LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Giám định tư pháp (GĐTP) là hoạt động bổ trợ tư pháp, đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động tố tụng nói chung và điều tra hình sự (ĐTHS) nói riêng. Nếu như việc chứng minh những tình tiết của vụ án bằng những chứng cứ là một việc rất quan trọng của cơ quan điều tra để từ đó có thể quyết định là tội phạm có xảy ra hay không, là cơ sở để quyết định những vấn đề cần thiết trong điều tra tội phạm như việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, hỏi cung, khám xét, …thì kết luận GĐTP là một trong những phương tiện chứng minh hữu hiệu, góp phần làm sáng tỏ những uẩn khúc của vụ án với mục đích tìm ra thủ phạm, xác định năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS) của bị can, có thể dùng làm chứng cứ minh oan cho người vô tội, hay làm rõ tình tiết tăng nặng cũng như giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Thông qua đánh giá, kết luận về phương diện chuyên môn những vấn đề liên quan đến vụ án, hoạt động GĐTP cung cấp những chứng cứ mang tính chính xác, khoa học giúp cơ quan điều tra xác minh những tình tiết của vụ án nhanh chóng, kịp thời. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang mở cửa hội nhập quốc tế, ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại thì cùng với đó số lượng tội phạm ngày một gia tăng. Bên cạnh những tội phạm truyền thống như giết người, tội cố ý gây thương tích là sự gia tăng của loại tội phạm mới như: tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, tội phạm môi trường, tội phạm công nghệ thông tin, tội phạm mang tính quốc tế…với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt thì GĐTP lại càng khẳng định được vai trò của mình đối với hoạt động tố tụng. Bởi lẽ, với những tội phạm diễn biến hành vi đơn giản, cơ quan điều tra có thể trực tiếp nhận thức các tình tiết của vụ án thông qua những dấu vết mà tội phạm để lại trong thế giới khách quan. Tuy nhiên, với những hành vi phạm tội phức tạp thì việc nhận thức lại trở lên khó khăn, ĐTV phải nhận thức trên cơ sở những nhận xét, đánh giá trong bản KLGĐ của GĐV. Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua, hoạt động GĐTP đã đạt được những kết quả đáng kể, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giúp cơ quan điều tra thực hiện tốt nhiệm vụ “không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” . Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động GĐTP còn tồn tại nhiều hạn chế, việc áp dụng pháp luật GĐTP còn gặp phải những khó khăn vướng mắc chưa đáp ứng được yêu cầu GĐTP trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm ra được nguyên nhân của những bất cập, hạn chế nêu trên để đưa ra giải pháp đồng bộ, hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả của GĐTP đối với hoạt động ĐTHS là yêu cầu trở lên bức thiết. Tất cả những vấn đề đã nêu ở trên cùng sự mong muốn của cá nhân chính là lý do tác giả chọn đề tài “ Vai trò của GĐTP đối với hoạt động ĐTHS” làm đề tài nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Giám định tư pháp (GĐTP) là hoạt động bổ trợ tư pháp, đóng vai trò quantrọng đối với hoạt động tố tụng nói chung và điều tra hình sự (ĐTHS) nói riêng.Nếu như việc chứng minh những tình tiết của vụ án bằng những chứng cứ làmột việc rất quan trọng của cơ quan điều tra để từ đó có thể quyết định là tộiphạm có xảy ra hay không, là cơ sở để quyết định những vấn đề cần thiết trongđiều tra tội phạm như việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, hỏi cung, khám xét, …thì kết luận GĐTP là một trong những phương tiện chứng minh hữu hiệu, gópphần làm sáng tỏ những uẩn khúc của vụ án với mục đích tìm ra thủ phạm, xácđịnh năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS) của bị can, có thể dùng làmchứng cứ minh oan cho người vô tội, hay làm rõ tình tiết tăng nặng cũng nhưgiảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Thông qua đánh giá, kết luận
về phương diện chuyên môn những vấn đề liên quan đến vụ án, hoạt độngGĐTP cung cấp những chứng cứ mang tính chính xác, khoa học giúp cơ quanđiều tra xác minh những tình tiết của vụ án nhanh chóng, kịp thời
Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang mở cửa hội nhập quốc tế,ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại thì cùng với đó số lượngtội phạm ngày một gia tăng Bên cạnh những tội phạm truyền thống như giếtngười, tội cố ý gây thương tích là sự gia tăng của loại tội phạm mới như: tộiphạm trong lĩnh vực kinh tế, tội phạm môi trường, tội phạm công nghệ thôngtin, tội phạm mang tính quốc tế…với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảoquyệt thì GĐTP lại càng khẳng định được vai trò của mình đối với hoạt động tốtụng Bởi lẽ, với những tội phạm diễn biến hành vi đơn giản, cơ quan điều tra cóthể trực tiếp nhận thức các tình tiết của vụ án thông qua những dấu vết mà tộiphạm để lại trong thế giới khách quan Tuy nhiên, với những hành vi phạm tộiphức tạp thì việc nhận thức lại trở lên khó khăn, ĐTV phải nhận thức trên cơ sởnhững nhận xét, đánh giá trong bản KLGĐ của GĐV
Thực tế đã chứng minh, trong những năm qua, hoạt động GĐTP đã đạtđược những kết quả đáng kể, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng chốngtội phạm, bảo vệ lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giúp cơ
Trang 2quan điều tra thực hiện tốt nhiệm vụ “không để lọt tội phạm, không làm oanngười vô tội”1 Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động GĐTPcòn tồn tại nhiều hạn chế, việc áp dụng pháp luật GĐTP còn gặp phải những khókhăn vướng mắc chưa đáp ứng được yêu cầu GĐTP trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm ra được nguyên nhân của những bấtcập, hạn chế nêu trên để đưa ra giải pháp đồng bộ, hữu hiệu nhằm nâng cao hiệuquả của GĐTP đối với hoạt động ĐTHS là yêu cầu trở lên bức thiết
Tất cả những vấn đề đã nêu ở trên cùng sự mong muốn của cá nhân chính
là lý do tác giả chọn đề tài “ Vai trò của GĐTP đối với hoạt động ĐTHS” làm
đề tài nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ của khóa luận
Mục đích của khóa luận: Dựa trên cơ sở những kiến thức tác giả đã tíchlũy được trong quá trình học tập tại trường và qua tham khảo những tài liệu cóliên quan đến đề tài, tác giả mong muốn làm rõ vai trò của GĐTP đối với hoạtđộng ĐTHS Qua đó, nêu ra một số giải pháp góp phần nâng cao vai trò củaGĐTP trong thực tiễn hoạt động này
Để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểumột cách có hệ thống quy định của pháp luật về GĐTP (người giám định, tổchức giám định, hoạt động giám định…), tìm hiểu ý nghĩa của kết luận GĐTPđối với hoạt động ĐTHS, những kết quả mà hoạt động này đã đạt được Khóaluận cũng đi sâu vào tìm hiểu những mặt còn tồn tại và nguyên nhân của nhữngtồn tại đó để từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt độngGĐTP đối với ĐTHS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và làm rõ những nội dung sau:
-Khái niệm, đối tượng của GĐTP
-Quy định của pháp luật về GĐTP
-Ý nghĩa của kết luận GĐTP đối với hoạt động ĐTHS
-Thực trạng và giải pháp góp phần nâng cao vai trò của GĐTP đối với hoạt độngĐTHS
1 Xem: điều 1, bộ luật TTHS 2003.
Trang 3Phạm vi nghiên cứu của khóa luận: do hạn chế về thời gian và khả năngnhận thức nên khóa luận chỉ dừng lại nghiên cứu ở các vấn đề về pháp luậtGĐTP và ý nghĩa của KLGĐ với thực tiễn ĐTHS
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Máclênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm chỉ đạocủa Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả đã sửdụng kết hợp các phương pháp khác như: phương pháp phân tích- tổng hợp,phương pháp so sánh, chứng minh, phương pháp lịch sử…
5 Ý nghĩa của khóa luận
Những kết quả nghiên cứu trong luận văn góp phần củng cố và làm phongphú kiến thức của tác giả về GĐTP và việc sử dụng kết quả giám định sao chođạt được hiệu quả trong công tác ĐTHS Tác giả hi vọng rằng những kết quảnghiên cứu dưới đây sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho những bạn quan tâm,nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài, đồng thời, những kiến nghị trongkhóa luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiệncác quy định của pháp luật về GĐTP để cho hoạt động này ngày một hiệu quảhơn
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần danh mục tài liệu tham khảo, phầnnội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Nhận thức chung về GĐTP.
Chương 2 Ý nghĩa của kết luận GĐTP đối với thực tiễn ĐTHS.
Chương 3 Một số kiến nghị góp phần nâng cao vai trò của GĐTP đối với hoạt động ĐTHS.
CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
Trang 41.1 Khái niệm GĐTP
1.1.1 Khái niệm
GĐTP là nhằm bổ trợ tư pháp, chúng giúp cơ quan điều tra, Viện kiểmsát, Tòa án thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần khôngnhỏ vào việc giải quyết vụ án GĐTP nhằm đưa ra kết luận khoa học, chính xác,khách quan những vấn đề liên quan đến vụ án Dựa trên bản KLGĐ của GĐV,
cơ quan điều tra có cơ sở để xác minh tội phạm và hành vi phạm tội, góp phầnbảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong vụ án hình sự, dân sự Như vậy,KLGĐ có ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả điều tra Nếu hoạt động giám địnhkhông có hiệu quả thì việc giải quyết vụ án khó có thể chính xác và công bằng
Vậy thì GĐTP là gì? Để trả lời cho câu hỏi đó chúng ta cần tìm hiểu nộidung ngữ nghĩa của các từ ngữ sau:
Trước hết là cụm từ “ Tư pháp” trong tiếng Việt có ít nhất là 3 nghĩa:
Nghĩa thứ nhất: Theo từ điển giúp đọc “Nôm và hán Việt” của tác giả Trần VănKiệm 1989 thì “tư pháp” có nghĩa là thi hành pháp luật
Nghĩa thứ hai: “tư pháp” thường dùng để nói đến ngành Tòa án
Nghĩa thứ ba: “tư pháp: có nghĩa là luật dân sự khác với công pháp
Như vậy, chúng ta có thể hiểu “ tư pháp”, cơ quan tư pháp hay hệ thống
tư pháp là một hệ thống các cơ quan Nhà nước bao gồm Tòa án, Viện Kiểm Sát,
cơ quan điều tra nhân danh quyền tối cao hoặc nhà nước để thực thi công lý,một cơ chế để giải quyết các tranh chấp trong quan hệ dân sự, những hành vi viphạm pháp luật hay tội phạm hình sự
Theo chủ thuyết tam quyền phân lập, cơ quan tư pháp là phân nhánh chính củamột chính thể, có trách nhiệm chính về việc diễn giải luật
Cụm từ thứ hai “Giám định”, theo từ điển Tiếng Việt- Nhà xuất bản Đà
Nẵng năm 2000 thì “giám định có nghĩa là xem xét và kết luận về một sự vật,hiện tượng mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” Như vậy, “giámđịnh” là việc sử dụng những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn, phương tiện kỹthuật để nghiên cứu, xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận về một sự vât, hiệntượng, từ đó giúp cho con người có những nhận thức khách quan để giải quyếtmột vấn đề nào đó
Trang 5Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân giađình, lao động…nếu phát sinh những vấn đề vướng mắc liên quan đến kiến thứcthuộc các lĩnh vực chuyên môn thì cơ quan THTT (THTT) sẽ nhờ những cánhân, cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chuyên môn xem xét, đánh giánhững vấn đề đó.
Theo quy định tại điều 1 pháp lệnh GĐTP 2004 “GĐTP là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận
về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, vụ án hành chính,
vụ việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ án) do người GĐTP thực hiện theo trưng cầu của cơ quan THTT, người THTT nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án” 1
Tóm lại, hoạt động GĐTP là hoạt động khoa học chuyên sâu, không phải
ai cũng thực hiện được, chỉ có những người có kiến thức chuyên môn, kinhnghiệm thực tế trong những lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hóa, môi trường, yhọc, sinh học, xây dựng…mới có thể tiến hành việc xem xét, đánh giá và kếtluận những vấn đề có liên quan đến vụ án theo yêu cầu của cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử đượccông minh và đúng pháp luật Chỉ có việc giám định do cơ quan THTT, ngườiTHTT trưng cầu và nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án thì mới là GĐTP
và thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh GĐTP Những việc giám định do cánhân, cơ quan, tổ chức khác yêu cầu thì không phải là GĐTP
1.1.2 Phân loại
Dựa vào tiêu chí khác nhau mà GĐTP có thể chia thành nhiều loại khác nhau
a Căn cứ vào quy định của pháp luật về sự cần thiết phải xác định các sự kiệntrong vụ án: Giám định bắt buộc và giám định khi xét thấy cần thiết
-Giám định bắt buộc là trường hợp khi xất hiện một hoặc một số tình tiết liên
quan đến vụ án mà luật tố tụng hình sự đã quy định thì cơ quan THTT bắt buộcphải TCGĐ nếu không trưng cầu là vi phạm thủ tục tố tụng hình sự Đó làtrường hợp quy định tại k3 điều 155 BLTTHS 2003 Bắt buộc phải TCGĐ khicần xác định:
1 Xem: Điều 1, pháp lệnh GĐTP 2004.
Trang 6+) Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặckhả năng lao động;
+) Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ vềNLTNHS của họ;
+) Tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp
có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tìnhtiết của vụ án;
+) Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án vàkhông có tài liệu khẳng định tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính xác thựccủa những tài liệu đó;
+) Chất độc, chất ma tuý, chất phóng xạ, tiền giả
-Giám định khi xét thấy cần thiết: là trường hợp khi xuất hiện những tính tiết
nhất định trong vụ án, tuy luật không quy định bắt buộc phải giám định nhưng
cơ quan THTT nhận thấy việc giám định là rất cần thiết để giải quyết vụ án mộtcách chính xác và TCGĐ thì GĐV sẽ tiến hành việc giám định Đó là các trườnghợp:
+) Cần có KLGĐ làm căn cứ để quyết định tiến hành một hoặc một số hoạt động
tố tụng hình sự
+) Cần có KLGĐ để có chứng cứ nhằm củng cố, hỗ trợ cho các chứng cứ khácphục vụ cho việc xử lý vụ án
+) Cần có KLGĐ để xây dựng giả thuyết điều tra
b Căn cứ vào tình huống và kết quả giám định: giám định lần đầu, giám định bổsung, giám định lại
-Giám định lần đầu là việc tiến hành giám định lần đầu tiên đối với một vấn đề
cần giám định
-Giám định bổ sung là giám định tiếp theo lần giám định trước nhằm bổ sung
KLGĐ trước đó Giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp:
+ nội dung KLGĐ trước đó chưa rõ, chưa đầy đủ
+ phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án mà đã được kết luậntrước đó
-Giám định lại là việc giám định theo toàn bộ những yêu cấu giám định trước
đó Giám định lại được tiến hành trong trường hợp:
Trang 7+ có mâu thuẫn rõ ràng giữa KLGĐ với cơ sở khoa học của kết luận đó, hoặctrái ngược với tài liệu, chứng cứ khác của vụ án mà những tài liệu chứng cứ đó
đã được kiểm tra, đánh giá là chính xác
+ những phương tiện và phương pháp được sử dụng trong quá trình giám địnhkhông đảm bảo tính khoa học và pháp lý
+ phát hiện người giám định có mối quan hệ thân thuộc (quan hệ giữa cha, mẹ,con, anh, chị, em cùng cha, cùng mẹ hoặc anh chị em cùng cha, khác mẹ, cùng
me, khác cha…) hoặc phụ thuộc (cấp trên với cấp dưới, hoặc giữa những người
bị lệ thuộc vào tình cảm, vật chất…) với bị can, bị cáo, người bị hại, người cóliên quan khác trong vụ án Ví dụ: trường hợp người giám định là anh trai củangười bị hại trong vụ án, thì phải tiến hành giám định lại để đảm bảo tính kháchquan của KLGĐ
Hoặc phát hiện người giám định không vô tư khách quan khi thực hiện giámđịnh
c Căn cứ vào số lượng, thành phần người tham gia giám định: giám định cánhân, giám định tập thể
-Giám định cá nhân là việc giám định do một người tiến hành
-Giám định tập thể là việc nhiều người cùng một lĩnh vực chuyên môn hoặc ở
nhiều lĩnh vực chuyên môn cùng tiến hành giám định một vấn đề nào đó
d Căn cứ vào vấn đề cần giám định liên quan tới một hoặc nhiều lĩnh vực khoahọc: giám định chuyên khoa, giám định tổng hợp
-Giám định chuyên khoa là việc một hoặc nhiều người giám định của một
chuyên khoa đảm nhiệm việc giám định
-Giám định tổng hợp là việc nhiều người giám định thuộc nhiều chuyên khoa
đảm nhiệm việc giám định Việc giám định tổng hợp được tiến hành bằng nhiềuphương pháp thuộc các chuyên khoa khác nhau trên cùng một đối tượng giámđịnh hoặc trên nhiều đối tượng giám định có liên quan với nhau để cùng giảiquyết một yêu cầu giám định cụ thể
e Căn cứ vào lĩnh vực chuyên môn giám định
-Giám định pháp y là việc sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ
thuật, nghiệp vụ để kết luận về phương diện y học những vấn đề có liên quan
Trang 8đến sự kiện chết người, thương tích….theo văn bản trưng cầu của cơ quanTHTT nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Công tác GĐTP trong lĩnh vực pháp y nhằm mục đích nghiên cứu ứngdụng hầu hết tất cả những khoa học kỹ thuật vào việc xác định mức độ tổn hạisức khỏe, phẩm giá con người, nguyên nhân tử vong bởi những hành vi xâm hạiđến thân thể khi cơ quan THTT yêu cầu giám định làm căn cứ cho việc khởi tố
vụ án, xác định tội danh, định khung hình phạt…Do vậy đối tượng của giámđịnh pháp y là những thương tích trên cơ thể sống; tử thi; dấu vết- tang vật như:lông, tóc, máu, tinh dịch, nước bọt, mồ hôi, nước tiểu; vật gây thương tích nhưbom, mìn, súng, đạn, vật sắc nhọn, vật sắc, vật tày; trên hồ sơ, tài lệu
-Giám định pháp y tâm thần: là một bộ phận của tâm thần học, phát triển cùng
với sự phát triển chung của nghành tâm thần học Giám định pháp y tâm thần làviệc sử dụng kiến thức trong lĩnh vực y học tâm thần để xem xét những vấn đề
có liên quan đến cá nhân như vấn đề về sức khỏe tâm thần, xác định chính xácnhững đối tượng bị nghi rối loạn tâm thần có bị bệnh tâm thần hay không, mức
độ nặng nhẹ, từ đó xác định năng lực trách nhiệm hành vi phạm pháp
Mục đích của giám định pháp y tâm thần nhằm giám định tình trạng sứckhỏe- sức khỏe tâm thần của bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng.Giám định khả năng chịu trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự dựa trên 2tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn y học- đó là vấn đề chuẩn đoán bệnh (họ bị bệnh gì? mức
độ nặng, nhẹ ?), tiêu chuẩn pháp luật- xem xét khả năng nhận thức hành vi (còn,giảm hay mất khả năng nhận thức), xem xét khả năng kiềm chế hành vi Nên đốitượng của giám định pháp y tâm thần là trạng thái tâm thần và hồ sơ tài liệu củacon người
-Giám định kỹ thuật hình sự: là việc sử dụng những kiến thức, phương pháp
khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn trong khoa học hình sự để xác địnhhoặc truy nguyên các hiện tượng vật chất như con người, sự vật, hiện tượng…cóliên quan đến vụ án hình sự
Hoạt động giám định trong lĩnh vực này thực hiện các nhiệm vụ truynguyên nhằm làm sáng tỏ một vụ việc có tính hình sự với mục đích xác định vàchứng minh sự đồng nhất của các hiện tượng vật chất đang có liên quan đến vụ
Trang 9việc với những hình thức vật chất đã được xác định, thu thập trong quá trìnhđiều tra.
