1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác lập kế hoạch trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC

78 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 812,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2 Vai trò của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán BCTC Một cuộc kiểm toán thành công là sự kết hợp của nhiều nhân tố: sự chuẩn bị kỹlưỡng, việc thực hiện đúng quy

Trang 1

MỤC LỤC

Hình 2: Đồ thị biểu hiện mối quan hệ giữa rủi ro và chi phí kiểm toán 19

4.4 Trình tự đánh giá rủi ro kiểm toán 21

5.2.1 Nội dung tìm hiểu: 25

5.2.2 Các phương pháp tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ 26

5.2.3 Mô tả về hệ thống Kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc 26

5.3 Đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát 27

7.1 Khái niệm về chất lượng kiểm toán 29

7.2 Kiểm soát chất lượng trong giai đoạn lập kế hoạch 30

2 Lập kế hoạch kiểm toán: 38

2.1 Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán 38

3 Thực hiện kiểm toán 39

3.1 Kiểm tra các hoạt động kiểm soát 39

3.2 Thực hiện các thủ tục phân tích 39

3.3 Kiểm tra chi tiết 40

4 Hoàn thành cuộc kiểm toán 41

2 Quy trình lập kế hoạch kiểm toán công ty niêm yết do AAC thực hiện 42

Hình 6: Sơ đồ quy trình lập kế hoạch kiểm toán do công ty AAC thực hiện 43

3.5 Tham chiếu cuộc kiểm toán năm trước 50

4 Kế hoạch kiểm toán 51

4.1 Kế hoạch kiểm toán chiến lược 51

4.2 Lập kế hoạch tổng thể 51

4.3 Chương trình kiểm toán 52

4.5 Kiểm tra kế hoạch kiểm toán 53

4.5.1 Công ty đánh giá chất lượng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính 54

4.5.1.1 Kiểm soát chất lượng tại đơn vị được kiểm toán 54

4.5.1.2 Kiểm soát chất lượng tại công ty AAC 55

CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN 56

CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO 56

TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÔNG TY 56

KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC THỰC HIỆN 56

I NHẬN XÉT VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÔNG TY THỰC HIỆN 56

1 Những điều mà công ty đã đạt được 56

2 Những hạn chế của công ty trong lập kế hoạch kiểm toán BCTC các công ty niêm yết 57

II MỘT SỐ Ý KIẾN GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT DO CÔNG TY AAC THỰC HIỆN 59

SVTH: Trương Thị Mỹ Dung – Lớp 35K18

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Hoạt động kiểm toán là một hoạt động độc lập, đây là một ngành nghề mà đầu ra ảnhhưởng sâu rộng đến tính minh bạch của thông tin tài chính trong nền kinh tế nói chung và thịtrường vốn nói riêng Kiểm toán báo cáo tài chính với mục tiêu là giúp cho kiểm toán viên vàcông ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩnmực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và

có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không Để làm được điềunày, bất kỳ một cuộc kiểm toán nào cũng được thực hiện theo trình tự thống nhất, trong đó lập

kế hoạch kiểm toán là bước đầu tiên của quy trình kiểm toán Kế hoạch kiểm toán bao gồmcác nội dung công việc được kiểm toán theo phương pháp phù hợp với chi phí về vật chất,thời gian và số lượng kiểm toán viên cần thiết

Kế hoạch kiểm toán đúng đắn là cơ sở để kiểm toán viên thu thập bằng chứng có giátrị, góp phần đưa ra các nhận xét xác đáng về thực trạng hoạt động của đơn vị được kiểmtoán, giữ vững và nâng cao uy tín, hình ảnh của công ty kiểm toán đối với khách hàng Vìvậy, việc nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn công tác lập kế hoạch kiểm toán để tìm racác vấn đề tồn tại và đưa ra hướng khắc phục là một điều cần thiết

Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 300 và Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 300 quyđịnh và hướng dẫn cụ thể các công việc cần tiến hành trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.Thực tế, các công ty kiểm toán sẽ căn cứ vào quy mô, đặc điểm… của từng khách hàng để có

kế hoạch kiểm toán

Một trong những đối tượng bắt buộc phải công bố Báo cáo tài chính đã được kiểmtoán là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Qua quá trình xét duyệt khắc khe, vớinhững điều kiện nhất định, hiện nay có rất ít công ty kiểm toán được chấp thuận kiểm toánniêm yết Trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn như hiện nay, doanh nghiệp có nhiều động cơđể chế biến số liệu, sức ép và rủi ro đối với các công ty kiểm toán niêm yết là rất lớn Điềunày đòi hỏi các công ty kiểm toán cần có chính sách, quy trình đánh giá rủi ro chặt chẽ ngay

từ khâu chấp nhận khách hàng Thêm vào đó, các công ty niêm yết bắt buộc kiểm toán BCTCbán niên nên công tác lập kế hoạch kiểm toán nhóm khách hàng này có những điểm khác biệthơn các loại hình doanh nghiệp khác

Nắm bắt được vai trò và ý nghĩa của việc lập kế hoạch trong kiểm toán báo cáo tàichính và trải qua quá trình thực tập tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC để biếtđược thực tế công tác lập kế hoạch trong kiểm toán tại công ty, kết hợp với việc tham khảocác tài liệu và sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn TS Đoàn Thị Ngọc Trai và các anhchị trong công ty kiểm toán, em đã chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện công tác lập kế hoạchtrong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại công ty TNHH kiểm toán và kếtoán AAC”

Đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính

Chương 2: Thực tế công tác lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính củacác công ty niêm yết tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch kiểm toán trong kiểmtoán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

SVTH: Trương Thị Mỹ Dung – Lớp 35K18

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

I QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

1 Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính

Để đảm bảo cuộc kiểm toán diễn ra thuận lợi, hiệu quả, tiết kiệm được thời gianvà chi phí cũng như thu thập đầy đủ những bằng chứng thích hợp và đầy đủ, làm căn

cứ cho việc đưa ra ý kiến cuối cùng của KTV thì cuộc kiểm toán nên tuân thủ theo quytrình chung – quy trình kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC)

Nhìn chung, quy trình kiểm toán BCTC doanh nghiệp gồm 3 giai đoạn:

 Lập kế hoạch kiểm toán

Trong giai đoạn này, KTV và công ty kiểm toán cần hoàn thành những công việctrọng tâm sau:

+ Khảo sát và nắm khái quát tình hình của đơn vị được kiểm toán

+ Nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ

+ Lập kế hoạch chiến lược và kế hoạch chi tiết của cuộc kiểm toán

+ Chuẩn bị tổ chức, nhân sự phục vụ cuộc kiểm toán

+ Thiết kế chương trình kiểm toán

 Thực hiện kiểm toán

Đây là quá trình KTV căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được phê duyệt, sử dụngmột cách thích hợp các phương pháp kiểm toán cho từng đối tượng kiểm toán, chotừng nội dung và tình huống cụ thể để thu thập bằng chứng thích hợp và xác thực, hìnhthành nên các đánh giá và kết luận kiểm toán

 Kết thúc kiểm toán

Đây là giai đoạn soát xét lại các công việc đã thực hiện và hoàn thiện hồ sơ làmviệc để đưa ra sản phẩm kiểm toán-chính là báo cáo kiểm toán và thư quản lí (nếu có)

2 Vai trò của giai đoạn lập kế hoạch trong kiểm toán Báo cáo tài chính

2.1 Khái niệm lập kế hoạch kiểm toán

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (CMKTVN) số 300 nêu rõ:

“Kế hoạch kiểm toán là những định hướng cơ bản của cuộc kiểm toán dựa trên hiểu biết của kiểm toán viên (KTV) về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng

và trọng tâm cuộc kiểm toán”

Theo định nghĩa trên thì việc lập kế hoạch trước hết đó là tìm hiểu về “tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng” Trước khi thực hiện cuộc kiểm toán, KTV

phải có hiểu biết biết đầy đủ về tình hình kinh doanh của khách hàng nhằm đánh giá,phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động có ảnh hưởng đến tìnhhình tài chính của đơn vị

Để đưa ra được “những định hướng cơ bản” tức là các kế hoạch, chương trình

kiểm toán thì sau khi tìm hiểu rõ về khách hàng, KTV phải xác định được trọng tâmcủa cuộc kiểm toán đó là những khoản mục, chu trình có rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểmsoát mà KTV đánh giá là cao

Trang 4

Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 300 cũng nêu ra rằng:

“Lập kế hoạch có nghĩa là việc phát triển một chiến lược tổng thể và một phương pháp tiếp cận với chi tiết, tính chất, thời gian dự tính và nội dung của một cuộc kiểm toán”

Nói khác đi, lập kế hoạch kiểm toán chính là đưa ra một lịch trình cụ thể các côngviệc cần thực hiện khi kiểm toán một khách hàng

2.2 Vai trò của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán BCTC

Một cuộc kiểm toán thành công là sự kết hợp của nhiều nhân tố: sự chuẩn bị kỹlưỡng, việc thực hiện đúng quy trình và thủ tục, …Như đã trình bày ở trên, mỗi cuộckiểm toán đều trải qua 3 giai đoạn, và với mỗi giai đoạn, KTV thực hiện các bướccông việc khác nhau nhưng tựu chung lại đều nhằm hướng đến mục tiêu là đưa ra ýkiến xác đáng về BCTC của đơn vị được kiểm toán

Hình 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán BCTC

Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của cuộc kiểm toán Chuẩn mựckiểm toán quốc tế ISA 300 cũng đã nhấn mạnh việc lập kế hoạch kiểm toán một cáchhợp lý đảm bảo được rằng những lĩnh vực quan trọng trong cuộc kiểm toán đó sẽ đượcquan tâm một cách hợp lí, nhận biết được các vấn đề phát sinh và cuối cùng công táckiểm toán được hoàn thành một cách nhanh gọn

Lập kế hoạch cũng hỗ trợ việc phân công công việc một cách hợp lí cho nhữngngười tham gia vào cuộc kiểm toán và việc phối hợp công việc giữa họ được tiến hànhtốt hơn

Việc lập kế hoạch kiểm toán đã được quy định rõ trong các chuẩn mực kiểm toán(CMKT) hiện hành, CMKT thứ tư trong 10 CMKT được thừa nhận rộng rãi (GAAS-

Generally Accepted Auditing Standards) đòi hỏi “công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu có, phải được giám sát đúng đắn” Đoạn 2 trong CMKTVN số 300 cũng nêu rõ “KTV và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán

để đảm bảo cuộc kiểm toán tiến hành một cách hiệu quả” Như vậy việc lập kế hoạch

kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bịnhững điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn lànguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòihỏi các KTV phải tuân theo đầy đủ, nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán cóhiệu quả và chất lượng

Lập kế hoạch kiểm toán luôn giữ vị trí then chốt trong việc tiến hành một cuộckiểm toán đạt hiệu quả cao Lập kế hoạch kiểm toán là bước công việc quan trọng, chiphối chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán Vai trò của giai đoạnnày được thể hiện qua một số điểm sau:

 Kế hoạch kiểm toán giúp KTV thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủvà thích hợp làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về các BCTC, từ đó giúp các

Kết thúc kiểm toán

Trang 5

KTV hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả côngviệc và giữ được uy tín đối với khách hàng Qua đó nâng tầm chất lượng của công tykiểm toán, tạo ra được các ưu thế cạnh tranh với các công ty kiểm toán khác.

 Kế hoạch kiểm toán giúp các KTV phối hợp hiệu quả với nhau cũng như phốihợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bênngoài Đồng thời qua sự phối hợp đồng bộ đó kế hoạch kiểm toán không chỉ giúpcông việc kiểm toán tiến hành thuận lợi, đảm bảo hoàn thành các chương trình đã lậpmà trên cơ sở còn giảm chi phí hợp lý cho các cuộc kiểm toán Hiệu quả của cuộckiểm toán tăng lên đáng kể khi có một bản kế hoạch được xây dựng chu đáo, đảm bảotính đầy đủ và hợp lý

 Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để công ty kiểm toán tránh xảy ranhững bất đồng đối với khách hàng Trên cơ sở kế hoạch đã lập, KTV thống nhất vớicác khách hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũngnhư trách nhiệm mỗi bên nhằm tạo mối quan hệ tốt với khách hàng và tránh xảy ranhững hiểu lầm đáng tiếc giữa hai bên

 Kế hoạch kiểm toán đưa ra các chương trình kiểm toán cụ thể, nội dung cácbước công việc cần thực hiện Từ bản kế hoạch kiểm toán công ty kiểm toán sẽ tínhtoán được chi phí hợp lý của cuộc kiểm toán từ đó có thể đưa ra mức phí kiểm toán màkhách hàng phải trả, đảm bảo có lợi nhuận cho mình nhưng phù hợp với các chi phí đã

bỏ ra Đây là một điểm rất quan trọng trong việc ký kết các hợp đồng kiểm toán

 Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, KTV có thể kiểm soát vàđánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện Từ đó có thể đưa ra các

ý kiến, phương án để nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán

Thực tiễn hoạt động kiểm toán quốc tế và cả trong nước cho thấy kế hoạch kiểmtoán được xây dựng đầy đủ và thích hợp là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến

sự thành công của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các công tykiểm toán

2.3 Yêu cầu trong giai đoạn lập kế hoạch

Với vị trí và vai trò quan trọng trong quy trình kiểm toán BCTC, nên giai đoạnlập kế hoạch phải đạt được một số yêu cầu nhất định nhằm đảm bảo kế hoạch kiểmtoán được lập một cách cụ thể, đầy đủ và thích hợp để làm tiền đề, định hướng cho cảcuộc kiểm toán Yêu cầu đầu tiên đối với một bản kế hoạch kiểm toán đó là nó đượclập dựa trên những hiểu biết về hoạt động, tình hình kinh doanh của khách hàng Theo

CMKTVN mục 10 nêu rõ “ khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải hiểu biết

về hoạt động của đơn vị được kiểm toán để nhận biết các sự kiện, nghiệp vụ có thể ảnh hưởng trọng yếu đên BCTC”

Kế hoạch kiểm toán được lập dựa trên sự hiểu biết của KTV về khách hàng, nóphải đảm bảo được các yêu cầu về nội dung để thực sự là kim chỉ nam cho cuộc kiểmtoán.Theo CMKTVN số 300 phần nội dung quy định:

“Kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn Kế hoạch kiểm toán trợ giúp kiểm toán viên phân công việc cho trợ lý kiểm toán và phối hợp với kiểm toán viên và các chuyên gia khác về công việc kiểm toán.”

