1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHẤP NHẬN CỦA NÔNG DÂN ĐỐI VỚI KỸ THUẬT TƯỚI PHUN MƯA TẠI HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH

89 171 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế tưới nước cho các loại cây trồng là việc lựa chọn và áp dụng phương pháp, kỹ thuật tưới thích hợp vì các kỹ thuật tưới

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

******************

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHẤP NHẬN CỦA NÔNG DÂN ĐỐI

VỚI KỸ THUẬT TƯỚI PHUN MƯA TẠI HUYỆN

PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ THUẬN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

******************

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHẤP NHẬN CỦA NÔNG DÂN ĐỐI

VỚI KỸ THUẬT TƯỚI PHUN MƯA TẠI HUYỆN

PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH

Ngành: Kinh tế tài nguyên môi trường

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Người hướng dẫn: TS PHAN THỊ GIÁC TÂM

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06/2012

Trang 3

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHẤP NHẬN CỦA NÔNG DÂN ĐỐI VỚI KĨ THUẬT TƯỚI PHUN MƯA TẠI HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH” do NGUYỄN THỊ THUẬN, sinh viên khóa 2008-2012, ngành KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, đã bảo vệ thành công

trước hội đồng vào ngày………

TS PHAN THỊ GIÁC TÂM Người hướng dẫn

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Trước hết, con xin tỏ lòng biết ơn và ghi nhớ công sinh thành, dưỡng dục của

ba mẹ, đặc biệt là người mẹ đã hết lòng thương yêu, hi sinh tấc cả vì con để con có

được ngày hôm nay, mẹ đã luôn động viên, nhắc nhở và tạo mọi điều kiện tốt nhất để

con hoàn thành khóa luận này Con sẽ không bao giờ quên được công ơn sinh thành

dưỡng dục đó

Em vô cùng biết ơn chị gái và các anh luôn yêu thương, luôn nhắc nhở, động

viên, quan tâm, lo lắng cho em suốt những năm học Đại học

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Kinh Tế trường Đại Học Nông Lâm,

TP Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu trong

suốt quãng thời gian học tập tại trường Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

cô Phan Thị Giác Tâm và thầy Nguyễn Trần Nam người đã hết lòng chỉ dẫn giúp đỡ

trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Cảm ơn các cô chú cùng các anh chị trong phòng Nông nghiệp huyện Phù Cát

đã cung cấp số liệu cần thiết để hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Cảm ơn những hộ gia đình trên địa bàn điều tra đã cung cấp những thông tin

quí báu giúp tôi hoàn thành luận văn nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, người thân, các anh chị, những

người đã giúp đỡ, quan tâm, động viên và chia sẻ cùng tôi những khó khăn, vui buồn

trong suốt quãng đời sinh viên

Xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Thị Thuận

Trang 5

NỘI DUNG TÓM TẮT

NGUYỄN THỊ THUẬN Tháng 06 năm 2012 “Đánh giá khả năng chấp

nhận của nông dân đối với kĩ thuật tưới phun mưa tại huyện Phù Cát tỉnh Bình Định”

NGUYỄN THỊ THUẬN June 2012 “ Evaluate farmers’s adoption of sprinklers at Phu Cat district, Binh Dinh province ”

Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của huyện Phù Cát Trong những năm gần đây hạn hán kéo dài tình hình nắng hạn gay gắt, nguồn nước ngày càng khan hiếm đã ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm nước tưới cho cây trồng

Biện pháp tưới cho cây đậu phộng chủ yếu là tưới bằng vòi nhựa cầm tay Gần đây, kĩ thuật tưới phun mưa được áp dụng và đã mang lại nhiều lợi ích nhưng diện tích

áp dụng kĩ thuật tưới phun mưa vẫn còn hạn chế vì nhiều lí do như người dân chưa tin tưởng vào hiệu quả của nó hay chưa biết về nó Đề tài tìm hiểu thực trạng, đánh giá khả năng chấp nhận của nông dân đối với kĩ thuật tưới phun mưa cho cây đậu phộng

vụ Đông Xuân nhằm tìm ra biện pháp hiệu quả nhất ở cả hai khía cạnh kinh tế và môi trường

Đề tài đã thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra 60 hộ nông dân ở xã Cát Hiệp, gồm 11 hộ tưới phun mưa và 49 hộ tưới vòi để mô tả, so sánh hiệu quả kinh tế của hai biện pháp tưới Đồng thời, đề tài cũng sử dụng mô hình Logit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận áp dụng tưới phun mưa của người dân nơi đây Kết quả, đầu tư áp dụng kĩ thuật tưới phun mưa cho cây đậu phộng mang lại thu nhập tăng thêm

là 1.2 triệu đồng/500m2/vụ , giảm thất thoát lượng nước là 150 m3/500m2/vụ tính theo giá trị kinh tế so với tưới vòi Các nhân tố tuổi, học vấn của người nông dân, nhận thức

về mức độ giảm nguồn nước hiện nay, số công lao động nhà là những cơ sở để tác

Trang 6

2.1.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng tưới tiết kiệm nước trên thế giới và ở

2.1.2 Tổng quan các tài liệu về khả năng chấp nhận biện pháp kĩ thuật tưới 7

2.2 Tổng quan về giá nước 8

2.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 9

2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 13

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Cơ sở lý luận 15 3.1.1 Các khái niệm 15

3.1.2 Vai trò của nước đối với cây trồng 19

3.1.3 Lí luận về giá nước 20

3.2 Phương pháp nghiên cứu 21

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 21

Trang 7

3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 22

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.2 Các biện pháp tưới đang được thực hiện trên địa bàn huyện 32

4.2.1 Nguồn nước tưới và sự khan hiếm nước vào mùa khô 32

4.2.2 Các phương pháp tưới cho cây đậu phộng của hộ dân 33

4.2.3 So sánh mức tưới giữa nhóm tưới phun mưa và tưới vòi 34

4.3 Xác định hiệu quả kinh tế việc áp dụng tưới phun mưa cho cây đậu phộng 36

4.3.1 Xác định chi phí của kĩ thuật tưới phun mưa 36

4.3.2 Xác định lợi ích của kĩ thuật tưới phun mưa 38

4.3.3 Kết quả phân tích tài chính và phân tích lợi ích- chi phí 43

4.3.4 Đánh giá kết quả của việc áp dụng kĩ thuật tưới phun mưa 44

4.4 Các nhân tố ảnh hưởng việc chấp nhận áp dụng kĩ thuật tưới phun mưa 44

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48 5.2 Kiến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 54

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV Bảo bệ thực vật

MEC Chi phí môi trường biên

MPC Chi phí sản xuất biên

MUC Chi phí sử dụng biên

NPV Hiện giá ròng

IRR Tỉ suất sinh lợi

TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện Tích và Tỷ Lệ Diện Tích của Các Vùng Huyện Phù Cát 11

Bảng 2.2 Qui Hoạch Sử Dụng Đất Thuỷ Lợi Huyện Phù Cát Năm 2010 13

Bảng 3.1 Một Số Giá Nước Sinh Hoạt Tính Theo Phương Pháp MOC (năm 2010) 21

Bảng 3.2 Lợi Ích Chi Phí của Kỹ Thuật Tưới Phun Mưa so với Tưới Vòi 23

Bảng 3.3 Lợi Ích và Chi Phí của Phương án Sử Dụng Kĩ Thuật Tưới Phun Mưa 27

Bảng 3.4 Các Biến Đưa Vào Mô Hình và Kỳ Vọng Dấu 29 Bảng 4.1 Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội của Nhóm Hộ Tưới Phun Mưa 32

Bảng 4.2 Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội của Nhóm Hộ Tưới Vòi 32

Bảng 4.3 Cách Thức Tưới Cho Đậu Phộng của Hộ 34 Bảng 4.4 Tính Toán Lượng Nước Tưới/500m2 Đậu Phộng của 1 Hộ trong Vụ Đông Xuân 35

Bảng 4.5 So Sánh Lượng Nước Tưới giữa Hai Nhóm Biện Pháp Tưới 35

Bảng 4.6 Tổng Hợp Chi Phí Đầu Tư Hàng Năm cho 500m 2 Đậu Phộng 36

Bảng 4.7.Tập Hợp Các Chi Phí Tăng Thêm Khi Áp Dụng Kĩ Thuật Tưới Phun Mưa 37

Bảng 4.10 Kiểm Tra Hiện Tượng Phương Sai Sai Số Thay Đổi 40

Bảng 4.11 Giá Trị Trung Bình của Các Biến Trong Mô Hình 42

Bảng 4.12 Bảng Tổng Kết Dòng Lợi Ích của Dự Án 42

Bảng 4.13 Phân Tích Tài Chính Và Phân Tích Lợi Ích- Chi Phí Của Dự Án 43

Bảng 4.14 Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit 1 45

Bảng 4.15 Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit 2 46

Trang 11

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Mô Hình Kết Xuất Hàm Năng Suất

