp gây ra hơn 45.000 ca tử vong trên thế giới Thống kê tại 16 quốc gia thu nhập cao và trung bình, ngộ độc là nguyên nhân thứ 4 gây tử vong sau Tai nạn thương tích do tai nạn giao thông đường bộ, bỏng và đuối nước Đối với các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, số trường hợp tử vong do ngộ độc còn cao gấp 4 lần so với các quốc gia thu nhập cao
Bạo lực: Hàng năm, hơn 1,6 triệu người trên toàn thế giới tử vong do bạo lực, 4.000 người chết vì bạo lực mỗi ngày, trong đó 90% các trường hợp xảy ra ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [55]
1.2.2 Tình hình tai nạn thương tích ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tử vong do Tai nạn thương tích không chủ ý là nguyên nhân phổ biến thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong (chiếm 11% số trường hợp tử vong), sau các bệnh về tim mạch (18%) và bệnh truyền nhiễm (15%) Theo kết quả điều tra y tế quốc gia 2001-2002, tỷ lệ tử vong do Tai nạn thương tích chiếm 10,7% trong tổng số các trường hợp tử vong [35] Tại Hội nghị phòng chống Tai nạn thương tích châu Á Thái Bình Dương lần thứ 2
tổ chức tại Hà Nội năm 2008, trong bài phát biểu, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân nêu rõ: ―Theo thống kê năm 2007, mỗi ngày tại Việt Nam có hơn 3.000 người bị Tai nạn thương tích, hơn 100 người tử vong Còn theo số liệu
Trang 27của Bộ Y tế cho thấy, 25% tổng số trường hợp tử vong được báo cáo tại Việt Nam là do Tai nạn thương tích Trong đó, nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp bị Tai nạn thương tích và tử vong là tai nạn giao thông (TNGT) (và tai nạn giao thông đường bộ) là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng thương tích ở các nước trên thế giới, ngoài ra tử vong do đuối nước cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ Theo thông báo trong 6 tháng đầu năm 2011, tại
53 tỉnh/thành phố có 551.380 trường hợp Tai nạn thương tích với tỉ suất là 740,33/100.000 người, trong đó có 4.665 trường hợp tử vong chiếm tỉ lệ 0,84% so với tổng số mắc Tai nạn thương tích [2] Tỷ suất tử vong do Tai nạn thương tích là 6,26/100.000 người Nhóm tuổi 15-19 có tỷ suất mắc và tử vong do Tai nạn thương tích cao nhất là 1.312,44/100.000 người và 8,9/100.000 người; Nhóm tuổi 0-4 có tỷ suất mắc và tử vong do Tai nạn thương tích thấp nhất tương ứng 401,07/100.000 người và 2,89/100.000 người Nam giới có tỷ lệ mắc và tử vong do Tai nạn thương tích (68,48% và 73,85%) cao hơn nữ giới (31,52% và 26,15%) Tỷ lệ mắc và tử vong do tai nạn giao thông (TNGT) đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây Tai nạn thương tích chiếm 39,46% và 52,75%; tai nạn lao động 14,36% và 5,83%, ngã 12,22% và 5,02%, Các bộ phận bị tổn thương do Tai nạn thương tích : tổn thương chi có tỷ lệ mắc cao nhất 37,38%, tổn thương đầu mặt cổ gây tử vong cao nhất 42,04% Đi ̣a điểm tai na ̣n : Tỷ lê ̣ mắc và tử vong do Tai nạn thương tích trên đường đi chiếm tỷ lê ̣ cao nhất (43,92% và 54,81%), chiếm tỷ
lê ̣ cao thứ hai là tai na ̣n thương tích ta ̣i nhà với 22,09% và 13,80% Tai nạn thương tích ta ̣i trường ho ̣c có tỷ lê ̣ mắc và tử vong thấp nhất (4,62% và 2,12%) 10 tỉnh có số mắc Tai nạn thương tích cao nhất lần lượt là: Thành phố