Trang 6

Như vậy lập kế hoạch kiểm toán là yêu cầu bắt buộc đối với mọi cuộc kiểmtoán Nội dung của kế hoạch phải chỉ rõ trọng tâm của cuộc kiểm toán, đồng thời vạch

ra phương hướng, cách thức giải quyết các vấn đề trọng tâm đó, đảm bảo tính hữu hiệucủa cuộc kiểm toán là phát hiện các sai phạm trọng yếu

Nội dung của kế hoạch kiểm toán phải thể hiện tính đầy đủ và hữu hiệu tuy, đồng

thời nó cũng phải thể hiện tính thích hợp CMKTVN số 300 mục 09 thể hiện “phạm vi

kế hoạch kiểm toán sẽ thay đổi tuỳ theo quy mô khách hàng, tính chất phức tạp của công việc kiểm toán, kinh nghiệm và những hiểu biết của KTV về đơn vị và hoạt động của đơn vị được kiểm toán” Đây là nội dung mang tính thực tiễn cao, trong quá trình

lập kế hoạch, dựa vào tình hình thực tế mà KTV lập nên bản kế hoạch tránh các chi phíbất hợp lý, các hoạt động chồng chéo, trùng lặp và không hiệu quả Yêu cầu này nhằmđảm bảo mục đích lợi nhuận hợp lý công ty kiểm toán, chất lượng và tính hiệu quả củacuộc kiểm toán trên phương diện kế hoạch

3 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thường bao gồm hai bước:

Giai đoạn tiền kế hoạch (hay chuẩn bị kế hoạch kiểm toán)

Giai đoạn tiền kế hoạch là quá trình thu thập những thông tin liên quan đến kháchhàng nhằm giúp KTV có cái nhìn tổng quát về khách hàng trước khi quyết định ký kếthợp đồng kiểm toán

Lập kế hoạch kiểm toán:

Lập kế hoạch kiểm toán là quá trình thiết kế trình tự công việc một cách hợp lýnhất để đem lại hiệu quả cho cuộc kiểm toán Quá trình lập kế hoạch thường bao gồmnhững công việc như: tìm hiểu khách hàng, tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ, xácđịnh mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán để lập kế hoạch và thiết kế chươngtrình kiểm toán

II TRÌNH TỰ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN

1 Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán

1.1 Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán

Trong một lĩnh vực phải chịu nhiều cạnh tranh như nghề kiểm toán, để có và giữđược khách hàng tuy có những khó khăn, nhưng KTV vẫn cần phải thận trọng khiquyết định tiếp nhận khách hàng Bởi lẽ, rủi ro có thể phải gánh chịu trách nhiệm pháplí của KTV rất cao, do đó nếu nhận kiểm toán cho những khách hàng thiếu trung thực,hoặc thường tranh luận về phạm vi kiểm toán và giá phí, hoặc nếu vi phạm đạo đứcnghề nghiệp, KTV có thể sẽ gặp nhiều bất lợi nghiêm trọng trong tương lai và uy tín,hình ảnh của công ty kiểm toán ít nhiều cũng bị ảnh hưởng Vì vậy, trước khi quyếtđịnh chấp nhận hoặc duy trì khách hàng, Ban Giám đốc công ty kiểm toán cần thựchiện các công việc sau đây:

1.1.1 Xem xét tính độc lập của công ty kiểm toán

Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của KTV và công ty kiểm toán, là mộttrong 7 chuẩn mực đạo đức quan trọng nhất của nghề kiểm toán Các thông tin trênBCTC sau kiểm toán có ảnh hưởng, liên quan đến nhiều đối tượng, vì vậy đòi hỏithông tin đó phải trung thực, khách quan Điều này đòi hỏi những người thực hiệnkiểm toán phải có tính độc lập với khách hàng được kiểm toán cụ thể, bao gồm cả độclập về tư tưởng và độc lập về hình thức Độc lập về tư tưởng là việc KTV đưa ra ý kiến

Trang 7

mà không chịu ảnh hưởng của những tác động trái với những đánh giá chuyên nghiệp,cho phép KTV hành động một cách chính trực, khách quan và có sự thận trọng nghềnghiệp Độc lập về hình thức là KTV không có quan hệ thực tế và hoàn cảnh có ảnhhưởng đáng kể làm cho bên thứ ba hiểu là không độc lập hoặc hiểu là tính chính trực,khách quan và thận trọng nghề nghiệp của KTV không được duy trì

1.1.2 Xem xét khả năng phục vụ tốt khách hàng.

Khách hàng tiềm năng của công ty kiểm toán có thể rất nhiều, tuy nhiên để thựchiện được một hợp đồng kiểm toán thành công ngoài sự đồng ý từ phía khách hàng thìcông ty kiểm toán phải đánh giá đúng năng lực của mình Vì hoạt động kiểm toán córủi ro cao, công ty kiểm toán phải có trách nhiệm trước pháp luật về những ý kiến củamình đưa ra nên tuỳ quy mô đối tượng khách hàng, tính chất công việc đối chiếu vớinăng lực khả năng hiện có thì công ty kiểm toán mới ra quyết định có thực hiện cuộckiểm toán hay không Đây cũng là một yêu cầu để duy trì hoạt động lâu dài của công

ty kiểm toán, vì chỉ có phục vụ tốt khách hàng, đánh giá đúng năng lực và tích cựchoàn thiện thì mới đủ khả năng để cạnh tranh và gây dựng uy tín, chất lượng trongcung cấp dịch vụ “niềm tin”

1.1.3 Tính liêm khiết của ban quản trị (ban Giám đốc)của đơn vị được kiểm toán

Theo CMKTVN số 400 “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”, tính liêm khiết củaban quản trị là bộ phận cấu thành then chốt của môi trường kiểm soát, đây là nền tảngcho tất cả các bộ phận khác của hệ thống kiểm soát nội bộ Vì vậy tính liêm khiết củaban quản trị rất quan trọng đối với quy trình kiểm toán bởi lẽ ban quản trị có thể phảnảnh sai các nghiệp vụ hoặc giấu giếm các thông tin dẫn tới các sai phạm trọng yếu trênBCTC CMKTVN số 240 “Gian lận và sai sót”, nhấn mạnh tầm quan trọng về tínhchính trực của ban quản trị, ảnh hưởng của nó tới môi trường kiểm soát như là nhân tốrủi ro ban đầu của việc báo cáo gian lận các thông tin tài chính Nếu ban quả trị thiếuliêm khiết, KTV không thể dựa vào bất cứ giải trình nào của ban quản trị cũng nhưkhông thể dựa vào các sổ sách kế toán Thêm vào đó, ban quản trị đứng hàng đầu trongviệc tạo ra một môi trường kiểm soát vững mạnh Những nghi ngại về tính liêm khiếtcủa ban quản trị có thể nghiêm trọng đến mức KTV kết luận rằng cuộc kiểm toánkhông thể thực hiện được

1.1.4 Khả năng hệ thống kế toán cung cấp đầy đủ bằng chứng về NVKT phát sinh

Theo CMKTVN số 500 mục 02 quy định “Kiểm toán viên và công ty kiểm toánphải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiếncủa mình về báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán” Vì vậy KTV muốn đưa rađược ý kiến của mình thì phải có bằng chứng kiểm toán đầy đủ tương ứng, mà nguồnbằng chứng chủ yếu (như chứng từ, sổ sách kế toán ) liên quan đến báo cáo tài chínhlà do hệ thống kế toán của đơn vị cung cấp Nên việc xem xét khả năng hệ thống kếtoán của khách hàng có cung cấp đầy đủ bằng chứng về nghiệp vụ kinh tế phát sinhhay không là yêu cầu bắt buộc của KTV khi đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán

1.1.5 Thỏa thuận về phí kiểm toán

Với đặc thù của ngành kiểm toán độc lập là tổ chức của các KTV chuyên nghiệp,thực hiện các dịch vụ kiểm toán, dịch vụ tư vấn theo yêu cầu của khách hàng trên cơ

Trang 8

sở các hợp đồng kiểm toán Đối với các hoạt động cung cấp dịch vụ thì giá phí là mộttrong những điều khoản cực kỳ quan trọng quyết định đến tính thực thi trách nhiệm vànghĩa vụ của các bên liên quan Hợp đồng kiểm toán hay hợp đồng cung cấp dịch vụđều mang bản chất là hợp đồng kinh tế và được lập trên cơ sở thỏa thuận theo Luật dân

sự và luật thương mại của nước ta Việc thỏa thuận giá phí hoàn toàn trên cơ sở tựnguyện giữa công ty kiểm toán với khách hàng dựa trên nguyên tắc “hợp tác bình đẳng

- cả hai bên cùng có lợi” Phí kiểm toán phải phù hợp và có tính phân loại đối với cácdịch vụ khác nhau cung cấp cho khách hàng và tôn trọng cơ sở sự thỏa thuận, phảiđược định lượng cụ thể dựa trên cơ sở xác định các chi phí cho việc cung cấp dịch vụmột cách xác đáng, rõ ràng

1.1.6 Đối với khách hàng mới

1.1.6.1 Khách hàng mới và chưa được công ty nào kiểm toán trước đó.

Trước hết KTV cần tìm hiểu lí do mời kiểm toán của khách hàng tiềm năng, thuthập thông tin về các khía cạnh như lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, tình trạng tàichính…đặc biệt đối với những khách hàng có BCTC được sử dụng rộng rãi như cáccông ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán, những công ty có nhiều côngnợ… thì KTV cần thu thập thông tin từ ngân hàng dữ liệu, tạp chí, sách báo chuyênngành…từ các đối tượng có quan hệ tài chính, quan hệ thương mại với đơn vị nhưngân hàng giao dịch, nhà cung cấp, khách hàng…Trong một số trường hợp, nếu thôngtin có tính phức tạp, thuộc các lĩnh vực chuyên sâu mà KTV chưa có kinh nghiệm,không am hiểu được thì công ty kiểm toán có thể thuê các điều tra viên chuyên nghiệp,chuyên gia tư vấn… Hiện nay các công ty kiểm toán có xu hướng giảm dần các kháchhàng có rủi ro cao để giảm thiểu các vụ kiện tụng từ khách hàng hoặc các đối tượngkhác Bởi vì rủi ro kiện tụng cho cuộc kiểm toán làm công ty kiểm toán không nhữngbị tổn thất lớn về mặt tài chính mà còn ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh của công ty

1.1.6.2 Khách hàng mới và đã được kiểm toán bởi công ty kiểm toán khác trước đó

Nếu khách hàng đã có KTV tiền nhiệm, Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp củaViệt Nam yêu cầu KTV được mời cần tìm hiểu lý do nghề nghiệp khiến cho KTV tiềnnhiệm không thể tiếp tục công việc thông qua trao đổi trực tiếp với họ Các trao đổinày giúp cho KTV được mời hiểu được lý do bổ nhiệm để quyết định có nhận côngviệc hay không, như là: tính liêm chính của ban quản trị, những mâu thuẫn, bất đồnggiữa KTV tiền nhiệm với ban quản trị về các nguyên tắc kế toán, các thủ tục kiểm toánáp dụng và các vấn đề quan trọng khác cũng như tìm hiểu lý do khách hàng thay đổiKTV…Bên cạnh đó, thông qua KTV tiền nhiệm, KTV được mời cũng thu thập đượccác thông tin về lĩnh vực và môi trường hoạt động, tình hình tài chính, kinh doanh vàvị trí của công ty khách hàng trong ngành… Ngoài ra KTV có thể xem xét hồ sơ kiểmtoán của KTV tiền nhiệm để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch kiểm toán của mình Tuynhiên, việc thiết lập mối quan hệ giữa KTV tiền nhiệm và KTV được mời phải được sựchấp thuận của đơn vị khách hàng và sự đồng ý của KTV tiền nhiệm trong nhiềutrường hợp

1.1.7 Đối với khách hàng cũ

Hằng năm, sau khi hoàn thành kiểm toán, KTV cần cập nhật thông tin nhằm đánhgiá lại các khách hàng hiện hữu, ví dụ sẽ có thể phát sinh những vấn đề mới, có các sựkiện của năm hiện tại làm giới hạn về phạm vi kiểm toán chẳng hạn xung đột về lợi ích

Trang 9

giữa khách hàng hiện tại này với khách hàng hiện tại khác khiến KTV không thể tiếptục kiểm toán cho họ Ngoài ra có trường hợp, KTV cũng cần ngưng kiểm toán chokhách hàng, ví dụ như đang xảy ra tranh chấp giữa khách hàng với KTV hay giữa đôibên có sự mâu thuẫn về phạm vi kiểm toán, hay từng có những tranh luận về nhữngthủ tục kiểm toán cần thực thi

1.2 Tìm hiểu lý do mời kiểm toán của khách hàng

Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là việcxác định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng báo cáo của họ

Việc xác định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng báo cáo của họ là haiyếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ chính xác của ý kiến đưa ra và số lượng bằngchứng phải thu thập Đó là cơ sở để thiết kế phương pháp kiểm toán và lựa chọn độingũ KTV thích hợp Cụ thể, nếu các BCTC của công ty cổ phần đã lên sàn cần được

sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên BCTC được đòihỏi càng cao và do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập, cũng như quy môvà độ phức tạp của cuộc kiểm toán sẽ càng tăng lên Điều này lại càng đòi hỏi phải cómột số lượng KTV có trình độ và nằn lực thích hợp để thực hiện cuộc kiểm toán

Theo Luật Kiểm toán độc lập, có sáu đối tượng bắt buộc kiểm toán đối với BCTChằng năm gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức tín dụng, tổ chức tàichính, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, công tyđại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán

Đồng thời, bắt buộc kiểm toán đối với báo cáo quyết toán dự án hoàn thành vàcác thông tin tài chính khác của doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp, tổ chức thựchiện dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước; doanh nghiệp,

tổ chức có vốn góp của Nhà nước và các dự án khác do Chính phủ quy định……Cùngvới sự phát triển kinh tế thì số lượng các khách hàng tìm đến với các công ty kiểm toánngày càng đa dạng hơn với nhiều mục đích khác nhau như: kiểm toán trước khi cổphần hóa, kiểm toán trước khi giải thể, phá sản hoặc sáp nhập,…làm cho số lượngngười sử dụng báo cáo tài chính tăng lên rất nhiều Do vậy công ty kiểm toán cần phảixác định lý do kiểm toán của khách hàng, căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh và những hiểu biết chung về khách hàng cũng như dựa trên khả năng của công

ty để ra quyết định hợp lý trong việc ký kết hợp đồng kiểm toán, cũng như xây dựngphương pháp tiếp cận kiểm toán Thông thường các doanh nghiệp mời kiểm toán vớicác lý do khác nhau:

 Đáp ứng yêu cầu công khai BCTC hằng năm theo quy định của pháp luậthoặc cơ quan chủ quản…

 Kiểm toán để báo cáo tài chính của doanh nghiệp có mức độ tin cậy cao hơn

 Kiểm toán trước khi lên sàn giao dịch chứng khoán

 Kiểm toán theo quy định của tổng công ty hoặc tập đoàn

 Kiểm toán trước khi giải thể hay phá sản

 Kiểm toán để vay vốn ngân hàng hoặc đấu thầu

 …

Như vậy thông qua việc nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng, công ty kiểmtoán cần ước lượng được quy mô phức tạp của công việc kiểm toán cần thực hiện từ đó

Trang 10

tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp để thực hiệncuộc kiểm toán ở bước tiếp theo trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

Trang 11

1.3 Lựa chọn đội ngũ KTV và trợ lí kiểm toán

Đoạn 12, VSA 220 – Kiểm soát chất lượng kiểm toán, yêu cầu “công việc kiểm toán phải được giao cho những cán bộ, nhân viên chuyên nghiệp được đào tạo đầy đủ

kỹ năng và năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu thực tế”

Việc lựa chọn đội ngũ KTV cho một cuộc kiểm toán cần dựa trên yêu cầu về sốngười, trình độ, năng lực của KTV và các yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật, thường doBan giám đốc công ty kiểm toán trực tiếp chỉ đạo Nhóm kiểm toán thông thường cómột hoặc hai trợ lý kiểm toán, một KTV cao cấp và một chủ nhiệm kiểm toán Đối vớicác hợp đồng lớn, đội ngũ KTV thường ở các mức kinh nghiệm khác nhau và có sựtham gia của các chuyên gia về thống kê, tin học

Một số lưu ý khi lựa chọn nhân sự cho cuộc kiểm toán cần quan tâm:

- Nhóm KTV cần có những người có khả năng giám sát thích đáng những nhânviên chưa có kinh nghiệm Thông thường, các KTV chính sẽ là người phân công côngviệc cụ thể cho các trợ lí kiểm toán và cũng chịu trách nhiệm soát xét lại các giấy làmviệc của trợ lí cấp dưới

- Lựa chọn những KTV có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanhcủa khách hàng

- Đối với khách hàng lâu năm, một mặt công ty kiểm toán nên hạn chế việcthường xuyên thay đổi KTV, nhằm giúp cho họ nắm vững được những đặc thù trongkinh doanh, duy trì được mối quan hệ mật thiết giữa hai bên Mặt khác, công ty kiểmtoán phải có chính sách luân chuyển KTV để tránh việc quá quen thuộc với kháchhàng, dễ dẫn đến sức ỳ về tâm lý và kiểm tra theo lối mòn, hoặc mất đi tính kháchquan độc lập

1.4 Ký kết hợp đồng kiểm toán

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 210 “Hợp đồng kiểm toán là sự thoả thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia ký kết (công ty kiểm toán, khách hàng) về các điều khoản và điều kiện thực hiện kiểm toán của khách hàng và công ty kiểm toán, trong đó xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, hình thức báo cáo kiểm toán, thời gian thực hiện và các điều khoản về phí, về xử lý khi tranh chấp hợp đồng”.

Hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hành côngviệc kiểm toán nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng và công ty kiểm toán Kháchhàng và công ty kiểm toán phải thống nhất với nhau các điều kiện và điều khoản tronghợp đồng trên cơ sở thỏa thuận và tôn trọng lẫn nhau Các thỏa thuận này phải đượcghi lại cụ thể trong hợp đồng hoặc các hình thức cam kết khác được chấp nhận

Hợp đồng cũng phải nói rõ mọi giới hạn được đặt ra cho công việc của KTV,thời hạn cuối cùng để hoàn thành cuộc kiểm toán, sự giúp đỡ của công ty khách hàngtrong quá trình thu thập số liệu và chứng từ, và các bảng kê phải lập cho kiểm toánviên Thông thường trong hợp đồng kiểm toán cũng đề cập đến thỏa thuận về phí kiểmtoán Hợp đồng kiểm toán cũng là phương tiện để thông báo cho khách hàng là KTV

sẽ không chịu trách nhiệm đối với việc phát hiện tất cả những hành vi gian lận

Trang 12

Hợp đồng kiểm toán gồm các nội dung chủ yếu sau:

Mục đích và phạm vi kiểm toán: Trong cuộc kiểm toán BCTC do kiểm toán độc

lập tiến hành, mục tiêu của cuộc kiểm toán thường là xác định tính trung thựcvà hợp lý của các thông tin trên BCTC Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn vềkhông gian, thời gian của đối tượng kiểm toán, thường được xác định cùng vớiviệc xác định mục tiêu của cuộc kiểm toán Trong cuộc kiểm toán BCTC, phạm

vi kiểm toán thường là toàn bộ BCTC của năm kết thúc

Trách nhiệm Ban giám đốc công ty khách hàng và kiểm toán viên: Ban giám

đốc có trách nhiệm trong việc lập và trình bày trung thực các thông tin trên báocáo tài chính, kiểm toán viên có trách nhiệm đưa ra ý kiến độc lập về báo cáotài chính dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán Và trách nhiệm của công tykhách hàng trong việc cung cấp các tài liệu và thông tin liên quan đến công việckiểm toán

Hình thức thông báo kết quả kiểm toán: Kết quả kiểm toán thường được biểu

hiện cụ thể dưới một báo cáo kiểm toán và có kèm theo một thư quản lý trong

đó nêu rõ những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc những gợi ýsửa chữa những khiếm khuyết này

Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán: Thời gian thực hiện kiểm toán sơ bộ, kiểm

toán chính thức, thời điểm kết thúc kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán

Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán phí kiểm toán.

Sau khi hợp đồng kiểm toán được ký kết, công ty kiểm toán trở thành chủ thểkiểm toán chính thức của công ty khách hàng

Tại nhiều nước, KTV có thể gửi cho khách hàng “Thư hẹn kiểm toán”, sau khikhách hàng xác nhận vào thư hẹn và gửi lại cho KTV, nó sẽ có vai trò tương tự nhưmột hợp đồng kiểm toán VSA 210 cho phép sử dụng thư hẹn kiểm toán trong một sốtrường hợp nhưng phải đảm bảo đầy đủ các điều khoản và nội dung của hợp đồngkiểm toán

2 Thu thập thông tin chung về khách hàng

Khi đã trở thành KTV đương nhiệm của khách hàng, KTV chuyển sang việc lập

kế hoạch kiểm toán Để có thể xây dựng, thực hiện kế hoạch kiểm toán và chươngtrình kiểm toán hiệu quả, trước hết KTV phải hiểu biết đầy đủ về khách hàng, chủ yếulà về tình hình kinh doanh và hệ thống kiểm soát nội bộ Những hiểu biết này sẽ giúpKTV hoạch định những thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc điểm hoạt động của đơn vị,nhất là giúp KTV xác định những khu vực có rủi ro cao để có những biện pháp thíchhợp

CMKT Việt Nam số 310 - Hiểu biết về tình hình kinh doanh - quy định “để thực hiện kiểm toán BCTC, KTV phải có hiểu biết đầy đủ về tình hình kinh doanh, nhằm đánh giá và phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị mà theo KTV thì có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đến việc kiểm tra của KTV, hoặc đến BC kiểm toán…”

2.1 Nội dung thông tin cần thu thập

2.1.1 Thông tin cơ bản

Trang 13

Việc am hiểu về công việc kinh doanh và ngành nghề kinh doanh của khách hàngvà kiến thức về mặt hoạt động của công ty là cần thiết cho việc thực hiện kiểm toánđầy đủ Phần lớn thông tin này được thu thập ở các văn phòng của công ty khách hàng,nhất là đối với một khách hàng mới Các thông tin cần thu thập thường bao gồm:

2.1.1.1 Thu thập kiến thức về ngành kinh doanh và hoạt động kinh doanh của khách hàng

Để thuyết minh đầy đủ ý nghĩa thông tin thu thập được trong suốt cuộc kiểmtoán, cần thiết phải hiểu được kinh doanh của khách hàng Những lĩnh vực riêng củacác ngành khác nhau được phản ánh trong các báo cáo tài chính

Sự hiểu biết về ngành kinh doanh của khách hàng có thể thu thập theo nhiều cáchkhác nhau Đó là qua những cuộc tranh luận đối với KTV có trách nhiệm với hợp đồngtrong những năm trước và các KTV hiện nay trong các hợp đồng tương tự, cũng nhưqua các buổi hội nghị với nhân viên của công ty khách hàng Hiện có sẵn một số sáchhướng dẫn về kiểm toán ngành, sách giáo khoa, và tạp chí nghiệp vụ về kiểm toán đểKTV nghiên cứu Một số KTV theo thông lệ đặt mua dài hạn các tạp chí chuyên ngànhđối với những ngành mà họ dành phần lớn thời gian vào đó Kiến thức đáng kể cũng

có thể thu thập theo cách tham dự một cách tích cực vào các Hiệp hội ngành và cácchương trình huấn luyện

Kiến thức về những lĩnh vực công việc kinh doanh của khách hàng mà làm nókhác biệt với công ty khác trong cùng ngành cũng là cần thiết để thực hiện quá trình sosánh trong ngành đó Tương tự, thông tin như cơ cấu tổ chức, phương pháp đánh giáhàng tồn kho, và các đặc điểm riêng của công việc kinh doanh nơi khách hàng cũngphải được hiểu rõ trước khi bắt đầu cuộc kiểm toán

Hồ sơ thường xuyên của kiểm toán viên thường bao gồm lịch sử của công ty,danh sách những mặt hàng kinh doanh chủ yếu, và sổ ghi chép các chính sách kế toánquan trọng nhất trong những năm trước Nghiên cứu thông tin này và bàn luận với cácnhân viên của công ty khách hàng sẽ giúp ích cho việc hiểu biết công việc kinh doanhcủa công ty khách hàng một cách đầy đủ và rõ ràng hơn

2.1.1.2 Xét lại các chính sách của công ty

Nhiều chính sách và quyền hạn của công ty được phản ánh trên BCTC là mộtphần của cơ cấu kiểm soát nội bộ nhưng ngoài phạm vi của hệ thống kế toán Chúnggồm những vấn đề như quyền hạn đối với sự nhượng lại một phần hoạt động kinhdoanh, các chính sách tín dụng, những món tiền cho các chi nhánh vay, và các chínhsách kế toán đối với việc ghi sổ tài sản và thừa nhận một khoản phải thu Các quyếtđịnh cơ bản về chính sách phải luôn luôn được đánh giá một cách thận trọng như mộtphần của công tác kiểm toán để xác định xem Ban quản trị có được Hội đồng quản trịphê chuẩn để lập một vài quyết định nhất định, và để đảm bảo là các quyết định củaBan quản trị đã được phản ánh một cách đúng đắn trên các báo cáo

Một cách làm hữu ích mà nhiều công ty kiểm toán làm theo là ghi vào hồ sơthường trực những chính sách quan trọng nhất mà khách hàng chấp hành và tên củangười hoặc nhóm người được ủy quyền để thay đổi chính sách đó Việc đưa vào hồ sơthường xuyên các nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận đặc biệt hữu ích trong việcgiúp kiểm toán viên xác định liệu khách hàng đã có thay đổi các nguyên tắc kế toánhay không

2.1.1.3 Nhận diện các bên liên quan:

Trang 14

Các nghiệp vụ kinh tế với các bên có liên quan rất quan trọng đối với KTV vìchúng phải được tiết lộ trên các BCTC nếu chúng trọng yếu Các nguyên tắc kế toán

đã được thừa nhận quy định sự tiết lộ bản chất của mối quan hệ giữa các thành phầnliên quan, sự mô tả các nghiệp vụ kinh tế, gồm cả số tiền và số tiền nợ hoặc bị nợ củacác bên có liên quan

Theo CMKTVN 550- Các bên liên quan, các bên liên quan được hiểu là: các bộphận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty khách hàng hay bất kỳ công tychi nhánh, một cá nhân hay tổ chức nào đó mà công ty khách hàng có quan hệ và cáccá nhân tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể tớicác chính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị của công ty khách hàng

Vì các nghiệp vụ kinh tế giữa các bên liên quan phải được tiết lộ nên điều quantrọng là tất cả các bên liên quan phải được nhận diện và đưa vào trong hồ sơ thườngtrực lúc bắt đầu hợp đồng Việc phát hiện các nghiệp vụ kinh tế giữa các bên có liênquan chưa được biết được khuyến khích Các cách làm thông thường để nhận diện cácbên có liên quan bao gồm điều tra Ban quản trị, xem xét lại các tài liệu lưu trữ và kiểmtra các danh sách cổ đông để nhận diện các cổ động chủ yếu

2.1.1.4 Đánh giá nhu cầu chuyên gia bên ngoài:

Khi một KTV đứng trước các tình huống đòi hỏi kiến thức chuyên môn thì có thểcần tham vấn các chuyên viên Chẳng hạn như việc sử dụng chuyên viên về kim cươngđể đánh giá chi phí thay thể của kim cương,… Một cách sử dụng chuyên gia thôngthường nữa là việc tham vấn của các luật sư đối với các văn bản hướng dẫn hợp pháp

về hợp đồng và quyền sở hữu

KTV phải có một sự hiểu biết đầy đủ về công việc kinh doanh của khách hàng đểthừa nhận nhu cầu chuyên gia Lập kế hoạch đúng đắn là điều cần thiết để đảm bảorằng chuyên gia đã có sẵn khi cần và rằng họ vừa có năng lực, và nếu cần, độc lập vớicông ty khách hàng

2.1.2 Thu thập thông tin về những nghĩa vụ pháp lý của khách hàng:

Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho KTV hiểu được về các mặthoạt động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập các thông tin về các nghĩa vụpháp lý của khách hàng giúp cho KTV nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý

có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin này được thuthập trong quá trình tiếp xúc với Ban giám đốc công ty khách hàng bao gồm bốn loạisau:

• Giấy phép thành lập và điều lệ công ty

• Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiệnhành hay trong vài năm trước

• Biên bản các cuộc họp cổ đông

• Các hợp đồng và cam kết quan trọng

2.2 Các phương pháp thu thập thông tin

2.2.1 Trao đổi trực tiếp với khách hàng

Qua sự trao đổi với ban giám đốc, thành viên hội đồng quản trị và cán bộ côngnhân viên của công ty khách hàng sẽ giúp KTV thu thập được nhiều thông tin về bộmáy quản lý và tình hình hoạt động của công ty trong thời gian qua Ngoài ra còn có

Trang 15

thể trao đổi với các KTV nội bộ và xem xét các báo cáo nội bộ để có những cái nhìnsâu hơn về các công tác quản lý và công tác kế toán của đơn vị.

