PHẦN MỞ ĐẦU Dưới góc độ triết học xã hội vấn đề môi trường sinh thái là một điều mới mẻ.Trong vài thập kỷ gần đây, vấn đề môi trường sinh thái nổi lên như một vấn đề mang tính toàn cầu, cấp bách của thời đại. Vấn đề môi trường sinh thái ngày nay đang đụng chạm đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và liên quan đến nhiều khoa học.Những khía cạnh khác nhau của vấn đề môi trường như sinh học, kinh tế, địa lý, y học, tư tưởng, chính trị, đạo đức... Từ thực tiễn nghiên cứu và giải quyết vấn đề sinh thái của thời đại và trong điều kiện cụ thể của nước ta đã nảy sinh nhu cầu cần thiết phải có một cơ sở lý luận phương pháp luận chung nền tảng cho việc xem xét mối quan hệ giữa con người và tự nhiên , đặc biệt là vai trò ngày càng to lớn của con người và xã hội trong việc biến đổi tự nhiên, và ngày nay là việc khắc phục những mặt tiêu cực của quá trình phát triển xã hội, để làm thế nào loài người có thể trở lại sống hài hoà thực sự với tự nhiên trong thế giới hiện đại. Xuất phát từ góc độ triết học xã hội, có 3 vấn đề chung nhất được nêu lên: A MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ NHIÊN,XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI. BTHỰC CHẤT CỦA VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI HIỆN NAY CVẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Dưới góc độ triết học- xã hội vấn đề môi trường sinh thái là một điều mớimẻ.Trong vài thập kỷ gần đây, vấn đề môi trường sinh thái nổi lên như một vấn đềmang tính toàn cầu, cấp bách của thời đại
Vấn đề môi trường sinh thái ngày nay đang đụng chạm đến nhiều lĩnh vực khácnhau của đời sống xã hội và liên quan đến nhiều khoa học.Những khía cạnh khácnhau của vấn đề môi trường như sinh học, kinh tế, địa lý, y học, tư tưởng, chính trị,đạo đức Từ thực tiễn nghiên cứu và giải quyết vấn đề sinh thái của thời đại và trongđiều kiện cụ thể của nước ta đã nảy sinh nhu cầu cần thiết phải có một cơ sở lý luận-phương pháp luận chung nền tảng cho việc xem xét mối quan hệ giữa con người và tựnhiên , đặc biệt là vai trò ngày càng to lớn của con người và xã hội trong việc biến đổi
tự nhiên, và ngày nay là việc khắc phục những mặt tiêu cực của quá trình phát triển
xã hội, để làm thế nào loài người có thể trở lại sống hài hoà thực sự với tự nhiên trongthế giới hiện đại
Xuất phát từ góc độ triết học- xã hội, có 3 vấn đề chung nhất được nêu lên:A- MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ NHIÊN,XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI
B-THỰC CHẤT CỦA VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI HIỆN NAY
C-VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
A.MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ NHIÊN,XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI.
Một trong những biểu hiện quan trọng nhất, rõ ràng nhất tính thống nhất vật chấtcủa thế giới là sự thống nhất bền vững và biện chứng giữa các yếu tố trong
hệ thốngTự nhiên-Con người-Xã hội Sự thống nhất đó được thực hiện thông qua mốiquan hệ, sự tác động và qui định lẫn nhau giữa xã hội và tự nhiên, trong quá trình hoạtđộng sống và làm nên lịch sử loài người
Để có được sự hiểu biết đầy đủ và sâu sắc những vấn đề đang đặt ra trong lĩnh vựcmôi trường sinh thái cũng như tìm kiếm các con đường đúng đắn giải quyết chúng,cần phải có cách tiếp cận triết học-xã hội đối với vấn đề về mối quan hệ giữa conngười- xã hội-tự nhiên.Bởi vì môi trường sinh thái ngày nay không chỉ là nghiên cứucủa các khoa học tự nhiên, mà còn là đối tượng nghiên cứu của các khoa học kỹ thuật,khoa học xã hội và của triết học,ở đây, dựa trên những di sản tư tưởng của triết họcMác-Lê-Nin, trên những tri thức của thời đại, và ba nguyên lý cơ bản đã được đưa ralàm cơ sở cho việc nghien cứu mối quan hệ giữa con người-xã hội-tự nhiên
1 Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới.