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Thuận, Bến Tre, Bình Dương, Đồng Tháp, An Giang, Long An, Thái Bình, Kiên Giang[18], [27], [36]
Trang 28Kết quả điều tra quốc gia về Tai nạn thương tích tại Việt Nam tiến hành năm 2001 cho thấy Tai nạn thương tích đang dần trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong Hàng năm, cứ 100.000 trẻ dưới 18 tuổi thì có gần 84 trẻ bị tử vong, cao gấp 5 lần so với số tử vong do bệnh truyền nhiễm (14,9/100.000) và gấp 4 lần so với bệnh không truyền nhiễm (19,3/100.000) Với thương tích không tử vong, đã có khoảng gần 5.000 trẻ trên 100.000 trẻ bị thương trong năm đó, tương đương với gần 5% số trẻ ở Việt Nam [1] Các nguyên nhân gây Tai nạn thương tích chủ yếu ở Việt Nam bao gồm Tai nạn giao thông, đuối nước, ngã, Tai nạn thương tích do vật sắc
và ngộ độc Trong đó, Tai nạn giao thông là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn tật; đuối nước là nguyên nhân lớn nhất gây tử vong và ngã là nguyên nhân thứ ba gây tử vong cho trẻ [1], [2], [3], [7]
1.2.3 Tình hình tai nạn thương tích tại Thái Bình
Trong một vài năm gần đây trung bình mỗi năm toàn tỉnh có 420 trẻ
em dưới 16 tuổi tử vong trong đó tử vong do tai nạn thương tích chiếm khoảng 40%
Theo báo cáo chưa đầy đủ từ các huyện, thành phố: Chỉ riêng năm
2009, đã xảy ra một số vụ tai nạn, cụ thể: Tai nạn giao thông 8.803 người và
82 trường hợp tử vong; Tai nạn lao động là 4.030 trường hợp và có 23 trường hợp tử vong; Tai nạn do súc vật và động vật cắn, đốt là 393 trường hợp; Ngã
là 1.442 trường hợp có 15 trường hợp tử vong; Đuối nước là 28 trường hợp có
04 trường hợp tử vong; Bỏng 788 trường hợp và 10 trường hợp tử vong
- Nghề nghiệp thường để xảy ra Tai nạn thương tích: Nhóm học sinh; sinh viên; công nhân; thợ thủ công; sau đến lao động tự do; lao động nông nghiệp
- Địa điểm xảy ra Tai nạn thương tích trên đường đi; nơi cộng cộng; tại nhà và trường học
Trang 29Tai nạn thương tích có xu hướng gia tăng, trong 6 tháng năm 2011, Thái Bình là một trong 10 tỉnh có số liệu tai nạn thương tích cao nhất toàn quốc Nguyên nhân dẫn đến tai nạn thương tích trong cộng đồng chủ yếu là
do kiến thức về an toàn trong cuộc sống cho người dân còn thấp, ý thức chấp hành luật pháp và các quy định về an toàn chưa nghiêm [2]
1.3 Hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích
Trong thực tế các sự kiện gây nên tổn thương cho con người thường là không ngẫu nhiên, các yếu tố nguy cơ có thể phân biệt được và nó gắn sự tác động qua lại giữa con người, phương tiện giao thông, trang thiết bị, các quá trình, môi trường cơ thể và xã hội Phòng chống tai nạn thương tích là các hoạt động phòng và giảm thiểu các hậu quả do Tai nạn thương tích gây nên Phòng chống Tai nạn thương tích được chia thành 2 loại:
(1) Phòng ngừa chủ động: đòi hỏi có sự tham gia và hợp tác của cá nhân, hiệu quả của phòng ngừa phụ thuộc vào việc sử dụng đúng biện pháp phòng ngừa Mục đích của phòng ngừa chủ định là thay đổi hành vi
(2) Phòng ngừa thụ động: là biện pháp có hiệu quả nhất trong kiểm soát Tai nạn thương tích, không đòi hỏi phải có sự tham gia của cá nhân, biện pháp phòng ngừa chủ yếu được thiết kế để đối tượng có thể tự động tham gia vào phòng ngừa Mục đích của phòng ngừa bị động là thay đổi môi trường, hay phương tiện của người sử dụng
1.3.1 Phòng tránh tai nạn thương tích trên thế giới
