1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Truyền thống công nhân mỏ than Vàng Danh - Uông Bí - Quảng Ninh

128 752 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Truyền thống công nhân mỏ than Vàng Danh - Uông Bí - Quảng Ninh
Tác giả Trần Văn Lễ, Nguyễn Văn Dậu, PGS, TS. Nguyễn Quý, TS. Khổng Đức Thiêm, Nguyễn Tĩnh Khảm, Trần Thị Vui, Trịnh Công Toàn, Nguyễn Khắc Giao, Nguyễn Đức Hoạt, Phạm Hữu Xuyên, Nguyễn Tam Hng
Trường học Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Thể loại sách
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 537 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết quả mà Công ty than Vàng Danh đạt đợc ngoài truyền thống "Kỷ luật và đồng tâm" của công nhân ngành Than, niềm tin tuyệt đối vào sự l nh đạo của Đảng còn có sức mạnh của truyềnã

Trang 2

ban su tÇm t liÖu, biªn so¹n

PGS, TS NguyÔn Quý - ViÖn LÞch sö §¶ng

NguyÔn §øc Ho¹t - Trëng ban Tuyªn gi¸o

§¶ng uû C«ng ty than Vµng Danh

Ph¹m H÷u Xuyªn - Phã V¨n phßng thi ®ua

C«ng ty than Vµng Danh

NguyÔn Tam Hng - Trëng phßng Tin häc - M«i trêng

Trang 3

lời nhà xuất bản

Trên vòng cung Đông Triều thuộc vùng Đông Bắc Tổ quốc,

Mỏ than Vàng Danh nằm trọn trong vùng núi rừng Yên Tử

-Bảo Đài linh thiêng và hùng vĩ

Sau khi đặt xong ách đô hộ trên đất nớc ta, ngay từ cuộc

khai thác vùng mỏ vàng đen của đất nớc, làm giàu cho t bản

chính quốc Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp chính thức khai thác

Mỏ Vàng Danh - Uông Bí Hàng vạn nông dân đồng bằng châu

thổ sông Hồng bị bần cùng hoá sung vào đội ngũ phu mỏ, trở

thành lớp vô sản đầu tiên, một trong những cái nôi của giai cấp

công nhân Việt Nam

Gần một thế kỷ, Mỏ than Vàng Danh trải qua nhiều giai

đoạn phát triển, nhiều biến cố, thăng trầm Từ một vùng bị tàn

phá trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sau khi miền

bớc khôi phục sản xuất của khu Mỏ Quảng Ninh, trong đó có Mỏ

than Vàng Danh

Ghi nhận sự đóng góp to lớn của cán bộ, công nhân Công ty

than Vàng Danh cho đất nớc qua các thời kỳ lịch sử, nhất là thời

quý Anh hùng Lao động cho Công ty than Vàng Danh trong thời

kỳ đổi mới

Nhân dịp đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động và tiến

Vàng Danh tổ chức biên soạn cuốn sách Truyền thống công

nhân mỏ Công ty than Vàng Danh (1964-2004) nhằm ghi lại một

phần những đóng góp, những truyền thống, kinh nghiệm và bàihọc quý báu của cán bộ, công nhân Vàng Danh

Khi bắt tay biên soạn, các tác giả của tập sách gặp rất nhiềukhó khăn, đặc biệt là việc su tầm tài liệu Nhng do có sự cộngtác nhiệt tình của các nhà khoa học thuộc Viện Lịch sử Đảng,

than Vàng Danh kỷ niệm 40 năm ngày thành lập

thành việc biên tập và xuất bản cuốn sách này, nhng chắc chắncuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đợc bạn

đọc góp ý, phê bình

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc và chúcmừng Công ty than Vàng Danh nhân dịp đón nhận danh hiệuAnh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới và kỷ niệm 40 nămngày thành lập

Tháng 5 năm 2004

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

Trang 4

Lời giới thiệu

Mỏ than Vàng Danh đợc thành lập ngày 6 tháng 6 năm

nghiệp nặng Ngày 16 tháng 10 năm 2001, Mỏ đợc đổi tên

thành Công ty than Vàng Danh theo Quyết định số

405/QĐ-HĐQT của Hội đồng Quản trị Tổng Công ty than

Việt Nam

Công ty than Vàng Danh là một doanh nghiệp sản

qua một chặng đờng phấn đấu gian khổ, nêu cao tinh thần

tự lực tự cờng, phấn đấu đi lên Những kết quả mà Công

ty than Vàng Danh đạt đợc ngoài truyền thống "Kỷ luật và

đồng tâm" của công nhân ngành Than, niềm tin tuyệt đối

vào sự l nh đạo của Đảng còn có sức mạnh của truyềnã tiến hành

thống lao động cần cù, vợt khó, sáng tạo, dũng cảm trong

sản xuất và chiến đấu, phát huy cao nhất nội lực, từng bớc

tháo gỡ khó khăn, không ngừng đổi mới cách nghĩ và cách

làm, phơng thức tổ chức thực hiện, đặc biệt là phơng thức

quản lý, công nghệ, từng bớc hiện đại hoá theo con đờng đổi

mới của Đảng và Nhà nớc Nhờ đó mà Công ty than Vàng

của ngành Than và của đất nớc

và bài học quý báu, là điểm tựa để Công ty than VàngDanh vững bớc trong tơng lai

Trân trọng công lao của các thế hệ thợ mỏ, nhân kỷniệm 40 năm thành lập, Công ty su tầm, biên soạn cuốn

Truyền thống công nhân mỏ Công ty than Vàng Danh (1964-2004)

Do tài liệu lu trữ bị thất lạc nhiều nên công việc biênsoạn gặp không ít khó khăn và chắc chắn còn nhiều thiếusót, rất mong cán bộ, công nhân, viên chức đ và đangã tiến hành

công tác tại Công ty cùng bạn đọc góp ý, cung cấp thêm tliệu để bổ sung, chỉnh lý cho các lần tái bản có chất lợngngày càng hoàn chỉnh hơn

Nhân dịp này, xin chân thành cảm ơn các cơ quan,ban, ngành, đoàn thể, các thế hệ thợ mỏ Công ty thanVàng Danh, đặc biệt là Viện Lịch sử Đảng - Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị

tầm t liệu, nghiên cứu, biên soạn và xuất bản cuốn sáchnày

Xin trân trọng giới thiệu cuốn Truyền thống công nhân

mỏ Công ty than Vàng Danh (1964-2004)với bạn đọc

Lãnh đạo Công ty than Vàng Danh

Trang 5

Mỏ than Vàng Danh là một đơn vị kinh tế nằm trên

địa bàn hành chính phờng Vàng Danh, thuộc khu vựcrừng núi Yên Tử - Bảo Đài Mỏ than Vàng Danh trongvòng cung Đông Triều, cách thủ đô Hà Nội 165 km, Hải

bắc của Mỏ giáp huyện Sơn Động (Bắc Giang), phía namgiáp phờng Bắc Sơn, (thị x Uông Bí), phía đông giápã tiến hành

huyện Hoành Bồ và cách thành phố Hạ Long khoảng 50

km, phía tây là khu danh lam thắng tích Yên Tử

Ngoài đờng nội bộ nối Mỏ với các cơ sở sản xuất, thị

chuyên dùng để vận chuyển than công suất 1,2 triệutấn/năm tới Uông Bí, cảng Điền Công và đa vật t về Mỏtheo chiều ngợc lại, đa đón công nhân đi làm theo tuyếnxuôi ngợc Uông Bí - Lán Tháp - Vàng Danh

nhân khẩu, chủ yếu là gia đình công nhân Mỏ sinh sống.Ngoài ngời Kinh - quê quán chủ yếu từ các tỉnh TháiBình, Hải Dơng, Nam Định, Hà Nam, Hng Yên, Hà Tâycòn có các dân tộc Dao, Tày, Nùng và Hoa Dù có mặt lâu

đời trên vùng đất Vàng Danh hay mới đến lập nghiệp, mọi

Trang 6

ngời đều mang trong lòng ý thức xây dựng khu Mỏ ngày

càng giàu đẹp

2 Đặc điểm tự nhiên

Sông Uông Bí bắt nguồn từ các d y núi cao, hìnhã tiến hành

thành từ nhiều khe lạch và suối nhỏ, trong đó đáng kể hơn

cả là các suối Uông Thợng, Vàng Danh, Yên Tử rồi đổ vào

sông Đá Bạc (một nhánh của sông Bạch Đằng) ở khu vực

cách Mỏ than Vàng Danh 18 km

Sông Đá Bạc chảy theo hớng bắc nam nối sông Lục

Nam với sông Thái Bình Đây là một hệ thống giao thông

đờng thủy thuận lợi đối với việc phát triển kinh tế và củng

chí: "Núi non cao vút, nớc suối giao lu, sóng tung lên tận

trời, cây cối lấp bờ, thật là một nơi hiểm yếu" Cảng Điền

Công nằm ở hạ lu sông Đá Bạc nên xà lan và tàu thuyền

nhỏ từ đây dễ dàng thông ra Vịnh Bắc Bộ hoặc đi sâu vào

nội địa, năng lực bốc xếp hàng năm đạt từ 50-60 vạn tấn,

là cửa ngõ của Mỏ đối với thị trờng tiêu thụ than trong nớc

và quốc tế

Nhà máy nhiệt điện Uông Bí từ công suất 120 MW

(hiện đang đầu t nâng lên 420 MW) tiêu thụ chừng một

triệu tấn than cám/năm Trạm phân phối điện quốc gia

đặt tại Uông Bí, cung cấp cho Mỏ than Vàng Danh bằng

hai tuyến đờng dây 35 KV qua trạm biến áp trung gian

35/6 KV công suất 3200 KVA Nguồn nớc cung cấp cho

sản xuất, sinh hoạt và các nhu cầu khác của khu Mỏ là

nguồn nớc tự chảy từ chân núi Bảo Đài có lu lợng khoảng

nên mang nhiều đặc trng khí hậu biển cận nhiệt đới, giómùa chuyển hớng hàng năm tạo ra ảnh hởng lớn đến toànvùng Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, có gió mùa đông

Mùa lạnh ảnh hởng nặng nhất là gió mùa đông bắc Nhiệt

ma bình quân hằng năm là 1.846 mm

Khí hậu nóng ẩm tạo cho bề mặt đồi núi ở Vàng Danhlớp thảm thực vật phong phú

kiến trúc Phật giáo nổi tiếng Nơi đây, Thiền phái Trúc

mô lớn nhỏ khác nhau giữa thâm u của rừng núi

3 Khoáng sàng và điều kiện khai thác

Khoáng sàng Vàng Danh đợc cấu tạo bởi nham thạchthời kỳ Giura đệ tam - nguyên đại trung sinh và các trầmtích đệ tứ thạch kỷ - nguyên đại trung sinh Nham tầngGiura đệ tam gồm những tầng có than và không có than.Tầng có than chủ yếu là sa thạch màu xám trắng xen kẽvới các diệp thạch, giữa những nham thạch này có từ 7-10vỉa than, độ dầy của tầng chứa than là 500-700m Tầngkhông chứa than gồm có diệp thạch lẫn đất sét, các sa

thạch lẫn than xen kẽ nhau, độ dầy của tầng này đạt tới400m Các trầm tích của đệ tứ thạch kỷ là những trầmtích Đêluyvian và Anliuvian Tầng chứa than của vùng

Mỏ Vàng Danh xếp vào điệp Hồng Gai, trong đó phụ điệp

Trang 7

giữa lại chia làm ba tập: tập 1 và tập 3 có chứa các vỉa

than không có giá trị công nghiệp; tập 2 chứa từ 6 đến 8

vỉa than trong tập này

Xét về khoảng cách địa tầng giữa các vỉa than ta nhận

thấy ở các vỉa 8, đến vỉa 8a-9 có khoảng cách nhỏ nhất là

9m, lớn nhất là 96m và trung bình là 54,3m chủ yếu là đá

cát kết, bột kết; từ vỉa 7 đến vỉa 8 có khoảng cách nhỏ

nhất là 26m, lớn nhất là 90m và trung bình là 52m với các

đặc điểm về đất đá nh trên Khoảng cách giữa các vỉa còn

lại (3~4, 4~5, 5~6, 6~7,) độ chênh lệch giữa lớn nhất và

nhỏ nhất tăng dần, các đặc điểm về đất đá có nhiều nét

t-ơng đồng

Xét về mặt kiến tạo, các nham thạch và trầm tích có

các vỉa than nằm xen kẽ làm thành hai nếp uốn có đờng

phơng rộng và tồn tại hai hệ thống đứt gẫy thuận và

nghịch xuất hiện ở các phân khu Cánh Gà, Vàng Danh,

Uông Thợng

Các vỉa than có chiều dày không đều nhau, có nơi nh vỉa

8 chỉ đạt 0,15m nhng có chỗ nh vỉa 7 dày tới 20m, rất không

ổn định, giảm dần từ tây sang đông và từ trên xuống dới Độ

tro hàng hoá tính trung bình theo vỉa dao động từ 13,12%

(vỉa 8a) đến 21,51% (vỉa 4)

Nớc mặt tập trung ở các con suối cắt qua khu Mỏ, lu

l-ợng phụ thuộc vào mùa ma, có tính ăn mòn từ yếu đến

mạnh đối với bê tông Khi hệ thống lò khai thác đi dới lòng

suối sẽ bị nớc suối thấm qua đới nứt nẻ để chảy vào lò gây

khó khăn cho sản xuất Nớc dới đất chủ yếu là nớc trong

khe nứt của trầm tích phụ điệp Hồng Gai giữa và Hồng

Gai trên nhng mức độ không lớn, có tính ăn mòn bê tông

Trong nham tầng của các loại nham thạch cấu tạo thànhkhoáng sàng Vàng Danh phân ra làm ba tầng ngậm nớc ởsát với các tầng có than và các tầng không có than cùngcác trầm tích đệ tử, thạch kỷ Những nham thạch chứa n-

ớc đó là những lớp sa thạch có độ dầy ở tầng thứ nhất tới385m và tầng thứ hai tới 160m ở giữa nham tầng của cáctrầm tích có cát và đất cát ngậm nớc Thời kỳ có ma nhiều

là lúc cung cấp nớc chủ yếu cho các tầng ngậm nớc

vỉa 2, 3, 4, 5 và 6 thông qua các lò xuyên vỉa đi trên mỗitầng than Những tầng ấy đợc nối với nhau bằng hệ thốngvận tải còn tầng dới cùng thì nối với mặt bằng công nghiệpcủa Mỏ

những tầng vận tải độc lập Tại vùng suối Uông Thợng,trên cốt cao +122m đ đào lò xuyên vỉa thấp nhất cắtã tiến hành

ngang đờng phơng của khoáng sàng Việc khai thác ở Mỏ

đều thông qua lò xuyên vỉa này Nó trở thành lò xuyên vỉachính với chiều dài 980m (tính đến năm 1937)

Trong quá trình tiến hành việc khai thác, ngời Pháp

đ cho mở một loạt lò xuyên vỉa trung gian Đến khiã tiến hành

ngừng khai thác thì trữ lợng than từ mức + 122 lên lộ vỉa

đ bị khai thác phần lớn.ã tiến hành

Khoảng cuối những năm 30 của thế kỷ XX, ngời Pháp

đ dự tính khai thác khu Cánh Gà Họ đ đào một lò xuyênã tiến hành ã tiến hành

vỉa và xây dựng tuyến đờng sắt đi từ Vàng Danh theo đờngnúi vào lò này Nhng lò xuyên vỉa không vợt qua đợc những

lớp ngang, sau đó là chia lớp nghiêng, khấu theo thứ tự từ

Trang 8

trên xuống Lớp dới đợc khấu sau đó đánh sập vách trên

Các lò chợ chủ yếu đợc dùng trong những năm 20 của

thế kỷ XX có chiều dài 20m trở lên Than trong các lò chợ

đợc khấu chủ yếu bằng cách dùng chất nổ và búa đục thủ

đánh rạch, sử dụng máng trợt hoặc máng cào để vận

chuyển than từ lò chợ xuống goòng Vận tải than ở lò +122

bằng goòng có tải trọng 0,7 tấn chạy trên đờng ray cỡ 600

mm, thời gian cuối đ dùng loại toa goòng một tấn cóã tiến hành

thùng kín

Than khai thác đợc đa tới máy sàng, các boongke dùng

cho than cám có sức chứa khoảng 1.000 tấn và kho dự

phòng kiểu Astacát sức chứa khoảng 7.000 tấn Nhà Sàng

sẽ cho ra các loại than có cỡ hạt 30-70, 70-120 và +120

mm sau khi đ loại đá và các loại than đã tiến hành ờng kính

0-18 và 18-30 mm không qua làm giàu

Ngoài những công trình của dây chuyền sản xuất kể

trên còn có các công trình kiến trúc: kho chứa thuốc nổ

xây ngầm, đặt bên bờ suối, nhà giao việc cho thợ mỏ, các

công trình lấy nớc (đập và trạm bơm) trên suối, bể chứa

n-ớc dự trữ trên núi, nhà để máy trục của lò thợng, trạm

biến thế điện trên tầng vận chuyển +138 Ngoài ra còn có

nhà của viên đội hiến binh, các cửa hàng, các kho chứa,

nhà điện báo và bu điện, các khu nhà ở và đồn bốt, trại

lính của ngời Pháp

ở thị trấn Uông Bí thời đó có nhà máy điện, xởng cơ

khí đại tu thiết bị của Mỏ và chế tạo xe goòng, nhà máy

sàng rửa có công suất 100 tấn/giờ Trên sông Đá Bạc có

cảng Điền Công Cảng liên lạc với Mỏ bằng tuyến đờng sắt

cỡ 600 mm, dài 18 km Tại Uông Bí, phân thành cácnhánh chạy vào nhà máy sàng rửa, xởng cơ khí, nhà máy

điện và đềpô xe lửa Có bốn ga đờng sắt đặt tại cảng ĐiềnCông, Uông Bí, Lán Tháp và Vàng Danh, qua ba đờnghầm dài từ 30-50m

Hoà bình lập lại, trớc khi bắt tay vào việc khôi phục lại

đi lại đợc, các lò xuyên vỉa chính có một số đoạn đợc chốngbằng gạch, bằng kim loại Cột chống các lò cái chất lợng

hoặc h hỏng Các lò còn lại đều bị hỏng, nhiều chỗ bị than

đá lấp kín

Các toà nhà trong khu Mỏ hầu nh chỉ còn bộ khung,mất nóc hoặc tờng bị sập đổ Nền bê tông h hại nặng Các

mang đi Đờng sắt bị bóc, nền đờng bị phá Cỏ và cây bụiphủ kín nhiều nơi

Cảng Điền Công hầu nh không để lại dấu tích Cầu tầu

bị phá toàn bộ

Ngày 7-3-1959, Chính phủ Việt Nam ký với Chính

phủ Liên Xô bản Hiệp định hợp tác về kinh tế và khoa

học - kỹ thuật trong đó có việc phía bạn giúp đỡ toàn bộ

việc khảo sát, thiết kế xây dựng lại Mỏ than Vàng Danhvới số vốn 20 triệu rúp Ngày 15-12-1959, Bộ Công

nghiệp hoàn thành Nhiệm vụ thiết kế khôi phục Mỏ than

Vàng Danh ở vùng mỏ Uông Bí có tính đến khả năng

phát triển khai thác xuống sâu, trong đề án chiều sâuthăm dò, lấy chiều sâu khai thác đến khoảng -150m

Trang 9

(theo hệ thống cao điểm mới).

Theo những số liệu sơ bộ về thăm dò địa chất thì ở khu

vực Vàng Danh có 5 vỉa than với tổng số chiều dày hữu ích

trung bình 12,37m; ở khu vực Cánh Gà có 6 vỉa than với

tổng số chiều dày hữu ích trung bình 15,35m

Những vỉa than sẽ khai thác phải có bề dày tối thiểu là

0,50m

Toàn bộ trữ lợng địa chất trong phạm vi bao gồm các

khu vực Vàng Danh, Cánh Gà và Than Thùng ớc tính theo

số liệu sơ bộ đợc chừng 149 triệu tấn, trong đó trữ lợng

khu vực Vàng Danh 44,2 triệu tấn, khu vực Cánh Gà 55,2

triệu tấn và khu vực Than Thùng 49,6 triệu tấn

Trong tổng số trữ lợng địa chất của vùng Mỏ thì trữ lợng

than từ mức lò xuyên vỉa trở lên có chừng 42 triệu tấn

Thiết kế Mỏ than Vàng Danh và phơng án mở vỉa ở

khu Cánh Gà đợc bàn bạc, thảo luận nhiều lần Mỏ than

đầu t qua các giai đoạn:

- Năm 1960, thiết kế khôi phục Mỏ, có nhà máy tuyển

than, công suất 600.000tấn/năm

- Tháng 7-1965, bản Nhiệm vụ thiết kế mở rộng Mỏ

than Vàng Danh lên công suất 1.800.000 tấn/năm đợc lập

xong

- Năm 1983, thiết kế kỹ thuật Mỏ Vàng Danh (có cả

khu khai thác lộ thiên Uông Thợng), công suất 1.400.000

tấn/năm

Do tài liệu khảo sát thăm dò bổ sung về địa chất cho

thấy những thay đổi phức tạp, biến động lớn, phay phá,

uốn nếp nhiều, chiều dày vỉa kém ổn định, ngời Pháp đã tiến hành

khai thác nhiều cùng các nguyên nhân khác khiến cho Mỏthan Vàng Danh không đầu t đợc theo tiến độ và không

đạt công suất thiết kế Trớc tình hình ấy, năm 1986 Viện

thuật cho Mỏ than Vàng Danh với công suất 1.150.000 tấn/năm - trong đó công suất khai thác hầm lò Vàng Danh-

-Uông Thợng là 500.000 tấn/năm Từ những năm

công trình phục vụ duy trì sản xuất nhằm thay thế các

phục vụ cho sản xuất hầm lò, khai thác lộ vỉa và xuấtkhẩu than theo yêu cầu của thị trờng (các thiết bị bốc xúc,vận tải trong lò; các thiết bị san gạt, máy xúc, máy khoan,

ô tô phục vụ khai thác lộ thiên và tiêu thụ sản phẩm; kho

b i dây chuyền chế biến than cám 10C phục vụ xuấtã tiến hành

khẩu, nhà kho bảo quản gỗ; xe đa đón công nhân và phunnớc chống bụi) Năm 1998, Mỏ than Vàng Danh là đơn vị

vì chống thủy lực đơn, công nghệ khai thác phân lớp rải

l-ới, tiết kiệm chi phí sản xuất, tiết kiệm tài nguyên

Sau 33 năm xây dựng và phát triển, năm 1997, Công

tấn/năm

Cánh Gà II: 100.000 tấn và đông Vàng Danh 50.000 tấn/năm

Trang 10

Dới thời Nguyễn, Vàng Danh - Uông Bí chỉ có vài chục

gia đình ngời Kinh tập trung ở hai xóm thuộc Thợng Mộ

Công, một số gia đình ngời Dao ở Lán Tháp, Nam Mẫu

trong khu vực núi Yên Tử Khi đó, một số ngời Hoa đợc

triều đình cho phép khai thác than ở đây nhng do sử dụng

phơng pháp thủ công và dùng sức ngời là chính nên số

l-ợng than lấy đợc không đáng kể

Nhận thấy Vàng Danh - Uông Bí nằm trên bể than

vùng đông bắc Bắc Kỳ theo mạch Cái Bầu - Mạo Khê chạy

dài tới 125 km, chủ yếu là loại than đá ăngtơraxít chất

l-ợng tốt, nhiệt ll-ợng cao nên giới t bản khai khoáng ngời

Pháp tìm mọi biện pháp để độc chiếm vùng này Sau một

thời gian vận động, ngày 15-2-1894, Xalađanh đ đã tiến hành ợc

Toàn quyền Đông Dơng ra Nghị định nhợng bán cho khu

vực đất mỏ nằm trên đất tổng Bí Giàng thuộc huyện Yên

Hng, tỉnh Quảng Yên - phía đông Đông Triều, có diện tích

Nam Kỳ Blanchard de la Broche và viên Thiếu tớng khôngquân Albert Latache hùn đợc tất cả 2.500.000 phrăng để

thành lập Công ty Ngày 18-4-1916, Công ty Mỏ than

Đông Triều (Société des charbonnages du Dong-Trieu) ra

đời, trụ sở đặt tại Hải Phòng, quản lý ba cơ sở khai thác làUông Bí (1.800 công nhân), Vàng Danh khi đó gọi là

Clotilde (8.700 công nhân) và cảng Điền Công.

Theo thống kê đề ngày 23-8-1925 của Công ty Mỏ than

Đông Triều do Ducreux ký, tại Mỏ Vàng Danh (Clotilde),

đến 1-8-1925, tóm tắt) Lu tại Trung tâm lu trữ Quốc gia III

Trang 11

Cảng De Rédon (Port De Rédon).

Trong khoảng thời gian những năm 1926-1930, ngời

máy cơ khí Uông Bí, Nhà máy điện 5000KW, đờng xe lửa

Vàng Danh - Điền Công và bắt tay vào việc mở rộng Nhà

máy cơ khí Uông Bí, xây dựng Nhà máy sửa chữa đầu tàu,

Nhà máy sửa chữa và đóng xe Barchice, Nhà máy đóng và

sửa chữa toa xe, hệ thống bể than bùn, cầu Uông Bí

Năm 1931, khu vực Mỏ đạt sản lợng khai thác 161.000

tấn than Để tăng khối lợng khai thác, chủ Mỏ cho khôi

phục lại phơng pháp bóc nóc các tầng than (dùng phần đất

để tránh rủi ro cho ngời đào lò, tiết kiệm vật liệu, năng

suất khai thác tăng lên đáng kể Số vốn của Công ty than

Đông Triều tính đến ngày 1-3-1933 tăng đến 28.000.000

phrăng Mặt khác, số kỹ s, kỹ thuật viên và công nhân

cũng đợc tăng lên ở Vàng Danh - Uông Bí

Ngoài đờng xe lửa đợc mở rộng, thờng xuyên có 44 đầu

máy hoạt động, chủ Mỏ còn đầu t xây dựng Nhà máy đúc

gang, Xởng sửa chữa xà lan với năng lực sửa chữa hằng

năm 30 xà lan, 4 tàu kéo Trong hai năm 1941-1942, xây

dựng thêm Nhà máy đất đèn Vàng Danh, Nhà máy giấy

Uông Bí, mở thêm tuyến đờng sắt sang tả ngạn sông Uông

Bí Sản lợng than khai thác ở Vàng Danh - Uông Bí từ

năm 1937 đến 1942 nh sau (tấn):

Nhìn chung sản lợng hằng năm của Vàng Danh - Uông

đoạn thịnh vợng nhất của Công ty than Đông Triều là 15năm, kể từ năm 1925 đến năm 1940, sau khi hoàn thànhviệc cơ giới hoá, dây chuyền sản xuất đi vào ổn định vàhoàn chỉnh Công nhân đợc hai mỏ thu hút có lúc lên tới

30.000 ngời (theo báo Bạn dân, số 20, ngày 29-9-1937).

Theo số thẻ phát cho thợ Vàng Danh - Uông Bí đến năm

1944, có 93.000 lợt ngời đến làm việc tại hai Mỏ

Từ cuối năm 1944, đầu năm 1945, Chiến tranh thế giớilần thứ hai ở trong giai đoạn quyết liệt, tàu vào ăn thangiảm đi rõ rệt Than sản xuất ra không có nơi tiêu thụ, rơivào cảnh đình trệ, công nhân bị sa thải hàng loạt Nạn thổphỉ nổi lên cớp phá khu Mỏ Vàng Danh càng làm cho mọihoạt động ở đây trở nên tiêu điều Sau khi Nhật đảo chínhPháp, thổ phỉ lại hoành hành dữ dội hơn Ngày nào cũngxảy ra nạn giết ngời cớp của Nhà cầm quyền Nhật còn cholính tới Vàng Danh vơ vét tài sản do chủ Mỏ ngời Pháp đểlại, tổ chức bán số than tồn đọng Cuối năm 1944, thựcdân Pháp ngừng khai thác than ở Vàng Danh

2 Thống trị và bóc lột

Để bảo vệ khu Mỏ, kiểm soát công nhân, chủ Mỏ đã tiến hành

cho lập hai đồn khố xanh ở Vàng Danh, biên chế mộttrung đội do viên quan một ngời Pháp chỉ huy Các đồn

này còn phối hợp hành động với viên Giám binh ở thị xã tiến hành

Quảng Yên Ngoài ra còn nhiều lính khố xanh và khố đỏ

đợc sử dụng để canh gác các kho sở, kiểm soát an ninh Về

1938 là 2.348.000 tấn, 1939 là 2.596.000 tấn

Trang 12

sau, số này đợc thay bằng lính ấn Độ Một hệ thống mật

thám đông tới 40 nhân viên đặt dới sự chỉ huy của một

ng-ời Pháp và một quản lý ngng-ời Việt Các xóm thợ đợc chia

thành các bang, có nhiều cảnh sát ngời Việt do Quản Đằng

cầm đầu, lúc nào cũng tỏ ra hung ác, đến mức công nhân

truyền tụng câu ca:

"ở nhà sợ mẹ, sợ cha, Khi tới Uông Bí sợ dây da ông Quản Đằng".

Công nhân làm ở Vàng Danh - Uông Bí , ngoài nguồn

nhân công tại chỗ thuộc các huyện Yên Hng, Đông Triều

Nghệ An Nhìn chung các loại công việc đều phải lao động

cật lực từ 10-12 tiếng trong một ngày với đồng lơng rẻ

mạt Trong những năm 1914-1926, còn tiền công của thợ

lò chỉ bằng 47% tiền công của thợ cơ khí; tiền công của thợ

nhặt than, đội than, làm đờng chỉ bằng 40% Để giảm chi

phí đến mức tối đa, chủ Mỏ tăng cờng sử dụng thợ đàn bà

và trẻ em, vì làm cùng một công việc số này chỉ đợc nhận

khoảng 30-50% tiền công so với thợ đàn ông

Tại Vàng Danh - Uông Bí, chủ Mỏ thực hiện chế độ cai

thầu một cách triệt để trong hầu hết công việc nặng nhọc

và lao động thủ công Để tiết kiệm nguyên liệu, vật t chủ

Mỏ thờng chỉ cho mở những đờng lò hẹp khiến cho nhiều

yêu nớc đến chủ nghĩa Mác-Lênin trong phong trào công nhân

khu mỏ Quảng Ninh thì thợ ngời Thái Bình, Nam Định chiếm

60%, ngời Kiến An 7%, ngời Hà Nam 4,5%, ngời Ninh Bình

3,5%, Hng Yên và Hải Dơng - mỗi tỉnh 2,5%

đoạn ngời thợ lò phải trờn bằng cùi tay và đầu gối để bòqua các mảnh than đá sắc nh dao mới vào đợc nơi cuốcthan Ngời thợ phải vác gỗ ngợc trong hầm lò có chỗ dốc tới

1,3m, cõng vật liệu trên lng đi bằng đầu gối và hai tay

Để trả lơng cho công nhân, chủ Mỏ Vàng Danh cònthâm độc sử dụng loại tiền 8 cạnh đợc làm từ kẽm hòm

mìn Chính vì thế, tiền này đợc công nhân gọi là tiền mìn,

tiền xiềng xích vì nó không dùng để trao đổi với bên ngoài

khu Mỏ đợc Muốn tới Uông Bí hay về quê phải xin phép

đổi qua cai thầu và chỉ đợc hởng 80% giá trị thờng dùngcủa loại tiền này

Ngoài loại tiền mìn, chủ Mỏ còn dùng hình thức phát

bông thay tiền buộc ngời thợ chỉ mua đợc hàng của các

nhà thầu do chúng chỉ định với giá cắt cổ Những tờ bông

này hoàn toàn không có giá trị đối với bên ngoài

Công nhân Vàng Danh phải ở trong các nếp nhà lụpxụp làm bằng tre nứa hoặc xây gạch lợp tôn thấp lè tè,

ngủ trên những chiếc giờng cao ba tầng Cứ ba tầng giờng

hình thành một cặp gồm hai thợ xúc và một thợ vận hành

để khi làm thì chống đợc ba vì, lấy đợc 12 xe than Thợ vậnhành có quần áo dài, thợ xúc chỉ quần đùi áo may ô đilàm Công nhân bị cấm tụ tập quá năm ngời, giờ cấmkhông đợc ra đờng phố Khi làm việc, ngời công nhân

không đợc trang bị thiết bị an toàn Nhiều công nhân đã tiến hành

bị chết do điện giật, xe lửa cán phải hoặc do sập lò

Nhiều tài liệu khảo sát cho thấy, với số tiền lơng ít ỏi

nh vậy nhng ngời thợ không bao giờ đợc lĩnh đủ bởi sựbòn rút, bớt xén thờng xuyên của cai ký, sự cúp phạt

Trang 13

trắng trợn của chủ Mặt khác, do công việc ở Mỏ quá

nặng nhọc, sinh hoạt lại thiếu thốn cho nên ngời thợ mỏ

không đủ sức để làm hết số công trong một tháng Những

lúc nh thế ngời thợ lấy gì để ăn, để nuôi dỡng cha mẹ, vợ

con Bởi vậy đời sống của họ rất khốn đốn: ăn cá dích

thối, mặc bì gai, ở nhà cũi chó, bệnh tật hoành hành.

Những chứng bệnh định kỳ nh thơng hàn, sốt rét, dịch tả

và những chứng bệnh nghề nghiệp nh sâu quảng, ho ra

đờm đen, khó thở, rối loạn tim đ giết dần giết mònã tiến hành

những ngời thợ mỏ Cả khu mỏ chỉ có một nhà bệnh, một

bác sỹ và một y sỹ, thuốc men rất thiếu thốn ở Mỏ Vàng

Danh tỷ lệ thợ mỏ hằng ngày chết vì bệnh tật, vì tai nạn

lao động, vì bọn chủ đánh đập rất cao Không ngời thợ mỏ

nào ở Mỏ sống qua tuổi 60 Hơn thế nữa, bọn chủ Mỏ còn

kiềm chế gắt gao ngời thợ trong giờ làm việc cũng nh lúc

về lán trại Chúng tạo ra cảnh đám thợ này đối lập với

đám thợ kia, khuyến khích tệ nạn cờ bạc, rợu chè, nhà

thổ và tạo điều kiện cho tôn giáo phát triển Thợ mỏ

không chỉ bị quản lý theo ca theo kíp mà còn bị quản lý

rất chặt chẽ trong các lán thợ ở Vàng Danh, họ phải

Trong một bài phóng sự đăng trên báo Đông Pháp số

3654 ra ngày 29-9-1937 đ viết:ã tiến hành

"Một khoảng đất núi mênh mông hàng trăm km mà

không khác gì một khu nhà thu hẹp trong 4 bức tờng Mỏ

muốn cho ai đến thì ngời đó đợc đến còn nếu không đã có

bọn mật thám riêng của Mỏ ngăn lại và đuổi đi Từ hôm

xảy ra cuộc đình công của phu Mỏ Vàng Danh, sự canh

mỏ lại càng nghiêm trọng hơn mọi ngày Các đầu đờng vào Uông Bí và các chỗ xe song loan 1 đỗ ở Mỏ Vàng Danh

đều có rất đông mật thám của sở mỏ và lính đứng đón để cấm không cho ngời lạ mặt tới đất Mỏ

Chúng tôi đã đến đợc đất mỏ, vào tới đợc Vàng Danh mới trông qua đợc tình hình đã bị 13 ngời vừa cảnh sát, mật thám, lính áp dẫn đến xe song loan bắt về Uông Bí Tại Mỏ Vàng Danh có hơn một vạn phu đều làm dới lò hầm Kể cả số vợ con phu nữa thì dân ở Mỏ Vàng Danh tới bốn, năm vạn ngời.