Trang 16

2.2.2 Tham quan đơn vị

Để tận mắt quan sát về mọi hoạt động của khách hàng, KTV cần tham quan nhàxưởng, cửa hàng, văn phòng làm việc….của đơn vị Những điều “mắt thấy tai nghe”bao giờ cũng hữu ích hơn Nó sẽ mang lại cho KTV cơ hội:

• Tiếp cận và quan sát các thiết kế và vận hành của hệ thống KSNB

• Quan sát thực tế đối với các phương tiện kinh doanh, cách bố trí và sử dụngchúng, qua đó bước đầu hình dung về hoạt động của các phân xưởng, cửa hàng,

về sản phẩm dở dang, về thiết bị,…từ đó KTV hiểu hơn về tình hình hoạt độngthực tế của khách hàng

• Mang lại cơ hội gặp mặt các nhân vật chủ chốt cũng như cũng có những nhậnđịnh ban đầu về phong cách quản lý của ban giám đốc, tính hệ thống trong việcsắp đặt công việc…

2.2.3 Trao đổi với các đối tượng liên quan khác

 Trao đổi với KTV tiền nhiệm của đơn vị, xem xét hồ sơ kiểm toán nămtrước Đây là cách thu thập thông tin nhanh chóng và hiệu quả tuy nhiênthông tin thu thập được là gián tiếp và không mang tính cập nhật

 Trao đổi với KTV nội bộ và xem xét BC kiểm toán nội bộ

 Trao đổi với các đối tượng bên ngoài: các chuyên gia, luật sư của đơn vị, các

cơ quan chủ quản, khách hàng, nhà cung cấp…

3 Thực hiện thủ tục phân tích

Phân tích là một thủ tục quan trọng trong kiểm toán, đó là sự so sánh giữa nhữngthông tin khác nhau nhằm đánh giá về các mối quan hệ và xu hướng phát triển Do rấthiệu quả, thủ tục này được KTV sử dụng trong suốt quá trình kiểm toán Trong giaiđoạn lập kế hoạch, KTV thực hiện phân tích sơ bộ BCTC nhằm định ra những hướng

đi trọng tâm cho cuộc kiểm toán

3.1 Khái niệm

CMKT Việt Nam số 520 – Quy trình phân tích, nêu ra định nghĩa:

“Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến.”

Thủ tục phân tích được dùng để thu thập bằng chứng về những sai lệch trọng yếutrong BCTC Thủ tục phân tích không những không dừng lại ở việc tìm hiểu tình hìnhcủa khách hàng mà còn dùng để phát hiện ra những số liệu có khả năng bị sai lệch

3.2 Phân loại thủ tục phân tích

Phân tích tính hợp lý: là quá trình tính toán nhằm đưa ra các ước tính của KTVcho một số dư hay khoản mục trên BCTC, rồi so sánh số liệu ước tính với sổ sách củađơn vị, từ đó tìm hiểu những chênh lệch bất thường

Trang 17

Phân tích xu hướng: là xem xét xu hướng biến động của số liệu theo thời gian

và phát hiện ra xu hướng bất thường( tăng hoặc giảm đột biến) mà không có lý do rõràng

Phân tích dự báo: việc phân tích này được áp dụng để ước tính về một số dư tài

khoản hay một loại hình nghiệp vụ

Phân tích tỷ suất: bao gồm việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai hay nhiều

biến động của các khoản mục trên báo cáo tài chính Phân tích tỷ suất rất có hiệu quảbởi nó phản ánh một cách khái quát những mối quan hệ giữa nhiều khoản mục trênBCTC Mặt khác, nó giúp KTV so sánh tình hình tài chính của khách hàng thông quacác tỷ số về tình hình tài chính của một công ty khác trong cùng lĩnh vực, ngành nghềmà công ty này hoạt động có hiệu quả, hoặc so sánh với chỉ tiêu bình quân ngành đểđánh giá những thuận lợi cũng như khó khăn mà khách hàng đang gặp phải

Phân tích hồi quy: là phương pháp sử dụng số liệu của quá khứ, những dữ liệu

đã diễn ra theo thời gian hoặc diễn ra tại cùng một thời điểm để thiết lập mối quan hệgiữa các hiện tượng và sự kiện có liên quan Mối quan hệ này được biểu diễn dướidạng phương trình gọi là phương trình hồi quy

3.3 Mục đích của thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch

Trong giai đoạn lập kế hoạch, phân tích chủ yếu được tiến hành đối với BCTC.Ngoài việc bước đầu giúp KTV hiểu rõ hơn tình hình hoạt động kinh doanh của kháchhàng, phân tích còn giúp phát hiện những biến động bất thường qua đó giúp dự đoánnhững khu vực có rủi ro cao Theo chuẩn mực số 520 “Quy trình phân tích”, KTV nênáp dụng thủ tục phân tích trong tiến trình lập kế hoạch vì:

 KTV phải áp dụng quy trình phân tích trong tiến trình lập kế hoạch kiểm toánđể tìm hiểu tình hình kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể có rủi ro.Quy trình phân tích giúp KTV xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tụckiểm toán khác

Ngoài ra, thông qua phân tích sơ bộ tình hình tài chính (nhất là khả năng thanhtoán), kiểm toán viên còn xem xét thêm liệu giả định hoạt động liên tục có thể bị viphạm hay không? Đánh giá ban đầu về giả định này sẽ là cơ sở để KTV quyết định cóthực hiện các thủ tục xác minh cần thiết hay không

3.4 Nội dung thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch.

KTV phải thu thập và nghiên cứu tài liệu, tham quan đơn vị, phỏng vấn các cánhân có liên quan và thực hiện phân tích sơ bộ báo cáo tài chính để đạt được nhữnghiểu biết đầy đủ về đơn vị Sau đó, KTV tiến hành phân tích sơ bộ theo trình tự sau:

 Tiến hành lập bảng so sánh các số liệu từ báo cáo tài chính giữa năm nay vớinăm trước để xác định những chênh lệch tuyệt đối và tương đối

Tính toán các tỷ số tài chính cơ bản như: Tỷ suất thanh toán nhanh; Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE); Tỷ suất nợ v.v…

 Xem xét các mối quan hệ bất thường như việc vòng quay hàng tồn kho nhanhnhưng tỷ lệ lãi gộp lại có xu hướng giảm

 So sánh và ghi nhận các biến động tuyệt đối, ví dụ: Chênh lệch lớn hơn 10%(Giữa số ước tính và số thực tế)

Trang 18

 So sánh và ghi nhận những biến động bất thường (Doanh thu hàng năm giảm,năm nay lại tăng đột biến…)

Lưu ý, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, điều kiện tài chính và khả năng trả

nợ đến hạn của đơn vị phải được KTV chú trọng khi thực hiện thủ tục phân tích Tìnhtrạng xấu đi của khả năng thanh khoản hay các tỷ số sinh lời của đơn vị có thể là một biểuhiện của rủi ro tiềm tàng, dẫn đến rủi ro đơn vị sẽ trình bày sai lệch trọng yếu trên BCTC

4 Đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Bước tiếp theo trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán là đánh giá tính trọng yếu vàrủi ro nhằm đưa ra những định hướng cơ bản cho cuộc kiểm toán

4.1 Tính trọng yếu

4.1.1 Khái niệm trọng yếu

CMKT Việt Nam số 320 – Tính trọng yếu kiểm toán, định nghĩa

“Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một

số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính

Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Mức trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính.”

Nói cách khác, trọng yếu xét trong mối quan hệ với nội dung kiểm toán, là kháiniệm chung chỉ rõ tầm cỡ (độ lớn) về mặt định lượng và tính hệ trọng (bản chất) vềmặt định tính của các sai phạm hoặc là đơn lẻ, hoặc là từng nhóm có ảnh hưởng đếntính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối tượng kiểm toán và trong bối cảnh cụthể, việc sử dụng thông tin đó có thể dẫn đến đưa ra quyết định sai lầm Trên góc độcủa người sử dụng thông tin, một cách đơn giản, trọng yếu được hiểu là một thông tinquan trọng và cần được trình bày nếu có khả năng ảnh hưởng đến các quyết định củahọ

4.1.2 Mục đích của việc đánh giá tính trọng yếu

Nghiên cứu trọng yếu rất quan trọng đối với việc lập kế hoạch kiểm toán và thiết

kế phương pháp kiểm toán KTV nghiên cứu về trọng yếu nhằm:

 Dự kiến hợp lý về tính trọng yếu để thu thập bằng chứng thích hợp

 Xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các phương pháp kiểm toán

 Xác định mức độ trung thực hợp lý của các thông tin trên BCTC

Trang 19

số trường hợp, tài sản hoặc doanh thu lại dễ áp dụng hơn, vì nhiều lí do, chẳng hạncông ty không có lợi nhuận hoặc người sử dụng quan tâm nhiều hơn đến khả năngthanh toán Vì thế có nhiều KTV phối hợp các chỉ tiêu trên để xác lập mức trọng yếucho toàn bộ BCTC, ví dụ mức trọng yếu được tính bằng một tỷ lệ phần trăm số lớnhơn giữa tài sản và doanh thu.

Trong thực tế, mỗi công ty kiểm toán sẽ có một phương pháp để xác định mứctrọng yếu riêng Thông thường theo kinh nghiệm KTV có thể xác định mức trọng yếunhư sau (Gay & Simnett 2003, Auditing and Assurance Service):

Cơ sở xác định mức trọng yếu Tỷ lệ xác định mức trọng yếu (%)

Hoặc có thể quy định mức trọng yếu theo những giới hạn, ví dụ:

Vị trí của

Khoản mục Không trọng yếu Có thể trọng yếu Chắc chắn trọng yếu

Báo cáo kết quả

kinh doanh

<5% lợi nhuậntrước thuế

Từ 5 -10% lợinhuận trước thuế

>10% lợi nhuậntrước thuếBảng cân đối

kế toán <0,5% tổng tài sản Từ 0,5 – 1% tổngtài sản >1% tổng tài sản

Đối với từng khoản mục, mức trọng yếu chính là sai lệch tối đa cho phép củatừng khoản mục Số tiền này được tính dựa trên cơ sở mức trọng yếu tổng thể củaBCTC Một số KTV xác lập mức trọng yếu cho từng khoản mục bằng cách phân bổmức trọng yếu tổng thể cho từng khoản mục Cách này tuy tạo được hành lang an toànkhá cao nhưng bị phê phán vì các sai lệch dự kiến không phải lúc nào cũng đồng thờixảy ra ở mọi khoản mục và trong thực tế các sai lệch có thể bù trừ lẫn nhau khi tácđộng đến các chỉ tiêu như tổng tài sản, lợi nhuận… Chúng ta biết răng khái niệm trọngyếu gắn liền với tính hệ trọng của vấn đề xem xét Khi phân bổ mức trọng yếu chotừng khoản mục hoặc vấn đề đang được đánh giá, KTV thường quan tâm đến bản chất,tức là nhân tố định tính, hơn là về mặt định lượng Trường hợp sai phạm có giá trị thấpnhưng bản chất sai phạm nghiêm trọng thì vẫn xem là trọng yếu Chẳng hạn một saiphạm ở một khoản mục nhưng có tác động dây chuyền và gây ảnh hưởng nghiệmtrọng đến BCTC, hay một sự mô tả không đúng đắn hay không chính xác về chínhsách kế toán của đơn vị như không thông báo về sự thay đổi cách tính khấu hao tài sảncố định…làm cho người sử dụng BCTC hiểu sai về bản chất các thông tin của doanh

nghiệp Các khoản mục có sai sót hệ trọng cũng xét trong yếu tố định tính của trọng

yếu như: các khoản mục, nghiệp vụ phát hiện có sai sót ở quy mô lớn hoặc có chênhlệch so với các kỳ trước, hoặc giữa các nguồn thông tin có liên quan; các khoản mục

có sai sót lặp đi, lặp lại, các nghiệp vụ vi phạm nguyên tắc kế toán và pháp lý nóichung; hay các nghiệp vụ có ảnh hưởng nghiêm trọng tới kỳ sau, hoặc là đầu mối gâyhệ thống, liên quan đến nhiều khoản mục, nghiệp vụ khác

Trang 20

Vì vậy trong thực tế các KTV thường sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để xáclập mức trọng yếu ở từng khoản mục, ví dụ nhân mức trọng yếu tổng thể với một hệ số(thường là 1,5-2) trước khi phân bổ hoặc có thể tính mức trọng yếu của khoản mụcbằng một tỷ lệ phần trăm của mức trọng yếu tổng thể…Dù áp dụng phương pháp nàothì KTV cũng cần phải cân nhắc khi xác lập mức trọng yếu cho khoản mục, họ dựatrên kinh nghiệm của mình về đơn vị cũng như đánh giá về khả năng xảy ra sai lệch vàchi phí để kiểm tra khoản mục Nhìn chung việc xác lập mức trọng yếu ở hai mức độlà vấn đề thuộc về xét đoán nghề nghiệp của KTV, nghĩa là trong từng trường hợp cụthể, dựa trên kinh nghiệm và sự xét đoán, KTV sẽ xác định và chịu trách nhiệm vềphán đoán của mình Ngoài ra KTV cũng phải cân nhắc sự hữu hiệu và chi phí kiểmtoán, bởi vì thiết lập một mức trọng yếu thấp tuy sẽ giúp tăng khả năng phát hiện sailệch trọng yếu nhưng đồng thời làm cho chi phí kiểm toán tăng lên.

4.1.4 Quy trình đánh giá mức trọng yếu

Một cuộc kiểm toán được thực hiện nhằm phát hiện sự trình bày sai lệch trọngyếu trên báo cáo tài chính, vì vậy tính trọng yếu theo kế hoạch phải được sử dụng nhưlà một cơ sở cho việc xác định khối lượng công việc sẽ thực hiện với toàn bộ BCTC.Sau đó, các KTV phân bổ mức trọng yếu tổng thể cho số dư các tài khoản Cụ thể trình

tự xác định tính trọng yếu gồm 5 bước sau:

Bước 1: Ước tính ban đầu về tính trọng yếu đối với toàn bộ BCTC Mức ướclượng đó chính là mức sai sót mà KTV tin rằng sai sót này sẽ không làm cho BCTC bịsai lệch nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến việc sữ dụng thông tin của những người raquyết định KTV đặt mức trọng yếu càng thấp đồng nghĩa với việc đòi hỏi sự chínhxác càng cao của số liệu trên BCTC và ngược lại

Bước 2: Phân bổ mức ước tính ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mụchay các bộ phận của BCTC, nghĩa là xác định mức sai sót trọng yếu của từng khoảnmục hay bộ phận và đó là sai sót chấp nhận được hay sai sót có thể bỏ qua Việc phân

bổ này sẽ được thực hiện theo hai hướng sai phạm có thể xảy ra đó là khai khống (sốliệu sổ sách lớn hơn số liệu thực tế) và khai thiếu (số liệu sổ sách nhỏ hơn thực tế)

Bước 3: KTV áp dụng kỹ thuật lấy mẫu kiểm tra và ước tính mức sai sót củatừng khoản mục, gọi là sai sót dự kiến KTV sẽ so sánh mức mức sai sót này với mứcsai sót chấp nhận được và đưa ra quyết định là có chấp nhận, hay không chấp nhận sốliệu sổ sách hoặc tiếp tục thu thập thêm bằng chứng kiểm toán

Bước 4: KTV tổng hợp sai sót dự kiến của tất cả các khoản mục của BCTC.Bước 5: KTV so sánh sai sót dự kiến của tất cả các khoản mục với ước tính banđầu về mức trọng yếu, hoặc với mức ước tính được điều chỉnh Trên cơ sở kết quả sosánh này, KTV sẽ đánh giá xem toàn bộ những sai sót đó có vượt qua giới hạn chophép không, và tùy trường hợp cụ thể, KTV sẽ yêu cầu đơn vị điều chỉnh số liệu hoặcthực hiện thêm các thủ tục kiểm toán hoặc đưa ra ý kiến về bản BCTC đó

4.2 Rủi ro kiểm toán

4.2.1 Khái niệm rủi ro kiểm toán

Đoạn 7 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát

nội bộ, định nghĩa “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra những nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu”

Trang 21

Như vậy rủi ro kiểm toán xảy ra khi BCTC cò chứa đựng những sai lệch trọngyếu nhưng KTV lại nhận xét chúng đã được trình bày trung thực hợp lí Rủi ro nàyxuất phát từ các sai lệch tìm ẩn trong BCTC nhưng không được hệ thống KSNB củađơn vị ngăn chặn, phát hiện và KTV cũng không tìm ra.

Mức độ rủi ro kiểm toán dự kiến cao hay thấp quyết định khối lượng công việckiểm toán phải tiến hành Vì vậy, cần phải tiến hành nghiên cứu các thành phần của rủi

ro kiểm toán, xem xét tác động của thành phần này đến khối lượng công việc kiểmtoán cần phải tiến hành, cũng như đến trình tự và các thủ pháp kiểm toán thích hợp cầnphải tiến hành Trong thực tế, rủi ro kiểm toán thường xẩy ra do giới hạn về quản lý vàgiới hạn về chi phí kiểm toán Trong mối quan hệ này rủi ro kiểm toán và chi phí cómối quan hệ tỷ lệ nghịch

Hình 2: Đồ thị biểu hiện mối quan hệ giữa rủi ro và chi phí kiểm toán

4.2.2 Các bộ phận hợp thành rủi ro kiểm toán

4.2.2.1 Rủi ro tiềm tàng

“Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn vốn có do khả năng của từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẻ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ” – theo đoạn 4 VSA 400.

Như vậy, rủi ro tiềm tàng là khả năng có những sai lệch trọng yếu trong BCTCbắt nguồn từ hoạt động hay môi trường kinh doanh hoặc do bản chất của khoản mụchoặc nghiệp vụ trước khi xem xét đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB Bên cạnh cácnhân tố gây ra rủi ro tiềm tàng cao ảnh hưởng trực tiếp đối với một khoản mục, còn cónhững nhân tố khác tác động đến rủi ro tiềm tàng của toàn bộ BCTC chứ không riêngkhoản mục nào KTV không tạo ra và cũng không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng.KTV chỉ có thể đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra bằng cách dựa vàonhiều nguồn khác nhau như kết quả kiểm toán năm trước hoặc thông qua thu thậpthông tin về ngành nghề kinh doanh, chính sách kinh tế, tài chính kế toán của đơn vịđược kiểm toán…

4.2.2.2 Rủi ro kiểm soát

“Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục của BCTC khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống KSNB không ngăn ngừa hết, hoặc không phát hiện được và sửa chữa kịp thời.” – theo

Trang 22

Như vậy rủi ro kiểm soát là khả năng có những sai sót nghiêm trọng hoặc nhữngđiểm bất thường mà hệ thống KSNB không phát hiện hoặc không ngăn chặn được.KTV cần xem xét môi trường kiểm soát vì nó biểu hiện quan điểm , nhận thức cũngnhư hành động của nhà quản lí đơn vị khi họ xác định phương hướng tổ chức đơn vị,phân định trách nhiệm, quyền hạn của Ban Giám đốc và các bộ phận…

Sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV cần đánh giá sơ bộ rủi ro kiểmsoát đối với các cơ sở dẫn liệu trong BCTC Sự đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soátcũng như rủi ro tiềm tàng sẽ ảnh hưởng đến nội dung, thời gian và phạm vi của cácphương pháp kiểm toán

4.2.2.3 Rủi ro phát hiện

“Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục của BCTC khi tính riêng rẻ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán không phát hiện được.” – theo đoạn 6 VSA 400.

Rủi ro phát hiện là khả năng khi đã áp dụng các thủ tục kiểm toán nhưng KTVvẫn không phát hiện được các sai lệch trọng yếu trong BCTC Rủi ro phát hiện cónguyên nhân bắt nguồn trực tiếp từ nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm

cơ bản đã được thực hiện Trái với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV có tráchnhiệm thực hiện các thủ tục để thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp và đầy đủ đểquản lí và kiểm soát rủi ro phát hiện Thông thường, mức rủi ro phát hiện sẽ giảmxuống nếu KTV tăng các thử nghiệm chi tiết trên số dư hoặc nghiệp vụ, mở rộng phạm

vi kiểm tra hoặc tăng cường cỡ mẫu của các thử nghiệm Tuy nhiên rủi ro phát hiệnvẫn có thể xảy ra cho dù KTV kiểm tra 100% số dư và nghiệp vụ,vì có thể KTV đãchọn lựa và áp dụng các phương pháp kiểm toán không phù hợp, hoặc giải thích sai,nhận định sai về kết quả kiểm tra

4.3Mối quan hệ giữa các thành phần của rủi ro kiểm toán

Do tồn tại độc lập với các thử nghiệm cơ bản của KTV nên dù có tiến hành cuộckiểm toán hay không thì rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát vẫn tồn tại trong hoạtđộng kinh doanh của đơn vị, cũng như nằm trong bản chất của số dư tài khoản và cácloại nghiệp vụ Ngược lại, rủi ro phát hiện có thể kiểm soát được bởi KTV thông quaviệc điều chỉnh nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản, tùy theotình hình của đơn vị, KTV sẽ tăng giảm khối lượng công việc kiểm toán của mình đểđạt được mục đích cuối cùng là rủi ro kiểm toán giảm xuống thấp đến mức chấp nhậnđược với chi phí hợp lý

Vào đầu thập niên 1980, chuẩn mực kiểm toán của một số quốc gia đã đưa ra môhình rủi ro kiểm toán và biểu thị bằng công thức sau đây:

(1)

Hoặc

(2)

Trong đó:

AR: Mức rủi ro kiểm toán mong muốn

IR: Mức rủi ro tiềm tàng do KTV đánh giá

CR: Mức rủi ro kiểm soát do KTV đánh giá

DR: Mức rủi ro phát hiện

AR = IR * CR * DR

DR = AR/(IR*CR)

Trang 23

Mô hình (1) biểu thị mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán Mô hình nàyđược kiểm toán viên sử dụng để điều chỉnh mức rủi ro phát hiện để có mức rủi ro kiểmtoán mong muốn Hay nói cách khác, mô hình (1) dùng để đánh giá tính hợp lí của kếhoạch kiểm toán đã được lập.

Mô hình (2) DR là đối tượng quan tâm của KTV Thông qua việc xác định DR,KTV sẽ xác định các thủ tục kiểm toán và số lượng bằng chứng cần thu thập Mặc dùđây là mô hình có tính chất giản đơn nhưng có ý nghĩa rất lớn cho KTV trong lập kếhoạch và thực hiện kiểm toán sao cho hợp lí và đủ để duy trì rủi ro phát hiện ở mứcthấp cho phép

Tuy được biểu thị bằng công thức nhưng KTV cần nhận thức rằng đây khôngphải là một công thức toán học thuần túy mà nó được dùng để trợ giúp cho KTV khiphán đoán và xác định mức độ sai lệch có thể chấp nhận được làm cơ sở thiết kế cácthủ tục và điều hành cuộc kiểm toán

Khi sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán, KTV cần chú ý một số điểm sau:

Thứ nhất, KTV không thể giả sử rằng rủi ro tiềm tàng là bằng 0 để không cần đến

các bước thu thập bằng chứng kiểm toán

AR = IR ( = 0) *CR*DR = 0 Thứ hai, KTV không thể đặt niềm tin tuyệt đối vào hệ thống kiểm soát nội bộ để

không cần đến các bước thu thập bằng chứng kiểm toán:

AR = IR*CR (=0)*DR =0 Thứ ba, KTV không thể được xem là đã thận trọng nghề nghiệp thích đáng nếu

như rủi ro của việc không phát hiện các sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán

ở mức quá cao

Mối quan hệ giữa các loại rủi ro còn được minh họa bằng bảng sau:

Ma trận rủi ro phát hiện

Đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát

Đánh giá của

KTV về rủi ro

tiềm tàng

4.4 Trình tự đánh giá rủi ro kiểm toán

4.4.1 Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn

Hiện nay tại các Công ty kiểm toán, mức rủi ro kiểm toán mong muốn luôn đượcxác định trước khi tiến hành kiểm toán theo mô hình sau:

DR= DAR / (CR*IR)Trong đó:

Trang 24

DAR: Mức rủi ro kiểm toán mong muốn

Mức rủi ro kiểm toán mong muốn phụ thuộc vào mức độ quan tâm của người sửdụng bên ngoài đến BCTC và khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn tài chính sau khibáo cáo kiểm toán được công bố Việc xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn làđiểm khởi đầu cho việc xác định mức rủi ro phát hiện

4.4.2 Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát

Rủi ro tiềm tàng

Đánh giá rủi ro tiềm tàng là công việc hết sức quan trọng trong giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán Mức độ rủi ro tiềm tàng được xác định có ảnh hưởng đến các thủ tụckiểm toán, khối lượng công việc, thời gian và các nguồn lực cần huy động để phục vụcho cuộc kiểm toán

Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV dựa vào các yếu tố có thể ảnh hưởng sau:

Một là, bản chất kinh doanh của khách hàng: rủi ro tiềm tàng thường bị tăng lên

bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh Những ngành nghề có đặc thù khácbiệt có thể tạo nên khó khăn cho KTV hoặc những khoản không chắc chắn do đó cóthể làm tăng những gian lận hoặc sai sót trên BCTC Ví dụ: Khách hàng kinh doanhtrong lĩnh vực bảo hiểm sẽ đặc biệt khó khăn trong hạch toán doanh thu, do đó việckiểm toán doanh thu sẽ khó khăn hơn đối với các xí nghiệp sản xuất thông thường

Hai là, tính chính trực của Ban Giám đốc BGĐ không thể xem là trung thực trong

mọi trường hợp Khi BGĐ bị kiểm soát bởi một hoặc một số ít cá nhân thiếu tính trungthực thì khả năng các BCTC có sai phạm nghiêm trọng sẽ tăng lên rất cao, khi đó rủi rotiềm tàng đựoc đánh giá ở mức cao

Ba là, động cơ của khách hàng Trong nhiều trường hợp, BGĐ tin tưởng rằng họ

sẽ có lợi nếu báo cáo sai lệch các thông tin tài chính Tức là BGĐ có động cơ khôngtốt trong việc lập BCTC

Bốn là, kết quả các lần kiểm toán trước Đối với tài khoản được phát hiện có sai

sót trong các lần kiểm toán năm trước, rủi ro tiềm tàng được xác định ở mức cao Bởicác sai sót này có nhiều khả năng lặp lại trong lần kiểm toán lần này Lý do là vì nhiềusai phạm có tính chất hệ thống và các đơn vị thường chậm chạp không tiến hành cácbiện pháp sửa chữa chúng

Năm là, hợp đồng kiểm toán năm đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn Trong các

hợp đồng kiểm toán năm đầu, KTV thường thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về các saisót của đơn vị khách hàng nên họ thường đánh giá rủi ro tiềm tàng cao hơn so với hợpđồng kiểm toán dài hạn

Sáu là, các bên liên quan Các nghiệp vụ giữa Công ty mẹ và Công ty con, và các

nghiệp vụ giữa ban quản trị với việc sát nhập là những ví dụ về các nghiệp vụ kinh tếgiữa các bên liên quan Những nghiệp vụ này xảy ra giữa hai thành phần độc lập vớinhau, do đó khả năng tồn tại các báo cáo sai phạm giữa họ tăng, rủi ro tiềm tàng sẽtăng lên Ví dụ như các giao dịch mua bán giữa công ty mẹ và công ty con làm tăngmột khoản doanh thu không có thật

Bảy là, các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên Các nghiệp vụ này có khả

năng bị vào số sai nhiều hơn là các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày do khách hàng thiếukinh nghiệm trong hạch toán các nghiệp vụ đó Do đó, rủi ro tiềm tàng đối với các tàikhoản chứa các nghiệp vụ này được đánh giá cao

Tám là, các ước tính kế toán: Rủi ro tiềm tàng của các tài khoản phản ánh các

ước tính kế toán (dự phòng các khoản phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn

Trang 25

kho,…) thường được đánh giá là cao Nguyên nhân là do việc vào sổ các khoản mụcnày không những đòi hỏi sự hiểu biết về bản chất các khoản mục, lý thuyết liên quanmà còn cả kinh nghiệm và sự phán đoán chủ quan của người thực hiện.

Chín là, số lượng tiền của các số dư tài khoản KTV thường đánh giá các tài

khoản có số dư bằng tiền lớn sẽ tồn tại rủi ro tiềm tàng cao hơn so với tài khoản có số

dư bằng tiền nhỏ

Trang 26

R ủi ro kiểm soát

Đánh giá rủi ro kiểm soát là một khâu trong quy trình tìm hiểu và đánh giá về hệthống kiểm soát nội bộ (KSNB) Hệ thống KSNB được thiết kế và vận hành có hiệuquả thì mức độ rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức thấp Khi hệ thống KSNB đượcthiết kế không phù hợp, hay hoạt động không có hiệu quả thì khi đó rủi ro kiểm soátđược đánh giá ở mức cao Mức rủi ro kiểm soát không bao giờ bằng “không” bởi hệthống kiểm soát nội bộ lúc nào cũng tồn tại những hạn chế nhất định Để đánh giá rủi

ro kiểm soát, KTV phải hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của đơn vịđược kiểm toán Quy trình tìm hiểu về hệ thống KSNB được trình bày ở phần sau

4.4.3 Xác định mức rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được

Việc xác định mức rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được có ý nghĩa thực tiễn rấtcao, nó có quan hệ với tính trọng yếu và số lượng bằng chứng cần thu thập về khoảnmục cần kiểm toán Dựa trên mức rủi ro kiểm toán mong muốn, và việc đánh giá rủi rotiềm tàng, rủi ro kiểm soát thì ta xác định rủi ro phát hiện theo công thức sau:

4.5 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu mức sailệch có thể chấp nhận được tăng lên, rõ ràng rủi ro kiểm toán sẽ giảm xuống Nói cáchkhác, mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro là mối quan hệ ngược, khi nào KTV tănggiá trị sai sót có thể bỏ qua, lúc đó khả năng có sai lệch trọng yếu sẽ giảm Ngược lạinếu giảm mức sai sót có thể chấp nhận được, lúc đó rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên

5 Đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ

CMKT Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ quy định KTVphải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB củakhách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trìnhkiểm toán thích hợp, có hiệu quả Tuy nhiên, trong khuôn khổ kiểmtoán BCTC, KTV chỉ quan tâm đến các chính sách và thủ tục của hệthống kế toán và KSNB có ảnh hưởng đến các cơ sở dẫn liệu cho việclập BCTC

5.1 Mục đích của việc nghiên cứu hệ thống KSNB

Nghiên cứu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát là một bước quan trọngtrong giai đoạn lập kế hoạch, thể hiện việc tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp khi tiếnhành kiểm toán

Mục đích của việc nghiên cứu về hệ thống KSNB là nhằm:

- Nhận diện và đánh giá các sai phạm có thể xảy ra Thông qua tìm hiểu vềKSNB của đơn vị, KTV có thể nhận ra các điểm mạnh điểm yếu và các nguy cơ gianlận, sai sót

- Trên cơ sở những hiểu biết từ việc tìm hiểu về hệ thống KSNB của đơn vị,KTV hình dung về mức độ phức tạp và khối lượng công việc và đánh giá mức rủi rokiểm soát

- Từ đó KTV xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập để xâydựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả

DR= DAR / (CR*IR)

Trang 27

5.2 Tìm hiểu về hệ thống KSNB

5.2.1 Nội dung tìm hiểu:

5.2.1.1 Tìm hiểu về môi trường kiểm soát:

Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối ý thứckiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ phận khác củaKSNB Yếu tố quan trọng nhất trong quá trình này là hiểu biết về thái độ, nhận thức vàhành động có liên quan đến môi trường kiểm soát của nhà quản lý Chú ý tập trung vàothực chất, nội dung của các quá trình kiểm soát hơn là hình thức của chúng

5.2.1.2 Tìm hiểu về đánh giá rủi ro của đơn vị:

Mọi hoạt động của đơn vị đều có thể phát sinh rủi ro và khó có thể kiểm soátđược tất cả KTV cần phải biết về quá trình đánh giá, phân tích những nhân tố ảnhhưởng tạo nên rủi ro của người quản lý bao gồm phương thức nhận dạng các rủi ro,mức độ quan tâm đến việc đánh giá rủi ro và vấn đề đối phó với rủi ro

5.2.1.3 Tìm hiểu về hệ thống thông tin và truyền thông

Thông tin và truyền thông là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trìvà nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo đểcung cấp thông tin về hoạt động, sự tuân thủ, bao gồm cả nội bộ và bên ngoài Khi tìmhiểu về hệ thống thông tin và truyền thông của đơn vị, KTV thường quan tâm đếnviệc:

- Tìm hiểu các loại nghiệp vụ chính trong đơn vị

- Xem xét việc xử lý các nghiệp vụ

- Tìm hiểu tiến trình lập BCTC gồm có cả các chính sách kế toán và phương phápđể xác định các ước tính kế toán

Trong quá trình tìm hiểu hệ thống kế toán và các hoạt động kiểm soát có liênquan đến khách hàng, KTV sẽ phân chia hệ thống thành những chu trình nghiệp vụchủ yếu (dùng để chỉ các chính sách và các thủ tục có liên quan đến quá trình xử lýmột loại nghiệp vụ cụ thể).Ví dụ trong một doanh nghiệp sản xuất có thể phân ra thànhnhững chu trình nghiệp vụ chủ yếu sau như : chu trình bán hàng và thu tiền; chu trìnhmua hàng và thanh toán; chu trình sản xuất; chu trình tiền lương; chu trình tài chính;chu trình đầu tư…

5.2.1.4 Tìm hiểu về các hoạt động kiểm soát

Hoạt động kiểm soát là các chỉ thị và thủ tục để đảm bảo cho các thủ tục của nhàquản lý được thực hiện Các chính sách và thủ tục này giúp thực thi những hành độngvới mục đích chính là giúp kiểm soát những rủi ro mà đơn vị có thể gặp phải

Để đạt được sự hiểu biết về hoạt động kiểm soát, KTV phải cân nhắc những kếtquả đạt được trong quá trình tìm hiểu về những bộ phận khác của kiểm soát nội bộxem liệu có cần phải tìm hiểu thêm về các hoạt động kiểm soát hay không; bởi vìthường KTV cũng đã có một số hiểu biết về các hoạt động kiểm soát của khách hàngthông qua quá trình tìm hiểu trước đó

5.2.1.5 Tìm hiểu về hệ thống giám sát

Giám sát là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng hệ thống kiểm soát.Điều quan trọng trong giám sát là phải xác định kiểm soát nội bộ có vận hành đúngnhư thiết kế hay không và có cần thiết phải sửa đổi chúng cho phù hợp với từng giaiđoạn phát triển của đơn vị hay không

Trang 28

KTV cũng cần phải tìm hiểu những hoạt động của đơn vị có liên quan đến việclập báo cáo tài chính và những hoạt động giám sát này đã ảnh hưởng đến hệ thốngkiểm soát nội bộ như thế nào.Việc trao đổi với các nhà quản lý là phương pháp thườngđược sử dụng để tìm hiểu về vấn đề này

5.2.2 Các phương pháp tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ

- Phỏng vấn người quản lý và các nhân viên trong đơn vị để hiểu về đặc điểm tổchức KTV phỏng vấn các nhân viên kế toán để có hiểu biết về sự phân tách nhiệm vụ,

sự phân quyền sử dụng máy tính, cụ thể hóa những hoạt động bằng văn bản, đặc tínhchung trong quá trình xử lý nghiệp vụ ở phòng kế toán

- Quan sát hoạt động kinh doanh của đơn vị và tình trạng máy móc thiết bị: xem xéttận mắt các tiến trình thực hiện công việc Ví dụ hàng tồn kho hoặc thành phẩm sẽcung cấp thông tin theo trình tự luân chuyển từ giai đoạn sản xuất đến giai đoạn kếtthúc sản xuất KTV có thể đánh giá sự nhiệt tình của nhân viên khi thực hiện các thủtục trên Thủ tục này có thể áp dụng cho nhiều bộ phận nhưng cần được kết hợp vớithủ tục khác như phỏng vấn

- Điều tra các tài liệu như kế hoạch kinh doanh, chiến lược kinh doanh, bản ghi cácthủ tục kiểm soát nội bộ… đồng thời KTV phải thu thập được sơ đồ tổ chức, sổ taychính sách, sơ đồ hạch toán, sổ nhật kí, sổ cái, các báo cáo trình bày dữ liệu thực tế và

kế toán, KTV chọn một nghiệp vụ và thực hiện theo hệ thống để xác định hệ thốngtrên thực tế hoạt động như thế nào Thủ tục này thường được kết hợp với phỏng vấn

5.2.3 Mô tả về hệ thống Kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc

Sau khi tìm hiểu về hệ thống KSNB của khách hàng, chuẩn mực kiểm toán đòihỏi KTV phải tài liệu hóa những thông tin đã thu thập để chứng minh là đã tìm hiểu vềKSNB trong hồ sơ kiểm toán Hình thức và phạm vi của các hồ sơ này phụ thuộc vàoquy mô và sự phức tạp của những nghiệp vụ, cũng như loại thủ tục kiểm soát màkhách hàng đang áp dụng Các công cụ mô tả có thể là:

Bản tường thuật: Là sự mô tả bằng văn bản về hệ thống KSNB của khách

hàng Đối với những hệ thống đơn giản, KTV có thể sử dụng duy nhất bảngtường thuật để ghi nhận sự hiểu biết về KSNB

Yêu cầu: cần trình bày đầy đủ bốn điểm sau:

• Nguồn gốc của mọi chứng từ và sổ sách trong hệ thống Ví dụ: đơn đặthàng của khách hàng phải nêu rõ đến từ đâu, các hoá đơn bán hàng phátsinh như thế nào?

• Tất cả các quá trình đã xảy ra

• Sự chuyển giao mọi chứng từ, sổ sách trong hệ thống Ví dụ: việc lưu trữ,giữ chúng cho khách hàng, hủy bỏ đều phải được trình bày

Trang 29

• Chỉ rõ các hoạt động kiểm soát thích hợp với quá trình đánh giá rủi rokiểm soát Ví dụ: tách biệt về trách nhiệm, sự phê chuẩn, kiểm tra độc lậptrong nội bộ.

Bảng câu hỏi về kiểm soát nội bộ:

Là mội bảng liệt kê một loại các câu hỏi được chuẩn bị trước về các quá trìnhkiểm soát trong lĩnh vực kiểm toán, kể cả môi trường kiểm soát, được thiết kế dướidạng trả lời “Có” , “Không” , “Không áp dụng” Câu trả lời “Có” thường được quyước là biểu thị một tình trạng kiểm soát tốt vì đơn vị thực hiện đúng các thủ tục kiểmsoát như thiết kế, ngược lại, câu trả lời “Không” cho thấy sự yếu kém của KSNB

- Ưu điểm: Nhờ chuẩn bị trước nên KTV có thể tiến hành nhanh chóng, không bỏ

sót những vấn đề quan trọng Nó có thể được chuẩn bị riêng cho từng phần của mỗichu trình nghiệp vụ nên rất thuận lợi khi phân công cho các KTV khác nhau để hoànthành các bảng câu hỏi này

- Nhược điểm: Được thiết kế chung nên có thể không phù hợp với các nét đặc thù

hay quy mô của các đơn vị Sự chính xác của câu trả lời phụ thuộc vào sự trung thựcvà lòng nhiệt tình của người được phỏng vấn

Lưu đồ: Là bảng hình vẽ biểu thị hệ thống thông tin kế toán và các hoạt động

kiểm soát có liên quan của khách hàng bằng những ký hiệu đã được quy ước.Kiểm toán viên nên trình bày lưu đồ theo hướng tổng quát từ phải sang trái, từ trênxuống dưới; và trình bày theo cột để mô tả những công việc diễn ra ở từng bộ phậnchức năng, từng nhân viên

Nhờ biểu thị bằng hình vẽ nên lưu đồ có thể cung cấp cái nhìn khái quát, súc tích

về toàn bộ hệ thống; cũng như mối quan hệ giữa các bộ phận, giữa các chứng từ và sổsách…;và có tác dụng như một công cụ phân tích khi đánh giá bởi vì giúp kiểm toánviên nhận diện những thiếu sót của những thủ tục qua việc vận hành của hệ thống.Sau khi mô tả kiểm soát nội bộ bằng các dụng cụ nêu trên, kiểm toán viên thường

sử dụng phép thử Walk-throughs để kiểm tra tính chính xác của việc mô tả từng chutrình nghiệp vụ Phép thử này để chỉ công việc theo dõi một vài nghiệp vụ thông quamỗi bước của một chu trình

5.3 Đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát

Đánh giá rủi ro kiểm soát là đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB trong việcngăn chặn và phát hiện các sai sót trọng yếu CMKT Việt Nam số 400, đoạn 28 quy

định: “Dựa trên sự hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB, KTV và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số

dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu”

6 Xây dựng các kế hoạch kiểm toán

CMKT Việt Nam số 300 – Lập kế hoạch kiểm toán - quy định rõ: “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả” Điều này cũng được nêu trong Chuẩn mực

kiểm toán quốc tế (ISA) 300 Kế hoạch kiểm toán được xây dựng trên cơ sở nhữnghiểu biết về đặc điểm hoạt động kinh doanh của khách hàng và được xây dựng tùythuộc vào quy mô, độ phức tạp của công việc kiểm toán, kinh nghiệm của KTV

Quá trình lập kế hoạch kiểm toán gồm có 3 phần:

• Lập kế hoạch chiến lược

Trang 30

• Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể

• Thiết kế chương trình kiểm toán

6.1 Lập kế hoạch chiến lược

“Kế hoạch chiến lược là những định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháp tiếp cận chung cho cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa trên hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán” (Đoạn 4

VSA 300)

VSA 300 cũng quy định rõ “kế hoạch chiến lược phải được lập cho các cuộckiểm toán lớn về quy mô, có tính chất phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm toán báo cáotài chính của nhiều năm” Trong những trường hợp này, công ty kiểm toán sẽ phải lập

kế hoạch chiến lược còn những trườn hợp khác thì không bắt buộc

Nội dung của kế hoạch chiến lược gồm có:

 Tình hình kinh doanh của khách hàng

 Xác định những vấn đề liên quan đến BCTC như chế độ kế toán, chuẩn mực kếtoán áp dụng…

 Xác định vùng rủi ro chủ yếu của doanh nghiệp và ảnh hưởng của nó tới báocáo tài chính

 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ

 Xác định các mục tiêu kiểm toán trọng tâm và phương pháp tiếp cận kiểm toán

 Xác định nhu cầu hợp tác của các chuyên gia

 Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện

 Phê duyệt của Ban giám đốc

6.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể

“Kế hoạch kiểm toán tổng thể là việc cụ thể hóa kế hoạch chiến lược và phương pháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủ tục kiểm toán Mục tiêu của việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể là để có thể thực hiện công việc kiểm toán hiệu quả và theo đúng thời gian dự kiến” (Đoạn 05 VSA 300)

Nội dung công việc trong giai đoạn này gồm có:

Hiểu biết về hoạt động của đơn vị được kiểm toán

- Hiểu biết chung về kinh tế và đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh có tác động đến

đơn vị được kiểm toán

- Các đặc điểm cơ bản của khách hàng như: lĩnh vực hoạt động, kết quả tài chínhvà nghĩa vụ cung cấp thông tin kể cả những thay đổi từ lần kiểm toán trước

- Năng lực quản lý của ban giám đốc

Hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của khách hàng

- Các chính sách kế toán mà đơn vị được kiểm toán áp dụng và những thay đổi

trong các chính sách đó

- Ảnh hưởng của các chính sách mới về kế toán và kiểm toán

- Hiểu biết của kiểm toán viên về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB và nhữngđiểm quan trọng mà KTV dự kiến thực hiện trong thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm

cơ bản

Xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán

Dựa vào những đánh giá ban đầu về công ty khách hàng như hệ thống kiểm soát

nội bộ, lĩnh vực kinh doanh KTV sẽ đưa ra những khoản mục trọng yếu và mức xác

Trang 31

định rủi ro có thể chấp nhận được đối với những khoản mục trọng yếu

Xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán

Bao gồm việc xác định phương hướng áp dụng các kỹ thuật kiểm toán đối vớinhững khoản mục chủ yếu của BCTC, được xây dựng dựa trên mức trọng yếu và rủi rokiểm toán đã được xác định và đánh giá trước đó

Các vấn đề khác bao gồm những vấn đề như:

- Khả năng đảm bảo giả định hoạt động liên tục

- Những vấn đề phải quan tâm như sự hiện hữu của các bên liên quan, những tồn

tại trong kỳ kiểm toán trước

- Các điều khoản của hợp đồng kiểm toán và những trách nhiệm pháp lý cần lưu ý

trong cuộc kiểm toán

- Lịch trình thực hiện hợp đồng kiểm toán bao gồm thời hạn tiến hành và hoàn

thành các thủ tục quan trọng như gửi thư quản lý, chứng kiến kiểm kê, gửi thư xácnhận, phát hành báo cáo kiểm toán

Đây là những nội dung cơ bản của kế hoạch kiểm toán tổng thể Trong thực tế,các nội dung cụ thể và cách trình bày các tài liệu này rất khác biệt giữa các công tykiểm toán, và còn tùy thuộc vào tính chất, quy mô của từng cuộc kiểm toán cụ thể

6.3 Thiết kế chương trình kiểm toán

“Chương trình kiểm toán là toàn bộ những chỉ dẫn cho KTV và trợ lý kiểm toán tham gia vào cuộ kiểm toán và là phương tiện ghi chép, theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện kiểm toán Chương trình kiểm toán chỉ dẫn mục tiêu kiểm toán từng phần hành, nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cụ thể và thời gian ước tính cần thiết cho từng phần hành” (Đoạn 06 VSA 300)

Thiết lập một chương trình kiểm toán phù hợp sẽ giúp KTV thu thập đầy đủ bằngchứng thích hợp với chi phí và thời gian kiểm toán hợp lý Khi xây dựng chương trìnhkiểm toán, KTV phải xem xét đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, cũng nhưmức độ đảm bảo phải đạt được thông qua thử nghiệm cơ bản KTV cần phải xem xét:

 Thời gian để thực hiện thử nghiệm kiểm sóat và thử nghiệm cơ bản;

 Sự phối hợp từ phía khách hàng, từ trợ lý kiểm toán trong nhóm và sự thamgia của kiểm toán viên khác hoặc các chuyên gia khác

Những thay đổi trong kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán

Kế hoạch kiểm toán tổng thể chương trình kiểm toán sẽ đợc sửa đổi, bổ sungtrong quá trình kiểm toán nếu có những thay đổi về tình huống hoặc do những kết quảngoài dự đoán của các thủ tục kiểm toán Nội dung và nguyên nhân thay đổi kế hoạchkiểm toán tổng thể và chơng trình kiểm toán phải đợc ghi rõ trong hồ sơ kiểm toán.Đối với các công ty kiểm toán có chương trình kiểm toán theo mẫu sẵn trên máy

vi tính hoặc trên giấy mẫu phải có phần bổ sung chương trình kiểm toán cụ thể phùhợp với từng cuộc kiểm toán

7 Kiểm soát chất lượng kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch

7.1 Khái niệm về chất lượng kiểm toán

Trong chuẩn mực số 220 - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán (Ban hànhtheo quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14/3/2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính) cónêu:

Trang 32

“Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên; đồng thời thỏa mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong thời gian định trước với giá phí hợp lý.”

Như vậy, chất lượng hoạt động kiểm toán có thể được xem xét dưới ba góc độ:

• Mức độ người sử dụng thông tin thỏa mãn đối với tính khách quan và độ tincậy của kết quả kiểm toán

• Mức độ của đơn vị được kiểm toán thỏa mãn về ý kiến đóng góp về nhằmmục đích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

• Báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã đề ra tronghợp đồng kiểm toán và chi phí dịch vụ kiểm toán phù hợp với mức độ kiểm toán

7.2 Kiểm soát chất lượng trong giai đoạn lập kế hoạch

Mục tiêu của kiểm soát chất lượng ở giai đoạn lập kế hoạch nhằm đảm bảo chocác nội dung:

• Thu thập thông tin đầy đủ về tình hình kinh doanh của khách hàng, hệ thống

kế toán cũng như chính sách kiểm toán nội bộ doanh nghiệp

• Bước đầu có nhận định ban đầu về rủi ro tiềm tàng và đánh giá rủi ro kiểmsoát

• Đánh giá đúng đắn mức trọng yếu cho các khoản mục kiểm toán

• Lập chương trình và xác định nội dung, thời gian, phạm vi của các thủ tụckiểm toán cần thực hiện một cách hiệu quả và có căn cứ xác thực

• Tổ chức thực hiện các bước công việc

Việc kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán chủ yếu là:

 Các vấn đề về kiểm soát khách hàng: Trước khi quyết định chấp nhận hoặcgiữ một khách hàng, cần đánh giá mức độ độc lập của công ty, khả năng đáp ứngnhững yêu cầu của khách hàng cũng như mức độ liêm khiết của ban lãnh đạo kháchhàng Phòng kiểm soát chất lượng sẽ kiểm tra lại Báo cáo đánh giá khách hàng và quatìm hiểu xác định khối lượng công việc đảm nhận mà ban lãnh đạo xác định giá phícho một cuộc kiểm toán

 Kiểm soát trình độ, năng lực và đạo đức của KTV: KTV phải tuân thủnhững chính sách, thủ tục kiểm soát chất lượng của công ty Nếu KTV thiếu trình độ,nghiệp vụ sẽ không đáp ứng được nhiệm vụ được giao ảnh hưởng tới chất lượng củacuộc kiểm toán do không lường hết sai phạm Hoặc KTV không trung thực, kháchquan sẽ để các lợi ích cá nhân chi phối đến hoạt động kiểm toán dẫn đến kết quả kiểmtoán sẽ bị sai lệch, bóp méo Điều này sẽ ảnh hưởng nặng nề hơn tới chất lượng BCTCvì những sai phạm đó chính là những sai phạm trọng yếu

 Sự phân công công việc giữa KTV chính và trợ lý KTV: Người có tráchnhiệm phân công phải xem xét các yếu tố như: yêu cầu về nhân viên và thời gian củahợp đồng kiểm toán; trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, địa vị của từng người, dựkiến thời gian hoàn thành công việc của người được giao việc Khi phân công côngviệc, cần cân nhắc đến tính liên tục, tính luân phiên và tính hệ thống để nhân viên cóthể thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất

Trang 33

8 Những vấn đề cần lưu ý khi lập kế hoạch kiểm toán BCTC các công ty niêm yết

 Xem xét chấp nhận khách hàng là khâu quan trọng hàng đầu trong giai đoạnlập kế hoạch kiểm toán BCTC các công ty niêm yết BCTC của các khách hàng nàyđược đông đảo đối tượng quan tâm Một khi đã chấp nhận kiểm toán doanh nghiệpniêm yết, đồng nghĩa với việc áp lực công việc và trách nhiệm của KTV trong việc nêu

ý kiến kiểm toán rất cao Do đó, KTV cần thận trọng, xem xét tìm hiểu thông tin trênnhiều khía cạnh để đưa ra quyết định có thực hiện kiểm toán cho một doanh nghiệpniêm yết hay không

 Xác định mức trọng yếu: Do sức ép từ thị trường tài chính, chứng khoán, sựcạnh tranh gay gắt trên thị trường cũng như sức ép từ kỳ vọng của những người sửdụng thông tin trên BCTC, chủ yếu là từ các cổ đông nhà lãnh đạo các công ty niêmyết có thêm động cơ để “phù phép” BCTC Do rủi ro xảy ra các sai phạm trọng yếucao, mức trọng yếu đối với nhóm khách hàng này cũng nên được xác định theo tỷ lệphần trăm chỉ tiêu được chọn thấp hơn các loại hình doanh nghiệp khác

 Cũng xuất phát từ nguyên nhân là áp lực lợi nhuận theo kế hoạch trong điềukiện kinh tế khó khăn nhằm thu hút đầu tư, doanh nghiệp niêm yết có khả năng chếbiến số liệu của mình để làm đẹp BCTC Trong đó, rủi ro xảy ra sai sót cao tập trung ởmột số khoản mục cụ thể, liên quan đến xác định kết quả sau cùng, chủ yếu là các chỉtiêu trên BCKQHĐKD như doanh thu và chi phí KTV cần chú ý đến việc đánh giá rủi

ro và phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục này phù hợp Thêm vào đó, KTVcũng nên thận trọng khi kiểm tra những khoản mục mà chịu sự đánh giá chủ quan củangười lập BCTC, chủ yếu là các chi phí ước tính như các khoản dự phòng

 Nhân lực cho cuộc kiểm toán: Đa phần các khách niêm yết là những công ty

có quy mô lớn, thông thường đây là các tổng công ty, có nhiều chi nhánh và ngànhnghề kinh doanh đa dạng, do đó cần phải sử dụng thêm các KTV dày dặn kinhnghiệm và tăng thời gian hướng dẫn, giám sát, kiểm tra chất lượng của một cuộc kiểmtoán lên so với điều kiện kiểm toán doanh nghiệp nói chung

Trang 34

CHƯƠNG II: THỰC TẾ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN

BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

I GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

1 Lịch sử hình thành và phát triển

Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

Tên giao dịch bằng tiếng Anh: Auditing and Accounting Company AAC LimitedTrụ sở chính : 217 Nguyễn Văn Linh TP Đà Nẵng

Điện thoại : (84) 0511 3 655 886

Website : http://www.aac.com.vn

Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC (trước đây là Công ty Kiểm toán và

Kế toán AAC trực thuộc Bộ Tài Chính thành lập từ năm 1993) là một trong số rất ítcác công ty kiểm toán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam AAC là công ty kiểm toánđộc lập trực thuộc Bộ Tài chính được thành lập trên cơ sở quyết định số194/TC/TCCB ngày 01/04/1993 và Quyết định số 106/TC-BTC ngày 13/02/1995 của

Bộ trưởng Bộ Tài chính Tiền thân là công ty kiểm toán DAC, trên cơ sở sáp nhập haichi nhánh kiểm toán tại thành phố Đà Nẵng

AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loại hìnhdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có qui chế riêng về việclựa chọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổ chức niêmyết trên sàn giao dịch chứng khoán Năm 2008 cũng là năm thứ hai AAC được Ủy banChứng khoán Nhà nước Việt Nam chấp thuận đủ điều kiện để kiểm toán các tổ chứcphát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam theo Quyết định số 02/2008/QĐ-UBCK ngày 02/01/2008

Ngày 06/01/2008, AAC đã được Hội đồng xét trao giải “ Thương mại Dịch vụ Top Trade Services 2007 ” - Bộ Thương mại bình chọn là một trong 06 công ty kiểmtoán được nhận giải cup “Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services 2007” Giảithưởng này được trao cho những doanh nghiệp tiêu biểu hoạt động trong 11 lĩnh vựcThương mại dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO, đã có nhữngđóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và ngành thương mạidịch vụ nói riêng, trong đó có dịch vụ kế toán, kiểm toán Năm 2008 và 2009, AACtiếp tục được Bộ Công Thương bình chọn vào top năm công ty kiểm toán tốt nhất ViệtNam và được trao cúp “ Top trade services ” Năm 2009, AAC được đài tiếng nói ViệtNam, Bộ Công Thương, Bộ Thông Tin và Truyền Thông, Bộ Văn Hoá, Thể Thao và

-Du Lịch… bình chọn và trao cúp vàng “ Doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu”, được hiệphội kinh doanh Chứng khoán Việt Nam (VASSB), tạp chí Chứng khoán Việt Nam ( Uỷban Chứng khoán Nhà nước), trung tâm Thông tin Tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam ( CIC)…trao tặng danh hiệu “ Tổ chức kiểm toán niêm yết uy tín”… Các giải

thưởng trên một lần nữa góp phần làm phong phú thêm bảng thành tích mà AAC đã

Trang 35

đạt được trong những năm qua, đặc biệt là tăng cường vị thế, uy tín và thương hiệu củaAAC trên thị trường dịch vụ kiểm toán và kế toán.

