1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét sự thay đổi thể lực tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật trẻ em 7 15 tuổi nông thôn thái bình sau 9 năm điều tra lặp lại

111 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thay đổi về mức sống của nhân dân cũng như vệ sinh môi trường chắc sẽ có tác động nhất định đến cơ cấu bệnh tật, tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển tầm vóc cơ thể, nhất là của tr

Trang 1

điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và làm đề tài nghiên cứu

Tôi xin cám ơn ban lãnh đạo trung tâm y tế, phòng giáo dục các huyện

Đông H-ng, Thái Thuỵ, ban giám hiệu và tập thể giáo viên các tr-ờng học đã cho phép tôi thực hiện đề tài nghiên cứu trên địa bàn và giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo bộ môn Vệ sinh Dịch tễ

và các bộ môn của tr-ờng Đại học Y Thái Bình đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cám ơn Tiến sĩ Phạm Ngọc Khái, đã dành nhiều thì giờ

và công sức trực tiếp h-ớng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cám ơn Tiến sỹ Trần Đình Toán đã dành nhiều thì giờ

và công sức h-ớng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đính đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và làm luận văn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y THÁI BèNH

************

ĐẶNG VĂN NGHIỄM

NHẬN XẫT SỰ THAY ĐỔI THỂ LỰC TèNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ BỆNH TẬT TRẺ EM 7 -15 TUỔI Ở NễNG THễN

THÁI BèNH SAU 9 NĂM ĐIỀU TRA LẶP LẠI

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành bản luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo, phòng Quản lý khoa học, các Thầy giáo, các Cô giáo và bạn bè đồng nghiệp

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo, phòng Quản lý khoa học và các phòng ban Trường Đại học Y Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và tiến hành đề tài nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn ban lãnh đạo trung tâm y tế, phòng giáo dục các huyện Đông Hưng, Thái Thụy, ban giám hiệu và tập thể giáo viên các trường học đã cho phép tôi thực hiện đề tài nghiên cứu trên địa bàn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo bộ môn Vệ sinh Dịch tễ

và các bộ môn của trường Đại học Y Thái Bình đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin đặc biệt cảm ơn Tiến sỹ Trần Đình Toán, Tiến sĩ Phạm Ngọc Khái,

đã dành nhiều thì giờ và công sức trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đính đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và làm luận văn

Tác giả:

Đặng Văn Nghiễm

Trang 3

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BMI : Body Mass Index- Chỉ số khối cơ thể

CN/T : Cân nặng theo tuổi

CC/T : Chiều cao theo tuổi

CN/CC : Cân nặng theo chiều cao

GTSHVN90-XX : Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ

90 - thế kỷ XX FAO : Food Agriculture Oganization - Tổ chức lương thực - nông

nghiệp của Liên hiệp quốc

NCHS : National Centre for Health Statistics of American- Trung

tâm thống kê sức khoẻ quốc gia Mỹ

PEM : Protein Energy Malnutrition - Suy dinh dưỡng protein

năng lượng

SD : Standard Deviation- Độ lệch chuẩn

SDD : Suy dinh dưỡng

Trang 4

Danh mục bảng

Bảng 1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới, vùng sinh thái 36 Bảng 2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 36 Bảng 3 So sánh cân nặng trẻ em 7-15 tuổi giữa 2 thời điểm nghiên cứu 37 Bảng 4 Tốc độ gia tăng cân nặng và cân nặng trẻ em bình thường giữa 2

đợt nghiên cứu so với Giá trị SHVN90-XX

Bảng 11 Tỷ lệ trẻ em có CN/ T thấp giữa 2 vùng nghiên cứu qua 2 đợt điều tra 52

Bảng 12 Tỷ lệ trẻ em nông thôn Thái Bình có CC/T thấp qua 2 đợt điều tra 54 Bảng 13 Tỷ lệ trẻ em có CC/ T thấp giữa 2 vùng sinh thái qua 2 đợt điều tra 54

Bảng 14 Tỷ lệ trẻ em có CN/CC thấp qua 2 đợt điều tra 56 Bảng 15 So sánh tỷ lệ trẻ em thừa cân, béo phì giữa 2 vùng nghiên cứu 57 Bảng 16 So sánh tỷ lệ trẻ em 7-15 tuổi mắc bệnh da, niêm mạc 58 Bảng 17 So sánh tỷ lệ trẻ em 7-15 tuổi mắc bệnh hô hấp giữa 2 đợt điều tra 59 Bảng 18 So sánh tỷ lệ trẻ em 7-15 tuổi mắc bệnh tim mạch giữa 2 đợt điều tra 60

Bảng 19 So sánh tỷ lệ trẻ em 7-15 tuổi mắc bệnh tiêu hoá giữa 2 đợt điều tra 61

Trang 5

Bảng 20 So sánh tỷ lệ trẻ em 7-15 tuổi mắc bệnh thận tiết niệu giữa 2 đợt điều tra 62

Bảng 21 So sánh tỷ lệ trẻ em 7-15 tuổi mắc bệnh tai mũi họng giữa 2 đợt điều

tra

62

Bảng 22 So sánh tỷ lệ trẻ em 7-15 tuổi mắc bệnh Răng miệng giữa 2 đợt điều tra 63

Bảng 23 So sánh tỷ lệ trẻ em 7-15 tuổi mắc bệnh về mắt giữa 2 đợt điều tra 64

Trang 6

Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 1 So sánh cân nặng của Nam vùng nội đồng giữa 2 đợt nghiên cứu 38

Biểu đồ 2 So sánh cân nặng của nam bình thường giữa năm 2004 với 1995 và

Giá trị SHVN 90-XX

40

Biểu đồ 3 Chiều cao của nam và nữ nội đồng năm 2004 42

Biểu đồ 4 So sánh chiều cao của nữ bình thường giữa 2 đợt nghiên cứu với

GTSH VN 90-XX

44

Biểu đồ 5 So sánh BMI giữa nam và nữ vùng ven biển năm 2004 46

Biểu đồ 6 So sánh BMI của nữ giữa 2 đợt nghiên cứu với GTSH VN90-XX 48

Biểu đồ 8 Tỷ lệ trẻ 7-15 tuổi nhẹ cân ở nông thôn Thái Bình qua 2 đợt điều

Tỷ lệ trẻ em 7-15 tuổi có CN/CC thấp giữa 2 đợt điều tra 56

So sánh các bệnh răng miệng trẻ em 7-15 giữa 2 đợt nghiên cứu 63

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khoẻ trẻ em là một vấn đề luôn được mọi quốc gia quan tâm chăm sóc Trẻ em không phải là một người lớn thu nhỏ, cấu tạo, chức năng các cơ quan chưa hoàn chỉnh, tốc độ tăng trưởng nhanh, nên quá trình phát triển cơ thể trẻ em có nhiều nét đặc trưng Khi xảy ra nạn đói, trẻ em sẽ luôn là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả đó là thiếu dinh dưỡng, giảm khả năng học tập, lao động

và sáng tạo [24][28][31]

Từ năm 1993 chương trình quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ

em dưới 5 tuổi đã được triển khai trên mọi miền đất nước và đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn gần 20% như hiện nay[24][31] Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một chương trình nào can thiệp chăm sóc dinh dưỡng, sức khoẻ cho trẻ em tuổi học đường

Những nghiên cứu gần đây đều khẳng định rằng, bệnh về dinh dưỡng đã làm giảm khả năng học tập đồng thời lại làm tăng tỷ lệ bệnh tật cho trẻ Tại các nước đang phát triển, các bệnh nhiễm trùng, thiếu dinh dưỡng và tỷ lệ tử vong ở trẻ em học đường cao hơn so với các nước phát triển [31]

Để cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe cho lứa tuổi học đường và cho cộng đồng, hiện nay nhiều nước đã đưa giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe vào trong nhà trường và đã có hiệu quả [1][31][60]

Học sinh có ở mọi nhà vì vậy chúng sẽ chia sẻ những gì học được ở nhà trường cho cha mẹ và những thành viên khác trong gia đình, do đó việc giáo dục dinh dưỡng sức khoẻ cho trẻ em học đường cũng chính là giáo dục dinh dưỡng sức khoẻ cho cộng đồng [1][7]

Trang 8

Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến thiếu dinh dưỡng và bệnh tật cho trẻ em đều do điều kiện kinh tế xã hội, tự nhiên môi trường, chính sách quốc gia, điều kiện gia đình và tình hình bệnh tật của trẻ [29]

Tại Thái Bình, trong những năm qua đã có nhiều biến đổi lớn trong cơ cấu kinh tế xã hội, sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, đã đưa Thái Bình trở thành một thành phố Nền kinh tế trong thời kỳ chuyển tiếp đã làm thay đổi không ít tới tự nhiên, môi trường và kinh tế Những thay đổi về mức sống của nhân dân cũng như vệ sinh môi trường chắc sẽ có tác động nhất định đến cơ cấu bệnh tật, tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển tầm vóc cơ thể, nhất là của trẻ em tuổi học đường, nhưng cho đến nay những cơ sở dẫn liệu để chứng minh điều đó vẫn còn đang thiếu [27][31]

