Nhằm cãi tạo đất và tăng năng suất cho cây trồng tại Bến Tre, Viện Khoa học Kĩ Thuật Nông Nghiệp miền Nam kết hợp với Trung tâm ứng dụng Khoa học Công nghệ và Môi Trường tỉnh Bến Tre, đã
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***************
NGUYỄN THỊ HỒNG PHẤN
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG CÁC SẢN PHẨM LÀM TỪ MỤN XƠ DỪA TẠI TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Đánh giá hiệu quả kinh tế của các
phương thức sử dụng các sản phẩm làm từ mụn dừa tại tỉnh Bến Tre” do Nguyễn Thị
Hồng Phấn, sinh viên khóa 2008 - 2012, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường đã
bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _
TS NGUYỄN VŨ HUY Người hướng dẫn
Ngày tháng năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
Ngày tháng năm Ngày tháng năm
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Sau 4 năm được học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thành phố
Hồ Chí Minh, nhờ sự giảng dạy tận tình của quý thầy cô đã giúp tôi tích lũy được những kiến thức quý giá làm hành trang để tự tinh bước vào đời
Để đạt được kết quả đến ngày hôm nay, lời đầu tiên con xin chân thành gởi lời cảm ơn sâu sắc đến ba mẹ và những người thân trong gia đình đã dạy dỗ, ủng hộ về mặt vật chất lẫn tinh thần, tạo mọi điều kiện cho con trong suốt thời gian học tập
Xin cảm ơn toàn thể quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý thầy cô trong Khoa Kinh Tế, bộ môn Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt 4 năm học vừa qua
Đặc biệt xin gởi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Nguyễn Vũ Huy đã tạo điều kiện, tận tình chỉ dẫn và truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt thời gian thực hiện bài khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn các cô chú cùng các anh chị trong Sở Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường tỉnh Bến Tre, UBNND xã Khánh Thạnh Tân đã cung cấp số liệu cần thiết giúp tôi hoàn thành khóa luận
Cảm ơn những cơ sở, công ty kinh doanh mụn dừa xuất khầu trên địa bàn nghiên cứu đã cung cấp những thông tin quý giá giúp tôi hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp
Cảm ơn toàn thể các bạn lớp Kinh tế Tài Nguyên Môi Trường khóa 34 đã động viên tinh thần và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường Đại học Nông Lâm TPHCM, cũng như đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành tốt bài luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 05 năm 2012 Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Phấn
Trang 4NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN THỊ HỒNG PHẤN Tháng 05 năm 2012 “So Sánh Hiệu Quả Kinh Tế của Các Phương Thức Sử Dụng Các Sản Phẩm từ Mụn Xơ Dừa tại Tỉnh Bến Tre”
NGUYỄN THỊ HỒNG PHẤN May, 2012 “Economic Worthiness of Cocopeat from Its Available Use in Ben Tre Province ”
Nhằm cãi tạo đất và tăng năng suất cho cây trồng tại Bến Tre, Viện Khoa học
Kĩ Thuật Nông Nghiệp miền Nam kết hợp với Trung tâm ứng dụng Khoa học Công nghệ và Môi Trường tỉnh Bến Tre, đã nghiên cứu và trồng thử nghiệm mô hình sử dụng phân bón hữu cơ làm từ mụn xơ dừa cho một số loại cây trồng ở Thành phố Bến Tre Tuy nhiên, vì mô hình này mới chỉ đưa vào trồng thử nghiệm cho 1000m2 đối với cây rau, 100 gốc đối với cây ca cao và cây có múi trong năm 2010 tại Thành Phố Bến Tre, nên chưa được người dân biết nhiều và sử dụng phổ biến Dựa vào kết quả khảo nghiệm từ bài nghiên cứu trên, đề tài xác định được loại phân hữu cơ khoáng khi bón
bổ sung cho cây bưởi là mang lại hiệu quả cao nhất trong các loại phân bón làm từ mụn dừa, với mức 12.760.000 đồng/ha/năm Đồng thời, bằng cách sử dụng phương pháp thống kê cơ bản và các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế, đề tài ước tính được mức lợi nhuận của phương thức chế biến mụn dừa cho xuất khẩu năm 2011 là 609.895 đồng/tấn
Với mục tiêu so sánh hiệu quả kinh tế của các phương thức sử dụng các sản phẩm từ mụn dừa, đề tài đã xác định được ở cùng một thời điểm, cùng một khối lượng mụn dừa như nhau (900kg), khi đem dùng làm nguyên liệu chế biến phân hữu
cơ phục vụ trong nông nghiệp sẽ mang lại lợi ích cao hơn so với phương thức dùng cho xuất khẩu là 9.307.557 đồng Với kết quả trên, đề tài đưa ra một số kiến nghị để
mô hình sử dụng phân bón hữu từ mụn dừa tại Bến Tre được nhân rộng hơn giúp cãi thiện thu nhập cho người dân và môi trường
Trang 5MỤC LỤC
TrangMỤC LỤC v DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
3.1.4 Phân bón hữu cơ 15
3.1.5 Một số quan điểm hiệu quả kinh tế 22
3.2 Phương pháp nghiên cứu 24
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 24
Trang 63.2.2 Phương pháp phân tích 24
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Tình hình chung của việc sản xuất và sử dụng mụn dừa hiện nay ở Bến Tre 28
4.2 Hiệu quả kinh tế của việc sản xuất mụn dừa để xuất khẩu tại Bến Tre 28
4.2.1 Thông tin về các công ty được phỏng vấn 28
4.2.2 Tình hình sản xuất mụn dừa xuất khẩu tại Bến Tre 29
4.2.3 Xác định các lợi ích - chi phí khi chế biến mụn dừa xuất khẩu 31
4.3 Xác định hiệu quả kinh tế của mô hình sử dụng phân bón hữu cơ cho một số loại
4.3.1 So sánh hiệu quả kinh tế của mô hình sử dụng phân HCVS và phân HCK