Phu cuốc than mỗi ngày một ngời lấy cho sở đợc 5 tấn than; mỗi tấn than bán đợc 25$002 Trừ số tiền chi phí một cách rất huy hoặc, trừ tiền máy móc hao mòn, mỗi ngày một ngời phu cũng còn làm lợi cho sở 25$00.

Lơng phu mỏ có ngời đợc trả hậu thì khoảng sáu, bảy hào, còn phần nhiều chỉ đến số lợng 35 xu một ngày, có ng-

ời chỉ đợc 15 xu mà thôi.

Khi than bán không chạy thì việc trả lơng không hạn nào cả Có khi tới bảy, tám tháng sở Mỏ cha trả lơng cho phu.

Trong thời kỳ này phu cần phải sống Vậy mỗi ngày sở

Mỏ cho phu đợc quyền lấy bông tuỳ theo số lợng của họ mua các thực phẩm ở các hiệu tại phố Vàng Danh rồi tới

kỳ phát lơng các hiệu này mang bông lại sở Mỏ lấy tiền Lối ứng bông lấy hàng này chỉ giao vào tay ngời phu mỗi ngày từ một đến hai hào bạc tạm sống mà thôi.

mỏ đi làm

2 Tiền Đông Dơng

Trang 14

Một, hai hào trong bông, phu có đợc hởng toàn vẹn

đâu Những cái bông đó chỉ có giá trị với mấy cửa hiệu

bán hàng quen cho sở Mỏ nên tùy họ bóp nặn muốn bán

cho phu bao nhiêu thì đợc bấy nhiêu Trong lúc thóc cao

gạo kém họ chỉ bán cho phu 1 hào nửa kg gạo xấu nh vậy

gạo xấu bán tới 20$0 một tạ Bán thực phẩm lấy bông các

nhà buôn tính gộp cả tiền lãi vào số tiền phải đọng lại

trong khi cha lĩnh đợc tiền của sở Mỏ, bao nhiêu sự thiệt

thòi về ngời phu phải chịu cả.

Trong lúc khoẻ mạnh, ngời phu còn sức lực thì chủ Mỏ

còn dùng, lỡ ra trái nắng trở trời ốm đau hay xảy chân tay

quặt quẹo đui mù thì lập tức mất việc Các mật thám hay

ngời giữ trật tự cho sở sẽ không cho làm mà đa ra khỏi đất

của Mỏ.

Có nhiều ngời ốm đau mất việc phải than thở rằng

thân mình không bằng kẻ ăn mày vì họ thấy rằng những

kẻ ăn mày quanh năm kiếm từ cửa này đến cửa khác lúc

nào cũng đủ ăn Còn những ngời phu ốm đau bị sa thải là

chết đói ở Uông Bí đã ghi một năm biết bao nhiêu ngời

chết đói, chết đờng trong mình có đeo thẻ làm phu ở sở Mỏ.

Chân tay lúc nào cũng khoẻ mạnh làm quanh năm mà

không mấy ngời phu ăn mặc đợc lành lặn Ngoài sự kém

ăn kém mặc họ còn phải chịu nhiều nỗi khổ sở trong khi

làm việc Năm này qua năm khác tình cảnh không thay

đổi"

Cùng với thiên nhiên khắc nghiệt (ruồi vàng, bọ chó,

gió Vàng Danh) và sự bóc lột tàn nhẫn của chủ Mỏ ngời

lại nắm xơng tàn ở ngay cái tuổi lẽ ra còn đang sung sức

nhất bởi sốt rét, tiêu chảy, sâu quảng, sập lò, điện giật,

xe cán, đánh đập thì cũng bị thân tàn ma dại vì bị bònrút đến tận xơng tuỷ, lao động cùng cực Câu ca ai oánngày xa vừa gợi nỗi hờn căm, vừa là nỗi niềm th ơngcảm:

" Ai đi đến chốn Vàng Danh Má hồng để lại, má xanh đem về".

3 Phong trào công nhân khu Mỏ Vàng Danh

vực cũng nh những chuyển biến của các khu vực xung

Ngay trong năm 1928, nhờ một số hội viên của Hội Việt

Nam Cách mạng Thanh niên về vùng mỏ vô sản hoá, một

ngời thợ đờng sắt Phạm Văn Kiều đợc hội viên Trần Bá

D-ơng giác ngộ, kết nạp rồi đến một số thợ tiện, thợ nguội,thợ đờng sắt cũng đợc gia nhập vào tổ chức Hội Việt NamCách mạng Thanh niên Trong năm 1929, thông quagiao thông viên, hội viên Phạm Văn Kiều liên hệ đ ợc vớicác đồng chí Đỗ Huy Liêm, Vũ Thị Mai để nhận nhiệm

vụ chuyển th từ, tài liệu từ Hải Phòng về Vàng Danh.Tháng 5-1929, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chíBùi Đắc Thanh về Mỏ Vàng Danh vừa thực hiện nhiệm vụ

vô sản hoá vừa tiến hành gây dựng cơ sở cho Đảng ở vùng

ngời thợ mỏ, cũng làm việc quần quật từ sáng tinh mơ cho

đến chiều tối, nhng đêm đến vẫn không quên làm công táctuyên truyền trong công nhân Nhờ tác phong cùng ăn,

Trang 15

cùng ở, cùng làm rất sâu sát đó, đồng chí đ giác ngộ vàã tiến hành

vận động đợc nhiều công nhân u tú hiểu biết về chủ nghĩa

Cộng sản, sẵn sàng đấu tranh cho sự nghiệp của Đảng và

mạng Tháng Mời Nga (7-11-1929) tại Vàng Danh và

nhiều nơi khác trên đất Mỏ, truyền đơn và áp phích cách

tranh đánh đổ ách thống trị và bóc lột của đế quốc Pháp

Trong hoàn cảnh đấu tranh sôi nổi đó, qua thực tiễn

hoạt động, chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Vàng

Danh - Uông Bí đợc chuyển thành chi bộ Đông Dơng Cộng

sản Đảng do đồng chí Bùi Đắc Thanh làm Bí th Một thời

gian sau, đồng chí Bùi Đắc Thanh nhận nhiệm vụ mới,

đồng chí Đỗ Huy Liêm lên thay

Tháng 4-1930, chi bộ Đông Dơng Cộng sản Đảng

Vàng Danh - Uông Bí đổi thành chi bộ Đảng Cộng sản

Việt Nam Cuối tháng 5-1930, cấp trên quyết định

thành lập Đảng uỷ Mỏ Vàng Danh - Uông Bí với Ban

đồng chí Bùi Đắc Thanh, Đỗ Huy Liêm Sự kiện này

đánh dấu chuyển biến quan trọng về tổ chức và chỉ đạo

của Đảng ở nơi tập trung công nhân; là bớc chuẩn bị cho

việc thành lập Đảng bộ Đặc khu Mỏ Đông Triều - Hòn

Sơn, Bắc Ninh, là nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp từ

năm 17 tuổi Đợc tôi luyện trong đấu tranh và trởng thành trong

nhà tù đế quốc, năm 26 tuổi đồng chí là Tổng Bí th Ban Chấp

hành Trung ơng Đảng, hy sinh tại Nam Bộ năm 29 tuổi Nguyễn

ta

Gai - Cẩm Phả

Do địch khủng bố dữ dội, Đảng uỷ Mỏ Vàng Uông Bí bị địch phá vỡ nhiều lần Mỗi lần nh vậy, Đảng

Danh-uỷ lại đợc nhanh chóng khôi phục để đi vào hoạt động

Đảng, đến tháng 10-1930, toàn bộ vùng Mỏ có 64 đảngviên thì Mỏ Vàng Danh có 6 đảng viên, Mỏ Uông Bí có

12 đảng viên Vào dịp 7-11-1930, Đảng uỷ Mỏ Vàng

chức treo cờ Đảng, rải truyền đơn, dán áp phích, kêu gọicông nhân đấu tranh chống chủ Mỏ, đòi không đợc lu l-

ơng của thợ

Hởng ứng lời kêu gọi của Đảng uỷ, công nhân Uông Bí

Kiều chuyển một số tiền cho Đảng uỷ Mỏ Vàng Uông Bí đem phân phát cho công nhân, giúp đỡ họ cho

Đầu năm 1931, Đảng bộ Vàng Danh - Uông Bí pháttriển tới 24 đảng viên

Do việc Trần Văn Trí đầu hàng, khai báo nên chỉmột thời gian ngắn nhiều cán bộ, đảng viên thuộc Đảng

bộ Đặc khu mỏ sa vào tay địch Nhiều đảng viên cha bịbắt phải tạm lánh đi nơi khác Cơ sở quần chúng bị vỡ ở

phòng Đảng uỷ Công ty than Vàng Danh

Trang 16

nhiều nơi.

Ngày 26-1-1931, nhà cầm quyền Pháp mở phiên toà đề

hình tại Kiến An để xét xử 72 đảng viên cộng sản bị bắt và

giam giữ trong các đợt khủng bố cuối năm 1930 Đồng chí

Bùi Đắc Thanh- ngời chiến sĩ cộng sản trung kiên, đã tiến hành

từng đảm nhiệm trọng trách Bí th Đảng uỷ Mỏ Vàng

c-ờng của mình Trong bài viết bằng tiếng Pháp ngày

đồng chí trớc toà án thực dân ở Kiến An: "Tôi có gan

theo Đảng Cộng sản thì tôi cũng có can đảm chịu lấy

trách nhiệm, chúng tôi không xem cách mạng nh một trò

trẻ con"2

Tại Uông Bí, một số công nhân tụ tập nhau lại lập nên

Nhóm nghiên cứu mácxít bí mật, liên hệ với đồng chí Ninh

Văn Phan - một tù cộng sản vừa ở Nhà tù Côn Đảo trở về

và xuống vùng mỏ theo sự phân công của đồng chí Hoàng

Trong năm 1935, phong trào cách mạng ở vùng Vàng

Danh trở nên sôi nổi hơn Trong công văn mật của Sở Mật

thám Hải Phòng ngày 19-11-1935 gửi cho Công sứ Quảng

Yên ghi rõ:

" Tôi hân hạnh báo để ông biết: một thông tín viên báo

2002, t 3, tr 69

phòng Đảng uỷ Công ty than Vàng Danh Đồng chí Ninh Văn

Phan, ngời Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, cùng tham gia Hội Việt

Nam Cách mạng Thanh niên và là bạn của Hoàng Đình Giong

cho tôi biết là do sự kích động của tên Đỗ Văn Chung, tổ trởng tổ thợ lấy dấu ở mỏ Cốtxôtin (Cao Sơn) nên đã có những cuộc hội họp tổ chức ở Vàng Danh (Quảng Yên) Cuộc họp đầu tiên vào ngày 31-10-1935 tại nhà tên Đỗ Văn Chung có những tên bản xứ sau đây tham dự: Đỗ Văn Chung, Phạm Văn Mạc, Nguyễn Đình Nghiệp, Tờng (cảnh sát mới ở Mỏ), Thăng, Trần Văn Thành, A Sinh, Bút, Nền (giám thị), Tâm (nhân viên điện báo), Nguyễn Văn Đức (nhân viên th ký), Hùng (cai mỏ)

Tất cả những tên bản xứ trên đây phải chăng đều là cựu binh sĩ hoặc thiếu sinh quân thuộc loại đáng ngờ vực hoặc bị tình nghi.

Ngày 3 và 5-11 cũng có hai cuộc họp tại nhà chứa cô đầu.

Tên thông tín viên cho biết là không nắm đợc mục đích các cuộc hội họp đó và vì sao nó đợc tổ chức rất kín đáo và

bí mật" 1

Vàng Danh sau khi thoát khỏi các nhà tù đế quốc nhNguyễn Huy Sán, Nguyễn Văn Hô, Lê Thanh Nghị lần lợttrở lại khu Mỏ Các đồng chí Tô Hiệu, Hoàng Văn Nọn, L-

ơng Khánh Thiện cũng đợc Xứ uỷ Bắc Kỳ cử về vận động

và khôi phục phong trào cách mạng ở Vàng Danh - UôngBí

Tháng 9-1936, Toà soạn báo Le Travail (Lao động) cử

đồng chí Nguyễn Thành Diên về Mỏ Vàng Danh lập ra tổchức Công hội, hớng dẫn phơng pháp tổ chức đấu tranh

tiếng Việt của Nguyễn Hữu Dự

Trang 17

(lập các ban l nh đạo chung, Ban Phụ trách nhà máy, Banã tiến hành

Tài chính cứu trợ, xây dựng chơng trình hành động, Điều

lệ thu nạp hội viên, xây dựng Đội tự vệ công hội) Đợc

h-ớng dẫn, ngay lập tức thợ mỏ đấu tranh với chủ đòi tăng

biết:

" Ngót một vạn phu Mỏ Vàng Danh đình công dạo vừa

rồi để đòi lơng Sau cuộc điều đình của các nhà chức trách

chủ Mỏ với các cai phu, cuộc đình công kết thúc.

Chủ đã trả lơng cho phu và khi đã lĩnh lơng rồi thì

quang cảnh tấp nập Hàng vạn phu làm ở Mỏ đổi thay.

Ngời ta thấy trong Mỏ có phần vắng vẻ bớt hai, ba nghìn

phu ra về với số tiền lơng bỏ vào túi.

Rồi cũng sau ngày ấy sự giữ gìn trật tự trong Mỏ ngời

ta cũng lu ý lắm Nào là lùng bắt các nhà trong Mỏ xem có

tàng trữ những đồ vật hôm đình công phu đã phá phách

và lợm lặt của các cửa hiệu và nhà của những viên th ký

và giám thị Cũng vì sự tìm bắt gắt gao ấy mà những đồ

dùng đáng giá và tiền bạc các phu lấy đợc cũng không có

chỗ cất [ ] 1

Ninh) cho biết chi tiết hơn:

"Cuộc đình công của thợ Mỏ Vàng Danh nổ ra năm 1936 vào

lúc trời cha rét nhng đã qua mùa hè, vào khoảng tháng 8 hoặc

Cuộc đấu tranh đầu tiên là từng nhóm ngời ở các lò kéo về

Sáng ngày 13-10 lại xảy ra một cuộc đình công nữa Lần này thì khác mọi lần, chỉ riêng có đàn bà nghỉ việc Ngót 200 phu đàn bà trong số ngót 600 phu cả đàn bà,

đàn ông ở nhà Sàng đình công.

Nguyên nhân nghỉ việc cũng không ngoài việc họ bị thiệt thòi Hiện nay ở Mỏ Vàng Danh ông chủ Mỏ định tiền lơng phu theo nh sổ lơng chuẩn định của thợ mà quan Thống sứ Bắc Kỳ vừa ký Nghị định ban hành.

Đối với việc trả công phụ nữ thì hết thảy phu nhà Sàng hoan nghênh Trong sở Mỏ theo cách trả lơng nh Nghị

định quan Thống sứ nh cách bấm giờ làm việc của phu thì lại kỹ lỡng hơn trớc nhiều Hơn 12 kíp thợ làm đợc 9 giờ nhng ngời bấm giờ tính ra trong 9 giờ ấy họ làm không đ-

ợc tận tâm, chỉ làm vào chừng 6 giờ cho nên ngời ta chỉ bấm cho có 6 giờ thôi Bọn này kêu mãi không đợc nên bảo nhau nghỉ việc Nhng chỉ có ngót 200 phu đàn bà thôi Thấy tình hình xảy ra, sở Mỏ báo đồn và Sở Liêm phóng

không đi làm, đấu tranh cả với chủ thầu và bọn này trả lời phải hỏi chủ Sau đó đình công toàn Mỏ bốn ngày Chủ lò chỉ nhận trả lơng hai tháng một lần, giờ làm từ 10 tiếng giảm xuống 9 tiếng, lên lơng cho từng loại

Chúng cho lính vào nhng do biết trớc anh em công nhân kéo

ra vây chúng ở chợ Sắt nên chúng chỉ bắn vài phát chỉ thiên còn không đàn áp đợc gì Bọn Tây và mật thám chạy hết ra Uông Bí.

Đến ngày thứ t chúng mới chấp nhận theo yêu sách.

7 giờ sáng ngày đình công đầu tiên, anh em kéo từ lò Cái Giếng xuống nhà giấy, Tây chạy hết Anh em bao vây Ký Châu Tên này cùng chạy Anh em kéo ra phá ba cửa hiệu của ba mụ vợ Ký Châu vì tên này rất đểu cáng, các vợ của nó thầu căngtin, vải, gạo, rợu, hàng cơm bóc lột phu rất nặng và phá nhà tên bang phố".

Trang 18

Uông Bí Lập tức sau đấy ít giờ, một toán lính khố xanh ở

Quảng Yên về Mỏ giữ trật tự Quan Công sứ Quảng Yên

nói các phu cử đại biểu lên yêu cầu ông chủ nhất trông

lại sự thiệt thòi cho phu nhng ông quả quyết không thể

lĩnh ý của phu đợc Nếu ngót 200 phu cứ gắng bỏ việc

thì sở Mỏ coi nh đã thôi ý cơng quyết đã buộc chừng 50

ngời ngay buổi chiều sau giờ đình công đã đi làm và đến

ngày hôm sau 14-10 tất cả đều đi làm việc nh cũ.

Nhân các phu đàn bà ở nhà Sàng đình công, các phu

đàn ông và đàn bà trớc kia bị phạt ở nhà không đợc trả

l-ơng đến kêu với ông Latigua - mật thám Uông Bí vào xem

tình hình trong Mỏ, xin ông can thiệp giúp Nhờ vậy mà

bọn này đợc chủ trả lơng cho ngay chiều hôm 14-10.

Ngày hôm nay 16-10 và 17-10, chủ Mỏ lại trả lơng cho

các ngời làm công nhật và cho phu mỏ tiền lơng tháng 8.

Kể từ ngày 15-10, sở Mỏ định tặng cho các cai 15% tiền

l-ơng" 1

lợi rực rỡ: lần đầu tiên kỷ luật vô sản đã thắng sự kháng

cự của bọn chủ, khiến cho Đông Dơng đã bị rung chuyển

bởi một làn sóng bãi công cha từng thấy xa nay và không

một thuộc địa nào khác của nớc Pháp có thể so sánh nổi 2

Hoà vào khí thế chung đó, công nhân Mỏ Vàng Danh cũng

công làm cho chủ Mỏ vô cùng hoảng sợ, phải đồng ý tăng

đồng loạt 10% giống nh ở Mạo Khê và Uông Bí Phát huy

động sự thơng yêu đùm bọc trong đội ngũ thợ mỏ, đòi chủphải thi hành luật làm 8 tiếng và cấp thuốc cho thợ khi họ

ốm đau, xây thêm nhà ở và mở trờng học cho con em thợ,không cúp phạt lơng vô cớ và đánh đập thợ, lập nghiệp đoàn

Các cuốn sách nh Abc mácxít, T bản hấp hối, Bệnh ấu

trĩ tả khuynh, Chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa không ởng, Đời sống thợ thuyền Liên Xô,… đợc bí mật đa vào

t-khu Mỏ Đại diện báo Tơng lai đặt ở Hải Phòng là Lê Bá

Chấn cũng vào Vàng Danh tìm cách xây dựng Nghiệp

Ngày 18-1-1937, hơn 9.000 công nhân hầm lò và 300công nhân nhà Sàng Vàng Danh lại đứng dậy đấu tranh

bỏ các tên đốc công ngời Pháp và ngời Việt hay đánh đậpthợ, làm nhà riêng và ngăn các phòng cho gia đình thợ,phát thuốc mỡ vàng hằng ngày và phát giầy để thợchống sâu quảng, phát đủ đồ nghề cho thợ không phảitrả tiền

Trớc khí thế mạnh mẽ của cuộc b i công, chủ Mỏã tiến hành

không dám khủng bố, bọn tay chân cũng bỏ trốn Một sốcon buôn bóc lột thợ thậm tệ bị hỏi tội và phá tài sản Hai

phòng Đảng uỷ Công ty than Vàng Danh

phòng Đảng uỷ Công ty than Vàng Danh

Trang 19

đốc công gian ác ngời Việt bị đánh chết.

Ngày 21-1-1937, chủ Mỏ xin điều đình nhng ngoan cố

không chịu thoả m n các yêu sách Cuộc b i công tiếp tục.ã tiến hành ã tiến hành

Công sứ Pháp ở Quảng Yên và án sát Cung Đình Vận đem

theo hai cơ lính vào Vàng Danh vừa dụ dỗ vừa đe doạ

khủng bố nhng cuối cùng phải rút về nhiệm sở Công nhân

đợc bố trí thờng trực đấu tranh theo từng ca kíp Việc

chuẩn bị tiếp tế lơng thực và vũ khí tự vệ đợc tiến hành

chu đáo Lại còn tổ chức nhiều trò vui chơi giải trí trong

khu vực b i công.ã tiến hành

Cuối cùng chủ Mỏ đồng ý thi hành các điều nêu ra,

tăng lơng 20% Ngoài các việc ngăn phòng, làm thêm nhà,

phát thuốc, phát giầy và dụng cụ, chúng còn bỏ chế độ

thầu khoán Chủ Mỏ trực tiếp trả lơng theo mức thợ chống

lò và cuốc than: 1$20/ngày, thợ đẩy xe goòng 0$95/ngày,

thợ xúc đội 0$70/ngày Tên đốc công ngời Pháp tuy cha bị

tr-ớc1

Đầu tháng 2-1937, thợ Mỏ Vàng Danh - Uông Bí tổ

chức đấu tranh với chủ Mỏ đòi đợc tiếp xúc với phái viên

Giuytxtanh Gôđa từ Pháp mới sang để điều tra về tình

cảnh thợ thuyền ở Việt Nam

Nhờ sự chỉ đạo trực tiếp của Khu uỷ B thuộc Xứ uỷ Bắc

Kỳ, sự lăn lộn với phong trào của các đồng chí cán bộ cách

mạng mới thoát khỏi lao tù đế quốc và thực tiễn của các

cuộc đấu tranh diễn ra từ giữa năm 1936 đến đầu năm

1937, mùa xuân năm 1937 chi bộ Đảng Cộng sản Đông

D-ơng ở Vàng Danh - Uông Bí đợc tái thành lập do đồng chí

Nguyễn Huy Sán (Thảo) làm Bí th, sau đó là đồng chí

Chi bộ Đảng ở Vàng Danh-Uông Bí đợc Khu uỷ B chỉ

đạo khá chặt chẽ Đồng chí Tô Hiệu trực tiếp đến Uông Bínhiều lần để nắm tình hình sinh hoạt Đồng chí ThànhNgọc Quản (Đào Văn Trờng), Trần Quang Huy thờngxuyên về cơ sở, đem theo tài liệu và chỉ thị của cấp trên đểhớng dẫn chi bộ hoạt động Đồng chí Nguyễn Văn Hách cónhiệm vụ giữ mạng lới giao thông ở khu Mỏ và toàn bộkhu vực Liên tỉnh B Đồng chí Tô Quang Đẩu sinh hoạt

trong chi bộ với t cách là đại diện của báo Đời nay nhng

khi đợc đồng chí Nguyễn Huy Sán giới thiệu với đồng chí LêThanh Nghị và đồng chí Lê Thanh Nghị giới thiệu với đồng chíTô Hiệu, đồng chí đợc kết nạp vào Đảng Tháng 3-1937, chi bộ

Đảng đợc thành lập [Lịch sử Đảng bộ thị xã Uông Bí

(1930-2001), tr.20 cho rằng tháng 5-1937] Thoạt đầu đồng chí Nguyễn

Huy Sán làm Bí th, đảng viên gồm các đồng chí: Nguyễn VănPhơng, Nguyễn Văn Hộ, Bùi Văn Giới, Bùi Văn Giáp, Bùi VănThân, Nguyễn Văn Loát, Nguyễn Văn Củng (tức Lê Trung

Đình), Hoàng Cơng, Nguyễn Thị Bé (tức Bích - vợ đồng chíNguyễn Huy Sán), Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Văn Y, Tô Quang

Đẩu (chi nhánh báo Đời nay), Nguyễn Văn Hách (Giáo Sinh).

Đồng chí Đào Lộc ở Hải Phòng về một thời gian ngắn thì bịbắt, cha tham gia sinh hoạt lần nào Ngoài ra còn hai đảng viên

cũ không hoạt động nhng vẫn đóng đảng phí đầy đủ và ủng hộcác chủ trơng của chi bộ là đồng chí Hoàng Đọc (Côn Đảo về) và

đồng chí Huynh-thợ điện ở Uông Bí Nhà máy cơ khí Uông Bí cónhiều đảng viên nhất (Nguyễn Văn Phơng, Nguyễn Văn Hộ,Nguyễn Huy Sán, Hoàng Cơng, Nguyễn Văn Y) rồi đến bộ phậnthầu khoán (Nguyễn Văn Loát, Nguyễn Văn Thân) Đồng chíBùi Văn Giới ở Vàng Danh giác ngộ thêm đợc các đồng chí Xuân,Tuy và Hoàng Quốc Thịnh

Trang 20

mới sinh hoạt đợc vài lần thì bị bắt Nhờ sự chỉ đạo trực

đợc tinh thần của các chủ trơng và đờng lối của Trung ơng,

nhận thức rõ đợc việc cần hạn chế các hoạt động thuộc về

bề nổi, tập trung vào việc bảo vệ tổ chức

Từ giữa năm 1937, để chống lại sự thôn tính của Công ty

Pháp mỏ than Bắc Kỳ (Société Francaise des charbonnages

du Tonkin - SFCT) Ban Giám đốc Công ty than Đông

Triều quyết định giữ lơng của công nhân lại và trả theo ba

tháng một lần Đây là giải pháp tình thế nhng cũng là thủ

đoạn quen thuộc của chủ Mỏ, nó không nhận đợc sự đồng

tình không chỉ của hàng ngàn thợ mỏ ở Vàng Danh mà

cả đối với cai thầu nh Vũ Xuân Phơng - thờng gọi là sếp

Sâm Lợi dụng mối quan hệ họ hàng, đồng chí Vũ Khắc

Ca đ đề nghị Vũ Xuân Phã tiến hành ơng ủng hộ công nhân b iã tiến hành

công đòi trả lơng đúng kỳ hạn và nhận đợc sự đồng ý và

ủng hộ Không những thế, Vũ Xuân Phơng hứa sẽ thuê

cả luật s, cho vay tiền để mua gạo dự trữ phòng việc chủ

cho viên Phó giám thị cảnh sát Uông Bí:

"Vào ngày 10 tháng này [tháng 7-1937] tức là ngày trả

lơng cho các phu mỏ, nếu Sở than Đông Triều không trả

hết tháng cho các phu mỏ đó thì sẽ có khoảng 700 phu làm

ở Mỏ Vàng Danh có thể tổ chức bãi công Những phu này

đều làm dới quyền Cai Xuân họ hàng thân thiết của Vũ

Xuân Phơng tức sếp Sâm Đã từ nhiều tháng nay những

ngời phu lò này mới chỉ nhận đợc một phần lơng của họ.

Họ đã tính toán rằng Sở than Đông Triều đã không trả đủ

lơng cho họ và tháng 7 là thời gian họ phải nộp thuế vì thế

họ có thể quyết định tổ chức cuộc tổng bãi công để phản

đối" 1

vạn ngời tham gia tới ngày 22-9-1937 mới nổ ra để chốnglại việc chủ Mỏ lu lơng ba tháng mới trả thợ và ép họ phảimua hàng của chủ thầu với giá bán cao hơn thị trờng

nhiều lần Báo Đông Pháp mô tả cuộc đình công với một số

nét chính nh sau:

"Dạo này than của khu Mỏ nghe chừng bán cũng khá mà trong vòng 8 tháng nay phu cha nhận đợc đồng lơng nào của Mỏ Bởi vậy vì sự đói thúc giục buổi gạo châu củi quế này nên họ mới tính đến việc đòi tiền công Trớc hôm đình công, các phu mỏ có bàn nhau nêu lên yêu cầu ông chủ trả lơng để có tiền chi dùng và gửi về quê quán cho vợ con cha mẹ và đi làm đằng

đẵng hằng năm trời mà ngời nhà chẳng đợc đồng xu nào.

Các phu có cử ba ngời tới bàn giấy ông chủ nhì.

Ông này lấy làm bất bình về cách hành động của các đại biểu phu mỏ, bèn giữ họ lại bàn giấy Ông chủ còn cho gọi cả những ngời xuống coi các lò có những

đại biểu phu mỏ làm việc lên phòng giấy của ông chủ nữa.

Sau khi phu bị giữ, các ngời trông coi ở Mỏ tởng rằng mọi việc đều yên Không ngờ các phu mỏ nhiều ngời lấy

Hải Phòng

Trang 21

thế làm bất bình, quyết tính đến việc đình công Họ làm

việc rất dữ và làm một cách công khai.

Sau hôm các đại biểu và sếp lò bị thất vọng vì sự

không đợc trả tiền lơng có vài chục ngời phu vào loại giảo

hoạt, bớng bỉnh kéo nhau đi các ngả đờng trong Mỏ ngăn

phu lại khuyên đừng đi làm Họ đứng giữa đờng diễn

thuyết khuyên các bạn nên đồng lòng hành động để sau

này trách nhiệm không về riêng một ai mà khi có lợi cùng

chung hởng [ ].

Trong khi họ đang làm dữ thì ông đồn trởng và lính

ở Uông Bí tới Đang hăng, họ không sợ gì súng ống, vây

cả ông đồn và ném đá vào lính Đã đợc lệnh của Quan

sứ Quảng Yên, dẫu gặp phải sự nguy đến bực nào cũng

không đợc bắn súng vào đám đông ngời nên lính chỉ bắn

súng chỉ thiên để doạ bọn phu làm dữ Ông chủ Mỏ và

các ngời Tây làm ở Mỏ cũng bị phu ném đá gạch vào

nhà, vào ngời.

Bọn phu mỏ làm dữ cho tới khi Quan sứ Quảng Yên

cùng lính khố xanh và lính Tây tới họ mới thôi Tr ớc

nhà chức trách chỉ có một yêu cầu là trả công họ Rồi

Quan Thống sứ đợc tin phái Quan thanh tra lao động

Guyriec, Quan chính trị Delsalle ra Mỏ Quan Tổng

thanh tra lao động Bary thấy tình hình nghiêm trọng

cũng vội vã ra tận Mỏ Vàng Danh để xem xét, điều

đình.

Công việc điều đình của các nhà cầm giữ vận mệnh

dân lao động cũng dễ dàng vì dân phu chỉ yêu cầu sở mỏ

trả lơng chứ không xin điều gì cả Điều yêu cầu của họ ai

cũng nhận là quyền của họ đợc.

Các quan chức khuyên ông chủ Mỏ nên thi hành ngay

điều họ yêu cầu để tránh mọi điều đáng tiếc có thể xảy ra Nhng sở Mỏ kêu than không bán đợc, sở có ít tiền cha trả

đợc cho phu.

Sau việc dàn xếp cũng gọn Sở Mỏ đã bắt đầu chịu trả lơng cho phu, ngời đợc 5 đồng 10 đồng, kẻ vài ba đồng Số phu đi làm đã nhiều lên" 1

Tờ báo cho biết, khi thợ đ đi làm đông, nhà cầmã tiến hành

quyền Pháp liền bắt tay vào bắt bớ, đem 15 ngời nghi làcầm đầu về Quảng Yên

Tờ Bạn dân (số 20, ra ngày 29-9-1937) còn mô tả cuộc

số này có phần thiếu thực tế nhng ghi lại đợc các khẩu hiệu

do cuộc đình công đa ra (trả lơng cho phu mỏ sống, bỏ lệ batháng trả lơng một lần, không đợc ép phu mỏ dùng bôngmua thực phẩm của các hiệu thầu) và kiến nghị:

"Nay chủ đã nhợng bộ chịu trả lơng cho thợ nhng còn

cái lệ ba tháng trả một kỳ kia chủ có chịu bỏ không, còn

theo mô tả của bài viết, khi bị chủ mỏ triệt đờng lơng thực,

này, đồng chí Vũ Khắc Ca cho rằng chi bộ Đảng bị động do việc

nhạy bén cho ngời đứng ra vận động hàng vạn thợ quay về

Văn Phơng đánh giá: "Cuộc bãi công ở Vàng Danh năm 1937 có

tính chất tự phát, không có sự lãnh đạo của chi bộ Công nhân Vàng Danh đã bỏ việc, đập phá, cớp các cửa hiệu buôn Do manh động không có tổ chức, theo kiểu vô chính phủ nên bị địch khủng bố, cuộc bãi công này nhanh chóng bị thất bại".

Trang 22

cái lệ ép phu mỏ dùng bông mua thực phẩm của các hiệu

chủ thầu kia chủ có chịu không?

Ai cũng phải nhận rằng chính hai cái lẽ ấy là nguyên

nhân của cuộc đình công này Muốn tránh những cuộc

xung đột nh thế về sau chúng tôi yêu cầu ông Thanh tra

lao động can thiệp bắt chủ phải theo đúng luật xã hội.

Ngay bây giờ chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền hãy trả

mấy chục ngời bị bắt vì bị tình nghi đã cầm đầu cuộc biểu

tình Còn việc phạt toàn bộ thợ và phu mỗi ngời 2$00 để

bồi thờng những tổn hại mà các cuộc đánh phá gây ra thì

thật chúng tôi không tởng tợng đợc Phải chăng Chính phủ

để cho ngời ta lợi dụng cơ hội bóc lột thêm anh em lao

động nh thế.

Căn cứ vào những tin trên này cho thấy ở Mỏ Vàng Danh

nay đã bắt đầu thi hành nhiều luật xã hội Ai cũng phải

nhận rằng ấy là vì anh em phu đã có tranh đấu để phản đối

chủ và đồng thời kêu gào Quan thanh tra lao động can thiệp.

ảnh hởng của báo chí trong cuộc này cũng không phải

là ít vì hầu nh cả toàn thể d luận trong nớc đều đã bênh

vực cho phu phen chống chủ".

hoạt động có ý nghĩa trong năm 1938 nh cổ động tuyên

truyền cho hoạt động của Hội Truyền bá Quốc ngữ, tham

gia cuộc mít tinh ở nhà Đấu xảo Hà Nội nhân kỷ niệm ngày

Quốc tế Lao động 1-5, dự đám tang chiến sĩ cách mạng

của Quản Xuân Nam, đợc Xứ uỷ Bắc Kỳ ủng hộ Hội do cụ Nguyễn

Văn Tố đứng ra làm Hội trởng Cuộc mít tinh ngày 1-5-1938 tại nhà

Đấu xảo Hà Nội là một hoạt động chính trị sôi nổi nhất thời kỳ Mặt

Đoàn Thanh niên Dân chủ vùng mỏ Uông Bí - VàngDanh với 16 đoàn viên Ngày 4-5-1939, chi bộ Đảng VàngDanh - Uông Bí còn cử đại biểu ra Hà Nội dự đám tang của

Để chỉ đạo phong trào cách mạng ở cơ sở đợc sát hợp vàhiệu quả hơn, Trung ơng Đảng chủ trơng phân chia Xứ uỷBắc Kỳ thành các Khu uỷ A,B,C,Đ Khu uỷ B gồm các cơ

sở Đảng thuộc miền duyên hải (Hải Phòng, Hải Dơng,Kiến An, Quảng Yên) và các Đặc khu uỷ Uông Bí -VàngDanh, Hòn Gai- Cẩm Phả do đồng chí Tô Hiệu trực tiếplàm Bí th Ban Cán sự

Cuối tháng 5-1939, Ban Cán sự Khu uỷ B cử đồng chí

trận Dân chủ ở Bắc Kỳ, thu hút hàng vạn ngời tham gia

Đồng chí Nguyễn Thế Rục mất ngày 23-5-1938 tại Hà Nội,

Phơng Đông (Mátxcơva) và Trờng Giáo s đỏ Xvéclốp Về nớc

năm 1930 Là thành viên sáng lập và biên tập viên tờ Le

Travail Tang lễ đồng chí Nguyễn Thế Rục đợc cử hành vào

ngày 25-5-1938 Trong buổi lễ tang, đồng chí Đặng Xuân Khu(Trờng Chinh) đọc lời điếu

từng dạy học ở Thanh Hoá và Trờng Thăng Long (Hà Nội) cùng

Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, tham gia tích cực vào phongtrào Mặt trận Dân chủ, giữ cơng vị Phó Th ký Chi nhánh Đảng

trúng cử vào Hội đồng thành phố Hà Nội Đám tang ông có tớihai vạn ngời tham dự, đại biểu cho 14 tỉnh ở Bắc Kỳ Có cả đạibiểu của Trung Kỳ và Nam Kỳ

Khu trực tiếp chỉ đạo ra ngày 1-12-1938, đình bản ở số 38

(29-9-1939) Sau khi tờ Tin tức đóng cửa tháng 10-1938, Xứ uỷ mới mua

Trang 23

chức phát hành một số báo công khai của Đảng tại Điền

tận tay công nhân, thu thập tin tức để viết bài gửi về toà

soạn Bọn mật thám suốt ngày rình rập, theo dõi trụ sở

của chi nhánh Tháng 7-1939, Công sứ Quảng Yên là

Méclô cho mời đồng chí Tô Quang Đẩu lên Toà sứ hăm doạ

và yêu cầu chuyển trụ sở đi nơi khác, cấm không cho đặt

chân tới đất nhợng địa Vàng Danh Trở về, đồng chí viết

bài tố cáo hành động đàn áp này, cho đăng trên tờ Đời nay

và thuê một em nhỏ mang báo vào Vàng Danh

Ngày 1-9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng

nổ Ngay lập tức nhà cầm quyền Pháp ra nhiều nghị định

thủ tiêu các quyền dân chủ, dân sinh do nhân dân ta giành

nhánh báo Đời nay ở Uông Bí , bắt giữ đồng chí Tô Quang

Đẩu đa về Hải Phòng khám xét để truy tìm tài liệu nhng

không thu đợc chứng cớ gì có thể khép án Cuối cùng, chúng

căn cứ vào các tấm ảnh Mác, Ăngghen và Lênin treo trên

Tháng 12-1939, đồng chí Tô Hiệu bị địch bắt Phong

lại tờ báo và đổi tên thành Đời nay Còn tờ Notre Voix in bằng

tiếng Pháp và tờ Dân chúng in ở Sài Gòn, khó phát hành ra Bắc

Kỳ

trởng Bộ Nội thơng: Tháng 11-1939, đồng chí Thịnh bị mật

thám bắt do dán truyền đơn lên toa tàu nhân dịp kỷ niệm Cách

mạng Tháng Mời Nga Đồng chí Thịnh bị đa đi giam ở Quảng

Yên, sau đó bị đày ở nhà tù Sơn La

trào cách mạng ở Hải Phòng, Hòn Gai - Cẩm Phả, VàngDanh - Uông Bí gặp nhiều khó khăn Đầu năm 1940, đồngchí Hoàng Văn Nọn và Trần Quang Huy đợc cử về tăng c-ờng cho Khu uỷ B, lúc đó chỉ còn đồng chí Thành NgọcQuản và đồng chí Trần Quang Huy đợc phân công phụtrách khu vực Quảng Yên, Hải Phòng và hai Đặc khuVàng Danh - Uông Bí , Hòn Gai - Cẩm Phả

Mặc dù địch khủng bố gắt gao, nhng chi bộ Đảng ởVàng Danh - Uông Bí vẫn đợc bảo toàn và giữ đợc liên lạcvới Khu uỷ B và Xứ uỷ Bắc Kỳ Để kỷ niệm ngày Quốc tếlao động 1-5, và đẩy mạnh phong trào quần chúng, Xứ uỷBắc Kỳ chủ trơng phát động toàn xứ treo cờ đỏ búa liềm,rải truyền đơn, dán áp phích và tổ chức mít tinh vào ngày13-5-1940

Để nắm vững tình hình cơ sở, cuối tháng 5-1940,

đồng chí Trần Danh Tuyên Bí th chi bộ Vàng Danh Uông Bí Nguyễn Văn Phơng cũng tham dự Tại hộinghị, các đại biểu nhấn mạnh cần coi trọng nhiệm vụphát triển phong trào Hòn Gai - Cẩm Phả đa thànhtrọng tâm công tác, còn Vàng Danh - Uông Bí phải đợccoi là bàn đạp để Khu uỷ đi vào vùng mỏ, lập cơ sở, mởrộng phong trào

-Ngày 1-8-1940, Chi bộ Đảng ở Vàng Danh - Uông Bíchấp hành chỉ thị của Xứ uỷ Bắc Kỳ, tổ chức mít tinh

nhiều đảng viên và quần chúng của chi bộ bị bắt, một sốcơ sở bị vỡ

Trang 24

-ợc khôi phục trở lại trên đất Vàng Danh nhng đây lại là

thời điểm khu Mỏ bớc vào thời kỳ đình đốn Bọn phỉ ngời

Hoa nổi dậy hoành hành ở Năm Mẫu Cách mạng Tháng

Tám 1945 thành công, theo sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ Quảng

Yên, chi bộ Đảng Uông Bí tổ chức cho công nhân khai thác

than ở Mỏ Vàng Danh để có tiền phục vụ cho nhu cầu cuộc

sống

4 Khu Mỏ Vàng Danh thời kỳ 1946-1955

Từ đầu năm 1946, để giúp nhân dân địa phơng xây

dựng chính quyền mới, cấp trên cử đồng chí Đăng Tỉnh,

bao gồm Bí Thợng, Bí Trung, Tân Lập, Bí Giàng, Lạc

Thanh, Lạc Trung, Đồng Nối, Mộ Công Hạ, Mộ Công Nội,

Đồng Vỡ, rồi chia thành Khu hội đồng Nam Khê, Khu chợ

cũ, Khu gốc đa Lê Lợi, Khu công nhân, có Khu bộ Việt

Minh chỉ đạo Lợi dụng có quân đội Tởng Giới Thạch, bọn

ta ở Chiến khu Đông Triều phải tiến đánh Đông Triều,

kéo quân vào Đồng Tranh, Năm Mẫu

Sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Mỏ Vàng

Danh trở nên tiêu điều vì ta tiến hành tiêu thổ, phá hoại

những cơ sở kinh tế còn lại của Công ty than Đông Triều

Đờng sá, cầu cống cũng không còn nguyên vẹn Để cầm

gỡ đờng ray để cắm cọc rào sông Bến Chụp (Nam Khê),

nhân dân đóng góp tre gỗ đóng bè, rào sông Sinh tại cảng

Điền Công Nhân dân thôn Đồng Nối đào đờng, đắp ụ cản

xe tăng của địch từ cảng Điền Công, tiến vào phá nhà chủ

Mỏ ở Uông Bí và cầu trên sông Sinh, sông Uông Lực lợng

vũ trang rút vào hậu cứ Đồng Tranh- Năm Mẫu để bảotồn và củng cố lực lợng Tháng 3-1947, quân Pháp chiếmlại Uông Bí -Vàng Danh

Đầu năm 1948, Công ty than Đông Triều cử chủ nhì làVuichard và viên kỹ s quan t Peseda trở lại tổ chức khaithác phục vụ nhu cầu về than cho chiến tranh nhng đếnhết năm, kết toán bị lỗ 100.428$57 do đó đầu năm 1949,chúng tạm ngừng khai thác Phải đến tháng 8-1949, Mỏmới bắt tay vào việc tiếp tục chuẩn bị khai thác, nhngcông việc chính vẫn là sàng lại số than cũ còn việc sảnxuất mới cha làm đợc vì thiếu dụng cụ và nhân công Mỗingày Mỏ làm đợc từ 70 đến 100 tấn than

Số tiền Công ty than Đông Triều nhận đợc từ khoảnbồi thờng chiến tranh theo thông báo là 24.300.000$00nhng mới đợc lĩnh 6.310.000$00 Dự kiến Công ty sẽ cấptốc trang bị dụng cụ để tăng năng lực sản xuất

Giữa lúc công việc của Công ty than Đông Triều tiếntriển thì kỹ s mỏ Gaide bị ta bắt Trong công văn của PhủThủ tớng do Chánh Văn phòng Phan Mỹ ký gửi cho Uỷban Kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc (3-6-

sản xuất than của địch, Uỷ ban Kháng chiến hành chínhnên xem xét thành tích của những ngời có nhiều côngtrong việc phá hoại nền kinh tế địch để báo cáo với Thủ t-ớng phủ kịp khen thởng nhằm khích lệ tinh thần chiến

Trong một báo cáo của Uỷ ban Kháng chiến hành

Thủ tớng HS.C2/Q003/H.001.

Trang 25

chính Quảng Yên gửi Uỷ ban Kháng chiến hành chính

Liên khu Việt Bắc mang số 860/P4B đề ngày 27-6-1950

cho biết: tại Mỏ than Uông Bí có khoảng 1.000 thợ

thuyền- trong đó có 100 thợ lò, mỗi ngày 7 lò đang khai

thác sản xuất đợc chừng 100 tấn than và đợc 7 đầu tàu

kéo ra cảng Điền Công chở đi Hải Phòng bán Chủ Mỏ tìm

mọi cách để giữ đợc thợ, ngoài lơng hàng ngày còn phát

cho 1 kg gạo, thỉnh thoảng còn cấp vải, chăn, đờng, sữa

Những ngời thợ vào làm ở Mỏ tuy cha có cuộc tranh đấu

nào nhng có ý thức giúp đỡ cán bộ của Chính phủ đợc phái

đến hoạt động ở vùng Mỏ, giúp sức nhân viên công an phá

chỉ điểm trà trộn vào trong số thợ để dò la thông tin và

chống phá ta

Bọn chủ Mỏ đang tuyển 150 lính để bảo vệ Mỏ than

Vàng Danh thay thế cho lính chính quy Trong tháng

về, trong đó chỉ có 20 thợ, còn lại toàn là ngụy binh Về

đến Uông Bí, những ngời này đợc đa ngay vào Vàng Danh

để thế chỗ, không qua tập huấn Vũ khí trang bị chỉ có

một số ít súng trờng và lựu đạn

Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ triền miên và tình hình

chiến sự bất lợi cho việc khai thác than, đến ngày

30-11-1950, toàn bộ hai Mỏ Vàng Danh và Uông Bí thuộc Công

ty than Đông Triều ngừng khai thác hoàn toàn Báo cáo

của Ty Công an Quảng Yên ngày 8-12-1950 ghi rõ: “Sau

khi tháo xong máy móc chuyển về Hải Phòng, bọn Tây ở

Mỏ Uông Bí tiếp tục cho dỡ nốt các tấm kim khí, tôn kẽm

trong các xởng, đồng thời cho gỡ cả đờng xe lửa từ Mỏ

Vàng Danh đến Điền Công và hiện đã tháo gần đến Lán Tháp Ngày 12-11-1950, chúng cho các cai lò vào Vàng Danh dùng mìn làm sụp các lò chính, lấy gỗ đá ghép kín các lò ngách rồi thanh toán hết lơng bổng cho thợ Chủ Mỏ cho biết còn chờ xem diễn biến của tình thế và sự điều

đình với phía quân sự nên vẫn tạm đóng cửa Các thợ ai muốn đi lính cho Pháp và Bảo Đại thì tuỳ Lần lợt Descousse, Vuichard, Gerolamy, Richier, Hientz rời về Hải Phòng Quân Pháp rút bỏ hai vị trí là đồn Cao Su và nhà sàng Lavoir trong Vàng Danh để về tăng cờng cho Uông Bí

và Lán Tháp”.

Ngợc lại với tình hình suy sụp của kỹ nghệ, địch hoạt

động và tăng cờng càn quét, tuần tiễu ở Uông Bí và sụcsạo vào các cánh rừng Lans Cuir, Năm Mẫu, Khe Tranhnhiều hơn Các thủ đoạn rình bắt cán bộ, củng cố hậu cứ

đợc địch thi hành ráo riết

Từ đầu năm 1951, ta mở Chiến dịch Đông Bắc trên

đ-ờng 18 (còn gọi là Chiến dịch Hoàng Hoa Thám), sử dụng

7 trung đoàn đánh vào phòng tuyến của địch từ Phả Lại

động chiến tranh du kích, phá cầu cống, cản trở giao thông

và tạo điều kiện vận chuyển lơng thực ra vùng tự do Từngày 23-3 đến ngày 5-4-1951, dân quân du kích vùngUông Bí - Vàng Danh phối hợp với bộ đội tấn công các đồnLán Tháp, Lọc Nớc, Sông Châu, Bí Chợ, Dốc Đỏ càngkhiến cho chủ Mỏ không dám nghĩ đến việc khai thác lại,phải cho tháo dỡ nốt máy móc chuyển đi nơi khác Các nhàmáy điện, nhà sàng chỉ còn lại bộ khung

Trong khu vực Uông Bí, một số hiệu buôn của các

th-ơng nhân ngời Việt và Hoa kiều vẫn hoạt động Đồn địch

Trang 26

đóng trên đồi thông Nam Khê và Phố Chính Một số tổ

chức phản động nh Quốc dân Đảng, Hội Phật giáo đợc lập

ra Ta chỉ lập ra đợc một số tổ ái hữu, tơng tế thu hút một

số công nhân nhà máy nớc, một số thợ mộc và khoảng 30

quần chúng có chân trong tổ chức thanh niên, phụ nữ

diệt một số phản động, bắt sống một số lính gác và mật

thám cùng bọn lính tuần tiễu từ Uông Bí đi cảng Điền

Công, đánh mìn xe tiếp tế lơng thực, đánh đổ tàu hoả,

phục kích xe tăng, cắt dây điện thoại trên tuyến Uông Bí

-Điền Công và Uông Bí -Bí Trung, đột nhập vào Văn phòng

Mỏ than Vàng Danh đốt hết giấy tờ, thu hai máy chữ

Đầu tháng 11-1953, quân Pháp huy động chín đại đội

biệt kích cùng hai tiểu đoàn pháo yểm trợ tấn công vào

căn cứ Thợng Yên Công nhng bị thiệt hại nặng phải rút

lui

Vào lúc 7 giờ sáng ngày 24-4-1955, lực lợng tiếp quản

từ Đông Triều, Lán Tháp tiến vào Uông Bí - Vàng Danh

Đến 9 giờ sáng ngày 25-4-1955, tên lính Pháp cuối cùng

rút khỏi cảng Điền Công Ngay chiều hôm đó hơn 7.000

1 Phục hồi và xây dựng Mỏ than Vàng Danh

Sau ngày miền Bắc hoàn toàn đợc giải phóng, Trung

-ơng Đảng và Chính phủ chủ tr-ơng khôi phục và phát triển

động từ năm 1950 nên tất cả tài liệu liên quan đến kỹthuật và quản lý đều không còn, hầm lò sạt lở nhiềukhông đợc tu bổ Tuy nhiên, các đờng lò chính ở VàngDanh tình trạng khá tốt, việc phục hồi sẽ không tốn kémnhiều Để có thể tiếp tục khai thác đợc, phải lập thiết kếkhôi phục, xây dựng Mỏ công suất 60 vạn tấn/năm, trong

đó có nhà Sàng, đờng sắt và cảng Điền Công

lấy đi khoảng 5- 5,5 triệu tấn than, trong đó sản lợng khaithác cao nhất là năm 1939 đạt 56,2 vạn tấn Theo đánhgiá sơ bộ ban đầu của các chuyên gia Liên Xô thì trữ lợng

ở khu Uông Bí và khu Francois kế cận, từ mức +70m trởlên vào khoảng 80-90 triệu tấn Tài liệu và các bản phântích của Pháp đánh giá than ở đây độ rắn lớn, thuộc loại

Trang 27

than gầy dễ cháy, tỷ lệ cục chiếm tới 60-70% (tỷ lệ này

không sát, thực tế chỉ khoảng 17% than nguyên khai)

Ngày 20-12-1958, Trởng đoàn chuyên gia Liên Xô

Điđơcốpxki lập bản Sơ giải về vấn đề phục hồi Mỏ than

Uông Bí Thứ trởng Bộ Công nghiệp Trần Đại Nghĩa đã tiến hành

duyệt bản báo cáo trên và trình lên Chính phủ văn bản số

2801/BCN-VP2 ngày 28-12-1958

Việc khôi phục khu Mỏ Vàng Danh-Uông Bí đợc Chính

phủ chấp nhận Theo Hiệp định hợp tác kinh tế khoa học

và kỹ thuật 1 đợc ký giữa Việt Nam và Liên Xô ngày

7-3-1959 tại Hà Nội thì Chính phủ Liên Xô sẽ giúp thiết kế,

trang bị để khôi phục Mỏ Vàng Danh với công suất 60 vạn

tấn/năm

Ngày 15-4-1959, trong tờ trình Thủ tớng Chính phủ,

Bộ trởng Bộ Công nghiệp Lê Thanh Nghị cho biết nhu

cầu than gầy trong nớc từ năm 1960 trở đi sẽ tăng lên

nhanh chóng Để đáp ứng yêu cầu đó, khu Mỏ Vàng

Danh - Uông Bí phải khai thác đợc khoảng 642.500 tấn

than nguyên khai/năm (257.000 tấn than cám, 385.500

tấn than cục) Số than khai thác đợc sau khi cung ứng cho

các nhà máy và nhu cầu trên sẽ thừa trên 200.000 tấn

than cục, sẽ cung ứng cho các nhà máy điện đang dùng

than cục (30.583 tấn) và các nhu cầu khác ở miền Bắc

(185.000 tấn), nếu cha sử dụng hết sẽ chuyển sang xuất

khẩu Điện dùng cho việc khai thác vào khoảng 2000KW,

máy nhiệt điện Uông Bí công suất 24.000KW cùng đờng dây dẫn

điện tới Hải Phòng và Hà Nội, Nhà máy thủy điện Bàn Thạch,

Nhà máy ớp lạnh Hải Phòng, Trờng đại học Bách khoa Hà Nội

và cho Việt Nam vay 100 triệu rúp

lấy từ Nhà máy nhiệt điện Uông Bí

Về biện pháp thực hiện, căn cứ theo Hiệp định về hợp

tác kinh tế và khoa học - kỹ thuật ký với Liên Xô hồi

tháng 3-1959, đề nghị Liên Xô viện trợ theo hình thứcthiết bị toàn bộ, đa chuyên gia sang trong quý IV năm

1959 để su tầm tài liệu làm cơ sở cho công tác thiết kếkhôi phục Mỏ Việc thăm dò do chuyên gia Trung Quốc

đoàn khảo sát thăm dò địa chất sơ bộ khu Mỏ Vàng Danhgồm Đoàn Địa chất II với sự phối hợp của các chuyên gia

về địa chất mỏ ở ba khu vực Vàng Danh, Cánh Gà vàThan Thùng

Ngày 15-12-1959, văn bản Nhiệm vụ thiết kế khôi

phục Mỏ than Vàng Danh ở vùng Uông Bí đợc Bộ Công

"- Việc khôi phục Mỏ Vàng Danh đợc đề ra bởi những ý kiến dới đây:

d) Than khai thác ở Vàng Danh là than gầy (anthracite) và tỷ lệ than cục cao hơn các mỏ khai thác

Trang 28

anthracite khác ở Việt Nam.

đ) ở Mỏ có nhiều nhà cửa và các công trình với mức độ

h hỏng khác nhau, phần lớn đều có thể khôi phục lại và sử

dụng đợc Các lò ngầm cũng vậy; những lò này theo quy

cách đều đợc chống cẩn thận bằng sắt, bê tông, gạch.

- Công suất Mỏ Vàng Danh khi khôi phục xong đợc quy

định là 600.000 tấn trong một năm.

Khi thiết kế có dự tính khả năng tăng công suất của

Mỏ trong tơng lai lên đến 1 triệu 2 rồi 1 triệu rỡi tấn một

năm.

Công suất có thể đạt của Mỏ trong tơng lai sẽ đợc xác

định trên cơ sở báo cáo chính thức về kết quả công tác

thăm dò địa chất trong khu vực của Mỏ, sau khi những

công tác này đợc hoàn thành.

- Chế độ làm việc ở Mỏ áp dụng nh sau:

a- Số ngày làm việc trong một năm là 300 ngày.

b- Số ca làm trong 24 giờ là ba ca, trong đó có hai ca

lấy than và một ca sửa chữa, chuẩn bị.

c- Thời gian làm việc của mỗi ca là 8 giờ.

- Vì cha nghiên cứu đợc độ xuất khí nổ của các vỉa

than ở khu Mỏ, khi thiết kế tạm quy định xếp Mỏ có hơi nổ

vào loại 1, nghĩa là chất mêtan bốc ra không quá 5m 3 cho

một tấn than của sản lợng than khai thác trung bình

trong một ngày đêm.

Về bụi than của Mỏ thì coi nh không nguy hiểm, các

vỉa than không tự cháy.

- Khi thiết kế phải dự kiến trớc những biện pháp chống

n-ớc rỉ vào trong các lò, nhất là về mùa ma từ suối "A" do lòng

suối bị sụt vì ảnh hởng của các lò cũ trớc đây.

- Căn cứ theo những xét nghiệm đã tiến hành, than của

Mỏ Vàng Danh phải đợc lọc rửa bằng phơng pháp cơ khí.

Nh vậy phải xây dựng một Nhà máy sàng rửa than riêng cho Mỏ ngay tại Mỏ.

Một đề án thiết kế sẽ xây dựng riêng cho Nhà máy rửa than này.

Khi thiết kế khôi phục Mỏ dự tính sẽ sử dụng nhà sàng

cũ và boongke bêtông cốt sắt bên cạnh đó cho Nhà máy sàng rửa.

Văn phòng xí nghiệp gồm các phòng hành chính và các phòng sinh hoạt, xởng cơ khí sửa chữa, kho vật liệu, trạm biến thế của Mỏ cùng các nhà và các công trình phụ khác

đợc thiết kế không những phục vụ cho Mỏ và cả cho Nhà máy sàng rửa than.

Khi giải quyết vấn đề xử lý nớc thải phải chú ý là nớc này sẽ thải ra sông Uông, tức là nguồn cung cấp nớc cho thành phố Hải Phòng.

- Dự định xây dựng mặt bằng công nghiệp xởng sửa chữa cơ khí riêng của Mỏ để tiểu tu các thiết bị tại Mỏ Còn trung

tu và đại tu các thiết bị trong Mỏ thì dự định làm tại Xởng sửa chữa cơ điện trung tâm sẽ xây dựng tại Uông Bí.

- Phía Liên Xô không có trách nhiệm thiết kế các đờng vận tải nằm ngoài Khu mỏ:

Đờng xe hoả và đờng ô tô vào Mỏ; đờng dây tải điện từ Nhà máy điện Uông Bí vào Mỏ; đờng dây điện thoại tới các số điện thoại ở bên ngoài; các công trình dẫn nớc ở ngoài phạm vi mặt bằng công nghiệp của Mỏ cũng nh nhà công nghiệp, nhà ở, công trình dân dụng và việc nghiên cứu khảo sát Giá tiền khôi phục Mỏ và giá thành sản phẩm sau khi

Trang 29

Mỏ bớc vào sản xuất phía Việt Nam sẽ căn cứ vào các số liệu

ghi trong đề án do Liên Xô thiết kế mà tính.

- Do việc các bản đồ hầm lò sau năm 1937 bị thất lạc,

hơn nữa vị trí và tình hình thực tế của hầm lò không thể

quan sát trực tiếp mà định đợc vì nhiều chỗ trong lò đã

sập đổ cho nên không thể làm đề án khai thác về sơ đồ

hầm lò khi Mỏ bắt đầu sản xuất và khi đạt công suất thiết

kế đợc Vì vậy mà trớc lúc bắt tay vào xây dựng không thể

làm đợc đề án tổng hợp toàn bộ khôi phục Mỏ theo hình

thức nhiệm vụ thiết kế thờng làm trong giai đoạn đầu của

việc thiết kế.

Căn cứ vào hoàn cảnh trên, trong giai đoạn đầu của

thiết kế phía Liên Xô sẽ thảo ra những dự kiến sơ bộ về

việc khôi phục Mỏ Vàng Danh và có kèm theo bản kê

những khối lợng công tác ớc tính và bản thống kê sơ bộ mà

xây dựng các bản vẽ thi công.

Trong trờng hợp này, phía Việt Nam thấy là hợp lý nếu

phía Liên Xô cử một đoàn chuyên gia thiết kế ngay tại

công trờng xây dựng Mỏ để trực tiếp cung cấp các bản vẽ

thi công.

Việc khôi phục các công tác này đang tiến hành, đặc

biệt các công tác về hầm lò, đồng thời giúp đỡ ý kiến để

giải quyết các vấn đề kỹ thuật có thể nảy ra trong khi khôi

phục Mỏ" 1

Nh vậy, việc khôi phục Mỏ Vàng Danh về cơ bản mới

nhằm vào khu vực tây Vàng Danh trên những nét hết sức

sơ bộ vì tài liệu địa chất không chính xác, tình hình lò cũ

cha khảo sát đợc

ở vùng mỏ Uông Bí Lu tại Trung tâm lu trữ Quốc gia III.

Ngày 17-12-1959, Bộ Công nghiệp gửi văn bản số5553-BCN/TK trình lên Chính phủ xin phê chuẩn nhiệm

vụ thiết kế khôi phục Mỏ Vàng Danh với công suất thiết

kế bớc đầu là 600.000tấn/năm, sau này phát triển về khuCánh Gà và Than Thùng có thể công suất lên1.500.000tấn/năm

Căn cứ vào tờ trình trên và tinh thần cuộc họp cùngngày giữa Uỷ ban Kế hoạch Nhà nớc, Bộ Công nghiệp và

Bộ Giao thông - Bu điện, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nớc có tờtrình số 3174/UBCN lên Thờng vụ Hội đồng Chính phủbày tỏ sự nhất trí với đề án và các vấn đề đợc nêu Tờ trìnhcũng cho biết giá thành khôi phục tuy cha khảo sát kỹ lỡng

và chi tiết đợc nhng sơ ớc khoảng 20 triệu rúp Đờng vậnchuyển do Việt Nam phụ trách ớc khoảng 60-70 triệu đồngViệt Nam Ngoài ra, tờ trình lu ý: Trong năm 1960, BộGiao thông - Bu điện cần tổ chức làm đờng vận chuyển từcảng Điền Công đến thị trấn Uông Bí, chủ yếu bảo đảmvận chuyển thiết bị vật liệu cho điện vào quý II năm 1960

có thiết bị nặng 60 tấn; còn đờng sắt và đờng bộ phục vụcho Mỏ than Vàng Danh phải khảo sát thiết kế và chuẩn

bị lực lợng thi công để đầu năm 1961 có thể thi công vàcuối năm 1961 có thể bớc đầu vận chuyển vật liệu thiết bịcho công tác chuẩn bị sản xuất của Mỏ Nghiên cứu việckhôi phục cảng Điền Công

Ngày 14-1-1960, Phó Thủ tớng Chính phủ Phạm Hùng

ký văn bản số 150/CN phê chuẩn nhiệm vụ thiết kế khôiphục Mỏ Vàng Danh với công suất 60 vạn tấn/năm và cáccông trình xây dựng nhà sàng rửa (lợi dụng nhà sàng vàboongke cũ), phân xởng sửa chữa cơ khí, nhà văn phòng,

Trang 30

kho vật liệu, trạm biến thế.

Qua một thời gian chuẩn bị, sau khi căn cứ vào quy

hoạch và thiết kế sơ bộ, Bộ Công nghiệp nặng (khi đó Bộ

và Công nghiệp nhẹ) ra Quyết định thành lập Ban Kiến

thiết Mỏ Vàng Danh để làm chức năng chủ công trình

(bên A) với bộ khung gồm cán bộ ở Ban Kiến thiết Suppe

Lâm Thao đợc bổ sung một số cán bộ Cục Kiến thiết cơ

bản với khoảng 30 cán bộ, công nhân viên Ông Đặng Văn

Sơ đợc cử làm Trởng ban kiêm Bí th chi bộ, các ông

Nguyễn Sơn Sát và Lê Đức Tiến là Phó ban Chi bộ của

Ban Kiến thiết Mỏ Vàng Danh có 10 đảng viên

Một trong những nhiệm vụ của Ban Kiến thiết Mỏ

Vàng Danh trớc mắt là chuẩn bị nhà cửa, nơi ăn chốn ở,

điều kiện làm việc cho chuyên gia Liên Xô sang tiếp tục

khảo sát và tiến hành thiết kế kỹ thuật Nhiều nhà tranh

kết vào làm việc ở Mỏ Vàng Danh

Căn cứ vào Nhiệm vụ thiết kế khôi phục Mỏ Vàng Danh

đ đã tiến hành ợc Chính phủ phê duyệt và tài liệu khảo sát sơ bộ về địa

thẩm tra đề án thiết kế trên từ ngày 10-2-1961 tại Hà

Nội dới sự chủ trì của Thứ trởng Bộ Công nghiệp nặng

Trần Đại Nghĩa

Sau khi nghe Tổng Công trình s E.Êmilin và

T.Vasiliêva trình bày về thiết kế Mỏ và Nhà máy sàng

tuyển than Vàng Danh, ông Lê Văn Đức - đại diện Tổng

cục Địa chất cho rằng, báo cáo sơ bộ về địa chất năm

1959 cho biết trữ lợng cấp C1 và C2 là 150 triệu tấn tạicác khu Cánh Gà, Vàng Danh và Than Thùng; năm 1960tiến hành khoan 13/18 lỗ có các độ sâu từ 185m - 500m,sau đó sẽ tổ chức khoan tiếp các lỗ còn lại ở độ sâu 600

Vàng Danh cho thấy rằng, chỉ riêng khu vực Cánh Gà,trữ lợng cấp A2 + B + C1 ớc tính là 80 triệu tấn, cấp A2+ B là 38 triệu tấn, trữ lợng cấp C1 ở khu Vàng Danh là

40 triệu tấn còn khu Than Thùng là 50 triệu tấn, có thểcòn cao hơn Tuy nhiên cha thể ngừng công tác thăm dò

để làm báo cáo đợc vì tài liệu cũ để lại thiếu chính xác,còn phát hiện đợc nhiều vỉa than mới, nhất là ở khuCánh Gà Còn nhiều vấn đề phải thăm dò thêm (độ dốccủa vỉa, thủy văn)

Do việc thăm dò địa chất còn nhiều hạn chế nên Hộinghị cũng đề xuất các ý kiến về thiết kế và lựa chọn phơng

án khai thác và thiết bị cho nhà máy tuyển than, về xâydựng nhà cửa và công sở

giữa hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô và văn bản

Nhiệm vụ thiết kế khôi phục Mỏ Vàng Danh đ đã tiến hành ợc Nhànớc phê duyệt, căn cứ vào các ý kiến tại Hội nghị thẩm tra

336/BCNNg đồng ý với đề án của Viện Lenghiprôsak và bổ

sung thêm một số lu ý mang tính chỉ đạo trong quá trìnhchỉnh sửa

Ngày 4-3-1961, Thứ trởng Bộ Công nghiệp nặng Trần

Đại Nghĩa ký văn bản 336/BCNNg với nội dung "Những kết

luận về bản đề án thiết kế khôi phục Mỏ than Vàng Danh

Trang 31

cũ, Nhà máy sàng ở vùng Uông Bí" Ngày 9-3-1961, Bộ Công

nghiệp nặng ra Quyết định số 70/BCNNg- KB bổ nhiệm ông

Nguyễn Đức Vy - nguyên Đại uý Tiểu đoàn trởng, nhận

nhiệm vụ Phó ban Quyền Trởng ban và ông Lê Đức Tiến

nhận nhiệm vụ Phó ban Kiến thiết Mỏ Vàng Danh

Ngày 14-7-1961, Bộ Công nghiệp nặng ra Quyết định

số 213/BCNNg-KK thành lập Ban Chuẩn bị sản xuất Mỏ

than Vàng Danh trực thuộc Cục Khai khoáng hoá luyện có

của Mỏ than Vàng Danh, với những các công việc sau:

“ - Chuẩn bị mọi điều kiện vật chất, cán bộ, công nhân,

kế hoạch, tài vụ, kỹ thuật, nguyên vật liệu để hoàn thành

tốt nhiệm vụ sản xuất thử và sớm đa Mỏ đi vào sản xuất

chính thức.

- Nghiệm thu toàn bộ Mỏ gồm các công trình xây dựng

và lắp đặt.

- Đào tạo bồi dỡng cán bộ, công nhân viên kỹ thuật

nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất của Mỏ.

- Quản lý tổ chức biên chế, tài vụ, vật t trong phạm vi

phân cấp.

- Hợp tác với các cơ quan, xí nghiệp khác về các mặt

sản xuất, kỹ thuật, nguyên nhiên vật liệu để thực hiện tốt

các nhiệm vụ sản xuất.”

Ngày 15-8-1961, Bộ Công nghiệp nặng ra Quyết định

thành lập Công trờng Vàng Danh (bên B) gồm 223 cán bộ,

công nhân viên (180 cán bộ công nhân viên từ Công trờng

lắp máy Apatit Lào Cai về và 43 cán bộ, công nhân lò của

Mỏ than Mạo Khê sang) Đồng chí Trần Vĩnh - nguyên

Trởng ban Công trờng lắp máy Apatit Lào Cai đợc cử làm

Quyền Trởng ban Chỉ huy Công trờng; đồng chí PhạmLuân làm Phó ban

Bộ máy của Công trờng Vàng Danh nhanh chóng đợchình thành:

- Phòng Quản lý công trình - do kỹ s khai thác Trần Độphụ trách;

- Phòng Lao động tiền lơng - do đồng chí Võ Năng Hiệpphụ trách;

- Phòng Hành chính quản trị - do Trung uý quân độichuyển ngành Đỗ Hữu Hạnh phụ trách;

- Phòng Y tế - do đồng chí Phan Triết Lý phụ trách,

- Phòng Kế hoạch - do đồng chí Nguyễn Văn Mongphụ trách;

- Phòng Bảo vệ công trờng - do đồng chí Đỗ Tử Lơngphụ trách

- Đội đào lò số 1 gồm 42 công nhân do thợ lò bậc 4/6

Đinh Văn Tụy làm Đội trởng và đồng chí Nguyễn Văn Chín

Khu uỷ Hồng Quảng quyết định bổ sung cho Công trờngVàng Danh 14 cán bộ, chiến sĩ tự vệ tăng cờng cho lực lợngbảo vệ Mỏ Đảng viên Nguyễn Văn Hiển và bộ đội chuyển

tăng cờng Đồng thời Khu uỷ Hồng Quảng ra Quyết địnhthành lập chi bộ Đảng đầu tiên của Công trờng Vàng Danhgồm 27 đảng viên (có một nữ đảng viên là đồng chí TrơngThị Chàng) do đồng chí Trần Vĩnh làm Bí th, đồng chí VõNăng Hiệp là Phó Bí th và Nguyễn Văn Mong là chi uỷ

thành lập Đội đợc công bố ngày 24-11-1961

Trang 32

viên Chi đoàn Thanh niên do đồng chí Võ Song làm Bí th.

Công đoàn bộ phận do đồng chí Nguyễn Xuân Di làm Th

Quảng còn ra Quyết định thành lập Liên chi bộ Đảng Vàng

Danh gồm Chi bộ khối cơ quan, Chi bộ khối trực tiếp bên B

và Chi bộ bên A Một thời gian sau, Chi bộ khối trực tiếp

bên B tách khỏi Liên chi bộ Đảng

L nh đạo Công trã tiến hành ờng Vàng Danh đ khẩn trã tiến hành ơng chuẩn

bị mọi điều kiện để đến cuối năm 1961 bắt tay vào việc

khôi phục Mỏ Khó khăn lớn nhất lúc này là cán bộ và

công nhân đều từ các địa phơng khác đến, còn lạ lẫm, cơ sở

cửa thuộc Đoàn Địa chất II Hầu nh toàn bộ cán bộ công

nhân công trờng cha hiểu gì về hầm lò

Ngoài Đội Hầm lò số 1, các Đội Điện mặt bằng (Đào

Đăng Mực, đội trởng), Đội Cơ khí (Nguyễn Văn Nghĩa, đội

trởng), Đội Kiến trúc (Bùi Ngọc Trạc, đội trởng) cũng lần

lợt đợc thành lập Họ là những chiến sĩ quân đội trớc đây

thuộc S đoàn 330 và đơn vị Công trình quốc phòng K67

đ-ợc chuyển sang làm kinh tế

Sau khi đợc học tập về kế hoạch khôi phục, xây dựng

Mỏ, công nhân của các đội hầm lò đợc các chuyên gia của

Liên Xô (Mancốp Trởng đoàn thi công, Naumốp

-Chuyên gia thi công, Chétvasilép - -Chuyên gia cơ điện,

Tơrunốp - Chuyên gia trắc địa, địa chất) và cán bộ Việt

Nam (Trần Lợi - kỹ s mỏ, Nguyễn Huy Chung - Trung cấp

lò đều học ở Liên Xô về) trực tiếp lên lớp về phơng pháp

đào chống lò đá, lò than, về an toàn lao động, phòng chống

cháy nổ, xúc tải, tính năng các loại vật liệu chống lò Khối

lợng công việc họ phải đảm nhiệm về phần hầm lò là khôiphục sửa chữa 2,7 km lò cũ của Pháp, đào mới 10-11 km

đờng lò các loại (lò cái vận chuyển, lò xuyên vỉa, lò thợngkhai thác, lò thợng đờng ray, lò thợng vận chuyển băngtải)

Tháng 11-1961, ta chính thức khởi công khôi phục ờng lò vận chuyển mức +122 để chào mừng Cách mạngTháng Mời Nga thành công và ngày truyền thống côngnhân Mỏ (12-11) Cũng vào thời điểm này, xởng cơ khí Mỏdựng trên nền xởng cơ khí cũ của Pháp cũng đợc tiến hànhxây dựng Ngoài ra, công trờng còn bắt tay vào hàng loạtnhững công việc khác nh phá dỡ nhà Sàng cũ của Pháp,chuẩn bị xây mới Nhà máy sàng tuyển, xây lắp trạm điện

đ-35 KV cùng nhiều công trình khác (nhà hành chính, nhàtắm, trạm cứu hoả, bể lắng than bùn)

Cuối năm 1961, Đảng đoàn Bộ Công nghiệp nặng cùngKhu uỷ Hồng Quảng phối hợp kiểm tra việc triển khai và

- Tiến độ còn chậm, cha đạt yêu cầu

công việc của Mỏ, thiếu hiểu biết về kỹ thuật Mỏ

- Tổ chức Đảng và đoàn thể cha hợp lý

Trên cơ sở những kết luận trên, đầu năm 1962, Khu uỷHồng Quảng và Bộ Công nghiệp nặng quyết định:

- Về tổ chức Đảng và đoàn thể: Khu uỷ Hồng Quảng ra

Quyết định thành lập Đảng bộ Vàng Danh (thống nhất cả

A lẫn B) đặt dới sự chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng thị xã tiến hành

Trang 33

cũng đợc bố trí tơng tự nh tổ chức Đảng.

Đảng bộ Vàng Danh gồm 10 chi bộ:

Chi bộ Ban Kiến thiết,

Chi bộ cơ quan 1 (gồm Văn phòng Đảng uỷ, Đoàn Thanh

niên và Công đoàn Công trờng)

Chi bộ cơ quan 2 (gồm các phòng của Công trờng),

Chi bộ của đội nề và lao động phổ thông,

Chi bộ đội mộc,

Chi bộ đội điện nớc và thi công,

Chi bộ đội xe và máy cơ giới,

Chi bộ xởng gia công cơ khí,

Chi bộ đội bê tông cốt thép,

Chi bộ đội lò 1

Khu uỷ Hồng Quảng cũng ra Quyết định điều đồng chí

Nguyễn Xuân Oánh và Nguyễn Đức Thởng- Uỷ viên Ban

Đảng uỷ; đồng chí Phạm Văn Thắng - Thờng vụ Công

- Về nhân sự: Bộ Công nghiệp nặng ra Quyết định điều

động đồng chí Nguyễn Tiến T từ Cục Xây lắp về giữ chức

vụ Phó Chỉ huy Công trờng kiêm Phó Bí th Đảng uỷ; kỹ s

mỏ Chế Ân, nguyên Phó Quản đốc phân xởng ở Mỏ than

Thống Nhất về làm Đội phó Đội hầm lò; Nguyễn Huy

Chung - Trung cấp kỹ thuật Mỏ làm Phó phòng Kế hoạch;

kỹ s Trần Lợi từ Cục Kiến thiết cơ bản về làm Phó phòng

kỹ thuật của Ban Kiến thiết

Kề vai sát cánh với đồng nghiệp Việt Nam còn có Đoàn

1961, tồn tại đến ngày 15-11-1962 (ngày 25-1-1962, Ban Chấp

chuyên gia Liên Xô cùng làm việc trong quá trình vừathiết kế vừa thi công, hớng dẫn về kỹ thuật và phơng phápbắn mìn Đoàn chuyên gia có năm thành viên do đồng chíMancốp làm Trởng đoàn, Naumốp làm Phó Trởng đoànkiêm Bí th chi bộ

Nhận rõ khó khăn cũng nh những thuận lợi, căn cứvào chủ trơng chung và kế hoạch sản xuất do Bộ Công

nghiệp nặng giao, Đảng uỷ và Ban Chỉ huy Công trờng đã tiến hành

ra nghị quyết và xây dựng quyết tâm thực hiện thắng lợi

kế hoạch đề ra, bằng mọi biện pháp nhanh chóng ổn định

đời sống cho cán bộ và công nhân viên, tổ chức sản xuấtngay với tinh thần tiến công để tạo ra khí thế trong nhữngngày đầu, tháng đầu

Ngày 24-2-1962, thợ lò Lê Công Mận vinh dự đợc cho

nổ phát mìn đầu tiên mở đầu cho thời kỳ bắt tay vào khôiphục Mỏ Vàng Danh, cũng là mở đầu thời kỳ Đội hầm lò

số 1 bắt tay vào khôi phục vỉa 5 (3) khu Vàng Danh Trởng

đoàn chuyên gia Liên Xô Mancốp cũng có mặt vào thời

điểm quan trọng này

Tháng 4-1962, Bộ Công nghiệp nặng giao cho Công tythan Hồng Gai trực tiếp quản lý Mỏ than Mạo Khê vàCông trờng xây lắp Mỏ Vàng Danh

Trang 34

Đoàn Thanh niên Mỏ Vàng Danh đ phát động phongã tiến hành

trào xung phong tình nguyện vợt mức kế hoạch 5 năm lần

thứ nhất (1961-1965), trớc mắt xung kích vào công trình

vợt sụp 4 vỉa 5 (3) Đội hầm lò số 1 lúc này đợc bổ sung

thêm một số công nhân đờng dây cao thế

Nhờ những phát hiện và điều chỉnh của Đội đào lò số 1

và luận cứ báo cáo với Chính phủ cho phép mở cửa lò số 2

độ, Bộ Công nghiệp nặng cử Đoàn cán bộ kỹ thuật do kỹ s

Trần Lợi dẫn đầu sang Viện Lenghiprôsak phúc trình

Bớc vào quý III năm 1962, tiến độ các hạng mục công

trình có bớc tiến triển rõ rệt nhng về thiết kế trong hầm lò

cần phải có sự thay đổi Thiết kế ban đầu là chuẩn bị khai

thác 2 lò chợ ở vỉa 6 Vàng Danh nhng vì than quá xấu, nớc

ở trên đổ xuống quá lớn không khắc phục đợc nên việc đào

lò gặp rất nhiều khó khăn Qua quá trình nghiên cứu

khảo sát, kỹ s Chế Ân đề xuất khai thác lớp trụ của vỉa 5

lúc đầu không đợc chấp nhận vì có ý kiến cho rằng khai

thác lớp trụ vỉa 5 trớc là không đúng trình tự và vi phạm

kỹ thuật Muốn làm nh vậy phải có ý kiến của Viện

Vàng Danh chính thức có văn bản báo cáo và đề nghị Bộ

Công nghiệp nặng cho ý kiến

đến sụp 6 và 7 phát hiện lối lên +260, gần hết sụp 8 phát hiện ra lò

vòng chân thợng đờng ray của Pháp, tìm đợc lối ra ngoài và phân

tầng lò chợ +314, đến Giếng Mù mở ra phân tầng lò chợ +389

Cuối quý III năm 1962, Thứ trởng Trần Đại Nghĩa

Vàng Danh kiểm tra tình hình và đi sâu nghiên cứu, lắngnghe các kỹ s Chế Ân và Trần Lợi trình bày Trở về Hà

tịch vào ngày 29-10-1962 giữa Bộ và Đoàn Chỉ đạo kinh tế

Liên Xô Thứ trởng Trần Đại Nghĩa cho rằng: "Song song

với thi công lò 1 (tức lò xuyên vỉa ở Vàng Danh mức +122), cần thi công ở Cánh Gà để tổ chức khai thác ở Cánh Gà tr- ớc Đây là vấn đề lớn, cần có sự thoả thuận giữa hai Chính phủ".

Phó đoàn Chỉ đạo kinh tế Liên Xô Chimôphiép hoàntoàn tán thành những đề nghị của phía Việt Nam nêu ra

và đề nghị cử một chuyên gia Liên Xô về nớc trình bày đểvấn đề đợc rõ hơn, đề nghị Liên Xô giúp một đội công nhân

đào lò nhanh sang cùng thi công Nh vậy, về phía ViệtNam từ Công trờng Vàng Danh đến Bộ Công nghiệp nặng

vỉa 6 Các chuyên gia Liên Xô cũng nhất trí nhng chờ Viện

thuật Về việc bàn giao đa Mỏ Vàng Danh vào khai thác và việc

tăng công suất của Mỏ đ phân tích tình hình thi công khuã tiến hành

Cánh Gà và cho rằng cố gắng thì phải mất hai năm nữa mớikhai thác đợc ở Cánh Gà Nh vậy việc bàn giao đa Mỏ vào vậnhành phải vào đầu năm 1967:

"Do tính đến tình hình khai thác thực tế ở Mỏ, chúng tôi

giới thiệu chuẩn vị các đoạn khấu than đầu tiên không phải ở khu Cánh Gà mà ở khu vực Vàng Danh Quyết định này sẽ hoàn toàn phù hợp với thiết kế sơ bộ đã duyệt và sẽ bảo đảm đa Mỏ vào sản xuất nhanh hơn".

Trang 35

nghiệp nặng đ quyết định giao cho kỹ sã tiến hành Trần Lợi phụ

trách thiết kế khai thác lớp trụ của vỉa 5 Vàng Danh

cán bộ kỹ thuật khẩn trơng tiến hành Cuối quý IV năm

1962, bản thiết kế hoàn thành đợc các bên Việt Nam và

Liên Xô thông qua và giao cho bên B thi công Giải pháp

kỹ thuật sáng tạo và táo bạo này càng làm cho các đơn vị

thi công và chuyên gia về công trình Mỏ Vàng Danh quyết

tâm phấn đấu để đến năm 1964 đa Mỏ vào sản xuất

Bớc vào năm 1963, xuất phát từ chủ trơng của Nhà nớc

về mở rộng quy mô của Mỏ Vàng Danh, Ban Chỉ huy Công

và lao động cho việc mở lò khu vực Cánh Gà (vỉa 8, 9) và

khu vực vỉa 3

Đây là giai đoạn hoạt động mạnh mẽ nhất, tập trung

nhất, tổng lực nhất của toàn Công trờng Vàng Danh

tại các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hà Tây và

tổ chức đào tạo Bộ khung của Trờng Đào tạo công nhân

Mỏ Vàng Danh là đội ngũ giáo viên bao gồm các kỹ s,

cán bộ trung cấp kỹ thuật và thợ bậc cao ở các mỏ về

Trong tháng 2-1963, Đảng uỷ mỏ than Vàng Danh đã tiến hành

bộ mỏ than Vàng Danh lần thứ nhất vào tháng 2-1963, tổ

chức một đợt tuyên truyền lịch sử đấu tranh của Đảng và

hai lò chợ Với tiến độ lò chợ 420 m/năm thì 4 lò chợ sẽ có

480.000 tấn/năm và năm 1965 sẽ đa Mỏ vào sản xuất 4 lò chợ

Đến năm 1966, mỗi vỉa thêm một lò chợ Nh vậy hoàn thành 60

vạn tấn/năm với 6 lò chợ ở hai vỉa 5 và 6

vận động đảng viên, quần chúng đẩy mạnh mọi mặt côngtác lập thành tích chào mừng 33 năm thành lập Đảng vàchào mừng Đại hội Đảng bộ; nâng chất lợng đảng viên,tăng cờng công tác phát triển Đảng; tăng cờng ý thức làmchủ, xây dựng t tởng an tâm công tác

thể đại biểu tham gia Đại hội đợc thảo luận kỹ để đi đếnnhất trí với bản báo cáo kiểm điểm công tác l nh đạoã tiến hành

năm 1962 Đại hội biểu quyết nhất trí với các chỉ tiêutrong sản xuất, cải thiện đời sống và xây dựng Đảng; bầu

ra Ban Chấp hành gồm 13 uỷ viên chính thức, 2 uỷ viên

dự khuyết

Thắng lợi của Đại hội Đảng bộ Mỏ Vàng Danh lần thứnhất đ có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua sảnã tiến hành

xuất Tinh thần làm việc của cán bộ, công nhân khẩn

yêu cầu trớc mắt mà trong nhiều tháng qua không có nhque hàn, sắt làm gông vì lò, cốp pha, phụ tùng cho xe gạt

Sự đoàn kết của bên A và B ngày càng cao trong lề lối làmviệc và thái độ hợp tác Vai trò chỉ đạo của thủ trởng vàtinh thần khắc phục khó khăn của các Phòng Cung ứng,

Kỹ thuật, Lao động tiền lơng góp phần tích cực trong việcbảo đảm cung ứng đầy đủ nguyên vật liệu và nhân côngtrong quá trình thi công khu vực Cánh Gà Các Đội Thờngtrực và Đội Kiến trúc tổ chức dây chuyền sản xuất cónhiều tiến bộ

Tháng 3-1963, cửa lò số 2 khu vực Cánh Gà đợc mở

Trang 36

Công nghiệp nặng, Cục Xây lắp, Khu Hồng Quảng, Đại

sứ quán Liên Xô và toàn bộ Đoàn chuyên gia Liên Xô

đang công tác ở Vàng Danh Đặc biệt, Thủ t ớng Phạm

mở cửa lò và căn dặn: "Sản xuất thật nhiều than cho Tổ

quốc Tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì

miền Nam ruột thịt Chúng ta phải xây dựng hậu ph

-ơng vững chắc để chi viện cho tiền tuyến bằng tất cả sức

ngời, sức của nhằm mục tiêu đấu tranh thống nhất n ớc

nhà".