Để đóng góp dẫn liệu cho việc dự báo diễn biến tình trạng dinh dưỡng, bệnh tật trẻ em tuổi học đường trong khu vực, từ đó đề xuất các biện pháp thích hợp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe trẻ em, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nhận xét sự thay đổi thể lực, tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật trẻ em 7-15 tuổi nông thôn Thái Bình sau 9 năm điều tra lặp lại

Mục tiêu nghiên cứu:

- So sánh một số chỉ tiêu nhân trắc ở trẻ em 7-15 tuổi ở nông thôn Thái Bình sau 9 năm điều tra lặp lại

- Nhận xét sự thay đổi tình trạng dinh dưỡng trẻ em 7-15 tuổi ở nông thôn Thái Bình sau 9 năm điều tra lặp lại

- Nhận xét sự thay đổi tình trạng bệnh tật của trẻ 7-15 tuổi ở nông thôn Thái Bình sau 9 năm điều tra lặp lạ

Trang 9

và phòng tránh được bệnh tật [6][24]

Ngay từ thời thượng cổ con người đã biết tới vai trò của ăn uống và cho

ăn uống là một trong những phương pháp để chữa bệnh, giữ gìn và bảo vệ sức khoẻ, họ cũng cho rằng cơ thể khi còn non thì cần nhiều nhiệt hơn khi già, vì vậy khi còn trẻ phải được ăn nhiều hơn, chế độ ăn chỉ có tác dụng khi thực hiện cùng với một lối sống hợp lý Để nhằm mục đích điều trị cũng như dự phòng, đối với nhiều bệnh chỉ cần cho ăn những chế độ ăn thích hợp và một đời sống có tổ chức hợp lý [24][28]

Đến cuối thế kỷ 18, khi hàng loạt những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về lĩnh vực chuyển hóa các chất trong cơ thể con người được công

bố thì vấn đề ăn uống ngày càng được coi trọng và đã được nhiều nhà khoa học chú ý Nổi bật lên trong giai đoạn này là những nghiên cứu về tiêu hao năng lượng Từ cuối thế kỷ 19 tới nay, những công trình nghiên cứu về vai trò của các vitamin, acid amin các acid béo không no, các vi chất dinh dưỡng ở phạm vi tế bào, tổ chức và cơ thể đã góp phần hình thành và phát triển một ngành khoa học mới đó là khoa học dinh dưỡng [6][28]

Ngày nay, Y học đang phải nỗ lực chống lại hai hai vấn đề trái ngược nhau về mặt dinh dưỡng, hoặc phải đối phó với sự thiếu ăn, hoặc chống lại những hậu quả của sự thừa ăn Trên thế giới hiện nay vẫn còn khoảng 20%

Trang 10

dân số của các nước đang phát triển không có đủ lương thực, thực phẩm để đảm bảo nhu cầu năng lượng hàng ngày, khoảng 192 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng protein- năng lượng và phần lớn nhân dân của các nước đang phát triển

bị thiếu vi chất dinh dưỡng [27][29]

Theo ước tính của FAO sản lượng lương thực trên thế giới có đủ để đảm bảo nhu cầu năng lượng cho toàn thể nhân loại, nhưng vào những năm cuối thập

kỷ 80 mới có 60% dân số thế giới được đảm bảo trên 2600 Kcal/người/ ngày Vẫn còn 11 quốc gia có mức ăn quá thấp dưới 2000 Kcal/người/ ngày Thiếu ăn, thiếu vệ sinh là điều kiện thuận lợi cho hàng loạt bệnh tật phát triển, vì thế nó sẽ trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến và tử vong Trên hành tinh chúng ta ngày nay tỷ

lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị chết có liên quan tới nguyên nhân thiếu dinh dưỡng vẫn còn chiếm tới 50% [29][30][31][56]

Ngược lại với tình hình trên, ở các nước công nghiệp phát triển lại đang phải đối phó với những hậu quả nặng nề do sự thừa ăn đó là tình trạng thừa cân, béo phì Hậu quả của sự thừa cân béo phì rất đa dạng, ở trẻ em thì trì trệ chậm chạp, giảm khả năng tập trung và tiếp thu trong học tập, còn ở người lớn thì dẫn đến các bệnh tăng huyết áp, bệnh đái đường và các cơ quan bị nhiễm mỡ, đặc biệt là thiểu năng mạch vành tim, thiểu năng hô hấp, thiểu năng thận Tại Pháp hiện nay có tới 15% dân Pháp bị cao huyết áp, 3% bị đái đường Tỷ lệ tử vong liên quan đến tim mạch từ 35 đến 40% có liên quan chặt chẽ với thừa ăn [27][28][34]

Tại Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều cuộc điều tra dinh dưỡng được tiến hành và cho thấy rằng nước ta là một trong những nước có tỷ lệ trẻ em

và phụ nữ bị thiếu dinh dưỡng xếp vào loại cao nhất trong khu vực, trên 45% trẻ

em dưới 5 tuổi bị thiếu dinh dưỡng, 41,8% bà mẹ không có thai đang nuôi con nhỏ bị thiếu năng lượng trường diễn và trên 50% phụ nữ mang thai đang bị thiếu

Trang 11

máu dinh dưỡng Thiếu iod cũng rất phổ biến ở nước ta, số liệu cho thấy trên 1/4 trẻ em học đường bị bướu cổ và phần lớn trẻ em bị thiếu iod ở mức thiếu iod chưa có biểu hiện lâm sàng Theo số liệu giám sát dinh dưỡng 1995 có trên 50% trẻ em học đường ở Hải Hưng có cân nặng theo tuổi dưới -2SD Theo điều tra của Hà Huy Khôi và Lê Nguyễn Bảo Khanh ở trẻ em tuổi học đường thì thấy tỷ

lệ trẻ nhẹ cân và thiếu máu tăng cao ở nhóm trẻ nhiễm ký sinh trùng đường ruột [29][31][35][44][64]

1.2 Sự phát triển và trưởng thành của trẻ em

Phát triển và trưởng thành là hai quá trình sinh học khác nhau của thời kỳ tuổi trẻ Phát triển cơ thể là sự tăng về kích thước cũng như cả về số lượng tế bào, hoặc sự lớn lên của mỗi một cá thể tế bào Trưởng thành là sự thay đổi về chức năng của một tổ chức hay một cơ quan

Quá trình phát triển và trưởng thành luôn xảy ra trong một trạng thái động

để thích ứng với môi trường bên ngoài Các tổ chức của một cơ thể phát triển và

tự đổi mới bằng cách sử dụng những chất dinh dưỡng cần thiết và các yếu tố khác ngoài môi trường

Sự lớn lên bao gồm hai giai đoạn, giai đoạn phát triển nhanh và giai đoạn phát triển chậm Nhịp độ phát triển ở giai đoạn đầu thường nhanh, đến khi đứa trẻ lên 5 tuổi thì bắt đầu giảm xuống, đó là giai đoạn phát triển chậm và rồi sau

đó lại chuyển sang giai đoạn phát triển nhanh hết mức ở tuổi dậy thì [1][2]

Một số nghiên cứu về nhân trắc đều nhận thấy, tốc độ phát triển về cân nặng rất ít thay đổi ở trẻ em từ lúc 3 tuổi cho đến tuổi dậy thì và có mức tăng cân trung bình là 2,0-2,7 kg trong một năm [35][37][38][41][44][58]

Bên cạnh yếu tố di truyền thì tác động từ môi trường bên ngoài là yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Những đứa trẻ được di chuyển từ nơi

Trang 12

có điều kiện sống thiếu thốn đến nơi có điều kiện sống đầy đủ hơn sẽ có sự phát triển thể lực tốt hơn so với trẻ ở cùng độ tuổi ở địa phương nơi sinh sống cũ Nghiên cứu về sự tăng trưởng của trẻ em tuổi học sinh di cư cho thấy, những học sinh người Nhật theo gia đình di cư đến Mỹ có cân nặng trung bình 11,6 kg và chiều cao 6,4 cm cao hơn so với những đứa trẻ cùng thế hệ ở tại Nhật vào lúc 18 tuổi [48][59]

Hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới nhân trắc

và thể lực đều đưa ra nhận xét, đối với trẻ em dưới 10 tuổi, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi thì dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng nhất Theo F.Gomez và cs

((Trong tất cả các tác động của môi trường có lẽ dinh dưỡng là một tác động mạnh mẽ nhất))

[48][50][56]

1.3 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em lứa tuổi học đường

Sức khỏe trẻ em lứa tuổi học đường là một bộ phận quan trọng của sức khỏe cộng đồng Trẻ em dưới 15 tuổi chiếm một tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu dân

số các quốc gia, khoảng 24% dân số ở các nước đang phát triển và khoảng 15% dân số ở các nước công nghiệp Tỷ lệ trẻ em học đường ở các nước kinh tế đang phát triển không chỉ cao hơn ở các nước công nghiệp mà tỷ lệ gia tăng của nó cũng rất cao (1,4%/năm) và ước tính vào năm 2000 thì xấp xỉ 87% số trẻ em học đường là sống ở các nước đang phát triển [61]