trên một số loại cây trồng 34
4.3.2 Đánh giá kết quả của việc áp dụng mô hình sử dụng phân bón hữu cơ làm từ
mụn dừa cho cây trồng 41
4.4 So sánh hiệu quả kinh tế của mụn dừa xuất khẩu với mụn dừa dùng làm phân
bón hữu cơ bón bổ sung cho cây trồng tại Bến Tre 42
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APCC Hiệp hội dừa Châu Á-Thái Bình Dương
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
MDA Mụn dừa bán thành phẩm
Phân HCK Phân hữu cơ khoáng
Phân HCSHCC Phân hữu cơ sinh học cao cấp
Phân HCVS Phân hữu cơ vi sinh
Sở KH&CN Sở Khoa học và Công Nghệ
TBKT Tiến bộ kỹ thuật
UBND Uỷ ban nhân dân
Viện KHKTNNMN Viện Khoa học Kỹ Thuật Nông Nghiệp miền Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Cơ Cấu Kinh Tế Tỉnh Bến Tre (2009) 11
Bảng 3.2 Chỉ Tiêu Định Lượng Bắt Buộc Trong Phân Bón 17
Bảng 3.3 Bảng Công Thức Phối Trộn để Chế Biến Phân HCVS, Phân HCK từ Mụn
Dừa Bán Thành Phẩm 19
Bảng 3.4 Thành Phần Dinh Dưỡng của Phân HCVS và HCK Làm từ Mụn Xơ Dừa 20
Bảng 3.5 Khuyến Cáo Bón Phân Dựa Vào Năng Suất Thu Hoạch của Vụ Trước (Kg
Trái/Cây) 21 Bảng 4.1 Chi Phí Trung Bình cho Sản Xuất 1 Tấn Mụn Dừa Thành Phẩm 32
Bảng 4.2 Hiệu Quả Kinh Tế Khi Xuất Khẩu 1 Tấn Mụn Dừa Năm 2011 33
Bảng 4.3 Chi Phí Tăng Thêm Khi Bón Bổ Sung 2 Loại Phân HCVS và HCK cho 1 ha
Bưởi 36 Bảng 4.4 Doanh Thu Tăng Thêm Khi Bón Bổ Sung 2 Loại Phân HCVS và HCK cho 1
ha Bưởi 37 Bảng 4.5 Lợi Nhuận Tăng Thêm Khi Bón Bổ Sung Phân HCVS và HCK cho 1 ha
Bưởi 37 Bảng 4.6 Chi Phí Tăng Thêm Khi Bón Bổ Sung 2 Loại Phân Bón HCVS và HCK cho
Bảng 4.7 Doanh Thu Khi Bón Bổ Sung 2 Loại Phân HCVS và HCK cho 1 ha Cam 39
Bảng 4.8 Hiệu Quả Kinh Tế Khi Bón Bổ Sung Phân HCVS và HCK cho 1 ha Cam 39
Bảng 4.9 Lợi Nhuận Thu Được Khi Sử Dụng 1000Kg Phân Hữu Cơ Đối Với 2 Loại
Cây Trồng 40 Bảng 4.10 Ảnh Hưởng của Phân Hữu Cơ Làm Từ Mụn Dừa Đến Đất Canh Tác 41
Bảng 4.11 So Sánh Hiệu Quả Kinh Tế của Hai Phương Thức Sử Dụng 900Kg Mụn
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Nhu Cầu Sử Dụng Phân Hữu Cơ cho Cây Trồng Tại Bến Tre 15
Hình 3.2 Sơ Đồ Qui Trình Công Nghệ Sản Xuất Phân Bón 18
Hình 4.1 Qui Trình Sản Xuất Mụn Dừa Xuất Khẩu 30 Hình 4.2 Hệ Thống Sấy Khô và Máy Ép Mụn Dừa Tại Một Cơ Sở Sản Xuất Mụn Dừa
Trang 10DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI PHỤ LỤC 2 MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ MỤN DỪA TẠI ĐỊA PHƯƠNG
Trang 11họ Hiện nay, hầu hết các phụ liệu, phế phẩm từ cây dừa đã được tận dụng để tạo thành sản phẩm hàng hóa, mang lại nguồn thu nhập cho người dân Ở Bến Tre, giá trị kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chế biến từ dừa chỉ đứng sau ngành thủy sản Năm
2010, kim ngạch xuất khẩu từ dừa đạt 72 triệu USD Sản phẩm làm từ dừa có mặt rộng khắp hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (báo Đất Việt, 2011) Trong đó, phải kể đến nghành sản xuất chỉ xơ dừa, đây là ngành đã được hình hành rất lâu và bắt đầu phát triển từ năm 1996, cho đến những năm gần đây ngành sản xuất chỉ xơ dừa mới thật sự phát triển mạnh, tập trung nhiều nhất ở các xã Khánh Thạnh Tân, Đa Phước Hội, An Thạnh, Thành Thới B nằm dọc theo tuyến sông Thom với hơn 135 cơ
sở Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất chỉ xơ dừa đã để lại một phụ phẩm khác là mụn
xơ dừa, đây chính là phần còn lại sau khi tước lấy chỉ xơ dừa Theo Sở Khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Bến Tre, mỗi ngày lượng mụn dừa thải ra từ các cơ sở sản xuất xơ dừa từ 500-700 tấn/ngày Mụn dừa có đặc điểm là có khả năng giữ một lượng nước gấp 8 lần khối lượng của nó, khả năng hút nước và giữ nước tốt, nhả nước chậm, xốp, lại có trữ lượng lớn, giá thành rẻ nhưng lại cồng kềnh nên việc xử lý gặp nhiều khó khăn Trước đây, chỉ một phần nhỏ mụn dừa được người dân địa phương sử dụng kết hợp với trấu để ươm trồng cây giống, hoa kiểng, còn lại hầu như tất cả đều bị bỏ Phần lớn mụn dừa không có bãi chứa, hoặc có bãi chứa khi quá tải thì chủ cơ sở thải
đổ trực tiếp xuống sông gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt của người dân và huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sinh vật Những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu nhằm tận dụng nguồn nguyên liệu này để nâng cao giá trị của
Trang 12các sản phẩm được chế biến từ mụn xơ dừa như: sử dụng mụn dừa để làm thành nguyên liệu cho xây dựng, làm màng lọc cho công nghiệp chất dẽo cứng nóng, làm chất hấp thu nitroglyxerin trong sản xuất chất nổ, ván ép, bao bì tự hủy, đất sạch,…nhưng việc sản xuất và tiêu dùng trong nước hầu như không mang lại hiệu quả Sản phẩm từ mụn dừa được sử dụng có hiệu quả và phổ biến nhất hiện nay ở Bến Tre
là làm nguyên liệu sản xuất mụn dừa ép khối để xuất khẩu, góp phần tạo ra được việc làm mang lại thu nhập cho người dân, vừa giúp giảm bớt mối lo ngại về môi trường do mụn dừa gây ra tại địa phương Mụn dừa ép khối được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường các nước Châu Á và Châu Âu Do nhu cầu thị trường nước ngoài đối với mặt hàng này là khá cao, nguồn nguyên liệu mụn dừa ở Tỉnh dồi dào nhưng do còn hạn chế
về nhiều mặt như là vốn, thiết bị, lao động….nên việc sản xuất và xuất khẩu mụn dừa