Kinh nghiệm của nhiều nước có thu nhập cao cho thấy nếu có chiến lược phòng chống Tai nạn thương tích phù hợp dựa trên các bằng chứng khoa học, Tai nạn thương tích hoàn toàn có thể dự phòng được Tại một số nước thành viên của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế, số lượng tử vong do Tai nạn thương tích giảm một nửa trong giai đoạn 1975- 1995 Có được thành tựu này là do kết quả của sự kết hợp giữa nghiên cứu, xây dựng hệ thống số liệu,
Trang 30cải thiện môi trường an toàn, xây dựng và thực thi pháp luật, giáo dục cộng đồng, cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc chấn thương thiết yếu [44]
Cải thiện môi trường là một chiến lược phòng chống Tai nạn thương tích được xem là có hiệu quả đối với mọi lứa tuổi Chiến lược này sẽ phát huy hiệu quả cao khi sử dụng kết hợp với hai chiến lược khác là thực thi luật pháp
và truyền thông giáo dục
Các nước có thu nhập thấp và trung bình có những nét đặc thù riêng về kinh tế, văn hóa, xã hội và các yếu tố nguy cơ gây Tai nạn thương tích, vì vậy cần có các chương trình can thiệp thích hợp Phát triển chương trình can thiệp phù hợp, được thực hiện thử nghiệm và có đánh giá một cách khoa học sẽ là các bằng chứng để mở rộng mô hình phòng chống Tai nạn thương tích một cách hiệu quả Phòng chống Tai nạn thương tích ở các nước đang phát triển hiện nay đang phải đối mặt với các khó khăn không chỉ đơn thuần do thiếu các số liệu cơ bản để thiết lập các chương trình can thiệp mà còn thiếu các biện pháp can thiệp dựa trên các thử nghiệm đã được kiểm chứng trong hoàn cảnh cụ thể tại địa phương một cách khoa học
1.3.2 Phòng tránh tai nạn thương tích tại Việt Nam
Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng Tai nạn thương tích có thể xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, thuộc mọi thành phần kinh tế xã hội Các nguyên nhân gây Tai nạn thương tích là tai nạn giao thông, đuối nước, bỏng, ngã, ngộ độc và Tai nạn thương tích do vật sắc nhọn TNTT là một trong những vấn đề sức khỏe rất trầm trọng, việc đẩy mạnh các hoạt động phòng chống và kiểm soát Tai nạn thương tích hiện nay là hết sức cấp thiết Tuy nhiên, để các nỗ lực này đạt được hiệu quả cần phải có sự tham gia và đóng góp tích cực mang tính liên ngành, không đơn thuần chỉ có sự tham gia của ngành y tế [26], [32]
Ngày 11 tháng 11 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 2158/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phòng chống Tai nạn thương
Trang 31tích trẻ em giai đoạn 2013 - 2015, nhằm từng bước hạn chế Tai nạn thương tích trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Một trong những mục tiêu cụ thể được đề cập là từng bước hạn chế Tai nạn thương tích trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội góp phần đảm bảo sự bền vững của quốc gia trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Chính sách quốc gia đã đặt ra các mục tiêu cụ thể và các chiến lược cho các cơ quan Chính phủ và các ban ngành có liên quan đạt được mục tiêu chung Chính sách cũng cụ thể hóa vai trò chủ chốt của từng cơ quan, ban ngành trong lĩnh vực phòng chống Tai nạn thương tích [8]
Các Bộ, ngành theo chức năng và nhiệm vụ của mình phối hợp với chính quyền các cấp và các tổ chức xã hội để thực hiện công tác phòng chống Tai nạn thương tích trên tất cả các lĩnh vực Trong sự phối hợp chung, mỗi