Trẻ em học đường có tỷ lệ chết thấp nhất so với các nhóm tuổi khác Những nghiên cứu gần đây cho thấy vấn đề dinh dưỡng chính của trẻ em học đường là thiếu dinh dưỡng protein năng lượng trường diễn, thiếu máu thiếu sắt, thiếu iode và nhiễm ký sinh trùng đường ruột [55][61][62]

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em ở lứa tuổi tiểu học rất quan trọng vì đây

là giai đoạn dự trữ cho sự phát triển nhanh chóng của cơ thể trong giai đoạn dậy

Trang 13

thì Mặt khác, tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ học đường có ảnh hưởng nhiều đến khả năng tập trung trong học tập của học sinh [35][63]

Theo số liệu của IAEEA (International Association for the Evaluation of Educational Achivement) và một số nghiên cứu khác cho biết kết quả thử nghiệm các test toán học, đọc và vài môn khoa học khác thì học sinh ở các nước đang phát triển chỉ trả lời đúng 40% các câu hỏi mà đáng ra các em phải trả lời được Các tác giả cũng nhấn mạnh rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng học tập của học sinh như phương tiện học tập, giáo viên, nhưng một điều tất nhiên là tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe là một trong những yếu tố quan trọng chi phối [2] [60]

1 3.1 Tình hình thiếu dinh dưỡng ở trẻ em

Thiếu dinh dưỡng protein năng lượng là loại thiếu dinh dưỡng thường gặp nhất ở trẻ em Nó thường biểu hiện bằng tình trạng chậm lớn và hay kèm theo các bệnh nhiễm khuẩn Thiếu dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em thưởng xảy ra khi chế độ ăn thiếu cả về số lượng và chất lượng đi kèm với thường xuyên mắc các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng [22]

Ở các nước đang phát triển tỷ lệ thiếu dinh dưỡng trẻ em học đường vẫn còn khá cao đặc biệt là trẻ em ở các vùng nông thôn nghèo Lứa tuổi học đường

ít gặp tình trạng thiếu dinh dưỡng nặng trừ khi có nạn đói Vì ở lứa tuổi này trẻ phát triển chậm hơn so với thời kỳ trẻ dưới 5 tuổi, mặt khác chúng có thể đòi ăn hoặc tự tìm thức ăn khi chúng đói [1][2][31][72]

Các nguyên nhân gây nên thiếu dinh dưỡng ở trẻ em học đường thường là:

- Trẻ có thể đã bị suy dinh dưỡng từ lúc bé

- Do chế độ ăn của trẻ hiện tại thiếu về chất lượng hoặc về số lượng

Trang 14

- Trẻ em bị đói do không có bữa ăn sáng hoặc ăn quá ít và trẻ bị đói vào giữa buổi mà thường gọi là đói ngắn kỳ

- Trẻ phải đi bộ quá xa để đến lớp hoặc trở về nhà quá muộn vì quãng đường dài làm cho đứa trẻ mệt và không muốn ăn

Những trẻ em học đường có nguy cơ bị thiếu dinh dưỡng là:

- Trẻ từ các gia đình nghèo, đông con, bố mẹ thất nghiệp

- Có bố hoặc mẹ bị chết hoặc bị bệnh mãn tính

- Trẻ thường phải tự chăm lo bản thân mình do bố mẹ đi làm xa

- Trẻ sống trong vùng bị thiếu ăn

- Trẻ ăn nhiều quà vặt như kẹo hoặc nước ngọt, thường là những trẻ ở thành thị mà bố mẹ thường đi làm xa hoặc thường vắng nhà [67][70]

Chamruengsri và cộng sự sự nghiên cứu ở một vùng dân cư nghèo Angthong của Thái lan cho thấy có tới 55% trẻ em học đường bị thấp còi (stunting) và có tới 10% gầy còm (wasting) [50] Một nghiên cứu khác ở trẻ em tiểu học từ các gia đình nghèo thuộc bang Rio De Janeiro Brazil cho thấy có 3,52% trẻ bị gầy còm và 6,25% trẻ bị thấp còi [52] Nghiên cứu của Ukoli và cs năm 1993 ở Nigeria với trẻ 4-10 tuổi thì 14,2% trẻ nam và 17,4 trẻ nữ thấp còi, 20% trẻ có cân nặng theo tuổi thấp và chỉ có dưới 1% trẻ thừa cân [73]

Một nghiên cứu khác ở Malaysia ở trẻ 1-7 tuổi cho thấy ở nhóm tuổi 5-7 tuổi tỷ lệ có cân nặng theo tuổi thấp là 44%, tỷ lệ trẻ thấp còi là 45,8% và tỷ lệ gầy còm là 43% [63] Nghiên cứu của Gretel.H, Pelto L và cs năm 2000 ở học sinh 7-9 tuổi thuộc vùng núi cao của Mexico thì thấy tỷ lệ chiều cao theo tuổi thấp liên quan chặt chẽ với tình trạng gia đình đông người và lượng thức ăn tiêu thụ [57] Nghiên cứu của Gargallo và cộng sự năm 1993 cho thấy tình trạng thiếu dinh dưỡng của tuổi học đường còn ảnh hưởng tới thể lực và năng xuất lao động khi trưởng thành [55]

Trang 15

Việt Nam cũng đã có một số các nghiên cứu về lứa tuổi học đường Moldiere năm 1875 đo chiều cao của 3774 trẻ em miền nam Việt Nam, nghiên cứu sự phát triển thể lực của học sinh Hà Nội 1943 của Đỗ Xuân Hợp Đến 1985

là nghiên cứu của Hà Huy Khôi và Bùi Như Thuận thì cho thấy:

Tuy trọng lượng và chiều cao của học sinh Hà Nội thấp hơn so với NCHS, nhưng cao hơn so với HSSHVN (1975) và Đỗ Xuân Hợp (1943) và các số liệu

đã công bố trước đây Nghiên cứu này đã chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa trẻ em nông thôn và thành phố Cân nặng và chiều cao trung bình của trẻ em Hà Nội cao hơn hẳn trẻ em nông thôn [12][18]

Nghiên cứu của Lương Bích Hồng và cộng sự trên học sinh tiểu học Trần Quốc Toản Hà Nội giai đoạn 1982-1990 cho thấy chiều cao của học sinh Trần Quốc Toản cao hơn HSSHVN (1975) ở mọi lứa tuổi, mức tăng trung bình mỗi năm ở trẻ trai là 5,21 cm và 5,71 cm ở trẻ gái Trong cùng nhóm tuổi thì trẻ em

từ 6-11 tuổi thấy giữa trai và gái có cân nặng xấp xỉ nhau, nhưng chiều cao thì trẻ trai luôn cao hơn trẻ gái [18]

Nghiên cứu của Trần Văn Dần và cộng sự về sự phát triển thể lực của học sinh 6-14 tuổi sau một thập kỷ (81-90) thấy rằng không có sự khác biệt giữa nam

và nữ về chiều cao và cân nặng, học sinh Hà Nội nói chung thời điểm 1990 đều cao hơn 1981, tốc độ gia tăng về chiều cao nhanh hơn so với tốc độ gia tăng về cân nặng Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt giữa trẻ em nông thôn và trẻ em thành phố, trẻ em thành phố có xu hướng phát triển thể lực tốt hơn nông thôn ở mọi lứa tuổi [12]

Một nghiên cứu khác của Trần Văn Dần và cộng sự về sự phát triển thể lực của học sinh 8-14 tuổi trên một số vùng dân cư Miền Bắc thập kỷ 90 cũng cho thấy có sự gia tăng về chiều cao của cả học sinh nông thôn và thành phố, cân nặng gia tăng rõ ở trẻ em thành phố [13]

Trang 16

Theo dõi tình hình phát triển thể lực của học sinh Hà Nội của Viện Dinh dưỡng 1995 so với số liệu 1985 của Hà Huy Khôi và Bùi Như Thuận, sau 10 năm tốc độ tăng về chiều cao trung bình là 5-6 cm và phát triển chiều cao ở trẻ trai tốt hơn trẻ gái ở các lứa tuổi Nghiên cứu này cũng chỉ ra tỷ lệ trẻ em tiểu học Hà Nội có CN/T <-2SD là 18% và CC/T <-2SD là 8,8% [44][62] Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng về tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật của học sinh cấp 1 và cấp 2 tại 3 xã thuộc huyện Tứ Lộc tỉnh Hải Hưng năm 1995 cho thấy 58,7 % nam và 52,2% học sinh nữ có cân nặng theo tuổi <-2SD [44]

1.3.2 Tình trạng thừa cân và béo phì

Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về thừa cân, béo phì:

(( Béo phì là tình trạng tích trữ bất thường hoặc dư thừa mỡ trong mô mỡ đến mức độ làm cho sức khoẻ có thể bị suy giảm))

(( Béo phì là sự dư thừa toàn bộ trọng lượng mỡ cơ thể hoặc dư thừa mỡ dự trữ cơ thể))

Tuy nhiên Tổ chức Y tế thế giới đưa ra định nghĩa thừa cân, béo phì như sau:

((Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao Còn béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ))

do nguyên nhân dinh dưỡng Béo phì không tốt đối với sức khỏe, người càng béo thì các nguy cơ càng nhiều Trước hết người béo phì dễ mắc các bệnh tăng huyết áp, bệnh tim do mạch vành, đái đường hay bị các rối loạn dạ dầy, ruột, sỏi mật [21]

Trang 17

Thừa cân và béo phì hiện nay là tình trạng phổ biến ở các nước phát triển Tại nước Anh, theo nhiều nghiên cứu tỷ lệ béo phì ở trẻ em thay đổi từ 2-11% Tại nước Pháp theo 1975, thừa cân ở học sinh 7-9 tuổi chiếm 5- 6% Mặc dù tỷ

lệ béo phì ở người lớn còn thấp ở một số nước Châu Á người ta đã thấy xu hướng gia tăng béo phì ở trẻ em Tỷ lệ thừa cân của trẻ ở độ tuổi 6-16 tuổi tại Singgapore là 14,5% ở trẻ em nam và 10,4% ở trẻ em nữ, tăng 1,3 đến 1,6 lần so với cách đó 5 năm Tỷ lệ trẻ em thừa cân ở Thái Lan cũng gia tăng nhanh, tỷ lệ thừa cân của học sinh 6-12 tuổi ở thành thị tăng từ 12,1% năm 1991 tới 16,5% so với năm 1993 [65][71]

Nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ chuyển tiếp, với sự phân cực ngày càng tăng giữa giàu và nghèo đã ảnh hưởng không ít đến dinh dưỡng và sức khỏe

của trẻ Bên cạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng còn khá cao tỷ lệ thừa cân và béo phì đã

có xu hướng gia tăng đặc biệt là tại các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh,

Hà Nội, Nha Trang [14][15][16][27][33][36]

Theo số liệu năm 1990 của FAO, tỷ lệ béo phì chung ở thành thị nước ta là 1,57%, tăng gấp 4 lần so với năm 1995 là 0,4% [54] Nghiên cứu của Lê Thị Hải

và cs năm 1997 tại hai trường tiểu học nội thành Hà Nội, tỷ lệ thừa cân của học sinh 6-11 tuổi là 4,1% Điều tra trên học sinh bán trú trường Tràng An, Hà Nội thì thấy tỷ lệ thừa cân 6-11 tuổi khá cao 7,4%[14] Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Loan tại một quận nội thành phố Hồ Chí Minh(1998) thì tỷ lệ thừa cân ở trẻ em tiểu học đã lên tới 12,2 % [36] Gần đây là nghiên cứu của Vũ Hưng Hiếu (2002) điều tra trên 3647 học sinh tiểu học tại quận Đống Đa Hà Nội thấy có 9,9% trẻ em thừa cân và béo phì [16]

Trang 18

1.4 Tình trạng bệnh tật ở trẻ em tuổi học đường

Tuổi học đường trẻ em bắt đầu hay mắc các bệnh như người lớn Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Duy Khê có thể chia làm hai nhóm chính Nhóm bệnh do nhiễm trùng, ký sinh trùng, miễn dịch, dị ứng hay gặp như thấp tim, viêm cầu thận, viêm phế quản, hen phế quản, bệnh giun sán, và ngày nay thấy tỷ

lệ bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, viêm mũi dị ứng, hen phế quản … đang gia tăng một cách đáng báo động đồng thời cũng ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng học tập của trẻ Nhóm bệnh do hậu quả của quá trình học tập như biến dạng cột sống, bệnh cận thị, viễn thị, béo phì, rối nhiễu tâm lý… cũng đã và đang trở thành những vấn đề sức khoẻ ưu tiên [26]

Tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập sâu về tình trạng bệnh tật của trẻ em tuổi học đường, nhưng qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Võ Kỳ Anh, Nguyễn Thị Minh Huyền, Nguyễn Duy Khê và Hồng Xuân Trường có thể thấy rằng trong một vài thập kỷ qua mô hình bệnh tật ở trẻ em Việt Nam đã bắt đầu có thay đổi Bên cạnh mô hình bệnh tật cũ do thiếu dinh dưỡng và thiếu vệ sinh môi trường đã xuất hiện mô hình bệnh tật mới gồm béo phì, u bướu, tim mạch, bệnh dị ứng, miễn dịch, bệnh cận thị [1][2][20][26 ]

Các nghiên cứu gần đây về bệnh của trẻ em học đường đã đề cập nhiều tới bệnh răng miệng, cận thị, mắt hột, bệnh giun sán, bướu cổ, thiếu máu, gù vẹo cột sống Trong các nhóm bệnh thì bệnh nhiễm ký sinh trùng được ruột vẫn còn

là một vấn đề rất phổ biến ở vùng nông thôn các nước đang phát triển Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ký sinh trùng đường ruột rất cao ở trẻ em học đường và ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đặc biệt là các nước đang phát triển do điều kiện kinh tế, vệ sinh môi trường còn thấp kém Người ta ước tính có khoảng 25% dân số thế giới bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột Bệnh ký sinh trùng

Trang 19

đường ruột rất phổ biến ở trẻ em đặc biệt là ở các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nơi mà có tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em khá phổ biến, ở một số vùng dân cư này người ta thống kê có tới trên 80 % trẻ em nhiễm giun đũa [2][17][39][40][64]

Ở Việt Nam theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kỳ Anh và cs, tỷ lệ nhiễm giun của học sinh trường học rất cao Tại Đông Anh là 89 %, tại Hà Nội tỷ lệ này là 80

%, tại Hà Tây cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng của trẻ học đường là 82,6 % Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa thiếu máu và nhiễm ký sinh trùng đường ruột Nghiên cứu gần đây của Hà Huy Khôi, Lê Nguyễn Bảo Khanh và cs tại Nam Hà cho thấy tỷ lệ mắc giun trẻ em học đường là 96 % [2][17][64]

Bệnh răng miệng là nhóm có tỷ lệ cao đứng thứ hai sau nhiễm ký sinh trùng đường ruột Tỷ lệ bệnh răng miệng chung của học sinh Hải Phòng là 40,9% , tỷ lệ mắc nha chu tăng dần từ nội thành ra ngoại thành [26]

Bệnh cận thị ở học sinh hiện nay đang có xu hướng gia tăng, so với thập

kỷ 80 tỷ lệ học sinh cận thị ở các cấp học hiện nay đều tăng 1,3- 4,5 lần, tỷ lệ học sinh bị cận thị cũng tăng dần theo cấp học Học sinh trường chuyên bị cận thị cao hơn so với trường không chuyên, ở thành thị học sinh cận thị nhiều hơn so với nông thôn Tại thành phố Hà Nội tỷ lệ mắc bệnh cận thị ở học sinh tiểu học là 10,6%, ở trung học cơ sở là 36,1%[20][26]

Bệnh mắt hột chung ở trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 30% tổng số ca mắc trong cộng đồng Tỷ lệ mắc mắt hột ở trẻ em trường học là 18,9% vào năm 2001 theo kết quả điều tra của chương trình phòng chống bệnh mắt hột tại 12 tỉnh phía bắc (SAEF) [26]

Trang 20

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật

của trẻ em tuổi học đường

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật của trẻ em tuổi học đường Sự phát triển của trẻ em ở lứa tuổi này phản ánh mức sống, tình trạng kinh tế xã hội và văn hóa giáo dục Một số các nghiên cứu trên trẻ em tiền học đường và trẻ em học đường ở các nước đang phát triển đã cho thấy rằng các mối liên quan chặt chẽ giữa thu nhập của hộ gia đình với tình trạng dinh dưỡng của trẻ, các nghiên cứu này cũng thấy rằng trình độ học vấn của cha

mẹ, sự phân phối thực phẩm trong gia đình, yếu tố địa lý, môi trường sinh thái và tình trạng nhiễm ký sinh trùng đường ruột có ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể của trẻ [40][50][52][57][59][61][70][74]

1.5.1 Các yếu tố kinh tế xã hội

Một trong những biểu hiện của tình trạng kinh tế xã hội đó là thu nhập Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (1991) về ảnh hưởng của tình trạng kinh tế

xã hội đến sự phát triển của trẻ em học đường ở Bangledesh cho thấy trẻ từ các gia đình có thu nhập cao có cân nặng và chiều cao theo tuổi cao hơn so với trẻ từ các gia đình có thu nhập thấp [46][47]

Một nghiên cứu ở Thái Lan cũng thấy rằng tình trạng dinh dưỡng của trẻ

em tuổi học đường cần được lưu tâm, học sinh ở tầng lớp xã hội thu nhập thấp thì có tỷ lệ thiếu dinh dưỡng cao

Một nghiên cứu khác ở Anh về vấn đề liên quan giữa tình trạng thất nghiệp của người cha với sự phát triển của trẻ, cho thấy những trẻ em bố bị thất nghiệp có chiều cao thấp hơn so với những trẻ em bố có việc làm

Nghiên cứu ở Malaysia (1997) ở trẻ 1-7 tuổi thì thấy rằng trẻ em ở các gia đình

có thu nhập thấp có tỷ lệ nhẹ cân và thấp còi cao hơn hẳn so với trẻ em các gia đình có