Đối tượng của hoạt động giám định kỹ thuật hình sự là: chất ma túy, chữ
ký, chữ viết, tài liệu, đường vân, dấu vết súng đạn, cơ học…
-Giám định xây dựng: là hoạt động của cá nhân, tổ chức có năng lực giám định
sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận
về chuyên môn trong lĩnh vực xây dựng những vấn đề có liên quan đến vụ án,đặc biệt là những vụ án về xây dựng
-Giám định môi trường: đánh giá nguồn tác động và đánh giá mức độ ảnh hưởng
của các hoạt động và các yếu tố đến môi trường
Giám định trong lĩnh vực môi trường: bao gồm các hoạt động lấy mẫu vàphân tích môi trường, không khí, nước, đất Hoạt động này đã góp phần trongcông tác xác định mức độ vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong công tác bảo
vệ môi trường, từ đó đưa các biện pháp xử lý hành chính, hìmh sự nhằm tăngcường hiệu lực pháp luật trong công tác bảo vệ môi trường
-Giám định văn hóa: việc sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ
thuật, nghiệp vụ chuyên ngành để giám định các loại hình tác phẩm văn nghệ thuật và văn hóa phẩm, đưa ra kết luận về chuyên ngành văn hóa có liênquan đến vụ án do người GĐTP thực hiện
học-Giám định văn hóa nhằm phục vụ cho việc xem xét, phân tích các tácphẩm văn học, nghệ thuật, văn hóa phẩm có mang nội dung đồ trụy, phản động,chống phá Đảng và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phù hợpvới thuần phong mỹ tục hay không? có phải là di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, lànguyên bản, nguyên gốc hay bản sao, đồ giả? Trên cơ sở đó đưa ra những kếtluận về chuyên môn theo trưng cầu của cơ quan THTT, phục vụ đắc lực chocông tác điều tra tội phạm về văn hóa
Đối tượng của giám định văn hóa là: sách, báo, tạp chí, tài liệu văn bảnđược đánh máy, sao chép dưới mọi hình thức, bản vẽ kỹ thuật, bản vẽ thiết kế.Giám định các loại trạnh, tác phẩm mỹ thuật các thể loại như đồ họa, khắc kẽm,khắc gỗ, sơn khắc, sơn dầu, sơn mài, khảm trai…Giám định phim ảnh, băng đĩaghi âm, ghi hình, ghi mã số, giám định đồ thủ công các thể loại và chất liệu…
Trang 10-Giám định giao thông công chính: do GĐV có đủ năng lực cũng như điều kiện
cơ sở vật chất, kỹ thuật tiến hành để kết luận về những vấn đề về chuyên ngànhgiao thông công chính có liên quan đến vụ án như việc giám định chất lượng côngtrình cầu đường, giám định tính chất an toàn giao thông, giám định chất lượngphương tiện giao thông, giám định chất lượng cây xanh trồng trên hè phố…
Đối tượng của hoạt động giám định này là: hạ tầng giao thông đường bộ,đường thủy, đường không, đường sắt, cầu cống, bến phà, nhà ga Giám định hạtầng kỹ thuật đô thị như vỉ hè, đường đô thị, hệ thống cấp thoát nước, công viên,cây xanh
Như vậy tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, những căn cứ phân loạikhác nhau mà GĐTP được phân chia thành nhiều loại khác nhau Việc phân loạinày có ý nghĩa trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động GĐTP, xác địnhtrách nhiệm của các nghành, các cấp, cơ quan chủ quản Hơn nữa, việc phân loạinày còn giúp cơ quan THTT lựa chọn cá nhân, cơ quan, tổ chức để TCGĐ
1.2 Pháp luật về GĐTP
Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 là văn bản có tính quy phạm đầutiên ra đời quy định một cách rõ ràng và đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của GĐTP, tạo ra bước ngoặt cơ bản và quan trọng của GĐTP Việt Nam
Kể từ đây, mạng lưới tổ chức GĐTP được hình thành và phát triển trong toànquốc ở các lĩnh vực giám định pháp y, giám định pháp y tâm thầm, giám định kỹthuật hình sự, xây dựng, văn hóa, môi trường Góp phần tích cực vào công tácđấu tranh phòng chống tội phạm Tuy nhiên sau 15 năm ban hành việc áp dụngvăn bản này đã bộc lộ nhiều hạn chế, không còn phù hợp với tình hình đất nước
Do đó một yêu cầu bức thiết đặt ra đó là việc ban hành một văn bản pháp luậtmới để kịp thời thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, đáp ứng yêu cầucủa tình hình mới Ngày 23/05/2004 Ban soạn thảo dự án pháp lệnh GĐTP đãđược thành lập với thành phần gồm đại diện lãnh đạo Bộ tư pháp, Bộ quốcphòng, Bộ công an, Bộ y tế, Tòa án nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tốicao soạn thảo pháp lệnh GĐTP Ngày 28/9/2004 tại phiên họp lần thứ 22, Ủyban thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh GĐTP, có hiệu lực thi hànhngày 1/1/2005 Ngày 19/5/2005 Chính phủ ban hành nghị định số 67/2005/NĐ-
Trang 11CP quy định chi tiết một số điều của pháp lệnh GĐTP Đây là văn bản pháp lýquy định tập trung nhất về tổ chức và hoạt động GĐTP.
1.2.1 Người GĐTP
Người GĐTP là người trực tiếp tiến hành giám định theo yêu cầu của cơquan THTT, người THTT KLGĐ có chính xác, khách quan hay không phụthuộc một phần vào năng lực và phẩm chất đạo đức của người giám định Do
đó, pháp luật quy định rất chặt chẽ về tiêu chuẩn bổ nhiệm GĐV, sao cho lựachọn được người giám định vừa có “đức” vừa có “tài”
Người GĐTP bao gồm GĐV tư pháp và người GĐTP theo vụ việc Theok2 điều 8 Pháp lệnh GĐTP, GĐV tư pháp là người có trình độ đại học trở lên,
đã qua thực tế hoạt động chuyên môn theo ngành đã học từ 5 năm trở lên, theok1 điều 1 nghị định 67/2005/NĐ- CP thì đối với những người có bằng tốt nghiệpđại học, bằng thạc sỹ, bằng tiến sĩ do cơ sở giáo dục của nước ngoài cấp thì bằng
đó phải được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về giáo dục
và điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập Ngoài ra, GĐV tư phápphải là người có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đồngthời người đó không thuộc một trong những đối tượng như đang bị truy cứutrách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích; đang bị quảnchế hành chính; bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự
GĐV tư pháp có thể làm việc tại tổ chức GĐTP, tổ chức chuyên môn.Quy định này thể hiện rõ tính xã hội hóa về việc lựa chọn người để bổ nhiệmGĐV tư pháp Đây là điểm mới so với quy định trước đây tại nghị định 117, hầuhết GĐV trước đây là cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước,GĐV tư pháp là cán bộ chuyên môn thuộc biên chế của các Bộ (đối với GĐV tưpháp cấp trung ương), của Sở (GĐV tư pháp cấp tỉnh) Hiện nay, người có đủtiêu chuẩn và điều kiện trên đều có thể được bổ nhiệm GĐV tư pháp mà khôngphân biệt là công chức nhà nước hay là người hoạt động chuyên môn ở các đơn
vị, tổ chức không phải là cơ quan nhà nước
Ngoài đội ngũ GĐV tư pháp còn có người GĐTP theo vụ việc Theo đó,một người không phải là GĐV tư pháp nhưng có đủ các tiêu chuẩn, điều kiệntheo quy định của pháp luật về bổ nhiệm GĐV tư pháp thì có thể được TCGĐtheo vụ việc Trường hợp người không có trình độ đại học nhưng có kiến thức
Trang 12chuyên sâu về lĩnh vực cần giám định và có uy tín trong lĩnh vực đó thì cũng cóthể được TCGĐ Quy định này tạo cơ sở cho việc huy động rộng rãi chuyên gia
ở các lĩnh vực, cơ quan tổ chức khác nhau tham gia vào hoạt động GĐTP nhằmđáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động tố tụng
Nhằm đề cao vai trò và trách nhiệm của GĐV tư pháp, pháp luật quy địnhtrường hợp miễn nhiệm GĐV tư pháp đó là khi vi phạm một số điều cấm đối vớingười làm GĐTP hoặc không còn đủ tiêu chuẩn làm GĐV
Kết luận của GĐV tư pháp có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của cơquan THTT Chính vì thế mà khi được cơ quan THTT trưng cầu thì người giámđịnh phải thực hiện giám định theo yêu cầu và phải chịu trách nhiệm pháp lý vềmọi hoạt động liên quan đến việc giám định, có nghĩa là phải thực hiện cácnghĩa vụ nhất định được quy định cụ thể tại điều 13 Pháp lệnh GĐTP cùng vớinhững quy định trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Đồng thời có thể phảighánh chịu hậu quả bất lợi từ những việc đã làm như trong quá trình thực hiệngiám định, nếu người thực hiện giám định gây thiệt hại thì phải bồi thường chobên bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, k3 điều 60 bộ luật tố tụng hình sựcũng quy định việc “ người giám định từ chối KLGĐ mà không có lý do chínhđáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 308 bộ luật hình sự Ngườigiám định kết luận gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 307BLHS”
1.1.2 Tổ chức GĐTP
Trong công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền Xãhội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, việc đổi mới và hoàn thiện tổ chức GĐTP làmột trong những nội dung quan trọng được đề cập trong nghị quyết của Đảng vànhà nước Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/02/2002 của Bộ chính trị về một sốnội dung trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ “từng bướchoàn thiện các tổ chức GĐTP Thành lập cơ quan giám định quốc gia, sớm hoànthiện pháp luật về GĐTP”
Trước đây, theo nghị định 117/HĐBT, tổ chức GĐTP được thành lập ở tất
cả lĩnh vực như pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, văn hóa, môi trường,xây dựng, tài chính- kế toán Nhưng đến nay, pháp lệnh GĐTP 2004 xác định rõ
tổ chức GĐTP chỉ được duy trì ở 3 lĩnh vực đó là: pháp y, pháp y tâm thần, kỹ
Trang 13thuật hình sự Đây là lĩnh vực có nhu cầu giám định lớn và thường xuyên do đócần có sự đầu tư và sự quan tâm của nhà nước Tổ chức GĐTP được thành lập ởhai cấp: cấp trung ương và cấp tỉnh.