ép khối vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu thị trường
Bến Tre là tỉnh có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Do đó, nguồn tài nguyên chủ yếu và quan trọng của tỉnh là tài nguyên đất nông nghiệp với diện tích 179.672ha, chiếm 76,11% diện tích đất tự nhiên (năm 2010) Đặc biệt là nền kinh tế vườn phát triển với nhiều loại cây trồng Quá trình trồng cây theo phương thức thâm canh trong một thời gian dài, sử dụng nhiều phân bón hóa học làm cho đất đai canh tác ngày càng một xấu đi, năng suất cây trồng cũng giảm dần Người dân đã từng bước nhận thấy được sự cần thiết của phân bón sinh học Tuy nhiên, người dân chưa có kinh nghiệm trồng cây bằng phân sinh học, việc tuyên truyền về lợi ích của phân sinh học chưa sâu rộng, đặc biệt là chưa có mô hình thuyết phục về năng suất và hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân sinh học, vì thế người dân còn rất e ngại khi sử dụng phân sinh học trong quá trình trồng mà thường vẫn theo thói quen là sử dụng phân hóa học Đề góp phần cải thiện đất và tăng năng suất cây trồng, Viện Khoa học Kĩ Thuật Nông Nghiệp miền Nam kết hợp với Trung tâm ứng dụng khoa học và công nghệ đã nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế biến, sản xuất phân bón hữu cơ sinh học từ mụn xơ dừa, sản xuất
ra được các loại phân bòn hữu cơ sinh học có chất lượng cao với giá thành thấp hơn với các sản phẩm cùng loại 5-10%, tiến hành trồng khảo nghiệm trên một số loại cây trồng Theo kết quả báo cáo của bài nghiên cứu này mô hình sử dụng phân bón hữu cơ
Trang 13từ mụn dừa Bến Tre làm cho năng suất các loại cây trồng tăng từ 10-15,7% so với diện tích từng loại cây đối chứng (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2011)
Hiện nay, Sở KH&CN đã và đang chuyển giao cho nông dân mô hình sử dụng phân hữu cơ sinh học làm từ mụn dừa, nếu mô hình được áp dụng một cách đại trà sẽ rất có lợi đối với người nông dân ở Bến Tre và người nông dân nói chung Vì hầu hết các vùng cây ăn trái, hoa kiểng đều cần sử dụng nhiều, nhất là trong xu thế hiện nay, chủ trương chính phủ là tăng sử dụng phân bón hữu cơ, thay thế bớt nhu cầu sử dụng phân bón hóa học Và như vậy sẽ phải cần một lượng lớn mụn dừa cho sản xuất phân bón mới đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng
Như vậy, việc sử dụng phân bón hữu cơ sinh học từ mụn dừa sẽ góp phần cải thiện đất nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng và tăng thêm thu nhập cho người nông dân Tuy nhiên, mụn dừa ép khối để xuất khầu cũng đang được các nước trên thế giới rất ưa chuộng, mang lại nguồn thu đáng kể cho các doanh nghiệp, tạo việc làm ổn định cho người dân địa phương Vậy, thực tế ở Bến Tre việc xuất khẩu mụn dừa ép khối so với việc chế biến mụn dừa thành phân bón hữu cơ sinh học để bón cho cây trồng trong Tỉnh thì phương thức nào sẽ mang lại hiệu quả cao hơn? Để trả lời cho câu hỏi này, đề
tài ”So sánh hiệu quả kinh tế của các phương thức sử dụng các sản phẩm từ mụn dừa” được thực hiện Đồng thời đưa ra một số một số giải pháp sử dụng nguồn nguyên
liệu này theo hướng mang lại hiệu quả tốt nhất
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
So sánh hiệu quả kinh tế của các phương thức sử dụng các sản phẩm làm từ mụn xơ dừa tại tỉnh Bến Tre
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mô tả tình hình chung việc sản xuất và sử dụng mụn xơ dừa tại Bến Tre
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc chế biến mụn dừa để xuất khẩu tại Bến Tre
- Xác định hiệu quả kinh tế của mô hình sử dụng phân bón hữu cơ từ mụn xơ
dừa
- So sánh hiệu quả kinh tế giữa việc sản xuất mụn dừa xuất khẩu với việc sử dụng
mụn dừa làm phân bón hữu cơ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại Bến Tre
Trang 141.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi không gian
Đề tài được nghiên cứu một phần dựa kết quả của bài nghiên cứu “Hoàn thiện công nghệ chế biến mụn xơ dừa thành giá thể và phân bón hữu cơ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp” do Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao TBKT Nông Nghiệp – Viện Khoa học kĩ thuật Nông nghiệp miền Nam kết hợp với Sở Khoa học Công Nghệ tỉnh Bến Tre thực hiện Đồng thời kết hợp với thu thập thông tin về tình hình sản xuất
và xuất khẩu mụn xơ dừa của một số cơ sở sản xuất mụn dừa ép khối tại các xã: Khánh Thạnh Tân, Đa Phước Hội, Nhơn Thạnh và Hưng Khánh Trung B Đây là những xã tập trung nhiều cơ sở sản xuất mụn dừa ép khối để xuất khẩu
1.3.2 Phạm vi thời gian
Thời gian thực hiện khóa luận được tiến hành như sau:
Thời gian từ 12/02/2012 – 30/03/2012: Thu thập tại địa bàn các thông tin và dữ liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Tiến hành viết đề cương chi tiết
Thời gian từ 01/04/2012 – 01/05/2012: Soạn bảng câu hỏi chuyên sâu và định lượng các thông tin cần thiết cho đề tài Thu thập thông thứ cấp tại Sở khoa học công nghệ và Môi trường tỉnh Bến Tre
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số cơ sở sản xuất mụn dừa ép khối tại các xã Khánh Thạnh Tân, Đa Phước Hội, Hưng Khánh Trung B, Nhơn Thạnh thuộc huyện
Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam, thành phố Bến Tre tỉnh Bến Tre