Trang 21

thu nhập cao Một nghiên cứu khác của Ahmed và cộng sự về sự ảnh hưởng của số nhân khẩu và mức thu nhập của gia đình với các chỉ tiêu sinh hóa của trẻ em học đường ở Bangladesh còn thấy rằng những đứa trẻ ở gia đình đông người và thu nhập thấp có mức protein huyết thanh và hemoglobin thấp hơn một cách có ý nghĩa so với những trẻ ở gia đình ít người và có thu nhập cao [47][49][51][52]

Cơ cấu nhân khẩu cũng ảnh hưởng đến sự phân bố và tiêu thụ lương thực

và thực phẩm Gia đình đông người cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Gia đình lớn, đông con là một yếu

tố nguy cơ của thiếu dinh dưỡng đặc biệt là đối với trẻ em Một nghiên cứu trên trẻ em học đường ở Mexico (1991) cho thấy rằng có mối liên quan giữa yếu tố kinh tế xã hội với số nhân khẩu ăn và tình trạng dinh dưỡng của trẻ Trẻ từ các gia đình đông con thì thấp hơn và có chế độ ăn nghèo nàn hơn một cách có ý nghĩa so với trẻ ở gia đình ít con, đặc biệt là thức ăn có nguồn gốc động vật Cũng trong nghiên cứu này tác giả còn thấy rằng trình độ học vấn của cha mẹ có liên quan đến chất lượng bữa ăn của trẻ và những đứa trẻ có bố cao tuổi hơn thì có lượng calo ăn vào thấp hơn so với trẻ cùng lứa tuổi mà có bố trẻ hơn [48][49][58]

1.5.2 Khẩu phần ăn

Ăn uống đóng vai trò quan trọng đối với trẻ em học đường bởi vì cơ thể chúng vẫn đang phát triển và chúng hoạt động rất nhiều do đó trẻ cần rất nhiều năng lượng Ăn uống đầy đủ, hợp lý giúp cho trẻ học đường có đủ năng lượng và chất dinh dưỡng để hoạt động và giúp cho cơ thể phát triển, nếu không được ăn uống đầy đủ dẫn tới thiếu dinh dưỡng đặc biệt là thiếu vi chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng không chỉ đến sự phát triển thể lực mà cả đến sự phát triển trí tuệ [45] Nghiên cứu của Wilms và cs năm 1997 ở Bỉ, tiến hành bổ sung một số vi chất dinh dưỡng cho trẻ em học đường cho thấy có sự ảnh hưởng rõ rệt của vi chất tới

sự phát triển thể chất và trí tuệ [51]

Trang 22

Trẻ có thể ăn rất nhiều các thức ăn khác nhau, khi ở nhà thì ăn những thức ăn cùng với gia đình, thức ăn ở trường và những thức ăn trên đường phố do chúng tự mua hoặc từ bạn bè Thói quen ăn uống của một đứa trẻ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và

sự phát triển của chúng [69]

Nghiên cứu của Allen (1994) còn chỉ ra rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa việc tiêu thụ các sản phẩm giầu năng lượng với sự tăng cân nặng và chiều cao của trẻ [48]

Nghiên cứu ở vùng miền núi của Mexico cho thấy khẩu phần ăn của trẻ

em học đường rất thấp, thức ăn động vật rất ít, khẩu phần chủ yếu là ngô [49] Trong khi đó nghiên cứu về khẩu phần của học sinh ở Bỉ lại cho thấy có quá nhiều chất béo, protein, và đường tự do [51]

Backstrand J.D., Allen L H và cộng sự còn cho thấy sự khác biệt giữa trẻ nam và trẻ nữ học đường về khẩu phần ăn Trẻ gái năng lượng ăn vào thấp hơn

so với trẻ trai cùng lứa tuổi trung bình là 300 kcal, đồng thời các yếu tố vi lượng cũng thấp hơn vì vậy nguy cơ thiếu vi chất ở trẻ gái nhiều hơn trẻ trai Một nghiên cứu khác về thói quen ăn uống của trẻ cũng cho thấy sự khác biệt giữa hai giới về các thực phẩm thường tiêu thụ [48][49]

Đất nước ta đang trong thời kỳ chuyển tiếp, điều kiện kinh tế của nhân dân

ta nói chung đang có nhiều chuyển biến theo chiều hướng tốt, từ đó đã dẫn đến những thay đổi trong mô hình bệnh tật Bên cạnh đa số cộng đồng dân cư với chỉ

đủ ăn, đã xuất hiện một số bộ phận dân cư thừa ăn hoặc có những thói quen ăn uống mới do tác động của nền kinh tế thị trường Bởi vậy song song với sự tồn tại của các bệnh thiếu dinh dưỡng là sự gia tăng của các bệnh mãn tính gây nên

do thừa dinh dưỡng như béo phì, các bệnh tim mạch, đái tháo đường [34]

1.5.3 Tình trạng bệnh tật

Trang 23

Tình trạng dinh dưỡng cũng chịu ảnh hưởng nhiều bởi bệnh tật Khi cơ thể mắc bệnh như nhiễm trùng hô hấp, tiêu hoá, nhiễm ký sinh trùng hay gặp như giun đũa thì hậu quả thường là biếng ăn, sút cân, thiếu máu [53]

Khi bị nhiễm trùng, ký sinh trùng nhưng trẻ được điều trị tốt thì tình trạng dinh dưỡng được phục hồi Trong trường hợp trẻ có nhiều đợt nhiễm trùng hoặc

đa nhiễm giun với cường độ cao thì cơ thể không có cơ hội để phục hồi dinh dưỡng, trẻ sẽ sút cân, biếng ăn, giảm sức đề kháng và tạo nên một vòng xoắn bệnh lý hậu quả cuối cùng là thiếu dinh dưỡng [64]

Trẻ càng nhỏ thì ảnh hưởng của bệnh tật tới tình trạng dinh dưỡng càng nặng nề, nếu không có biện pháp điều trị tốt vòng xoắn bệnh lý này có thể dẫn tới tử vong [2][53][64]

1.5.4 Kiến thức và thực hành về dinh dưỡng và sức khỏe của học sinh

Sức khỏe của học sinh là một bộ phận quan trọng của sức khỏe cộng đồng, các dịch vụ sức khỏe trong nhà trường mang lại hiệu quả kinh tế cao bởi vì trẻ học tập và vui chơi cùng với nhau do đó chúng sẽ học tập nhau và trẻ em sẽ chia sẻ những gì chúng học được cho cha mẹ và những người khác Trẻ em luôn mong muốn được học những điều mới lạ, chúng tiếp thu rất nhanh và bắt chước rất nhanh [7]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Huyền cho thấy giáo dục dinh dưỡng trong nhà trường đã cải thiện được kiến thức dinh dưỡng và cải thiện được tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe cho học sinh [20] Nghiên cứu của Joanne.L và Dean.J cũng cho thấy vai trò quan trọng của nhà trường trong việc tạo nên các nếp quen ăn uống đúng và cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của học sinh [60]

Nhận thức được vấn đề giáo dục sức khỏe cho lứa tuổi tiểu học là rất cần thiết, Bộ Giáo dục đào tạo đã bắt đầu đưa chương trình giáo dục sức khỏe vào trong trường học và

có giáo trình giảng dạy cho học sinh Tuy nhiên nhận thức và thực hành về dinh dưỡng và

Trang 24

sức khỏe của học sinh một số nơi vẫn còn hạn chế, thậm chí theo điều tra của Trương Bút cho thấy còn nhiều giáo viên chưa hiểu biết đầy đủ về khoa học ăn uống [1][7]

1.5.5 Yếu tố vệ sinh môi trường và điều kiện học tập

Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng sức khoẻ và bệnh tật của con người Cơ thể càng non thì chịu sự ảnh hưởng của môi trường càng lớn Trẻ em sống ở những vùng vệ sinh môi trường kém, nguồn nước sinh hoạt ăn uống bị nhiễm phân, xử lý phân nước rác không tốt…thì tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và ký sinh trùng đường ruột cao và hậu quả là thiếu máu và thiếu dinh dưỡng Trẻ em sống ở những vùng môi trường ô nhiễm do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá thì tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng, miễn dịch, rối loạn chuyển hoá cao hơn so với những vùng đồng bằng và miền núi [1][2][65]

Trẻ em thành thị, đặc biệt trẻ em trong những gia đình có thu nhập cao, nhịp sống công nghiệp, nhưng môi trường học tập sinh hoạt chật chội, cường độ học tập cao, trẻ có nếp sống ngồi học tĩnh tại ít tiêu hao năng lượng, thiếu thời gian vận động vui chơi ngoài trời, trong khi chế độ ăn lại thường là quá thừa, đó chính là những nguy cơ của bệnh béo phì và các rối loạn chuyển hoá ở nhóm trẻ em này Hậu quả cuối cùng sẽ làm gia tăng tỷ lệ bệnh tật, thiếu hoặc thừa dinh dưỡng, giảm khả năng học tập lao động và sáng tạo[1][2][15][66]

Trang 25

thể lực qua các thang đo Đặc điểm nổi bật của các thang đo là: Lấy cộng đồng làm căn

cứ để đánh giá cá thể và dùng phương pháp thống kê để thiết lập các thang đo

Đặc điểm đó làm cho các chỉ số nhân trắc nói lên thể lực một cách rất đơn giản bằng phương diện toán học, rất dễ tiếp cận và vì vậy trong những giới hạn nhất định, các chỉ số nhân trắc cùng với các thang đo đã có giá trị nhất định trong việc đánh giá thể lực