Các lĩnh vực còn lại như văn hóa, tài chính- kế toán… nhu cầu giám địnhthường không nhiều thì không thành lập tổ chức giám định chuyên trách mà chỉ
có GĐV tư pháp ở các cơ quan, tổ chức chuyên môn Đây là điểm khác biệt sovới những quy định trước đây, nó cũng thể hiện sự tiến bộ, chủ trương xã hộihóa hoạt động tư pháp của Đảng và Nhà nước Quy định này vừa huy động đượcđội ngũ chuyên gia, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện sẵn có của cơquan tổ chức chuyên môn, vừa tiết kiệm được chi tiêu cho ngân sách nhà nước
1.2.3 Hoạt động GĐTP
Đối tượng được trưng cầu: khi phát sinh những tình tiết liên quan đến vụ
án mà cơ quan THTT nhận thấy cần có những đánh giá, kết luận khách quan vềnhững tình tiết đó thì có thể trưng cầu người GĐTP, tổ chức GĐTP, và tổ chứcchuyên môn có đủ điều kiện để tiến hành việc giám định Theo k2 điều 24 pháplệnh GĐTP thì trong trường hợp người GĐTP, tổ chức GĐTP, và tổ chứcchuyên môn trong nước không đáp ứng được yêu cầu giám định thì cơ quanTHTT ở cấp trung ương quyết định trưng cầu người GĐTP, tổ chức GĐTP, và
tổ chức chuyên môn của nước ngoài thực hiện nhằm đảm bảo cho việc giảiquyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, khách quan
Tiếp nhận và thực hiện giám định được quy định theo hướng phân cấp
giữa các tổ chức giám định, tổ chức chuyên môn, người GĐTP ở trung ương vàđịa phương Theo điều 28 Pháp lệnh GĐTP thì Tổ chức GĐTP, tổ chức chuyênmôn, người GĐTP thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý có trách nhiệm tiếpnhận và thực hiện việc giám định do cơ quan THTT, người THTT ở cấp huyện,cấp tỉnh và cấp trung ương trưng cầu Tổ chức GĐTP, tổ chức chuyên môn,người GĐTP thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý cótrách nhiệm tiếp nhận và thực hiện việc giám định do cơ quan THTT, ngườiTHTT ở cấp trung ương trưng cầu và các việc giám định phức tạp do cơ quanTHTT, người THTT ở cấp huyện, cấp tỉnh trưng cầu
Trang 14Như vậy việc quy định theo hướng phân cấp này sẽ tránh được sự chồngchéo, ùn tắc công việc giữa các ngành, các cấp Đảm bảo cho công việc luônđược thông suôt, đáp ứng kịp thời yêu cầu của cơ quan THTT.
Cơ chế giải quyết xung đột KLGĐ: xung đột KLGĐ là trường hợp có hai
hay nhiều KLGĐ khác nhau về cùng một vấn đề cần giám định Do đó, trên thực
tế có nhiều vụ án kéo dài trong nhều năm mà chưa được giải quyết dứt điểm, cơquan THTT lúng túng không biết sử dụng kết quả giám định nào là hợp lý
Pháp lệnh GĐTP đã quy định cơ chế giải quyết mâu thuẫn, theo khoản 2,khoản 3 điều 33 Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa KLGĐ lần đầu và KLGĐlại về cùng một vấn đề cần giám định thì việc giám định lại lần thứ hai phải doHội đồng giám định thực hiện Hội đồng giám định do Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quản lý về lĩnh vực cầngiám định quyết định thành lập Hội đồng giám định gồm có ít nhất ba thànhviên là những người có trình độ chuyên môn cao và có uy tín trong lĩnh vực cầngiám định Trong trường hợp Hội đồng giám định đã thực hiện giám định lại lầnthứ hai thì không thực hiện giám định lại nữa, trừ trường hợp đặc biệt do Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định
Như vây, khi đã giám định đến lần thứ 3, với đội ngũ GĐV có chuyênmôn cao và có uy tín trong lĩnh vự cần giám định thì không cần phải giám địnhtiếp mà vẫn đảm bảo tính chính xác và khách quan của KLGĐ Trừ trường hợp,trong quá trình giải quyết phát hiện thấy có dấu hiêu oan sai hoặc có phươngpháp giám định mới ra đời có tính đột phá, có khả năng làm thay đổi KLGĐ…thì Viện trưởng Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao có thể quyết định tiến hànhgiám định lại
Đây là một quy định mới mà trước đây chưa có văn bản nào quy định, tạo
ra một cơ chế chặt chẽ khi trong thực tế xảy ra những mâu thuẫn trong KLGĐ,tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan THTT lựa chọn được KLGĐ hợp lý, tránh tìnhtrạng giải quyết vụ án kéo dài
1.3 Mối quan hệ giữa GĐTP và thực tiễn ĐTHS
GĐTP và ĐTHS là những bộ phận thuộc tư pháp hình sự, chúng có vị tríđộc lập đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đóng vai trò quan trọngtrong hoạt động đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm
Trang 15Điều tra vụ án hình sự là trách nhiệm rất nặng nề của cơ quan điều tra, vìCQĐT có nhiệm vụ phát hiện, điều tra tội phạm để Viện kiểm sát truy tố và Tòa
án xét xử Trong giai đoạn này CQĐT áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ điều tratheo một trình tự, thủ tục luật định nhằm thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng
cứ, trong đó TCGĐ là một hoạt động điều tra không thể thiếu trong một sốtrường hợp Đó là những trường hợp cần có KLGĐ để xác định những nội dung
cơ bản của vụ án hình sự như vấn đề xác định dấu hiệu tội phạm ; cấu thành tộiphạm và vấn đề trách nhiệm hình sự ; làm rõ hậu quả của tội phạm và làm cơ sở choviệc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, nếu không có KLGĐ thì không đủcăn cứ để giải quyết đúng đắn vụ án và ĐTV không thể tự mình giải quyết
Do đó, khoản 3 điều 155 bộ luật TTHS 2003quy định những trường hợpbắt buộc phải TCGĐ khi cần xác định :
a) Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sứckhỏe hoặc khả năng lao động
KLGĐ về nguyên nhân chết người là nguồn chứng cứ cơ bản để cơ quanTHTT quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Tính chất củathương tích, mức độ tổn hại sức khỏe, khả năng lao động là căn cứ để truy cứuTNHS, là tình tiết định khung, giải quyết vấn đề bồi thường dân sự trong vụ ánhình sự
b) Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ
Giám định trong trường hợp này có ý nghĩa trong việc xác định tính chínhxác trong lời khai của người làm chứng hoặc bị hại, làm cơ sở trong việc đánhgiá chứng cứ
d) Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ
án và không có tài liệu khẳng định tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính xácthực của những tài liệu đó
Trang 16Tuổi của bị can, bị cáo là một dấu hiệu đặc trưng cho chủ thể của tộiphạm, là một tình tiết thuộc cấu thành tội phạm nên bắt buộc phải làm rõ để xácđịnh TNHS của người đó Tuổi của bị hại là tình tiết định tội danh và tình tiếtđịnh khung trong một số tội.
e) Chất độc, chất ma túy, chất phóng xạ, tiền giả
Đây là vấn đề có tính chất bắt buộc trong việc xác định tình tiết định tộiđối với tội phạm về ma túy ; tội sản xuất, tàng chữ, vận chuyển và buôn bánhàng cấm ; tội làm, tàng chữ, vận chuyển và lưu hành tiền giả Ngoài ra việc xácđịnh chất độc, chất phóng xạ, chất ma túy còn có ý nghĩa quan trọng trong việcxác định phương tiện phạm tội
Đây là những trường hợp bắt buộc phải TCGĐ vì nội dung vấn đề cầngiám định có ý nghĩa quan trọng và không thể thiếu để có thể giải quyết đúngđắn vụ án hình sự Dựa vào bản KLGĐ, CQĐT xác định được những vấn đề cầnphải chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại điều 63 bộ luật TTHS:
1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2 Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay
vô ý; có NLTNHS hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
3 Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can,
bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Ngoài việc làm rõ nội dung vụ án, về mặt tố tụng, hoạt động giám địnhcòn có vai trò không thể thiếu trong trường hợp cần có cơ sở khoa học để ngườiTHTT đánh giá tính khách quan của chứng cứ, ra những quyết định tố tụng cầnthiết khác
Hơn nữa, qua bộ luật hình sự năm 1999 chúng ta có thể thấy được tộiphạm có thể xâm hại tới các quan hệ xã hội ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội như kinh tế, xây dựng, môi trường, văn hóa…Do đó việc điều tra tội phạm,nhận thức những tình tiết của vụ án trong rất nhiều trường hợp phải sử dụng đếnnhững kiến thức khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn Nhưng hiện nay,ĐTV mới chỉ được trang bị kiến thức nghiệp vụ chuyên môn mang tính pháp lý
do vậy mà không thể tự mình giải quyết được vấn đề mà thực tiễn ĐTHS đặt ra
Trang 17Vì vậy mà phải có sự phối hợp, giúp đỡ của GĐV tư pháp để ĐTV hoàn thànhđược nhiệm vụ của mình Đã có nhận định rằng « nếu không có sự tham gia củaGĐV pháp y thì không thể điều tra được các vụ án giết người, gây thương tích,hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác »1 Ví dụ Lồ Dìn Sàng sinh ngày10/4/1991, là cháu gọi bà Lồ Diu Khờ bằng bác Do có mâu thuẫn giữa giađình Sàng và gia đình bà Khờ từ trước nên trong một lần xích mích, bà Khờ
đã chửi mắng Sàng Tức giận, Sàng cầm cưa đuổi đánh bà Khờ, vung cưachém 3 nhát vào bà Khờ Cháu Lồ Dìn Hoá là con gái của bà Khờ từ dưới bếpchạy lên đỡ bà Khờ dậy, cũng bị Sàng chém một nhát vào lưng Sau đó Sàngcầm cưa chạy về vứt vào đống củi và bỏ trốn Bà Khờ đã đến Bệnh viện đakhoa huyện Mường Khương điều trị Bản KLGĐ pháp y ngày 4/9/2007 củaphòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai kết luận bà Khờ bị tổn hại15% sức khoẻ, trong đó có 8% vĩnh viễn Toà án nhân dân huyện MườngKhương vừa đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt Lồ Dìn Sàng 18 tháng tù về tội
“Cố ý gây thương tích” và buộc bà Lồ Si Dín là người đại diện hợp pháp của
bị cáo Lồ Dìn Sàng, phải bồi thường cho bà Lồ Diu Khờ 1.664.600 đồng.2
Như vậy, kết quả giám định này là một trong những chứng cứ buộc Lồ DìnSàng phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chém bác gái của mình vàngười đại diện của Sàng có trách nhiệm bồi thường về mặt dân sự cho bị hại
Ngược lại, thực tiễn ĐTHS là cơ sở đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầuđiều tra của hoạt động giám định hiện nay, thấy được những mặt tích cực, hạnchế của hoạt động giám định, làm cơ sở thực tiễn hoàn thiện những quy địnhcủa pháp luật về GĐTP Thực tiễn ĐTHS cho thấy hoạt động tội phạm ngàycàng tinh vi, phát sinh những lĩnh vực mới mà GĐTP hiện tại chưa đáp ứngđược yêu cầu, do đó mà yêu cầu đặt ra là phải trang bị những kiến thức chuyênmôn cho GĐV trong lĩnh vực mới để đáp ứng yêu cầu hoạt động tố tụng Bộ luậtTTHS năm 1988 chỉ quy định ba trường hợp bắt buộc phải TCGĐ, nhưng thực
tế tố tụng cho thấy luôn phải TCGĐ khi cần xác định chất độc, chất ma túy, chấtphóng xạ, tiền giả ; Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại nếu việc đó có ý nghĩađối với vụ án và không có tài liệu khẳng định tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về
1 Xem: Giáo trình khoa học ĐTHS, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân,
2008, Tr 21.
2 Xem: Nguyễn Thêu- Lãnh án tù vì dùng cưa chém bác gái http://www.baolaocai.vn.
Trang 18tính xác thực của những tài liệu đó Nên bộ luật TTHS năm 2003 đã bổ sungthêm hai trường hợp trên bắt buộc phải TCGĐ
Ngoài ra, khả năng đáp ứng yêu cầu của hoạt động giám định còn là cơ sởthực tiễn hoàn thiện mô hình, tổ chức, hoạt động của cơ quan GĐTP, nhu cầunâng cao trình độ GĐV, tăng cường trang thiết bị hiện đại cho công tác GĐTP,
và sự hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực giám định
Nghị định 177/HĐBT quy định tổ chức giám định được thành lập ở tất cảcác lĩnh vực Nhưng thực tế điều tra cho thấy, nhu cầu giám định ở lĩnh vực vănhóa, môi trường, xây dựng là không thường xuyên Do đó, pháp lệnh GĐTPnăm 2004 đã có sự thay đổi về mô hình tổ chức giám định, và chỉ còn lại tổ chứcgiám định ở ba lĩnh vự mà số lượng yêu cầu giám định lớn- cần có sự quan tâm,đầu tư từ ngân sách nhà nước
Kết quả giám định đã hỗ trợ đắc lực cho thực tiễn điều tra, góp phần quantrọng làm cho các vụ án được giải quyết khách quan, xác thực, đúng pháp luật.Tuy nhiên, thực tiễn điều tra cũng cho thấy tổ chức và hoạt động tư pháp cầnđược nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu của hoạt động tố tụng và yêu cầu cảicách tư pháp trước sự phát triển đa dạng và phong phú của các quan hệ xã hộitrong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Mối quan hệ qua lại giữa GĐTP vàĐTHS sẽ được chứng minh cụ thể ở những phần sau
Trang 19mà lời khai chưa được kiểm tra, đối chiếu với những tình tiết sự kiện chứng cứkhác thì không thể khẳng định đó là chứng cứ Còn KLGĐ nếu được thực hiệntrên nguyên tắc “tuân thủ pháp luật, tuân theo quy chuẩn chuyên môn, trungthực, chính xác, khách quan” thì luôn có giá trị chứng minh đúng đắn, mang tínhkhách quan và khoa học, bổ sung cho việc thu thập các chứng cứ khác liên quanđến vụ án KLGĐ không chỉ xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạmtội mà còn là bằng chứng ngoại phạm của những người vô tội Những vết răngcắn tưởng chừng như vô tình, những dấu vân tay mờ ảo mà mắt thường khôngnhìn thấy, những sợi tóc tưởng như vô tri nhưng bằng những kiến thức, khoahọc kỹ thuật và kinh nghiệm thực tế của người làm giám định, tất cả đều trở lên
có ý nghĩa, tất cả đều nói lên “sự thật” của vụ án
2.1 Xác định dấu hiệu tội phạm
Trong quá trình giải quyết vụ án, khi chưa xác định được dấu hiệu tộiphạm thì mọi việc tiến hành các hoạt động điều tra, áp dụng các biện phápcưỡng chế, ngăn chặn, đối với người bị nghi là thực hiện tội phạm đều có thểdẫn đến oan sai, vi phạm quyền dân chủ của công dân, làm giảm lòng tin củanhân dân vào pháp luật Vì vậy việc xác định dấu hiệu tội phạm là một nhiệm vụquan trọng của CQĐT, đó là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền ra quyết địnhtrong quá trình THTT Theo điều 100 BLTTHS “chỉ được khởi tố vụ án hình sựkhi đã xác định có dấu hiệu tội phạm”1 Như vậy, dấu hiệu tội phạm chính là căn
cứ để khởi tố vụ án hình sự Khi xác định dấu hiệu của tội phạm chỉ cần xácđịnh có sự việc xảy ra, và có dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội (đó là
1 Xem: Điều 100, bộ luật TTHS 2003.
Trang 20những hành vi do người có NLTNHS gây ra) mà chưa cần xác định ai là ngườithực hiện hành vi phạm tội và người này có năng lực TNHS hay không
Trước những cái chết bất ngờ, không rõ nguyên nhân, ĐTV thường đặt racâu hỏi “đó là chết do tai nạn rủi ro như ngã xuống nước, đột tử vì bệnh timmạch, bị điện giật, bị uống nhầm thuốc hay những trường hợp chết do treo cổ,
tự thiêu, uống thuốc độc hay do những hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra?”
Và những GĐV với trình độ nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức sẽ giúp ĐTVnhanh chóng giải mã câu hỏi đó Dựa vào những dấu hiệu biến đổi trên tử thi,những nguồn thông tin khác, GĐV sẽ xác định có sự can thiệp của bên ngoàihay không nhằm tìm ra bản chất cái chết của nạn nhân, qua đó ĐTV xác địnhtính chất của vụ việc, định ra hướng giải quyết vụ việc, xem xét có phải giảiquyết theo thủ tục tố tụng hình sự hay không
Ví dụ Cháu Vũ Đăng Khôi sinh ngày 22/11/2005 là con anh chị VũMinh – Bùi Thu Hà hộ khẩu ở tại tập thể 524 phường Định Công, quận HoàngMai Sáng ngày 28/11/2008, chị Hà đưa cháu Khôi đến lớp học Khi giao cháucho cô giáo Lê Thị Dung, chị Hà có gửi 1 lọ thuốc xịt mũi nhãn hiệu Xisat vàdặn cô sau bữa trưa thì xịt mũi cho cháu vì đêm hôm trước cháu bị khó thở, ngạtmũi Đến 11h45' cả lớp B3 ăn trưa xong, cô giáo Dung dùng lọ Xisat chị Hà gửixịt mũi cho cháu Khôi trước khi đi ngủ Khoảng 14 giờ đến giờ sinh hoạt, họctập các cô đánh thức các cháu dậy thì phát hiện cháu Khôi nằm im trong tư thếnghiêng trái, môi tím tái Theo đề nghị của gia đình, Cơ quan Cảnh sát điều traCông an quận Hoàng Mai đã trưng cầu pháp y – Bộ Công an (CA) tiến hànhkhám nghiệm, giám định toàn diện nhằm làm rõ nguyên nhân tử vong của cháu
Vũ Đăng Khôi Ngày 23/12/2008, tại Bản KLGĐ số 2993 pháp y – Bộ CA đãkết luận: trên cơ thể cháu Khôi không có tổn thương do tác động ngoại lực,không có dị vật đường thở – phổi xung huyết, xuất huyết, có hình ảnh bệnh lý
viêm phổi Trong mẫu phủ tạng không tìm thấy chất độc Nguyên nhân chết của cháu Khôi là suy hô hấp do viêm phế quản thể hen Thuốc xịt mũi Xisat chỉ là nước muối sinh lý không gây nguy hiểm cho người sử dụng 1 Với KLGĐ pháp y
số 2993 nói trên, cái chết của cháu Khôi đã được làm sáng tỏ, còn về mặt tố tụng
1 Xem: KLGĐ giúp sáng tỏ nhiều vụ án- Nooen,
http://antg.cand.com.vn/vi-VN/ktvhkh/2009/3/68838.cand.
Trang 21cho thấy không có dấu hiệu tội phạm nên không có quyết định khởi tố vụ ánhình sự.
Tương tự với các vụ việc cố ý gây thương tích, tai nạn giao thông…cầnphải xác định mức độ tổn hại sức khỏe để có căn cứ khởi tố vụ án hình sự, khởi
tố bị can Nếu tỉ lệ thương tật dưới 11% đối với những vụ việc có tính hình sựnhưng không có những tình tiết ở vào 10 điểm từ a đến k điều 104 BLHS, hoặcnhững trường hợp tai nạn giao thông mà tỷ lệ thương tật dưới 31% sẽ không cóquyết định khởi tố vụ án hình sự Hay giám định xác định giá trị tài sản bị thiệthại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra đã đến mức phải truy cứu tráchnhiệm hình sự hay chưa (như một số tội phạm tham nhũng: điều 278, 279, 280BLHS) là căn cứ pháp lý để cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ ánhình sự Giám định các chất nghi ngờ là ma túy, chất độc, chất phóng xạ hoặcgiấy bạc nghi giả nếu nghi ngờ là không đúng cũng không có quyết định khởi tố
vụ án
Ví dụ Đặng thị Hương sinh năm 1991, trú tại xã Quang Minh, huyệnKiến Xương, Thái Bình, làm quen qua mạng với nick name “mocoime-tb2003”.Người có nick này giới thiệu là Cường, 17 tuổi, quê ở xã Bình Minh, KiếnXương Một hôm lên mạng, H tâm sự với C là mình đang thiếu tiền để mua sắm
và đóng học phí Vừa nghe vậy C đã hỏi luôn “muốn có nhiều tiền cho bằng bạnbằng bè không?” H chưa kịp trả lời C đã nói luôn: “muốn có nhiều tiền phải có
ít nhất 500.000 đồng” H hỏi lại: “dùng số tiền này làm gì tiếp để có tiền?”Cường giảng giải kĩ càng rằng sẽ dùng số tiền thật đó để mua tiền giả về tiêu H
đã xin bố mẹ 720.000 nói dối là để đóng học phí Qua webcam C cho H xem tờtiền giả mệnh giá 500.nghìn và hẹn H địa điểm để mua tiền giả Theo chỉ dẫncủa C, cuối tháng 8 năm 2008, H đến ngã ba khu vực tiếp giáp giữa xã BìnhĐịnh, huyện Kiến Xương và xã Bắc Hải huyện Tiền Hải để gặp một người đànông khoảng 40 tuổi không rõ danh tính, H hỏi “có hàng không?” người này thấyđúng ám hiệu gật đầu rồi nhận 500 nghìn và đưa lại cho H 1triệu 500 nghìn tiềngiả rồi nhanh chóng biến mất 2 ngày sau, H đem số tiền đó ra tiêu thụ Khi Hdùng tiền giả mệnh giá 200 nghìn để mua quần với giá 50 nghìn thì bị phát hiện
và bắt giữ Qua giám định, cơ quan giám định kỹ thuật hình sự tỉnh Thái Bình
kết luận: toàn bộ số tiền thu được của H đều là bạc giả tiền ngân hàng nhà
Trang 22nước Việt Nam Đặng Thị H bị phạt 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo 4 năm
thử thách về tội lưu hành tiền giả theo khoản 1 điều 180 BLHS.1
Với tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm thìviệc xác định đó có phải là một trong những loài động vật nằm trong danh mụcnhững loài quý hiếm cần được bảo vệ hay không là rất quan trọng, có ý nghĩaquyết định đến việc khởi tố vụ án hình sự
Ví dụ Ngày 4-11-2004, trong khi làm thủ tục nhập cảnh cho chuyến bay
SQ 176 (đường bay Singapore - Hà Nội), Chi cục hải quan cửa khẩu sân bayquốc tế Nội Bài đã phát hiện và tạm giữ 1 chiếc thùng có chứa 4 sừng động vậtcủa Nguyễn Toàn Thắng (sinh năm 1975, đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 13CThịnh Quang, quận Đống Đa, Hà Nội) Công tác giám định đã kết luận đây là 4chiếc sừng sau của tê giác trắng trị giá trên 1 tỉ đồng Tiếp đó, ngày 22-2-2005
và ngày 16-5-2005, cơ quan Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, cơ quan Cảnh sát điềutra Công an thành phố Hà Nội đã kiểm tra, khởi tố bị can đối với Thắng về tội
"Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm" theo quy định tạiđiều 190, khoản 1-BLHS2
Nếu có dấu hiệu tội phạm thì CQĐT khởi tố vụ án để tiến hành điều tralàm sáng tỏ vụ án Ngược lại, nếu không có dấu hiệu tội phạm thì sẽ không giảiquyết theo trình tự tố tụng hình sự, như vậy sẽ tiết kiệm được thời gian và công sứccho cơ quan THTT Trong quá trình giải quyết vụ án nếu CQĐT đã ra quyết địnhkhởi tố vụ án mà phát hiện sự việc không có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết địnhđình chỉ quyết định khởi tố vụ án, đình chỉ điều tra hoặc quyết định tố tụng khác
Ví dụ Vụ án “lập quỹ trái phép” tại Phòng Quản lý Đô thị Quận NinhKiều Vụ án khởi tố ngày 24/5/2006, sau đó khởi tố bị can 11 cán bộ (chức vụcao nhất là PGĐ Sở Xây dựng) Giữa năm 2007, Cơ quan CSĐT Công an TPCần Thơ có kết luận điều tra chuyển sang Viện KSND TP Cần Thơ, xác định,lập quỹ trái phép hơn 6,4 tỷ đồng Sau đó, thêm ba kết luận điều tra bổ sung.Trong thời gian điều tra, các KLGĐ tài chính nối tiếp nhau xuất hiện và liên tụccãi nhau Có một khoản tiền hơn 761 triệu đồng, GĐV Sở Tài chính Cần Thơkết luận có gây thất thoát Và bản KLGĐ cuối cùng của GĐV Bộ Tài chính kết
1 Xem: Báo Bảo vệ pháp luật số 14 từ ngày 17/2/2009 đến 20/2/2009.
2
Xem: Xử lý giám đốc mang 4 sừng tê giác về Việt Nam- Thu Anh, http://www.tin247.com.
Trang 23luận không gây thất thoát cho ngân sách, GĐV Bộ Tài chính đúng Tóm lại, vụ
án khởi tố gần ba năm, có sáu bản giám định tài chính, duy nhất bản của GĐV
Bộ Tài chính đúng về nội dung và trình tự thủ tục, cuối cùng đến ngày27/2/2009, vụ án được đình chỉ.1
Như vậy, sau mỗi vụ việc xảy ra có liên quan đến sự sống – chết của mộtcon người thì nhận định của các GĐV tư pháp cực kỳ quan trọng Nó giúpCQĐT định hướng tính chất vụ việc (có phải là án hay không?) để tiếp tục cóbiện pháp xử lý kịp thời
2 Xác định thủ phạm
Trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và ĐTHS nói riêng mục đíchcuối cùng là tìm ra thủ phạm Bởi tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cólỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt2 Như vậy một người do cố ýhay vô ý thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trongBLHS thì phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật Mục đích của hìnhphạt chỉ đạt được khi người thực hiện hành vi nguy hiểm đó được đưa ra ánhsáng pháp luật
Để tìm ra thủ phạm, trước hết ĐTV phải thu thập thông tin, tài liệu đểkhoanh vùng đối tượng hiềm nghi từ đó vạch ra phương hướng giải quyết đúngđắn Trên cơ sở bản KLGĐ, cùng những chứng cứ khác như lời khai của nhânchứng, của nạn nhân, mối quan hệ của nạn nhân với những đối tượng khácCQĐT sẽ xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Ví dụ Ngày 22/4/2008, anh Ngô Văn Khái (1968) ở Nam Trực- NamĐịnh bị chết chưa rõ nguyên nhân tại nhà Gia đình vội vàng mai táng rồi nóivới mọi người là anh Khái bị cảm đột ngột Dư luận quần chúng nhân dân pháthiện cái chết của anh có gì không bình thường bởi trước đó có sự xô xát vớingười nhà Theo yêu cầu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh, GĐVTTGĐPY- SH Viện KHHS đã khẩn trương tới hiện trường Kết quả khámnghiệm cho thấy anh Khái chết do bị cú đánh vào đầu làm nứt vỡ hộp sọ Quađấu tranh đã tìm ra người gây ra cái chết cho anh chính là con trai anh, hắn đã
