LỜI MỞ ĐÂU Kinh doanh tiền tệ, tín dụng là loại hình kinh doanh đặc thù trong nền kinh tế. Tính đặc thù của loại hình kinh doanh này không chỉ đơn thuần vì sự đặc biệt của đối tượng kinh doanh là tiền tệ loại hàng hoá khác hẳn với các loại hàng hoá thông thường của thị trường nói chung mà còn vì kinh doanh tín dụng là kinh doanh “trên sự kinh doanh của người khác”. Nói như vậy không có nghĩa là kinh doanh tín dụng hoàn toàn phụ thuộc vào khách quan, vào kết quả kinh doanh của những người vay vốn của tổ chức tín dụng (TCTD) nhưng đặc trưng hiển nhiên và là thuộc tính của kinh doanh tín dụng là phụ thuộc rất nhiều vào sự trung thực và hiệu quả kinh doanh của những người vay vốn của TCTD. Những cố gắng mang tính chủ quan của các tổ chức tín dụng cũng có vai trò quan trọng trong bảo đảm an toàn tín dụng song rõ ràng là những nỗ lực của TCTD cũng sẽ trở nên ít ý nghĩa nếu rủi ro tín dụng ập đến từ sự không trung thực hay từ sự thua lỗ, thậm chí phá sản của người vay vốn. Do vậy, kinh doanh tín dụng là loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro. Đặc trưng khác của hoạt động kinh doanh tín dụng là kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác, tức là bằng tiền huy động được mà chúng ta vẫn thường nói là đi vay để cho vay. Và đặc trưng nữa của hoạt động kinh doanh tín dụng là tính liên quan lẫn nhau trong hệ thống tín dụng và mối quan hệ của các hoạt động tín dụng với toàn bộ nền kinh tế. Sự thành công, tính ổn định hay sự thất bại, đổ vỡ của một hay một số TCTD đều có tác động đến sự an toàn của cả hệ thống TCTD và cũng twong tự nó tác động tích cực hay tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế. Để đảm bảo an toàn tín dụng. Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng phải tìm kiếm và áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, tôi tạm xếp chúng thành hai nhóm là các biện pháp pháp lí và các biện pháp tổ chức. Ngoài ra, cũng có thể kể đến loại biện pháp nữa là các biện pháp nghiệp vụ của các TCTD. Các biện pháp pháp lí được thể hiện chủ yếu ở những quy định trong các đạo luật về ngân hàng và các tổ chức tín dụng. ví dụ như các quy định về mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng; về dự trữ bắt buộc; lập dự phòng rủi ro; quy định về các hạn chế tín dụng; về giới hạn cho vay, bảo lãnh; giới hạn góp vốn, mua cổ phần; các biện pháp bảo đảm tiền vay... Các biện pháp tổ chức như quản lý nhà nước đối với sự hình thành và hoạt động của các tổ chức tín dụng; thành lập các tổ chức bảo hiểm, bảo toàn tiền gửi. Trong phạm vi bài viết này tôi xin được đề cập loại hình tổ chức loại hoạt động có liên quan đến an toàn của hệ thống tín dụng ngân hàng, đó là bảo hiểm tiền gửi, thực tiễn áp dụng pháp luật tại các ngân hàng
Trang 1LỜI MỞ ĐÂU
Kinh doanh tiền tệ, tín dụng là loại hình kinh doanh đặc thù trong nền kinh
tế Tính đặc thù của loại hình kinh doanh này không chỉ đơn thuần vì sự đặcbiệt của đối tượng kinh doanh là - tiền tệ - loại hàng hoá khác hẳn với các loạihàng hoá thông thường của thị trường nói chung mà còn vì kinh doanh tíndụng là kinh doanh “trên sự kinh doanh của người khác” Nói như vậy không