Có thể nói, mọi số đo nhân trắc đều có quan hệ với thể lực Tuy nhiên, thực tiễn chỉ ra rằng, chỉ có những số đo có quan hệ với thể lực một cách trực quan, rõ ràng và quan trọng hơn là phải định lượng hoá được quan hệ ấy mới có thể sử dụng rộng rãi [3][5][19][30][46][68]

* Chiều cao đứng

Chiều cao đứng bằng tổng của chiều cao đầu, chiều cao cổ, chiều cao thân

và chiều cao chi dưới

Chiều cao đứng cũng là một trong những đặc điểm hình thái quan trọng

Nó được nói đến ở hầu hết những nghiên cứu nhân trắc-hình thái Chiều cao đứng có liên quan mật thiết đến thể lực Những người có thể lực tốt thường có chiều cao đứng gần với chiều cao trung bình Chiều cao đứng có ý nghĩa thể lực khá rõ ràng nhưng nếu chỉ riêng một chiều cao đứng thì không cũng đủ thông tin

để đánh giá thể lực con người

* Cân nặng

Cùng với chiều cao, cân nặng có trong hầu hết các điều tra cơ bản, trong các nghiên cứu hình thái Cân nặng một người gồm hai phần, phần cố định và phần thay đổi Với người có cân nặng trung bình thì tỉ lệ giữa hai phần là:

- Phần cố định, chiếm khoảng 1/3, gồm xương, da, các tạng và thần kinh

- Phần thay đổi, chiếm khoảng 2/3, gồm cơ, mỡ, và nước Trong các cuộc điều tra mẫu về cân nặng, độ lệch chuẩn SD thường bằng khoảng 1/10 trị số

Trang 26

trung bình X Như vậy, nếu chỉ xét riêng phần thay đổi thì người có cân nặng X+3SD có thể gấp khoảng hơn 2,5 lần người có cân nặng X+3SD, là một tỉ số khá lớn Như vậy cân nặng là một số đo có khoảng biến thiên khá rộng và quan trọng hơn, khoảng biến thiên đó chủ yếu gồm cơ và mỡ Rõ ràng là, hơn mọi số đo nhân trắc khác, cân nặng phản ánh thể lực và khả năng tích luỹ của cơ thể Tuy nhiên cân nặng còn phụ thuộc chiều cao, giữa chiều cao và cân nặng của người Việt nam có tương quan khá chặt, hệ số tương quan khoảng từ 0,60 đến 0,65 Vì vậy, trong các chỉ

số thể lực phần nhiều đều có cả cân nặng và chiều cao [3][19]

* Vòng ngực

Cho đến nay, các vòng ngực, cùng với chiều cao đứng và cân nặng là ba

số đo được các tác giả cho là có ý nghĩa thể lực hơn cả và được dùng trong hầu hết trong các cách tính chỉ số thể lực [3][19]

+ Nói chung các vòng ngực càng lớn, ngực càng dầy thì thể lực càng tốt + Vòng ngực có tương quan tuyến tính rất nhỏ với chiều cao, nhưng lại khá lớn với cân nặng Việc vòng ngực độc lập tuyến tính với chiều cao và phụ thuộc tuyến tính rõ ràng với cân nặng, làm cho vòng ngực và chiều cao trở thành hai số đo cốt yếu trong các công thức tính chỉ số thể lực hiện nay

+ Các vòng ngực là các kích thước rất dễ mắc phải sai số lớn trong đo đạc

Có lẽ lý do quan trọng là do các số đo ngực bị ảnh hưởng chủ quan của người được đo khi họ hiểu các trạng thái: Hít vào hết sức, thở ra hết sức và bình thường

Tóm lại các kích thước ngực mang ý nghĩa thể lực khá rõ ràng Với phương pháp tiếp cận nhân trắc-hình thái học thì sử dụng vòng ngực trung bình trong các đánh giá thể lực là hợp lý hơn cả

Các nhà nhân trắc học đã kết hợp nhiều số đo nhân trắc, lập ra những công thức, định lượng hoá thể lực bằng các thang đo Chỉ số thể lực hay dùng để đánh giá

Trang 27

TTDD trẻ em là BMI BMI ( Body Mass Index ), là chỉ số khối cơ thể, tính bằng trọng lượng cơ thể (đơn vị là kg) chia cho chiều cao(đơn vị là mét) bình phương Cân nặng ( kg)

BMI = -

Chiều cao2

( m) Như vậy BMI là chỉ số chủ yếu dùng đánh giá độ béo gầy

Ở người lớn: Thừa cân khi BMI > 22,9 còn béo phì khi BMI  25

Ở trẻ em BMI thay đổi rất nhiều theo tuổi, tăng mạnh trong thời kì nhũ nhi, giảm trong thời kì tiền học đường và tăng trở lại trong thời kì sau dậy thì Chính vì vậy mà các nghiên cứu về béo phì trẻ em trước đây cho kết quả không

thống nhất [3][19][68]

1.6.2 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng(TTDD) ngày càng hoàn thiện và ngày nay đã trở thành một chuyên ngành sâu của dinh dưỡng học Có thể định nghĩa tình trạng dinh dưỡng là một tập hợp các đặc điểm chức phận cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [30]

Để xác định điều kiện dinh dưỡng trẻ em cộng đồng có hợp lý hay không, trên thực tế phải thường xuyên đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em để từ đó có những can thiệp kịp thời nhằm nâng cao sức khoẻ trẻ em [19][24]

Mục đích của quá trình đánh giá dinh dưỡng là xác định thực trạng dinh dưỡng, xác định các nhóm đối tượng có nguy cơ cao, tìm ra những yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng hiện tại trên cơ sở đó dự báo tình hình dinh dưỡng trong tương lai và đề ra các biện pháp can thiệp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng hiện tại [24][30]

Trang 28

Khi đánh giá TTDD dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc cần chú ý rằng chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá TTDD cấp tính là CN/CC, do đó dùng để đánh giá nhanh TTDD sau thiên tai CC/T là chỉ tiêu thích hợp nhất để đánh giá tác động dài hạn tức là để theo dõi những ảnh hưởng của các thay đổi về điều kiện kinh tế

xã hội Chỉ tiêu CN/T là một chỉ tiêu chung không mang giá trị đặc hiệu như 2 chỉ tiêu trên vì vậy trong các cuộc điều tra người ta thường thu thập cả cân nặng , chiều cao và tuổi để tính ra các chỉ tiêu trên

Hiện nay có 4 nhóm chỉ tiêu thường dùng để đánh giá TTDD đó là:

- Các số đo nhân trắc

- Điều tra khẩu phần

- Khám lâm sàng

- Xét nghiệm sinh hoá

Mỗi nhóm chỉ tiêu trên có những giá trị riêng và thường có nhiều kỹ thuật khác nhau do vậy việc lựa chọn chỉ tiêu, kỹ thuật áp dụng cho mỗi cuộc điều tra tại cộng đồng phải cân nhắc sao cho đảm bảo tính tin cậy và giảm chi phí Năm 1981, WHO đưa ra thang phân loại TTDD dựa vào quần thể tham khảo NCHS với 3 chỉ tiêu cân nặng theo tuổi (Weight/Age:W/A), chiều cao theo tuổi (Height/Age:H/A), cân nặng theo chiều cao (Weight/Heihgt: W/H) [19][25] Cân nặng theo tuổi( CN/T) là chỉ tiêu đánh giá TTDD của trẻ thông dụng từ những năm 50 của thế kỷ XX CN/T rất nhậy với các điều kiện dinh dưỡng, CN/T

sẽ tụt nhanh khi đói ăn hoặc bị bệnh Chỉ tiêu CN/T không nói được thiếu dinh dưỡng là hiện tại hay quá khứ, nếu chỉ cân một lần thì không xác định được sự tiến triển của TTDD trẻ em Không thể đánh giá trẻ bị thiếu dinh dưỡng từ bao giờ Cân nặng theo chiều cao (CN/CC), là chỉ tiêu đánh giá TTDD hiện tại CN/CC thấp là tình trạng thiếu dinh dưỡng cấp (gầy mòn) CN/CC thấp chính là sự thiếu hụt khối mỡ hay không tăng cân, mất cân nặng nếu so sánh với trẻ em cùng lứa tuổi

Trang 29

CN/CC thấp thường do hai yếu tố thiếu ăn và nhiễm khuẩn gây nên Chỉ tiêu CN/CC có ưu điểm là không cần biết tuổi của trẻ nên tránh được sai số khi tính tuổi Chiều cao theo tuổi (CC/T), phản ánh tiền sử dinh dưỡng, nói lên suy dinh dưỡng trong quá khứ, ảnh hưởng chồng chất của thiếu dinh dưỡng và nhiễm trùng trong quá khứ cũng như ảnh hưởng của điều kiện vệ sinh môi trường Các chỉ tiêu trên được coi là thấp khi chúng từ dưới -2SD (Standand Deviation) so với quần thể tham khảo NCHS