Thời gian từ 02/05/2012 – 01/06/2012: Tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu thu
thập được để viết đề tài hoàn chỉnh
1.4 Cấu trúc khóa luận
Đề tài được chia thành 5 chương Chương 1: Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và trình bày tóm tắt bố cục luận văn Chương 2: Giới thiệu tổng quan về các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, đồng thời giới thiệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre Chương 3: Trình bày cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu, đưa ra các khái niệm, định nghĩa về lĩnh vực nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng trong đề tài Chương 4: Đây là chương trình bày các kết quả đạt được của đề tài Chương 5: Dựa vào kết quả đạt được ở chương 4, từ
Trang 15đó rút ra kết luận về các vấn đề đã thảo luận và đưa ra một số kiến nghị cho viện sản xuất và sử dụng mụn xơ dừa trên địa bàn tỉnh Bến Tre
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Theo Nguyễn Thị Kim Nhung, 2003, khi nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón bổ sung phân hữu cơ, tro dừa đến năng suất và một số tính chất đất của cơ cấu luân canh lạc-lúa-mía trồng trên đất xám bạc màu, cho thấy năng suất lạc tăng trong vụ đông xuân từ 7,5-20,5%, lúa tăng từ 8-27,9% vụ hè thu và 1,06-21,4% trong vụ mùa Độ phì nhiêu cải thiện dần, đồng thời gia tăng số lượng và thành phần vi sinh vật có ích trong đất
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Lượng và nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM, 2010, khi sử lý mụn dừa bằng chế phẩm Biovina 1,5% với điều kiện độ pH 5,5%, độ ẩm 65%, thời gian phân hủy 4 ngày sẽ cho ra phân hữu
cơ vi sinh dưới dạng mùn, có tác dụng tốt cho cây trồng
Lê Trường Bình và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2005, cho thấy công thức giá thể vừa tốt vừa hiệu quả kinh tế là mụn dừa + 4% Guano + 20% phân trùn cho rau ăn lá (cải ngọt, rau muống, rau dền), đối với giá thể trồng cây kiểng (hoa sao nhái) thì công thức tốt nhất là mụn dừa + 4% Guano + 40% phân trùn Nghiên cứu của Lê Khiêm Hùng,
2007, với tỷ lệ phối trộn 95% mụn xơ dừa: 5% phân trùn cũng cho kết quả rất tốt đối với cây cải ngọt
Theo Mai Thanh Trúc, 2001, mụn xơ dừa có thể ủ làm phân với hệ vi sinh vật là chế phẩm EM Bokashi tương đối tốt Mụn xơ dừa đã ngâm qua nước một thời gian (loại 2) có hàm lượng cellulose và lignin ít hơn mụn xơ dừa vừa được thải bỏ (loại 1),
do đó sau khi ủ với EM Bokashi hàm lượng này càng thấp hơn, điều này tốt cho việc ứng dụng trong trồng trọt Tuy nhiên, mụn xơ dừa loại 2 tuy có hàm lượng cellulose và lignin ít hơn sau khi ủ so với mụn xơ dừa loại 1 nhưng hàm lượng N, P lại tương đương nhau Hàm lượng K của mụn xơ dừa lọai 1 lại nhiều hơn loại 2 và là giá trị
Trang 17thích hợp hơn trong trồng trọt Do đó, xét về mặt hiệu quả kinh tế thì sử dụng mạt xơ dừa loại 1 sẽ đỡ tốn thời gian và chi phí xử lý nước do đó cho hiệu quả kinh tế cao hơn Hỗn hợp mụn xơ dừa và EM Bokashi 7% với thời gian ủ là 20 ngày cho kết quả tốt trong việc nuôi trồng nấm bào ngư
Trong báo cáo tóm tắt của bài nghiên cứu “Hiệu quả của phân hữu cơ từ mụn dừa trên năng suất bắp trồng trên đất nghèo dinh dưỡng”, 2008, do Trung tâm giống Cây Trồng tỉnh Bến Tre kết hợp với nhóm nghiên cứu thuộc Khoa Nông Nghiệp & Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ thực hiện Kết quả cho thấy mụn dừa sau khi xử lý với nước vôi giảm được 97% hàm lượng tannin, sau đó kết hợp các loại vật liệu khác có sẵn tại địa phương như bã bùn mía, xác mía, vỏ trấu, ít phân bò và nấm Trichoderma để ủ thành phân hữu cơ vi sinh Trên đất giồng cát, sử dụng ở mức 10 tấn/ha phân hữu cơ từ mụn dừa ở hai dạng mụn dừa kết hợp xác mía và mụn dừa kết hợp vỏ trấu thì đồng thời giảm được 30% lượng phân vô cơ theo khuyến cáo, giúp tăng năng suất bắp có ý nghĩa so với bón phân vô cơ theo khuyến cáo và theo liều lượng cao như tập quán của người dân Như vậy, việc kết hợp mụn dừa với một số vật liệu khác và nấm Trichoderma để ủ thành phân hữu cơ là rất có ý nghĩa, không chỉ giúp giảm ô nhiễm môi trường mà còn góp phần cải thiện hiệu quả năng suất cây trồng trên đất nghèo dinh dưỡng
Báo cáo “ Nghiên cứu sử dụng chế phẩm EM sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ
xơ dừa - ứng dụng để trồng hoa cúc”, 2008, của Nguyễn Thị Thu Ngân và Trần Thị Duyên Anh Kết quả cho thấy xơ dừa với tỷ lệ phun EM : 0,5 lít/kg xơ là tỷ lệ phù hợp với quá trình ủ thành phân hữu cơ vi sinh Cây hoa cúc khi được bón phân hữu cơ này sẽ rút ngắn được thời gian thu hoạch được 15 ngày, đồng thời năng suất cũng cao hơn so với cây đối chứng như chiều cao trung bình tăng từ 10 đến 15cm, lượng hoa tằng từ 5 đến 8 hoa và nở đồng đều hơn, cành lá xum xuê, thân cây chắc chắn, cứng cáp hơn
Nghiên cứu “ Xử lý mạt dừa sau trồng nấm bào ngư bằng xạ khuẩn”, 2008, của Lương Bảo Uyên, Phạm Thị Ánh Hồng, nghiên cứu cho thấy mạt dừa sau khi trồng nấm được ủ với xạ khuẩn 60 ngày (ở mức 20ml chế phẩm và 100g mạt dừa) thì hàm lượng lignin giảm còn 34%, cellulose từ 29.34% giảm còn 7.26%, tỷ lệ C/N là 19 và hàm lượng nitơ tăng từ 0.46% lên 1.16% rất thích hợp ứng dụng để sản xuất phân
Trang 18sinh hóa hữu cơ Đồng thời, kết quả thử nghiệm gieo hạt cải cho thấy tỷ lệ nảy mầm là khá cao (hơn 90%)
“Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ chế biến mụn xơ dừa thành giá thể và phân bón hữu cơ sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp”, 2011, do Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao TBKT Nông Nghiệp – Viện Khoa học kĩ thuật miền Nam kết hợp với sở Khoa học Công Nghệ tỉnh Bến Tre thực hiện, đề tài đã nghiên cứu thành công được quy trình sản xuất và sử dụng các loại phân hữu cơ khoáng (HCK), hữu cơ vi sinh (HCVS), hữu cơ sinh học cao cấp (HCSHCC) trên một số loại cây trồng như : xà lách, cải xanh, dưa leo, khổ qua, cam, bưởi và ca cao Dùng những loại phân này sẽ làm cho năng suất các loại cây trồng trên tăng từ 10 – 15,7%, đồng thời cải thiện chất lượng đất đáng kể nhất là các chỉ tiêu về hữu cơ và vi sinh vật
Các nghiên cứu trên đã cho thấy hiệu quả của việc sử dụng các loại phân hữu
cơ làm từ mụn dừa đối với các loại cây trồng là làm cho cây sinh trưởng tốt, tăng năng suất, cải thiện chất lượng đất Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu này chỉ cho thấy được cái nhìn sơ lược về lợi ích của việc sử dụng phân hữu cơ làm từ mụn dừa, chưa đưa ra được hiệu quả kinh tế cụ thể của loại phân hữu cơ này đối với các loại cây trồng Riêng chỉ có nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao TBKT Nông Nghiệp – Viện Khoa học kĩ thuật miền Nam kết hợp với sở Khoa học Công Nghệ tỉnh Bến Tre thực hiện là đưa ra được cụ thể hiệu quả mang lại của phân hữu cơ làm từ mụn dừa đối với vài loại cây trồng cụ thể Vì vậy, đề tài sử dụng kết quả nghiên cứu này để làm cơ
sở so sánh hiệu quả kinh tế của việc sử dụng mụn dừa làm phân hữu cơ bón cho cây trồng với việc sản xuất mụn dừa ép khối để xuất khẩu, xem xem phương thức sử dụng mụn dừa nào là mang lại hiệu quả cao hơn
Trang 19- Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang
- Phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh
- Phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài trên 65 km
Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Bến Tre
Nguồn: http://www.bentre.gov.vn
b Khí hậu, thời thiết
Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa (tháng 5-11) với gió mùa Tây Nam, mùa khô (tháng 12-4) với gió màu Đông Bắc Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 đến 2.300 mm, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260C – 270C Với vị trí nằm tiếp giáp biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão lũ, khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm… Đây là điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư, sản xuất, kinh doanh và du lịch của Tỉnh
Trang 20Địa hình có độ cao từ 3-3,5m, có nơi cao tới 5m với các dãy đất cao thuộc khu vực huyện Chợ Lách , một phần huyện Châu Thành và huyện Giồng Trôm, các
giồng cát tại khu vực ven biển, chiếm 5,8% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Địa hình có độ cao từ độ cao trung bình khoảng 1,5 m tập trung tại một số vùng thuộc huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm Đất hình thành từ vũng mặn cổ tập trung ở một số nơi như của huyện Ba Tri, huyện Giồng Trôm
Địa hình trũng thấp, có độ cao độ cao tối đa không quá 0,5 m Đây là vùng đất thấp luôn ngập nước mực thủy triều trung bình, gồm có đất đầm mặn và bãi thủy triều, phân bố ở các huyện ven biển như: Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú
Địa hình bờ biển của tỉnh chủ yếu là các bãi bồi rộng với thành phần chủ yếu là bùn hoặc cát Khi triều rút, các bãi bồi nổi lên và trải rộng ra biển hàng nghìn mét, tạo thuận lợi cho nuôi trồng hải sản
d Thủy văn
Bến Tre có một mạng lưới sông ngòi chằng chịt với tổng chiều dài xấp xỉ 6.000
km Tỉnh có mật độ sông ngòi cao nhất nước (2,7 km/km2) Các con sông đều có
hướng chung là Tây Bắc - Đông Nam, đổ ra biển Đông với các cửa sông rộng
Gồm có 4 con sông lớn chảy qua là: Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên Những con sông này giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân trong tỉnh như: cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và nông nghiệp, góp phần làm tươi đẹp cảnh quan, điều hòa khí hậu Hệ thống sông, rạch trong tỉnh còn là điều kiện thuận lợi cho Bến Tre phát triển mạng lưới giao thông đường thủy và thủy lợi
Trang 21g Tài nguyên biển
Nằm ở hạ lưu sông Mêkông giáp với biển Đông, Bến Tre là tỉnh có nhiều lợi thế về nguồn lợi thủy sản, với 65 km chiều dài bờ biển nên thuận lợi cho việc đánh bắt
và nuôi trồng thủy sản, tạo ra nguồn tài nguyên biển phong phú, đa dạng về sinh thái
và tập tính
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a Kinh tế:Do yếu tố địa hình và các điều kiện tự nhiên nên hoạt động kinh tế
chính của địa phương là Nông –Lâm-Ngư nghiệp
Bảng 2.1 Cơ Cấu Kinh Tế Tỉnh Bến Tre (2009)
c Cơ sở hạ tầng:
Giao thông: tập trung thi công đã hoàn thành và đưa vào sử dụng các các công trình giao thông trọng điểm Bên cạnh đó, công tác giao thông nông thôn được các huyện, thành phố tiếp tục tập trung thực hiện; kết quả đã làm mới được 303 Km đường nhựa và bê tông các loại và xây mới 227 cầu/5060 md, với tổng kinh phí khoảng 321
tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp là 16,96 tỷ đồng