1 Xem: Giám định cãi nhau- Sáu Nghệ, http://www.baotienphong.com.vn.
2 Xem: Giáo trình luật hình sự, tập 1, trường đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, năm 2008, tr.42.
Trang 24dùng gậy vụt vào đầu bố trong lúc xô xát.3 KLGĐ trong trường hợp này rõ ràng
đã giúp CQĐT lật ngược vụ án đưa đối tượng ra trước vành móng ngựa
Nhưng chủ thể của tội phạm theo LHS Việt Nam chỉ có thể là con người
cụ thể, do đó không phải bất cứ ai thực hiện hành vi nguy hiểm cũng đều là chủthể của tội phạm, chỉ có những người có NLTNHS và có lỗi mới là thủ phạm.Như vậy khi có sự nghi ngờ về tình trạng tâm thần cũng như độ tuổi của người
đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì phải TCGĐ để xác định xemngười đó có là chủ thể của tội phạm hay không
Trong quá trình thực hiện tội phạm, những dấu vết có nguồn gốc từ thủphạm dù cố ý hay vô ý bao giờ cũng để lại trên hiện trường, trên nạn nhân vànhững đối tượng tác động khác của tội phạm, trên công cụ, phương tiện phạmtội Do đó việc tìm ra những dấu vết của thủ phạm có ý nghĩa lớn trong quá trìnhgiải quyết vụ án Kết quả giám định lông, tóc, máu, tinh dịch, chất bài tiết, nướcbọt, vết răng để lại trên hiện trường đem lại kết quả với độ tin cậy cao, là bằngchứng không thể chối cãi của người thực hiện hành vi phạm tội
Ví dụ Từ năm 2005 đến tháng 11/2007, trên một số xã của huyện KimĐộng và thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã xảy ra nhiều vụ cướp, hiếp trắngtrợn Đối tượng dùng mũ len che kín mặt, lợi dụng trời tối, đường vắng, tấncông những phụ nữ đi một mình, hoặc đột nhập vào nhà nạn nhân khống chế,giở trò bỉ ổi và cướp tài sản Trong số hơn 30 vụ cướp, hiếp, Cơ quan CSĐTCông an tỉnh Hưng Yên thu mẫu tinh dịch của 6 vụ án với 7 nạn nhân nữ Và kếtquả giám định của các GĐV Viện KHHS cho thấy tất cả 6 vụ cướp, hiếp mà banchuyên án C09 yêu cầu giám định thì tinh trùng đều là của cùng một người.Ngày 6/11/2007, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên phối hợp với Công anhuyện Kim Động khám phá một số vụ án có tính chất tương tự những vụ cướp,hiếp thời gian qua và bắt giữ 4 đối tượng Ngày 11/11/2007, kết quả phân tích,
so sánh mẫu ADN của 4 đối tượng vừa bị bắt giữ với mẫu ADN của “ác quỷ bịtmặt” đã hoàn tất, lột được mặt nạ của "con quỷ râu xanh" Phạm Văn Tằng Hắn
là đối tượng duy nhất có mẫu ADN trùng khớp với mẫu ADN của tinh trùng để lại trong người các nạn nhân bị cướp, hiếp thời gian qua.(7) Trước những chứng
3 Xem: KLGĐ giúp sáng tỏ nhiều vụ án- Nooen,
http://antg.cand.com.vn/vi-VN/ktvhkh/2009/3/68838.cand.
Trang 25cứ khoa học đầy thuyết phục, tên Phạm Văn Tằng phải tâm phục khẩu phục, chỉcòn cách cúi đầu nhận tội chờ ngày ra trước vành móng ngựa
Dấu vân tay của thủ phạm để lại trên hiện trường có thể coi là “địa chỉ”của người đó Bởi nó có những đặc trưng như: tính riêng biệt (đường vân củacon người không ai giống ai), tính ổn định (không bị thay đổi về hình thức theo
độ tuổi hay sự lão hóa của con người), tính phục hồi cao (lớp da ngoài củađường vân bị tổn thương bong tróc thì lớp da trong sẽ thay thế lớp da ngoài vềnội dung và hình thức của đường vân) Các chuyên gia về dấu vân tay cho rằng,xác xuất xuất hiện hai người có nét vân tay giống nhau nhỏ hơn một phần tỷ.Như vậy, hầu như là không có sự trùng lặp trong đường vân của hai người Do
đó KLGĐ dấu vân tay sẽ có giá trị truy nguyên thủ phạm
Ví dụ Như thường lệ, vào khoảng 18h ngày 5-11-2007, mẹ bề trênNguyễn Thị Ơn và các nữ tu khóa cửa tu viện để sang một nhà thờ gần đấy đểđọc kinh Khi đọc xong vào khoảng 20h các sơ quay về nhà dòng thì mẹ bề trênphát hiện cửa nhà bếp bị cạy tung, kiểm tra phòng ngủ thấy cây nến đang cháy
dở, đồ đạc trong phòng bị kẻ gian lục tung Toàn bộ số tài sản tổng giá trị gần
400 triệu đồng để trong ngăn tủ bị lấy mất Trong lúc cán bộ, trinh sát của phòng
kĩ thuật hình sự khẩn trương, tỉ mẩn làm nhiệm vụ truy xét dấu vân tay tên trộm,CQĐT công an huyện Đức Trọng tập trung công tác sàng lọc các đối tượng nghivấn Nhiều ngày liền, CQĐT đã mời khoảng 40 đối tượng đến đấu tranh trựcdiện Những cái tên được loại dần và từ thông tin trinh sát cuối cùng bật nên mộtcái tên nổi cộm: Nguyễn Quốc Hưng (SN 1984), tạm trú thôn K’nai, xã PhúHội, huyện Đức Trọng Ngày 3-1-2008 Hưng nhận được giấy triệu tập lên công
an huyện Đức Trọng Trước CQĐT lúc đầu Hưng cố giữ vẻ bình tĩnh và một mựccãi mình có chứng cứ ngoại phạm Để Hưng phải tâm phục khẩu phục CQĐT đã so
sánh dấu vân tay tại hiện trường và của chính Hưng, kết quả cho thấy hai dấu vân tay là của một người Nguyễn Quốc Hưng phải cúi đầu nhận tội.1
Công việc truy tìm thủ phạm quả là gian nan và vất vả, ĐTV phải thu thậpnhững thông tin, chứng cứ trong đó có bản kết luận GĐTP- được coi là minhchứng sống giúp CQĐT xác định thủ phạm
1 Xem: Trần Quân- Dấu vân tay tại hiện trường, báo ANTĐ số 2237, thứ ba, ngày 22-1-2008
Trang 262.3 Xác định năng lực TNHS của người thực hiện tội phạm, năng lực nhận thức và khả năng khai báo đúng đắn của người bị hại, người làm chứng
Chủ thể của tội phạm chỉ có thể là người có NLTNHS, đó là điều kiện cầnthiết để xác định người đó có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội,pháp luật không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người không cókhả năng nhận thức được hành vi của mình hay nói chung là không có lỗi.Người có NLTNHS theo pháp luật Việt nam là người đã đạt độ tuổi chịu TNHS(16 tuổi với mọi tội phạm, từ 14 đến chưa đủ 16 tuổi với tội rất nghiêm trọng do
cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng) và không thuộc trường hợp không cóNLTNHS (Điều 13 BLHS) Do đó trong những vụ án mà việc xác định tuổi của
bị can có ý nghĩa quyết định đến việc truy cứu TNHS và không có tài liệu khẳngđịnh tuổi hay có sự nghi ngờ về tính xác thực của tài liệu đó thì CQĐT phảiTCGĐ để xác định tuổi thực của người đó Việc xác định độ tuổi chủ yếu dựavào kết quả giám định răng và xương Xác định tuổi qua xương trẻ nhỏ và thiếuniên chủ yếu dựa vào các yếu tố thể hiện sự phát triển cơ thể như: chiều cao cơthể, cân nặng, sự cốt hóa xương, sự xuất hiện và rụng răng sữa, mọc răng khôn,
độ mòn của răng Xác định tuổi qua xương người trưởng thành dựa vào sự cốthóa các sụn tiếp, mức độ liền của các đầu xương vào thân xương, của các khớpxương sọ, các đốt xương ức, dựa vào sự biến đổi của các đầu xương sườn, tủyxương và sự biến đổi của răng Việc xác định tuổi của người thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội không chỉ giúp CQĐT có cở xác định NLTNHS củangười đó mà còn xác định giải quyết vụ việc theo trình tự thủ tục nào: thủ tục tốtụng hình sự bình thường hay thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên
Còn về NLTNHS, theo điều 13BLTTHS “người ở trong tình trạng không
có NLTNHS là người đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khảnăng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi”1 Như vậy, việc xác định tìnhtrạng tâm thần của bị can trong trường hợp có sự nghi ngờ về NLTNHS của họ
là cần thiết và có tính bắt buộc để xác định người đó có phải chịu trách nhiệm vềhành vi nguy hiểm mà họ đã thực hiện hay không Người bị bệnh tâm thần vìkhông nhận thức được tác hại hay không kiềm chế bởi các rối loạn tâm thần chiphối, do đó được miễn hoàn toàn hay giảm một phần NLTNHS về hành vi phạm
1 Xem: điều 13, bộ luật TTHS năm 2003.
Trang 27pháp của mình Căn cứ vào hồ sơ điều tra về nhân thân của bị can, các GĐVpháp y tâm thần xác định được bị can có bị bệnh hay không? bệnh gì? Mức độnặng hay nhẹ? Còn hay mất hay giảm khả năng nhận thức và kiềm chế hành vi?