- Thiếu dinh dưỡng: CN/T, CC/ T, CN/CC từ dưới -2SD

- Dinh dưỡng tốt hay tình trạng dinh dưỡng bình thường khi các chỉ tiêu CN/T, CC/ T, CN/CC nằm trong khoảng từ -2SD đến +2SD

- Thừa dinh dưỡng khi các chỉ tiêu trên từ trên +2SD

Việc phân loại TTDD tại cộng đồng đòi hỏi phải có những kỹ thuật nhậy, đơn giản và có thể thực hiện cho hàng loạt trẻ em trong khoảng thời gian ngắn

Do vậy 3 chỉ tiêu cân nặng theo tuổi (Weight for Age - W/A) chiều cao theo tuổi (Height for Age -H/A) và cân nặng theo chiều cao (Weight for Height - W/H) đã được lựa chọn sử dụng để phân loại TTDD tại cộng đồng [19][25]

Năm 1956 Gomez đã đưa ra thang phân loại SDD dựa vào chỉ tiêu cân nặng theo tuổi và quần thể tham khảo Harvard để phân loại suy dinh dưỡng

Năm 1959 Jellife cũng sử dụng phương pháp của Gomez để phân loại SDD theo các mức 90- 80%, 80-70%, 70-60% và dưới 60% so với chuẩn Harvard Theo tác giả nếu SDD độ III mà không có phù là Marasmus, có phù là Kwashiorkor nếu triệu chứng phù không điển hình là thể phối hợp Kwashiorkor - Marasmus

Từ phương pháp của Gomez, đến năm 1970, Welcome dựa vào cân nặng theo tuổi và dấu hiệu phù dinh dưỡng để phân biệt SDD ở các thể Marasmus, Kwashiorkor và Marasmus - Kwashiorkor [56]

Trang 30

Cách phân loại dinh dưỡng dựa vào cân nặng theo tuổi, tiện dụng cho phép nhận định tình trạng dinh dưỡng nói chung, nhưng không phân biệt được tình trạng thiếu dinh dưỡng hiện tại hay kéo dài [3][25][56]

Để phân biệt thiếu dinh dưỡng thể gầy mòn tức là hiện tại đang thiếu dinh dưỡng hay thể còi cọc tức là thiếu dinh dưỡng trường diễn, thiếu dinh dưỡng trong quá khứ tác giả Waterlow đã đưa ra chỉ tiêu CC/T so với quần thể tham khảo Harvard để phân loại:

Gầy mòn (Wasting) biểu hiện tình trạng thiếu dinh dưỡng hiện tại

Còi cọc (Stunting) biểu hiện tình trạng thiếu dinh dưỡng trong quá khứ Tuy các cách phân loại có khác nhau nhưng nhìn chung thang phân loại của các tác giả kể trên đều dựa vào tỷ lệ % đạt được so với giá trị trung bình của quần thể tham khảo

để phân loại SDD nên thang phân loại này còn thiếu chặt chẽ về cơ sở thống kê [25]

Từ năm 1981, Tổ chức Y tế thế giới đã đề nghị thống nhất lấy quần thể tham khảo là NCHS (National Centre for Health Statistics of American) và đưa ra thang phân loại dựa vào độ lệch chuẩn (Standard Deviation: SD) với điểm ngưỡng là -2SD

để phân loại tình trạng dinh dưỡng (TTDD) cho cả 3 chỉ tiêu cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao Trong đó dựa vào chỉ tiêu cân nặng /tuổi chia TTDD thành 3 mức độ so với trị số tương ứng của NCHS

Những trẻ có CN/T ở dưới -2SD so với giá trị giữa của quần thể tham chiếu NCHS được coi là nhẹ cân

Trẻ em có CC/T từ dưới -2SD được phân lại là còi cọc (Stunting)

Những trẻ có CN/CC từ dưới -2SD được phân loại là gầy mòn (Wasting) [74][75]

Trang 31

Cũng giống như các nhóm tuổi khác các số đo cơ bản cũng được lấy là cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao Các chỉ tiêu thường dùng như sau:

Nhẹ cân (Underweight): giới hạn ngưỡng để đánh giá là cân nặng theo tuổi từ dưới -2SD

Tình trạng thấp còi (Stunting): Giới hạn ngưỡng để đánh giá tình trạng thấp còi ở trẻ em tiểu học (6-10 tuổi) là chiều cao theo tuổi từ dưới -2SD

Gầy còm (Thinness, wasted): Giới hạn ngưỡng để đánh giá là cân nặng theo chiều cao từ dưới -2SD

Từ đó có cách phân chia thiếu dinh dưỡng trẻ em 6-15 tuổi ra các mức độ như sau: Nhẹ cân độ I : CN/T từ dưới - 2SD đến -3SD

Nhẹ cân độ II : CN/T từ dưới - 3SD đến - 4SD

Nhẹ cân độ III : CN/T từ dưới - 4SD

Stunting (còi cọc) : Nếu chỉ tiêu chiều cao /tuổi dưới - 2SD

Wasting (gầy mòn) : Nếu chỉ tiêu cân nặng/chiều cao dưới -2SD

Hiện nay việc thống nhất sử dụng phương pháp phân loại TTDD này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận định và so sánh giữa các nguồn số liệu trên toàn cầu

1.6.3 Phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì (Overweight)

Năm 1995 WHO đã đưa ra phương pháp phân loại TTDD cho trẻ 10 đến

19 tuổi dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI), nhưng do đặc điểm của lứa tuổi này là

cơ thể đang phát triển, chiều cao chưa ổn định nên không thể dùng 1 ngưỡng BMI như ở người trưởng thành mà BMI phải tính theo tuổi và giới của trẻ[68]

Đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì cũng đã được thống nhất trong chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KC.10 của Viện Dinh dưỡng Đánh giá thừa cân, béo phì cho trẻ em tuổi học đường theo 2 nhóm tuổi như sau [3][19][25]

Trang 32

Trẻ từ 5-9 tuổi: Đánh giá thừa cân và béo phì dựa vào chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao với ngưỡng: +2Z-scores của quần thể tham khảo NCHS khi CN/CC > +2Z-scores là thừa cân béo phì

Trẻ từ 10-19 tuổi: Tính BMI theo tuổi và giới Thừa cân khi BMI/tuổi ≥85 percentile, béo phì khi BMI/tuổi ≥95 percentile hoặc BMI/tuổi ≥85 percentile và bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu theo tuổi ≥90 percentile và bề dày lớp mỡ dưới da góc dưới xương bả vai theo tuổi ≥90 percentile

Thống nhất các biện pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng như hiện nay đã giúp các nhà nghiên cứu có chung một chỉ số và có chung tiếng nói trong lĩnh vực dinh dưỡng góp phần không nhỏ trong thực hiện chiến lược dinh dưỡng toàn cầu [3][19]

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1- Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại 12 trường học bao gồm 6 trường tiểu học

và 6 trung học cơ sở của 6 xã thuộc 2 huyện Đông Hưng và Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình Đây là các vùng nông thôn của tỉnh Thái Bình và đại diện cho cả hai vùng sinh thái là nội đồng và ven biển, đại diện cho 7 huyện trong toàn tỉnh

Vùng nội đồng (NĐ): Nghiên cứu tại huyện Đông Hưng: Bao gồm 3 xã Đông La, Đông Hà, Phong Châu Đây là các xã mang nhiều đặc điểm của vùng nội đồng, người dân sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, trồng mầu, rất ít nghề phụ

Vùng ven biển (VB): Nghiên cứu tại huyện Thái Thuỵ: Bao gồm 3 xã Thuỵ Trường, Thuỵ Hà, Thuỵ Hải Đây là các xã nằm sát ven biển, mang nhiều đặc điểm của vùng biển, nhân dân trong vùng này sống chủ yếu bằng nghề đi biển, nuôi trồng thuỷ sản, và một phần nhỏ làm nghề nông nghiệp

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu gồm có 2 đợt điều tra cách nhau 9 năm

Đợt 1: Điều tra vào năm 1995

Đợt 2: Điều tra vào năm 2004

2.1.3- Đối tượng nghiên cứu

Là toàn bộ những học sinh từ 7 đến 15 tuổi trong các lớp đã được chọn vào mẫu nghiên cứu của các lớp

Học sinh tiểu học: Lớp 1-5

Trang 34

Học sinh trung học cơ sở: Lớp 6 - 9

Những trẻ em được sàng lọc để không đưa vào trong nghiên cứu này nhằm loại trừ yếu tố nhiễu bao gồm:

Trẻ bị những bệnh bẩm sinh di truyền như lùn tuyến yên, di chứng chất độc màu da cam …

Bệnh mắc phải như di chứng chấn thương, di chứng bại liệt, viêm cột sống dính khớp …