Phụ lục 2 Kiểm Định Tính Hiệu Lực Của Mô Hình Hàm Năng Suất Phụ lục 3 Mô Hình Kết Xuất Hàm Logit

Phụ lục 4 Kiểm Định T-test

Phụ lục 5 Bảng Tính Toán Lợi Ích Chi Phí Qua Các Năm

Phụ lục 6: Hình Ảnh Kĩ Thuật Tưới Phun Mưa Và Tưới Vòi

Phụ lục 7 Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn Nông Hộ

Phụ lục 8 Kết Quả Đo Nước Của Các Loại Máy Bơm

Trang 12

bị suy giảm về số lượng dẫn đến khan hiếm nước Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước Trong nông nghiệp, nước là yếu tố quan trọng hàng đầu như ông bà ta đã có câu “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Nước tham gia vào hầu hết các quá trình sinh lý quan trọng của cây như quang hợp, hô hấp, chuyển hóa các chất dinh dưỡng nên tưới nước là khâu không thể thiếu trong quá trình chăm sóc Mục đích cơ bản của tưới nước là đưa

đủ nước vào trong đất để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt nhất (Lê Sâm, 2002) Trong tổng số khối lượng nước được khai thác sử dụng trên toàn thế giới hiện nay là 3.800 tỷ m3, thì việc tưới tiêu nước trong nông nghiệp sử dụng 70% (2.700

tỷ m3) (Cục Quản lý tài nguyên nước-Bộ Tài nguyên và Môi trường) Gần 95% lượng nước tại các nước đang phát triển được sử dụng để tưới tiêu cho đất nông nghiệp, vì thế cần có các chính sách để cải thiện hiệu quả tưới tiêu là rất quan trọng là nhiệm vụ cấp bách, nó không chỉ đáp ứng các yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tài nguyên và môi trường trong tương lai lâu dài Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng hạn hán như hiện nay đã được các nhà khoa học xác định là do tỉ lệ thất thoát nước quá cao trong quá trình tưới Lượng nước

sử dụng trong sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 70% tổng nhu cầu về nước (Cục Quản lý tài nguyên nước-Bộ Tài nguyên và Môi trường) Xu hướng phát triển thủy lợi của nhiều nước hiện nay là khai thác tốt hệ thống các công trình hiện

Trang 13

có, tăng cường các phương pháp, kỹ thuật tưới theo chiều sâu để nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua việc tăng hiệu quả sử dụng nước

Huyện Phù Cát nằm ở phía Bắc của thành phố Quy Nhơn, nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, thuộc khí hậu ven biển Nam Trung Bộ, lượng mưa thấp chỉ chiếm khoảng 10-15% lượng mưa của cả nước, trong đó lượng nước bốc hơi rất cao Mùa khô kéo dài, tình trạng hạn hán thiếu nước thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đến sản xuất và các hoạt động dân sinh kinh tế của địa phương Một trong những biện pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế tưới nước cho các loại cây trồng là việc lựa chọn và áp dụng phương pháp, kỹ thuật tưới thích hợp vì các

kỹ thuật tưới tại mặt ruộng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp, phân bố nước trực tiếp đến cây trồng và quyết định lượng nước tổn thất mặt ruộng nhiều hay ít Với các phương pháp, kỹ thuật tưới thông thường hiện nay thì lượng nước tổn thất còn rất lớn Thực tế đặc điểm sản xuất nông nghiệp tại địa phương rất phù hợp với các phương pháp tưới tiết kiệm, tuy nhiên kĩ thuật này vẫn chưa được sử dụng rộng rãi tại địa phương Ứng dụng hệ thống tưới phun mưa sẽ cấp vừa đủ lượng nước đúng yêu cầu trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng nhờ đó đảm bảo cho năng suất cao và lại tiết kiệm đáng kể lượng nước tưới Vì vậy việc sử dụng hệ thống tưới phun mưa là cần thiết cho cây trồng có giá trị kinh tế cao tại một vùng khan hiếm nước như Phù Cát Từ thực tế đó, được sự cho phép của Khoa Kinh Tế trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM cùng với sự hướng dẫn của TS.Phan Thị Giác Tâm, tôi tiến hành thực

hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá khả năng chấp nhận của nông dân đối với kĩ

thuật tưới phun mưa tại Phù Cát-Bình Định” để kĩ thuật này có thể được sử dụng

trong nông nghiệp tại địa phương

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Đánh giá khả năng chấp nhận của nông dân đối với kĩ thuật tưới phun mưa tại Phù Cát-Bình Định

 Mô tả các biện pháp tưới cho cây đậu phộng đang thực hiện trên địa bàn xã Cát Hiệp huyện Phù Cát

Trang 14

1.4 Cấu trúc của đề tài

Đề tài gồm năm phần chính và được chia thành năm chương như sau: Chương 1

là chương mở đầu của đề tài và cũng là chương mở ra những định hướng cụ thể cho những chương sau Chương này giúp người đọc hiểu về sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu đồng thời giới thiệu sơ lược về cấu trúc luận văn nghiên cứu Chương

2 giới thiệu một số nghiên cứu về tưới tiết kiệm nước ở Việt Nam và thế giới đồng thời khái quát về các biện pháp tưới ở nước ta cũng như những ưu nhược điểm của chúng

từ đó thấy được tầm quan trọng của vấn đề Đề tài còn sơ lược về vấn đề định giá nước hiện nay, ngoài ra cũng giới thiệu về địa bàn nghiên cứu huyện Phù Cát để người đọc

có thể hình dung ban đầu về nội dung đề tài Ở chương 3, tìm hiểu về một số lí luận liên quan đến nghiên cứu như: tài nguyên nước, quản lí nguồn nước, quản lí tài nguyên nước, vai trò của nước đối với cây trồng, các kĩ thuật tưới nước, kĩ thuật tưới tiết kiệm,

kĩ thuật tưới phun mưa, cơ sở tính toán giá nước, Đồng thời mô tả các phương pháp, cách thức cũng như quá trình thực hiện những mục tiêu của đề tài Chương 4 là chương quan trọng nhất, trình bày và đánh giá kết quả nghiên cứu các mục tiêu đã đề

ra ở chương 1 Chương 5 đưa ra những kết luận và kiến nghị thông qua kết quả nghiên

cứu có được ở chương 4

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan

2.1.1 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng tưới tiết kiệm nước trên thế giới và ở Việt Nam

a) Tình hình phát triển tưới tiết kiệm nước trên thế giới

Tài nguyên nước đang là một vấn đề ngày càng căng thẳng trên thế giới, tình trạng hạn hán và khan hiếm nguồn nước đã và đang trở thành mối quan tâm sâu sắc đối với nhiều quốc gia nói chung và nhiều ngành kinh tế nói riêng Nông nghiệp được cho là ngành sử dụng nước lớn nhất, chiếm tới 85% lượng nước dùng hàng năm (với các nước châu Á) Chính vì vậy một trong những giải pháp nhằm khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước là tưới tiết kiệm nước, sử dụng nước có hiệu quả trong nông nghiệp

Công nghệ tưới tiết kiệm nước được áp dụng rộng rãi hiện nay trên thế giới gồm kỹ thuật tưới phun mưa (trong đó có tưới phun mưa áp lực thấp), kỹ thuật tưới nhỏ giọt và kỹ thuật tưới ngầm

Theo đánh giá của FAO hiện nay trên thế giới có khoảng trên 1 triệu ha cây trồng được tưới bằng công nghệ tưới tiết kiệm nước Mỹ và Israel là những nước phát triển mạnh nhất công nghệ tưới này, nhưng Đức là nước phát triển sớm nhất Ở Mỹ bang California phát triển tưới tiết kiệm nước sớm nhất (1950), từ năm 1977 hàng nghìn ha nho, cam, quít, hạnh nhân, mận v.v., đã được tưới bằng kỹ thuật tưới nhỏ giọt

và phun mưa nhỏ; trong đó trên 8000 ha được điều khiển bằng máy vi tính Tại Kettleman và Arizona (California) từ những năm 1979-1980 đã ứng dụng rộng rãi kỹ thuật tưới phun mưa nhỏ, tưới phun sương và tưới nhỏ giọt ngầm và đã thành công trong việc kết hợp sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu trực tiếp vào nước tưới Các

Trang 16

Israel là một trong những nước nổi tiếng về phát triển rất mạnh kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, hầu hết đất đai canh tác đều được sử dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước; có khoảng 40% (24.000 ha) trồng bông của nước này được tưới nhỏ giọt Những năm 80 Israel đã phát triển mạnh kỹ thuật tưới nhỏ giọt ngầm để khắc phục những tồn tại của

hệ thống ống tưới nhỏ giọt nổi trên mặt đất Bên cạnh kỹ thuật tưới nhỏ giọt, Israel cũng là nước phát triển mạnh kỹ thuật tưới phun mưa (phun mưa áp lực cao, phun mưa