Thế giới vô cùng phức tạp, muôn hình muôn vẻ, muôn màu, muôn sắc nhưng đều
có 1 tính chất chung- đó là vật chất, giới tự nhiên là vật chất; con người là sản phẩmcủa tự nhiên, là một bộ phận đặc thù của tự nhiên; xã hội là sản phẩm của các sự tácđộng giữa người và người, nên xã hội không thể là một cái gì khác,mà chính là một
bộ phận được tách ra một cách hợp quy luật của tự nhiên.Như vậy,tự nhiên con người
và xã hội đều là vật chất đã gắn kết tất cả các yếu tố của thế giới thành một chủ thểtoàn vẹn một hệ thống tự nhiên, con người, xã hội.Đây là một nguyên lý có tínhphương pháp luận quan trọng nhất, bởi vì,với nguyên lý này cho phép chúng ta hiểuđược bản chất của mối quan hệ giữa con người xã hội và tự nhiên,hướng các khoa
Trang 3mâu thuẫn giữa các yếu tố của hệ thống nhằm giữ vững sự thống nhất vật chất của thếgiới.
1.2-Nguyên lý về sự phụ thuộc của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên vào trình độ phát triển của xã hội.
Thế giới là vật chất, luôn vận động,biến đổi và phát triển trong mối quan hệchặt chẽ,ràng buộc lẫn nhau giữa các yếu tố.Nguyên lý này khẳng định rằng mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên mang tính chất lịch sử cụ thể, nghĩa là mối quan hệ này
có tính chất khác nhau trong thời đại khác nhau.Sự khác nhau này phụ thuộc vàotrình độ phát triển của xã hội,trước hết là phương thức sản xuất với tư cách là độnglực phát triển của xã hội,trong đó lực lượng sản xuất xã hội giữ vai trò chủ đạo.Trong
sự phát triển của xã hội đã từng diễn ra bốn cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất
đã đưa ra nhân loại từ mông muội,dã man sang văn minh nông nghiệp,văn minh côngnghiệp và văn minh trí tuệ.Trong qúa trình đó,mối quan hệ giữa con người và tự nhiêncũng diễn ra ở bốn mức độ: Sự phụ thuộc hoàn toàn mù quáng của con người vào tựnhiên, hay sự hài hòa tuyệt đối giữa con người và tự nhiên, tiếp đến là giai đoạn conngười đã bắt đầu phân biệt sự khác nhau giữa họ và tự nhiên, song lúc này con ngườichỉ mới biết khai thác tự nhiên trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp,cùng với cuộccách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVII, cách mạng khoa học-kỹ thuật đã xuất hiệnmâu thuẫn giữa con người và tự nhiên và mâu thuẫn đó càng ngày càng gay gắt.Chínhmâu thuẫn đó là nguồn gốc của thực trạng môi trường sống hiện nay trên thế giới.Qúatrình lịch sử vẫn tiếp tục, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,con người cóđược những điều kiện,cả về nhận thức lẫn phương tiện để giải quyết những mâu thuẫngiữa xã hội với tự nhiên
1.3-Nguyên lý về sự điều khiển có ý thức mối quan hệ giữa con người và
tự nhiên.