Phân chia đối tượng nghiên cứu làm 2 nhóm, nhóm bình thường và nhóm

có bệnh Nhóm bình thường gồm những trẻ tại thời điểm điều tra không có bệnh

và được xác định nhờ các bác sỹ chuyên khoa nhi

Tổng số đối tượng nghiên cứu được chọn trong đợt điều tra năm 1995 là

5576 học sinh 7-15 tuổi Trong đó trẻ em từ 7-9 tuổi là 1760 và trẻ 10-15 tuổi là

3812 Phân bố ở vùng nội đồng là 2434 trẻ, vùng ven biển là 3142 trẻ

Đối tượng nghiên cứu được chọn trong đợt điều tra năm 2004 là 2910 trẻ

từ 7-15 tuổi Trong đó số trẻ em 7-9 tuổi là 900 và trẻ 10-15 tuổi là 2010 Phân

bố ở vùng nội đồng là 1386 trẻ và vùng ven biển là 1524 trẻ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1- Thiết kế nghiên cứu

* Đợt 1: Nghiên cứu cắt ngang tại 6 xã đã được chọn, xác đinh các số đo nhân trắc, tình trạng dinh dưỡng, tỷ lệ bệnh tật

* Đợt 2: Nghiên cứu cắt ngang tại 6 xã của đợt 1 và so sánh với đợt 1 về các chỉ số nhân trắc, tình trạng dinh dưỡng và tỷ lệ bệnh tật

2.2.2- Chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu

Trang 35

Mẫu nghiên cứu được chọn theo kỹ thuật mẫu nhiều giai đoạn, phù hợp với phương pháp chọn mẫu thuận tiện và phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

* Chọn mẫu trong đợt 1

+ Chọn huyện: Theo phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn

Tỉnh Thái Bình có 7 huyện được chia ra làm 2 vùng sinh thái đó là vùng ven biển gồm Thái Thuỵ và Tiền Hải, vùng nội đồng gồm Vũ Thư, Đông Hưng, Kiến Xương, Hưng Hà, Quỳnh Phụ Từ mỗi vùng sinh thái bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra một huyện vào mẫu nghiên cứu, kết quả bốc thăm được huyện Thái Thụy đại diện cho vùng ven biển, huyện Đông Hưng đại diện cho vùng nội đồng

+ Chọn xã: Theo kỹ thuật ngẫu nhiên

Lập danh sách tất cả các xã trong huyện Đông Hưng và Thái Thuỵ, bốc thăm ngẫu nhiên từ mỗi huyện lấy 3 xã để chọn vào nghiên cứu Kết quả bốc thăm như sau: Huyện Thái Thụy chọn được 3 xã là Thụy Hà, Thụy Hải và Thụy Trường Huyện Đông Hưng chọn được 3 xã là Đông La, Phong Châu, Đông Hà

+ Chọn trường: Tất cả các trường tiểu học và trung học cơ sở thuộc 6 xã

đã được chọn

+ Chọn lớp: Theo kỹ thuật ngẫu nhiên

Lập danh sách tất cả các lớp trong tất cả các khối của cả 2 trường tiểu học

và trung học cơ sở của các xã đã được chọn Bốc thăm ngẫu nhiên mỗi khối lấy

4 lớp và diện nghiên cứu

+ Chọn học sinh: Toàn bộ học sinh thuộc các lớp được chọn

+ Chọn trẻ bình thường: Gồm 4129 đối tượng, là những trẻ không có bệnh trong đợt điều tra

* Chọn mẫu trong nghiên cứu đợt 2

Trang 36

+ Chọn huyện và chọn xã: Theo phương pháp chọn mẫu có mục đích, đó

là 2 huyện Đông Hưng và Thái Thụy và 6 xã Đông La, Đông Hà, Phong Châu, Thụy Trường, Thụy Hà, Thụy Hải Đây là 6 xã thuộc 2 huyện đã chọn trong nghiên cứu trong đợt 1, năm 1995

+ Chọn lớp: Theo kỹ thuật ngẫu nhiên, lập danh sách tất cả các lớp của từng khối của các trường tiểu học và trung học cơ sở của các xã đã được chọn tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên lấy mỗi khối 2 lớp vào mẫu nghiên cứu

+ Chọn học sinh: Toàn bộ học sinh 7-15 tuổi của các lớp đã được chọn là đơn vị mẫu nghiên cứu

+ Chọn trẻ bình thường: Gồm 2352 đối tượng, là những trẻ không phát hiện thấy bệnh tật khi thăm khám

Sơ đồ chọn mẫu

Đông La Đông Hà Phong Châu

Thụy Hà Thụy Hải Thụy Trường Tỉnh Thái Bình

2 trường tiểu học và trung học cơ sở

Trang 37

1- p : Tỷ trẻ em không suy dinh dưỡng

e : Khoảng sai lệch mong muốn so với giá trị thực, lấy e = 0,05

22 x 0,5 x 0,5

n = - = 400

(0,05)2

Đợt 1 chọn mỗi khối 4 lớp Đợt 2 chọn mỗi khối 2 lớp

Trang 38

Kết quả tính toán cho n = 400 là cỡ mẫu cho mỗi một vùng nghiên cứu, ven biển hoặc nội đồng trong mỗi một đợt điều tra Như vậy cỡ mẫu cho mỗi đợt điều tra cắt ngang trong nghiên cứu này là 800 trẻ

Để tăng độ tin cậy trong nghiên cứu này chúng tôi đã điều tra 5.576 đối tượng vào năm 1995 và 2.910 đối tượng năm 2004

2.2.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

Trong đó: A (Age) : Là tháng tuổi của trẻ

V ( Visitdate) : Ngày, tháng, năm điều tra

B (Birthdate) : Ngày, tháng, năm sinh của trẻ 30,4: Số ngày trung bình 1 tháng

Dựa vào ngày, tháng, năm sinh của trẻ và ngày điều tra để tính tháng tuổi của trẻ Xác định ngày, tháng, năm sinh của trẻ từ sổ học bạ của nhà trường thống nhất theo ngày dương lịch, nếu học bạ ghi ngày âm thì tra bảng quy về ngày dương lịch

Từ số tháng tuổi tính ra năm tuổi của trẻ

Trẻ 7 tuổi được tính từ khi trẻ tròn 7 năm đến 7 năm 11 tháng 29 ngày Trẻ 8 tuổi được tính từ khi trẻ tròn 8 năm đến 8 năm 11 tháng 29 ngày Trẻ 15 tuổi được tính từ khi trẻ tròn 15 năm đến 15 năm 11 tháng 29 ngày

Trang 39

Xác định cân nặng của trẻ

Cân nặng của trẻ được xác định bằng cân Tanita với trọng lượng cân là 100kg và độ nhạy 100g Đây là dụng cụ cân có độ chính xác cao, rất ít có sai lệch trong các buổi cân, gọn nhẹ, vận chuyển dễ dàng khi tiến hành các cuộc điều tra tại cộng đồng

Trước mỗi đợt nghiên cứu, cân được kiểm tra độ chính xác bởi một vật chuẩn Giao cho một cán bộ nghiên cứu bảo quản và sử dụng cân suốt cả đợt điều tra

Trước mỗi buổi cân, kiểm tra lại độ chính xác của cân bằng một vật chuẩn

đã được kiểm định từ trước, để cho tiện lợi chúng tôi sử dụng một can nhựa 5 lít

có đựng đầy nước và có trọng lượng không đổi là 5 kg

Vị trí cân là nơi đủ ánh sáng để có thể đọc con số chính xác Cân phải được đặt trên một mặt phẳng cứng, đảm bảo thăng bằng

Khi cân trẻ phải cởi bỏ quần áo, giày dép, mũ nón và các trang sức nặng Trước khi đứng lên mặt bàn cân cho trẻ ngồi ngay ngắn trên một cái gế, đặt 2 bàn chân lên vị trí quy định trên mặt cân, sau đó từ từ đứng lên sao cho trọng lượng dàn đều trên cả 2 bàn chân, khi trẻ đã đứng thăng bằng thì đọc kết quả cân Cho trẻ ngồi xuống ghế sau đó bước ra khỏi vị trí cân

Kết quả cân nặng được xác định bằng đơn vị là kg với 1 chữ số thập phân

Ví dụ: 21,6 kg

Đo chiều cao đứng của trẻ

Xác định chiều cao đứng của trẻ, theo kỹ thuật thường quy đã được thống nhất trong sinh hoạt khoa học đề tài KC-10-05 [19] Giao cho một cán bộ nghiên cứu có chiều cao 170 cm để có thể đọc dễ dàng chiều cao tối đa của trẻ 15 tuổi, cán bộ này

sẽ chuyên phụ trách công việc đo chiều cao từ đầu đến cuối đợt nghiên cứu

Dụng cụ: Dùng một thước dây gián sát vào tường, thước dây phải đảm bảo vuông góc với mặt đất và vạch 0 của thước đây vừa chạm tới mặt đất

Trang 40

Vị trí đo: Chọn nơi đủ ánh sáng để có thể đọc chính xác các con số và vạch

mm trên thước dây

là chiều cao của trẻ

Kết quả đo chiều cao được tính bằng cm với 1 chữ số thập phân

H là chiều cao cơ thể tính bằng mét

Đánh giá tình trạng thiếu dinh dưỡng

Sử dụng thang phân loại suy dinh dưỡng của WHO năm 1981 với quần thể tham khảo NCHS để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em với những chỉ tiêu sau [75]

Ngày đăng: 18/03/2018, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w