Bộ, ngành phải đóng vai trò chủ chốt trong từng lĩnh vực thuộc quyền quản lý của mình Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức phối hợp giữa các cơ quan, các tổ chức kinh tế, xã hội tại địa phương để thực hiện nhiệm vụ phòng chống Tai nạn thương tích Các bộ chủ chốt tham gia bao gồm: Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Văn hoá Thông tin, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [3], [4], [5]
Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống Tai nạn thương tích đã được thành lập để giúp Chính phủ chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác phòng, chống Tai nạn thương tích trong toàn quốc Bộ trưởng Bộ Y tế là Trưởng ban chỉ đạo,
Bộ Y tế là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống Tai nạn thương tích Tiếp theo chính sách trên, năm 2001 Bộ Y tế đã ra quyết định 170/QĐ-BYT về xây dựng cộng đồng an toàn (CĐAT), phòng chống Tai nạn thương tích Quyết định 170 là một chính sách phù hợp với yêu cầu thực
tế về tình hình Tai nạn thương tích trong cộng đồng Việc đưa ra mô hình CĐAT với các tiêu chuẩn, quy trình xây dựng cộng đồng an toàn, hướng dẫn
Trang 32phương pháp thực hiện, và cơ cấu quản lý giúp chuẩn hoá quá trình thực hiện, đảm bảo sự thống nhất về chất lượng Theo số liệu thống kê trong giai đoạn 2001-2006 cho thấy, thương tích có chiều hướng giảm song con số tuyệt đối vẫn còn cao Một số loại hình thương tích như tai nạn lao động, ngộ độc thực phẩm, các loại thương tích trong gia đình, cộng đồng cần tiếp tục quan tâm phòng, chống [19], [21]
Tháng 12/2007, Việt Nam chính thức áp dụng luật đội mũ bảo hiểm bắt buộc khi tham gia giao thông bằng xe mô tô, xe gắn máy Sau 15/12/2007, tỉ
lệ sử dụng mũ bảo hiểm tăng lên trên 90% Trong 5 tháng cuối năm 2007, số
vụ tai nạn giao thông giảm 10,2% so với cùng kỳ năm 2006; số người bị thương giảm 20,9%; số người tử vong giảm 7,4% Đến nay, có thể khẳng định quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe mô tô, xe gắn máy là đúng và đã thực hiện thành công trên phạm vi toàn quốc Chủ trương này đã góp phần giảm tỷ lệ người bị chấn thương sọ não, làm hạn chế số người bị chết do tai nạn giao thông Đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông đã mang lại những kết quả nhất định đối với người lớn Ngày 25/10/2010 chính phủ chính thức thực thi chế tài xử phạt đối với các trường hợp trẻ em ngồi xe máy không đội
mũ bảo hiểm
Năm 2008, Bộ Y tế đã phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tai nạn thương tích tại cộng đồng đến năm 2010 theo Quyết định số 17/2008/QĐ-BYT nhằm nâng cao năng lực phòng, chống tai nạn thương tích
và giảm tỷ lệ tai nạn thương tích trong cộng đồng Chương trình hành động không chỉ là nền tảng để thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của ngành y tế trong công tác phòng chống Tai nạn thương tích và bảo vệ sức khỏe nhân dân
mà còn để phối hợp với các chương trình, dịch vụ sức khỏe khác, huy động tham gia của các ban ngành, đoàn thể, cộng đồng và mỗi cá nhân