có nghĩa là kinh doanh tín dụng hoàn toàn phụ thuộc vào khách quan, vào kếtquả kinh doanh của những người vay vốn của tổ chức tín dụng (TCTD) nhưngđặc trưng hiển nhiên và là thuộc tính của kinh doanh tín dụng là phụ thuộc rấtnhiều vào sự trung thực và hiệu quả kinh doanh của những người vay vốn củaTCTD Những cố gắng mang tính chủ quan của các tổ chức tín dụng cũng cóvai trò quan trọng trong bảo đảm an toàn tín dụng song rõ ràng là những nỗlực của TCTD cũng sẽ trở nên ít ý nghĩa nếu rủi ro tín dụng ập đến từ sựkhông trung thực hay từ sự thua lỗ, thậm chí phá sản của người vay vốn Dovậy, kinh doanh tín dụng là loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro Đặc trưngkhác của hoạt động kinh doanh tín dụng là kinh doanh chủ yếu bằng vốn củangười khác, tức là bằng tiền huy động được mà chúng ta vẫn thường nói là đivay để cho vay Và đặc trưng nữa của hoạt động kinh doanh tín dụng là tínhliên quan lẫn nhau trong hệ thống tín dụng và mối quan hệ của các hoạt độngtín dụng với toàn bộ nền kinh tế Sự thành công, tính ổn định hay sự thất bại,
đổ vỡ của một hay một số TCTD đều có tác động đến sự an toàn của cả hệthống TCTD và cũng twong tự nó tác động tích cực hay tiêu cực đến toàn bộnền kinh tế
Để đảm bảo an toàn tín dụng Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụngphải tìm kiếm và áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, tôi tạm xếp chúng thànhhai nhóm là các biện pháp pháp lí và các biện pháp tổ chức Ngoài ra, cũng cóthể kể đến loại biện pháp nữa là các biện pháp nghiệp vụ của các TCTD Cácbiện pháp pháp lí được thể hiện chủ yếu ở những quy định trong các đạo luật
về ngân hàng và các tổ chức tín dụng ví dụ như các quy định về mức vốn
Trang 2pháp định của các tổ chức tín dụng; về dự trữ bắt buộc; lập dự phòng rủi ro;quy định về các hạn chế tín dụng; về giới hạn cho vay, bảo lãnh; giới hạn gópvốn, mua cổ phần; các biện pháp bảo đảm tiền vay Các biện pháp tổ chứcnhư quản lý nhà nước đối với sự hình thành và hoạt động của các tổ chức tíndụng; thành lập các tổ chức bảo hiểm, bảo toàn tiền gửi Trong phạm vi bàiviết này tôi xin được đề cập loại hình tổ chức - loại hoạt động có liên quan đến
an toàn của hệ thống tín dụng ngân hàng, đó là bảo hiểm tiền gửi, thực tiễn ápdụng pháp luật tại các ngân hàng
1 Bảo hiểm tiền gửi và pháp luật bảo hiểm ở Việt Nam:
1.1.Mục đích, vai trò của BHTG:
BHTG được thành lập trước hết là vì mục tiêu bảo vệ quyền lợi của ngườigửi tiền khi có ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng nào đó bị phá sản Ngân hàngtham gia vào cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoặc được chính phủ tuyên bố chi trảBHTG thì những người gửi tiền tại ngân hàng phá sản đó có cơ hội được trảmột phần hoặc toàn bộ số tiền gửi của mình Tuy nhiên, điều quan trọng hơn làBHTG sẽ làm cho tâm lý người gửi tiền không bị hoang mang, mất lòng tin và
họ sẽ không nghĩ đến việc phải vội vã rút tiền từ ngân hàng khác Điều đótránh được sự đổ vỡ mang tính dây chuyền có thể xảy ra đối với hoạt độngngân hàng, TCTD Qua đó, BHTG hướng tới một mục tiêu lớn hơn, đó là sự
ổn định của cả hệ thống tài chính, nền kinh tế của quốc gia
BHTG thông qua việc bảo hiểm số tiền gửi của người gửi tiền ở các tổchức tín dụng đã tạo ra một công cụ đầu tư có rủi ro thấp Nhờ vào công cụnày, hệ thống ngân hàng thu hút được nguồn vốn tiết kiệm nhàn rỗi trong dân
cư để thực hiện được chức năng trung gian tài chính một cách tích cực
BHTG giúp cho sự ổn định của hệ thống tài chính và qua đó góp phần làm
ổn định , tăng trường nền kinh tế Thông qua các quy định an toàn và cơ chếgiám sát hoạt động ngành ngân hàng, BHTG đã góp phần nâng cao khả năngquản trị rủi ro, khả năng điều hành ngân hàng nói riêng và ngành tài chính nóichung
Với nguồn lực là quỹ BHTG đủ khả năng can thiệp kịp thời khi tổ chức
Trang 3ứng rút tiền hàng loạt và sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng khi một vài tổchức ngân hàng gặp rắc rối.
BHTG cũng là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong việc duy trì niềm tincủa công chúng vào hệ thống ngân hàng và đây cũng chính là một biện pháphữu hiệu trong việc giảm số lượng ngân hàng phá sản
1.2.Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Nhận thấy được tầm quan trọng của BHTG đối với hoạt động ngân hàngtrong thời kỳ mới, ngày 12 tháng 12 năm 1997 Quốc hội đã ban hành luật các
tổ chức tín dụng trong đó có quy đinh: “ Tổ chức tín dụng có trách nhiệm thamgia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi Mức bảo toàn hoặc BHTG dochính phủ quy định” (điều 17) Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọngcho sự ra đời chế độ BHTG mới ở nước ta
Ngày 01/09/1999 chính phủ ban hành nghị định số 89/1999/NĐ - CP vềbảo hiểm tiền gửi trong đó quy định rõ mục đích , tính chất của BHTG, cácloại tiền được bảo hiểm, phí bảo hiểm
Ngày 01/09/1999 thủ tướng chính phủ ký kết quyết định số 218/1999/QĐ TTG về việc thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam - Một tổ chứcthành lập chuyên thực hiện nghiệp vụ BHTG Ngày 07/10/2000 BHTG ViệtNam chính thức đi vào hoạt động
-Theo các quy định hiện hành về BHTG, BHTG là một loại hình bảo hiểmphi thương mại, theo đó TCTD và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng cónhận tiền gửi của các cá nhân bằng đồng Việt Nam bắt buộc phải tham giađóng phí BHTG cho tổ chức BHTG Việt Nam theo quy định Khi xảy ra sựkiện bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trách nhiệm thay tổchức tín dụng trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của các cá nhân gửi tiền ởTCTD tham gia bảo hiểm
BHTG ở nước ta, xét về tính chấ là loại hình bắt buộc Pháp luật về BHTG
có quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm mà các tổ chức tín dụngtham gia quan hệ bảo hiểm có nghĩa vụ phải thực hiện Việc áp dụng chế độbảo hiểm bắt buộc đối với tiền gửi không chỉ nhằm xử lý rủi ro đối với tổ chứcnhận tiền gửi, bảo vệ lợi ích của người gửi tiền mà còn bảo vệ sự an toàn cho
Trang 4cả hệ thống TCTD, sự ổn định của tiền tệ quốc gia Đồng thời nó còn tạo ra sựbình đẳng công bằng cho các tổ chức có hoạt động ngân hàng, góp phần nângcao uy tín của các tổ chức tín dụng đối với người dân trong giai đoạn hiện naynhằm khai thác tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi để tập trung cho đầu tư pháttriển kinh tế Việc quy định bắt buộc tham gia BHTG đối với các tổ chức tíndụng được áp dụng ở nhiều nước.
BHTG ở nước ta là loại bảo hiểm trách nhiệm pháp lý dân sự Nếu xét vềđối tượng bảo hiểm thì BHTG thuộc loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự phátsinh trong hợp đồng Đối tượng của BHTG chính là nghĩa vụ hoàn trả tiền gửi
cả lãi lẫn gốc của tổ chức nhận tiền gửi đối với người gửi tiền Pháp luậtBHTG ở nước ta xác định rõ: Người tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng bảohiểm là tổ chức được phép nhận tiền gửi của các cá nhân bằng đồng Việt Nam;còn người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là người gửi tiền tại tổ chức thamgia bảo hiểm
Xét về bản chất, BHTG ở Việt Nam là loại hình bảo hiểm phi thương mại
Nó không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật kinh doanh bảo hiểm mà đượcđiều chỉnh bằng một quy chế pháp lý riêng Tính phi thương mại của BHTGthể hiện ở chỗ, bên bảo hiểm là tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - đây làmột tổ chức tài chính nhà nước, mục tiêu hoạt động không nhằm mục đích lợinhuận mà nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửitiền, góp phần duy trì ổn định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển
an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là DepositInsurance of Vietnam (DIV) là môt tổ chức tài chính nhà nước, do nhà nướcthành lập, được nhà nước cấp vốn, nhà nước bổ nhiệm người quản trị điềuhành BHTG Việt Nam hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng phảibảo đảm an toàn vốn và sự bù đắp chi phí, được miễn nộp các loại thuế
Chế độ BHTG ở Việt Nam được quy định trong các văn bản pháp luật vớinhững nội dung chính: quy định về phạm vi áp dụng (chủ thể trong quan hệ
Trang 5bảo hiểm tiền gửi; sự kiện bảo hiểm và việc chi trả các khoản tiền gửi đượcbảo hiểm.
Cơ sở pháp lý cho hoạt động của BHTG bao gồm:
- Nghị định số 89/1999/NĐ - CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về bảohiểm tiền gửi
- Quyết định số 218/1999/QĐ - TTG ngày 09/11/1999 của Thủ tướngChính phủ về thành lập bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
- Quyết định số 75/2000/QĐ - TTG ngày 28/06/2000 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của BHTG ViệtNam
- Quyết định số 145/2000/QĐ - TTG ngày 19/12/2000 của Thủ tướngChính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài chính đối với BHTG ViệtNam
- Thông tư số 03/2000/QĐ - NHNN ngày 16/03/2000 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ - CP ngày01/09/1999 của Thủ tướng Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi
- Quyết định số 1077/2001/QĐ - NHNN ngày 27/08/2001 của Thống đốcNgân hàng Nhà nước về việc sửa đổi Thông tư số 03/2000/ QĐ-NHNN ngày16/03/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi thông tư số03/2000/QĐ-NHNN ngày 16/03/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
- Thông tư số 12/2003 ngày 13/12/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhànước về việc sửa đổi, bổ xung Thông tư số 03/2000/TT-NHNN hướng dẫn thihành nghị định 89/1999/NĐ-CP
- Nghị định của chính phủ số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 về việcsửa đổi bổ xung một số điều của nghị định số 89/1999/NĐ - CP ngày01/09/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi
2 Thực tiễn áp dụng pháp luật BHTG tại tại các ngân hàng thương mại
2.1 Những ưu điểm của pháp luật về BHTG
Trước đòi hỏi cấp bách của nền kinh tế thị trường và thách thức của hộinhập quốc tế, với mục đích tăng cường sự ổn định, an toàn và phát triển lànhmạnh hoạt động cảu hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền,BHTG Việt Nam được ra đời trên cơ sở Nghị định 89/1999/NĐ - CP củaChính phủ ngày 1/9/1999 và QUyêt sđịnh 218/QĐ - TTG của Thủ tướng
Trang 6Chính phủ ngày 9/11/1999 Ngày 7/10/2000 BHTG Việt Nam chính thức đivào hoạt động Xuất hiện được gần 9 năm, BHTG Việt Nam đã đạt được một
số thành tựu nổi bật, góp phần đầy lùi nguy cơ rủi ro trong hoạt động tàichính - ngân hàng, đảm bảo quyền lợi của một số đông công chúng gửi tiền,tạo ra sự ổn định và phát triển nền kinh tế xã hội
Những thành tựu của pháp luật về BHTG ở Việt Nam sau gần 9 năm đivào thực hiện có thể kể đến như:
Thứ nhất, tổ chức BHTG Viêtn Nam mở rộng mạng lưới và hoàn thiện
cơ chế quản lý
9 năm qua, cùng với việc ổn định bộ máy tổ chức và triển khai đầy đủcác nghiệp vụ về BHTG, BHTG Việt Nam đã mở rộng mạng lưới hoạt độngcủa mình trên phạm vi cả nước, thành lập 6 chi nhánh BHTG tại những địabàn kinh tế trọng điểm, nơi tập trung nhiều tổ chức tài chính và TCTD Đó làchi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, chi nhánh khu vực Hà Nội, chi nhánhkhu vực đồng bằng Sông Cửu Long tại Cần Thơ, Nam Trung Bộ và TâyNguyên tại Nha Trang, Đông Bắc Bộ tại Hải Phòng và Bắc Trung Bộ tại Nghệ
An, Bên cạnh đó, BHTG Việt Nam tiến hành hoàn thiện hệ thống văn bảnnghiệp vụ và quản trị điều hành, bao gồm khảng 40 văn bản pháp lý, cùngNgân hàng Nhà nước dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung nghị định89/1999/NĐ-CP của Chính phủ về BHTG và đang dự kiến thay đổi về cơ chếhoạt động của tổ chức BHTG để đáp ứng các yêu cầu bổ sung, chỉnh sửa kịpthời cơ chế, chính sách cho phù hợp với thực tiễn hoạt động
Thứ hai, về việc cấp giấy chứng nhận BHTG cho các tổ chức tham gia
BHTG
Tính đến cuối năm 2004 BHTG Việt Nam đã cấp giấy chứng nhận BHTGcho 1068 TCTD và tổ chức không phải là TCTD được thực hiện một số hoạtđộng ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD, hoạt động trên lãnh thổViệt Nam, có huy động tiền gửi cảu cá nhân bằng đồng Việt Nam Tuy nhiên,trong quá trình hoạt động, một số tổ chức tham gia BHTG mất khả năng thanh
Trang 7BHTG Việt Nam đã chấm dứt bảo hiểm và thu hồi giấy chứng nhận BHTGcủa 97 TCTD Như vậy đến nay, số lượng các tổ chức tham gia BHTG chỉ còn
977 đơn vị gồm: 5 Ngân hàng Thương mại Nhà nước, 34 Ngân hàng Thươngmại cổ phần, 25 Ngân hàng nước ngoài và Ngân hàng liên doanh, 4 Công tytài chắnh và 903 Quỹ tắn dụng nhân dân và theo thống kê đến cuối năm 2005
số tổ chức tham gia BHTG là 990
Thứ ba, về thu phắ BHTG và quản lý nguồn vốn:
BHTG Việt Nam luôn chú trọng đến công tác thu phắ BHTG và quản lýnguồn vốn do pháp luật quy định, quỹ BHTG bổ sung từ nguồn vốn thu phắnày hàng năm và sử dụng vốn để bù đắp chi phắ Số phắ BHTG tăng năm sau
so với năm trước luôn ở mức 25-30%/năm
Đây chắnh là nguồn tài chắnh quan trong để tăng cường năng lực xử lýcác rủi ro có thể xảy ra từ phắa các tổ chức tham gia BHTG, hạn chế tới mứcthấp nhất việc bao cấp từ ngân sách nhà nước Với vốn điều lệ được cấp 1000
tỷ đồng kết hợp với nguồn thu phắ, BHTG Việt Nam đã đầu tư vào trái phiếuchắnh phủ, trái phiếu Kho bạc Nhà nước, tiền gửi có kỳ hạn của các TCTDNhà nước theo đúng quy định, đảm bảo an toàn, bảo tồn và bù đắp chi phắ
Thứ tý, về chi trả bảo hiểm và giỏm sỏt quỏ trỡnh thanh lý tài sản củaTCTD bị phỏ sản
Vấn đề xỏc định vị trớ chủ nợ của tổ chức BHTG khi chi trả bảo hiểm
đó cú sự thay đổi tớch cực, cụ thể tại khoản 11 éiều 1 Nghị định 109/2005/NéỜ CP ngày 24/8/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số89/1999/Né Ờ CP ngày 1/9/1999 của Chớnh phủ về bảo hiểm tiền gửi Quyđịnh cũ chỉ qui định đến trýờng hợp tổ chức tham gia BHTG bị phỏ sản Trongthực tế, rất nhiều tổ chức huy động tiền gửi bị chấm dứt hoạt động và mất khảnóng thanh toỏn nhýng khụng cú nghĩa là cỏc tổ chức này bị phỏ sản Trýớcđõy, khi BHTG Việt Nam chi trả tiền bảo hiểm cho ngýời gửi tiền tại tổ chứctham gia BHTG bị giải thể thỡ sau đú trong quỏ trỡnh thanh lý, số tiền thu hồi
cú thể đýợc trả trýớc cho cỏc thành viờn, cổ đụng gúp vốn trong khi vị trớ chủ
Trang 8nợ của BHTG và trật tự ýu tiờn thanh toỏn chýa đýợc qui định một cỏch rừràng Vậy nờn sự thay đổi này đó xỏc định đýợc vị trớ đỳng đắn của tổ chứcBHTG trong quỏ trỡnh này và việc thu hồi phần lớn vốn (cú thể là toàn bộ) sẽ
dễ thực hiện hừn và nhà nýớc sẽ khụng phải đứng ra để hỗ trợ khi xảy ratrýờng hợp đổ vỡ cỏc TCTD
Trang 92.2 Những điểm cũn hạn chế trong phỏp luật về BHTG.
Thứ nhất, quy định về đối týợng đýợc bảo hiểm
Theo ýớc tớnh của quỹ tiền tệ quốc tế, tốc độ tóng dự trữ ngoại hối củanýớc ta thời gian trýớc nóm 2006 là khoảng hừn 10%/nóm và đến nóm 2006đạt mức 6341 triệu đụ la, gần gấp đụi mức dự trữ nóm 2001 Tiền gửi ngoại tệchiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số nguồn vốn huy động Những nóm qua chớnhsỏch mở cửa của éảng và Nhà nýớc đó đi vào thực tế thực hiện và cú hiệu quả,cỏc cỏ nhõn nýớc ngoài đầu tý vào càng nhiều nguồn nhõn lực xuất khẩu laođộng cũng gia tóng Chớnh vỡ vậy tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ của cỏ nhõn trongnýớc và nýớc ngoài thýờng trỳ tại Việt Nam ngày một tóng cao Tuy nhiờnhiện nay phỏp luật cho phộp cỏ nhõn gửi tiền bằng ngoại tệ tại cỏc ngõn hàngđýợc phộp hoạt động ngoại hối, nhýng lại khụng qui định số tiền này sẽ đýợcbảo hiểm éiều này chýa hợp lý khi ngýời dõn ngày càng cú điều kiện và nhucầu muốn gửi tiền vào cỏc ngõn hàng
Thứ hai, các quy định về mức phắ BHTG:
Theo nghị định 89/1999/NĐ - CP của Chắnh phủ và các văn bản hướngdẫn thi hành thì mức phắ BHTG hiện nay ở nước ta là 0,15%/năm tắnh trêntổng số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền được bảo hiểm tại tổ chức thamgia BHTG Mức phắ này được điều chỉnh theo quyết định của Thủ tướngChắnh phủ trên cơ sở đề nghị của tổ chức BHTG và ý kiến cảu Ngân hàng Nhànước, Bộ tài chắnh Các yếu tố để xác định mức phắ BHTG và ý kiến của Ngânhàng Nhà nước, Bộ tài chắnh Các yếu tố để xác định mức phắ BHTG ở cácquốc gia trên thế giới phụ thuộc vào mức độ rủi ro của hoạt động ngân hàng,mức độ rủi ro của tổ chức tham gia BHTG Theo thông lệ quốc tế, việc thu phắBHTG được thực hiện theo nguyên tắc: rủi ro càng cao thì mức phắ càng cao
và ngược lại Hiện nay mức phắ BHGT ở nước ta là 0,15%/năm, ưu điểm củamức phắ này là mọi tổ chức tham gia BHTG đều phải đóng góp một mức phắ