Bưu chính viễn thông: thời gian qua Bưu chính viễn thông Bến Tre đã xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng nhiều dự án hiện đại về công nghệ, mở rộng về dung lượng đảm bảo phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm tới, Bưu chính viễn thông Bến Tre sẽ tiếp tục có những sách lược,
Trang 22hướng đi phù hợp để phát triển sản xuất, kinh doanh bền vững, phát triển nguồn nhân lực, tập trung xây dựng lực lượng cán bộ khoa học có trình độ và năng lực quản lý, quyết giữ vững vai trò chủ lực trong lĩnh vực bưu chính viễn thông trên địa bàn Tỉnh
d Giáo dục: Qui mô giáo dục ở các ngành học, cấp học tiếp tục phát triển
Mạng lưới trường lớp phát triển đều, phù hợp theo qui hoạch tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến trường Công tác phổ cập giáo dục được quan tâm thực hiện, thành quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được giữ vững
Ngoài ra, hoạt động của 149 trung tâm học tập cộng đồng đã từng bước giúp nâng cao dân trí, chất lượng cuộc sống, xóa đói giàm nghèo ít nhất là ở vùng nông thôn, Công tác xây dựng nâng cao chất lượng đội ngủ cán bộ quản lý cũng được đặc biệt quan tâm
e Y tế: Công tác khám và điều trị ở các bệnh viện từng bước được nâng lên,
trang thiết bị khám chữa bệnh tiếp tục được đầu tư nâng cấp, một số thiết bị kỹ thuật cao cũng đã được đầu tư từ nguồn tài trợ của các dự án, các kỹ thuật mới về lâm sàng
và cận lâm sàng đã và đang được triển khai áp dụng đạt hiệu quả
Trang 23CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Khái niệm mụn xơ dừa
Mụn xơ dừa là một thành phần có trong vỏ trái dừa, chiếm khoảng 70% trong vỏ dừa ( nguồn APCC) Trong quá trình dùng máy để tách lấy chỉ xơ dừasẽ cho ra 2 phần riêng biệt là chỉ xơ dừa và mụn dừa (mụn xơ dừa là phần bị nghiền nát của vỏ dừa hay còn gọi là bụi cám dừa) Mụn xơ dừa có ưu điểm là nguyên liệu có trữ lượng lớn, xốp, sạch bệnh, khả năng hút nước và giữ nước tốt, nhả nước chậm, và có giá thành rẻ Tuy nhiên, trong mụn xơ dừa lại có hàm lượng lignin khá cao chiếm tỷ lệ 60-70%, lignin là phức hợp polymer của các phân tử phenylpropane, chúng liên kết đan chéo nhau rất phức tạp, chính vì vậy mà lignin rất khó bị phân hủy (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2011)
Theo TAPPI (1988), mụn xơ dừa là chất hữu cơ và có thể tái sử dụng Độ pH của mụn xơ dừa là 5,5 Chất lượng của mụn xơ dừa không bị ảnh hưởng nếu độ pH thấp hơn Mụn xơ dừa có một số tính chất và thành phần hóa học được trình bày trong bảng 3.1
Trang 24Bảng 3.1 Tính Chất và Thành Phần Hóa Học của Mụn Xơ Dừa
bigbag)
3.1.3 Xuất khầu
Trong lý luận thương mại quốc tế xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch
vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài
Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan
Trang 25riêng theo quy định của pháp luật (theo điều 28, mục 1, chương 2 Luật thương mại Việt Nam, 2005)
3.1.4 Phân bón hữu cơ
a Nhu cầu sử dụng phân bón hữu cơ cho cây trồng tại Bến Tre
Hình 3.1 Nhu Cầu Sử Dụng Phân Hữu Cơ Cho Cây Trồng Tại Bến Tre
Nguồn : Tổng hợp tài liệu Hình 3.1 thể hiện nhu cầu sử dụng phân bón hữu cơ cho một số rau màu và cây hàng niên ở tỉnh Bến Tre do Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre tổ chức khảo sát một số huyện trong Tỉnh Kết quả điều tra cho thấy nông dân đã nhận thức được giá trị quan trọng của phân hữu cơ đối với cây trồng Phân hữu
cơ sử dụng chủ yếu là từ chất thải chăn nuôi Cụ thể, như phân bò được sử dụng nhiều nhất 52/90 hộ sử dụng, phân heo 30/90 hộ sử dụng, 8/90 hộ còn lại là sử dụng phân
gà, phân cút, phân dơi, phân trùn (Hình 1) Bên cạnh đó phụ phẩm có nguồn thực vật được sử dụng nhiều nhất là mụn dừa có 18/90 hộ chiếm có sử dụng chiếm 20%, mụn dừa được sử dụng làm phân hoặc dùng để phối trộn với các nguyên liệu khác như phân
bò, phân gà, phân cút (Hình 2) Tuy nhiên, người dân chỉ sử dụng phân bón theo tập quán địa phương chứ không theo quy trình liều lượng nào cả Từ kết quả điều tra trên cho thấy người dân cũng từng bước nhận thấy được cần thiết của phân hữu cơ trong nông nghiệp Vì vậy, nếu phân bón hữu cơ từ mụn xơ dừa thực sự mang lại hiệu quả cao hơn so với các phương thức sử dụng mụn dừa khác thì khả năng người dân chấp nhận mô hình hình sử dụng phân bón hữu cơ từ mụn xơ cho cây trồng sẽ rất cao
Trang 26Phân bón là thức ăn do con người bổ sung cho cây trồng Trong phân bón có chứa nhiều chất dinh dưỡng cung cấp cho cây như: đạm (N), lân (P), kali (K) + các nguyên tố vi lượng Gồm hai loại phân bón vô cơ và phân bón hữu cơ
Phân vô cơ: là loại phân có chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng như phân đạm, phân lân…
Phân bón hữu cơ là loại phân sử dụng các nguyên liệu, phụ phế phẩm có nguồn gốc hữu cơ Phân hữu cơ được phân thành nhiều loại, tùy theo phương pháp xử lí và thành phần có trong phân bón sẽ tạo nên những loại phân bón hữu cơ khác nhau Bao gồm các loại phân hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, phân ủ và gần đây có thêm các loại khác như phân phân hữu cơ sinh hóa, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ sinh học Phân hữu cơ là nguồn dinh dưỡng tốt đối với cây trồng, vừa là nhân tố ảnh hưởng tốt đến thành phần cơ giới, kết cấu và độ ẩm của đất Ngoài
