uất phát từ thực trạng trên, nhằm phát huy được hiệu quả trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của các DN khai thác khoáng sản, qua đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường và tài ngu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
6 Bố cục đề tài nghiên cứu 4
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 9
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 9
1.1.1 Thuế Tài nguyên 9
1.1.2 Phí Bảo vệ môi trường 15
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 17
1.2.1 Khái niệm kiểm soát thuế và vai trò kiểm soát thuế 17
1.2.2 Đặc điểm và yêu cầu kiểm soát thuế TN và phí BVMT 20
1.2.3 Quy trình QLT - nền tảng cho quy trình kiểm soát thuế 21
1.3 NỘI DUNG QUY TRÌNH KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 23
1.3.1 Kiểm soát đăng ký thuế, cấp mã số thuế và khai thuế 23
1.3.2 Kiểm soát thông qua kiểm tra, thanh tra hồ sơ khai thuế 27
1.3.3 Kiểm soát nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 29
1.3.4 Kiểm soát xử lý vi phạm về thuế TN và phí BVMT 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG 33
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 33
2.1.1 Sơ lược về Cục Thuế TP Đà Nẵng 33
2.1.2 Tình hìnhthu NSNN tại Cục Thuế TP Đà Nẵng 39
2.1.3 Các công cụ hỗ trợ kiểm soát thuế TN và phí BVMT 40
2.2 QUY TRÌNH KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN, PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN, PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 41
2.2.1 Quy trình kiểm soát thuế TN và phí BVMT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng 41
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát thuế TN và phí BVMT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng 43
2.3 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 45
2.3.1 Kiểm soát ở khâu đăng ký, kê khai thuế 45
2.3.2 Kiểm soát khâu thanh tra/kiểm tra hồ sơ khai thuế 48
2.3.3 Kiểm soát trong khâu quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 55
2.3.4 Kiểm soát xử lý vi phạm hành chính về thuế TN và phí BVMT 57
2.4 NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 58
2.4.1 Những hạn chế 58
2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64
Trang 6CHƯƠNG 3 GIẢP PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 65
3.1 SỰ CẦN THIẾT HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 65
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66
3.2.1 Hoàn thiện công tác tổ chức phục vụ kiểm soát thuế TN và phí BVMT ở Cục thuế TP Đà Nẵng 66
3.2.2 Hoàn thiện kiểm soát thuế TN và phí BVMT trong khâu đăng ký và kê khai thuế 68
3.2.3 Hoàn thiện kiểm soát thuế TN và phí BVMT trong khâu thanh tra/kiểm tra hồ sơ khai thuế 69
3.2.4 Hoàn thiện kiểm soát thuế TN và phí BVMT trong khâu quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 78
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM TẠO ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 80
3.3.1 Đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế 80
3.3.2 Đối với UBND TP Đà Nẵng 82
3.3.3 Đối với Cục Thuế TP Đà Nẵng 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN (Bản sao)
KIỂM DUYỆT HÌNH THỨC LUẬN VĂN
Trang 82.3 Số DN khai thác khoáng sản giai đoạn 2014-2016 44
2.4 Số DN khai thác khoáng sản không khai báo thay đổi
thông tin về TK ngân hàng giai đoạn 2014-2016 46
2.5
Mức độ tuân thủ về việc kê khai quyết toán thuế TN và phí BVMT của DN khai thác khoáng sản giai đoạn 2014-2016
47
2.6
Kết quả thống kê thuế TN và phí BVMT phát sinh qua
kê khai của DN khai thác khoáng sản giai đoạn
2014-2016
47
2.7 Kết quả kiểm tra hồ sơ quyết toán thuế TN và phí
BVMT tại trụ sở CQT giai đoạn 2014-2016 49
2.8 Tỉ lệ DN khai thác khoáng sản vi phạm qua thanh
tra/kiểm tra tại trụ sở NNT giai đoạn 2014-2016 53
2.9 Tổng hợp hành vi vi phạm qua thanh tra/kiểm tra thuế
2.10 Thống kê tình hình nợ thuế TN và phí BVMT của DN
khai thác khoáng sản giai đoạn 2014 – 2016 56
2.11 Kết quả xử lý vi phạm về thuế TN và phí BVMT qua
