PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hỏi cung bị can là một trong những biện pháp điều tra công khai, phổ biến và hiệu quả nhất trong quá trình điều tra các vụ án hình sự. Thực tiễn hoạt động điều tra cho thấy, hiệu quả của hoạt động hỏi cung bị can phụ thuộc nhiều vào thái độ khai báo của bị can. Lời khai trung thực, đầy đủ là những nguồn chứng cứ rất có giá trị. Ngược lại, lời cung giả dối, bịa đặt lại rất nguy hiểm, có thể làm cho điều tra viên nhận định sai sự thật, bỏ lọt kẻ phạm tội, làm oan người vô tội, gây tổn thất cho xã hội. Tâm lý học hiện đại đã xác định rằng đặc điểm tâm lý nổi bật của bị can là phản ứng phòng vệ. Bị can ban đầu thường phủ nhận tội lỗi của mình, chỉ thừa nhận mình có lỗi khi cán bộ điều tra đưa ra những chứng cứ. Để bị can chịu từ bỏ thái độ ngoan cố, không thành khẩn khai báo sang thành khẩn khai báo, điều tra viên phải sử dụng các phương pháp và chiến thuật phù hợp tác động đến bị can, xoá đi những nguyên nhân tâm lý tiêu cực kìm hãm sự khai báo, nuôi dưỡng và thúc đẩy động cơ khai báo khai báo tích cực hơn. Việc sử dụng linh hoạt, mềm dẻo các chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo là yếu tố quan trọng để buộc bị can phải chịu khai và khai tốt, từ đó nâng cao hiệu quả của hoạt động hỏi cung. Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những kết quả đạt được, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đang được bộc lộ rõ nét. Tội phạm gia tăng với những hành vi vi phạm ngày càng tinh vi, phức tạp. Kẻ phạm tội, nhất là bọn phản động, bọn lưu manh chuyên nghiệp, những phần tử chuyên sống bằng đầu cơ, buôn lậu, làm ăn phi pháp ... thường rất gian ngoan, xảo quyệt. Riêng bọn tình báo gián điệp thì việc khai báo như thế nào khi bị bắt, là một bài học đã được trang bị kỹ. Để chúng chịu thành khẩn khai báo, điều tra viên phải là người nắm vững phương pháp, chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo, đồng thời phải biết kiên trì, bền bỉ, linh hoạt và mưu trí mới mong thu được thắng lợi. Trong những năm qua, những vấn đề lý luận cơ bản về chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo cũng đã được nghiên cứu và quan tâm đáng kể. Tuy nhiên, có rất ít công trình độc lập nghiên cứu riêng về vấn đề này. Thực tiễn áp dụng chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo cũng còn nhiều thiếu sót và hạn chế, nhiều trường hợp bỏ lọt kẻ phạm tôi, làm oan người vô tội. Thực tế đó đã thúc đẩy em chọn đề tài “Những vấn đề lý luận cơ bản về chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo” làm khoá luận tốt nghiệp với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé trong việc hoàn thiện lý luận về chiến thuật hỏi cung bị can nói chung và chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động hỏi cung.
Trang 1CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CHIẾN THUẬT HỎI CUNG BỊ CAN TRONG TRƯỜNG HỢP BỊ CAN KHÔNG THÀNH KHẨN KHAI BÁO 16
2.1 Những quy định chung của chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo 16 2.2 Phương pháp và chiến thuật hỏi cung cụ thể trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo 18 2.3 Đặc điểm trình tự tiến hành hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo 21
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN LÝ LUẬN VỀ CHIẾN
THUẬT HỎI CUNG BỊ CAN TRONG TRƯỜNG HỢP BỊ CAN KHÔNG THÀNH KHẨN KHAI BÁO 44
3.1 Hoàn thiện về tổ chức cơ quan điều tra và đội ngũ điều tra viên 44 3.2 Hoàn thiện về chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo 47 3.3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hỏi cung bị can 51
KẾT LUẬN 54
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hỏi cung bị can là một trong những biện pháp điều tra công khai, phổ biến
và hiệu quả nhất trong quá trình điều tra các vụ án hình sự Thực tiễn hoạt độngđiều tra cho thấy, hiệu quả của hoạt động hỏi cung bị can phụ thuộc nhiều vàothái độ khai báo của bị can Lời khai trung thực, đầy đủ là những nguồn chứng cứrất có giá trị Ngược lại, lời cung giả dối, bịa đặt lại rất nguy hiểm, có thể làm chođiều tra viên nhận định sai sự thật, bỏ lọt kẻ phạm tội, làm oan người vô tội, gâytổn thất cho xã hội Tâm lý học hiện đại đã xác định rằng đặc điểm tâm lý nổi bậtcủa bị can là phản ứng phòng vệ Bị can ban đầu thường phủ nhận tội lỗi củamình, chỉ thừa nhận mình có lỗi khi cán bộ điều tra đưa ra những chứng cứ Để bịcan chịu từ bỏ thái độ ngoan cố, không thành khẩn khai báo sang thành khẩn khaibáo, điều tra viên phải sử dụng các phương pháp và chiến thuật phù hợp tác độngđến bị can, xoá đi những nguyên nhân tâm lý tiêu cực kìm hãm sự khai báo, nuôidưỡng và thúc đẩy động cơ khai báo khai báo tích cực hơn Việc sử dụng linhhoạt, mềm dẻo các chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can khôngthành khẩn khai báo là yếu tố quan trọng để buộc bị can phải chịu khai và khaitốt, từ đó nâng cao hiệu quả của hoạt động hỏi cung
Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Bên cạnh những kết quả đạt được, mặt trái của nền kinh tế thị trườngcũng đang được bộc lộ rõ nét Tội phạm gia tăng với những hành vi vi phạm ngàycàng tinh vi, phức tạp Kẻ phạm tội, nhất là bọn phản động, bọn lưu manh chuyênnghiệp, những phần tử chuyên sống bằng đầu cơ, buôn lậu, làm ăn phi pháp thường rất gian ngoan, xảo quyệt Riêng bọn tình báo gián điệp thì việc khai báonhư thế nào khi bị bắt, là một bài học đã được trang bị kỹ Để chúng chịu thànhkhẩn khai báo, điều tra viên phải là người nắm vững phương pháp, chiến thuật hỏicung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo, đồng thời phảibiết kiên trì, bền bỉ, linh hoạt và mưu trí mới mong thu được thắng lợi
Trong những năm qua, những vấn đề lý luận cơ bản về chiến thuật hỏi cung
bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo cũng đã được nghiên
Trang 3cứu và quan tâm đáng kể Tuy nhiên, có rất ít công trình độc lập nghiên cứu riêng
về vấn đề này Thực tiễn áp dụng chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bịcan trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo cũng còn nhiều thiếu sót
và hạn chế, nhiều trường hợp bỏ lọt kẻ phạm tôi, làm oan người vô tội Thực tế
đó đã thúc đẩy em chọn đề tài “Những vấn đề lý luận cơ bản về chiến thuật hỏi
cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo” làm khoá luận
tốt nghiệp với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé trong việc hoàn thiện lýluận về chiến thuật hỏi cung bị can nói chung và chiến thuật hỏi cung bị can trongtrường hợp bị can không thành khẩn khai báo nói riêng, góp phần nâng cao hiệuquả của hoạt động hỏi cung
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khoá luận là trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lýluận cơ bản về chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thànhkhẩn khai báo để đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện lý luận về chiến thuậthỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận là làm rõ những nộidung cơ bản của trường hợp bị can không thành khẩn khai báo; đặc điểm chiếnthuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo, cáckiến nghị nhằm hoàn thiện lý luận về chiến thuật hỏi cung bị can trong trườnghợp bị can không thành khẩn khai báo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là những quan điểm, quan niệm vềchiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo.Với đối tượng này, phạm vi nghiên cứu của khoá luận là những vấn đề lý luận cơbản về chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khaibáo như: Khái niệm, nguyên nhân của trường hợp bị can không thành khẩn khaibáo; Đặc điểm chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thànhkhẩn khai báo
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Khoá luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng,duy vật lịch sử Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhànước ta về công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm Trong khoá luận, cácphương pháp cụ thể sau được sử dụng: Phương pháp phân tích, phương pháp sosánh, phương pháp tổng hợp
6 Kết cấu khoá luận
Khoá luận gồm: phần mở đầu, phần nội dung, kết luận và danh mục các tàiliệu tham khảo Phần nội dung của khoá luận gồm ba chương:
Chương 1: Nhận thức chung về trường hợp bị can không thành khẩn khai báo.
Chương 2: Đặc điểm chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện lý luận về chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo.
Trang 5CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TRƯỜNG HỢP BỊ CAN KHÔNG THÀNH
KHẨN KHAI BÁO
1.1 KHÁI NIỆM TRƯỜNG HỢP BỊ CAN KHÔNG THÀNH KHẨN KHAI BÁO
Một người theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, sẽ trở thành bị cankhi bị cơ quan điều tra có đủ căn cứ xác định họ đã thực hiện tội phạm và ra quyếtđịnh khởi tố bị can Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Bị can là người đã
bị khởi tố về hình sự” Đó là những người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự,xâm hại đến khách thể nào đó được pháp luật hình sự bảo vệ, bị Cơ quan điều trahoặc Viện kiểm sát khởi tố và áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết để tiếnhành điều tra Trong hoạt động điều tra, hỏi cung là một biện pháp tố tụng quantrọng, được điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can Bịcan được coi là đối tượng đấu tranh trực tiếp, chủ yếu của cơ quan điều tra Lờikhai của bị can đóng vai trò vô cùng quan trọng và nhiều khi là quyết định trongviệc khám phá, tìm ra sự thật của vụ án Mục đích chủ yếu của hoạt động hỏicung là thu được lời khai chân thật, đúng đắn và đầy đủ từ bị can về vụ án vànhững tin tức khác có ý nghĩa đối với việc mở rộng công tác đấu tranh chống tộiphạm Thực tiễn cho thấy, hiệu quả của hoạt động điều tra hỏi cung lấy lời khai bịcan phụ thuộc nhiều vào thái độ hợp tác của bị can với cơ quan điều tra trong việclàm sáng tỏ sự thật của vụ án Làm thế nào để bị can chịu khai và khai tốt là vấn
đề mấu chốt nhất cũng là khúc mắc nhất trong công tác hỏi cung bị can Bị can,sau khi bị phát giác hoặc bị bắt giữ, có người nhận tội ngay và xin khai hết sựthật, nhưng số này rất ít, còn phần lớn không nhận hoặc không chịu khai hết sựthật Đây chính là trường hợp bị can không thành khẩn khai báo
Trong quá trình hỏi cung, bị can thường có nhiều lý do để khai báo haykhông khai báo Đây là nguyên nhân của sự đấu tranh giữa các động cơ bên trongcủa bị can: Đấu tranh giữa các nhân tố tâm lý tích cực thúc đẩy sự khai báo và cácyếu tố tâm lý tiêu cực kìm hãm sự khai báo Trong trường hợp bị can không thànhkhẩn khai báo thì một trong những đặc điểm tâm lý thường thấy ở hầu hết các bịcan là tâm lý quanh co, chối tội, khai báo nhỏ giọt, thiếu thành khẩn Đây là nét
Trang 6tâm lý phản ánh bản chất của bị can, phản ánh sự sợ hãi, sợ bị tội nặng Bị canphạm tội nặng thường ý thức được một cách rõ ràng về tính chất đặc biệt quantrọng của khách thể bị xâm hại, thấy được trách nhiêm hình sự nặng nề do cáchành vi phạm tội của mình gây nên Chính vì vậy, ngay từ đầu bị can đã tìm cáchche giấu tội lỗi của mình, tìm cách chứng minh sự vô tội, thanh minh cho cáchành vi vi phạm Nhiều bị can chối cãi, trả lời không biết, kêu oan hay đòi kiệnlên cấp trên Bị can cũng thường quanh co với hy vọng kéo dài thời gian để suytính đối phó, trông chờ vào sự can thiệp, cứu giúp từ bên ngoài Mặt khác, bị cancũng thường có tâm lý sợ tội nặng, sợ bị sự trừng phạt nghiêm khắc của phápluật Có nhiều bị can lại tỏ ra chán chường, tự cho rằng mình không còn tương lainên có tâm trạng buồn bã, thờ ơ, không muốn tiếp xúc với điều tra viên, khôngmuốn khai báo Từ đó tạo nên thái độ khai báo không thành khẩn ở bị can, bịcan thường quanh co, chối tội, khai báo nhỏ giọt, thậm chí là khai báo sai sự thật
Trường hợp bị can không thành khẩn khai báo thường có hai dạng phổ biếnsau:
- Bị can từ chối khai báo
Pháp luật không buộc bị can phải khai báo cũng như không cấm bị can khaibáo gian dối Chính vì vậy, khi bị can từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối, họkhông phải chịu trách nhiệm hình sự về các hành vi đó theo điều tương ứng của
Bộ luật hình sự Trong quá trình hỏi cung không hiếm trường hợp xảy ra tìnhhuống bị can từ chối không khai báo như: “Tôi vô tội, các anh bắt nhầm, oan chotôi” Để làm rõ những lời khẳng định này của bị can có phù hợp với thực tế haykhông là nhiệm vụ không đơn giản
Biểu hiện của trường hợp bị can từ chối khai báo là bị can có thái độ chây
lì, không trả lời các câu hỏi do điều tra viên đã sử dụng hoặc không thừa nhậnmình đã thực hiện hành vi phạm tội Tư tưởng này thường xuất hiện ở những bịcan là kẻ chủ mưu, là kẻ trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, là kẻ có nhiều tiền
án, tiền sự, có kinh nghiệm chống đối trong khai báo, sợ khai nhận sẽ bị mức phạtchung thân hoặc tử hình, do đó đã ngoan cố không khai nhận, nhằm lẩn tránhtrách nhiệm hình sự
- Bị can khai báo gian dối
Trang 7Đây là tình huống điều tra khá phổ biến, trong tình huống này, bị can đãkhai báo sai sự thật hoặc khai báo xen kẽ giữa sự thật và giả dối Bị can thường
có sự chuẩn bị từ trước nhằm mục đích che giấu tội lỗi, lẩn tránh trách nhiệmhình sự mà lẽ ra mình phải gánh chịu Những bị can khai báo gian dối thường là
bị can chủ mưu trong vụ án có đồng phạm, những bị can có nhiều tiền án, tiền sự,
có kinh nghiệm đối phó trong khai cung và những bị can từng trải, có bản tính dốitrá, thiếu trung thực
Điều tra viên có thể phát hiện được sự gian dối trong lời khai của bị cantrong quá trình hỏi cung bị can khi thấy lời khai của bị can mâu thuẫn lẫn nhau,lời khai luôn thay đổi, thiếu sự logic bên trong của nó hoặc không phù hợp vớinhững chứng cứ khác đã được kiểm tra, xác minh Sự gian dối trong lời khai của
bị can cũng có thể phát hiện được sau khi đã hỏi cung, khi điều tra viên tiến hànhkiểm tra những lời khai đó bằng các biện pháp điều tra khác hoặc thu được nhữngchứng cứ mới mâu thuẫn với lời khai của bị can
Có thể nhận biết được thái độ không thành khẩn khai báo của bị can thôngqua các dấu hiệu như:
- Bị can từ chối trả lời các câu hỏi do điều tra viên đưa ra hoặc không thừanhận mình đã thực hiện hành vi phạm tội
- Lời khai của bị can mâu thuẫn lẫn nhau, lời khai luôn thay đổi, thiếu sựlogic bên trong của nó
- Lời khai của bị can mâu thuẫn với nhứng chứng cứ xác thực trong vụ án …Thái độ không thành khẩn khai báo của bị can cũng được thể hiện ở nhiềumức độ khác nhau: Có thể bị can từ chối khai báo tất cả các câu hỏi do điều traviên đưa ra hoặc bị can có đưa ra lời khai nhưng toàn bộ nội dung lời khai của bịcan đều không đúng với sự thật khách quan của vụ án, cũng có thể bị can chỉ từchối khai báo một số câu hỏi nhất định của điều tra viên hoặc trong nội dung lờikhai của bị can có một số nội dung là đúng, một số nội dung lại không đúng với
sự thật khách quan của vụ án
Như vậy, trường hợp bị can không thành khẩn khai báo có thể được hiểunhư sau:
Trang 8Bị can không thành khẩn khai báo là trường hợp bị can không trả lời các câu hỏi do điều tra viên đưa ra hoặc đưa ra lời khai có nội dung không đúng với
sự thật khách quan của vụ án hoặc vừa đúng vừa sai.
Cần chú ý phân biệt giữa trường hợp bị can không thành khẩn khai báo vớicác trường hợp sau:
- Trường hợp bị can khai báo nhầm lẫn do nguyên nhân khách quan
Bị can khai báo nhầm lẫn do nguyên nhân khách quan là trường hợp bị cankhai không đúng sự thật do những nguyên nhân khách quan như quá trình tiếpnhận thông tin ở bị can đã có sự nhầm lẫn; bị ảnh hưởng tác động của các yếu tốkhách quan; diễn biến sự việc phạm tội phức tạp, có đông người tham gia; hànhđộng phạm tội trong tình trạng bị kích động; bị lẫn lộn, bị lãng quên do vụ án đãxảy ra quá lâu … Khi bị can không có khả năng trình bày một cách rõ ràng sựviệc thì thông tin thu được qua lời khai của họ cũng dễ bị sai lệch, không đầy đủ
và thiếu logic
Để phân biệt được đó là trường hợp bị can khai báo gian dối hay trườnghợp bị can bị can khai báo nhầm lẫn do nguyên nhân khách quan không phải đơngiản Nhiều trường hợp điều tra viên gặp phải bị can là người từng trải, có tiền án,tiền sự, biết cách đối phó trong khai cung nên giả vờ khai báo lẫn lộn, ngụy tạo làquên không nhớ để che giấu hành vi phạm tội của mình Vì vậy trường hợp nàycần phân biệt rõ động cơ khai báo của bị can là do khách quan hay do bị can chủđộng khai báo gian dối
Thực tế thì bị can chỉ có thể nhầm lẫn ở những tình tiết của vụ án như: lẫnlộn ngày, giờ gây án, khai sai thứ tự về hành vi đã thực hiện, khai thiếu một sốđộng tác đã thực hiện hành vi phạm tội Bị can không thể khai nhầm lẫn cáctình tiết cơ bản như: Động cơ phạm tội, hung khí gây án, số lượng đồng bọn trong
vụ án … Đặc biệt trong vụ án có dự mưu, thủ phạm có sự tính toán, chuẩn bị từtrước thì bị can không thể do nguyên nhân khách quan mà quên được
- Trường hợp bị can khai đúng nhưng điều tra viên cho là lời khai của bịcan sai, bị can ngoan cố quanh co che giấu tội lỗi của mình
Trong hỏi cung bị can thường xảy ra mâu thuẫn gay gắt giữa một bên làđiều tra viên mong muốn làm rõ sự thật của vụ án với một bên là bị can luôn tìm
Trang 9mọi cách che giấu sự thật, cản trở quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án
để trốn tránh trách nhiệm hình sự Ấn tượng tiêu cực đối với bị can là đặc điểmtâm lý phổ biến thường có ở hầu hết các điều tra viên Thường thì ấn tượng tiêucực trên đây có nguyên nhân sâu xa từ các hành vi phạm tội, ý thức chống đối, sựngoan cố hay do các đặc điểm xấu trong nhân cách của bị can tạo ra
Ấn tượng tiêu cực, đối lập của điều tra viên đối với các bị can thườngkhông có lợi, nhất là trong việc xây dựng nền tảng, thiết lập mối quan hệ tâm lýtích cực giữa điều tra viên và bị can trong quá trình hỏi cung Khi có ấn tượng,định kiến xấu đối với bị can, điều tra viên dễ có khuynh hướng áp đặt, truy chụp,không tích cực hướng dẫn nhận thức cho bị can, dễ bỏ qua cơ hội sử dụng tácđộng tâm lý làm thay đổi thái độ khai báo của bị can Mặt khác, ấn tượng tiêu cựccủa điều tra viên còn làm cho điều tra viên coi thường, đánh giá thấp lời khai của
bị can Từ đó, tạo nên thái độ thiếu khách quan trong quá trình hỏi cung, khai thácthông tin Nó thể hiện ở chỗ các điều tra viên thường chú ý hướng các biện pháptác động vào việc khai thác tài liệu, chứng cứ buộc tội bị can mà dễ quên đinhững thông tin, những tình tiết có ý nghĩa gỡ tội hay chứng minh giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho bị can Chính vì vậy, đã có không ít các trường hợp mặc dù lờikhai của bị can là đúng nhưng điều tra viên lại cho là sai, không ghi lại những lờikhai đó Điều này đã gây ảnh hưởng xấu đối với hoạt động hỏi cung, mục đíchcủa cuộc hỏi cung không đạt được Điều tra viên cần nhận thức đầy đủ những néttâm lý tiêu cực của mình đối với bị can để tìm cách khắc phục, hạn chế ảnhhưởng của chúng đối với hoạt động hỏi cung, từ đó có thái độ khách quan khixem xét, đánh giá lời khai của bị can
Vụ án “giết người, cướp tài sản của công dân” xảy ra tại xã Tân Minh, huyện HàmTân, tỉnh Bình Thuận vào tháng 5/1993 mà dư luận đặt tên là “Vụ án vườn điều” là một
ví dụ điển hình cho việc thiếu khách quan trong hỏi cung của điều tra viên Đây là mộttrong những vụ án oan sai lớn nhất từ trước tới nay Một gia đình gồm 9 người thuộc bathế hệ đã bị khởi tố, bắt tạm giam trong nhiều năm và sau các phiên toà xét xử, cuối cùng
họ đã được cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an ra quyết định đình chỉ điều tra bị can vàđược trả tự do vào năm 2005 Trong quá trình điều tra vụ án, điều tra viên được giao tráchnhiệm thụ lý vụ án đã có nhiều hành vi vi phạm pháp luật không thể chấp nhận được Khi
Trang 10được cử đến ban chỉ huy Công an xã Xuân Hoà để liên hệ công tác và phối hợp thu thậpchứng cứ xung quanh vụ án đang thụ lý, trong quá trình lấy lời khai một nhân chứng đãkhẳng định tình tiết ngoại phạm của bị can, điều tra viên to tiếng với nhân chứng này vàtuyên bố: “Vụ án đã rõ 5 năm trước mấy ông kia làm để chìm xuống chứ tao làm là bắthết ” Với định kiến này, điều tra viên đã có thái độ thiếu khách quan trong quá trìnhđiều tra vụ án Điều này dễ giải thích vì sao biên bản ghi lời khai của nhân chứng khẳngđịnh tình trạng ngoại phạm của bị can Huỳnh Văn Nén đã không được điều tra viên đưavào hồ sơ vụ án Khi làm báo cáo về việc xác minh lời khai của bị can, điều tra viên đãghi: “Các lời khai này do không phải chứng cứ trực tiếp chứng minh hành vi phạm tộicủa Nén và đồng bọn nên không bỏ trong hồ sơ Vì vậy, lâu ngày quá bị thất lạc, naykhông có khả năng tìm lại” Còn bị can Nguyễn Thị Lâm cho biết, cơ quan điều tra đãquay 07 cuộn băng và bắt bị can khai đi khai lại nhiều lần để chọn được một cuộn bănghoàn chỉnh nhất Biểu hiện nghiêm trọng nhất là trong quá trình điều tra vụ án, điều traviên đã thực hiện những hành vi trái pháp luật hình sự như: bức cung, nhục hình, truy cứutrách nhiệm hình sự người không có tội, làm sai lệch hồ sơ vụ án Có lẽ trong vụ án
“Vườn điều”, điều tra viên do được dẫn dắt bởi định kiến trước về sự có tội của các bị cannên chỉ cố gắng buộc tội cho được các bị can và sẵn sàng làm mọi cách để đạt được mụcđích đó.(1)
1.2 NGUYÊN NHÂN CỦA TRƯỜNG HỢP BỊ CAN KHÔNG THÀNH KHẨN KHAI BÁO
Việc bị can thành khẩn khai báo hay từ chối khai báo hoặc khai báo giandối đều xuất phát từ nhận thức của bị can Khi nào trong tư tưởng của bị can thấycần phải khai và khai hết thì khi đó chúng mới chịu khai hết sự thật Còn nếutrong tư tưởng chúng chưa chuyển biến đến mức đó thì dù ta có dùng cách nàyhay cách khác, kể cả đưa ra chứng cứ, vạch ra mâu thuẫn, thậm chí dùng cả nhụchình tra tấn là điều đã được nghiêm cấm, giỏi lắm cũng chỉ khai thác được mộtvài điểm chúng không đủ sức che giấu, còn toàn bộ sự việc không chắc gì chúngchịu khai Tệ hơn nữa, có tên vì căm tức, vì bức bách mà khai bịa, khai rối, gâyrắc rối hoặc làm lạc hướng cơ quan điều tra Việc bị can từ chối khai báo hay khaibáo gian dối đều xuất phát từ những động cơ tiêu cực, kìm hãm sự khai báo của bịcan Động cơ kìm hãm là những động cơ được hình thành tự nhận thức sai trái,
1 (1) Xem: TS Bùi Kiên Điện, “Điều tra vụ án hình sự nhìn từ một vụ án”, PGS.TS.LS.Phạm Hồng Hải - Vụ án vườn điều từ những góc nhìn NXB CAND Hà Nội 2008 tr 405
Trang 11tình cảm tiêu cực tạo nên thái độ ngoan cố ở bị can Trong hoạt động khai báo,các động cơ trên kìm hãm làm bị can không chịu khai báo, khai báo gian dối Những động cơ đó gồm:
- Do tin vào khả năng che giấu các hành vi phạm tội, tin vào khả năng ngụybiện, chống chế của bản thân
Đây là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến việc bị can từ chối khai báo haykhai báo gian dối Nguyên nhân này xuất hiện từ nhiều niềm tin bên trong của bịcan Bị can tin rằng nếu không khai thì cơ quan điều tra sẽ không đủ tài liệu,chứng cứ kết tội, do đó có thể trốn tránh trách nhiệm Có trường hợp bị can tinrằng bằng việc khai báo gian dối có thể dẫn hoạt động điều tra lệch hướng, tội lỗicủa bị can sẽ được giảm nhẹ, vì sự thật không được tìm ra Chừng nào bị can còntồn tại niềm tin nào thì bị can chưa khai báo thành khẩn Vì vậy, điều tra viênphải sử dụng các phương pháp, thủ thuật tác động phá vỡ niềm tin này, làm cho bịcan thấy rằng: sự khai báo thiếu thành khẩn không thể che giấu sự thật Thái độ
đó càng làm bất lợi cho bị can trong việc xác định mức độ trừng phạt
- Sợ khai ra sẽ phải chịu mức hình phạt nặng
Trong quá trình hỏi cung, bị can luôn lo sợ cơ quan điều tra có đầy đủ bằngchứng kết tội nặng cho mình, do đó bị can luôn né tránh những vấn đề, nhữngtình tiết nặng Tâm lý sợ tội nặng làm bị can hoang mang, căng thẳng Nó kìmhãm sự khai báo, làm bị can không dám thú nhận tội lỗi mà luôn quanh co, khainhỏ giọt, khai đổ lỗi cho nhau Bị can không dám khai nhận hoặc rất thận trọngkhi phải khai các vấn đề có liên quan đến hành vi phạm tội của mình, đến việcxác định vị trí, vai trò của mình trong tổ chức, không dám thú nhận tội lỗi củamình và đồng bọn Cũng vì tâm lý này mà trong quá trình khai báo bị can thường
dễ khai về đồng bọn hơn là khai về mình, dễ khai về những vấn đề không quantrọng hoặc những tội lỗi trong quá khứ hơn những hành vi phạm tội hiện hành.Khi bị xét hỏi, bị can luôn lo sợ bị trừng phạt nặng, sợ bị giam giữ lâu ngày, thiếuthốn vật chất, đau khổ tinh thần Vì vậy, tâm lý lo cho mình ít lo cho đồng bọncũng thường được bộc lộ rõ nét, nhất là những tên tham gia hoạt động vì tiền, vì
bị kích động, dụ dỗ, lôi kéo
Trang 12Sợ tội nặng, sợ bị nghiêm trị luôn ám ảnh bị can, là nhân tố bên trong điềuchỉnh thái độ khai báo gian dối của bị can Bị can thường nghiên cứu, sắp xếp lờikhai sao cho hợp lý, hệ thống để tránh những sơ hở, mâu thuẫn, tránh bị điều traviên nghi ngờ, chất vấn mà buộc phải khai thêm những tình tiết mới, làm cho tộicàng thêm nặng.
- Trông chờ vào sự can thiệp, cứu giúp của các thế lực bên ngoài hoặc hyvọng vào sự mua chuộc, hối lội của người nhà
Đây là nguyên nhân nổi lên hiện nay, được cơ quan điều tra và xã hội quantâm Nguyên nhân này phản ánh ảnh hưởng của mặt tiêu cực của cơ chế thịtrường hiện nay Nguyên nhân tâm lý này có ở các loại bị can phạm tội khácnhau, có bị can do có người thân hoặc có quan hệ thân với người cộng tác trong
cơ quan tiến hành tố tụng và hy vọng vào sự cứu giúp của họ; có bị can là doquan hệ nào đó với một số cán bộ trong cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cán bộ cóchức quyền nào đó và tin tưởng, ỷ lại vào sự che chở, chạy chọt của họ, cho rằngcán bộ này sẽ che chở cho bị can vì sự ràng buộc nào đó Có bị can không hề cóquan hệ này, nhưng lại hy vọng có thể mua chuộc điều tra viên hoặc cán bộ cóchức quyền nào đó để họ can thiệp giúp đỡ
Nhìn chung, động cơ này thường có ở những bị can là người có địa vị trong
xã hội, có uy tín trong và ngoài nước, có quan hệ rộng rãi với bạn bè, đồng nghiệp Các bị can này trong thời gian đầu bị hỏi cung thường rất ngoan cố, quanh cochối tội, khai báo gian dối nhằm kéo dài thời gian để chờ đợi sự can thiệp, giúp
đỡ từ bên ngoài Bị can cũng thường thăm dò, tìm hiểu các thông tin về quá trìnhđiều tra của cơ quan tiến hành tố tụng, nghe ngóng dư luận, tìm cách liên lạc vớibên ngoài nhằm thông báo cho đồng bọn để mong nhận được sự can thiệp, cứugiúp Việc đấu tranh với bị can này rất phức tạp Điều tra viên phải sử dụng cácthủ thuật phù hợp để phá vỡ niềm tin tiêu cực của bị can
- Sợ bị trả thù, sợ mất danh dự, uy tín mà bị can không dám khai báo
Tâm lý sợ bị trả thù, bị khống chế cũng là những động cơ có tác động tiêucực đến sự khai báo của bị can Tâm lý sợ bị trả thù thường xuất hiện ở các đốitượng hoạt động có tổ chức, trong các trường hợp những tên cầm đầu chưa bị bắthay đồng bọn chưa khai Khi bị bắt, nhiều bị can muốn khai báo để hưởng khoan
Trang 13hồng Song bị can lại sợ nếu mình là người khai báo trước, khi về buồng giamhoặc sau này sẽ bị “đại ca” hoặc đồng bọn “xử lý”, do đó thường khai báo quanh
co, nhỏ giọt, lời khai không ổn định Tư tưởng sợ mất uy tín, danh dự cũng chiphối mạnh mẽ đến sự khai báo của bị can Tâm lý này thường xuất hiện ở những
bị can vốn có quyền lực, uy tín nhất định với quần chúng Trong hỏi cung bị canloại này, điều tra viên cần tác động phá vỡ cơ sở của sự sợ hãi đó ở bị can, hoặctác động làm cho bị can nảy sinh một vấn đề tâm lý mới lấn át được nỗi sợ hãi đóthì bị can mới khai báo tốt được
- Sợ khai nhận tội lỗi sẽ làm liên lụy đến gia đình và những người thân.Đây cũng là nguyên nhân tâm lý tương đối phổ biến ở bị can Bị canthường lo sợ vì tội trạng của mình làm liên lụy tới gia đình và những người thânkhác Nhiều bị can khi hoạt động ở bên ngoài vốn đã nặng gánh với gia đình, nay
bị bắt, trong cảnh tù đầy, không biết gia đình sẽ sống ra sao Sợ khai ra tội sẽnặng, bị tù lâu, không được về với gia đình; sợ mọi người bị liên lụy khổ ải, nhất
là làm ảnh hưởng tới tương lai của con cái Động cơ này cũng thường thấy ởnhững bị can trong quá trình hoạt động phạm tội đã lôi kéo những người có quan
hệ ruột thịt, gần gũi vào tổ chức Nay bị bắt, sợ khai ra những người thân sẽ bịliên lụy, thậm chí họ có thể bị bắt, nên không khai, sẵn sàng đứng ra nhận hết tộilỗi về mình, thanh minh giấu tội cho những người khác Biểu hiện tâm lý này tuy
là một nguyên nhân cản trở sự khai báo thành khẩn của bị can, nhưng cũng là mộtbiểu hiện tình cảm tốt mặc dù không đúng hướng, nhưng nó là một cơ sở quantrọng để điều tra viên đặt niềm tin vào khả năng thuyết phục, thức tỉnh nhữngđiều tốt đẹp ở bị can, làm thay đổi thái độ khai báo của họ
- Bị can không khai do bi quan, thất vọng, bỏ mặc số phận
Có nhiều trường hợp bị can từ chối khai báo, từ chối tiếp xúc với điều traviên do nguyên nhân bi quan thất vọng cho rằng mình không còn tương lai, mấthết hy vọng, cuộc đời như vậy là hết Từ đó, tỏ ra tiêu cực không quan tâm đếnxung quanh, đến hoạt động điều tra, không khai báo hoặc khai ngược lại, cótrường hợp nhận tội bừa, điều tra viên hỏi gì cũng nhận Nguyên nhân này thườnggặp ở những bị can phạm tội lần đầu do bị lôi kéo mà phạm tội, phạm tội đặc biệtnghiêm trọng hoặc do hoàn cảnh đặc biệt nào đó mà phạm tội Điều tra viên phải
Trang 14tác động, gợi cho bị can hy vọng vào tương lai, đưa bị can ra khỏi tâm trạng thấtvọng, từ đó dẫn tới hành động khai báo đúng đắn.
- Bị can không khai hoặc khai gian dối do không tin, không phục điều tra viên.Trong thực tế có không ít trường hợp quá trình hỏi cung phải thay đổi điềutra viên nhiều lần Việc bị can không tin, không phục điều tra viên do nhiều lý dokhác nhau, có thể do điều tra viên cảm hoá không tốt, không chuẩn bị hỏi cung
kỹ, có thể do điều tra viên quá trẻ so với bị can Trong những trường hợp này,khi tiếp xúc, điều tra viên cần chú ý tránh không để cho bị can nhận thức sai lầm
về mình và tránh gây cho bị can có ấn tượng không tốt
- Bị can từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối do coi thường pháp luật,coi thường sự trừng phạt
Đây là nguyên nhân tâm lý xuất phát từ nhận thức sai lầm của bị can Bịcan không nhận thức được các quy phạm pháp luật, thiếu ý thức tôn trọng cácchuẩn mực xã hội Khi bị can bị khởi tố, bị bắt, chúng coi đó là chuyện thườngtình Do vậy, chúng tỏ ra bàng quan, coi thường điều tra viên và cơ quan điều tra.Nguyên nhân này thường gặp phổ biến ở các bị can có nhiều tiền án, tiền sự, đặcbiệt là các bị can phạm tội có tính chuyên nghiệp, coi hoạt động phạm tội là
“nghề nghiệp” của chúng Khi tiến hành hoạt động hỏi cung, ý thức coi thườngpháp luật của bị can là vấn đề điều tra viên cần đặc biệt lưu ý vì sự coi thườngpháp luật sẽ dẫn đến thái độ khai báo gian dối, khiêu khích đối với điều tra viên,gây khó khăn trong hỏi cung
Ngoài ra, việc bị can từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối còn có thểxuất phát từ một số động cơ sau:
- Bị can mong muốn trốn tránh hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đốivới hành vi phạm tội của mình hay mong muốn chịu hình phạt về một tội khácnhẹ hơn;
- Bị can mong muốn bao che hay làm giảm nhẹ tội của đồng phạm vì mốiquan hệ bạn bè, gia đình hoặc những lợi ích vụ lợi khác;
- Bị can mong muốn vu khống những đồng phạm khác do thù tức haynhằm mục đích bảo đảm an toàn cho cá nhân trong tương lai;
Trang 15- Bị can mong muốn tự kết tội mình do mắc bệnh tâm thần hay mong muốnđược hưởng những điều kiện thuận lợi trong cuộc sống vì những lý do gia đìnhhoặc công tác
Tóm lại, xuất phát từ đặc điểm của hoàn cảnh tố tụng và đặc điểm tâm lý cánhân, ở bị can luôn tồn tại những động cơ tiêu cực kìm hãm sự khai báo Nhữngđộng cơ này chính là nguyên nhân khiến bị can có thái độ không thành khẩn khaibáo Để khắc phục những nguyên nhân đó thì điều tra viên cần vận dụng tốt cácchiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA TRƯỜNG HỢP BỊ CAN KHÔNG THÀNH KHẨN KHAI BÁO ĐỐI VỚI THỰC TIỄN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Bị can là người nắm vững lượng thông tin về vụ án đã xảy ra hơn bất cứmột người tham gia tố tụng nào khác Đó là những tình tiết của vụ án ở các giaiđoạn chuẩn bị gây án, gây án và các hành vi che giấu tội phạm, động cơ và mụcđích gây án, những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm Nhữngtình tiết được phản ánh trong lời khai của bị can có thể rất cần thiết, không có gìthay thế được và nếu bị can không khai báo, không có được lời khai của bị can sẽ
có thể không đảm bảo tính đầy đủ của hoạt động điều tra
Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự yêu cầu khi điều tra, truy tố và xét xử vụ ánhình sự, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải chứng minh: có hành viphạm tội xảy ra hay không; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi haykhông có lỗi, do cố ý hay vô ý Để đáp ứng được những đòi hỏi trên, phải cóchứng cứ, và một trong những chứng cứ đó là: “Lời khai của người làm chứng,người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan đến vụ án, người bị bắt, người bị tam giữ, bị can, bị cáo” (Điểm b, khoản 2Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự 2003) Như vậy, lời khai của bị can là một trongnhững nguồn chứng cứ, có ý nghĩa nhất định đối với việc tìm ra sự thật kháchquan của vụ án hình sự
Kết quả nghiên cứu tình trạng khai báo của bị can có thể chia ra(1):
Tổng số bị can 100%
Bị can thành khẩn khai báo ngay từ đầu 18,7%
1 (1) Xem: TS Trương Công Am - tác động tâm lý trong hoạt động điều tra hình sự - NXB CAND Hà Nội Tr 199
Trang 16Bị can chỉ khai báo sau khi tác động tâm lý 73,1%
Bị can không chịu khai báo 8,2%
Như vậy, hầu hết các bị can khi bị hỏi cung thường có thái độ ngoan cố,khai báo gian dối Tính chung cho cả hai loại là 81,3% Thực tế trên cho thấy tínhchất phức tạp, quyết liệt của hoạt động hỏi cung đối với các bị can không thànhkhẩn khai báo trong quá trình điều tra làm sáng tỏ vụ án
Mục đích cơ bản của hoạt động điều tra là thu thập đầy đủ các tin tức, tàiliệu để làm rõ sự thật của vụ án, sự thật về hành vi phạm tội của từng bị can,chứng minh được tính chất, mức độ phạm tội của họ Để có được kết quả đó thìtrong hỏi cung bị can cần thu được lời khai chân thật, đúng đắn và đầy đủ của bịcan Lời khai chân thật là lời khai xuất phát từ động cơ thực sự mong muốn kể hếtcác tình tết về hành vi phạm tội của bản thân và đồng bọn Lời khai chân thậtkhông bị chi phối bởi các ý đồ che giấu hay động cơ tiêu cực nào khác Tuynhiên, chỉ một số trường hợp bị can chịu thành khẩn khai báo ngay từ đầu, cònphần lớn các bị can sau khi bị phát giác hay bắt giữ đều từ chối khai báo hoặckhai báo gian dối Chúng ta biết rằng, pháp luật không bắt buộc bị can phải khaibáo cũng như không ngăn cấm bị can khai báo gian dối Bằng cách quy định nhưvậy, pháp luật nhấn mạnh ý nghĩa bình thường của lời khai của bị can như là mộtnguồn chứng cứ và trao cho điều tra viên trách nhiệm chứng minh sự thật của vụ
án không phụ thuộc vào lời khai của bị can trên cơ sở tính toán, cân nhắc đến khảnăng bị can có thể khai báo giả tạo, khai bịa đặt Tuy nhiên, điều tra viên cần sửdụng mọi biện pháp pháp luật cho phép để thu thập được lời khai của bị can mộtcách đầy đủ, chính xác và khách quan để có thể thúc đẩy hoạt động điều tra tiếntriển thuận lợi Bởi vì, qua lời khai của bị can điều tra viên sẽ biết được sự tồn tạicủa nhiều nguồn chứng cứ khác và do đó để phát hiện và thu thập những nguồnchứng cứ này điều tra viên đỡ mất sức lực và tốn thời gian Ngược lại, nếu bị cankhai bịa đặt, khai báo giả tạo sẽ khiến điều tra viên không những khó tìm ra đượcnhững nguồn chứng cứ khác mà còn phải tốn thời gian để kiểm tra, xác minh lạilời khai của bị can, gây khó khăn cho quá trình điều tra Tất cả những điều nàynói lên sự cần thiết và tầm quan trọng, hay nói cách khác đặt ra một nhiệm vụ chođiều tra viên không những vạch trần lời khai giả tạo của bị can khi bị can lựa
Trang 17chọn thủ đoạn này để đối phó với hoạt động điều tra mà còn bắt buộc bị can phảithành khẩn khai báo Chính vì vậy, trong quá trình hỏi cung, điều tra viên cầnphải quá triệt tinh thần liên tục và triệt để khai thác, chống buông lỏng nửa vời đểkhông ngừng mở rộng công tác điều tra nhằm nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranhphòng, chống tội phạm.
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CHIẾN THUẬT HỎI CUNG BỊ CAN TRONG TRƯỜNG HỢP
BỊ CAN KHÔNG THÀNH KHẨN KHAI BÁO
2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG CỦA CHIẾN THUẬT HỎI CUNG BỊ CAN TRONG TRƯỜNG HỢP BỊ CAN KHÔNG THÀNH KHẨN KHAI BÁO
Chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khaibáo chính là những chỉ dẫn chiến thuật về chuẩn bị, tiến hành và kết thúc hỏicung bị can trong tình huống bị can từ chối khai báo hay khai báo gian dối Khitiến hành hỏi cung bị can trong những tình huống này, điều tra viên phải làmchuyển biến tư tưởng của bị can từ không thành khẩn chuyển sang thành khẩnkhai báo Điều tra viên phải nghĩ cách đối phó với thái độ không thành khẩn khaibáo của bị can để đưa ra chiến thuật hỏi cung phù hợp Nếu tiến hành hỏi cungmột cách tùy tiện sẽ có thể gây bất lợi cho việc hỏi cung Do đó, chiến thuật hỏicung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo phải được thựchiện theo những định hướng mang tính khoa học và phải đáp ứng được nhữngyêu cầu sau:
- Tính tích cực
Hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo đòihỏi tính tích cực cao Trong trường hợp bị can từ chối khai báo hay khai báo giandối thì bị can thường có thái độ ngoan cố, không cung cấp những thông tin về vụ
án hoặc bị can cố ý khai báo sai sự thật Do đó, cuộc hỏi cung phải mang tính tiến
Trang 18công liên tục Trong những cuộc hỏi cung này, điều tra viên không chỉ là ngườiđơn thuần ghi nhận những thông tin do bị can cung cấp mà điều tra viên phải tíchcực sáng tạo áp dụng mọi phương tiện pháp luật cho phép nhằm thu được nhữngthông tin chính xác về vụ án.
- Tính có mục đích rõ ràng
Trường hợp bị can không thành khẩn khai báo là một tình huống hỏi cungphức tạp Trước khi tiến hành hỏi cung, điều tra viên phải xác định rõ ràng mụcđích cụ thể mà cuộc hỏi cung cần đạt được, nhằm thu thập được những thông tincần thiết, có liên quan đến vụ án chứ không phải những thông tin bất kỳ Để đạtđược mục đích đó, điều tra viên cần xác định được những vấn đề cần phải làm rõ,những tin tức, tài liệu cần phải thu thập trong quá trình hỏi cung Trong trườnghợp bị can không thành khẩn khai báo thì việc đạt được những mục đích đókhông phải đơn giản, điều tra viên cần có sự cố gắng, quyết tâm, đồng thời phảibiết lựa chọn và áp dụng những chiến thuật, phương tiện phù hợp để đạt đượcmục đích đã đề ra
- Tính khách quan và đầy đủ
Tính khách quan và đầy đủ là một trong những yêu cầu không thể thiếu củachiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo.Đây chính là biểu hiện của nguyên tắc thận trọng khách quan khi hỏi cung bị can.Khi bị can từ chối khai báo hay khai báo gian dối thì cuộc hỏi cung mang tínhxung đột cao, nhiều trường hợp bị can phản ứng gay gắt hay cố ý khiêu khíchđiều tra viên Do đó, điều tra viên cần giữ thái độ bình tĩnh, thận trọng và tỉnh táo.Điều tra viên không được sử dụng những phương pháp hỏi cung trái pháp luậtnhư mớm cung, dụ cung, bức cung và dùng nhục hình Chỉ cần một trong nhữngbiện pháp đó được sử dụng thì hồ sơ vụ án có thể bị sai lệch, quyền công dân bịxâm phạm nghiêm trọng Ngoài ra, điều tra viên phải ghi chép đầy đủ lời hỏi vàlời khai trong quá trình xét hỏi, không được thêm bớt, sửa chữa Trong trườnghợp có sửa chữa, thay đổi phải có chữ ký của cả cán bộ xét hỏi và bị can Điều traviên cũng cần phải thu thập cả những thông tin phù hợp với giả thuyết điều tra vànhững thông tin không phù hợp với giả thuyết điều tra, thu thập cả những chứng
cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách
Trang 19nhiệm hình sự Đồng thời, trong quá trình hỏi cung, điều tra viên phải sử dụngchiến thuật phù hợp để khai thác mọi hiểu biết của bị can về vụ án, về hành viphạm tội của bị can, đồng bọn và những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ýnghĩa đối với công tác điều tra và phòng ngừa tội phạm.
- Cần phải tính đến những đặc điểm nhân thân của bị can
Việc nghiên cứu nhân thân bị can là một nhiệm vụ quan trọng mà điều traviên cần phải giải quyết tốt trước khi tiến hành hỏi cung bị can trong trường hợp
bị can không thành khẩn khai báo Trong hỏi cung bị can thì việc thiết lập và duytrì sự tiếp xúc tâm lý giữa điều tra viên và bị can luôn là điều kiện đầu tiên để đạtđược mục đích của cuộc hỏi cung Khi bị can ngoan cố không khai báo thì việcthiết lập sự tiếp xúc tâm lý với bị can là rất khó khăn Để thực hiện tốt quá trìnhtiếp xúc tâm lý ban đầu này cũng như các phương pháp, chiến thuật hỏi cung tiếptheo thì điều tra viên buộc phải hiểu rõ đặc điểm nhân thân bị can Điều tra viênphải dành thời gian, công sức để áp dụng mọi biện pháp để có thể thu thập đượcđầy đủ mọi thông tin cần thiết về bị can như: đặc điểm xã hội – nhân khẩu học,đạo đức – tâm lý, pháp luật hình sự Những đặc điểm đó sẽ tạo cơ sở để điều traviên tiếp cận bị can dễ dàng hơn Khi bị can từ chối khai báo hoặc khai báo giandối thì việc nghiên cứu và sử dụng hiệu quả những tài liệu về đặc điểm nhân thâncủa bị can sẽ giúp điều tra viên có thể tìm ra nguyên nhân của việc bị can có thái
độ không thành khẩn khai báo Đồng thời tạo ra cơ sở để đánh giá mức độ chínhxác và đáng tin cậy trong lời khai của bị can, từ đó giúp điều tra viên lựa chọnnhững chiến thuật hỏi cung phù hợp
Tóm lại, tính tích cực; tính có mục đích rõ ràng; tích khách quan và đầy đủ;cần phải tính đến những đặc điểm nhân thân của bị can là những yêu cầu khôngthể thiếu trong chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thànhkhẩn khai báo Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu đó thì việc sử dụng chiếnthuật hỏi cung trong trường hợp bị can từ chối khai báo hoặc khai báo gian dốimới đem lại hiệu quả cao, giúp bị can từ bỏ thái độ ngoan cố, chịu thành khẩnkhai báo
2.2 PHƯƠNG PHÁP VÀ CHIẾN THUẬT HỎI CUNG CỤ THỂ TRONG TRƯỜNG HỢP BỊ CAN KHÔNG THÀNH KHẨN KHAI BÁO
Trang 20Khi bị can có thái độ không thành khẩn khai báo thì trong tư tưởng bị canthường tồn tại ý nghĩ chống đối, không chịu tiếp thu lẽ phải Bị can không dễdàng nghe theo lời lẽ giáo dục thuyết phục chung chung của cán bộ, nhất là khi đãphát hiện thấy cán bộ điều tra không đủ chứng cứ để khuất phục họ Vì vậy, trongquá trình giải quyết tư tưởng cho bị can có thái độ ngoan cố, không chịu khai báohoặc khai báo gian dối, cán bộ hỏi cung vừa phải lấy chính sách và pháp luật đểgiáo dục, thuyết phục, cảm hoá, vừa phải sử dụng chứng cứ, sử dụng mâu thuẫn
để đấu tranh với bị can Đó là cơ sở của phương pháp hỏi cung bị can nói chung
và cơ sở của phương pháp hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thànhkhẩn khai báo nói riêng Điều 5 của Bản chế độ công tác hỏi cung bị can đã chỉrõ: “Phải lấy việc cảm hoá chính trị, kết hợp sử dụng chứng cứ, sử dụng mâuthuẫn, để giải quyết tư tưởng cho bị can, làm cơ sở cho phương pháp công tác hỏicung”
Trên cơ sở của phương pháp hỏi cung bị can, các phương pháp thườngđược sử dụng để hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khaibáo là: Hỏi thẳng, hỏi dò Theo Điều 6 Bản chế độ công tác hỏi cung bị can thì:Chỉ được dùng phương pháp hỏi thẳng trong trường hợp tài liệu, chứng cứ đưa rahỏi đã được thẩm tra, xác minh, bảo đảm hoàn toàn chính xác và có liên quan trựctiếp đến bị can; phải dùng phương pháp hỏi dò đối với những việc chưa khẳngđịnh là đúng hay sai, chưa kết luận là có liên quan trực tiếp đến bị can
- Hỏi thẳng: Hỏi thẳng là nêu sự việc ra, buộc bị can phải trả lời thẳng vàocâu hỏi đó Ví dụ: “Anh hãy khai việc hiếp dâm cô Miễn” Trong trường hợp bịcan không thành khẩn khai báo, việc sử dụng phương pháp hỏi thẳng có tác dụng
áp đảo tinh thần bị can, nhất là khi vừa dùng phương pháp hỏi thẳng, vừa đưa ramột vài chứng cứ xác thực cho bị can thấy Mục đích của hỏi thẳng chính là nhằmđập tan tư tưởng ngoan cố của bị can, buộc bị can phải thành khẩn khai báo Điềukiện tiên quyết bắt buộc phải tuân thủ rất nghiêm ngặt của phương pháp hỏi thẳng
là sự việc đưa ra đã được thẩm tra xác minh kỹ, bảo đảm hoàn toàn đúng và cóliên quan trực tiếp đến bị can
- Hỏi dò: Hỏi dò là phương pháp vừa hỏi vừa thăm dò, nghiên cứu, phântích để dần dần đi đến làm rõ sự thật về những vấn đề đang nghi vấn Trong tình
Trang 21huống bị can từ chối khai báo hay khai báo gian dối thì hỏi dò là một phươngpháp có hiệu quả, giúp điều tra viên tìm ra sự thật của nhiều vấn đề quan trọng.Trong hỏi dò, bí quyết thành công là biết khêu gợi cho bị can nói thật nhiều để
mở rộng diện điều tra và nắm được nhiều chứng cứ đi đến sự thật Tuy nhiên,điều tra viên cần chú ý tránh tư tưởng chủ quan, định kiến, phiến diện một chiều,
mà phải nhận định, phán đoán cho hết khả năng Hỏi dò bắt buộc phải áp dụngkhi tài liệu, chứng cứ chưa đủ, chưa chính xác, chưa rõ ràng Hỏi dò và hỏi thẳng
là hai phương pháp đối lập, không thể cùng song song tiến hành và không được phéplẫn lộn
Ngoài ra, trong trường hợp bị can khai báo gian dối thì điều tra viên có thể
sử dụng phương pháp gợi ý hỏi sâu thêm để vạch trần lời khai gian dối của bị can.Gợi ý hỏi sâu thêm là cách hỏi nhằm làm rõ những vấn đề trong trường hợpnhững sự việc do chính bị can khai ra nhưng chưa đầy đủ, chưa cụ thể Nếu lờikhai ban đầu của bị can không đúng sự thật thì gợi ý hỏi sâu thêm làm cho bị canlúng túng, để lộ mâu thuẫn trong các lời khai chi tiết, cụ thể, cuối cùng phải xinhủy lời khai sai để khai lại đúng hơn Phương pháp gợi ý hỏi sâu thêm thườngđược áp dụng kèm theo phương pháp hỏi thẳng hoặc hỏi dò
Cùng với phương pháp hỏi cung, các chiến thuật được dùng để hỏi cung bịcan trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo gồm: Hỏi vòng quanh,hỏi đứt quãng, hỏi bất ngờ vào điểm yếu
- Hỏi vòng quanh: Hỏi vòng quanh là đặt nhiều câu hỏi phụ, không liênquan trực tiếp đến vấn đề chính để bị can khai nhận, sau đó mới hỏi vào vấn đềchính Khi bị can quanh co chối tội hoặc khai báo gian dối thì chiến thuật hỏivòng quanh này như một kiểu hỏi giăng bẫy Trước những câu hỏi phụ tưởng nhưkhông liên quan gì đến vụ án, bị can dễ chủ quan không có tư tưởng phòng bị,dẫn tới khai báo đúng sự thật Từ những vấn đề phụ đó, điều tra viên tổng hợp lạibuộc bị can từ bỏ thái độ ngoan cố, gian dối khi khai báo
- Hỏi đứt quãng: Hỏi đứt quãng là sự việc cần hỏi bị cắt xé ra nhiều đoạn,nhiều chi tiết, lúc hỏi đoạn này, lúc hỏi đoạn kia, không có hệ thống mạch lạc,xen vào giữa là những câu hỏi đệm, không liên quan đến sự việc cần điều tra Hỏiđứt quãng được dùng để đấu tranh với bị can ranh mãnh, xảo quyệt, không thành
Trang 22khẩn khai báo Cán bộ hỏi cung phải nắm thật vững yêu cầu của vấn đề cần làm
rõ, chuẩn bị trước những câu hỏi cụ thể, chi tiết, có thể làm sáng rõ vấn đề để khivào cuộc có thể hoàn toàn chủ động, hỏi chỗ này một ít, chỗ kia một ít, trước sau,trên dưới rời rạc sao cho bị can hoàn toàn bị động, không thể đoán trước ý đồ củangười hỏi, không thể đoán trước hậu quả của những lời khai đó
- Hỏi bất ngờ vào điểm yếu: Hỏi bất ngờ vào điểm yếu là nhằm vào mộtđiểm bị can cho là quan trọng nhất, bí mật nhất và điều tra viên thấy có sơ hở nhất
để tấn công trước, rồi từ đó hỏi mở rộng ra những điểm khác Chiến thuật này làmột đòn tâm lý lợi hại, gây choáng váng cho những bị can có thái độ ngoan cố,không chịu khai báo Hỏi bất ngờ vào điểm yếu thường được áp dụng cùng vớiphương pháp hỏi thẳng để đấu tranh với những bị can có tính chủ quan, tự mãn,coi thường sự hiểu biết của cơ quan điều tra, tin mù quáng vào lòng trung thànhcủa đồng bọn
Như vậy, điều tra viên bằng kinh nghiệm, sự hiểu biết phong phú của mình,nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phân tích thuyết phục,cảm hoá, kết hợp với việc sử dụng chứng cứ, sử dụng mâu thuẫn một cách hợp lý,
sẽ từng bước làm thay đổi nhận thức, thay đổi quan điểm và chuyển hoá được cácđộng cơ tiêu cực của bị can Trên cơ sở đó, điều tra viên sử dụng các phươngpháp hỏi thẳng, gợi ý hỏi sâu thêm, kết hợp với các chiến thuật hỏi cung cụ thểnhư: hỏi đứt quãng, hỏi vòng quanh, hỏi bất ngờ vào điểm yếu để đánh gục tưtưởng ngoan cố, từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối của bị can
2.3 ĐẶC ĐIỂM TRÌNH TỰ TIẾN HÀNH HỎI CUNG BỊ CAN TRONG TRƯỜNG HỢP
BỊ CAN KHÔNG THÀNH KHẨN KHAI BÁO
Hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo là cuộcđấu trí căng thẳng giữa điều tra viên và bị can Chính thái độ ngoan cố và ý thứcchống đối của bị can mà việc thiết lập sự tiếp xúc tâm lý giữa điều tra viên và bịcan thường khó đạt được, cuộc hỏi cung mang tính xung đột cao Thực tế chothấy, có không ít trường hợp do ấn tượng tiêu cực của điều tra viên đối với bị can
mà khi tiến hành hỏi cung bị can có nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật xảy ra
Do đó, khi tiến hành hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩnkhai báo, điều tra viên cần bảo đảm và tôn trọng các quyền hạn tố tụng của bị can,
Trang 23không được áp dụng những biện pháp thu thập lời khai trái pháp luật như mớmcung, dụ cung, bức cung và dùng nhục hình Bên cạnh đó, điều tra viên cần phảituân thủ những quy định cụ thể của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục triệu tập bịcan, trình tự tiến hành hỏi cung bị can và việc lập biên bản hỏi cung bị can (cácĐiều 129, 130, 131, 132 Bộ luật tố tụng hình sự) Đây cũng chính là nội dung củanguyên tắc nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật Theo đó, hoạt động hỏi cung bị canbao gồm ba giai đoạn: Chuẩn bị hỏi cung, tiến hành hỏi cung và kết thúc hỏicung Chiến thuật hỏi cung bị can trong trường hợp bị can không thành khẩn khaibáo được thể hiện rõ nét qua ba giai đoạn này.