áp lực thấp, tưới phun sương), các hệ thống tưới sử dụng cho nhà kính, vườn ươm v.v Hiện nay Israel là một trong những nước xuất khẩu nhiều nhất các sản phẩm thiết bị tưới tiết kiệm nước hiện đại Rất nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã nhập thiết bị hệ thống tưới của Israel

Australia cũng là nước nổi tiếng về công nghệ tưới tiết kiệm nước, đặc biệt là tưới nhỏ giọt, hiện có khoảng 20.000 ha trồng nho ở nước này được tưới bằng kỹ thuật tưới nhỏ giọt Ngoài ra còn nhiều loại cây trồng khác như đào, mận, hạnh nhân, cam, chanh, cà chua v.v cũng được áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước

Từ những năm 1970 Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu thí nghiệm ứng dụng

kỹ thuật tưới nhỏ giọt trong nông nghiệp Sau gần 30 năm nghiên cứu cải tiến đã đưa

ra mô hình kỹ thuật tưới nhỏ giọt Yến Sơn phù hợp với điều kiện của Trung Quốc, được gọi là kỹ thuật tưới nhỏ giọt Yến Sơn, mở ra triển vọng ứng dụng rộng rãi trên quy mô cả nước

Các nước khác như Đức, Anh, ý, Hà Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Nhật, Nam Phi, Liên Xô (cũ)… đều phát triển mạnh và có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước

Nhìn chung triển vọng phát triển công nghệ tưới tiết kiệm nước trên thế giới là rất lớn, công nghệ tưới này phù hợp với quá trình hiện đại hóa nền nông nghiệp và đang dần thay thế cho kỹ thuật tưới truyền thống tốn nhiều nước và kém hiệu quả

b) Tình hình phát triển tưới tiết kiệm nước ở Việt Nam

Kỹ thuật tưới phun mưa đã được đưa vào nghiên cứu ứng dụng từ những năm

70 tại một số địa phương ở nước ta như Hà Nội, Hà Tây, Phú Thọ, chủ yếu tưới cho một số loại cây trồng như (cà chua, cải bắp, đậu, khoai tây v.v.) Tuy nhiên trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây (từ 1993), công nghệ tưới tiết kiệm nước mới được nghiên cứu, ứng dụng một cách có hệ thống ở nước ta

Trang 17

Các mô hình tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt cho rau quả sạch ở Trường Cao đẳng

kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Hà Tây, 65 ha chè ở Thành phố Tuyên Quang, 1 ha cây ăn quả ở hồ Núi Cốc (Thái Nguyên), 1 ha rau quả ở Viện Nghiên cứu rau quả Gia Lâm

Hà Nội, do Israel tài trợ; hệ thống tưới nhỏ giọt cho dâu ở Công ty BAAC Lâm Đồng, nhập thiết bị của Mỹ; là những mô hình đầu tiên về ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước Gần đây một số tỉnh, thành phố đã đầu tư xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho các loại cây ăn quả, cây có giá trị kinh tế cao, hoa, vườn ươm, nhà kính…, như Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Hải Phòng v.v Các mô hình này đã cho những kết quả bước đầu khả quan về việc ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho một số loại cây trồng ở nước ta Thiết bị hệ thống tưới tiết kiệm nước tại các mô hình này hầu hết được nhập từ Israel, một phần từ Australia, Mỹ…, thông qua các Công ty đại lý hoặc văn phòng đại diện cho một số hãng nổi tiếng như: Netafim, Plastro Asia Pacific, Nanndan v.v

Các đề tài nghiên cứu với quy mô cấp Nhà nước, cấp Bộ về lĩnh vực này, gồm

có Đề tài KHCN mã số 08-09 do Viện KHTL và Viện KHTL miền Nam đồng chủ trì thực hiện từ năm 1996-1999 Đề tài Nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật tưới nhỏ giọt cho cây nho và cây thanh long vùng khô hạn Nam Trung bộ, do Viện KHTL chủ trì, thời gian thực hiện từ 2006-2008; hiện đang được triển khai tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận

Nhìn chung việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước ở Việt Nam như kĩ thuật tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt và tưới phun sương mới chỉ là bước đầu, chúng ta còn thiếu cơ sở vật chất kỹ thuật trong thiết kế, chế tạo và thí nghiệm

Do đó các loại vòi phun, đầu tưới chế thử theo mẫu của nước ngoài còn khá thô sơ, chưa đạt được chỉ tiêu kỹ thuật, độ bền kém Bên cạnh đó các loại đường ống dẫn, các thiết bị khác cũng chưa được chuẩn hóa và sản xuất hàng loạt, nên còn gặp nhiều khó khăn khi lắp ráp, vận hành cũng như bảo dưỡng, duy tu hệ thống tưới Các chỉ dẫn và quy phạm để hướng dẫn trong quy hoạch, thiết kế, quản lý, vận hành hệ thống tưới tiết

Trang 18

Tuy nhiên có thể thấy rằng với những ưu điểm nổi bật so với kỹ thuật tưới truyền thống, đồng thời lại phù hợp với mục tiêu hiện đại hóa nền nông nghiệp nước

ta, thì triển vọng phát triển công nghệ tưới tiết kiệm nước ở Việt Nam là rất lớn

2.1.2 Tổng quan các tài liệu về khả năng chấp nhận biện pháp kĩ thuật tưới

Tiết kiệm nước đang là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu đã thực hiện với nhiều khía cạnh khác nhau mà đa phần đều là các nghiên cứu về kỹ thuật để công nghệ này được ứng dụng tại một địa phương Để thực hiện đề tài này bên cạnh kiến thức của bản thân tôi đã sử dụng các tài liệu sau để làm tư liệu cho đề tài của mình

Đỗ Hồng Quân (2008) cho biết việc ứng dụng kĩ thuật tưới phun mưa cho cây chè đã mang lại nhiều lợi ích: 1) Chủ động được nước tưới theo đúng thời vụ và yêu cầu của cây chè, tiết kiệm nước; 2) Khắc phục được khó khăn kỹ thuật tưới nước cho vùng đồi, khan hiếm nước, không áp dụng được các biện pháp tưới thông thường bằng kênh dẫn; 3) Có thể kết hợp nhiều biện pháp chăm sóc thông qua hệ thống tưới như: phun thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ, vận chuyển và tưới phân vi sinh dạng lỏng Chủ động và nâng cao hiệu quả bón phân, phân bón được hoà tan, ngấm ngay xuống đất, làm giảm khả năng thăng hoa của phân đạm, tăng khả năng hấp thụ của cho cây trồng; 4) Tiết kiệm chi phí nhân công trong gánh nước, phun thuốc bảo vệ thực vật, vận chuyển phân vi sinh dạng lỏng…; 5)Tăng số lứa hái, tăng số lượng và chất lượng chè trong mỗi đợt hái khoảng 30%-50% Thêm chè vụ đông, giá bán chè thường cao hơn vào dịp tết, vì vậy sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế Vốn đầu tư hệ thống tưới cho 1 ha chè khoảng 30-50 triệu đồng, với năng suất chè từ 10-12 tấn/ha/năm, giá bán bình quân 2.500 đồng/kg, phần giá trị tăng thêm đạt 9-15 triệu đồng/ha/năm (chưa kể tiết kiệm chi phí nhân công từ 3-5 triệu đồng/năm)

Nguyễn Thanh Phương cùng các cộng sự của Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Duyên Hải Nam Trung Bộ ( 2009) đã thử nghiệm về Kỹ thuật lót ni lông mặt đáy tầng đất canh tác trong thâm canh cỏ trên đất khô hạn đang bị hoang mạc hóa phục

vụ chăn nuôi, bảo vệ môi trường tỉnh Bình Định Nhóm tác giả đã chọn vùng đất cát khô hạn tại thôn Phú Kim, xã Cát Trinh, huyện Phù Cát làm địa điểm triển khai đề tài, đối tượng nghiên cứu là các loại cỏ voi (cỏ voi King grass, Florida và Madagasca) Với ba công thức thí nghiệm là: Tưới phun mưa không lót ni lông, Lót ni lông kết hợp với phun mưa, Tưới tràn; các tác giả đã theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của

Trang 19

các loại cỏ này qua nhiều giai đoạn khác nhau Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất bình quân 3 năm của cỏ voi trồng thâm canh với kỹ thuật tưới phun mưa có lót ni lông đạt năng suất cao nhất là 264,25 tấn/ha/năm, ở thí nghiệm tưới phun mưa đạt 190,62 tấn/ha/năm Theo các tác giả, trồng cỏ voi thâm canh với kỹ thuật phun mưa cho lợi nhận bình quân cao nhất trong 3 năm là 52,970 triệu đồng/ha/năm Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp tưới phun có lót ni lông có thể tiết kiệm lượng nước khoảng 46.4% so với tưới tràn thông thường Đồng thời phương pháp này còn có thể tích tụ được nhiều mùn, chất dinh dưỡng hơn và có thể thâm canh trên các vùng đất khô hạn của tỉnh Bình Định