Hệ thống tự nhiên con người- xã hội là một hệ thống vật chất thống nhất.Trong
hệ thống này con người đang là dạng vật chất có tổ chức cao nhất và đồng thời cũng
là dạng vật chất duy nhất có ý thức.Bởi vậy, chỉ có con người mới là khả năng giải
Trang 4quyết những mâu thuẫn gay gắt giữa xã hội và tự nhiên.Hơn nữa,bản thân tự nhiên vềmặt cấu trúc cũng như chức năng hoàn toàn không có gì mâu thuẫn với con người với
xã hội,mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên chỉ xuất hiện trong qúa trình hoạt độngsống và phát triển xã hội của con người,quan trọng nhất là qúa trình sản xuất ra củacải vật chất điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiênnghĩa là phải nắm bắt được những quy luật của tự nhiên đồng thời phải biết vận dụngnhững quy luật đó vào hoạt động thực tiễn của xã hội.Với mục đích đưa xã hội trở lạivới tự nhiên,con người trong các hoạt động thực tiễn của mình phải biết tuân thủ theocác nguyên tắc tự tổ chức,tự điều chỉnh,tự làm sạch,tự bảo vệ tự nhiên.Để có thể xâyđựng được mối quan hệ thật sự giữa xã hội và tự nhiên,con người cần phải thay đổichiến lược phát triển xã hội,từ chỗ chỉ vì lợi ích của xã hội,của con người sang vì lợiích,vì sự tồn tại và phát triển của cả hệ thống tự nhiên-con người-xã hội,nghĩa là thựchiện chiến lược phát triển bền vững ví sự sống sự tồn tại không chỉ của thế giới hômnay, mà còn vì sự sống và cơ hội phát triển của thế hệ mai sau
*Ba nguyên lý trên đây là nguyên lý triết học-xã hội về mối quan hệ giữa conngười xã hội và tự nhiên.Chúng cho ta một thế giới quan và phương pháp luận chungnhất để nghiên cứu vẫn ở môi trường sinh thái ngày nay.Song việc chuyên nghiên cứucác vấn đề thuộc lĩnh vực mối quan hệ con người, xã hội và tự nhiên thuộc về mộtkhoa học mới: Sinh thái học-xã hội học hay còn có thể gọi là sinh thái học nhân văn
B.THỰC CHẤT CỦA VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI HIỆN NAY 2- Sinh thái, sinh thái học và môi trường sinh thái
Theo cách hiểu chung nhất thì sinh thái học đó là khoa học về các mối quan hệqua lại và tác động lẫn nhau giữa các cơ thể sống và môi trường xung quanh chúng.Sinh thái học và phép biện chứng rất gần nhau Nếu như phép biện chứng nghiên cứumối liên hệ phổ biến và sự phát triển của tự nhiên, thì sinh thái học nghiên cứu cácmối liên hệ ở phạm vi hẹp hơn, giữa cơ thể với môi trường sống của nó Phép biện
Trang 5Mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường sống cũng là một mối quan hệ phổ biến, màsinh thái học chuyên bàn về mối quan hệ đó.
Qua định nghĩa về sinh thái, sinh thái học cho phép chúng ta rút ra những hiểubiết về môi trường sinh thái Môi trường sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện
tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ có liên quan đến sự sống của con người, sự tồntại và phát triển của xã hội
2.1- Vấn đề môi trường sinh thái ngày nay
Trong thời đại chúng ta,khi mà cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã bùng
nổ đến đỉnh cao, chất lượng sống của xã hội loài người đã có những bước tiến rõ rệt