Trang 33Năm 2010 là thời điểm quan trọng để tiến hành đánh giá việc thực hiện chính sách quốc gia về phòng chống Tai nạn thương tích và kế hoạch hành động của Bộ Y tế vì đây là năm kết thúc của cả hai khung pháp lý quan trọng này Năm 2009, Unicef tiến hành đánh giá việc thực hiện chính sách quốc gia phòng chống Tai nạn thương tích giai đoạn 2006- 2009 do 2 chuyên gia trong nước và quốc tế tiến hành nhằm rà soát chính sách Quốc gia phòng chống Tai nạn thương tích của Việt nam với các chủ trương, đường lối, tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế cũng như đánh giá các thành tựu chủ yếu và những khó khăn trở ngại mà các cơ quan thực hiện gặp phải khi triển khai thực hiện chính sách quốc gia Lần đánh giá này tập trung vào vai trò và nhiệm vụ của ngành y tế ở các cấp trong quá trình thực hiện chương trình hành động của ngành về phòng chống Tai nạn thương tích giai đoạn 2008- 2010 Những đánh giá này không chỉ để tổng kết và nhìn lại những thành công và khó khăn, thuận lợi trong quá trình triển khai mà còn tạo tiền đề, rút kinh nghiệm trong việc Dự thảo chỉ thị tăng cường công tác Phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng và kế hoạch hành động của ngành y tế cho giai đoạn mới 2011-2015
Trang 34CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa bàn, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại bốn trường Trung học cơ sở huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình gồm: 2 trường trung học vùng thị trấn và 2 trường trung học cơ sở vùng nông thôn
Bản đồ huyện Đông Hưng - Tỉnh Thái Bình – NXB GD 2.2015
Trang 35Đông Hưng: là huyện trọng điểm lúa của tỉnh Thái Bình và nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Phụ, phía Nam giáp huyện Vũ Thư và Thành phố Thái Bình Phía Đông giáp huyện Thái Thụy, phía Tây giáp huyện Hưng Hà Huyện có 2 trục đường Quốc lộ lớn chạy qua: Quốc lộ
10 và Quốc lộ 39 Khoảng cách từ Tây sang Đông là 20km, từ Bắc xuống Nam khoảng 10km Có diện tích 198,3km2
chiếm 13% diện tích tỉnh Thái Bình, dân số 258.000 người chiếm 14% dân số tỉnh Thái Bình, gồm 44 xã và một thị trấn, bình quân mỗi xã có khoảng 5.750 người, mật độ dân số 1.301 người/1km2
vượt 13% so với tỷ lệ tăng dân số của tỉnh, đứng thứ hai sau thành phố (tỉnh Thái Bình: Dân số 1.865.400 người, diện tích 1.545,84km2
, mật độ dân số 1.152 người/1km2
đứng thứ ba trên toàn quốc sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, Thái Bình có 7 huyện và 1 thành phố, có 286 xã phường, có 94% dân số sống ở nông thôn
Là một huyện nằm trong vùng châu thổ Đồng bằng Sông Hồng, do vậy
hệ thống sông ngòi, hồ ao ở khắp nơi Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 750mm, cũng giống như một số huyện khác trong tỉnh Thái Bình, huyện Đông Hưng chịu nhiều ảnh hưởng của mưa bão và sự đe dọa của úng lụt, hàng năm sau mỗi đợt mưa úng bão gió, vấn đề tai nạn thương tích là mối quan tâm hàng đầu của công tác y tế
Đông Hưng có địa hình tương đối bằng phẳng, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho trồng cây lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm và phát triển Tiểu thủ công nghiệp, có nhiều nghề sản xuất bánh kẹo truyền thống, sản phẩm của các làng lưu thông rộng rãi trong tỉnh và ngoài tỉnh làm tăng thêm các phương tiện giao thông qua lại trong huyện Hệ thống giao thông đường
bộ, đường thủy bao bọc xung quanh