Đinh Vũ Thanh, Đoàn Doãn Tuấn (2007) nghiên cứu về Mô hình tưới phun mưa cho cây dứa vùng đất dốc nông trường Sông Bôi tỉnh Hòa Bình nghiên cứu bước đầu về mô hình tưới tiết kiệm nước và xác định chế độ tưới, kĩ thuật tưới hợp lí cho cây dứa bao gồm việc xác định điều kiện ứng dụng, tính toán nhu cầu nước cho cây trồng, thiết kế lắp đặt và qui trình vận hành hệ thống tưới Kết quả nghiên cứu: Tính tổng nhu cầu cây dứa là 5792 m3, lượng mưa hiệu quả là 4413 m3, và lượng nước thực tưới là 1738 m3 cho toàn bộ thời kì sinh trưởng của cây dứa, nghiên cứu chế độ và đề xuất quy trình tưới tiết kiệm nước cho cây dứa đã tạo thế mạnh cho Nông trường và tính cạnh tranh so với các vùng trồng dứa khác trên các nước, đồng thời sẽ tạo điều kiện để quy hoạch phát triển thủy lợi cho cây dứa các tỉnh miền núi phía Bắc

2.2 Tổng quan về giá nước

Ở nước ta, nước vẫn được coi là miễn phí và chưa được định giá Do đó, việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này không những không hiệu quả mà còn rất lãng phí Nước sinh hoạt tuy đã trả phí nhưng vẫn còn thấp, chưa bù đắp được chi phí đầu tư, khai thác vì vậy giá trị thật sự của nước chắc chắn vẫn chưa được phản ánh Trên cơ sở xác định đường cung cầu, Ngô Công Đính (2008) định giá nước tối ưu cho

hệ thống thủy nông Đồng Cam (Phú Yên) Kết quả giá nước cho vụ lúa Đông Xuân là 65,56 đồng/m3 và vụ Hè Thu là 62,62 đồng/m3 Tương tự, nghiên cứu xác định giá nước ngầm thông qua phương pháp xác định đường cung cầu nước từ đó xác định giá

Trang 20

Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, tùy theo từng địa phương mà nước được lấy từ các nguồn khác nhau như nước ngầm, nước sông, nước thủy lợi Bất

kể từ nguồn nào, nếu giá nước quá thấp, người dân sẽ không có động lực sử dụng hiệu quả, tiết kiệm do đó sử dụng nước không có kế hoạch dẫn đến thất thoát lớn gây lãng phí nguồn nước Mặt khác, trái đất đang nóng dần lên, nước ngày càng khan hiếm vì vậy cần phải có chính sách giá nước nông nghiệp hợp lý để người dân quan tâm hơn đến việc lựa chọn cây trồng và kỹ thuật tưới để sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước 2.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 21

a) Vị trí địa lý

Nguồn: Phòng Nông Nghiệp huyện Phù Cát

Hình 2.1 Bản Đồ Huyện Phù Cát

Huyện Phù Cát nằm về phía Bắc của thành phố Quy Nhơn và có toạ độ địa lý:Từ

130 54' đến 140 32' Vĩ độ Bắc Từ 1080 55' đến 1090 05’16” Kinh độ Đông Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau:

Phía Bắc giáp huyện Phù Mỹ và huyện Hoài Ân

Nam giáp huyện An Nhơn, huyện Tuy Phước và một phần thành phố Quy Nhơn Phía Đông giáp biển Đông Phía Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và huyện Tây Sơn

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 68.048,83 ha (Niên giám thống kê huyện Phù Cát, 2010)

Địa hình, địa mạo

Địa hình của huyện Phù Cát tương đối đa dạng với đầy đủ các dạng địa hình, được chia làm 4 vùng:

Vùng nghiên

cứu

Trang 22

Nguồn: Báo cáo qui hoạch sử dụng đất huyện Phù Cát đến năm 2020

Khí hậu, thời tiết

Phù Cát nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, thuộc khí hậu ven biển Nam Trung

Bộ, thời tiết trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa ẩm từ tháng 8 đến tháng 12, mùa khô nóng từ tháng 1 đến tháng 7 năm sau Nước thuỷ lợi rất cần vào mùa khô

Lượng mưa

Lượng mưa trung bình 1.800 - 2.000 mm/năm phân bố theo 2 mùa:

Mùa khô kéo dài trong 7 tháng (từ tháng 2 đến tháng 8), thường xảy ra hiện tượng thiếu nước tưới Lượng mưa thấp chỉ chiếm khoảng 10 - 15% lượng mưa của cả năm, trong đó lượng nước bốc hơi rất cao, chiếm khoảng 65 - 68% tổng lượng bốc hơi của cả năm và cán cân âm cao

Mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12, trong đó mưa trập trung vào tháng 9, tháng 10 và tháng 11 (chiếm từ 85 - 90% lượng mưa của cả năm)

xã phía Nam huyện gặp nhiều khó khăn

Ngoài 2 sông chính kể trên, trên địa bàn huyện còn có các suối nhỏ như: Suối

An Hành, suối Bà Lễ, suối nước nóng, suối Chay

Trang 23

Nhìn chung, hệ thống sông suối của huyện Phù Cát ít, dòng chảy ngắn, lưu lượng nước không đáng kể Mùa mưa dòng chảy mạnh gây xói mòn ở vùng cao và gây ngập úng ở một số xã vùng sâu Mùa khô lượng nước kiệt từ tháng 2 đến tháng 7, làm

ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân và cây trồng, vật nuôi

b) Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt: Được cung cấp chủ yếu từ sông Đại Ân, sông La Tinh và các

hồ chứa nước thủy lợi trên địa bàn huyện Đây là nguồn nước chính phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong huyện Tuy nhiên do lưu vực các sông trên địa bàn huyện Phù Cát hẹp nên vào mùa khô lượng nước các sông xuống thấp gây thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt Chất lượng nước mặt (sông, rạch, ao, hồ) cũng diễn biến theo mùa Ngoài ra lượng mưa hàng năm cũng là nguồn nước ngọt chính rất quan trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống

Nguồn nước ngầm: Chưa có số liệu đánh giá cụ thể trữ lượng nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện Phù Cát tuy nhiên theo khảo sát sơ bộ cho thấy, huyện Phù Cát nằm trong khu vực triển vọng có trữ lượng nước ngầm khá dồi dào, chất lượng tốt, có thể khai thác cho sản xuất và sinh hoạt ở độ sâu trung bình 20m (Niên giám thống kê huyện, 2007)

Đất thuỷ lợi: Năm 2008 đất thuỷ lợi có diện tích 492,84 ha Trong thời kỳ quy

hoạch bố trí đất thủy lợi tăng thêm 46,89 ha (Cát Trinh 13,04 ha; Cát Tường 3,60 ha;

Cát Sơn 0,05 ha; Cát Tân 4,20 ha; Cát Hiệp 12,00 ha; Cát Hanh 11,00 ha; Cát Lâm 3,00 ha) cho việc xây mới và mở rộng hệ thống kênh mương nội đồng Diện tích đất thủy lợi tăng thêm được sử dụng từ các loại đất:

* Đất nông nghiệp : 44,69 ha

* Đất bằng chưa sử dụng : 2,20 ha

Đến năm 2020 đất thủy lợi của huyện có 539,73 ha, chiếm 18,59% diện tích đất có mục đích công cộng

Trang 24

(8) = (6) - (4)

(9)

=[(8)/(4)]

*100 1,675.13 45.15 2,904.10 42.19 1,228.97 73.37 Đất công cộng

Đất giao thông 977.28 58.34 1,364.50 46.99 387.22 39.62

492.84 29.42 539.73 18.59 46.89 9.51 Đất thủy lợi

Nguồn: Báo cáo qui hoạch sử dụng đất huyện Phù Cát đến năm 2020 Theo quy hoạch, đến năm 2020 diện tích đất cho mục đích công cộng và đất

thủy lợi được mở rộng hơn so với năm 2008, đất thủy lợi tăng 9,51%

2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng lên 41%, nông -

lâm - thủy sản giảm còn 42% và khu vực dịch vụ 17% Đến năm 2020, công nghiêp - xây dựng chiếm 54%, nông - lâm - thủy sản giảm còn 18% và khu vực dịch vụ tăng

lên 28%

Dân số

Theo số liệu thống kê, dân số trung bình của huyện năm 2010 có 188.457 người,trong đó nữ 96.200 người Mật độ dân số của huyện có sự phân bố không đồng đều giữa khu vực đô thị và khu vực nông thôn,mật độ dân số trung bình 277 người/km2, khu vực đô thị (thị trấn Ngô Mây) thì mật độ dân số là 1.445 người/km2, trong khi khu vực nông thôn bình quân chỉ có 275 người/km2

Cơ cấu dân số của huyện năm 2010 như sau: nam 92.254 người chiếm 48.95%,

nữ 96.203 người chiếm 51,05% ( Niên giám thống kê huyện Phù Cát, 2010); Niên giám thống kê tỉnh Bình Định, 2010)