thanh tra/kiểm tra tại trụ sở NNT giai đoạn 2014-2016 57
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
1.1 Sơ đồ mối quan hệ công việc của Quy trình QLT 21 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục Thuế TP Đà Nẵng 34 2.2 Quy trình kiểm soát thuế tại Cục Thuế TP Đà Nẵng 42 2.3 Quy trình kiểm soát nợ thuế tại Cục Thuế TP Đà Nẵng 56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế không chỉ là công cụ đảm bảo nguồn thu cho NSNN mà còn là một công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Việc quản lý thuế giúp cho Nhà nước có nguồn thu ổn định, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy cạnh tranh và phát triển nền kinh tế thị trường Để công tác quản lý thuế hiệu quả thì hoạt động kiểm tra, kiểm soát phải luôn được tăng cường, giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước có những điều chỉnh kịp thời trong việc ban hành các chính sách, chế độ về thuế Đối với hầu hết các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Trong đó, thuế TN và phí BVMT là một khoản thu bắt buộc đối với các tổ chức và cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên không phụ thuộc vào cách thức tổ chức và hiệu quả sản suất kinh doanh của người khai thác Việc áp dụng thuế TN và phí BVMT góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách quản lý, kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của quốc gia
Những năm qua để thực hiện chính sách thuế TN, phí BVMT, UBND
TP Đà Nẵng đã chỉ đạo các cấp, các ngành phối hợp cùng ngành thuế, Tài nguyên và Môi trường đồng thời ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách thuế TN, phí BVMT nhằm quản lý các hoạt động khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên Tuy nhiên, lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn được đánh giá là một trong những lĩnh vực có nhiều rủi ro về thuế, đã và đang được ngành thuế rất quan tâm Để công tác quản lý thuế có hiệu quả, nhằm chống thất thu thuế nói chung và trong lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản nói riêng, thì công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Cục Thuế TP Đà Nẵng
Trang 11Thực tế qua thanh tra/kiểm tra thuế trong lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản tại TP Đà Nẵng trong các năm qua cho thấy các hành vi lách thuế, trốn thuế, gian lận thuế ngày càng nhiều và phức tạp Với cơ chế “tự tính, tự khai, tự nộp” theo quy định của Luật QLT số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006
có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 đã trao quyền cho DN nói chung, DN khai thác tài nguyên khoáng sản nói riêng được tự quyết định trong việc tính, kê khai, nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các khoản kê khai của mình, theo đó CQT chỉ thực hiện quản lý theo chức năng Chính cơ chế
“tự tính, tự khai, tự nộp” cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng gian lận, trốn thuế với nhiều hình thức tinh vi, khó phát hiện Việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách của các DN khai thác tài nguyên khoáng sản chưa tương xứng quy
mô hoạt động của đơn vị là vấn đề nóng đang được thành phố quan tâm trong những năm gần đây
uất phát từ thực trạng trên, nhằm phát huy được hiệu quả trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của các DN khai thác khoáng sản, qua đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường và tài nguyên khoáng sản của tổ chức, cá
nhân được ph p khai thác khoáng sản, đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài
“Hoàn thiện công tác kiểm soát thuế Tài nguyên và phí Bảo vệ môi trường
ở Cục Thuế thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu viết luận văn tốt
nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về kiểm soát quản lý, kiểm soát theo quy trình quản lý thuế TN và phí BVMT, kiểm soát thuế TN và phí BVMT thông qua công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế, Luận văn nghiên cứu thực trạng kiểm soát thuế TN
và phí BVMT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng, qua đó chỉ ra những mặt tồn tại và
đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT ở Cục Thuế TP Đà Nẵng
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực tiễn công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn TP Đà Nẵng do Cục Thuế TP Đà Nẵng thực hiện trong cơ chế “tự tính, tự khai, tự nộp” của NNT Trong đó đi sâu nghiên cứu hoạt động kiểm soát thuế TN và phí BVMT của từng khâu trong quy trình QLT, từ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế đến công tác thanh tra/kiểm tra thuế, quản lý nợ thuế và xử lý vi phạm hành chính về thuế
4 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp thu thập thông tin về thực trạng kiểm soát thuế TN và phí BVMT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng như: phương pháp phỏng vấn; phương pháp kiểm tra tài liệu; phương pháp nghiên cứu trường hợp; phương pháp thống kê;….Cụ thể, luận văn tiến hành khảo sát
và nghiên cứu trực tiếp trên hồ sơ lưu trữ tại CQT và khai thác dữ liệu trên các phần mềm QLT liên quan đến thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác khoáng sản trong giai đoạn 2014-2016
- Luận văn sử dụng các phương pháp xử lý thông tin về kiểm soát thuế
TN và phí BVMT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng như: phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp tính toán;…
- Luận văn sử dụng các phương pháp trình bày kết quả nghiên cứu như: phương pháp diễn giải; phương pháp thống kê;… để đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp cho việc hoàn thiện công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác tài nguyên, khoáng sản do Cục Thuế TP Đà Nẵng quản lý
Trang 135 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Về lý luận
Luận văn trình bày cơ sở lý luận về công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác tài nguyên khoáng sản trong điều kiện áp dụng cơ chế “tự tính, tự khai, tự nộp”
b Về thực tiễn
Luận văn đánh giá những hạn chế, thiếu sót trong quy trình kiểm soát thuế TN và phí BVMT ở Cục thuế TP Đà Nẵng Qua đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác tài nguyên khoáng sản tại Cục Thuế TP Đà Nẵng để nâng cao hiệu quả quản lý thuế và chống thất thu thuế trong thời gian đến
6 Bố cục đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng số liệu, sơ đồ, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kiểm soát thuế TN và phí BVMT
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát thuế TN và phí BVMT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với DN khai thác khoáng sản là một trong những lĩnh vực đang được các cơ quan quản lý Nhà nước quan tâm trong thời gian gần đây
Công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với DN khai thác khoáng sản tại Cục Thuế TP Đà Nẵng từ trước đến nay chưa có ai nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài về kiểm soát thuế nói
Trang 14chung và kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với DN khai thác khoáng sản nói riêng tiêu biểu:
* Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế tài nguyên tại Cục Thuế
tỉnh Đắk Lắk”, Nguyễn Thị Hoài An (2017)
Đề tài của tác giả đã đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế Tài nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp tăng cường quản lý thuế Tài nguyên trên địa bàn tỉnh để nâng cao hiệu quả công tác quản
lý thuế đảm bảo trong việc kê khai, nộp thuế, chống thất thu thuế và tăng thu cho NSNN
Đề tài của tác giả tập trung vào vấn đề công tác quản lý thuế Tài nguyên, cụ thể gồm các nội dung: Công tác hoạch định, lập dự toán thu thuế Tài nguyên; Công tác tổ chức thực hiện quản lý thu thuế Tài nguyên; Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thu thuế Tài nguyên; Công tác kiểm tra, kiểm soát việc quản lý thu thuế Tài nguyên Công tác kiểm soát thuế Tài nguyên chỉ là một nội dung trong các nội dung liên quan đến công tác quản
lý thuế Tài nguyên Trong công tác kiểm soát thuế TN, tác giả chỉ đi sâu vào việc kiểm soát ở khâu thanh tra/kiểm tra Tuy nhiên, kiểm soát thuế Tài nguyên cần được thực hiện theo quy trình quản lý thuế, ngoài kiểm soát ở khâu thanh tra/kiểm tra còn thực hiện kiểm soát ở các khâu: Đăng ký thuế, cấp mã số thuế; Kê khai thuế; Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; ử lý vi phạm về thuế
Ngoài ra, đề tài của tác giả chỉ dừng lại ở công tác quản lý thuế Tài nguyên, chưa bàn đến phí BVMT Thực tế, thuế TN và phí BVMT là hai sắc thuế/phí song hành phải kê khai khi doanh nghiệp có phát sinh hoạt động khai thác khoáng sản
Trang 15* Đề tài “Giải pháp chống thất thu thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi
trường đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”, Nguyễn Văn Khánh (2012)
Đề tài của tác giả tập trung đánh giá thực trạng quản lý thu thuế TN và phí BVMT, nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế TN và phí BVMT, đề xuất giải pháp chống thất thu thuế tài nguyên và phí BVMT đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Cũng tương tự như đề tài trên, tác giả chưa hệ thống hóa quy trình kiểm soát thuế TN, phí BVMT qua các khâu Điểm nổi bật của đề tài so với đề tài trên, đó là tác giả đã đi sâu vào vào tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế theo từng nhóm đối tượng: Ý thức người nộp thuế; Do nợ đọng thuế; Sự bất hợp lý của thuế suất
và giá tính thuế; Do quản lý khai thác tài nguyên Tuy tác giả trình bày ở mức khái quát những nguyên nhân thất thu thuế nhưng đã phần nào tạo nền tảng cho công tác kiểm soát được hiệu quả Phần giải pháp tác giả chỉ đề cập đến các hoạt động kiểm soát bên ngoài, như: Hoàn thiện chính sách; Hoàn thiện công tác tổ chức phân cấp quản lý thuế; Nâng cao năng lực cho cán bộ thuế; Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; Đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ công tác quản lý thuế, chưa đưa ra các giải pháp kiểm soát bên trong theo quy trình quản lý thuế
* Đề tài “Giải pháp tăng thu thuế Tài nguyên, phí Bảo vệ môi trường
qua việc phân tích, rà soát hồ sơ khai thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn TP Đà Nẵng”, Trần Thị Dung (2014)
Đề tài sáng kiến của tác giả đã nêu các trường hợp trốn thuế, gian lận thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác khoáng sản phổ biến trên địa bàn trong thời gian qua Giải pháp của bài viết là ứng dụng công cụ tin học kết hợp với các ứng dụng quản lý thuế để thiết kế một công cụ để khai thác về
Trang 16thuế TN, phí BVMT trong kỳ kê khai tháng, năm Qua đó, nhằm phát hiện nhanh chóng các sai phạm, giúp nâng cao hiệu quả quản lý thuế trong công tác kiểm tra Các giải pháp của bài viết chủ yếu phục vụ cho giai đoạn hậu kê khai, sau khi DN đã phát sinh hành vi vi phạm, bài viết chưa đề cập được giải pháp để giúp ngăn ngừa, hạn chế gian lận có thể xảy ra trong tương lai; và đặc biệt chưa chú trọng đến các khâu khác có liên quan trong chu trình kiểm soát thuế, như khâu: kê khai, phân tích rủi ro
* Đề tài “Nhận diện một số hành vi gian lận và phương pháp thanh
tra thuế trong lĩnh vực thuế Tài nguyên và phí Bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn TP Đà Nẵng”,
Nguyễn Thị Hải Yến (2016)
Đề tài sáng kiến của tác giả nhận diện các hành vi gian lận phổ biến liên qua đến thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác khoáng sản từ thực tiễn trong công tác thanh tra/kiểm tra và qua việc nghiên cứu, sưu tầm kinh nghiệm từ đồng nghiệp Qua đó, thống kê chuỗi các hành vi vi phạm và gian lận thường gặp trong lĩnh vực thuế tài TN và phí BVMT để công chức thuế làm công tác thanh tra/kiểm tra có thể nhận diện nhanh chóng, đưa hướng xử
lý cụ thể để rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra/ kiểm tra thuế Tuy nhiên, cũng tương tự như các đề tài trên, đề tài của tác giả chỉ mới tập trung trong khâu thanh tra/kiểm tra thuế, chưa đề cập đến các khâu khác trong quy trình kiểm soát thuế: đăng ký thuế, kê khai thuế, quản lý nợ và
xử lý vi phạm hành chính về thuế
Hiện nay, lĩnh vực khai thác khoáng sản đang là một trong những chuyên