ra phân hữu cơ còn chứa sẵn một khối lượng rất lớn VSV góp phần duy trì độ phì cho đất (Nguyễn Thanh Hiền, 2003)
Phân hữu cơ sinh học: là loại phân được sản xuất thông qua hoạt động lên men
vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau (như phế thải nghiệp, phế thải chăn nuôi, phế thải chế biến, phế thải đô thị, phế thải sinh hoạt…) hay nhờ tác động của các tác nhân sinh học khác Từ đó, các hợp chất hữu cơ này được chuyển hóa thành mùn
nông-lâm-Phân hữu cơ vi sinh: là loại phân được sản xuất từ nguồn nguyên liệu hữu cơ có
chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống có ích, với mật độ phù hợp với tiêu chuẩn
đã ban hành (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2011) Có nhiều nhóm vi sinh vật có ích bao gồm
vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn được sử dụng để làm phân bón Trong số đó, có thể phân thành các nhóm vi sinh vật như cố định đạm, hoà tan lân, phân giải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây trồng Để chế biến phân vi sinh vật, các loài vi sinh vật được nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm Khi đạt đến nồng độ các tế bào vi sinh vật khá cao người ta trộn với các chất phụ gia rồi làm khô đóng vào bao Trong những năm gần đây, ở nhiều nước trên thế giới, người ta đã tổ chức sản xuất công nghiệp một
số loại phân vi sinh vật và đem bán ở thị trường trong nước Một số loại phân vi sinh vật được bán rộng rãi trên thị trường thế giới Phân hữu cơ vi sinh có tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, góp phần nâng cao năng suất và chất
Trang 27lượng nông sản Đồng thời không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật và môi
trường sinh thái
Phân hữu cơ khoáng: là loại phân được sản xuất nguồn nguyên liệu hữu cơ
khác nhau (than bùn, rác thải thành phố, phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp…), được
trộn thêm một hay nhiều yếu tố dinh dưỡng, trong đó có ít nhất một yếu tố dinh dưỡng
đa lượng (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2011)
Bảng 3.2 Chỉ Tiêu Định Lượng Bắt Buộc trong Phân Bón
Phân hữu cơ
Ẩm độ đối với phân bón dạng bột Không vượt quá 25%
Hàm lượng đạm tổng số (Nts) Không thấp hơn 2,5%
pHH2O (đối với phân hữu cơ bón qua lá) Trong khoảng từ 5 -7
Phân hữu cơ khoáng
Ẩm độ: đối với phân bón dạng bột Không vượt quá 25%
Tổng hàm lượng Nts+P2O5hh + K2Ohh;
Nts+P2O5hh; Nts +K2Ohh; P2O5hh + K2Ohh Không thấp hơn 8%
Phân hữu cơ vi sinh
Ẩm độ đối với phân bón dạng bột Không vượt quá 30%
Mật độ mỗi chủng vi sinh vật có ích Không thấp hơn 1x 10
6 CFU/g (ml) Nguồn: Thông tư 36/2010/TT-BNNPTNT của Bộ NN & PTNT Bảng 3.2 thể hiện các định lượng bắt buộc trong phân bón hữu cơ theo Thông tư
36/2010/TT-BNNPTNT của Bộ NN & PTNT, buộc các loại phân bón bón phải có các
tiêu chuẩn được thực hiện theo đúng các qui định trong bảng 3.2
Trang 28b Qui trình sản xuất phân HCVS và phân HCK
Hình 3.2 Sơ Đồ Qui Trình Công Nghệ Sản Xuất Phân Bón
Mụn dừa
Xử lý giảm EC Khử Tanin
MD nguyên liệu Các chế phẩm vi sinh
Ủ hảo khí
MD bán thành phẩm
Phối trộn chế phẩm vi sinh Phối trộn khoáng và đa vi lượng
Phân hữu cơ vi sinh Phân hữu cơ khoáng
Đóng gói Đóng gói
Nguồn: Tổng hợp tài liệu Đây là sơ đồ mô tả qui trình sản xuất phân bón HCVS và HCK Mụn dừa sau
khi được mua về sẽ được sàn lọc bỏ bớt phần chỉ xơ, xử lý để giảm hàm lượng muối và
dung dịch Ca(OH)2 với liều lượng bằng 5% lượng mụn xơ dừa, với thời gian xử lý từ
5-7 ngày để khử hàm lượng tanin Sau đó mụn dừa sẽ được ép bằng máy ép thủy lực
Trang 29Tiếp theo mụn xơ dừa sẽ được ủ háo khí với chế phẩm EM gốc với tỷ lệ 3 lít EM gốc
xử lý 1 tấn mụn dừa, thời gian ủ hảo khí là 10-15, lúc này mụn dừa được xem là mụn
dừa bán thành phẩm (MDA) Sau đó, phơi MDA trong mát để giảm ẩm độ Tùy theo
công thức pha trộn mà MDA sẽ tạo thành các loại phân bán HCVS, HCK
Bảng 3.3 Bảng Công Thức Phối Trộn Để Chế Biến Phân HCVS, Phân HCK từ
Nguồn: Tổng hợp tài liệu
Từ bảng công thức phối trộn trên cho thấy nếu phối trộn tất cả các nguyên liệu
với liều lượng như trên chỉ loại trừ CaCO3 và than bùn sẽ tạo thành phân hữu cơ vi
sinh (HCVS), còn để tạo thành phân HCK tương tự cũng sẽ phối trộn tất cả các nguyên
liệu có trong bảng tuy nhiên không phối trộn Guano, hữu cơ Hòa Bình, phân trùng quế
và chế phẩm vi sinh Nếu phối trộn theo bảng công thức tương ứng với các thành phần
và liều lượng phần trăm như trên sẽ tạo thành hai loại phân HCVS và HCK với thành
phần dinh dưỡng được trình bày trong bảng 3.4
Trang 30Bảng 3.4 Thành Phần Dinh Dưỡng của Phân HCVS và HCK Làm từ Mụn Xơ
đạt tiêu chuẩn trong bảng chỉ tiêu định lượng bắt buộc trong phân bón theo thông tư
36/2010/TT-BNNPTNT ngày 24/06/2010 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn Đối với phân HCVS, tổng số VSV (3,38 x 107) đạt tiêu chuẩn qui định không
thấp hơn 1 x 106, hàm lượng hữu cơ là 35,49% cũng đạt tiêu chuẩn không thấp hơn
15% Tương tự đối với phân HCK có các chỉ tiêu tổng hàm lượng N+P2O5+K2O bằng
8,65%, hàm lượng hữu cơ tổng số là 27,43% đều lần lượt đạt chỉ tiêu định lượng bắt
buộc trong phân bón của Bộ NN & PTNN (tổng hàm lượng N+P2O5+K2O tiêu chuẩn
không thấp hơn 8%, hàm lượng hữu cơ tổng số tiêu chuẩn không thấp hơn 15%)