Ví dụ Lê Bá Tuyến sinh năm 1982, là anh em con chú con bác với cháu
Lê Bá Hoài sinh năm 1994, xóm Ải, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, tỉnh HàTây Sáng ngày 30/1/2005 cháu Hoài vừa mua được gói xôi về đến nhà chưa kịp
ăn thì đúng lúc Tuyến đi đâu về cả đêm vừa về tới liền đòi xôi của Hoài Hoài
cự lại không cho, Tuyến to tiếng “đưa đây, tao là anh mày, tao chỉ có nói đúng”,cháu Hoài cầm gói xôi chạy quanh sân, Tuyến không giành được xôi liền vớngay cuốc dựng cạnh vách bếp đuổi theo bổ liên tiếp mấy nhát vào đầu làm hoàichết ngay tại chỗ Cụ Lê Bá Đệ- ông nội của hai anh em hoảng hốt chạy từ trongnhà ra, chưa kịp la mắng thì bị Tuyến vung cuốc bổ vào đầu, may mà chỉ bịchấn thương sọ não Tuyến vứt cuốc bỏ chạy bị nhân dân vây bắt đưa về công
an huyện Thanh Oai Cơ quan cảnh sát điều tra làm thủ tục đưa Tuyến đi giám
định tâm thần GĐV kết luận: Tuyến mắc bệnh tâm thần phân liệt và hành vi phạm tội giết người xảy ra trong giai đoạn toàn phát, phải áp dụng chế độ giam
giữ và điều trị bắt buộc1 Như vậy, thông qua KLGĐ pháp y tâm thần, CQĐTkết luận về khả năng chịu TNHS của người đã thực hiện hành vi nguy hiểm.Thay vì bị áp dụng thủ tục tố tụng hình sự bình thường như đối với người cóhành vi phạm tội, thì giờ đây với bản KLGĐ này, Tuyến phải bị áp dụng thủ tụcbắt buộc chữa bệnh Đây cũng điểm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật ViệtNam, không những nhằm ngăn chặn nguy cơ gây hại đối với những người xungquanh, mà còn tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của người bị bệnh tâm thần
Hiện nay có nhiều kẻ phạm tội đã lợi dụng điểm này, có những hành vingây ngô, giả điên để trốn tránh trách nhiệm hình sự Vì vậy cần phải được xemxét giám định khi cần xử lý về mặt pháp luật đảm bảo sự công minh, công bằngcủa mỗi công dân trước pháp luật
Ví dụ Tối một ngày tháng 4-2008, tại nhà riêng ở xã Quý Đức (BìnhChánh), Thanh bị vợ cằn nhằn về chuyện không giặt đồ và hay đánh con Sau
đó, Thanh đề cập đến chuyện “quan hệ vợ chồng” thì bị vợ từ chối vì Thanh
1 Xem: Việt Anh- khi bệnh nhân tâm thần có hành vi nguy hiểm vẫn chung sống với cộng đồng, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 9/2007, tr 19.
Trang 28đang mắc bệnh thủy đậu nên hai người cãi nhau Thanh chạy xuống bếp lấy mộtcon dao lên dọa sẽ đâm vợ Bị vợ thách thức “có giỏi thì đâm đi!”, Thanh liềnsấn tới đâm liền sáu nhát vào ngực làm người vợ bất tỉnh tại chỗ Ngay sau đó,người nhà đạp cửa phòng vào giải cứu và đưa người vợ đi cấp cứu nhưng nạnnhân đã chết vì bị đâm thấu tim Sau khi bị bắt, Thanh tỏ ra ngây ngô, khai báo
lung tung nên CQĐT đã TCGĐ tâm thần và kết luận: Thanh hoàn toàn bình thường Tại tòa, Thanh vẫn cố tình tỏ ra chậm hiểu, thường trả lời không biết
khi tòa hỏi nhưng không thể thoát khỏi hình phạt thích đáng TAND TP.HCM
đã tuyên phạt Phạm Văn Thanh 20 năm tù về tội giết người và buộc phải bồithường tổn thất tinh thần cho phía nạn nhân gần 11 triệu đồng.1 Kết quả giámđịnh tâm thần đó đã vạch mặt kẻ có hành vi phạm tội “giả điên” phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội lỗi mình đã gây ra
Lời khai của người làm chứng, người bị hại là một trong những nguồnchứng cứ quan trọng để xác định sự thật vụ án Chỉ sử dụng những lời khai của
họ để chứng minh nếu đảm bảo tính chính xác và khách quan Việc giám định
để xác định tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trongtrường hợp có sự nghi ngờ về năng lực nhận thức và khai báo đúng đắn các tìnhtiết của vụ án có ý nghĩa trong việc giúp CQĐT trong việc đánh giá chứng cứ.Ngoài ra kết quả giám định còn có ý nghĩa trong việc xác định tư cách tố tụng của
họ Điểm b, khoản 2 điều 55 BLTTHS “người do có nhược điểm về tâm thần hoặcthể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không
có khả năng khai báo” thì không được làm chứng Nếu là người bị hại thì cần phải cóđại diện hợp pháp tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho họ
Giám định páp y tâm thần là một trong những bộ phận của GĐTP cónhiệm vụ xác định trạng thái sức khỏe tâm thần của bị can, bị cáo, người bị hại,người làm chứng Công tác giám định này được sự quan tâm của nhiều nước, ởnước Nga từ năm 1669 đã có những lệnh quy định những người bị bệnh tâmthần đều bị xem là mất năng lực trách nhiệm và được miễn xét xử khi phạmpháp Còn ở nước ta, pháp y tâm thần bắt đầu được triển khai từ sau năm 1975, từ
đó đến nay công tác này được quan tâm nhiều hơn và có những đóng góp đáng kể
1 Xem: KLGĐ giúp sáng tỏ nhiều vụ án- Nooen,
http://antg.cand.com.vn/vi-VN/ktvhkh/2009/3/68838.cand.
Trang 29trong hoạt động tố tụng KLGĐ là căn cứ để CQĐT xác định NLTNHS của bị can,cũng như xác định khả năng khai báo đúng đắn của những đối tượng trên.
2.4 Xác định công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội
Công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội luôn phản ánh mức độ, tính chấtnguy hiểm của hành vi phạm tội Tội phạm mà chúng thực hiện càng nghiêmtrọng, nguy hiểm bao nhiêu thì công cụ, phương tiện phạm tội càng được chuẩn
bị kỹ lưỡng và thủ đoạn phạm tội càng tinh vi xảo quyệt bấy nhiêu
Phương tiện phạm tội là những đối tượng được chủ thể của tội phạm sửdụng để thực hiện hành vi phạm tội của mình Công cụ phạm tội là dạng cụ thểcủa phương tiện phạm tội ví dụ như dao để đâm, kéo để cắt, súng, cuốc, chúng
có thể là bất cứ vật gì có khi được chuẩn bị trước mà cũng có khi chúng đượctận dụng tại hiện trường Thông thường khi thực hiện xong hành vi phạm tội,thủ phạm thường tìm mọi cách để che giấu những công cụ mà mình đã thực hiệnphạm tội như chôn con dao gây án xuống đất, sơn xửa lại chiếc xe đã gây tai nạn,hay cũng có khi chúng để lại nhà người khác nhằm vu oan cho họ Do đó, việc tìm
ra dấu vết của những công cụ đó là rất khó GĐTP là công cụ sắc bén giúp CQĐTxác định công cụ phạm tội là vật gì? Đặc điểm, hình dáng, kích thước, chức năng,vật tìm được tại hiện trường có phải là công cụ gây án hay không?
Ví dụ Ngày 18/4/2008, tại số nhà 32 phường Việt Hưng, quận LongBiên, Hà Nội phát hiện chị Lương Lan Anh sinh năm 1978 chết chưa rõ nguyênnhân, trên cổ có chiếc khăn vải buộc chặt Theo đối tượng Bùi Xuân Khánh làchồng nạn nhân khai thì chị Lan Anh do mâu thuẫn nhất thời đã dại dột tự tửtrong lúc anh ta không có nhà Qua công tác khám nghiệm và giám định pháp y,GĐV của Trung tâm đã kết luận: Chị Lan Anh không tự sát, vùng cổ nạn nhân
có dấu vết bầm tím do bóp cổ chèn ép đường hô hấp, chiếc khăn vải quấn quanh
cổ được buộc vào sau khi nạn nhân chết để làm giả hiện trường hòng đánh lừa
Cơ quan công an Căn cứ vào kết luận của GĐV TTGĐPV-SH Viện KHHS cácĐTV liên tục đấu tranh với đối tượng Bùi Xuân Khánh Cuối cùng trước nhữngchứng cứ giám định khoa học Bùi Xuân Khánh đã phải cúi đầu nhận tội và diễnlại quá trình giết vợ hoàn toàn khớp với nhận định pháp y.1
1 Xem: KLGĐ giúp sáng tỏ nhiều vụ án- Nooen,
http://antg.cand.com.vn/vi-VN/ktvhkh/2009/3/68838.cand.