Cũng từ thời điểm này, Đội đào lò nhanh Liên Xô đã tiến hành

sang giúp ta đẩy nhanh tốc độ đào lò cái xuyên vỉa Cánh

Gà Đội gồm 22 công nhân, do hai kỹ s trực tiếp làm đội

trởng, đội phó

Trong quý III năm 1963, Bộ Công nghiệp nặng quyết

- Ban Kiến thiết Mỏ Vàng Danh: bổ nhiệm ông Phan

Lục, nguyên Giám đốc Mỏ than Hà Tu và Trởng ban

Chuẩn bị sản xuất Mỏ Vàng Danh giữ trách nhiệm Trởng

ban Kiến thiết thay ông Đặng Văn Sơ về làm Trởng ban

Mỏ than Đèo Nai và Cọc Sáu mở rộng Đồng thời, bổ

nhiệm ông Lê Đức Triêng - kỹ s đợc đào tạo tại Liên Xô

làm Phó phòng Kế hoạch, ông Trần Lợi làm Trởng phòng

- Công trờng xây lắp Mỏ Vàng Danh: bổ nhiệm ông Hồ

Quyền, nguyên Trởng phòng Kế hoạch của Cục Xây lắp

thay ông Trần Vĩnh làm Trởng ban Chỉ huy; ông Nguyễn

Công nghiệp nặng

Quang Phúc, nguyên Phó phòng Kỹ thuật Cục Xây lắplàm Phó ban Chỉ huy; bổ sung ông Vũ Thọ, nguyên Quản

Ngoài ra, Bộ Công nghiệp nặng còn bổ sung cho cả haibên A và B một số cán bộ chuyên môn có trình độ đại học

và trung cấp kỹ thuật Các phòng của bên B cũng đợc tổchức lại nh Phòng Quản lý công trình sáp nhập với Phòng

Kế hoạch, Phòng Lao động tiền lơng sáp nhập với phòng

Tổ chức, Phòng Y tế sáp nhập vào Phòng Hành chính Các

đơn vị đào lò mới đợc triển khai, trong đó thành lập Đội

đào lò số 2 hỗn hợp Việt-Xô thi công ở khu vực Cánh Gà,

còn gọi là Đội đào lò nhanh và Đội đào lò số 3 ở khu trung

gian

Về công tác xây dựng Đảng, đầu năm 1963 toàn Đảng

-ờng công tác xây dựng chi bộ, bảo đảm sự đoàn kết thống

kiểm điểm phê bình các cấp uỷ Đảng và đảng viên, sơ kếtcông tác xây dựng chi bộ, tổ chức tốt đại hội ở các chi bộ

thành việc tách nhập các chi bộ và đại hội chi bộ, bầucấp uỷ của các chi bộ nhiệm kỳ 2 Từ 3 chi bộ cơ quan, 5chi bộ trực tiếp sản xuất chuyển thành 4 chi bộ cơ quan,

8 chi bộ của các đội sản xuất, bao gồm 244 đảng viên,phân chia cụ thể nh sau:

+ Ban Kiến thiết Mỏ Vàng Danh gồm 2 chi bộ:

Công nghiệp nặng

Trang 37

Chi bộ cơ quan (45 đảng viên);

Chi bộ quản lý đờng sắt (11 đảng viên)

+ Công trờng xây lắp Mỏ Vàng Danh gồm 10 chi bộ:

Chi bộ cơ quan 1 (Tổ chức, Y tế, Bảo vệ, Hành chính,

Lao động, Đảng uỷ và đoàn thể - 42 đảng viên),

Chi bộ cơ quan 2 (Kế hoạch, Quản lý công trình - 15

đảng viên),

Chi bộ Cung- Tài vụ (có bộ phận vận tải, máy ca, đập

đá - 32 đảng viên),

Chi bộ đội kiến trúc 1 (10 đảng viên),

Chi bộ đội kiến trúc 2 (7 đảng viên),

Chi bộ đội cơ điện 1 (25 đảng viên),

Chi bộ đội cơ điện 2 (14 đảng viên),

Chi bộ đội cơ giới (17 đảng viên),

Chi bộ đội thờng trực (12 đảng viên),

Chi bộ đội hầm lò (9 đảng viên)

Chi bộ Đội thờng trực gồm một số đảng viên mới tập

hợp lại nên Đảng uỷ chỉ định Bí th và Chi uỷ viên

Lần lợt, các công đoàn bộ phận cũng tiến hành xong

đại hội Công tác Đoàn tập trung vào việc phát thẻ

đoàn viên Công tác giáo dục t tởng cho đoàn viên đợc

chú trọng đúng mức, tổ chức đợc nhiều buổi nói chuyện

về các gơng chiến đấu của thanh niên miền Nam, tiến

hành kiểm điểm vai trò thanh niên trong phong trào

tình nguyện vợt mức kế hoạch năm 1963 và 5 năm lần

chí Võ Song (cán bộ miền Nam tập kết), Lơng Vĩnh Phúc

Để đẩy mạnh phong trào sản xuất, từ cuối năm 1963,

cách hiệu quả đòn bẩy kinh tế trả lơng theo sản phẩm; ởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích cao, thi hànhchế độ bồi dỡng giữa ca bằng hiện vật cho công nhân đangphải làm việc ở khu vực độc hại, nắng nóng

th-Đảng uỷ và l nh đạo Công trã tiến hành ờng xây lắp Mỏ VàngDanh cũng đặc biệt chú trọng công tác bảo đảm an ninh,chống phá hoại của kẻ thù Trong thời điểm này, bọn phản

mu giết hại cán bộ và chuyên gia, đánh úp đồn công an và

đơn vị hoá học, phá kho thóc và ngân hàng, khống chếnhân dân và bắt ép nhiều ngời Hoa phải tiếp tế lơng thực,thực phẩm cho chúng

Đầu năm 1964, toàn bộ Công trờng Mỏ Vàng Danh có

1721 cán bộ, công nhân, viên chức

chặt chẽ với công an và chính quyền địa phơng, do đónhận đợc sự hỗ trợ rất tận tình

2 Thành lập Xí nghiệp Mỏ than Vàng Danh

Sau 5 năm tập trung vào việc khôi phục các công trìnhtrên mặt đất và trong hầm lò đạt đợc kết quả khả quan,Phó Thủ tớng Lê Thanh Nghị đ quyết định cho phépã tiến hành

thành lập Xí nghiệp Mỏ than Vàng Danh Trên cơ sở ýkiến chỉ đạo của Chính phủ ngày 6-6-1964, Bộ Công

(chuyển từ Công trờng đờng dây cao thế 1 Thái Nguyên về),Nguyễn Văn Tuyến (Uỷ viên Ban Chấp hành Khu đoàn HồngQuảng), Tạ Phấn (Trởng phòng Tài vụ Công trờng)

Trang 38

nghiệp nặng ban hành Quyết định số 262/BCNNg- KB2

nh sau:

"Điều 1: Nay thành lập Xí nghiệp Mỏ than Vàng Danh

trực thuộc Công ty than Hồng Gai Mỏ than Vàng Danh là

một đơn vị độc lập sản xuất kinh doanh theo chế độ hạch

toán kinh tế, trong phạm vi quản lý của Công ty.

Điều 2: Trớc mắt, xí nghiệp có trách nhiệm tổ chức thực

hiện tốt mọi công tác chuẩn bị sản xuất.

Cơ cấu tổ chức của Mỏ hiện nay nh sau:

- 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc.

- Phòng Kế hoạch, Phòng Cung tiêu, Phòng Kế toán tài

vụ, Phòng Tổ chức giáo dục lao động tiền lơng, Phòng Kỹ

thuật khai thác, Phòng Cơ điện, Phòng Hành chính quản trị,

Lớp đào tạo công nhân hầm lò, Phân xởng vận tải và cảng.

Sau này, mỗi khi khối lợng công tác của Mỏ phát triển,

Xí nghiệp sẽ nghiên cứu cải tiến và kiện toàn tổ chức, báo cáo

cấp trên xét duyệt theo quy định về phân cấp.

Điều 3: Trong việc quản lý sản xuất kinh doanh, ông

Giám đốc Mỏ than Vàng Danh chiểu Thông t số 130-TTg

ngày 4-4-1957 thi hành nhiệm vụ quản lý kinh doanh và

Quy định số 17-CP ngày 10-2-1962 thi hành nhiệm vụ,

quyền hạn của Giám đốc Xí nghiệp.

Công ty than Hồng Gai chiểu các Quyết định

409-BCNNg- KB ngày 18-7-1962 và 585/409-BCNNg- KB2 ngày

19-9-1962 thi hành nhiệm vụ và quyền hạn đối với Mỏ

than Vàng Danh.

Xí nghiệp đợc sử dụng con dấu riêng (mẫu con dấu của

xí nghiệp) theo Thông t 2835/VM ngày 21-9-1960 của Bộ

Công nghiệp.

Điều 4: Các chi phí về chuẩn bị sản xuất và các khoản

khác do hai nguồn: vốn cung cấp là vốn kiến thiết cơ bản

và vốn lu động theo đúng nguyên tắc và thể lệ tài chính của Nhà nớc.

Điều 5: Biên chế của Xí nghiệp từng thời kỳ sẽ căn cứ

cụ thể vào nhu cầu công tác và tình hình cán bộ, công nhân, viên chức từng thời kỳ và do Công ty hoặc Bộ Công nghiệp nặng xét tuỳ theo quy định về phân cấp".

Đồng chí Phan Lục đợc cử làm Giám đốc kiêm Bí th

Đảng uỷ mỏ; giúp việc là các Phó Giám đốc, NguyễnThanh, Nguyễn Sơn Sát; Trợ lý kỹ thuật của Giám đốc là

nhiều công việc vẫn còn bề bộn trớc mắt nh đẩy mạnh đàotạo công nhân kỹ thuật, kể cả cơ điện và khai thác ngaytại trờng dạy nghề của Mỏ; tiếp tục đa cán bộ, công nhân

đáp ứng quy hoạch mở rộng sản xuất sau này, mở rộng vàhoàn thiện khu ăn ở tập trung của Mỏ, đặc biệt là khu nhàtập thể ở Lán Tháp và Bệnh xá

Phòng Kỹ thuật khai thác phải quản lý toàn bộ cácngành kỹ thuật trong Mỏ gồm 9 ngành: khai thác, cơ điệnhầm lò, cơ khí, năng lợng, cầu đờng bộ và đờng sắt, tuyểnthan, địa chất, trắc địa, hoá chất), trong đó có một số kỹ s

và cán bộ trung cấp kỹ thuật

Mỏ than Vàng Danh đợc coi là một trong những trọng

ký Quyết nghị số 280/QĐ-ĐU phân công đồng chí Nguyễn VănTuyên, Đảng uỷ viên, Bí th Đoàn Thanh niên Lao động Mỏ sangphụ trách công tác Tuyên giáo của Đảng uỷ Đồng chí LơngVĩnh Phúc phụ trách công tác Đoàn

Trang 39

điểm kinh tế quốc gia, đợc Nhà nớc u tiên về vật t, thiết bị,

lao động, tài chính Để đa Mỏ sớm vào hoạt động, Thủ

-ờng đại học Bách khoa Hà Nội ra tr-ờng sớm 6 tháng để

cung cấp cho Mỏ than Vàng Danh nhiều kỹ s thuộc các

ngành khai thác, cơ điện, cơ khí, xây dựng, cầu đờng,

tuyển khoáng; đa gần 300 trung cấp và công nhân kỹ

thuật đợc đào tạo chính quy từ nhiều trờng (Trung cấp Kỹ

thuật I, Trung cấp Kỹ thuật II, Công nhân kỹ thuật Cơ

khí Hải Phòng) về Mỏ

chỉ tiêu tuyển công nhân (tuyển thợ mỏ đợc coi trọng nh

nghĩa vụ quân sự) cho các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà

Nam, Hà Tây, Ninh Bình, Hải Dơng, Hng Yên và đào tạo

ngay tại Trờng Công nhân kỹ thuật của Mỏ

Trung ơng Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam đã tiến hành

vận động đoàn viên thanh niên tốt nghiệp các trờng phổ

thông cấp III đi làm tại Mỏ than Vàng Danh

đợc 1.320m lò xuyên vỉa và lò cái vỉa 9, bắt đầu đào các lò

thợng vỉa 9 Cũng trong hai năm 1963, 1964, Mỏ than

Vàng Danh thực hiện chủ trơng tiếp tục thăm dò trữ lợng

qua Giếng Mù (tại vị trí từ cửa lò xuyên vỉa Vàng Danh vào

trái với các báo địa chất trớc đây cho là chỉ còn rất ít than

hoặc đã bị khai thác hết; đồng thời cũng xác định đợc rằng

vỉa 6 (4) vùng này trớc đây Pháp bỏ qua không khai thác.

Việc khai thác vỉa 6 (4) đợc chuyên gia thiết kế Gurdép lậpbản vẽ từ tháng 7-1963

Sau một thời gian làm việc với các chuyên gia tại Mỏ

và nghiên cứu thực tế, Phái đoàn Chuyên gia Liên Xô do

Công nghiệp nặng từ ngày 20 đến ngày 25-11-1964 Biênbản của Hội nghị đợc Thứ trởng Bộ Công nghiệp nặngNguyễn Xuân Lâm phê duyệt ngày 16-12-1964 quyết định

đa Mỏ than Vàng Danh đi vào khai thác trong tháng

7-1965 với những dữ kiện nh sau:

“- Đúng thời điểm đa Mỏ vào khai thác ở cánh tây khu Vàng Danh, chuẩn bị hai khu vực khấu than ở các vỉa 5 (3) và 6 (4) ở các khu vực đó, cắt và trang bị bốn lò chợ với chiều dài tổng cộng là 340m bảo đảm khai thác đợc 480.000 tấn than/năm; nếu tiến độ đào lò chợ nh thiết kế là 420m trong một năm (80% công suất sản xuất của Mỏ) vào năm 1966, ở các khu vực này sẽ cắt và trang bị thêm hai lò chợ nữa với chiều dài tổng cộng là 170m, với điều kiện tiến

độ đào lò nh thiết kế thì bảo đảm công suất sản xuất của

Mỏ là 600.000 tấn trong một năm.

- Để đẩy mạnh tiến độ đào lò ở Vàng Danh nhằm đa

Mỏ vào khai thác đúng hạn định, sẽ rút bớt một số công nhân Liên Xô hiện đang làm việc ở Cánh Gà sang tăng c- ờng cho khu Vàng Danh đến khi có đội công nhân Liên Xô mời riêng cho khu Vàng Danh tới Mỏ, và sẽ cử thêm công nhân lành nghề điều khiển máy đánh rạch, phá hoả lò chợ

và công nhân cơ điện để giúp đẩy mạnh việc chuẩn bị khai thác phía Vàng Danh.

Trang 40

Mỏ than Vàng Danh có khả năng tăng công suất đến

1.800.000 tấn/năm, để rút ngắn thời hạn chuẩn bị đa khu

Cánh Gà vào khai thác cần phải đẩy mạnh việc đào lò cái

trung gian các vỉa 9, 8 Cánh Gà Để bảo đảm tiến độ thi

công bình thờng khu Vàng Danh cùng với khu Cánh Gà sẽ

nghiên cứu cung cấp thiết bị vật t theo bản liệt kê trong

năm 1956"1.

Khi miền Bắc phấn khởi bớc vào thực hiện kế hoạch 5

năm lần thứ nhất (1961-1965) chỉ trong khoảng hai năm,

Hồng Quảng, Đảng uỷ và toàn thể cán bộ và công nhân

Đảng và Nhà nớc trao cho, khôi phục hầu nh toàn bộ cơ sở

vật chất bị tàn phá trong chiến tranh Đợc sự giúp đỡ tận

tình của chuyên gia Trung Quốc, Liên Xô - đặc biệt là sự

giúp đỡ một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đội

s, cán bộ kỹ thuật và công nhân Mỏ than Vàng Danh đã tiến hành

dám nghĩ dám làm, tìm tòi sáng kiến, mạnh dạn đề xuất

nhiều giải pháp kỹ thuật không chỉ góp phần nâng cao

công suất hằng năm mà còn tìm ra đợc nhiều nguồn than

góp phần làm giàu cho Tổ quốc Vợt qua bao khó khăn

gian khổ, thiếu thốn ban đầu, hàng ngàn con ngời băng

qua nắng lửa, gió rét để hoàn thành nhiệm vụ đợc giao

cả đều hớng đến mục tiêu góp phần nhỏ bé của mình vào

sự nghiệp công nghiệp hoá và sự nghiệp đấu tranh giải

phóng miền Nam

Giữa lúc những công việc chuẩn bị cũng nh quá trìnhkhôi phục khu Mỏ đi gần tới đích thì giặc Mỹ dùng không

quân bắn phá miền Bắc, gây ra Sự kiện vịnh Bắc Bộ ngày

5-8-1964, trực tiếp dội bom đạn xuống nhiều mảnh đấtthuộc vùng Mỏ Căm thù giặc Mỹ, tất cả một lòng hớng vềmiền Nam ruột thịt, hàng ngàn cán bộ và công nhân Mỏthan Vàng Danh kiên quyết bám trụ, hăng say lao động

để sản xuất ra những tấn than đầu tiên thời kỳ độc lậpcho đất nớc

Kinh nghiệm của hơn 5 năm hăng say lao động trên

nớc, sự tin tởng vào Đảng và Bác Hồ kính yêu mới làm chonhững công nhân, chiến sĩ quân đội chuyển ngành, họcsinh mới ra trờng, những thanh niên mới rời mảnh ruộnglao vào học hỏi, ngày đêm bám sát đờng lò, hầm mỏ, suynghĩ tìm tòi các giải pháp hữu hiệu để sớm ra than Ngời

đi, đem theo hết tài liệu kỹ thuật chắc chắn không thểhình dung nổi những bớc đi vững chắc, những thành tựu

Khó khăn trớc mắt còn nhiều, nhất là những ngời côngnhân Mỏ than Vàng Danh còn phải bớc vào sản xuất khi

kẻ thù rình rập bắn phá và âm mu xoá bỏ những thànhtựu mà họ đ đạt đã tiến hành ợc Dới sự l nh đạo của Đảng uỷ, cánã tiến hành

khó khăn hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Nhà nớc giaocho

Ngày đăng: 01/08/2013, 05:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w