2.3.1 Chuẩn bị hỏi cung
Thực tiễn hoạt động điều tra cho thấy, trong những vụ án mà bị can có thái
độ ngoan cố, từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối thì việc chuẩn bị chu đáocho mỗi cuộc hỏi cung là một yêu cầu không thể thiếu Qua hoạt động chuẩn bịcho mỗi buổi hỏi cung có thể giúp điều tra viên nhận định được thái độ khai báocủa bị can là thành khẩn hay không thành khẩn, bị can ngoan cố từ chối khai báohay khai báo gian dối bằng cách nghiên cứu các hồ sơ, tài liệu phản ánh đặc điểmnhân thân của bị can như trích lục tiền án, tiền sự, hồ sơ những vụ án do bị cangây ra trước đây, biểu hiện và thái độ của bị can trước, trong và sau khi vụ án xảy
ra để dự đoán được thái độ khai báo của bị can trước mỗi buổi hỏi cung Côngtác chuẩn bị được tiến hành khoa học, chu đáo sẽ tạo điều kiện cho điều tra viênchủ động, linh hoạt, sáng tạo lựa chọn và áp dụng những thủ thuật hỏi cung phùhợp trong từng tình huống cụ thể để thu thập lời khai của bị can một cách đầy đủ,chính xác và thuận lợi Nếu không làm tốt công tác chuẩn bị hỏi cung, điều traviên không xác định chính xác phạm vi những vấn đề cần phải làm rõ trong quátrình hỏi cung, áp dụng những thủ thuật hỏi cung một cách tùy tiện, thậm chí cóthể rơi vào thế bị động, lúng túng trước thái độ ngoan cố từ chối khai báo haykhai báo gian dối của bị can Điều tra viên có thể để lộ bí mật của hoạt động điềutra dẫn đến làm tăng thái độ ngoan cố, không thành khẩn khai báo của bị can, đẩyhoạt động điều tra rơi vào tình huống khó khăn
Chuẩn bị hỏi cung là giai đoạn trong đó điều tra viên chuẩn bị tiến hànhchuẩn bị những điều kiện về chiến thuật và kỹ thuật cần thiết, phục vụ cho hoạt
Trang 24động hỏi cung được tiến hành thuận lợi Khi chuẩn bị hỏi cung nói chung vàchuẩn bị hỏi cung trong những vụ án mà bị can không thành khẩn khai báo nóiriêng, điều tra viên cần phải giải quyết tốt một số công việc sau:
- Nghiên cứu hồ sơ vụ án và các tài liệu khác có liên quan
Việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án và các tài liệu khác có liên quan trongnhững vụ án mà bị can từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối có ý nghĩa rấtquan trọng Một mặt giúp điều tra viên viên nắm được toàn bộ nội dung vụ án,hành vi phạm tội của bị can và những đồng bọn khác, trên cơ sở đó xác địnhchính xác phạm vi những vấn đề cần phải làm rõ trong quá trình hỏi cung, lựachọn những tài liệu, chứng cứ có thể và cần phải được sử dụng trong quá trình hỏicung, lựa chọn những chiến thuật hỏi cung phù hợp với từng tình huống bị can từchối khai báo hoặc khai báo gian dối Mặt khác, do nghiên cứu nắm chắc nộidung vụ án, hành vi phạm tội của bị can, điều tra viên có khả năng kiểm tra vàđánh giá lời khai của bị can ngay trong quá trình hỏi cung để trên cơ sở đó nhanhchóng có đối sách phù hợp
Những tài liệu, chứng cứ cần phải được nghiên cứu bao gồm:
+ Những tài liệu, chứng cứ thu thập được từ những biện pháp điều tra như:Biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám xét; biên bản lấy lời khaingười làm chứng, người bị hại; kết quả giám định
+ Những tài liệu khác có liên quan đến hành vi phạm tội của bị can trước
đó như trích lục tiền án, tiền sự, hồ sơ những vụ án do bị can gây ra trước đây;những tài liệu phản ánh mối quan hệ mang tính chất tội phạm của bị can; nhữngbiểu hiện nghi vấn của bị can trước, trong và sau khi vụ án xảy ra
+ Những tài liệu khác có liên quan đến vụ án
Trong khi nghiên cứu các tài liệu này, điều tra viên cần xác định mức độđầy đủ, chân thực của tài liệu, chứng cứ; tìm mâu thuẫn giữa các tài liệu cũng nhưcác khiếm khuyết của nó để xác định những vấn đề cần làm rõ khi hỏi cung
- Nghiên cứu nhân thân của bị can
Trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo thì việc tìm ranguyên nhân bị can từ chối khai báo hay khai báo gian dối có ý nghĩa hết sứcquan trọng Xác định được đúng nguyên nhân, điều tra viên sẽ lựa chọn được
Trang 25chiến thuật hỏi cung phù hợp để đấu tranh với bị can Để xác định được nguyênnhân bị can không thành khẩn khai báo và hiểu được tâm lý bị can thì việc nghiêncứu nhân thân bị can là hoạt động không thể thiếu Những hiểu biết về đặc điểmnhân thân của bị can là điều kiện cần thiết để đánh giá cơ sở tâm lý và tính xácthực lời khai của bị can Đặc điểm nhân thân của bị can vừa giúp điều tra viênnhận định thái độ khai báo của bị can, vừa tạo cơ sở để điều tra viên xác địnhchiến thuật hỏi cung phù hợp với từng tình huống bị can từ chối khai báo hay khaibáo gian dối.
“Nhân thân bị can là tổng hợp toàn bộ các đặc điểm, các phẩm chất của
bị can, có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra hình sự, được cơ quan điều tra nghiên cứu, sử dụng phục vụ cho hoạt động điều tra làm rõ sự thật của vụ án” (1).