Trang 25

Lao động

Tổng dân số trong độ tuổi lao động của huyện năm 2010 có 102.322 người, chiếm 51,88% dân số, trong đó chủ yếu là lao động trong khu vực kinh tế nông - lâm nghiệp - thuỷ sản với 90.541 người, chiếm 88,49% Lao động khu vực kinh tế Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có 6.748 người, chiếm 6,60%; Lao động khu vực kinh tế Dịch vụ - thương mại có 5.033 người, chiếm 4,91% (Nguồn: Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phù Cát khoá XVIII, 2010; Niên giám thống kê huyện Phù Cát, 2010)

Tình hình sản xuất cây nông nghiệp của huyện Phù Cát

Vụ Đông Xuân (ĐX) 2010-2011, huyện Phù Cát sản xuất hơn 7.280 ha lúa, đạt 102,6% kế hoạch; gần 6.000 ha cây trồng cạn các loại, trong đó lạc 2.375 ha, bắp lai

222 ha, mì 2.400 ha, hành 122 ha…(Hoài Trung, 2011) Huyện đã tập trung chỉ đạo sản xuất đúng thời vụ, đưa các giống có năng suất cao, thích hợp với đất đai, thời tiết, mùa vụ vào sản xuất; các mô hình khuyến nông tiếp tục được triển khai, tạo điều kiện

để nông dân nắm bắt, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào đầu tư thâm canh, chăm sóc Bởi vậy, nhìn chung, các loại cây trồng đều phát triển tốt

Tình hình sản xuất đậu phộng tại địa bàn huyện Phù Cát

Hiện nay, cây lạc ở Phù Cát được sản xuất cả 3 vụ trong năm, diện tích lên đến 3.400 ha Nhờ đưa các giống mới như L14, L23, HL25, LDH01… vào sản xuất, đồng thời, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, quy trình canh tác xen canh, luân canh, thâm canh như: đậu phộng xen mì, hoặc trồng đậu phộng Đông Xuân xong trồng mì, dưa… đã góp phần đưa năng suất đậu phộng lên trên dưới 30 tạ/ha, cao hơn 7-10 tạ/ha so với những năm trước, thu nhập từ 70 triệu đồng đến vài trăm triệu đồng/ha/năm Với kết quả như vậy, nên vụ Đông Xuân 2010-2011, toàn huyện đã sản xuất hơn 2.400 ha đậu phộng, đạt 100% kế hoạch, là vụ có diện tích sản xuất đậu phộng nhiều nhất từ trước đến nay ở Phù Cát (Hoài Trung, 2011)

Trang 26

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Các khái niệm

a) Tài nguyên nước

Tài nguyên nước là tất cả các nguồn nước được khai thác để phục vụ cho các hoạt động của con người bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ của một nước, một lưu vực, một vùng hay một địa phương

Các thuật ngữ liên quan đến tài nguyên nước:

- Nguồn nước: chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác,

sử dụng được, bao gồm sông, suối, kênh, rạch; biển, hồ, đầm, ao; các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác

- Phát triển tài nguyên nước: là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác,

sử dụng bền vững tài nguyên nước và nâng cao giá trị của tài nguyên nước

- Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước: là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của

nguồn nước

- Bảo vệ tài nguyên nước: là biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn

nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nước

- Khai thác nguồn nước: là hoạt động nhằm mang lại lợi ích từ nguồn nước

- Sử dụng tổng hợp nguồn nước: là sử dụng hợp lý, phát triển tiềm năng của

một nguồn nước và hạn chế tác hại do nước gây ra để phục vụ tổng hợp cho nhiều mục đích

b) Quản lí nguồn nước

Là việc kế hoạch hóa, phát triển, phân phối và sử dụng tối ưu tài nguyên nước theo những chính sách và quy định đã được xác định

Xác định phương thức quản lí nguồn nước trên một vùng,lãnh thổ hoặc hệ thống sông một cách hiệu quả,đảm bảo yêu cầu về phát triển bền vững

Trang 27

Kiểm soát các hoạt động khai thác nước,hoặc các hoạt động khác của con người

có tác động tích cưc,tiêu cực đến cân bằng sinh thái và suy thoái nguồn nước

c) Quản lý tài nguyên nước

Quản lý tài nguyên nước là phương thức tác động vào đối tượng quản lý (nước) bằng các công cụ thích hợp, được thực hiện trên hai phương diện: quản lý cung (chủ yếu đề cập đến các hoạt động cung cấp và xử lý nước như một hoạt động kinh tế) và quản lý cầu nước (liên quan đến nhiều cấp độ sử dụng: cá nhân, hãng, toàn xã hội Để phục vụ cho công tác quản lý, việc định giá nước và dự báo nhu cầu nước trong tương lai là rất cần thiết) nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra: nguồn nước được sử dụng mang tính hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và bền vững về mặt sinh thái

d) Các kĩ thuật tưới nước

Tưới mặt

Tưới mặt ( Surface irrigation) được xem là một trong các phương pháp tưới cổ điển đã được áp dụng từ lâu đời và tại nhiều quốc gia Tưới mặt là biện pháp kỹ thuật dùng các đường dẫn tự nhiên (sông, rạch) hay nhân tạo (kênh, mương, rãnh) để đưa nước vào ruộng và ngấm vào đất cung cấp cho cây trồng ( Lê Anh Tuấn, 2011, Giáo trình Hệ thống tưới tiêu)

Tưới mặt có thể chia thành 3 phương thức tưới là tưới ngập, tưới dải và tưới rãnh

 Ưu điểm: Gần như không cần phải bơm nếu có hệ thống dẫn nước tự chảy theo trọng lực Nhờ nước tràn trên mặt nên nước được ngấm sâu xuống đất một cách đồng đều Kỹ thuật tưới này có thể giúp ích nhiều cho việc rửa mặn hoặc giảm phèn trong đất Tưới ngập có thể hạn chế một phần cỏ dại nếu mặt ruộng được nước ngập tràn mặt một thời gian dài

 Nhược điểm: Đây là kiểu tưới sử dụng khá nhiều nước Khi áp dụng tưới mặt, ruộngphải được chuẩn bị san phẳng kỹ theo một độ dốc nhất định, bơ bao phải tốt để kiểm soát nước Do vậy, khi áp dụng tưới mặt, công sức đầu tư ban đầu cho ruộng lớn

Trang 28

nhất định cho một mảnh ruộng hoặc vườn có các bờ bao xung quanh và duy trì lớp nước này trong một thời kỳ sinh trưởng nào đó của cây trồng Tưới ngập, nếu thực hiện tốt, có thể giúp hạn chế cỏ dại trong ruộng, làm giảm nồng độ các độc chất trong đất và góp phần làm điều hòa vi khí hậu khu vực

 Tưới dải

Tưới dải (border irrigation) là hình thức tưới tràn trên toàn bộ mặt ruộng Có 2 loại tưới dải: dải có bờ thẳng (áp dụng cho những vùng đồng bằng) và dải có bờ lượn theo đường đồng mức (áp dụng cho những vùng núi, vùng bán sơn địa) Tưới dải áp dụng cho những cánh đồng lớn, trong đó ruộng được chia thanh những dải có chiều rộng là a = 5 – 15 m, chiều dài L chạy theo hướng dốc Nước chảy vào đầu cao của ruộng, tràn trên mặt ruộng xuống đến đầu thấp hơn Nước vừa chảy vừa thấm xuống đất Điều kiện áp dụng phương pháp tưới dải là đất ruộng phải đồng chất, khả năng thấm nhỏ Cây trồng trên ruộng được trồng theo dãy hoặc trồng dày trên mặt ruộng (như các loại cỏ, lúa nước,…), chịu ngập gốc khoảng 1 – 5 cm trong suốt thời gian tưới Tốc độ chảy tràn phải phù hợp để không làm phá vỡ kết cấu đất

 Ưu điểm là sử dụng một lượng nước lớn khá an toàn, giảm thiểu công lao động

và thời gian, chi phí quản lý thấp và cung cấp nước đồng đều và hiệu quả sử dụng

nước cao

 Nhược điểm của tưới dải là phải có ruộng thật bằng phẳng, do vậy chi phí đầu

tư trang thiết bị lúc đầu cao và phải có nguồn nước dồi dào

 Tưới rãnh

Tưới rãnh (Furrow irrigation) thường áp dụng tưới cho cây trồng cạn hoặc cây

ăn trái Rãnh là các đường trũng hẹp, đào xen kẽ với các liếp và chạy song song với nhau Thông thường, người ra đào các rãnh hẹp này và lấp đất đắp hai bên thành liếp Nước được cho vào các rãnh và thấm dần 2 bên cho cây trồng Phương pháp này còn gọi là tưới thấm, khác với kiểu tưới ngập tự do, chỉ có một phần ba hoặc một nửa diện tích bị ngập nước, do vậy sự bốc hơi tư do bị giảm đi đáng kể Kênh dẫn nước vào ruộng trong phương pháp này cao hơn mặt ruộng