Trang 10như nhau nên nhu cầu đánh gía chính xác tình hình hoạt động tổ chức này làkhông cần thiết Trước hết nó tạo ra tâm lý ỉ lại xét dưới góc độ quản lý rủi rotrong hoạt động của tổ chức tham gia BHTG, đồng thời không có tác dụngkhuyến khích các ngân hàng thi đua hoạt động tốt, cạnh tranh lành mạnh đểđược áp dụng mức phí bảo hiểm thấp Hơn nữa, với một mức phí bảo hiểmnhư nhau vô hình chung đã “đánh đồng” các tổ chức hoạt động tốt, độ an toàncao với các tổ chức hoạt động kém hiêu quả và có độ rủi ro lớn Mặt khác, nếuchỉ căn cứ vào một mức phí bảo hiểm chung, người gửi tiền sẽ khó có sự lựachọn hoặc có ý thức thận trọng hơn trong việc giao dịch với ngân hàng và các
tổ chức tín dụng
Thứ ba, vấn đề xác định loại “tiền gửi là đối tượng được BHTG”:
Do khái niệm tiền gửi của cá nhân quy định trong luật các TCTD vàThông tư 03/2000/TT – NHNN của Ngân hàng Nhà nước không thống nhất vàthiếu chặt chẽ, nên việc xử lý của các TCTD cũng không đồng bộ Nhượcđiểm của định nghĩa tiền gửi được bảo hiểm theo phương pháp liệt kê làkhông thể dự liệu được hết các trường hợp phát sinh trong thực tế Chẳng hạntiền gửi tiết kiệm dưới mọi hình thức BHTG Tuy nhiên, tiền gửi không kỳhạn, có kỳ hạn bao gồm tiền gửi trên tài khoản của cá nhân vẫn là một kháiniệm không thể định lượng được Có thể kể ra ở đây một số tình huống điểnhình làm minh chứng
Tình huống thứ nhất, tiền gửi của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợpdanh có thuộc đối tượng đwocj bảo hiểm không? tiền thực tế, có hai trườnghợp xử lý khác nhau
Trường hợp thứ nhất, có TCTD hạch toán loại tiền gửi này vào tài khoảntiền gửi của cá nhân và như vậy loại tiền gửi này thuộc diện được bảo hiểm.Với các xử lý như trên, có lẽ các TCTD đã căn cứ vào tiêu chí sở hữu theo cácquy định của pháp luật Bởi vì tiền gửi ở các TCTD của doanh nghiệp tư nhân,công ty hợp danh thuộc phạm trù sở hữu của cá nhân
Trang 11Trường hợp thứ hai, co TCTD lại hoạch toán tiền gửi của doanh nghiệp
tư nhân, công ty hợp danh vào tài khoản của tổ chức và không được bảo hiểm,
rõ ràng là trường hợp này các TCTD đã dựa trên tiểu chí chủ thể Mặc dùdoanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh không phải là tổ chức có tư cách phapnhân nhưng lại được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh Nghiệp Và khi
họ tham gia quan hệ tiền gửi ở các TCTD cũng như cấc quan hệ kinh tế khácthì không phải tư cách cá nhân mà là với tư cách doanh nghiệp(tổ chức) Theopháp luật dân sự thì cá nhân thì được hiểu là một con người cụ thể, còn doanhnghiệp tư nhân, công ty hợp danh lại là một tổ chức doanh nghiệp Do đó, tiềngửi trên tài khoản của TCTD là tiền gửi của tổ chức và không thuộc đối tượngđược bảo hiểm
Rõ ràng là sự thiếu khoa học và thiếu thông nhất trong các quy định củapháp luật về các loại tiền gửi của cá nhân được bảo hiểm đã dẫn đến tình trạng
xử lý thiếu đồng bộ của các TCTD nói trên như vậy, cần thiết phải có các quyđịnh cụ thể của pháp luật điều chỉnh vấn đề này, không nên dựa vào yếu tố sởhữu ma fnên căn cứ vào yếu tố chủ thể để xác định tiền gửi của công ty cổphần (tư nhân), công ty trách nhiệm hữu hạn hay doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài cũng thuộc sở hữu tư nhân và tiền gửi của doanh nghiệp tư nhân,công ty hợp danh ở các TCTD là thuộc tiều gửi của tổ chức, không thuộc tiềngửi của cá nhân và không thuộc diên được bảo hiểm
Tình huống thứ hai, các khoản tiền ký quỹ của cá nhân tại TCTD cóthuộc đối tượng BHTG không?
Hiện naym hầu hết cac TCTD đều không coi tiền ký quỹ của cá nhânthuộc đối tượng được bảo hiểm, vì cho rằng vấn đề ký quỹ thuộc quan hệ dân
sự và do pháp luật dân sự điều chỉnh, tiền ký quỹ không thuộc phạm trù tiềngửi Tuy vậy, đối với tiền ký quỹ, các quy định của Bộ luật dân sự (điều 365)chỉ quy định về khía cạnh liên quan đến bảo đảm thực thiện nghĩa vụ dân sự,
vì vậy, cần thiết phải quy định tiền gửi ký quỹ của cá nhân tại TCTD cũng làloạt tiền gửi được bảo hiểm Hiện nay trên thực tế, hâu hết các TCTD đều
Trang 12không coi tiền gửi ký quỹ của cá nhân thuộc đối tượng được BHTG đây làmột bất hợp khý trong quy định của pháp luật, ảnh hưởng trực tiệp đến quyềnlợi của người gửi tiền.
Tình huống thứ ba, tiền gửi của đồng chủ tài khoản, là cá nhân ở cácTCTD có thuộc đối tượng BHTG không?
Thực tiễn khi gặp trường hợp đồng chủ tài khoản, trong đó có bên đồngchủ tài khoản là cá nhân thì có TCTD bóc tách khoản tiền của cá nhân để chohưởng bảo hiểm, có trường hợp ATCTD coi đây là tiền gửi của tổ chức vàkhông cho hưởng bảo hiểm ở các trường hợp nà các TCTD đã lúng tong vìkhông có sự hướng dẫn cụ thể và rõ ràng từ phía các cơ quan có thẩm quyềntrong quản lý Nhà Nước về tiền tệ Tuy nhiên, nếu căn cứ vào nguyên tắcchung là: Tiền gửi của cá nhân được bảo hiểm thì dù là cá nhân trong trườnghợp đồng chủ tài khoản vẫn phải được bóc tách để hưởng BHTG Tất nhiên làtài khoản đó có đồng chủ tài khoản là tổ chức, còn nếu tất cả đồng chủ tàikhoản là cá nhân thì toàn bộ tiền gửi của tài khoản đó thuộc đối tượng củapháp luật liên quan đến tiền gửi của cá nhân thuộc diện được BHTG
Tình huống thứ tư, tiền gửi của tổ chức, tập thể, hộ gia đình, tổ hợp tácnhưng đứng tên cá nhân có thuộc diện BHTG không?
Vấn đề đặt ra của tình huống này là xác định chủ thể – người đứng tênchủ tài khoản hay là sở hữu thực tế của số tiền trên tài khoản đó? Thực tế ởtrong hoàn cảnh này các TCTD rất có thể xác định được chủ thể thực hiện giaodịch tử tiền là cá nhân hya tỏê chức, chính vì thế có thể có những biến tướngxảy ra, như việc ding tiền gửi của tập thể trên danh nghĩa cá nhân để hưởngbảo hiểm tuy nhiên, nếu TCTD không chứng minh được đó là tiền gửi của tổchức, tập thể,khi số tiền trên tài khoản tiền gửi đó đứng tên một cá nhân cụ thể
và phải coi đó là tiền gửi của cá nhân và không nên từ chối bảo hiểm
2.3 Nguyên nhân của thực trạng pháp luật và thực tiền thi hành pháp luật về BHTG ở Việt Nam.
Trang 13Có rất nhiều nguyên nhân, kể cả chủ quan và khách quan tác động đếnthực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về BHTG ở Việt Nam.Nhưng nhìn chung ở góc độ tổng quát, có thể chỉ ra một số nguyên nhân chủyếu như sau:
Thứ nhất, do BHTG là loại hình bảo hiểm khá mới mẻ ở Việt Nam, pháp
luật về BHTG được xây dung trên cở sở tham khảo kinh nghiệm của các nước
đi trước mà không phải xuất phát từ thực tế khách quan, các văn bản pháp luật
về BHTG ban hành chưa qua thực tế cuộc sống kiểm nghiệm Vì thế, pháp luậtBHTG còn sơ sài Thực tiễn thi hành pháp luật về BHTG còn cho thấy sựthiếu đồng bộ trong cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy địnhchưa rõ ràng và thiếu ổn định Chẳng hạn, trong công tác chi trả tiền bảo hiểm
và thu hồi nợ sau khi thanh lý các TCTD bị giải thể hay phá sản có nhiềuvướng mắc và không có sự thông nhất Đây là nguyên nhân dẫn tới những khókhăn nhất định trong việc triển khai thực hiện nghiệp vụ BHTG ở nước ta hiệnnay Để pháp luật về BHTG ở Việt Nam áp dụng có hiệu quả, bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của người gửi tiền một cách hữu hiệu, đồng thời duy trì sự antoàn, ổn định trong hệ thống ngân hàng, cần thiết phải hoàn thiện pháp luật vềBHTG bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, thống nhất phù hợp thực tiễn
Thứ hai, do nên kinh tế – xã hội có bước phát triển mới, nhiều quy định
của pháp luật về BHTG đã trở lên lạc hậu so với thực tiễn cuộc sống Hơn nữa
do hệ thống pháp luật ở nước ta đang trong quá trình hoàn thiện, thường xuyênthay đổi dẫn đến sự mâu thuẫn thiếu đồng bộ trong các quy định của pháp luật
ở các văn bản pháp luật khác nhau
Thứ ba, còn nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về mô hình BHTG ở
nước ta, sụ nhận thức về tầm quan trọng của BHTG ở một số cơ quan, cán bộNhà nước còn hạn chế nên lĩnh vực BHTG chưa thực sự được chú ý và quantâm đúng mức
Trang 14Thứ tư, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm hoạt động của tổ chức BHTG
còn hạn chế nên hiệu quản thu được không cao, việc chấp hành các quy địnhcủa pháp luật về BHTG còn chưa nghiêm túc Cụ thể:
- Về công tác kiểm tra: Kiểm tra tổ chức tham gia BHTG là công tác thenchốt, quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến việc tổ chức BHTH cóđạt được mục tiêu đề ra hay không? Nghị định 89/1999/NĐ - CP của chínhphủ quy định rất rõ việc cảnh báo, kiểm tra, phát hiện sớm các TCTD có khảnăng dẫn đến sự mất an toàn và có giải pháp, chán chỉnh là một trong nhữngchức năng chủ yếu của tổ chức BHTG Tuy nhiên hiện nay, chức năng nàychưa được chú trọng thực hiện là nguyên nhân dẫn đến những yếu kém, saiphạm của tổ chức tham gia BHTG trong hoạt động của mình Hạn chế trongcông tác kiểm tra của BHTG Việt Nam trong thời gian qua thể hiện ở các khíacạnh: Số lượng đợt kiểm tra còn ít, chất lượng kiểm tra chưa cáo, tính chuẩnhoá về nội dung và phương thức kiểm tra chưa kịp thời khoa học
Tính đến 30/9/2003 BHTG Viện nam đã tiến hành kiểm tra 826 tổ chứctham gia BHTG trong tổng số 1033 tổ chức Với tiến độ này, để kiểm tra hếtmột lần tất cả khách hàng của mình, tổ chức BHTG cần phải mất 4 năm cónhiều nguyên nhân lý giải cho thực trạng này
Xét ở góc độ chủ quan, có thể nói công tác kiểm tra tang linh vực BHTG
là một nghiệp vụ khó, đòi hỏi phải có kiến thức và kinh nghiệm tổng hợp.Tring khi tổ chức BHTG Việt Nam ra đời không lâu, đội ngũ cán bộ nhân viênchưa được đào tạo sâu về chuyên môn nên khả năng phân tích, đánh giá tìnhhình cũng như kinh nghiệm quản lý còn nhiều hạn chế
Ở góc độ khách quan, mặc dù nghị định 89/1999/NĐ - CP và các văn bảnhướng dẫn có quy định trách nhiệm kiểm tra của tổ chức BHTG Việt Nam.Tuy nhiên trong thời gian đầu còn nhiều ý kiến thiếu đồng thuận trong hoạtđộng này, vì vậy, BHTG Việt Nam đã thận trọng, không triển khai công táckiểm tra theo tiến độ đã dự định
Về công tác giám sát: công tác giám sát các tổ chức tham gia BHTG hầu
Trang 15giám sát nộp phí thông qua số liệu báo cáo của các tổ chức tham gia BHTG.Đến ngày 08/03/2002, công tác giám sát của BHTG Việt Nam mới có báo cáođầu tiên về tình hình hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Thựcchất đây cũng chỉ là báo cáo được tổng hợp dựa trên cơ sở báo cáo của ngânhàng nhà nước chứ không hoàn toàn trên cơ sở số liệu thu thập từ khách hàng
mà BHTG Việt Nam có được Nguyên nhân chậm triển khai công tác giám sát
có thể kể tới như: Mô hình và quy định khung cho hoạt động giám sát chưađược hoạch định và xây dựngkịp thời; cán bộ cơ quan BHTG Việt Nam cònhạn chế về số lượng và khả năng phân tích, đánh giá tình hình; Các điều kiện
về thông tin cho hoạt động giám sát còn khó khăn
- Về việc chấp hành các quy định pháp luật về BHTG của các tổ chứctham gia BHTG chưa nghiêm chỉnh Do trong giai đoạn đầu hoạt động BHTG,các đơn vị tham gia chưa có ý thức chấp hành các quy định lập báo cáo gửi tổchức BHTG Việt Nam Đây là khó khăn cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng tiến
độ triển khai hoạt động giám sát của BHTG Việt Nam trong thời gian qua Ví
dụ, từ khi tham gia BHTG Việt Nam ngày 01/08/2000 đến 30/04/2002, 187khách hàng tham gia BHTG Việt Nam chỉ gửi tới BHTG Việt Nam 42 bản báocáo các loại không tính bản kê nộp phí, trong khi đó theo quy định tổng số báocáo này phải là hơn 1400 bản
3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi tại các Ngân Hàng Thương Mại
3.1 Những định hướng cơ bản
Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về BHTG ở ViệtNam cho thấy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, pháp luật về BHTG cònnhiều hạn chế bất cập, có nhiều quy định không còn phù hợp với điều kiện nềnkinh tế - xã hội của đất nước
Trên cơ sở tổng kết đánh giá thực trạng pháp luật về thực tiễn thi hànhpháp luật về BHTG ở nước ta trong 9 năm qua, từ đó rút ra những điểm mạnh,điểm yếu để định ra hướng hoàn thiện pháp luật và các biện pháp bảo đảm