Tháng 9/2008, Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC đã trở thành thànhviên của hãng Kiểm toán quốc tế Polaris International Đây được coi là bước ngoặc lớntrong quá trình phát triển của công ty

2 Phương châm hoạt động và phương hướng phát triển

AAC hoạt động theo phương châm “chất lượng trong từng dịch vụ” và luôn đề cao tính độc lập, khách quan, trung thực và bí mật số liệu của khách hàng, đó cũng

chính là lời cam kết của công ty đối với mọi khách hàng trên toàn quốc

Mục tiêu hoạt động của AAC là giúp khách hàng và những người quan tâm bảovệ quyền lợi hợp pháp của mình, cung cấp cho họ những thông tin đích thực và cầnthiết để tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định quản

lý phù hợp với thực tiễn Hoạt động của AAC nhằm góp phần phát hiện và ngăn ngừanhững rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpđược thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Mục tiêu chiến lược của AAC là trởthành một trong những nhà cung cấp dịch vụ chuyên ngành hàng đầu tại Việt Nam.AAC đang thực hiện những bước đi vững chắc nhằm phát triển một thương hiệu uytín, chất lượng; đáp ứng tốt nhất sự tin tưởng và kỳ vọng của quý khách hàng trong cácgiao kết dịch vụ với AAC

AAC thực hiện kiểm toán theo đúng các nguyên tắc, chuẩn mực Kiểm toán ViệtNam và thông lệ kiểm toán quốc tế Phù hợp với những quy định hiện hành về hoạtđộng kiểm toán của Nhà nước Việt Nam

Các dịch vụ chuyên ngành của AAC được xây dựng trên nền tảng:

 Sự hiểu biết sâu sắc về đặc điểm ngành nghề, môi trường đầu tư và kinh doanhcủa các doanh nghiệp;

 Đội ngũ nhân viên có trình độ, được đào tạo bài bản và giàu tâm huyết;

 Các quy trình nghiệp vụ được thiết kế và biên soạn phù hợp với khuôn khổpháp lý và các yêu cầu mang tính kỹ thuật của từng dịch vụ;

 Sự kết hợp linh hoạt giữa kiến thức và kinh nghiệm, giữa phương tiện kỹ thuậthiện đại và khả năng xét đoán mang tính nghề nghiệp của các chuyên gia kiểm toán và

tư vấn

Tại AAC hiện có đội ngũ hơn 170 nhân viên chuyên nghiệp, chất lượng cao, uytín, đạo đức nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm cao Đây được xem là tài sản quý giánhất của công ty AAC còn có hệ thống đội ngũ kiểm toán được đào tạo có hệ thống ởViệt Nam, Anh, Bỉ, Pháp, Úc, Nhật Bản…và có nhiều kinh nghiệm thực tế về kiểmtoán và tư vấn tài chính – kế toán- thuế ở Việt Nam và quốc tế, 100% đội ngũ kiểmtoán viên và trợ lý kiểm toán viên cao cấp của AAC được đào tạo trực tiếp từ cácchuyên gia cao cấp về kiểm toán của cộng đồng châu Âu thông qua chương trình hợptác kiểm toán và kế toán của dự án EURO- TAPVIET do cộng đồng châu âu tài trợ.Ngoài ra, nhân viên của AAC còn được đào tạo chuyên sâu bởi các chương trình đàotạo trên đại học về tài chính kế toán, luật ở Việt Nam và các nước khác nên suốt quátrình phát triển công ty tạo dựng được lòng trung thành của khách hàng, các nhà đầu tư

ở khắp nơi Nhờ có đội ngũ kiểm toán chất lượng cao, ý thức trách nhiệm và đạo đứcnghề nghiệp trong sáng nên quá trình hoạt động AAC chưa hề xãy ra sai sót, rủi ro chokhách hàng, AAC luôn được các nhà đầu tư, các cơ quan chức năng tín nhiệm và đánhgiá cao về chất lượng phục vụ Với lợi thế là thành viên của Tổ chức kiểm

Trang 36

toán PrimeGlobal, AAC có điều kiện tiếp cận các cách thức và giải pháp cung cấp dịch

vụ tiên tiến Các chuyên gia kiểm toán và tư vấn của AAC được đào tạo và huấn luyệnnghiệp vụ theo các tiêu chuẩn quốc tế của PrimeGlobal Điều đó mang lại cho AACkhả năng cung cấp các dịch chuyên ngành với chất lượng vượt trội

Các dịch vụ chuyên ngành kiểm toán của AAC bao gồm:

 Kiểm toán báo cáo tài chính;

 Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành;

 Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế;

 Kiểm toán hoạt động;

 Kiểm toán tuân thủ;

 Kiểm toán nội bộ;

 Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở thủ tục thỏa thuận trước;

 Các dịch vụ khác về kiểm toán

Trong đó, kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán xây dựng cơ bản là hai mảngchính trong lĩnh vực kiểm toán

 Dịch vụ về thuế :

AAC nhận thức sâu sắc về các quyền lợi của khách hàng, hiểu rõ sự phức tạp củacác vấn đề về thuế, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, có rất nhiều cải cách quantrọng đã được tiến hành trong những năm gần đây nhằm tiếp cận và hội nhập với cácthông lệ quốc tế, khắc phục những bất cập trong hệ thống thuế và thu hút đầu tư Côngviệc của AAC là thường xuyên cập nhật và nắm bắt kịp thời các thay đổi trong chínhsách thuế, tài chính, kế toán, pháp luật kinh doanh tại Việt Nam cũng như các điều ướcquốc tế nhằm cung cấp cho khách hàng các giải pháp thuế phù hợp và hiệu quả nhất.Mục tiêu của AAC là mang những hiểu biết và kiến thức của mình phục vụ cho lợi íchcủa khách hàng, hỗ trợ khách hàng tốt nhất

Với đội ngũ chuyên gia tư vấn thuế được đào tạo bài bản và giàu kinh nghiệm,cung cấp những dịch vụ về thuế sau đây:

 Tư vấn thuế trọn gói;

 Soát xét và đánh giá việc tuân thủ nghĩa vụ thuế;

 Tư vấn kê khai và quyết toán thuế;

 Tư vấn thực hiện các quy định về tránh đánh thuế hai lần;

 Lập kế hoạch và cấu trúc thuế;

 Tư vấn về các ảnh hưởng về thuế đối với các hợp đồng tương lai, các quyếtđịnh tài chính;

 Hỗ trợ cập nhật các thay đổi về chính sách thuế;

Trang 37

 Các dịch vụ tư vấn khác về thuế.

 Dịch vụ về kế toán

Hệ thống pháp luật về kế toán và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đang trong quátrình hoàn thiện và dần hội nhập với các thông lệ kế toán quốc tế Tuy vậy, do nhữngyếu tố đặc thù về môi trường kinh doanh, cơ sở pháp lý cũng như các thiết chế của nềnkinh tế nên hệ thống kế toán Việt Nam vẫn duy trì rất nhiều đặc điểm riêng biệt Việcthường xuyên cập nhật và phản ánh kịp thời các thay đổi trong lĩnh vực kế toán tại ViệtNam là không hề đơn giản Trong một số trường hợp vận dụng cụ thể, các doanhnghiệp cần có sự tư vấn và hỗ trợ kịp thời nhằm đảm bảo các thông tin tài chính - kếtoán thật sự phù hợp và đáng tin cậy cho các quyết định kinh doanh

AAC hỗ trợ khách hàng trong công tác kế toán với các dịch vụ chuyên ngành sauđây:

 Ghi chép và giữ sổ kế toán;

 Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán;

 Tư vấn lập Báo cáo tài chính;

 Tư vấn chuyển đổi Báo cáo tài chính theo IAS, IFRS;

 Tư vấn lựa chọn phương pháp kế toán và hoàn thiện hệ thống kế toán;

 Các dịch vụ khác về kế toán

 Dịch vụ tư vấn tài chính và đầu tư

AAC mang đến cho các nhà quản lý và đầu tư nhiều lựa chọn về dịch vụ chấtlượng cao trong lĩnh vực tài chính và đầu tư Với đội ngũ kiểm toán viên, thẩm địnhviên và chuyên gia tư vấn giàu kinh nghiệm, AAC đã thực hiện thành công nhiều hợpđồng tư vấn tài chính cho mục đích cổ phần hóa doanh nghiệp, niêm yết trên thị trườngchứng khoán, mua bán – sáp nhập, tái cấu trúc doanh nghiệp, thiết lập và triển khai hệthống kiểm soát nội bộ Dịch vụ do AAC cung cấp luôn dựa trên nền tảng sự hiểu biếtsâu sắc về hành lang pháp lý chuyên ngành, yêu cầu mang tính kỹ thuật của từngnghiệp vụ và luôn quan tâm đến lợi ích thiết thực của khách hàng Điều này cho phépnhững người quản lý, nhà đầu tư và các bên hữu quan có được những lựa chọn phùhợp, đảm bảo tuân thủ các yêu cầu của luật pháp và khả năng mang lại lợi ích của cácquyết định đầu tư

Các dịch vụ tư vấn tài chính và đầu tư của AAC bao gồm:

 Tư vấn thành lập và quản lý doanh nghiệp;

 Tư vấn thiết lập cơ chế tài chính nội bộ;

 Dịch vụ định giá tài sản, xác định giá trị doanh nghiệp;

 Soát xét các báo cáo tài chính cho mục đích mua bán – sáp nhập;

 Thẩm định tình hình tài chính và giá trị tài sản trong tranh chấp, tài phán;  Tư vấn thủ tục mua bán, giải thể doanh nghiệp;

 Các dịch vụ tư vấn tài chính và đầu tư khác

 Dịch vụ đào tạo và tuyển dụng

Tận dụng lợi thế nguồn nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản và cónhiều kinh nghiệm thực tiễn, AAC thường xuyên chiêu sinh các khóa đào tạo, bồidưỡng và cập nhật kiến thức về kế toán, kiểm toán và thuế cho khách hàng thườngxuyên của AAC và các đối tượng học viên bên ngoài

Trang 38

Ngoài ra, AAC luôn sẵn sàng hỗ trợ trong việc lựa chọn và tổ chức thi tuyển cácứng viên cho bộ máy kế toán và kiểm toán nội bộ của các công ty.

Các dịch vụ đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng của AAC bao gồm:

 Đào tạo, bồi dưỡng kế toán trưởng;

 Đào tạo kiểm toán viên nội bộ;

 Cập nhật kiến thức tài chính, kế toán, kiểm toán;

 Đào tạo kỹ năng thực hành kế toán; bồi dưỡng kế toán trưởng, bồi dưỡngkiến thức chứng khoán;

 Các khóa học về thuế;

 Hỗ trợ tuyển dụng, tổ chức thi tuyển kế toán viên, kiểm toán viên nội bộ;  Dịch vụ đăng ký giấy phép lao động và tiền lương;

 Tư vấn thực hành thuế, thành lập doanh nghiệp, xác định giá trị và cổphần hóa doanh nghiệp, đầu tư và thủ tục cấp phép, tổ chức bộ máy kế toán

 Tư vấn việc lựa chọn trang bị các thiết bị tin học

 Các dịch vụ khác có liên quan

4 Khách hàng chính của công ty

Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC là công ty kiểm toán lớn nhất miềntrung hiện nay Với đội ngũ nhân viên tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệmcao đã tạo nên hình ảnh công ty uy tín trong tâm trí khách hàng và được chính phủ, Bộngành đánh giá cao Mạng lưới khách hàng của công ty trải dài khắp cả nước từ nam rabắc với nhiều loại hình kinh doanh và quy mô khác nhau

Doanh nghiệp trong nước gồm có:

Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 (CIENCO)

Tổng công ty xây dựng Miền Trung

Tổng công ty XNK xây dựng Việt Nam (VINACONEX)

Các công ty thuộc Bộ giao thông vận tải

Công ty xổ số kiến thiết Quảng Ngãi, Kon Tum, Phú Yên

Công ty điện Gia Lai

Công ty sách thiết bị Gia Lai

Công ty xây lắp Thừa Thiên Huế

Công ty cổ phần kinh doanh nhà Thừa Thiên Huế

…………

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

Công ty giày Rieker

Công ty liên doanh khoáng sản Bimal Bình Định

Công ty liên doanh ô tô Tanda

Công ty liên doanh giấy Việt Nhật (VIJACHIP)

Công ty liên doanh dăm gỗ Bình Định (BINHDINHCHIP)

Trang 39

Công ty phụ tùng xe DaerYang

Công ty Daiwa Việt Nam

Công ty TNHH dinh dưỡng động vật EH Bình Định Việt Nam

Công ty TNHH AVSS

Công ty Sinaran Việt Nam

………

Ngày đăng: 17/03/2018, 22:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tập thể tác giả khoa kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân (2005), Lý thuyết kiểm toán, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập thể tác giả khoa kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân (2005), "Lý thuyết kiểmtoán
Tác giả: Tập thể tác giả khoa kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2005
2. Tập thể tác giả khoa kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân (2006), Giáo trình kiểm toán tài chính, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập thể tác giả khoa kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân (2006), "Giáo trình kiểm toán tài chính
Tác giả: Tập thể tác giả khoa kế toán - Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2006
3. TS. Đoàn Thị Ngọc Trai (2008), Bài giảng kiểm toán Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai (2008)
Tác giả: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
Năm: 2008
7. Tập thể tác giả khoa kế toán-kiểm toán – Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2009), Giáo trình Kiểm toán, Nhà xuất bản Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập thể tác giả khoa kế toán-kiểm toán – Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2009), "Giáo trình Kiểm toán
Tác giả: Tập thể tác giả khoa kế toán-kiểm toán – Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
Năm: 2009
8. Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam – Chương trình kiểm toán mẫu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam –
6. Website : http://www.tapchiketoan.com/ Link
4. Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 5. Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và các phòng ban của công ty - Hoàn thiện công tác lập kế hoạch trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Hình 3. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và các phòng ban của công ty (Trang 40)
Hình 4. Cơ cấu tổ chức tại các phòng kiểm toán - Hoàn thiện công tác lập kế hoạch trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Hình 4. Cơ cấu tổ chức tại các phòng kiểm toán (Trang 41)
Hình 5. Quy trình lập kế hoạch kiểm toán BCTC - Hoàn thiện công tác lập kế hoạch trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Hình 5. Quy trình lập kế hoạch kiểm toán BCTC (Trang 44)
Sơ đồ mô hình rủi ro kinh doanh - Hoàn thiện công tác lập kế hoạch trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Sơ đồ m ô hình rủi ro kinh doanh (Trang 72)
Sơ đồ mô hình PEST - Hoàn thiện công tác lập kế hoạch trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Sơ đồ m ô hình PEST (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w