c Khảo nghiệm mô hình sử dụng các loại phân bón làm từ mụn dừa trên
cây cam soàn và bưởi da xanh tại Bến Tre
Công thức thí nghiệm:
CT1: Phân bón nền (Đối chứng)
CT2: Phân bón nền + phân hữu cơ vi sinh (HCVS)
CT3: Phân bón nền + phân hữu cơ khoáng (HCK)
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu RCBD với 4 lần lặp lại, mỗi nghiêm thức
được bố trí 10 gốc/nghiệm thức Thử nghiệm được bố trí trên diện rộng, không cần lặp
lai, mỗi công thức bố trí 100 gốc đối với từng loại cây
Cách bón: Cuốc rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây, (rãnh sâu từ
10 – 15 cm, rộng 10 – 20 cm) cho phân vào, lấp đất và tưới nước Khi cây giao tán có
Trang 31thể dùng cuốc súp nhẹ lớp đất chung quanh tán cây, bón phân và lấp đất lại, tưới nước
Cả 2 loại phân bón hữu cơ (phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ khoáng) đều có cách thức sử dụng như nhau Mỗi loại được dùng với liều lượng bón là 4kg/cây, sử dụng bón lót ngay sau khi thu hoạch trái vụ trước, chuẩn bị cắt cành làm vụ mới hoặc giai đoạn nuôi trái
Đối với cây bưởi da xanh: Liều lượng bón phân: phân bón nền (0,8kg Urê + 1,25 kg Super lân + 0,50 kg KCl) + 15 kg phân hữu cơ /gốc/năm Bón phân trên cây bưởi được chia làm 4 lần/năm:
- Lần 1 (bón phân sau thu hoạch): bón 25% N + 25% P2O5 + 20% K2O + 100% phân hữu cơ
- Lần 2 (bón phân 4 tuần trước khi ra hoa): bón 25% N + 50% P2O5 + 30% K2O
- Lần 3 (bón phân sau khi quả đậu và giai đoạn quả phát triển): bón 50% N + 25% P2O5 + 50% K2O
- Lần 4 (bón phân 1 tháng trước thu hoạch): bón 20% K2O
Đối với cây cam soàn : Liều lượng bón phân được khuyến cáo theo bảng 3.5
Bảng 3.5 Khuyến Cáo Bón Phân Dựa vào Năng Suất Thu Hoạch của Vụ Trước (Kg Trái/Cây)
Năng suất thu
Trang 32Bảng 3.5 giúp xác định được liều lượng bón phân cho vụ sau trên cơ sở dựa vào năng năng suất của vụ trước Cụ thể như sau nếu năng suất trái của vụ trước là 20 kg/cây/năm thì vụ tiếp theo sẽ bón phân với liều lượng đạm là 652 g/cây/năm, lân là 909g/cây/năm và kali là 375g/cây/năm Tương tự, khi năng suất trái/cây/năm càng tăng lên thì tương ứng sẽ xác định được mức bón phân theo liều lượng khuyến cáo như trong bảng 3.5 Bón phân cho cây cam soàn sẽ được chia làm 4 đợt/năm:
- Lần 1 (bón phân sau thu hoạch): bón 25% đạm + 25% lân +5kg hữu cơ/gốc/năm
- Lần 2 (bón phân 4 tuần trước khi ra hoa): bón 25% đạm + 50% lân + 30% Kali
- Lần 3 (bón phân sau khi quả đậu và giai đoạn quả phát triển): bón 50% đạm + 25% lân+ 50% Kali
- Lần 4 (bón phân 1 tháng trước thu hoạch): bón 20% kali
Giai đoạn cây phát triển, lượng phân nên cung cấp làm nhiều lần và tùy theo mức độ đậu trái, sự phát triển của trái Hằng năm, nên bón bổ sung từ 0,5 -1kg phân Ca(NO3)2 (Nitrat canxi) để cải thiện phẩm chất và thời gian tồn trữ sau thu hoạch trái
Phân bón lá nên phun 4-5 lần/vụ ở giai đoạn sau khi trái đậu và giai đoạn bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lấn cách nhau 15 ngày
3.1.5 Một số quan điểm hiệu quả kinh tế
Trong kinh tế, vấn đề hiệu quả có ý nghĩa rất lớn Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng, nó thể hiện kết quả sản xuất, lao động, vật tư, tiền vốn
Về hình thức, hiệu quả kinh tế phải là một đại lượng so sánh giữa kết quả sản xuất thu được và chi phí bỏ ra
Trong quá trình sản xuất người ta quan tâm nhiều đến kết quả sản xuất, mong muốn với một nguồn lực lao động, tiền vốn, vật tư hữu hạn mà thu lại được kết quả càng lớn và như vậy thu được hiệu quả sản xuất càng cao
a Các chỉ tiêu đo lường kết quả - hiệu quả kinh tế
Lợi nhuận là phần dôi ra từ việc bán tất cả các sản phẩm làm ra trừ đi tổng chi
phí sản xuất
Thu nhập là phần thu được từ việc bán tất cả các sản phẩm làm ra trừ đi chi phí
vật chất và chi phí lao động thuê
Trang 33Doanh thu là tổng giá trị thu được từ việc bán sản phẩm
Chi phí vật chất là tập hợp những chi phí trong quá trình sản xuất không bao
gồm chi phí lao động
Chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí vật chất và chi phí lao động, phản ánh
toàn bộ chi phí đầu tư vào quá trình sản xuất
Khấu hao: Đề tài áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng còn gọi là
phương pháp khấu hao tuyến tính dùng để tính toán cho giá trị khấu hao hàng năm của các loại tài sản đầu tư ban đầu Phương pháp này là lấy nguyên giá tài sản hoặc chi phí xây dựng chia cho tuổi thọ của tài sản hoặc công trình Với phương pháp này khấu hao
mỗi năm là bằng nhau
b Các chỉ tiêu xác định kết quả - hiệu quả
- Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Trong đó: Doanh thu: tổng giá trị sản phẩm tiêu thụ
Chi phí: toàn bộ chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất
- Thu nhập = Doanh thu – (Chi phí vật chất + Chi phí lao động thuê ngoài) Hay
Thu nhập = Lợi nhuận + Chi phí lao động nhà
Chi phí lao động nhà: là phần công lao động của gia đình bỏ ra được tính bằng tiền
- Tỷ suất thu nhập trên chi phí
Tỷ suất thu nhập trên chi phí = Thu nhập / Chi phí sản xuất
Chỉ tiêu này phản ánh: cứ một đồng chi phí sản xuất bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập
- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí = Lợi nhuận / Chi phí sản xuất
Chỉ tiêu này phản ánh: một đồng chi phí sản xuất bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận