1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em

59 355 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 308,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do và tính cấp thiết của đề tài Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao và hệ trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “ Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”, “ Trước hết, gia đình phải làm thật tốt công việc ấy; các Đảng ủy...các ban, ngành, đoàn thể khác phải có kế hoạch cụ thể chăm sóc các cháu ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ”. 5, tr7 Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang quan tâm ngày một tốt hơn công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Thực tế công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta hiện nay đã có nhiều chuyển biến đáng khích lệ, thực trạng tình hình trẻ em ở nước ta đang được cải thiện trên nhiều mặt về đời sống vật chất và tinh thần. Quốc tế đánh giá cao những kết quả mà chúng ta đã đạt được trong sự nghiệp bảo vệ quyền trẻ em. Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì tình hình trẻ em bị xâm phạm về thể chất và tinh thần, môi trường sống không đảm bảo lành mạnh và an toàn đang là một thực tế hiện nay. Vi phạm hành chính về trẻ em là một trong những nguyên nhân dẫn đến hệ quả tiêu cực đó. Vậy thì, pháp luật hiện hành đã quy định như thế nào về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em? Các quy định đó đã đủ sức răn đe, giáo dục đối tượng vi phạm, đã tạo ra được hành lang pháp lý thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm hay chưa? Đó là những nội dung quan trọng cần được chúng ta tìm hiểu, nghiên cứu và làm sáng tỏ, để qua đó có những kiến giải, đóng góp quan trọng nhằm hoàn thiện pháp luật. Với đề tài: “ Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em”, bài viết này, chúng tôi, mong muốn góp phần quan trọng, có ý nghĩa cụ thể và thiết thực vào mục đích nêu trên. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài “ Bảo vệ quyền trẻ em theo quy định của pháp luật” và “ Xử phạt vi phạm hành chính các vấn đề có liên quan” là hai nội dung không mới. Vì vậy, nó đã được nhiều đề tài khoa học pháp lý nghiên cứu và làm sáng tỏ ở những mức độ khác nhau. Tuy vậy, “Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em” lại là một đề tài còn rất mới trong khoa học pháp lý hiện nay. “Mới” ở đây là bởi vì còn rất ít đề tài khoa học nghiên cứu về nó. Trong qua trình tìm tòi tài liệu, chúng tôi, đã không tìm thấy một đề tài có nội dung tương tự nào nghiên cứu về vấn đề này. Đó là khó khăn và cũng là động lực để chúng tôi cố gắng hoàn thành tốt đề tài mà mình đã lựa chọn.

Trang 1

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM VÀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM 3 1.1 Quyền trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em 3 1.2 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em 7 CHƯƠNG II: XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH VỀ TRẺ EM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 12 2.1 Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em 12 2.2 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em 16 2.3 Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính về trẻ em gây ra 21 2.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em 23 2.5 Thụ tục xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em và một số vấn đề có liên quan 25 2.5.1 Thụ tục xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em: 25 2.5.2 Chuyển hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự đối vi phạm hành chính về trẻ em có dấu hiệu tội phạm 31 2.5.3 Áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em 32 CHƯƠNG III: HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM 34 3.1 Ý nghĩa của việc hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em 34 3.2 Các biện pháp cụ thể 36 KẾT LUẬN 53

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do và tính cấp thiết của đề tài

Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao và

hệ trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “ Chăm sóc và giáo dục tốt cáccháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”, “ Trước hết, gia đình phải làm thậttốt công việc ấy; các Đảng ủy các ban, ngành, đoàn thể khác phải có kế hoạch

cụ thể chăm sóc các cháu ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ” [5, tr7]

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã vàđang quan tâm ngày một tốt hơn công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.Thực tế công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta hiện nay đã cónhiều chuyển biến đáng khích lệ, thực trạng tình hình trẻ em ở nước ta đangđược cải thiện trên nhiều mặt về đời sống vật chất và tinh thần Quốc tế đánh giácao những kết quả mà chúng ta đã đạt được trong sự nghiệp bảo vệ quyền trẻem

Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì tình hình trẻ em bị xâm phạm vềthể chất và tinh thần, môi trường sống không đảm bảo lành mạnh và an toànđang là một thực tế hiện nay Vi phạm hành chính về trẻ em là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến hệ quả tiêu cực đó Vậy thì, pháp luật hiện hành đã quyđịnh như thế nào về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻem? Các quy định đó đã đủ sức răn đe, giáo dục đối tượng vi phạm, đã tạo rađược hành lang pháp lý thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền xử lý nghiêmminh các hành vi vi phạm hay chưa? Đó là những nội dung quan trọng cần đượcchúng ta tìm hiểu, nghiên cứu và làm sáng tỏ, để qua đó có những kiến giải,đóng góp quan trọng nhằm hoàn thiện pháp luật

Với đề tài: “ Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em”, bài viết này, chúng tôi, mong muốn góp phần

quan trọng, có ý nghĩa cụ thể và thiết thực vào mục đích nêu trên

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

“ Bảo vệ quyền trẻ em theo quy định của pháp luật” và “ Xử phạt vi phạmhành chính- các vấn đề có liên quan” là hai nội dung không mới Vì vậy, nó đã

Trang 3

được nhiều đề tài khoa học pháp lý nghiên cứu và làm sáng tỏ ở những mức độkhác nhau Tuy vậy, “Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em” lại là một đề tài còn rất mới trong khoa học pháp

lý hiện nay “Mới” ở đây là bởi vì còn rất ít đề tài khoa học nghiên cứu về nó.Trong qua trình tìm tòi tài liệu, chúng tôi, đã không tìm thấy một đề tài có nộidung tương tự nào nghiên cứu về vấn đề này Đó là khó khăn và cũng là độnglực để chúng tôi cố gắng hoàn thành tốt đề tài mà mình đã lựa chọn

3 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của đề tài

Phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài này là hệ thống các quy phạm phápluật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ

em Trên cơ sở trình bày những vấn đề có tính chất lí luận về quyền trẻ em, viphạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em và tập hợp hóa để phântích, đánh giá, nhận xét tất cả các quy phạm pháp luật xử phạt vi phạm hànhchính về trẻ em; chúng tôi đưa ra các biện pháp cụ thể vừa có tính chất lí luậnvừa có tính chất thực tiễn áp dụng các loại quy phạm này trong điều kiện kinh

tế, xã hội của nước ta hiện nay

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài là hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử phạt viphạm hành chính đối với trẻ em Để hoàn thành được mục đích đó đề tài cầnphải: Nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan, phân tích đánh giá các quyđịnh của pháp luật hiên hành để đưa ra những kiến giải và phương hướng biệnpháp cụ thể

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

* Phương pháp luận:

Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử để xem xét vấn đề một cách toàn diện, đầy đủ và khách quannhất

* Phương pháp riêng (phương pháp củ thể có tính đặc thù):

- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu (chủ yếu);

- Phương pháp lôgíc - lịch sử;

- Phương pháp liên hệ so sánh, thống kê mô tả

Trang 4

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRẺ EM VÀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM

1.1 Quyền trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em

Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là hạnh phúc của gia đình, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sinh thời Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã dành tình cảm đặc biệt cho trẻ em Tình thương yêu Bác dành chotrẻ em thật vô bờ bến, tình yêu đó bắt nguồn từ lý tưởng của Bác: suốt đời phấnđấu cho sự nghiệp vĩ đại - giải phóng dân tộc, giải phóng con người Mưu cầuhạnh phúc cho nhân dân, đó là điều “ham muốn tột bậc của Người Sự quan tâmđặc biệt của Người dành cho trẻ em còn bắt nguồn từ tầm nhìn xa trông rộng,

“Vì lợi ích trăm năm”, từ chiến lược con người Trong chiến lược đó, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã dày công vun trồng thế hệ mầm non của đất nước Vì “ngàynay các cháu là nhi đồng Ngày sau các cháu là người chủ của nước nhà, của thếgiới” Tư tưởng này giờ đây vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó và hoàn toàn phụhợp với tư tưởng của thời đại: “Trẻ em hôm nay - thế giới ngày mai” Như vậy,

Người đã chỉ cho chúng ta thấy trẻ em cần được chăm sóc, bảo vệ về mọi mặt:

Sức khỏe, học tập, vui chơi giải trí và hoạt động đoàn thể.[5, tr5]

Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao và

hệ trọng Nó đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Nhà nước, sự nỗ lực

và kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và xã hội Thấm nhuần tư tưởng của Người,Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang quan tâm ngày một tốt hơn công tácbảo vệ, chăm sóc trẻ em

Dưới góc độ pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” (Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em năm 2004); còn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, tại Điều 1

quy định: “ Trong phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18

Trang 5

tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”

Như vậy, trẻ em đó là những cá nhân còn đang trong độ tuổi phát triển toàndiện về thể lực và trí tuệ, có đặc điểm tâm sinh lý đặc biệt, nhạy cảm về suynghĩ, dễ tác động về yếu tố khách quan và cần được giáo dục, chăm sóc, bảo vệtrong một môi trường thực sự lành mạnh và tiến bộ

* Quyền trẻ em dưới góc độ quyền con người

Quyền con người là một khái niệm rộng với nội dung đa dạng, tính chấtnhảy cảm và phức tạp Khái niện quyền con người được hình thành từ lâu đời vàgắn liền với quá trình đấu tranh chống áp bức bóc lột của loài người Khi nghiêncứu về quyền con người thông thường có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí làtrái ngược nhau do cách tiếp cận và quan điểm của mỗi người là khác nhau

Dưới góc độ pháp lý theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Hảo thì “quyền con người là các khả năng của con người được đảm bảo bằng pháp luật về sự dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần

sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình dựa trên cơ sở pháp lý” (Quyền con người trong sự

nghiệp đổi mới ở Việt Nam- Hoàng Văn Hảo) [11] Còn theo ông Trần Quang

Tiệp thì “ quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội nhất định”[7]

Theo chúng tôi, quyền trẻ em- quyền con người là những quyền nhân sinh,mang tính chất tự nhiên và xã hội mà bất kể một cá thể nào sinh ra đều có quyềnđược hưởng khi họ tham gia vào quan hệ giữa con người với con người, giữacon người với thế giới tự nhiên, giữa con người với thế giới tâm linh và quan hệgiữa họ với chính bản thân mình; các quyền con người đó phải được bảo vệbằng pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật Quốc gia và Pháp luật Quốc tế.Tuyên bố thế giới về nhân quyền năm 1948 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốcquy định: Điều 1 “ Mọi người sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và nhân quyền

Trang 6

Họ được phú cho lý trí và tương lai và phải đối xử với nhau trong tình anh em”;Điều 2 “ Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bảntuyên ngôn này, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da,giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dântộc hoặc xã hội, tài sản, giống nòi hay các tình trạng khác ” Như vậy, trẻ emcần phải được hưởng đầy đủ các giá trị quyền lợi tự nhiên và xã hội của conngười, được bảo vệ bằng pháp luật Bên cạnh đó, trẻ em còn được hưởng cácquyền khác mà xã hội ưu tiên dành cho Để chăm sóc, bảo vệ các quyền của trẻ

em cần có sự chung sức của toàn thể xã hội với nhiều hoạt động khác nhau,trong đó xử lý để ngăn chăn và phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật đốivới trẻ em là một hoạt động quan trọng mang tính pháp lý đặc trưng

* Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền trẻ em

Các quyền và nghĩa vụ của trẻ em được pháp luật Việt Nam ghi nhận vàbảo hộ trong các văn bản pháp luật khác nhau từ: Hiến pháp, Luật, đến các vănbản dưới luật Điều 65, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

năm 1992 quy định: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” Cụ thể hơn, theo quy định tại Chương II, Luật bảo vệ, chăm

sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, thì trẻ em có các quyền sau:

“ Trẻ em có quyền được khai sinh, có quốc tịch (Điều 11);

Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 12);

Trẻ em có quyền được sống chung với cha mẹ (Điều 13);

Trẻ em có quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự (Điều 14);

Trẻ em có quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe (Điều 15);

Trẻ em có quyền được học tập (Điều 16);

Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch (Điều 17);

Trẻ em có quyền phát triển năng khiếu (Điều 18);

Trẻ em có quyền có tài sản (Điếu 19);

Trang 7

Trẻ em có quyền tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia các hoạt động xã hội (Điều 20)”.

Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật quy định một cách trực tiếpquyền và nghĩa vụ của trẻ em thì Nhà nước cũng đã ban hành các văn bản quyphạm pháp luật khác làm căn cứ pháp lý cho việc đấu tranh phòng chống cáchành vi xâm hại quyền trẻ em, như Bộ luật hình sự năm 1999, Pháp lệnh xử lý viphạm hành chính năm 2002; Nghị định 114 ngày 03/10/2006 quy định xử phạt

vi phạm hành chính về dân số và trẻ em… Các văn bản sẽ được chúng ta nghiêncứu cụ thể hơn ở phần sau của bài viết

* Một số các điều ước quốc tế quan trọng về quyền trẻ em

Thứ nhất, Tuyên bố thế giới về nhân quyền, thông qua và tuyên bố theo

Nghị quyết số 217A( III ), ngày 10 tháng 12 năm 1948 của Đại hội đồng bảo anLiên hợp quốc Đây là văn kiện pháp lý Quốc tế đặc biệt quan trọng có phạm vi

và giá trị hiệu lực tối cao trong sự nghiệp quốc tế về bảo vệ các giá trị nhânquyền Tuyên bố thế giới về nhân quyền là Điều ước quốc tế chung về quyềncon người, trong đó có điều khoản riêng quy định về quyền trẻ em, Điều 25

khoản 2 quy định: “ Người mẹ và trẻ em được đảm bảo sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt Mọi đứa con dù trong hay ngoài giá thú đều phải được hưởng sự bảo hiểm xã hội như nhau”.

Thứ hai, Công ước quốc tế về quyền trẻ em, thông qua ngày 20 tháng11

năm 1989, có hiệu lực ngày 2 tháng 9 năm 1990 Việt Nam gia nhập Công ướcnày ngày 20 tháng 2 năm 1990 Đây là công ước quốc tế dành riêng để bảo vệquyền trẻ em, là cơ sở pháp lý quan trọng ràng buộc trách nhiệm của các quốcgia thành viên trong hoạt động chăm sóc và bảo vệ quyền trẻ em Tại Điều 2,

Công ước quy định: “ 1 Các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm những quyền được nêu ra trong công ước đối với trẻ em thuộc quyền tài phán của họ không có bất cứ một sự phân biệt đối xử nào, bất kể trẻ em, cha mẹ hay người giám hộ pháp lý của trẻ em đó thuộc chủng tộc, màu da, giới tính, tiếng nói, tôn giáo nào, không kể người đó có quan điểm chính trị hay quan điểm gì

Trang 8

khác mhư thế nào, gốc gác quốc gia, dân tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, xuất thân và những mối tương quan ra sao ”; Điều 3, của Công ước quy định: “ Trong mọi hoạt động đối với trẻ em dù của cơ quan phúc lợi xã hội của Nhà nước hay của cá nhân, Tòa án hay nhà chức trách hành chính, cơ quan lập pháp, thì những lợi ích tốt nhất của tẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu ”

Hay tại Điều 24 khoản 1 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự,

chính trị mà Việt Nam gia nhập ngày 24 tháng 9 năm 1982 đề cập đến vấn đề

bảo vệ quyền trẻ em cũng quy định trên tinh thần tương tự như vậy

Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới (và là nước đầu tiên ở Châu Á)phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em Việc phê chuẩn rất sớmtoàn bộ Công ước không phải bảo lưu một điều khoản nào cho thấy sự quan tâmcủa Nhà nước đối với việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em Điều này phản ánh mộttruyền thống từ lâu đời của dân tộc ta là luôn dành cho trẻ em những lợi ích tốtđẹp nhất

1.2 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em

Hiện nay, các loại vi phạm hành chính về trẻ em được quy định cụ thể trongNghị định số 114/2006/NĐ - CP ngày 03/ 10/ 2006 của Chính phủ quy định xử

phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em (NĐ số 114/2006/NĐ - CP), Nghị

định số 45/2004/NĐ - CP ngày 06/04/2005/ của Chính phủ về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực y tế (NĐ số 45/2005/NĐ - CP), Nghị định số 56/2006/

NĐ - CP ngày 06/06/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh văn hóa - thông tin (NĐ số 56/2006/NĐ - CP), Nghị định 150/2005/NĐ -

CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực an ninh trật tự, an toàn xã hội (NĐ số 150/2005/NĐ - CP), Nghị định số76/2006/NĐ- CP ngày 02/08/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực tư pháp (NĐ số 76/2006/NĐ-CP), Nghị định số49/2005/NĐ- CP ngày 11/04/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực giáo dục (NĐ số 49/2005/NĐ- CP) Trong đó NĐ số114/2006/NĐ - CP được xem là văn bản pháp lý trung tâm, tập trung quy định

Trang 9

về lĩnh vực này Do đó, sau đây xin được gọi tắt vi phạm hành chính trong lĩnhvực bảo vệ quyền trẻ em là “vi phạm hành chính về trẻ em”

Bên cạnh đó cũng có một số các Nghị định khác quy định xử phạt vi phạmhành chính mà chủ thể bị xâm phạm là người chưa thành niên (theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi; như vậy,

nó bao hàm trong đó có cả trẻ em), hay nhóm các chủ thể thường được xác định

là trẻ em, như các hành vi vi phạm được quy định trong Nghị định số87/2001/NĐ- CP ngày 21/11/2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Nhưng vì không xác định được cụthể các chủ thể này có phải là trẻ em hay không nên chúng ta sẽ không xem xét

nó trong phạm vi bài viết này

* Khái niệm vi phạm hành chính về trẻ em

Vi phạm hành chính về trẻ em là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Vi phạm hành chính đối

với trẻ em ngoài những đặc điểm của vi phạm hành chính nói chung nó cònmang một số đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, chủ thể bị vi phạm trong quan hệ pháp luật này là trẻ em hay nói

cách khác nạn nhân của hành vi vi phạm này là trẻ em Mà theo quy định củaluật bảo vệ, chăm sóc trẻ em thì trẻ em quy định trong luật này là công dân ViệtNam dưới mười sáu tuổi

Thứ hai, khách thể của loại quan hệ pháp luật này là các quyền được chăm

sóc và bảo vệ của trẻ em được pháp luật ghi nhận và bảo hộ thông qua các hoạtđộng quản lý của nhà nước Đối tượng trực tiếp là các giá trị vật chất và tinhthần mà trẻ em được hưởng theo quy định của pháp luật hiện hành Như quyềnđược chăm sóc nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức; quyền đượchọc tập; quyền được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa vănnghệ, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi; quyền có tài sản, hưởng

Trang 10

thừa kế, hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định của pháp luật; được quyđịnh tại luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em và các văn bản pháp luật có liên quan khác.

* Các loại vi phạm hành chính về trẻ em

Vi phạm hành chính về trẻ em là các loại vi phạm hành chính xâm phạmđến các quyền của trẻ em được pháp luật bảo vệ, các quyền cơ bản đó được quyđịnh tại Chương II, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Hiệnnay, các loại vi phạm hành chính về trẻ em được quy định cụ thể trong một sốcác Nghị định của Chính phủ đã liệt kê ở phần trên Theo đó, tại NĐ số 114 quyđịnh 14 loại hành vi; Nghị định 45 có hai loại hành vi quy định tại Điều 16, Điều17; Nghị định 56 có một loại hành vi quy định tại Điều 27; Nghị định 150 cómột loại hành vi quy định tại Điều 26; Nghị định 76 có hai loại hành vi quy địnhtại Điều 12, Điều 32 và Nghị định 49 có ba loại hành vi quy định tại Điều 8,Điều 15, Điều 21 vi phạm hành chính về trẻ em (các loại hành vi này đã đượcliệt kê cụ thể ở phần phụ lục của bài viết này)

Nhìn chung, hầu hết các vi phạm hành chính về trẻ em được pháp luật quyđịnh đều có những biệu hiện về dấu hiệu của hành vi phạm tội hình sự Do vậy,việc xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính về trẻ em và phạm tội hình sự

về trẻ em là rất khó khăn và có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, xử lýkịp thời và tiến tới phòng chống có hiệu quả các vi phạm pháp luật xâm phạmđến quyền trẻ em Việc xác định ranh giới này cần phải căn cứ triệt để vào hậuquả gây hại của hành vi vi phạm, yếu tố chủ thể và các dấu hiệu khác cấu thànhhành vi vi phạm đó Ví dụ như :

1 Hành vi cản trở, không khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em (éiều 12 của

Nghị ðịnh 114) có các loại hành vi cụ thể :

- Người đang chăm sóc, nuôi dưỡng, trông nom, dạy học cho trẻ em mà không thông báo kịp thời cho gia đình hoặc không đưa ngay trẻ em đến khám bện, chữa bệnh tại các cơ sở y tế gần nhất khi trẻ em đột xuất có dấu hiệu bị bệnh nặng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Đối với loại vi phạm này, dấu hiệu

Trang 11

thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ em là dấu hiệu bắt buộc Tuy nhiên,nếu hậu quả là trẻ em chết thì hành vi sẽ cấu thành tội không cứu giúp ngườiđang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tắnh mạng theo Điều 102 Bộ luật hình sự.

- Từ chối khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em Chủ thể của loại vi phạm này

chỉ có thể là các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm khám, chữa bệnh cho trẻ emtheo qui định của pháp luật

- Thu tiền khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi tại các cơ sở y tế công lập trái với quy định của pháp luật.

- Cố tình không sự dụng trang thiết bị, phương tiện khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em trong khi có điều kiện và được phép sự dụng.

éối với loại vi phạm này, dấu hiệu lỗi cố ý là dấu hiệu bắt buộc trong cấuthành Tuy nhiên, nếu hậu quả là trẻ em chết thì hành vi sẽ cấu thành Tội khôngcứu giúp ngýời đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tắnh mạng theo éiều 102của Bộ luật hình sự

2 Hành vi cha, mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình

giám hộ (Điều 13 của Nghị định 114) có các loại hành vi cụ thể sau:

- Ngay sau khi sinh con, cha hoặc mẹ bỏ con, không chăm sóc, nuôi dưỡng.

Trong trýờng hợp ngýời mẹ do ảnh hýởng nặng nề của tý týởng lạc hậu hoặctrong hoàn cảnh khỏch quan đặc biệt mà vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả đứatrẻ chết thỡ hành vi cấu thành Tội giết con mới đẻ theo éiều 94 của Bộ Luậthỡnh sự

- Cha, mẹ để con, người giám hộ để trẻ em được mình giám hộ cho người khác nuôi, cắt đứt quan hệ, không thực hiện nghĩa vụ đóng góp nuôi dưỡng trẻ

em, mặc dù có khả năng thực hiện nghĩa vụ này, trừ trường hợp cho trẻ em làm con nuôi theo quy định của pháp luật Trong trýờng hợp gõy hậu quả nghiờm

trọng hoặc ngýời thực hiện hành vi đó bị xử lớ hành chớnh về hành vi này mà

Trang 12

vẫn tỏi phạm, thỡ hành vi cấu thành Tội từ chối hoặc trốn trỏnh nghĩa vụ cấpdýỡng theo éiều 152 của Bộ luật hỡnh sự.

Trang 13

3 Hành vi kắch động tình dục trẻ em (Điều 15 Nghị định 114) có các loại

hành vi cụ thể sau:

- Cho trẻ em tiếp xúc với văn hóa phẩm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm;

- Tác động vào cơ thể trẻ em hằm kắch động tình dục trẻ em éối với hành vi

này, chủ thể vi phạm hành chớnh khụng thực hiện hành vi giao cấu và dấu hiệu

mục đớch Ộkắch động tình dục trẻ emỢ là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành Tuy

nhiờn, nếu hành vi này do ngýời đó thành niờn thực hiện thỡ sẽ cấu thành Tộidõm ụ đối với trẻ em đýợc qui định tại éiều 116 của Bộ luật hỡnh sự

Ngoài ra các hành vi vi phạm hành chắnh về trẻ em được quy định trong cácNghị định của Chắnh phủ còn có một số loại hành vi có sự trùng lặp giữa cácNghị định với nhau Các trường hợp cụ thể này sẽ được chúng tôi phân tắch,bình luận cụ thể ở phần sau của bài viết

Việc xử phạt vi phạm hành chắnh để bảo vệ quyền trẻ em là hoạt động pháp

lý xuất phát từ yêu cầu khách quan của hoạt động quản lý hành chắnh nhà nướctrong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em, vừa là yêu cầu, đòi hỏi của xã hội trong sựnghiệp giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em Ờ thế hệ tương lai của đất nước

Trang 14

CHƯƠNG II: XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH VỀ TRẺ EM THEO QUY

ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

2.1 Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em

Khi tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệquyền trẻ em, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủnhững nguyên tắc đã được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính

và các Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnhvực bảo vệ quyền trẻ em Các nguyên tắc đó bao gồm:

* Thứ nhất, mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải đình chỉ ngay Việc xử phạt vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật.

Đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính về trẻ em là công việc cần phảiđược tiến hành thường xuyên trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Các

cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân đều có trách nhiệm phát hiện và kiếnnghị xử lý kịp thời các vi phạm hành chính về trẻ em với cơ quan có thẩm quyềntheo quy định của pháp luật

Trên thực tế hiện nay, việc xác minh rõ các tình tiết của một hành vi nào đó

có vi phạm hành chính về trẻ em hay không là rất khó khăn Bởi vì, hầu hết cáchành vi vi phạm hành chính về trẻ em đều có dấu hiệu của mặt khách quan trongcấu thành tội phạm Ví dụ, giữa hành vi vi phạm hành chính “kích động tình dụctrẻ em” quy định tại Điều 15 NĐ số114/2006/NĐ- CP với hành vi phạm tội

“dâm ô với trẻ em” quy định tại Điều 116 Bộ luật hình sự năm 1999, đều có dấuhiệu của mặt khách quan là như nhau rất khó phân biệt Vì vậy, việc xác địnhđâu là hành vi vi phạm hành chính về trẻ em chúng ta phải căn cứ triệt để vàomức độ của hành vi vi phạm, chủ thể thực hiện

Để bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc nói trên pháp luật về xử phạt

vi phạm hành chính quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thời hạn ra

Trang 15

quyết định xử phạt, thủ tục đình chỉ vi phạm hành chính và các biện pháp khắcphục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra.

* Thứ hai, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành chính do pháp luật quy định

Việc xác định vi phạm hành chính về trẻ em và áp dụng các biện pháp xửphạt hành chính có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhà nước, tự do, quyền

và lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong xã hội Do vậy, pháp luật cần quy định

cụ thể về các loại vi phạm hành chính về trẻ em và nguy cơ áp dụng các biệnpháp xử phạt hành chính đối với cá nhân, tổ chức thực hiện những loại vi phạm

đó nhằm hạn chế tối đa việc bỏ lọt vi phạm hành chính cũng như việc áp dụngtùy tiện các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính

* Thứ ba, việc xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.

Là một dạng hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật, nên xử phạt vi phạmhành chính chỉ do người có thẩm quyền tiến hành theo thủ tục, trong nhữngtrường hợp với những biện pháp được pháp luật quy định cụ thể Hơn nữa, hoạtđộng này lại mang tính chất cưỡng chế nhà nước, với phương pháp mệnh lệnhphục tùng Do đó, trong quan hệ pháp luật này bên chủ thể tiến hành phải nhândanh Nhà nước thực hiện quền lực của mình

Phù hợp với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, các Nghị định của Chínhphủ xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em quy định cụ thể về thẩm quyền xửphạt, thủ tục, biện pháp xử phạt vi phạm hành chính tương ứng với tính chất,mức độ của các loại vi phạm hành chính về trẻ em

* Thứ tư, một vi phạm hành chính về trẻ em chỉ bị xử phạt hành chính một lần.

Với yêu cầu xử lý nhanh chóng, dứt điểm các vi phạm hành chính về trẻ emthể hiện tập trung, nhất quán ý chí của nhà nước trong việc xử lý đối với từngtrường hợp vi phạm hành chính cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 3

Trang 16

NĐ128/2008/NĐ-CP quy định nguyên tắc một vi phạm hành chắnh chỉ bị xửphạt một lần với các nội dung sau:

- Một hành vi vi phạm đã đýợc ngýời có thẩm quyền xử phạt ra quyết định

xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thỡ khụng đýợc lập biên bản, ra quyếtđịnh xử phạt lần thứ hai đối với chắnh hành vi đó nữa Trong trýờng hợp hành vi

vi phạm vẫn tiếp tục đýợc thực hiện mặc dù đã bị ngýời có thẩm quyền xử phạt

ra lệnh đình chỉ thỡ bị ỏp dụng tỡnh tiết tóng nặng: Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chắnh mặc dù người có thẩm quyền đó yêu cầu chấm dứt hành vi đó

- Một hành vi vi phạm hành chắnh đã đýợc ngýời có thẩm quyền xử phạt raquyết định xử phạt thì không đồng thời áp dụng biện pháp xử lắ hành chắnh khác

(giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh); đối với hành vi đó;

- Trong trýờng hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm bị chuyển hồ sừ

đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự mà trýớc đó đã có quyết định xử phạt viphạm hành chắnh thì ngýời đó quyết định xử phạt phải huỷ bỏ quyết định xửphạt; nếu chýa ra quyết định xử phạt thì không xử phạt vi phạm hành chắnh đốivới hành vi đó;

- Nhiều ngýời cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chắnh thì mỗingýời vi phạm đều bị xử phạt về hành vi đó Ngýời có thẩm quyền xử phạt cón

cứ vào tắnh chất, mức độ vi phạm, nhân thân ngýời vi phạm, tình tiết tóng nặng,giảm nhẹ mà ra quyết định xử phạt đối với từng ngýời cùng thực hiện vi phạmhành chắnh;

- Một ngýời thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chắnh thì bị xử phạt vềtừng hành vi vi phạm Khi quyết định xử phạt một ngýời thực hiện nhiều hành vi

vi phạm hành chắnh, thì ngýời có thẩm quyền chỉ ra một quyết định xử phạttrong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm; nếucác hình thức xử phạt là phạt tiền thì cộng lại thành mức phạt chung

Trang 17

* Thứ năm, việc xử phạt vi phạm hành chắnh phải căn cứ vào tắnh chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử phạt thắch hợp.

Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tắnh nghiêmminh của pháp luật, bảo đảm tắnh giáo dục và phòng ngừa vi phạm trong côngtác xử phạt vi phạm hành chắnh về trẻ em nhằm bảo vệ các quyền, lợi ắch hợppháp của trẻ em

* Thứ sáu, không xử phạt vi phạm hành chắnh trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chắnh đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chắnh trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Tình thế cấp thiết là tình thế của ngýời vì muốn tránh một nguy cừ đangthực tế đe dọa lợi ắch của Nhà nýớc, của cừ quan, tổ chức, quyền, lợi ắch chắnhđáng của mình hoặc của ngýời khác mà không còn cách nào khác là phải gây ramột thiệt hại nhỏ hừn thiệt hại cần ngón ngừa

Phòng vệ chắnh đáng là hành vi của một ngýời vì bảo vệ lợi ắch của Nhànýớc, của cừ quan, tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ắch chắnh đáng của mình hoặc củangýời khác, mà chống trả lại một cách cần thiết ngýời đang có hành vi xâmphạm các lợi ắch nói trên

Cá nhân thực hiện hành vi trái pháp luật trong trýờng hợp sự kiện bất ngờhoặc trong khi đang mắc bệnh tâm thần hay một bệnh khác làm mất khả nóngnhận thức hoặc khả nóng điều khiển hành vi của mình, thì không có lỗi, hành vi

đó thực hiện không cấu thành vi phạm hành chắnh, chủ thể thực hiện hành vikhông bị xử phạt hành chắnh

Như vậy, không phải mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội đều bị pháp luật xử

lý Hành động của chủ thể trong trường hợp phòng vệ chắnh đáng, tình thế cấp

Trang 18

thiết mặc dù là những hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội nhưng vi chủthể thực hiện với mục đích, động cơ tích cực vì bảo vệ một lợi ích xã hội kháccao hơn được pháp luật bảo hộ nên những hành vi này đã “loại trừ” tính chấtnguy hiểm của hành vi, do đó mà pháp luật không coi nó là hành vi vi phạmpháp luật Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này của pháp luật trên thực tếthường gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc xác định ranh giới giữa hành vitrong các trường hợp này với hành vi đã vi phạm pháp luật Nó đòi hỏi sự chínhxác, khách quan của các chủ thể có thẩm quyền trong việc phát hiện và xử lý kịpthời đúng pháp luật các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm hànhchính về trẻ em nói riêng.

2.2 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em

Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng trước hết nhằmmục đích trừng phạt người vi phạm, thông qua đó giáo dục mọi người tuân thủpháp luật, tôn trọng các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các viphạm pháp luật có thể xẩy ra Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về trẻ

em được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và các Nghị địnhcủa Chính phủ trong các lĩnh vực cụ thể Theo đó, đối với mỗi vi phạm hànhchính về trẻ em, chủ thể vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạtchính là cảnh cáo hoặc phạt tiền

đủ 16 tuổi trở lên hoặc tổ chức vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sauđây:

- Hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện được văn bản pháp luậtquy định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo Điều này xác định rằng

Trang 19

loại hành vi mà tổ chức, cá nhân đã thực hiện là vi phạm nhỏ Nếu loại vi phạm

mà chủ thể đó thực hiện mà pháp luật quy định chỉ áp dụng hình thức phạt tiềnthì không được áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo Ví dụ như, Điều 21, khoản

1 NĐ số 114/2006/NĐ- CP, quy định: “ phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000đồng dến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng nhục, bắt làm việc có tính chấtxúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm đối với trẻ em vi phạm pháp luật”, thìtrong trường hợp này chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào mức độ vi phạm mà cóthể áp dụng xử phạt cảnh cáo

- Việc áp dụng hình thức phạt cảnh cáo đối với tổ chức, cá nhân vi phạmhành chính chỉ được thực hiện khi đó là vi phạm lần đầu và có tình tiết giảm nhẹtheo quy định của Điều 8 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính

Dưới góc độ khoa học pháp lý thì chỉ những hành vi vi phạm hành chínhđược pháp luật dự liệu áp dụng biện pháp xử phạt cảnh cáo mới được coi là viphạm hành chính nhỏ Ví dụ: Hành vi vi phạm hành chính được quy định tạiĐiều 21, khoản 1 NĐ số 114/2006/NĐ- CP: “ phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ500.000 đồng dến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng nhục, bắt làm việc cótính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm đối với trẻ em vi phạm pháp

luật” Mặt khác vi phạm hành chính lần đầu là trường hợp chủ thể vi phạm hành

chính trước đó chưa vi phạm hành chính trong cùng lĩnh vực hoặc có vi phạmhành chính trong cùng lĩnh vực nhưng đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử lý

vi phạm hành chính

* Phạt tiền:

Phạt tiền là hình thức xử phạt chính được quy định tại Điều 14 Pháp lệnh

xử lý vi phạm hành chính Nhìn chung các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chínhnếu không thuộc trường hợp xử phạt cảnh cáo thì bị xử phạt bằng hình thức xửphạt tiền Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định mức phạt tiền trong xửphạt hành chính là từ 10.000 đồng đến 500.000.000 đồng Theo đó, căn cứ vàotính chất, mức độ vi phạm mà có mức phạt cụ thể cho từng hành vi Đối với cáchành vi vi phạm hành chính xâm phạm đến quyền của trẻ em, mức phạt tiền cụ

Trang 20

thể căn cứ vào các Nghị định của Chính phủ về từng lĩnh vực điều chỉnh Chẳnghạn như, mức phạt tiền quy định trong NĐ số 45/2005/ NĐ-CP đối với các viphạm hành chính về trẻ em, có mức thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là15.000.000 đồng; trong Nghị định số 150/2005/NĐ- CP, thì mức tiền phạt đốivới hành vi vi phạm về trẻ em quy định tại khoản 2, Điều 26 là từ 200.000 đồngdến 500.000 đồng; còn trong NĐ số114/2006/NĐ- CP mức thấp nhất là 100.000đồng và mức cao nhất là 30.000.000 đồng.

Việc lựa chọn, áp dụng mức tiền phạt đối với người vi phạm phải trongkhung phạt cụ thể được văn bản pháp luật quy định cho loại vi phạm đã thựchiện theo cách: Mức tiền phạt cụ thể đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính làmức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu cótình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quámức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức phạt tiền cóthể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt Ví dụ:

Cá nhân, tổ chức có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc trẻ em phải bỏ học, nghỉ học, thì bị xử phạt từ 200.000 đồng

đến 500.000 đồng (khoản 1, Điều 20, NĐ 114/2006/NĐ- CP), khi áp dụng mức

xử phạt sẽ lấy mức trung bình của khung tiền phạt là 350.000 đồng Còn nếunhư trường hợp chủ thể vi phạm lại có tình tiết tăng nặng là lợi dụng chức vụ,quyền hạn để vi phạm (khoản 5, Điều 9 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chínhnăm 2002), thì có thể áp dụng mức tiền phạt cao hơn mức trung bình nhưngkhông được quá 500.000 đồng Cũng ví dụ trên nếu chủ thể vi phạm lại có tìnhtiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi (điểm b, khoản 1 Điều 8Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002), thì có thể áp dụng mức tiềnphạt thấp hơn mức trung bình nhưng không được thấp hơn 200.000 đồng

Việc lựa chọn, áp dụng mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới

18 tuổi vi phạm hành chính có những nét đặc thù riêng biệt đã được quy định tạikhoản 1, Điều 7 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Theo đó, khi phạt tiền

Trang 21

đối với họ thì mức tiền phạt không được quá một phần hai mức phạt đối vớingười thành niên.

Nhìn chung, trong các hành vi vi phạm hành chắnh về trẻ em, thì hình thức

xử phạt tiền được áp dụng chiếm tỷ lệ cao hơn hình thức xử phạt cảnh cáo (xửphạt tiền chiếm tới 73,8%, cảnh cáo chỉ có 24,2%) Nhưng điều đó hoàn toànkhông mâu thuẫn với mục đắch chung của hoạt động xử phạt vi phạm hành

chắnh trong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em là: giáo dục cá nhân, tổ chức vi phạm nhận thức được sai phạm, tự nguyện sữa chữa, thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định Bởi vì, trong một chừng mực nào đó mục đắch giáo dục chỉ đạt được

khi biện pháp chế tài xử phạt đưa ra phải đủ mạnh để tác động lên hành vi đó.Bên cạnh các hình thức xử phạt chắnh, tùy theo tắnh chất, mức độ vi phạm,

cá nhân, tổ chức vi phạm hành chắnh đối với trẻ em còn có thể áp dụng một hoặccác hình thức xử phạt bổ sung là:

* Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề:

Týớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề đýợc áp dụng kèmtheo hình thức xử phạt chắnh trong trýờng hợp cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêmtrọng quy định sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề Giấy phép, chứng chỉhành nghề là các loại giấy tờ do cừ quan nhà nýớc, ngýời có thẩm quyền cấp chocác tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật để cho phép tổ chức, cá nhân

đó kinh doanh, hoạt động, hành nghề trong một lĩnh vực nhất định hoặc sử dụngmột loại công cụ, phýừng tiện nhất định Giấy phép, chứng chỉ hành nghề ở đâykhông bao gồm giấy đóng ký kinh doanh, các loại chứng chỉ gắn với nhân thânngýời đýợc cấp không có mục đắch cho phép hành nghề

Týớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề đýợc áp dụng có thờihạn hoặc không thời hạn và đýợc quy định đối với hành vi vi phạm hành chắnh

cụ thể, tùy thuộc vào tắnh chất, mức độ của hành vi vi phạm đó

Thời hạn áp dụng đối với hình thức xử phạt týớc quyền sử dụng giấy phép,chứng chỉ hành nghề có thời hạn tối đa không quá 12 tháng; đối với hình thức

Trang 22

týớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề không thời hạn thì thời hạn

áp dụng từ 12 tháng trở lên Trong số các hành vi vi phạm hành chính về trẻ em

mà chúng tôi đã liệt kê thì có 6 loại hành vi có áp dụng hình thức xử phạt bổsung tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề và thời hạn áp dụng ởcác loại hành vi này là từ 01 táng đến 06 tháng, hai trường hợp áp dụng khôngthời hạn, không có trường hợp nào áp dụng thời hạn lên đến 12 tháng như quyđịnh chung trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính Ví dụ, tại khoản 4 Điều

19 Nghị định 114 quy định “ Tước quyền sự dụng giấy phép từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi sự dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng cấm, hàng hóa, tiền tệ trái phép ở trong nước”

Thời hạn týớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề ðýợc tính từthời ðiểm tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề Trýờng hợp một ngýời cùngmột lúc thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính mà các hành vi này bị týớcquyền sử dụng cùng một loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì chỉ áp dụngtýớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn dài nhất quyðịnh ðối với các hành vi vi phạm; nếu không cùng một loại giấy phép, chứng chỉhành nghề thì áp dụng riêng ðối với từng hành vi

Ví dụ, khoản 3, Điều 12 NĐ số 114/2006/NĐ- CP, quy định: “Tước quyền

sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành

vi từ chối khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em; hoặc hành vi thu tiền khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi theo quy định của pháp luật”.

* Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính:

Là việc người có thẩm quyền xử phạt quyết định biện pháp tịch thu để sungvào công quỹ Nhà nước các tài sản, vật chứng, hàng hóa, tiền bạc dùng đểthực hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc do vi phạm hành chính mà có

Tuỳ thuộc vào tính chất, mức ðộ của vi phạm hành chính mà chủ thể cóthẩm quyền quyết ðịnh áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phýừng tiện ðýợc sửdụng ðể vi phạm hành chính hoặc không áp dụng biện pháp này kèm theo hình

Trang 23

thức xử phạt chắnh Trong một số trýờng hợp, hình thức này có thể đýợc áp dụngđộc lập (đó là các trường hợp quy định tại khoản1 Điều 56 Pháp lệnh xử lý viphạm hành chắnh và khoản 5 Điều 23 NĐ số 128/2008/NĐ-CP).

Với tý cách là hình thức xử phạt, hình thức này chỉ đýợc áp dụng đối vớicác cá nhân, tổ chức vi phạm hành chắnh Do đó, hình thức này không đýợc ápdụng trong trýờng hợp tang vật, phýừng tiện bị tổ chức, cá nhân vi phạm chiếmđoạt, sử dụng trái phép mà phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc ngýời quản lý, ngýời

sử dụng hợp pháp Trong trýờng hợp tang vật là vón hóa phẩm độc hại, hàng giảkhông có giá trị sử dụng, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con ngýời, vật nuôi,cây trồng thì áp dụng hình thức tiêu huỷ và xử lý theo qui định tại khoản 2 éiều

61 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chắnh

Nhìn chung, việc pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tịch thutang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chắnh về trẻ em mang lạimột ý nghĩa quan trọng, nó góp phần khắc phục triệt để và tiến tới phòng chống

có hiệu quả các loại vi phạm này Hiện nay, trong số 26 loại hành vi vi phạmhành chắnh về trẻ em (có liệt kê cụ thể ở phần phụ lục), thì có 7 loại hành vi là

có áp dụng hình thức xử phạt bổ sung này Vắ dụ, khoản 3, Điều 15 NĐ

số114/2006/NĐ-CP quy định: ỘTịch thu văn hóa phẩm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm được sự dụng để thực hiện hành vi kắch động tịch dục trẻ emỢ

2.3 Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chắnh về trẻ em gây

Trang 24

vi phạm hành chính, các Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hànhtrong lĩnh vực bảo vệ quyền trẻ em, thì các biện pháp khắc phục này gồm có:

* Thứ nhất: Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính

về trẻ em gây ra quy định tại NĐ số 114/2006/NĐ - CP:

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hànhchính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dưng, lắp đặt thiết bị trái phép;

- Buộc thực hiện những biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường

do vi phạm hành chính gây ra; tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe conngười, văn hóa phẩm độc hại;

- Buộc thu hồi số tiền do vi phạm hành chính gây ra; nộp lại số tiền bằnggiá trị tang vật , phương tiện vi phạm đã tiêu thụ , tẩu tán trái với quy định củapháp luật;

- Buộc thực hiện trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, thực hiện nghĩa

vụ đóng góp nuôi dưỡng trẻ em theo quy định;

- Buộc chịu mọi chi phí để khám bệnh , chữa bệnh cho trẻ em do hành vi viphạm hành chính gây ra;

- Buộc thực hiện các quy định về việc thành lập, hoạt động của cơ sở trợgiúp trẻ em theo quy định tại Điều 45, Điều 46 và Điều 47 Luật bảo vệ, chămsóc và giáo dục trẻ em;

- Buộc chịu mọi chí phí để đưa trẻ em trở về gia đình, gia đìng thay thếhoặc cơ sở trợ giúp trẻ em

- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm đối với hành vi bán rượu, bia chotrẻ em dưới 16 tuổi (theo quy định tại Điều 26, NĐ150/2006/NĐ- CP);

- Tái chế hoặc buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe của trẻ em đốivới hành vi vi phạm các quy định về sản xuất, kinh doanh và sự dụng các sánphẩm thay thế sữa mẹ (theo quy định tại Điều 17, NĐ số 45/2005/NĐ- CP);

- Buộc bồi thường để khôi phục lại cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập,giảng dạy đã bị phá hoại do thực hiện vi phạm hành chính

Trang 25

* Thứ hai: Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chắnh về trẻ em gây ra quy định tại các Nghị định khác:

- Tái chế hoặc buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người(khoản 5 Điều 17 Nghị định số 45);

- Hủy bỏ quyết định nuôi con nuôi (hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyềnhủy bỏ) (khoản 5 Điều 32 Nghị định số76);

- Buộc trả lại cho người học số tiền đã thu và chịu mọi chắ phắ tổ chức hoàntrả (điểm b khoản 6 Điều 8 Nghị định số 49)

2.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chắnh về trẻ em

Do các vi phạm hành chắnh về trẻ em đýợc qui định trong nhiều vón bảnkhác nhau, nên việc xác định thẩm quyền xử phạt đối với loại vi phạm hànhchắnh này phải đýợc cón cứ vào các qui định tại Chýừng IV của Pháp lệnh xử lắ

vi phạm hành chắnh và các qui định tại Chýừng III của các nghị định có qui định

về loại vi phạm hành chắnh này Theo các qui định này, thẩm quyền xử phạt viphạm hành chắnh về trẻ em đýợc trao cho nhiều cừ quan và cá nhân khác nhau.Trong đó chủ yếu là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp và Thanh tra chuyênngành có liên quan trực tiếp tới công tác bảo vệ quyền của trẻ em (là nhữngThanh tra trực tiếp thực hiện nghiệp vụ của mình khi tham gia vào các hoạt độngquản lý hành chắnh nhà nước trong các lĩnh vực bảo vệ quyền trẻư em, nhưThanh tra dân số và gia đình, Thanh tra giáo dục )

Ngoài ra, theo qui định tại éiều 41 của Pháp lệnh xử lắ vi phạm hành chắnh,Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, Chánh thanh tra chuyên ngành cấp sở, Chánhthanh tra chuyên ngành bộ, cừ quan ngang bộ có thể ủy quyền cho cấp phó thựchiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chắnh Việc uỷ quyền phải đýợc thựchiện bằng vón bản Cấp phó đýợc ủy quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định

xử phạt vi phạm hành chắnh của mình trýớc cấp trýởng và trýớc pháp luật

Thẩm quyền xử phạt của những ngýời nêu trên được pháp luật quy định đốivới một hành vi vi phạm hành chắnh Trong trýờng hợp phạt tiền, thẩm quyền xử

Trang 26

phạt đýợc xác định cón cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt qui định đối vớitừng hành vi vi phạm cụ thể.

Tuỳ thuộc vào từng trýờng hợp vi phạm hành chắnh đýợc thực hiện, ngýời

có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chắnh về trẻ em cón cứ vào điều khoảntýừng ứng qui định tại Nghị định có quy định hành vi vi phạm hành chắnh về trẻ

em để xác định biện pháp xử phạt chắnh, các biện pháp xử phạt bổ sung và cácbiện pháp khắc phục hậu quả cần đýợc áp dụng, sau đó đối chiếu với thẩmquyền xử phạt của mình, nếu phù hợp thì ra quyết định xử phạt Trong trýờnghợp thấy một trong các biện pháp cần áp dụng không thuộc thẩm quyền củamình thì phải chuyển hồ sừ vụ vi phạm đến ngýời có thẩm quyền xử phạt

Vắ dụ như, khi Thanh tra viên chuyên ngành có liên quan trực tiếp tới công

tác bảo vệ quyền của trẻ em đang thi hành công vụ có quyền áp dụng các biện

pháp xử phạt chắnh đối với hành vi cản trợ việc học tập của trẻ em đýợc qui

định tại éiều 20 của Nghị định 114 Tuy nhiên, nếu cần phải áp dụng biện phápTịch thu tang vật, phýừng tiện đýợc sử dụng để vi phạm hành chắnh có giá trịtrên 2.000.000 đồng đối với loại vi phạm hành chắnh này thì vụ việc lại khôngthuộc thẩm quyền xử phạt của thanh tra viên chuyên ngành

éối với những ngýời có thẩm quyền xử phạt ở địa phýừng, thì chỉ có thẩmquyền xử phạt đối với những vi phạm hành chắnh đýợc thực hiện ở địa phýừngmình

* Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chắnh về trẻ em được xác định như sau:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hànhchắnh trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về trẻ em ở địa phương Những chứcdanh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chắnh về trẻ em còn lại có thẩmquyền xử phạt những hành vi vi phạm thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý

- Trong trường hợp vi phạm hành chắnh thuộc thẩm quyền xử phạt củanhiều người, thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện

Trang 27

- Thẩm quyền xử phạt là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạmhành chính Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn

cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụthể

- Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạmhành chính về trẻ em thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sauđây:

+ Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi đềuthuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc ngườiđó;

+ Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vivượt quá thẩm quyền của người xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạmđến cấp có thẩm quyền xử phạt;

+ Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc cácngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cáccấp có thẩm quyền xử phạt nơi xẩy ra vi phạm;

Tóm lại, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính nói chung các Nghị định của

Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em đã có những quy địnhđầy đủ, rõ ràng về phạm vi thẩm quyền cũng như nguyên tắc nhằm xác địnhthẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của những chức danh cụ thể Bởi vậy,

nó đã tạo ra một cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xử lý có hiểu quả các viphạm hành chính xâm phạm đến quyền của trẻ em Tuy nhiên, vấn đề thẩmquyền xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em theo quy định của pháp luật hiệnhành vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định Đó là nội dung, sẽ được phân tích

và bình luận cụ thể hơn ở Chương ba của bài viết

2.5 Thụ tục xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em và một số vấn đề có liên quan.

2.5.1 Thụ tục xử phạt vi phạm hành chính về trẻ em:

Trang 28

Tuỳ thuộc vào tắnh chất, mức độ của vi phạm hành chắnh đýợc thực hiện vàqui định týừng ứng của pháp luật, ngýời có thẩm quyền phải tiến hành việc xửphạt theo thủ tục đừn giản hay thủ tục thông thýờng.

* Thủ tục đơn giản:

Thủ tục đừn giản đýợc áp dụng trong trýờng hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng theo quy định tại Điều 54 Pháp lệnh

xử lý vi phạm hành chắnh và Điều 21 NĐ số 128/2008/NĐ - CP Trong trýờnghợp này, ngýời có thẩm quyền ra quyết định xử phạt quyết định xử phạt tại chỗ

và không phải lập biên bản, trừ trýờng hợp vi phạm hành chắnh đýợc phát hiệnnhờ sử dụng phýừng tiện, thiết bị kĩ thuật nghiệp vụ Quyết định xử phạt phảithể hiện bằng vón bản theo mẫu qui định Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộptiền phạt tại chỗ cho ngýời có thẩm quyền xử phạt và đýợc nhận biên lai thu tiềnphạt do Bộ Tài chắnh phát hành Trong trýờng hợp không nộp tiền phạt tại chỗ,

cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại Kho bạc Nhà nýớc trong thời hạnđýợc quy định tại khoản 1 éiều 58 của Pháp lệnh xử lắ vi phạm hành chắnh

Nhý vậy, chỉ có nóm loại vi phạm hành chắnh về trẻ em đýợc qui định tại

Khoản 1 éiều 16 của Nghị định 45, Khoản 1 éiều 12 của Nghị định 76, điểm akhoản 1 éiều 15 Nghị định 49, khoản 1 và 2 éiều 21 Nghị định 49 mới đýợc xửphạt theo thủ tục đừn giản (có phụ lục kèm theo)

* Thủ tục thông thường:

Thủ tục thông thýờng đýợc áp dụng trong các trýờng hợp không áp dụngthủ tục đừn giản Theo qui định của pháp luật, thủ tục xử phạt thông thýờng gồmcác giai đoạn sau:

Thứ nhất: Phát hiện và lập biên bản xử lắ vi phạm hành chắnh

Khi phát hiện vi phạm hành chắnh về trẻ em, ngýời có thẩm quyền đang thihành công vụ phải ra quyết định đình chỉ ngay hành vi vi phạm Quyết định đình

Trang 29

chỉ có thể là quyết định bằng vón bản hoặc quyết định thể hiện bằng lời nói hoặccác hình thức khác theo qui định của pháp luật.

Sau khi đình chỉ hành vi vi phạm, ngýời có thẩm quyền đang thi hành công

vụ phải giải thắch cho ngýời vi phạm hành chắnh hoặc đại diện tổ chức vi phạmhành chắnh về hành vi vi phạm, các quyền, nghĩa vụ của họ liên quan đến viphạm đó Việc lập biên bản vi phạm hành chắnh phải theo đúng mẫu quy địnhđối với vi phạm hành chắnh đó

Theo quy định tại éiều 55 của Pháp lệnh xử lắ vi phạm hành chắnh và éiều

22 của Nghị định 128/2008/NĐ - CP thì chỉ những ngýời sau đây mới có quyềnlập biên bản vi phạm hành chắnh:

- Ngýời có thẩm quyền xử phạt đang thi hành công vụ khi phát hiện viphạm hành chắnh thuộc lĩnh vực quản lắ của mình;

- Ngýời chỉ huy tàu bay, tàu biển khi phát hiện vi phạm hành chắnh xảy ratrên tàu bay, tàu biển khi máy bay, tàu biển đó rời sân bay, bến cảng

Nội dung, số lượng, cách thức lập, giao nhận biên bản được quy định tạikhoản 2, khoản3, khoản 4 Điều 55 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chắnh

Thứ hai: Xem xét và ra quyết định xử phạt theo thẩm quyền hoặc đề nghị ngýời có thẩm quyền xử phạt

Tuỳ thuộc vào tắnh chất, mức độ của vi phạm hành chắnh đýợc thực hiện,sau khi lập biên bản vi phạm hành chắnh ngýời lập biên bản ra quyết định xửphạt hoặc đề nghị ngýời có thẩm quyền ra quyết định xử phạt theo qui định củapháp luật Trong trýờng hợp cần thiết, có thể tiến hành các biện pháp theo quyđịnh của pháp luật để điều tra, xác minh làm rõ các tình tiết của vụ vi phạm.Việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chắnh phải đýợc thực hiện trongthời hiệu và thời hạn đýợc quy định cụ thể tại éiều 10 và khoản 1 éiều 56 củaPháp lệnh xử lắ vi phạm hành chắnh

Ngày đăng: 16/03/2018, 23:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w