do khoa học công nghệ và năng suất lao động xã hội mang lại Những của cải được nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và phong phú về chủng loại đã phần nào thoả mãn vềvật chất và tinh thần của con người, đã đưa tới sự phát triển nhanh cụa nền văn minh nhân loại Song chính từ sự phát triển ấy đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm như tăng trưởng dân số quá nhanh tiêu dùng một cánh quá mức của cải, tài nguyên, năng lượng làm mất cân bằng sinh thái của trái đất Thiên tai bão, lũ, lụt, ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội, đe doạ đến cuộc sống hiện tại và tương lai của con người Đứng trước áp lực của thực tế khắc nghiệt này, con người không còn cách lựa chọn nào khác
là phải xem lại những hành vi ứng sử với thiên nhiên, phương sách phát triển kinh tế – xã hội và tiến trình phát triển cửa mình Tuy nhiên, mãi tói năm 1972, Liên Hợp
Quốc mới chinh thức tổ chức hội nghị về Vấn đề môi trường và con người tại
Stockhom (Thuỵ Điển)
Mọi nghiên cứu của con người đều nhằm mục đích tối cao là bảo vệ sự sống, sựphát triển toàn diện của con người, sự sinh tồn và sự phát triển của xã hội.Môi trườngsống của con người phải là môi trường tự nhiên- xã hội Môi trường sinh thái là môitrường có liên quan trực tiếp đến sự sống của con người và xã hội Do đó vấn đề môitrường sinh thái mà ngày nay con người đang tập trung nghiên cứu để tìm ra phương
Trang 6án tối ưu giải quyết nó, thực chất là vấn đề về mối quan hệ giữa con người, xã hội và
tự nhiên
Sinh thái học đã tiến từ việc nghiên cứu mối quan hệ cơ thể- môi trường sangnghiên cứu mối quan hệ con người, xã hội và tự nhiên- sinh quyển, sinh thái học ngàynay đã đạt được những đổi mới lớn lao như đã sinh thái hoá 1 số quan điểm lý luậnchung, đặc biệt là ở khía cạnh thế giới quan và phương pháp luận.Bởi vì trước thựctrạng phát triển của các vấn đề sinh thái hiện nay, đòi hỏi phải có những thay đổi cơbản đối với những quan điểm truyền thống đã bám rễ hàng thế kỷ nay trong giới khoahọc tự nhiên cũng như trong nhận thức của con người về ý nghĩa xã hội lớn lao củacác quy luật sinh thái học
Nhiệm vụ của sinh thái học hiện đại là tổng hợp lại các khuynh hướng cơ bản, làm
rõ các mối liên hệ ngược giữa tự nhiên và con người, sự biến đổi của tự nhiên bởi conngười, ảnh hưởng của môi trường tự nhiên lên con người và những khả năng thíchnghi của con người lên môi trường đã bị biến đổi, sự cần thiết phải bảo vệ môi trườngsống với tư cách môi trường dinh dưỡng của con người, và sử dụng hợp lý môi trường
đó với tư cách là môi trường sản xuất của nó Trong sinh thái học hiện đại, con người
đã trở thành đối tượng nghiên cứu trực tiếp của khoa học tự nhiên, còn đối tượng củakhoa học tự nhiên- giới tự nhiên trở thành đối tượng trực tiếp của khoa học về conngười
Sự hình thành sinh thái học- xã hội chủ yếu là do tính phức tạp của quá trình tácđộng qua lại giữa con người và môi trường tự nhiên từ giữa thế kỷ XX trở lại đây
2.2-Khái quát môi trường sinh thái ngày nay
-Nguồn nguyên liệu hoá thạch cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên kháckhông phải là vô hạn Vấn đề là ở chỗ con người cần phải biết dự đoán trước cácnguồn tài nguyên đó, vì đây là các nguồn tài nguyên không tái tạo được.Ngày nayngoài nguồn năng lượng do nhiên liệu hoá thạch cung cấp như than dầu lửa, khí đốt,con người đang chuyển dần sang sử dụng các nguồn năng lượng khác như năng lượng
Trang 7nguyên tử, năng lượng mặt trời, sức gió, sức nước, song chi phí rất lớn, đắt hơn so vớinhiên liệu hoá thạch.
-Các nguồn tài nguyên thiên nhiên tái tạo được như không khí, rừng, đất, nước,động thực vật
2.2.a-Tài nguyên rừng: trong đó rừng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng đối với
cuộc sống con người.Bằng chứng là hơn 6 tr km2 rừng rộng bằng một nửa diện tíchChâu âu bị đốn trụi trong 20 năm qua.Diện tích rừng ngày càng bị co hẹp lại vì tìnhtrạng khai thác bừa bãi Mỗi năm tổng số rừng nhiệt đới giảm 8000 km2 Hiện nayrừng toàn thế giới đang kêu cứu.Ngay từ đầu thế kỷ XVIII, nồng độ khí cacbonic đãtăng 27% và đang nhanh chóng tăng lên.Cứ mỗi phút trôi qua, có tới 21,5 héc ta rừngnhiệt đới bị phá huỷ ,hàng năm có tới 17 triệu ha rừng nhiệt đới bị hạ, sự cằn cỗi đấtđai, hạn hán và lũ lụt, sự thất bát của mùa màng, dẫn đến tình trạng nghèo đói, là sựnghèo dần tính đa dạng sinh học, do nơi cư trú của chúng bị phá hoại, là sự tăng hàmlượng CO2 trong khí quyển- gây nên”hiệu ứng nhà kính”, tăng hàm lượng cacbonictrong khí quyển, mặt đất sẽ bị nung nóng thường xuyên và mất đi chất màu mỡ.ChâuPhi, Châu á, Châu Mỹ La Tinh bị bóc lột thậm tệ phải bán rừng để cầm hơi, dù rừng làmạng sống của đất nướ, làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất
2.2.b-Tài nguyên đất: sự mất mát quá lớn của rừng dẫn đến nghèo kiệt đất đai và
sự mất dần những sinh vật quí hiếm.Nhiều đất đai trồng trọt bị xói mòn, bùn cát lấpcác con sông trên thế giới gấp 3 lần thế kỷ trước.Hàng năm trên toàn trái đất, hoạtđộng của con người đã rửa trôi khoảng 25400 triệu tấn lớp đất bề mặt của những vùngđất đang được sử dụng, làm mất đi khoảng21 triệu hécta đất đai phì nhiêu.Quả bomdân số sẽ tạo nên hiện tượng hoang mạc hoá đất đai.Hiện nay ở Châu Phi, Châu á,Châu Mỹ, mỗi năm có khoảng 6 tr ha đất đai bị hoang mạc
2.2.c-Động thực vật: Con người không để cho nhau được sống yên lành,và cũng
không để cho muôn loài tồn tại Vậy mà trái đất vốn là nơi nương náu và sinh trưởngcủa muôn loài Nhiều nhà chuyên môn dự đoán rằng trong vòng 20-30 năm tới có khảnăng 1/4 số loài sinh vật trên hành tinh nghĩa là khoảng 1 triệu loài sẽ có nguy cơ bị
Trang 8tuyệt chủng, trung bình mỗi ngày mất khoảng 100 loài.Nhờ sự khám phá Châu Mỹ đãdẫn tới diệt chủng đàn bò bidông,nhiều loài thú đẹp đẽ khác,kể cả đàn sói.Đàn voiChâu Phi chỉ còn 1/10, mỗi năm có 5000 con voi bị giết Từ đất nước của voi, tê giác
1 sừng, tê giác 2 sừng, bầy hổ báo, hươu nai Hiện nay chúng ta chỉ còn khoảng500con voi, dăm bảy con tê giác và vài chục con bò rừng.Chúng ta đang lấn chiếm môitrường sống của chúng, bắt giết chúng để mưu lợi lộc.Đã nhiều năm qua chúng tadửng dưng và nương nhẹ lũ săn trộm tàn bạo
2.2.d-Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá: 3/4bề mặt của trái đất là
nước nhưng trong đó nứơc ngọt cần cho sự sống của các sinh vật trên cạn, cho conngười và nền sản xuất xã hội lại chỉ chiếm một tỷ lệ rất không đáng kể Ước tính trongvòng 30 năm tới, khoảng 1/3dân số trên thế giới sẽ bị thiếu nước thường xuyên.Nguyên nhân thiếu nước là do dân số tăng nhanh, do sự gia tăng nhu cầu về nước chophát triển công nghiệp và nông nghiệp.(Theo thông điệp của VNEP nhân ngày thếgiới về nước 22-3-1996)
-Nạn ô nhiễm nặng nề môi trường sinh thái đang hàng ngày hàng giờ bào mòn cơthể tự nhiên, lẫn xã hội, nhưng cho đến nay con người vẫn chưa thể kiểm soát được
2.2.e-Một hiểm hoạ quan trọng nhất do con người tạo ra đó là vấn đề dân số.Dân số thế giới tăng với tốc độ khủng khiếp Thời phục hưng, dân số thế giới mới
có 450 tr người,năm 1900 là 1,5 tỷ;năm 1950 là 2,5 tỷ và hiện nay là 5,4 tỷ.Theo dựbáo của Liên hợp quốc, đến năm 2075 dân số thế giớ là 10 tỷ người, 10 tỷ người sẽkhai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, nạn ô nhiễm môi trường sinh thái gia tăng
và áp lực của làn sóng nhập cư từ các nước nghèo sang nước giàu ngày càng khốc liệthơn, từ đó gây ra các cuộc xung đột vũ trang triền miên
Bước vào năm 2000, nạn ô nhiễm môi trường đã đến giới hạn cuối cùng mà tráiđất có thể chịu đựng được
3.Một số giải pháp cơ bản đối với vấn đề môi trường sinh thái ngày nay:
-Thay đổi về nhận thức- xây dựng ý thức sinh thái
Trang 9-Tiến hành những hoạt động có ý thức nhằm tái sản xuất và tiến đến tái sản xuất
mở rộng chất lượng môi trường sinh thái
-Sự kết hợp các mục tiêu kinh tế và sinh thái
-Hướng mọi hoạt động của con người vào mục đích phát triển bền vững của xãhội
-Vai trò của thông tin và hệ thống điều khiển môi trường sinh thái
C.VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM.
