1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất phương án nâng cấp hiện đại hóa hệ thống thủy nông nội đồng gắn với giao thông và cơ giới hoá nông nghiệp nông thôn

23 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐBSH hiện đang đóng vai trò chủ đạo về kinh tế của khu vực và toàn quốc, ở đây có các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, các khu công nghiệp tập trung như: Láng Hoà Lạc, Việt Trì, Nam Định...Trong quá trình đô thị hoá, tất yếu của sự phát triển sẽ ra đời thêm nhiều đô thị vừa và nhỏ, các trung tâm nông thôn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của khu vực này. Mặt khác đây còn là khu vực sản xuất nông nghiệp quan trọng hàng đầu của toàn quốc, có điều kiện nhân lực dồi dào, tự nhiên thuận lợi để đa dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu thị trường, ĐBSH cung cấp một khối lượng lớn nông phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu. Với vị trí và vai trò của ĐBSH trong toàn bộ đời sống vùng và cả nước thì sản xuất hàng hoá sẽ dễ có tác dụng nên không thể không vận chuyển những hàng hoá này đến thị trường có khả năng tiêu thụ, về khía cạnh này GTVT giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong đó GTNT lại càng phải đáp ứng tốt những yêu cầu phù hợp với tình hình phát triển chung vì kinh tế vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nông phẩm, nông nghiệp. Qua đây thấy rõ tính cấp bách của việc xây dựng phát triển tốt mạng lưới đường GTNT trong toàn quốc nói chung, nhưng riêng với ĐBSH lại càng quan trọng. Vì có mạng lưới đường GTNT được phân bố hợp lý về mật độ, tốt về chất lượng sẽ làm giảm bớt rất nhiều sức người và tiền của, tiết kiệm thời gian trong quá trình lưu thông vận chuyển đầu vào và đầu ra cho mọi ngành sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ đời sống. [Mục Lục] CHƯƠNG 1: VAI TRÒ HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN2 1.1.VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG NÔNG THÔN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN2 1.2.VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN6 1.3.HIỆN TRẠNG ĐƯỜNG GIAO THONG NÔNG THÔN VÙNG ĐBSH VÀ YÊU CẦU CẦN ĐÁP ỨNG6 1.3.1.Hiện trạng đường GTNT vùng ĐBSH6 1.3.2.Yêu cầu cần đáp ứng8 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG GẮN VỚI GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN9 2.1.MÁY MÓC NỘI ĐỒNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP9 2.2.YÊU CẦU NÂNG CẤP PHỤC VỤ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN.14 2.2.1.Hiện đại hóa công nghệ máy nông nghiệp14 2.2.2.Quy hoạch mặt ruộng để đáp ứng cơ giới hóa16 2.2.3.Quy hoạch hệ thống đường giao thông nội đồng19 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ22 TÀI LIỆU THAM KHẢO23

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ 4.2.2

“ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HIỆN ĐẠI HÓA HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG GẮN VỚI GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA

NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN”

Thực hiện: Nguyến Đức Việt – Phòng Quản lý và HĐH công trình thủy lợi

CHƯƠNG 1: VAI TRÒ HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI

GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 2

1.1 VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG NÔNG THÔN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN 2

1.2 VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 6

1.3 HIỆN TRẠNG ĐƯỜNG GIAO THONG NÔNG THÔN VÙNG ĐBSH VÀ YÊU CẦU CẦN ĐÁP ỨNG 6

1.3.1 Hiện trạng đường GTNT vùng ĐBSH 6

1.3.2 Yêu cầu cần đáp ứng 8

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG GẮN VỚI GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 9

2.1 MÁY MÓC NỘI ĐỒNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 9

2.2 YÊU CẦU NÂNG CẤP PHỤC VỤ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 14

2.2.1 Hiện đại hóa công nghệ máy nông nghiệp 14

2.2.2 Quy hoạch mặt ruộng để đáp ứng cơ giới hóa 16

2.2.3 Quy hoạch hệ thống đường giao thông nội đồng 19

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 2

CHƯƠNG 1: VAI TRÒ HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

1.1 VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG NÔNG THÔN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN

ĐBSH hiện đang đóng vai trò chủ đạo về kinh tế của khu vực và toàn quốc,

ở đây có các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, các khu công nghiệp tập trung như: Láng Hoà Lạc, Việt Trì, Nam Định Trong quá trình đô thị hoá, tất yếu của sự phát triển sẽ ra đời thêm nhiều đô thị vừa và nhỏ, các trung tâm nông thôn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của khu vực này

Mặt khác đây còn là khu vực sản xuất nông nghiệp quan trọng hàng đầu của toàn quốc, có điều kiện nhân lực dồi dào, tự nhiên thuận lợi để đa dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu thị trường, ĐBSH cung cấp một khối lượng lớn nông phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu

Với vị trí và vai trò của ĐBSH trong toàn bộ đời sống vùng và cả nước thì sản xuất hàng hoá sẽ dễ có tác dụng nên không thể không vận chuyển những hàng hoá này đến thị trường có khả năng tiêu thụ, về khía cạnh này GTVT giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong đó GTNT lại càng phải đáp ứng tốt những yêu cầu phù hợp với tình hình phát triển chung vì kinh tế vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nông phẩm, nông nghiệp

Qua đây thấy rõ tính cấp bách của việc xây dựng phát triển tốt mạng lưới đường GTNT trong toàn quốc nói chung, nhưng riêng với ĐBSH lại càng quan trọng Vì có mạng lưới đường GTNT được phân bố hợp lý về mật độ, tốt về chất lượng sẽ làm giảm bớt rất nhiều sức người và tiền của, tiết kiệm thời gian trong quá trình lưu thông vận chuyển đầu vào và đầu ra cho mọi ngành sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ đời sống

Trang 3

Vai trò của đường GTNT trong phát triển kinh tế xã hội có thể được xem xét dưới các khía cạnh cụ thể trong sơ đồ sau:

 Đường GTNT trong vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế

1) Đường GTNT với cung- cầu và GDP

Khi xét đến tăng trưởng kinh tế, người ta xét đến sự gia tăng của GDP Lý thuyết kinh tế học hiện đại gọi sự tăng trưởng là sự gia tăng của đầu ra trên cơ sở sử dụng hàng loạt các yếu tố đầu vào của sản xuất Như vậy, đường GTNT cũng là yếu tố nằm trong vốn sản xuất cơ sở hạ tầng nói chung, giao thông vận tải nói riêng, là yếu tố của sản xuất và tác động tới tầng cung của nền kinh tế Khi giao thông đường bộ phát triển một mặt nó làm tăng giá trị đầu vào của vốn sản xuất, một mặt nó tạo điều kiện để các yếu tố khác phối hợp có hiệu quả

2) Phát triển đường GTNT tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Đường GTNT phát triển sẽ thu hút những người có vốn ở địa phương, các nhà doanh nghiệp ở thành phố, ở nước ngoài đầu tư sản xuất kinh doanh ở địa bàn nông thôn tạo tiền đề hình thành kinh tế nông thôn với cơ cấu, nông nghiệp, dịch vụ

đa dạng và nhiều thành phần Trong những năm gần đây sự chuyển dịch cơ cấu công nông nghiệp nông thôn có sự thay đổi rõ rệt theo hướng tỉ trọng nông nghiệp giảm trong khi tỉ trọng công nghiệp dịch vụ ở nông thôn có xu hướng gia tăng Cụ thể như sau:

Đường GTNT

Tăng trưởng phát triển kinh

Giao lưu hàng hóa

Ứng dụng tiến bộ

KHCN vào SX

Phân công lao động

Xóa đói giảm nghèo

Tăng cườn

g hợp tác quan hệ NT

Chất lượng cuộc sống

Trang 4

- Vùng ĐBSH năm 1995 cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ theo thứ

tự chiếm tỉ lệ % GDP như sau: Nông nghiệp (27,2%), công nghiệp (28,8%), dịch

4) Phát triển đường GTNT với giao lưu hàng hoá giữa các vùng

Đường giao thông nông thôn thuận lợi là điều kiện tiền đề cho giao lưu hàng hoá giữa các vùng được diễn ra dễ dàng nhanh chóng và thuận tiện Điều này được thể hiện thông qua quá trình:

- Cung cấp vật tư thiết bị (máy bơm, tiêu), phân bón, giống (cây, con), thuốc trừ sâu và các mặt hàng tiêu dùng phục vụ nông nghiệp nông thôn

- Vận chuyển, tiêu thụ các mặt hàng nông lâm, thổ sản, thực phẩm, kể cả các mặt hàng xuất khẩu (chiếu cói, hàng mĩ nghệ, tôm, cua, hoa quả ) đến địa điểm tiêu thụ, góp phần nâng cao mức sống của người nông dân thực hiện cung cấp các mặt hàng đó

 Đường GTNT trong vấn đề phát triển xã hội

1) Đường GTNT với quá trình phân công lao động

Phát triển tốt đường GTNT sẽ tạo điều kiện nối liền các khu vực phát triển, hình thành các khu công nghiệp lớn và đây là nguyên nhân thu hút lao động nông thôn đến làm việc làm thay đổi quá trình phân công lao động ở nông thôn Tại các khu vực mới này lao động được dần rút khỏi nông nghiệp mà không gây sức ép cho

Trang 5

nền kinh tế Như vậy phát triển đường GTNT vừa có thể giải quyết lao động tại chỗ, tăng thu nhập cho người dân, đồng thời thực hiện được chủ trương “li nông, không li thôn”

2) Đường giao thông nông thôn với xoá đói giảm nghèo

Đường GTNT phát triển tạo điều kiện nâng cao mức sống của người dân, tham gia vào xoá đói giảm nghèo các hộ nông dân trong vùng thông qua các hình thức:

- Phát triển nông nghiệp và nông thôn

- Đa dạng hoá thu nhập nông thôn

- Nâng cao năng lực cơ sở hạ tầng ở nông thôn

- Nâng cao khả năng tiếp cận của người nghèo với vấn đề giáo dục

- Tăng cường các dịch vụ y tế cho người nghèo

Việc nâng cấp các đường GTNT thúc đẩy sự tiếp cận tới các dịch vụ xã hội

và tới các cơ hội kinh tế và việc làm Rõ ràng là thiếu đường tiếp cận tới các công trình, dịch vụ, các cơ hội và hoạt động thông tin là một trở ngại để những người nghèo nông thôn làm việc thoát khỏi đói nghèo

3) Đường GTNT trong vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống người dân nông thôn là yếu tố bào bao gồm nâng cao văn hoá, sức khoẻ và mở mang dân trí cho cộng đồng nông thôn trong vùng, bao gồm các hình thức: y tế, giáo dục, giao thông

Ngoài ra giao thông nông thôn còn làm thay đổi lối sống hủ tục tập quán lạc hậu do được tiếp xúc với thông tin, văn hoá mới

4) Đường GTNT trong tăng cường hợp tác quan hệ nông thôn

Đường GTNT được mở mang xây dựng tạo điều kiện giao lưu thuận tiện giữa vùng sản xuất nông nghiệp với các thị trấn, các trung tâm văn hoá, xã hội, có tác động mạnh mẽ đến việc mở mang dân trí cho cộng đồng dân cư, tạo điều kiện

để thanh niên nông thôn tiếp cận cái mới giúp xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu cả về vật chất và tư tưởng Mặt khác giao thông thuận tiện còn là yếu tố tích cực thu hút lao động trẻ có kiến thức yên tâm làm việc trên quê hương của chính họ

Trang 6

Nhận xét: Có thể thấy hệ thống đường GTNT có một hợp phần của hệ thống

thủy nông nội đồng là bờ vùng và bờ thửa, và chúng tác động đến phát triển kinh tế

xã hội thông qua các chỉ tiêu như: tăng trưởng GDP, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giao lưu hàng hoá, phân công lao động, xoá đói giảm nghèo là những yếu tố được đánh giá là quan trọng cho sự phát triển và xây dựng Nông thôn mới nói chung và vùng nói riêng

1.2 VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG THỦY NÔNG NỘI ĐỒNG ĐỐI VỚI CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

Đường giao thông nông thôn là cầu nối, là phương tiện để di chuyển, họat

thôn trở thành mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển nông thôn của Nhà nước Điều đó phù hợp với xu hướng của tất cả các nước đi lên từ nông nghiệp

Các loại máy móc thường được sử dụng tại ĐBSH hiện nay là: máy cày; máy gặt; thiết bị gieo hạt; máy kéo; máy đập liên hoàn, máy gặt đập liên hợp Như các loại thiết bị gieo hạt giúp gieo xạ bằng máy kéo tay, hình thức này không những giảm chi phí lao động, bỏ được khâu gieo mạ và cấy lúa mà còn tiết kiệm được giống cho người nông dân Đặc biệt, vào vụ thu hoạch, những chiếc máy gặt đập liên hợp đã giúp cho khâu thu hoạch lúa của nông dân đỡ vất vả hơn rất nhiều Với loại máy này, chỉ cần hai người điều khiển máy và đóng bao đem thóc về, máy

sẽ tự động gặt và trực tiếp đưa thóc vào trong bao

1.3 HIỆN TRẠNG ĐƯỜNG GTNT VÙNG ĐBSH VÀ YÊU CẦU CẦN ĐÁP ỨNG

1.3.1 Hiện trạng đường GTNT vùng ĐBSH

Khi sản xuất phát triển thì người dân có nhu cầu vận tải và di chuyển tăng sẽ tăng nhanh chóng lượng xe cơ giới ở khu vực nông thôn Các loại đường trong khu dân cư nông thôn hiện nay chưa có sự quản lý thống nhất, xây dựng mang tính tự phát tuỳ hoàn cảnh và năng lực quản lý của chính quyền địa phương

Đường sá trong các khu dân cư nông thôn được hình thành tự phát, từ rất lâu, cùng với sự ra đời và phát triển của các làng xã Đặc điểm chung là hẹp, quanh

co, chưa có khả năng thông xe cơ giới

Quy phạm kỹ thuật đường nông thôn ban hành theo quyết định số 516/QĐ-

CP ngày 8/8/1967 của Bộ GTVT cũng quy định đường GTNT chia ra làm 3 loại:

Trang 7

1) Đường loại A: Đường trục xã, liên xã, đường dùng cho xe ô tô, máy kéo với

tải trọng tổng cộng không quá 6T (tấn), tốc độ V= 10 km/h, chiều rộng nền đường

5m, mặt đường là 2,5m

2) Đường loại B: Các trục thôn, liên thôn, đường vòng (bao quanh các khu

canh tác, chia theo yêu cầu giữ nước của thuỷ lợi), đường này chỉ dùng cho xe ô tô con, xe thô sơ tải trọng tổng cộng không vượt quá 1T Trường hợp đặc biệt có máy kéo hoạt động thì cầu cống qua đường phải được thiết kế theo tiêu chuẩn tải trọng

đường loại A, chiều rộng nền 3m, mặt 2m

1) Đường trục xã: Là đường liên thôn ấp, nối khu trung tâm xã (thường là nơi

trụ sở UBND xã toạ lạc) với đường liên huyện, tỉnh lộ hay quốc lộ Tuyến đường này thông thường có chiều rộng từ 3-4 m Hiện nay hầu hết trên các đường trục xã

của ĐBSH, xe bốn bánh đã vào được tới trụ sở UBND

2) Đường trục thôn, ấp (đường làng): Là đường chính trong thôn, nối liền các xóm, có chiều rộng thông thường 1,5 - 2,0 m

3) Đường ngõ xóm: Là những đường nhánh (ngõ), nối các xóm với đường thôn hay xã (tổ, đội sản xuất) Chiều rộng thông thường chỉ 1 - 1,5 m

Ngoài các đường trong xã, còn có đường giao thông trên cánh đồng (vùng nội đồng) gọi chung là đường nội đồng Các đường nội đồng đều là đường đất tự nhiên, phổ biến có chiều rộng từ 0.8 - 1,4 m 1

1 Các số liệu được thống kê trung bình của 3 xã: xã An Vĩ, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; xã Yên Hồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, tháng 6 năm 2011

Trang 8

1.3.2 Yêu cầu cần đáp ứng

Vấn đề hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp được biểu hiện rất rõ qua xu hướng sử dụng ngày càng phổ biến các máy móc nông cụ trong sản xuất Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại

Chủ trương của Chính phủ về vấn đề cơ giới hóa nông thôn là: “Dùng máy cày tay nhỏ ở nơi ít ruộng đất, máy kéo loại trung và lớn sử dụng tại nơi nhiều ruộng đất trong khâu làm đất; đẩy mạnh cơ giới hoá các khâu gieo trồng, chăm sóc

và thu hoạch Cơ giới hoá giao thông vận tải thuỷ, bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển sản xuất và lưu thông hàng hoá, hành khách”

Phương tiện vận tải cơ giới (các loại xe 4 bánh và 3 bánh) cần được trở thành chủ đạo trong việc chuyên chở nông sản, thực phẩm từ nới sản xuất đến các thị trường tiêu thụ và nơi chế biến Cho nên cần quan tâm hệ thống GTNT, các tuyến đường liên xã, liên thôn ấp kết nối với hệ thống giao thông - thuỷ lợi nội đồng Đây là cơ sở cho việc phát triển cơ giới hoá ở nông thôn

Những chiếc máy cày, máy cấy, máy gặt đập liên hợp… không thể di chuyển trên những bờ ruộng có chiều rộng chỉ vài ba mươi phân, không thể thao tác trên những thửa ruộng có diện tích chỉ vài ba trăm thước vuông Do vậy, công tác giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng cần phải được nghiên cứu cho phù hợp với các máy móc nông cụ

Trang 9

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG ÁN NÂNG CẤP HĐH HTTN NỘI ĐỒNG GẮN VỚI GIAO THÔNG VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

2.1 MÁY MÓC NỘI ĐỒNG PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Nguồn động lực và lịch sử phát triển các loại máy móc này là yếu tố đầu tiên cần xem xét khi nghiên cứu về cơ giới hóa Số lượng máy kéo và động cơ tĩnh tại, được qui thành mã lực (HP) mỗi hecta, là chỉ tiêu thường dùng để đánh giá mức độ

cơ giới hóa của một vùng

Thời kỳ 1955- 1975 ở Miền Bắc, cơ giới hóa tập trung với các máy kéo

50 HP (mã lực) 1 cho các nông trường và các trạm máy kéo Đến 1997, toàn miền

hóa khâu làm đất chỉ xấp xỉ 3%

Thời kỳ 1955- 1975 ở Miền Nam, cơ giới hóa bắt đầu với khâu khai hoang ở các điểm dinh điền và khâu làm đất ở ĐBSCL Tuy không có những nghiên cứu cơ bản hỗ trợ, nhưng nông dân qua nhiều năm sử dụng đã hình thành 2 hệ động lực cho đất lúa ĐBSCL: máy kéo 4 bánh cỡ lớn, và máy kéo 2 bánh cỡ nhỏ Máy kéo

cỡ lớn, đã định hình ở cỡ 60- 90 HP, chủ yếu làm đất khô: sau 1- 2 cơn mưa đầu mùa vào cuối tháng Tư, máy kéo ra đồng làm ngày làm đêm, có thể cày 8 ha/ngày; cho đến khi mưa nhiều bị lầy thì ngưng Khi đó, máy kéo nhỏ 4 bánh (dưới 30 HP) hoặc 2 bánh phay đất ruộng nước, và cũng làm đất vụ kế tiếp khoảng tháng 8- 10

DL với ruộng ngập nước Năm 1975, có 7000 máy kéo trên 30 HP, 2000 máy kéo dưới 30 HP, và 12000 máy kéo hai bánh

Thời kỳ 1975- 1988, cả ở hai miền, cơ giới hóa tập trung với khoảng 300 trạm máy kéo Quốc doanh tại huyện Việc nhập máy kéo do Công ty Nhà nước thực hiện và chịu ảnh hưởng của các nghiên cứu về máy kéo 50 HP với bánh lồng, bánh sắt, thuyền phao để làm đất ruộng nước Đã nhập 13000 máy kéo chủ yếu cỡ

50 - 65 HP như MTZ 50, Renault 551, Steyr 768; và một số ít 80 HP như MTZ80,

và máy kéo bánh xích như DT 75 Phương thức trạm máy kéo đã tỏ ra kém hiệu quả và không phù hợp với chuyển đổi của ngành nông nghiệp, nên từ 1987, các Trạm máy kéo quốc doanh lần lượt bị giải thể Mức độ cơ giới hóa làm đất giảm từ 27% năm 1980 xuống còn 21% năm 1990 Riêng ĐBSCL vẫn duy trì được ở mức khoảng 45%, có tỉnh như An Giang đạt trên 70%