Trên địa bàn huyện Đông Hưng hệ thống giao thông đảm bảo ô tô về đến được tất cả các xã, các xã đều có hệ thống đường bê tông vào từng ngõ ngách Đây cũng là vấn đề gia tăng tai nạn thương tích làm các nhà quản lý
Trang 36cần có biện pháp cấp bách thuận tiện cho phát triển dịch vụ thương mại, giao lưu buôn bán
Theo thống kê của Trung tâm Y tế huyện Đông Hưng báo cáo thì số học sinh TNTT năm 2014 là:
Tổng số 1.765 trường hợp thì có 45 trường hợp tử vong, trong đó tai nạn thương tích của học sinh là 448 trường hợp (chiếm 25,4%) và có một trường hợp tử vong
Cụ thể: Tai nạn giao thông 570 trường hợp, tai nạn lao động 554 trường hợp, súc vật, động vật, cắn húc 99 trường hợp, ngã 271 trường hợp, đuối nước
58 trường hợp, bỏng 29 trường hợp, thương tích do động vật, thực vật 7 trường hợp, tự tử 19 trường hợp, bạo lực xung đột 24 trường hợp, các đối tượng khác 134 trường hợp
- Nghề nghiệp xảy ra tai nạn thương tích: học sinh, công nhân, nông dân, lao động tự do…
- Địa điểm xảy ra tai nạn thương tích: trên đường, trường học, tại nhà,
ao hồ…
Năm 2015 tai nạn thương tích giảm so với năm 2014: Tổng số 1.362 trường hợp thì có 12 trường hợp tử vong, trong đó tai nạn thương tích của học sinh là 270 trường hợp (chiếm 20%), cụ thể là tai nạn giao thông 462 trường hợp, tai nạn lao động 366 trường hợp, xúc vật, động vật cắn, húc 18 trường hợp, ngã 264 trường hợp, đuối nước 12 trường hợp, bỏng 30 trường hợp, tự tử
0 trường hợp, bạo lực, xung đột 18 trường hợp, các đối tượng khác 78 trường hợp
- Nghề nghiệp xảy ra tai nạn thương tích: học sinh, công nhân, nông dân, lao động tự do…
- Địa điểm xảy ra tai nạn thương tích: trên đường, trường học, tại nhà,
ao hồ…
Học sinh ở lứa tuổi hiếu động, nghịch ngợm, hiểu biết chưa đầy đủ, một số em có hiểu biết nhưng không thực hiện thường xuyên, đi bộ thường đi
Trang 37từng nhóm, đi xe đạp hàng hai hàng ba, đánh võng, lạc lách, kéo xô đẩy lẫn nhau nhất là giờ tan trường Mặt khác tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường
để kinh doanh buôn bán và tâp kết vật liệu xây dựng… làm hạn chế tầm nhìn
và làm cho người đi bộ phải xuống lòng đường dẫn đến nguy cơ bị tai nạn giao thông, nhất là vào giờ tan tầm có nhiều người tham gia giao thông làm tăng tỷ lệ tai nạn thương tích Ngoài ra còn do một số nguyên nhân sau:
+ Nhà trường
- Do cơ sở vật chất của nhà trường nhiều nơi còn yếu kém và xuống cấp
- Điều kiện vui chơi sinh hoạt cho các em còn thiếu
Có 224 doanh nghiệp đầu tư đã tạo công ăn việc làm cho 45.000 lao động địa phương, các phương tiện giao thông phục vụ cho việc đi lại và vận
Trang 38chuyển hàng hóa của người dân rất đa dạng, từ xe đạp, xe máy, ô tô các loại Đặc biệt vào giờ tan tầm làm gia tăng các trường hợp tai nạn giao thông
Tình hình giáo dục Trung học cơ sở huyện Đông Hưng: Có 34 trường Trung học cơ sở (7 trường liên xã)
Huyện Đông Hưng có tổng số là 34 trường Trung học cơ sở gồm những trường: Hoa Hồng Bạch, Hoa Lư, Hồng Việt, Minh Tân, Thăng Long, Trọng Quan, Minh Châu, Phong Phú Châu, Dương Tiến, Nguyên Xá, Đồng Phú, An Châu, Mê Linh, Lô Giang, Liên Giang, Phú Lương, Đô Lương, Phạm Huy Quang, Đông La, Đông Sơn, Phương Cường Xá, Đông Động, Đông Các, Hợp Hưng, Đông Xuân, Quang Dương, Đông Hà, Đông Giang, Đông Vinh, Đông Hoàng, Đông Á, Phong Huy Lĩnh, Đông Tân, Đông Kinh
Tổng số lớp: 349 lớp, số học sinh 11.840 học sinh (khoảng 34 học sinh/lớp)
Tổng số giáo viên là 867 cán bộ được phân bổ đều xuống 34 trường Trung học cơ sở trong huyện Trong đó:
Khối 6: 79 lớp với 2.773 học sinh
Khối 7: 97 lớp với 3.376 học sinh
Khối 8: 83 lớp với 2.772 học sinh
Khối 9: 90 lớp với 2.919 học sinh
100% số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp 6 (không
có học sinh bỏ học)
100% số xã, thị trấn đạt phổ cập giáo dục Trung học cơ sở với chất lượng cao Số học sinh Trung học cơ sở trong huyện tương đối đông, việc tham gia giao thông đi học, vui chơi tham gia các hoạt động, nhà trường, gia đình…vấn đề tai nạn thương tích luôn xảy ra đó là mối quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội
Trang 39Nghiên cứu được tiến hành tại bốn trường Trung học cơ sở tại huyện Đông Hưng - Tỉnh Thái Bình
Sau khi chọn ngẫu nhiên 4 trường trong 2 khu vực thị trấn và nông thôn
11 lớp trong đó khối lớp 6: 2 lớp, khối lớp 7: 3 lớp, khối lớp 8: 3 lớp, khối lớp 9: 3 lớp Trường THCS Hợp Hưng được thành lập từ năm 2015 sát nhập của 2 trường THCS Thị trấn và Đông Hợp, theo quyết định của UBND huyện Đông Hưng Với tổng diện tích 4.100m2, gồm hai dãy nhà 2 tầng phục vụ cho việc giảng dạy học sinh
Trường THCS Liên Giang: Nằm cách thị trấn Đông Hưng 1,5km về phía Tây thuộc xã Liên Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tổng số dân của xã là 7.973 người, tổng số học sinh là 361 học sinh (chiếm 4,52% dân số của xã) chia thành 10 lớp học, giáo viên: 23, khối 6: 2 lớp, khối 7: 3 lớp, khối 8: 3 lớp, khối 9: 2 lớp Với tổng diện tích 7.752m2, gồm một dãy nhà 2 tầng
12 phòng, phục vụ cho việc giảng dạy học sinh, được thành lập năm 1994
Trường THCS Phú Lương: Là trường vùng nông thôn cách thị trấn 6km về phía Đông Bắc với tổng số học sinh 343 (chiếm 4,37% dân số của xã) dân số xã 7.833 người, số giáo viên: 24, chia thành 10 lớp, khối 6: 3 lớp, khối 7: 3 lớp, khối 8: 2 lớp, khối 9: 2 lớp Với tổng diện tích 6.488m2, gồm hai dãy nhà 2 tầng phục vụ cho việc giảng dạy học sinh, được thành lập từ năm 1995
Trang 40Trường THCS Đông Động: Là trường vùng nông thôn cách thị trấn 7km về phía Đông, tổng số học sinh 242 (chiếm 4,37% dân số của xã) tổng số dân số xã 5.531 người, giáo viên: 18, chia thành 8 lớp, khối 6: 2 lớp, khối 7: 2 lớp, khối 8: 2 lớp, khối 9: 2 lớp Với tổng diện tích 9.433m2, gồm hai dãy nhà
2 tầng phục vụ cho việc giảng dạy học sinh, được thành lập từ năm 1992
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các học sinh hiện đang học từ khối lớp 6 đến khối lớp 9 tại 4 trường Trung học cơ sở:
2 trường Trung học cơ sở vùng thị trấn: Hợp Hưng và Liên Giang
2 trường Trung học cơ sở vùng nông thôn: Phú Lương và Đông Động
- Đối tượng nghiên cứu: Tự nguyện tham gia nghiên cứu
* Tiêu chí đánh giá tai nạn thương tích
- Mất ít nhất một ngày nghỉ học
- Có sự chăm sóc y tế của cơ sở y tế hoặc chuyên gia y tế
- Không có khả năng tham gia hoạt động thường ngày như: vệ sinh cá nhân, quét nhà, dọn nhà…
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Đối tượng nghiên cứu: Không học tại các trường THCS trên
- Không hợp tác trong quá trình tham gia phỏng vấn
- Những học sinh bị tai nạn thương tích trước và sau thời gian nghiên cứu
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm
2015 đến tháng 4 năm 2016