Trái đất chúng ta là một mái nhà Việt Nam với tư cách là một thành viên củangôi nhà trái đất, vì vậy phải có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và tôn tạo vẻ sạch đẹpcủa ngôi nhà trái đất như mọi thành viên khác của thế giới
3-Môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay thực trạng và đặc điểm.
Đối với nước ta, khi xem xét hiện trạng và đặc điểm của môi trường sinh tháicần phải xuất phát từ việc phân tích những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình tácđộng qua lại giữa con người và tự nhiên trong điều kiện của một nước còn chậm pháttriển, nhưng lại đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố hiện đại như kỹ thuật,công nghệ, cơ chế thị trường , và cả những yếu tố truyền thống văn hoá dân tộc nhưquan niệm của con người về tự nhiên, về mối quan hệ của họ với tự nhiên.Chínhnhững quan niệm đó là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên những mâuthuẫn giữa con người và tự nhiên trong các quá trình khai thác và sử dụng thiên nhiêntrong điều kiện hiện nay ở nước ta
Nước ta có nhiều ưu thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và những điều kiện địa
lý tự nhiên, đặc biệt là có thế mạnh về nguồn tài nguyên tái tạo (rừng, đất đai, độngthực vật), một số loại tài nguyên khoáng sản( dầu mỏ, than đá, đất hiếm ) Khí hậunhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm, mặt trời chiếu sáng quanh năm là nguồn cung cấp nănglượng vô tận cho sự sống của con người và mọi sinh vật.Song, trong mấy chục nămqua , với số tài nguyên sẵn có, một mặt chúng ta chưa biết khai thác và sử dụng hợp
lý, tiết kiệm dẫn đến sự nghèo nàn và cạn kiệt số tài nguyên đó, và mặt khác còn gây
ra ô nhiễm môi trường pháp
Trang 103.1- Hiện trạng môi trưòng sinh thái Việt Nam: Các vấn đề bức xúc
Các vấn đề sinh thai trong lĩnh vực sản xuất vật chất và tiêu dùng: Nổi bật nhất
trong lĩnh vực này là nguy cơ khan hiếm và cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên
nhiên cùng với sự giai tăng nạn ô nhiễm môi trường sống.