Nghiên cứu đặc điểm nhân thân bị can là hoạt động tư duy của điều tra viên nhằmlàm rõ nội dung, ý nghĩa của từng cũng như toàn bộ đặc điểm nhân thân bị cannhằm phục vụ có hiệu quả hoạt động điều tra hình sự
Những tài liệu về đặc điểm nhân thân của bị can bao gồm: Quan hệ giađình, quan hệ xã hội, nghề nghiệp, điều kiện sống, môi trường giáo dục, thái độlao động và tham gia các hoạt động xã hội, những đặc điểm tâm lý như kỹ năng,thói quen, sở thích, quan niệm, khí chất trên cả hai phương diện tích cực và tiêucực Những tài liệu này điều tra viên có thể thu thập và nghiên cứu ở các tàng thưhình sự, phiếu nhân sự, hồ sơ cán bộ, trích lục tiền án, tiền sự, phiếu xác minh vềnhân thân Đối với những bị can có tiền án, tiền sự thường biết trình tự của cuộchỏi cung, quyền và nghĩa vụ của bị can, những thủ thuật hỏi cung của điều traviên Đặc điểm này đòi hỏi điều tra viên còn phải thu thập, nghiên cứu những tàiliệu phản ánh thái độ khai báo của bị can trong quá trình hỏi cung trước đây, sựphản ứng của bị can trước những chứng cứ đưa ra, những thủ đoạn và mánh khóe
bị can thường áp dụng để gây khó khăn cho hoạt động điều tra Đối với bị can vịthành niên, điều tra viên cần xác định tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh
1 (1) Xem: Bùi Kiên Điện (2004), “Nghiên cứu và sử dụng đặc điểm nhân thân bị can trong hoạt động điều tra hình sự”, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện cảnh sát nhân dân
Trang 26thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của bị can; điều kiện sinh sống vàgiáo dục; có hay không có người lớn xúi giục; nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Điều tra viên được giao nhiệm vụ trước khi xác định, lựa chọn được thủthuật đấu tranh với từng loại bị can có hiệu quả thì phải dành thời gian, công sứcthỏa đáng, áp dụng mọi biện pháp có thể để thu thập đầy đủ mọi thông tin cầnthiết về đặc điểm nhân thân của bị can Chỉ trên cơ sở đó mới có thể xác địnhđược kế hoạch đấu tranh với bị can không thành khẩn khai báo một cách có hiệu quảnhất
Trong vụ án xảy ra tại đường Bình Giã - Tân Bình (Thành phố Hồ ChíMinh) năm 2000, sau 83 ngày nín lặng thì đến ngày 10-4-2000, Nguyễn MinhThuận đã buộc phải khai nhận toàn bộ hành vi giết hại những người thân tronggia đình Có được kết quả trên là do các cán bộ điều tra đã nghiên cứu thật sâu vềtâm lý tội phạm của tên Nguyễn Minh Thuận, đồng thời nắm thật chắc, thật rõ vềnhân thân cùng các mối quan hệ anh em, bạn bè, tình cảm trai gái của Thuận để
từ đó có thể phát hiện được những chi tiết dẫn đến nguyên nhân phạm tội của y.Quả thực yếu tố quyết định khiến ngày 10-4-2000 Nguyễn Minh thuận phải thềthốt sẽ khai báo thành thật là do y biết rằng điều tra viên hiểu quá nhiều về y, biết
rõ về tâm lý cùng bản chất con người y.(1)
- Lập kế hoạch hỏi cung
Lập kế hoạch hỏi cung trong trường hợp bị can không thành khẩn khai báo
có vị trí rất quan trọng vì đây là tình huống hỏi cung phức tạp, kế hoạch hỏi cungphải được lập dưới dạng bản viết Bản kế hoạch hỏi cung gồm những nội dung cơbản sau:
+ Những vấn đề cần phải làm rõ trong quá trình hỏi cung
Để xác định những vấn những vấn đề cần phải làm rõ trong quá trình hỏicung điều tra viên cần phải căn cứ vào quy định tại Điều 63 của Bộ luật tố tụnghình sự về những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự Ngoài ra, khihỏi cung bị can là những người chưa thành niên phạm tội, điều tra viên còn phảithu thập các chứng cứ nhằm làm rõ những vấn đề khác được quy định trong Điều
302 Bộ luật tố tụng hình sự Là chủ thể của tội phạm nên bị can biết rõ về những
1 (1) Xem: Kiều Phong, “Sau 83 ngày nín lặng, Nguyễn Minh Thuận đã khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội”, Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh, số 832, ngày 15.4.2000
Trang 27tình tiết của vụ án Những vấn đề cần làm rõ trong quá trình hỏi cung bao gồm tất
cả những tình tiết mà bị can biết, có liên quan tới vụ án Những vấn đề này gồm:Nội dung của vụ án, hành vi phạm tội của bị can và đồng bọn; những tình tiếttăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can; nguyên nhân, điều kiện làmphát sinh, nảy sinh tội phạm; thu thập những tài liệu, tin tức khác có ý nghĩa trongcông tác điều tra và phòng ngừa tội phạm Những vấn đề cần phải làm rõ trongquá trình hỏi cung bị can có thể được điều chỉnh, bổ sung trong quá trình hỏi cung
bị can trên cơ sở lời khai của bị can và những tài liệu, chứng cứ thu thập được
+ Những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được
Trong bản kế hoạch hỏi cung cần liệt kê những tài liệu, chứng cứ đã thuthập được về hành vi phạm tội của bị can và những tin tức, tài liệu khác có thể vàcần phải được sử dụng trong quá trình hỏi cung Những tài liệu chứng cứ nàyđược liệt kê theo một trình tự hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho điều tra viên
sử dụng trong quá trình hỏi cung Khi lập kế hoạch hỏi cung trong trường hợp bịcan không thành khẩn khai báo, điều tra viên phải xem xét đến những tình tiếtgiảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, để trên cơ sở đó lựa chọn những biệnpháp phù hợp, nhằm tác động đến tính tích cực trong tư tưởng và thái độ khai báocủa bị can Không xem xét những tài liệu này là những sai lầm phổ biến trongthực tiễn hoạt động điều tra, dẫn đến kết luận không chính xác nguyên nhân của
sự từ chối khai báo hay khai báo gian dối của bị can và do đó áp dụng những thủthuật hỏi cung không phù hợp, bỏ qua những thủ thuật hỏi cung đáng lẽ phải được
sử dụng trong tình huống đó
+ Dự kiến những câu hỏi cần được đưa ra để bị can trả lời
Trên cơ sở nhiệm vụ hoạt động điều tra, những vấn đề cần làm rõ trong quátrình hỏi cung và những tài liệu chứng cứ đã thu thập được về vụ án, hành viphạm tội của bị can, trong bản kế hoạch hỏi cung cần dự kiến những câu hỏi vàtrình tự đưa ra để bị can trả lời Tuỳ thuộc vào từng tình huống cụ thể, có thể dựkiến nội dung câu trả lời của bị can để điều tra viên luôn giành thế chủ động trongquá trình hỏi cung Trong bản kế hoạch hỏi cung, điều tra viên cần dự kiến nhữngcâu hỏi chủ yếu mà có thể dự tính trước được là cần thiết phải đưa ra cho bị cantrả lời, hoặc những câu hỏi mà cơ sở của nó dựa trên những tài liệu cần giữ bí mật
Trang 28nguồn gốc cung cấp Trong những vụ án mà bị can từ chối khai báo hay khai báogian dối thì câu hỏi kiểm tra và câu hỏi vạch trần lời khai gian dối thường được
sử dụng phổ biến
Câu hỏi kiểm tra
Trong quá trình hỏi cung, điều tra viên thường đưa ra những câu hỏi nhằmmục đích kiểm tra lời khai và thu thập những tài liệu để kiểm tra chính xác lờikhai đó Ví dụ: Dựa vào cơ sở nào anh khẳng định những vấn đề anh vừa trìnhbày xảy ra đúng ngày 10/05/2005? Như vậy, những câu hỏi kiểm tra lời khai đượcđưa ra thường đề cập đến những điều kiện tri giác của bị can lúc xảy ra sự việc,hiện tượng, những cơ sở bị can dựa vào đó để khẳng định lời khai của mình là đúng
sự thật
Câu hỏi vạch trần lời khai gian dối
Những câu hỏi này được đưa ra nhằm mục đích vạch trần lời khai gian dốicủa bị can mà điều tra viên đã có cơ sở khẳng định sự gian dối của lời khai đó.Khi đưa ra những câu hỏi này thường có mối liên hệ với việc sử dụng nhữngchứng cứ đã được kiểm tra khách quan, thận trọng để bác bỏ lời khai gian dối của
bị can Những câu hỏi này thường được cấu tạo từ hai phần: Phần thứ nhất thôngbáo cho bị can biết về một chứng cứ cụ thể nào đó đã thu thập được; phần thứ haichứa đựng yêu cầu bị can giải thích chứng cứ đó hoặc tình tiết có liên quan tới nó
Ví dụ: “Anh sẽ được biết kết luận của giám định viên về việc ở trên tấm kính trênmặt bàn uống nước trong nhà chị Hồng tìm thấy dấu vết vân tay của anh Anh sẽgiải thích việc này thế nào khi anh đã khẳng định không bao giờ anh ở trong nhàchị Hồng?”
Khi dự kiến những câu hỏi để bị can trả lời trong quá trình hỏi cung, điềutra viên cần chú ý bảo đảm cho những câu hỏi đó phải rõ ràng, cụ thể và liên quanđến đối tượng của hoạt động hỏi cung Đặc biệt, cần bảo đảm tính logic và có cơ
sở của các câu hỏi đó
+ Dự kiến chiến thuật hỏi cung
Tùy thuộc vào từng tình huống bị can từ chối khai báo hay khai báo giandối và trên cơ sở những vấn đề cần phải làm rõ trong quá trình hỏi cung, nhữngtài liệu chứng cứ thu thập được, đặc điểm nhân thân của bị can mà điều tra viên
Trang 29cần dự kiến chiến thuật hỏi cung cho phù hợp Trong bản kế hoạch hỏi cung cầnphải dự kiến nội dung và biện pháp giáo dục, thuyết phục bị can, những thủ thuật
sử dụng mâu thuẫn, sử dụng chứng cứ để đấu tranh với thái độ ngoan cố khôngchịu khai báo hoặc khai báo gian dối của bị can và những biện pháp bổ trợ kháccho cuộc hỏi cung như xây dựng đặc tình trại giam và tiến hành những biện pháptrinh sát khác Đặc biệt chú ý, điều tra viên cần phải dự tính vào thời điểm nàocần phải sử dụng những tài liệu, chứng cứ nào, lựa chọn những chứng cứ đó theomột trình tự logic và dự tính những biện pháp để bảo quản những chứng cứ đótrước thời điểm đưa ra sử dụng
+ Lựa chọn thời gian và địa điểm tiến hành hỏi cung
Việc lựa chọn thời gian tiến hành hỏi cung trước hết phải tuân theo quyđịnh của Bộ luật tố tụng hình sự Theo Điều 131 Bộ luật tố tụng hình sự thì: Việchỏi cung bị can phải tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, khônghỏi cung vào ban đêm trừ trường hợp không trì hoãn được và phải ghi lý do vàobiên bản Điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định: “Sau khi bắt hoặc nhậnngười bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, cơ quan điều traphải lấy lời khai ngay ” Bên cạnh đó, khi lựa chọn thời gian tiến hành hỏi cungcần có sự cân nhắc về trình tự hỏi cung bị can; sự cần thiết phải giữ bí mật củahoạt động điều tra; tình trạng sức khỏe và những xúc động mà bị can phải trải quatrong thời gian xảy ra vụ án Không nên tiến hành hỏi cung vào thời điểm bị can
bị xúc động mạnh, bối rối, trầm uất vì trong trạng thái tâm lý này thường tácđộng tiêu cực đến thái độ khai báo của bị can
Về địa điểm hỏi cung, Điều 131 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “ Cóthể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó ” Điềutra viên có thể tiến hành hỏi cung tại trụ sở cơ quan điều tra, trại tạm giam, bệnhviện hoặc nơi tiến hành các biện pháp điều tra Địa điểm hỏi cung phải có kíchthước vừa phải, giản dị, kín đáo, chỗ ngồi của điều tra viên và bị can phải đượcsắp xếp hợp lý Khi hỏi cung những bị can có tiền án, tiền sự, ngoan cố và lỳlợm thì phòng hỏi cung cần được bố trí kiên cố, có canh gác, đề phòng bị can lợidụng sơ hở trốn thoát hoặc có hành vi tiêu cực khác
- Chuẩn bị các phương tiện cần thiết cho cuộc hỏi cung