Trang 29

 Ưu điểm của phương pháp tưới rãnh là tiết kiệm nước hơn tưới ngập và tưới dải, giảm được lượng tổn thất nước do bốc hơi nên cho hiệu quả tưới cao hơn Phương pháp này có thể áp dụng cho nhiều loại đất khác nhau, không gây xói mòn đất và không làm chèn chặt đất Nước đi vào cây qua hệ thống rễ, không làm ướt lá nên có thể tránh được một số bệnh cho cây

 Nhược điểm của tưới rãnh là phải tốn nhân lực để chuẩn bị đất làm rãnh Người quản lý nước phải biết kiểm soát mực nước vừa phải

e) Khái niệm về kỹ thuật tưới tiết kiệm nước

Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước - tên quốc tế còn được gọi là tưới cục bộ (Localized Irrigation System) hoặc được gọi là hệ thống tưới ít nước (Low Volume Irrigation System) được đặc trưng bởi sự cung cấp thường xuyên một khối lượng nước hạn chế được kiểm soát để tưới cho một bộ phận tầng đất canh tác -vùng hoạt động hữu hiệu của bộ rễ cây - nhằm sử dụng tối ưu lượng nước tưới Sau hơn 20 năm nghiên cứu và sau nhiều cố gắng cải tiến, hoàn thiện kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, người ta đã kết luận rằng, nó hoàn toàn có thể thay thế được các kỹ thuật tưới cổ truyền Khi được thiết kế và quản lý thích hợp, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước sẽ đạt được hiệu quả rất to lớn về phương diện cấp nước, phân phối nước và rất lý tưởng trong việc kết hợp cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng cũng như việc cơ giới hoá, tự động hoá các khâu

tưới nước và chăm sóc

Phương pháp tưới này là cung cấp nước cho cây trồng từ một hệ thống đường ống thông qua các thiết bị tưới và chỉ làm ướt từng khoảng đất nhỏ ở gốc cây trồng (phần hoạt động của bộ rễ) Các thiết bị tưới là thành phần đặc trưng nhất của hệ thống tưới Do vậy, căn cứ vào đặc tính của thiết bị tưới và hình thức phân phối nước từ thiết

bị tưới mà kỹ thuật tưới tiết kiệm nước có thể được phân chia ra 3 loại: Tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa, tưới ngầm cục bộ

Tưới phun mưa

Kỹ thuật tưới phun mưa là kỹ thuật đưa nước tới cây trồng dưới dạng mưa nhân tạo nhờ các thiết bị tạo dòng phun mưa (tia mưa) thích hợp Phương pháp này ngày

Trang 30

 Ưu điểm

+ Hiệu quả sử dụng rất cao vì hạn chế cao độ tổn thất nước do bốc hơi vì tia phun ngắn, cường độ phun mưa và diện tích - khoảng không gian làm ướt - có thể được điều chỉnh cho phù hợp sự tăng trưởng của cây trồng, không tạo nên dòng chảy mặt đất, không phá vỡ cấu tượng đất do hạt mưa nhỏ

+ Do toàn bộ hệ thống đường ống đặt ngầm nên tiết kiệm đất, thuận tiện việc chăm sóc, canh tác trên đồng ruộng Mặt khác cũng dễ dàng tự động hóa từng phần hoặc toàn phần hệ thống tưới, như cơ khí hoá và tự động hóa phần thiết bị điều khiển, thiết bị tưới mặt ruộng hoặc điều khiển toàn bộ hệ thống từ xa theo chương trình lập sẵn nên tiết kiệm sức lao động và nâng cao năng suất tưới

+ Sử dụng áp lực làm việc loại trung bình và thấp, lưu lượng yêu cầu nhỏ nên tiết kiệm năng lượng và nguồn nước

+ Hạn chế sâu bệnh, cỏ dại phát triển

+ Kết hợp được tưới nước với phun thuốc trừ sâu, bón phân hóa học

 Nhược điểm

+ Vòi phun dễ bị tắc nghẽn (khi nước tưới có nhiều tạp chất), nhất là đối với các vòi phun sương mù (Mist Sprayer) có các lỗ phun mưa rất nhỏ

+ Yêu cầu trình độ nhất định trong thiết kế xây dựng và quản lý

+ Vốn đầu tư ban đầu cao hơn so với các kỹ thuật tưới cổ điển

+ Các đường ống và thiết bị hay hư hỏng, dễ bị mất mát, phá hoại do con người

và côn trùng tại mặt ruộng (điều này rất dễ xảy ra ở Việt Nam)

Ngoài tưới tiết kiệm nước bằng công nghệ nhỏ giọt và phun mưa, còn có các dạng tưới ngầm theo hình thức nước trong các ống đặt ngầm dưới đất theo các lỗ thấm

ra ngoài, tuy dạng tưới này được xem là tương đối tốt hiện nay nhưng thiết bị đắt, lắp đặt vận hành và sửa chữa rất phức tạp

Ngoài ra công nghệ tưới tiết kiệm nước còn có phương pháp tưới ngầm cục bộ, tuy nhiên kỹ thuật của phương pháp này rất khó, các điều kiện tại nước ta không phù hợp với phương pháp tưới này

3.1.2 Vai trò của nước đối với cây trồng

Cây trồng sống và phát triển được nhờ chất dinh dưỡng trong đất và được nước hoà tan và đưa lên cây qua hệ thống rễ Nước giúp cho cây trồng thực hiện các quá

Trang 31

trình vận chuyển các khoáng chất trong đất giúp điều kiện quang hợp, hình thành sinh khối tạo nên sự sinh trưởng của cây trồng Trong bản thân cây trồng, nước chiếm một tỷ lệ lớn, từ 60% đến 90% trọng lượng Tuy nhiên, tổng lượng nước mà cây trồng hút lên hằng ngày chủ yếu là để thoát ra ngoài ở dạng thoát hơi qua lá, nước chỉ giữ lại cho bản thân cấu trúc của cây trồng chỉ chừng 0,5 – 1,0% m

3.1.3 Lí luận về giá nước

Nước là một hàng hóa kinh tế vì nước có giá trị kinh tế trong mọi loại hình sử dụng Đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, ngành sử dụng nhiều nước nhất song lại cũng là ngành không hề tính chi phí nước vào giá thành sản phẩm Do đó cần định giá nước Xét về mặt sản xuất, nước là một yếu tố đầu vào quan trọng, không thể thiếu để cấu thành sản phẩm nông nghiệp Do đó, nước cũng cần được tính toán chi phí như các loại đầu vào khác Ngoài ra, còn phải kể đến chi phí môi trường của việc sử dụng nước

do tính chất tài nguyên hữu hạn của nó

Nguồn nước sử dụng cho việc tưới của xã Cát Hiệp đều do người dân tự khai thác nên chỉ tốn chi phí đầu tư ban đầu (đào giếng, hồ) và chi phí năng lượng

Mặt khác, nguồn nước tưới ở đây khá khan hiếm vào mùa nắng, khả năng bảo đảm tưới kém Hầu hết mọi hoạt động sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi và sinh hoạt của người dân trong vùng đều được khai thác từ nguồn nước ngầm, như vậy có thể thấy giá trị của nước ở vùng nghiên cứu là rất lớn Tuy nhiên do giới hạn về nhiều mặt nên

đề tài không thể xác định giá nước một cách đúng và đủ để đưa vào tính toán, vì để thực hiện điều này đòi hỏi phải có một quá trình nghiên cứu và tính toán kỹ lưỡng Mặt khác để thực hiện phân tích lợi ích chi phí của phương án, đặc biệt là thể hiện lợi ích tiết kiệm nước, một loại tài nguyên có hạn giá nước cần được tính đúng và đủ Giá chi phí cơ hội biên (MOC) là phương pháp đáp ứng yêu cầu này MOC là chi phí của việc sử dụng tài nguyên đã được lựa chọn, đặc biệt là những hàng hóa, dịch vụ không

có giá thị trường MOC được định nghĩa đầy đủ bao gồm một số thành phần sau đây: MOC = MPC + MUC + MEC

Trong đó:

Trang 32

Vì vậy đề tài ứng dụng giá nước tính theo phương pháp MOC của các nghiên cứu trước Tuy nhiên mục đích sử dụng và điều kiện tự nhiên của các vùng nghiên cứu trước khác biệt với địa phương đang nghiên cứu nên việc chuyển giao có phần khập khiểng Do đó lấy trung bình giá trị của các vùng nghiên cứu để thể hiện giá trị của nước ngầm nói chung và cũng là giá nước tại địa phương

Bảng 3.1 Một Số Giá Nước Sinh Hoạt Tính Theo Phương Pháp MOC (năm 2010)

Đơn giá

(đồng/m3)

Địa điểm Nguồn

MOC 8.636 Huyện Tân Thành Nguyễn Thị Phương Thanh (2009) MOC 7.014 Thị xã Bến Tre Phạm Văn Hữu Phước (2009) MOC 6.605 Thị xã Thủ Dầu Một Phạm Văn Hữu Phước (2009)