3.1.a-Tài nguyên rừng:
Đây là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ta đang bị conngười tấn công và tàn phá dữ dội nhất Nếu như vào năm 1945, độ che phủ của rừng
là 48% tổng diện tích cả nước thì sau hơn 50 năm, đặc biệt là trong những thập niên
80, 90 của thế kỷ hai mươi, độ che phủ của rừng đã giảm sút một cách đáng lo ngại,
có lúc chỉ còn khoảng 20%, dưới mức an toàn cho phép (dưới 30% là báo động đốivới môi trường) Theo số liệu thống kê năm 2000, độ che phủ của rừng Việt Nam đãphục hồi trở lại và đạt trên 30%, nghĩa là vượt qua ngoài tầm báo động Tuy nhiên, sựphục hồi này chủ yếu là do rừng mới trồng, giá trị sinh thái không cao
+Ngoài lý do chủ yếu là bị con người khai thác bừa bãi, sự suy giảm của rừngnước ta còn bị cháy, bị lũ lụt hoặc sâu bọ tàn phá Trong những năm gần đây, các vụcháy rừng ở U Minh Thượng, U Minh Hạ, Cà Mau, Đắc Lắc vv ; các vụ sâu róm pháhoại rừng ở nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình… đã tiêu huỷ hàng chục hécta rừng, trong
dó có những cánh rừng nguyên thuỷ vô cùng quý hiếm- những bảo tàng tự nhiên về
đa dạng sinh học hiếm hoi còn sót lại trên Trái Đất Nhìn chung, cho đến nay, rừngViệt Nam Vẫn đang tiếp tục giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng, mặc dù nhà nước
ta đã có lệnh đóng cửa rừng từ năm 1996
+Do chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hoá học của Mỹ đã để lại di hại trên 48%diện tích trồng trọt, lâm nghiệp ở miền Nam Mức độ mấtrừngquálớn:200.000ha/năm, trong đó có 60.000ha bị chặt phá làm nôngnghiệp,50.000ha bị cháy,còn lại là do khai thác lấy gỗ, củi.Mức trồng rừng hàng năm80.000-100.000ha không đủ bù đắp lại số rừng bị mất Hơn nữa, rừng tái sinh và rừngtrồng có giá trị kinh tế và đặc biệt là giá trị sinh thái không cao
Trang 113.1.b-Tài nguyên đất: rừng có mối quan hệ chặt chẽ với đất đai Vốn đất đai nước
ta không phải là ít Với hơn 33 triệu ha,đất đai Việt nam đứng thứ 12 trên thế giới,nhưng tính bình quân đầu người thì rất thấp, còn bình quân diện tích đất canh tác theođầu người vào loại thấp nhất thế giới
Với 70% lao động và khoảng 80% dân số cả nước đang hoạt động, sinh sốngtrong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và nông thôn, đất đai, nhất là đất canh tác nôngnghiệp luôn là nguồn vốn lớn, quan trọng của nền kinh tế, là tài sản quý giá nhất đốivới người Việt Nam Tuy nhiên nguồn tài nguyên này cũng đang bị suy gian\mr về sốlượng cũng như chất lượng do nhiều nguyên nhân khác nhau Đất đai bị suy kiệt dorừng bị tàn phá nặng nề, không điều hoà được nước, gây xói mòn, lở đất, laterit hoáđất, vữa trôi các chất màu mỡ vv…;do các hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện đạinhư việc sử dụng máy móc cơ giới để làm đất, việc lạm dụng các chất hoá học trongphòng trừ dịch hại, các loại phân hoá học đã giết hại những quần thể sinh vật có lợitrong đất, trong nước; do nững tác động tiêu cực từ các chất thải của sản xuất côngnghiệp hoặc do việc mở rọng các làng nghề, do việc đô thị hoá công nghiệp hoávv…
3.1.c-Tài nguyên nước ngọt và sạch:
+Hiện nay, đối với Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới, nước ngọt và sạch là một trong những vấn đề sinh thái nhân văn bức xúc, nan giải nhất Nhìn chung, do một số điều kiện tự nhiên thuận lợi trong đất, nguồn nước ngọt của Việt Nam không thiếu thâm chí có lúc còn quá thừa thãi gây nên ngập lụt kéo dài Tuy nhiên nước ngọt và sạch hiện nay ở ta đã có hiệu khan hiếm và trở thành một vấn đề sinh thái nhân văn cần được quan tâm và giảI quyết Bởi vì, phần lớn các nguồn nước ngọt và sạch, cả mặt nước, lẫn các mạch nước ngầm đều đang bị ô nhiễm bởi các chất thải của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, chất thảI của các bệnh viện và chất thảI của sinh hoạt Hầu hết các loại chất thảI chưa dược sử lý và trực tiếp đổ vào sông, ao, hồ, kênh rạch, cống rãnh… Trong khi đó, hệ thống cấp thoát nước ở các thành phố, thị xã , thị trấn còn rất thô sơ, không đồng bộ và thiếu nhiều Các chất thảI độc hại được đổ