1 Đơn vị máy kéo:

1 HP (ngựa, mã lực) = 0,746 kW

Trang 10

Từ 1988 ở miền Nam, các máy 50 HP bán cho tư nhân đã được sử dụng tốt với các máy làm đất nhắm vào cỡ động lực này, vì không còn lựa chọn nào khác Đây cũng là nguồn động lực làm đất cây trồng cạn như ngô, đậu, mía Từ 1990, máy kéo 4 bánh đã qua sử dụng (second hand) 14 - 25 HP Nhật được nhập nhiều,

từ đó đã hình thành một cỡ động lực khác, góp phần đáng kể cho việc làm đất lúa,

và vận chuyển nông sản ở vùng đất khô Hệ máy kéo nhỏ 2 bánh tiếp tục phát triển, với 2 nguồn là chế tạo trong nước và nhập second hand từ nước ngoài Công nghiệp trong nước chế tạo động cơ diesel, dùng tĩnh tại hoặc cho máy kéo nhỏ, với khoảng

7000 động cơ 6 - 12 HP, chỉ mới đáp ứng một phần nhu cầu

Năm 2005, thống kê được 310 000 máy kéo, trong đó khoảng 3/4 là loại 2 bánh công suất dưới 15 HP (Bạch Q Khang, 2005); và tổng công suất khoảng 3,5 triệu HP Số máy này đã giải quyết làm đất 67% cho cả nước, riêng ĐBSCL đạt hơn 92% làm đất bằng cơ giới

Nhiệm vụ của giao thông nông thôn trong điều kiện hiện nay là phải vận chuyển được máy móc nông cụ Một số các loại máy móc thường được sử dụng hiện nay trên các hệ thống thủy nông nội đồng của vùng ĐBSH là:

1) Làm đất: Trong canh tác lúa, khâu làm đất rất quan trọng, có hai loại máy

thường được dùng để làm đất là mày cày tay và máy kéo

Máy cày tay:

Hình 1: Máy cày tay tại huyện

Trang 11

Máy kéo:

Hiện nông dân dùng máy kéo mang bánh lồng trục trước khi gieo sạ Bánh lồng theo máy kéo MTZ-50 được xem cải biến cơ bản nhất, là thành tựu lớn của nghiên cứu cho các tỉnh phía Bắc trước 1975 Bánh lồng (hoặc thêm thuyền phao, hoặc với bánh hơi thêm bánh phụ bằng thép…) cho phép máy làm đất ruộng nước nền yếu, tăng thời gian làm việc của máy kéo từ 1 vụ lên 2 vụ

Hình 2: Máy cày MTZ 50 làm

đất gieo cấy vụ xuân ở Đồng

Nguyên (Từ Sơn, tỉnh Bắc

Nhược điểm của máy cày MTZ- 50 là hiệu suất nhiên liệu thấp trên ruộng nước, đòi hỏi phải có hệ thống đường giao thông nội đồng tốt để vận chuyển máy móc, chỉ vận hành được trên những cánh đồng lớn, tương đối bằng phẳng Độ trượt bánh trên 40%, lực cản lăn chiếm hơn 50% so với lực kéo… là các kết quả cho thấy

sự kém hiệu quả này Máy kéo 50 HP trên đất khô có thể phát huy công suất kéo 30

HP, nhưng trên ruộng nước công suất kéo chỉ còn 16 HP (TT Khảo nghiệm MNN, 1977)

2) Gieo cấy: Gieo lúa theo hàng có thể dùng công cụ kéo tay (0,5 –

0,7ha/ngày), hoặc dùng máy gieo lúa theo hàng liên hợp với máy kéo 4 bánh trong trường hợp diện tích ruộng rộng, năng suất làm việc cao hơn và đỡ vất vả cho người lao động (3 – 5ha/ngày) Hiện nay, kỹ thuật gieo lúa theo hàng đã được mở

rộng ra một số các tỉnh ĐBSH

Ngày đăng: 18/03/2018, 08:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w