Nguồn: Thu thập và tổng hợp Vậy giá nước trung bình tính theo MOC là 7.418 đồng/m3 Mặc dù giá này không phản ánh chính xác giá trị của nước ở địa phương đang nghiên cứu nhưng có vai trò giúp thấy được lợi ích của áp dụng biện pháp tưới tiết kiệm cả về kinh tế lẫn môi trường đồng thời có ý nghĩa phần nào trong việc cải thiện nhận thức về giá trị của nước

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

a) Số liệu thứ cấp

Thu thập những thông tin về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội của huyện Phù Cát cũng như các tài liệu, bài nghiên cứu liên quan đến các biện pháp tưới nước Các số liệu, tài liệu gián tiếp từ phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phù Cát, luận văn tốt nghiệp, sách và các tài liệu tham khảo từ báo chí, internet…

b) Số liệu sơ cấp

Phỏng vấn chuyên sâu

Chuyên gia, cán bộ khuyến nông: tìm hiểu các biện pháp tưới đang thực hiện

trên địa bàn huyện; cách tính lượng nước sử dụng của từng biện pháp

Cửa hàng vật tư nông nghiệp: tìm hiểu chi phí các loại máy bơm, thiết bị tưới

hiện có trên thị trường; giá cả phân bón, thuốc trừ sâu

Trang 33

Phỏng vấn với bảng câu hỏi

Đề tài sử dụng bảng câu hỏi để thực hiện mục tiêu nghiên cứu Do giới hạn về nhiều mặt, đề tài chỉ phỏng vấn được 60 hộ trồng đậu phộng trong vụ Đông Xuân với

11 hộ áp dụng kĩ thuật tưới phun mưa và 49 hộ tưới vòi trên địa bàn xã Cát Hiệp thuộc huyện Phù Cát

Trước hết phải tìm hiểu chung về diện tích trồng, biện pháp tưới sử dụng, chi phí, năng suất, kiến thức và nhận thức… từ đây làm cơ sở để xây dựng bảng hỏi cấu trúc Số liệu được thu thập qua bảng câu hỏi và được hỏi trực tiếp các hộ nông dân trồng đậu phộng

3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

Ứng với một mục tiêu đề tài sử dụng một phương pháp

a) Phương pháp thống kê mô tả: là phương pháp thu thập thông tin, số liệu

nhằm đánh giá tổng quát đặc trưng về một mặt nào đó của tổng thể cần nghiên cứu Trong phạm vi đề tài này, phương pháp này được sử dụng để trình bày về đặc điểm kinh tế xã hội và các biện pháp tưới đang được áp dụng trên địa bàn nghiên cứu

b) Phương pháp phân tích lợi ích chi phí

- Tiêu chí lựa chọn suất chiết khấu

Tỷ suất chiết khấu là tỷ lệ phần trăm của lãi suất tích lũy dùng để điều chỉnh để đưa các lợi ích và chi phí trong tương lai về giá trị hiện tại tương đương Suất chiết khấu có thể xác định việc chấp nhận hay bác bỏ một phương án xác định và làm thay đổi thứ hạng của các phương án

Khai thác các khu vực còn thiên nhiên có thể làm thay đổi môi trường mà không phục hồi lại nguyên trạng và mất đi lựa chọn cho các thế hệ tương lai Các phương án gây nên những thay đổi như vậy nên được đánh giá bằng tỷ suất chiết khấu cao hơn để

bù đắp chi phí của việc không thể khôi phục lại này Nước là một loại tài nguyên đang ngày càng trở nên khan hiếm Trên cơ sở đó, suất chiết khấu được lựa chọn để đưa vào tính toán sẽ là mức suất chiết khấu 14%

- Các bước tiến hành phương pháp:

Trang 34

so với những loại đất giàu dinh dưỡng khác Vì vậy cần thực hiện các biện pháp nhằm tiết kiệm nước, giảm mức sử dụng nước cho mỗi đơn vị sản phẩm, tăng sản lượng nông nghiệp một cách bền vững

Hai phương án so sánh là tưới vòi và tưới phun mưa cho cây đậu phộng trong giai đoạn kinh doanh Vòng đời sử dụng của hệ thống tưới phun mưa là 8 năm, tưới tay là 3 năm nên lấy thời gian là 6 năm để tính toán, so sánh lợi ích- chi phí của hai biện pháp

Chọn biện pháp tưới vòi là phương án nền, tiến hành tính toán các lợi ích và chi phí của biện pháp tưới phun mưa so với tưới vòi, từ đó tính toán NPV

So sánh lợi ích chi phí của kỹ thuật tưới phun mưa so với tưới vòi

Bảng 3.2 Lợi Ích Chi Phí của Kỹ Thuật Tưới Phun Mưa so với Tưới Vòi

Chi phí Lợi ích

Có giá

- Chi phí mua hệ thống tưới tiết kiệm

- Chi phí lắp đặt tăng thêm

- Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa do các thiết bị tưới dễ bị hư hỏng, mất mát

- Tiết kiệm nước

- Tiết kiệm công lao động ( bao gồm: công tưới, bón phân, làm cỏ…)

- Tăng năng suất

- Tiết kiệm tiền mua dây, ống tưới tay

Không

Đánh giá lợi ích chi phí của phương án tưới phun mưa

Việc tiết kiệm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất chính là lợi ích của kĩ thuật tưới phun mưa so với tưới vòi và được tính toán theo giá thị trường Các lợi ích

và chi phí tăng thêm của biện pháp tưới phun mưa được tính toán như sau:

Lợi ích

Tiết kiệm nước

- Trước tiên để thực hiện mục tiêu này, đề tài sử dụng kết quả đo lượng nước các loại

máy bơm của luận văn Trần Thị Thảo Sương, 2011, Đánh giá tác động của giải pháp

chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với tài nguyên nước ngầm tại huyện Phù Cát tỉnh

Trang 35

Bình Định Luận văn tốt nghiệp đại học, khoa kinh tế, Đại học Nông Lâm TPHCM,

2011 và cách tiến hành như sau: Nước tưới hầu hết được bơm trực tiếp từ giếng Do

đó, để tính lưu lượng nước sử dụng, tác giả tiến hành đo theo phương pháp như sau:

Sử dụng lần lượt từng loại máy bơm với công suất khác nhau Khởi động máy bơm bơm nước vào một thể tích cố định đồng thời dùng đồng hồ bấm giờ nhằm tính thời gian để bơm đầy thể tích đó Tiến hành lặp lại như vậy 30 lần để có được kết quả chính xác Sau đó, tính thời gian trung bình máy bơm bơm đầy thể tích đó Từ đó tính lượng nước máy bơm bơm được trong một giờ của từng loại máy bơm

- Lượng nước tưới/lần = lượng nước bơm/giờ của loại máy bơm đó * thời gian tưới

- Lượng nước tưới/vụ = lượng nước tưới /lần * số lần tưới/vụ

Tiết kiệm công lao động:

- Đây là lợi ích được người dân đánh giá cao nhất đối với việc áp dụng tưới tiết kiệm Công lao động ở đây bao gồm: công tưới, bón phân, phun thuốc, công làm cỏ

- Lợi ích này sẽ được tính toán bằng cách lấy giá công của từng loại công việc nhân với số công tiết kiệm được Sau đó, tính tổng số tiền công tiết kiệm được chính là lợi ích từ tiết kiệm công do áp dụng tưới phun mưa

Tăng năng suất

- Năng suất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, lượng phân, thuốc, lượng

nước,kinh nghiệm,kĩ thuật tưới…

- Đề tài sẽ sử dụng kĩ thuật ước lượng hồi qui tuyến tính bằng phương pháp bình phương bé nhất OLS dựa trên các giả thiết của mô hình sau:

- Mối quan hệ giữa Y và Xi là tuyến tính

Xi là các biến số ngẫu nhiên và các giá trị của nó là không đổi Ngoài ra không

có sự tương quan hoàn hảo giữa hai hay nhiều biến độc lập

- Số hạng sai số có giá trị kì vọng bằng 0 và phương sai không đổi cho tất cả các quan sát tức là E(εi)=0 và E(εi2)=б2 Các biến số ngẫu nhiên εi là độc lập về mặt thống kê, như vậy E(εi, εj)=0 với i≠j Số hạng sai số có phân phối chuẩn

- Thiết lập mô hình toán học để mô tả quan hệ giữa các biến số

Trang 36

X4 :số năm trồng đậu phộng (năm)

X5 :số công lao động (công/500m2/vụ)

X6 :lượng nước tưới cây đậu phộng (m3/500m2/vụ)

D1: kỹ thuật tưới (tưới phun mưa =1; tưới vòi = 0)

- Ước lượng các tham số của mô hình (i)

Các ước lượng này là các giá trị thực nghiệm của tham số trong mô hình Ngoài

ra, theo lý thuyết kinh lượng, nếu các giả thiết của mô hình đều thoả, các hàm ước lượng i là các hàm ước lượng tuyến tính, không thiên lệch, tốt nhất (BLUE – Best Linear Unbiased Estimation)

Vì đây là dạng hàm phi tuyến tính theo cả thông số lẫn biến số nên để ước lượng được bằng phương pháp hồi quy bé nhất (OLS), chuyển nó về dạng Log-Log như sau:

LnY = LnA + α1LnX1 + α2 LnX2 + α3LnX3 + α4LnX4 + α5LnX5 + α6 D1 + α7 D2 +ε Hay: LnNS = LnA + α1LnTHUOC+ α2 LnPBON+ α3LnLGIONG + α4LnKNGHIEM + α5CLD + α6LNUOC + α7KTTUOI + 

Kỳ vọng dấu

Dấu của các hệ số ước lượng αi nói lên mối tương quan thuận hay nghịch của các biến độc lập đối với biến phụ thuộc trong mô hình Đối với mô hình hàm sản xuất trên, kì vọng dấu của các hệ số ước lượng như sau:

α1 >0, α2>0, yếu tố đầu vào như thuốc BVTV, phân bón, ta kì vọng có tương quan thuận với năng suất đậu phộng, nghĩa là khi tăng chi phí cho thuốc thì năng suất cũng sẽ tăng theo tương ứng Tuy nhiên không phải càng tăng các yếu tố đầu vào này

Trang 37

thì năng suất sẽ tăng nhiều lên mà đến mức cao hơn nhu cầu của cây sẽ làm năng suất giảm xuống

α3 >0, Lượng giống được kỳ vọng là lượng giống càng nhiều thì năng suất càng cao Giả định là người sản xuất không sử dụng lượng giống quá mức gây ảnh hưởng đến năng suất đậu phộng

α4 >0: Kinh nghiệm trồng đậu phộng là yếu tố rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Bởi số năm kinh nghiệm trồng đậu phộng càng cao, nông dân sẽ càng hiểu rõ về đặc điểm phát triển, nhu cầu dinh dưỡng cũng như phòng chống sâu bệnh hại tiêu kịp thời Kỳ vọng năm kinh nghiệm trồng đậu phộng của gia đình càng cao thì năng suất đậu phộng càng cao

α5>0 : Công lao động (công làm cỏ, công làm đất, công thu hoạch…) được kỳ vọng là khi sử dụng càng nhiều công thì năng suất mang lại sẽ càng cao

α6>0 : Nước tưới được kỳ vọng là sử dụng càng nhiều thì năng suất càng cao Giả định là người sản xuất không sử dụng nước tưới quá mức gây ảnh hưởng đến năng suất đậu phộng

α7>0: biện pháp tưới phun mưa sẽ cung cấp độ ẩm, dinh dưỡng liên tục phù hợp cho cây, vì vậy kỳ vọng với kĩ thuật tưới phun mưa, cho năng suất cao hơn

Đối với hàm sản xuất Cobb- Douglas, ta có hệ số i cũng chính là độ co giãn

I = % Y / % Xi =  ln (Y) /  ln (Xi) = β i

Sau khi ước lượng được hàm năng suất, ta sẽ cố định các biến độc lập bằng cách lấy giá trị trung bình của chúng Từ phương trình hàm năng suất này ta suy ra hai hàm năng suất cho 2 phương pháp tưới phun mưa và tưới vòi Thay Dum = 0 vào hàm năng suất đối với tưới vòi, Dum = 1 vào hàm năng suất đối với kĩ thuật tưới phun mưa Sau

đó lấy kết quả của hàm năng suất có Dum = 1 trừ cho hàm năng suất có Dum = 0 ta được chênh lệch năng suất giữa kĩ thuật tưới phun mưa và tưới vòi

Chi phí đầu tư hệ thống tưới là số tiền mua các bộ phận, thiết bị của hệ thống

tiết kiệm gồm chi phí ống chính, ống nhánh, các van, co,… Chi phí này được lấy thông

Trang 38

Lập bảng lợi ích và chi phí hàng năm

Sau khi thống kê, tính toán kết quả từ bảng câu hỏi giá trị của lợi ích và chi phí hàng năm của mỗi phương án được lập thành bảng theo các năm phát sinh, và lợi ích ròng mỗi năm được tính

Bảng 3.3 Lợi Ích và Chi Phí của Phương án Sử Dụng Kĩ Thuật Tưới Phun Mưa

Năm Tổng lợi ích

hàng năm

Tổng chi phí hàng năm

Lợi ích ròng hàng năm

Tính toán lợi ích xã hội ròng của mỗi phương án

Chuyển dòng lợi ích ròng thành giá trị tương đương ở một thời điểm chung rồi cộng tất cả các giá trị này để có tổng giá trị cho một phương án cụ thể Để thực hiện việc này ta tính toán chỉ tiêu NPV của các biện pháp theo công thức:

0 ( 1 )^ ≥ 0 (chấp nhận dự án) Chỉ tiêu suất sinh lợi nội hoàn (IRR): là suất chiết khấu mà tại đó hiện giá dòng tiền ròng đã xác định của dự án bằng không

0 ( 1 *)^ = 0  r* = IRR ≥ r (chấp nhận dự án) Với r là suất chiết khấu được lựa chọn để đưa vào tính toán sẽ là mức suất chiết khấu 14%

c) Phương pháp hàm xác suất logit

Khóa luận này sẽ sử dụng hàm logit để xem xét yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận áp dụng biện pháp tưới phun mưa của người dân Sử dụng phần mềm Eviews để chạy mô hình và đánh giá các biến cần cho nghiên cứu

Cơ sở lựa chọn mô hình

Trang 39

Phân tích hồi quy trong kinh tế lượng nhằm tìm ra mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập Thông thường, chúng ta thường gặp các biến phụ thuộc ở dạng liên tục và các biến độc lập ở dạng liên tục hoặc không liên tục Tuy nhiên trong thực

tế xảy ra nhiều trường hợp mà biến phụ thuộc không phải là một biến liên tục, nó là 1 biến định tính Biến định tính nhận hai giá trị như: có/không, chết/sống, đóng góp/không đóng góp Các biến này được gọi là biến nhị nguyên Các phương pháp phân tích như mô hình hồi quy tuyến tính không thể áp dụng được cho các loại biến phụ thuộc định tính Theo Ramu Ramanathan (2000), đối với loại biến này, các loại

mô hình lựa chọn rời rạc như: mô hình xác suất tuyến tính, mô hình đơn vị xác suất (mô hình Probit), mô hình Logit sẽ rất thích hợp

Do biến phụ thuộc có 2 tính chất chấp nhận và không chấp nhận kĩ thuật tưới phun mưa (Y = 1, Y = 0) nên ta sử dụng mô hình Logit nhằm xem xét, đánh giá tác động sự thay đổi của các biến độc lập sẽ ảnh hưởng lên biến phụ thuộc như thế nào

Ln ) = Yi = β1 + β2X2i + β3X3i + β4X4i + … + βkXki

Cơ sở lựa chọn các biến

Thông qua những nghiên cứu chung về việc áp dụng các biện pháp tưới tiết phun mưa tại các địa bàn của những nghiên cứu trước và những thông tin thu thập được qua báo đài, internet, lợi ích mà các biện pháp này đem lại như tiết kiệm nước, công lao động, phân bón là rất lớn Nhưng để có thể phổ biến rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn vì không biết yếu tố nào ảnh hưởng đến việc chấp nhận áp dụng của người dân

Đề tài sẽ xác định yếu tố nào đã ảnh hưởng đến việc chấp nhận áp dụng kĩ thuật tưới phun mưa Kết quả sẽ làm cơ sở để phổ biến, thuyết phục nông dân thực hiện đồng thời kiến nghị đến các cơ quan liên quan có những chính sách hỗ trợ phù hợp với nguyện vọng của họ

Dựa vào những chi phí, lợi ích cũng như những khó khăn liên quan đến việc áp dụng các biện pháp tưới, các biến được đưa vào mô hình gồm: TUOI, HVAN,

Trang 40

Bảng 3.4 Các Biến Đưa Vào Mô Hình và Kỳ Vọng Dấu

Ký hiệu biến Diễn giải

CHAPNHAN Xác suất chấp nhận áp dụng biện kĩ thuật tưới phun mưa (0< Y<1)

TUOI Tuổi của người được phỏng vấn (tuổi)

HVAN Trình độ học vấn của người được phỏng vấn

TNHAP Thu nhập trung bình/năm của cả gia đình (triệu đồng/năm)

KNONG Số lần tập huấn khuyến nông /năm

DTICH Tổng diện tích canh tác của hộ (m2)

MGNUOC Là biến DUMMY: Nhận thức mức độ giảm nguồn nước hiện nay

TUOI: thông thường người trẻ thường dễ dàng tiếp thu những tiến bộ khoa học

kỹ thuật và mạnh dạn áp dụng vào thực tiễn hơn người lớn tuổi (chủ yếu dựa vào kinh nghiệm) Kỳ vọng tuổi càng cao thì khả năng chấp nhận áp dụng càng thấp Kỳ vọng dấu (-)

Ngày đăng: 18/03/2018, 09:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w