đề được Cục Thuế TP Đà Nẵng quan tâm và ưu tiên trong các lĩnh vực chống thất thu thuế Các đề tài trước đây mặc dù có bàn đến các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế TN nói chung cũng như công tác kiểm soát thuế TN nói riêng, tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu
Trang 17và tìm ra những điểm yếu để đƣa ra các giải pháp phù hợp với quy trình kiểm soát thuế TN, phí BVMT theo cơ chế “tự tính, tự khai, tự nộp” của DN khai thác khoáng sản
Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát các công trình của các tác giả nêu trên, dựa trên việc kế thừa có chọn lọc, tác giả luận văn đi vào nghiên cứu công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT đối với các DN khai thác khoáng sản do Cục Thuế TP Đà Nẵng thực hiện, với mong muốn góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát thuế TN và phí BVMT trong thời gian tới ở Cục thuế TP
Đà Nẵng
Trang 18tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, như: Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô; Khí thiên nhiên; Sản phẩm của rừng tự nhiên; Hải sản tự nhiên (động vật và thực vật); Tài nguyên thiên nhiên khác
Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên Đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản thì người nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cấp Giấy ph p khai thác khoáng sản
b Căn cứ tính thuế TN
Căn cứ tính thuế TN là cơ sở để xác định số thuế TN phải nộp Xác định đúng căn cứ tính thuế không những đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TN vào NSNN, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc nắm bắt tình hình khai thác, nhu cầu sử dụng tài nguyên, trữ lượng, sự biến động của các nguồn tài nguyên Trên cơ sở đó, Nhà nước đưa ra các chính sách, chiến lược, giải pháp quản lý đồng bộ, thích hợp đối với từng loại tài nguyên trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Trang 19Căn cứ tính thuế TN là sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế và thuế suất Cụ thể, được thể hiện qua công thức sau:
Thuế tài
nguyên phải
nộp trong kỳ
= Sản lượng tài nguyên tính thuế x
Giá tính thuế đơn vị tài nguyên
x
Thuế suất thuế tài nguyên + Sản lượng tài nguyên làm căn cứ tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ, không phụ thuộc vào hiện trạng và mục đích khai thác tài nguyên (bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ, đưa vào chế biến ) Với quy định này đảm bảo người khai thác tài nguyên phải kê khai, nộp thuế tài nguyên đầy đủ, kịp thời vào NSNN, đảm bảo bình đẳng trong việc khai thác sử dụng tài nguyên
Đối với loại tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế Trường hợp tài nguyên khai thác thu được sản phẩm tài nguyên có nhiều cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo sản lượng từng loại tài nguyên có cùng cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại như nhau hoặc quy ra sản lượng của loại tài nguyên có sản lượng bán ra lớnnhất để làm căn cứ xác định sản lượng tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ
Đối với loại tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng, hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế xác định theo số lượng, khối lượng, trọng lượng của từng chất Trường hợp không xác định được số lượng, khối lượng, trọng lượng của từng chất thì sản lượng tài nguyên tính thuế của từng chất được xác định theo sản lượng tài nguyên khai thác và tỷ lệ của từng chất có
Trang 20trong tài nguyên đã được kiểm định (Tỷ lệ từng chất có trong tài nguyên được xác định theo mẫu tài nguyên khai thác đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm định và phê duyệt Trường hợp, tỷ lệ của từng chất có trong tài nguyên khai thác thực tế khác với tỷ lệ từng chất có trong mẫu tài nguyên (quặng) thì sản lượng tính thuế được xác định căn cứ kết quả kiểm định về tỷ lệ từng chất có trong tài nguyên khai thác thực tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền)
Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu) thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác được xác định bằng cách quy đổi
từ sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ để bán ra theo định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm (Định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm do NNT kê khai căn cứ dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn công nghệ thiết kế để sản xuất sản phẩm đang ứng dụng)
+ Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng nhưng không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định; Trường hợp giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định thì tính thuế tài nguyên theo giá do UBND cấp tỉnh quy định
Trường hợp sản phẩm tài nguyên được vận chuyển đi tiêu thụ, trong đó chi phí vận chuyển, giá bán sản phẩm tài nguyên được ghi nhận riêng trên hóa đơn thì giá tính thuế tài nguyên là giá bán sản phẩm tài nguyên không bao gồm chi phí vận chuyển
Đối với loại tài nguyên xác định được giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên, giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên có cùng phẩm cấp, chất lượng chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng và được áp dụng cho toàn
Trang 21bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng; Giá bán của một đơn vị tài nguyên được tính bằng tổng doanh thu (chưa có thuế GTGT) của loại tài nguyên bán ra chia cho tổng sản lượng tài nguyên tương ứng bán ra trong tháng Trường hợp trong tháng có khai thác tài nguyên nhưng không phát sinh doanh thu bán tài nguyên thì giá tính thuế tài nguyên là giá tính thuế đơn vị tài nguyên bình quân gia quyền của tháng trước gần nhất có doanh thu; nếu giá tính thuế đơn vị tài nguyên bình quân gia quyền của tháng trước gần nhất có doanh thu thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định thì
áp dụng giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh quy định
Đối với loại tài nguyên không xác định được giá bán đơn vị tài nguyên khai thác do có chứa nhiều chất khác nhau, giá tính thuế là giá bán đơn vị tài nguyên của từng chất, được xác định căn cứ tổng doanh thu bán tài nguyên trong tháng (chưa có thuế GTGT) tính cho từng chất có trong tài nguyên khai thác theo tỷ lệ hàm lượng của từng chất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm phê duyệt và sản lượng tài nguyên bán ra ghi trên chứng từ bán hàng tương ứng với từng chất
+ Thuế suất thuế TN: Thuế suất thuế tài nguyên là căn cứ rất quan trọng, thể hiện quyền quản lý, điều tiết của Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia, là
tỷ lệ huy động của Nhà nước đối với người khai thác tài nguyên, đảm bảo thực hiện mục tiêu quản lý các nguồn tài nguyên, tạo lập nguồn tài chính duy trì, nuôi dưỡng, tái tạo, phát triển các nguồn tài nguyên đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế một cách ổn định, bền vững
Nhà nước căn cứ vào yêu cầu quản lý Nhà nước, căn cứ tính chất, đặc điểm, giá trị sử dụng, mục đích sử dụng của loại tài nguyên, nhu cầu, tập quán sinh sống của dân cư để quy định các mức thuế suất thuế tài nguyên phù hợp, đảm bảo đời sống kinh tế xã hội ổn định và phát triển
Trang 22Hiện nay, thuế suất thuế TN làm căn cứ tính thuế tài nguyên đối với từng loại tài nguyên khai thác được quy định tại Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các văn bản sửa đổi, bổ sung
c Đặc điểm, vai trò và chức năng của thuế TN
Đặc điểm của thuế TN
Thuế TN có một số đặc điểm sau:
- Là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do nhà nước quản lý;
- Thu trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác
mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên;
- Được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên
Vai trò của thuế TN
Tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về tài nguyên ngày càng tăng, dẫn đến nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài nguyên chắc chắn sẽ xảy ra nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái tạo Cho nên, yêu cầu đặt ra là phải khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có, nuôi dưỡng, bảo vệ các nguồn tài nguyên tái sinh Nhà nước thông qua nhiều công cụ khác nhau để bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài nguyên, trong đó có công cụ tài chính đó là chính sách thuế tài nguyên Chính vì thế, thuế TN có vai trò:
- Thuế TN đảm bảo nguồn thu cho NSNN để chi phí cho việc cải tạo môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng nơi khai thác tài nguyên và các khoản chi khác Số thu hàng năm từ thuế tài nguyên của cả nước chiếm trên dưới 10%
Trang 23trong tổng thu NSNN hàng năm Thuế TN (trừ dầu thô) là khoản thu điều tiết 100% cho ngân sách địa phương Đây là nguồn thu quan trọng đối với ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo môi trường nơi khai thác và đảm bảo an ninh xã hội địa phưong
- Thuế TN là một công cụ để phân phối lại, đảm bảo công bằng xã hội Một trong những khuyết tật của kinh tế thị trường là sự phân phối không công bằng và đi cùng với nó là sự phân hoá giàu nghèo Thuế TN là chi phí đầu vào ảnh hưởng tới lợi nhuận của nhà đầu tư, chính vì thế có tác dụng tham gia điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư Đồng thời, NSNN quản
lý sử dụng nguồn thu từ thuế tài nguyên để đầu tư cơ sở hạ tầng, cải tạo môi trường phục vụ an sinh xã hội
- Thuế TN đảm bảo khoản chi phí đầu vào của quá trình sản xuất cho nên nó có vai trò điều tiết sản xuất, tiêu dùng Nếu việc thu thuế TN quá cao sẽ khiến các nhà sản xuất kinh doanh tìm các nguyên vật liệu khác rẻ hơn để thay thế hoặc có thể chuyển hướng kinh doanh Ngược lại thu thuế
TN quá thấp các tổ chức cá nhân khai thác sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư tập trung khai thác quá mức đối với tài nguyên thiên nhiên
- Thuế TN khuyến khích các tổ chức, cá nhân đổi mới công nghệ khai thác, chế biến tại chỗ Khi tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, việc khai thác tác động xấu đến môi trường, buộc Nhà nước phải có các công cụ quản lý để hạn chế khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài nguyên Thuế TN là một trong những công cụ Nhà nước sử dụng đ ể bắt buộc các nhà đầu tư khai thác tài nguyên phải đổi mới công nghệ khai thác, chế biến tài nguyên, hạn chế xuất khẩu thô
- Thuế TN tác động tới khuynh hướng tiêu dùng Tài nguyên thiên nhiên không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các nước trên thế giới ngày càng
Trang 24cạn kiệt do vậy Nhà nước phải quản lý ngày càng chặt chẽ hơn Thuế TN cũng được hoàn thiện phù hợp với mỗi thời kỳ khác nhau Vì thế, nếu một loại tài nguyên nào đó có thuế suất cao tức là mức thu cao, giá thành sản phẩm từ loại tài nguyên đó sẽ cao, người tiêu dùng sẽ tìm đến sản phẩm khác thay thế
Chức năng của thuế TN
- Thuế TN là một trong những nguồn thu chung của NSNN để dùng cho các hoạt động điều tiết xã hội khác nhau;
- Cũng giống như các loại thuế khác, thuế TN cũng có chức năng phân phối các nguồn lực; tái phân phối thu nhập; và ổn định nền kinh tế;
- Thuế TN là công cụ góp phần ổn đ ịnh giá, chống lạm phát qua đó tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động, đồng thời nâng cao đời sống nhân dân
b Căn cứ tính phí BVMT
Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản được tính theo công thức:
F = [(Q1 x f1) + (Q2 x f2)] x K Trong đó:
- F là số phí BVMT phải nộp trong kỳ;
Trang 25- Q1 là số lượng đất đá bốc xúc thải ra trong kỳ nộp phí (m3) Số lượng đất đá bốc xúc thải ra trong kỳ nộp phí được xác định căn cứ vào tài liệu dự
án đầu tư xây dựng công trình khai thác mỏ, báo cáo đánh giá tác động môi trường và thực tế đất đá bốc xúc thải ra;
- Q2 là số lượng quặng khoáng sản nguyên khai khai thác trong kỳ (tấn hoặc m3
);
- f1 là mức phí đối với số lượng đất đá bốc xúc thải ra (đồng/m3);
- f2 là mức phí tương ứng của từng loại khoáng sản khai thác (đồng/tấn hoặc đồng/m3
) Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định cụ thể mức thu phí BVMT đối với từng loại khoáng sản áp dụng tại địa phương cho phù hợp với tình hình thực tế trong từng thời kỳ căn cứ vào mức phí quy định tại Biểu khung mức phí do Chính phủ ban hành Mức phí BVMT đối với khai thác khoáng sản tận thu bằng 60% mức phí của loại khoáng sản tương ứng Các trường hợp được áp dụng mức thu phí đối với khoáng sản tận thu:
+ Hoạt động khai thác khoáng sản còn lại ở bãi thải của mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ;
+ Hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân không nhằm mục đích khai thác khoáng sản, nhưng có chức năng, nhiệm vụ hoặc có đăng ký kinh doanh, trong quá trình hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ hoặc theo chuyên ngành đã đăng ký mà thu được khoáng sản (ví dụ: thu được cát trong quá trình nạo v t lòng sông, cảng biển; thu được đất, đá trong quá trình xây dựng các công trình thủy điện, giao thông hoặc xây dựng các trường bắn)
- K là hệ số tính phí theo phương pháp khai thác, theo quy định hiện nay: + Đối với khai thác lộ thiên (bao gồm cả khai thác bằng sức nước như khai thác titan, cát, sỏi lòng sông): K = 1,1;
Trang 26+ Đối với khai thác hầm lò và các hình thức khai thác khác (khai thác dầu thô, khí thiên nhiên, nước khoáng thiên nhiên và các trường hợp còn lại):
K = 1
c Vai trò của phí BVMT
Ở nước ta, phí BVMT đối với khai thác khoáng sản được đưa vào quản lý thu từ năm 2006 gồm khoáng sản kim loại và khoáng sản phi kim loại Số thu từ phí BVMT được dùng cho mục đích hỗ trợ công tác bảo vệ và đầu tư cho môi trường, phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản, khắc phục suy thoái, ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tái tạo cảnh quan môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản
Việc thu phí BVMT góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu tư, sản xuất và tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái về môi trường Hơn nữa, phí bảo vệ môi trường mang lại nguồn thu nhất định cho ngân sách để đầu tư cải tạo môi trường Thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của môi trường là mục tiêu lớn nhất mà các chính sách hướng tới
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN
VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.2.1 Khái niệm kiểm soát thuế và vai trò kiểm soát thuế
a Khái niệm kiểm soát thuế
Kiểm soát
Theo Henry Fayol (1949), cha đẻ của lý thuyết quản trị hiện đại đúc kết
từ năm 1916: “Kiểm soát là việc kiểm tra để khẳng định mọi việc có được
thực hiện theo đúng kế hoạch hoặc các chỉ dẫn và các nguyên tắc đã được
Trang 27thiết lập hay không, từ đó nhằm chỉ ra các yếu kém và sai phạm cần phải điều chỉnh, đồng thời ngăn ngừa chúng không được phép tái diễn”
Nhấn mạnh đến kiểm soát theo phạm vi rộng, từ giai đoạn lập kế hoạch cho đến khi các kế hoạch này được thực hiện xong, Anthony và các cộng sự
(1989) đã định nghĩa: “Kiểm soát là một quá trình thực hiện một tập hợp các
thay đổi nhằm đạt được các mục tiêu đã định”
Nhìn nhận kiểm soát là chức năng cuối cùng của quản lý, tác giả Dương
Hữu Hạnh (2009) nêu quan điểm: “Kiểm soát là tiến trình giám sát và điều
chỉnh các hoạt động của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra”
Có nhiều quan điểm khác nhau về kiểm soát, nhưng tựu chung lại:
- Kiểm soát là chức năng không thể thiếu trong quá trình quản lý một tổ chức
- Kiểm soát là một quá trình giám sát, điều chỉnh được thực hiện liên tục trong mọi cấp độ và hoạt động của tổ chức, được thực hiện ngay từ khi xác định mục tiêu và lập kế hoạch, cho đến khi đạt được mục tiêu, và có mối quan hệ chặt chẽ với các chức năng khác
- Mục đích của kiểm soát trong một tổ chức là: Bảo đảm kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu của tổ chức; Bảo đảm các nguồn lực của tổ chức được sử dụng hiệu quả; Phát hiện kịp thời các vấn đề và có sự điều chỉnh phù hợp
Kiểm soát thuế
Kiểm soát thuế là một chức năng quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế Đó là việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các luật thuế và các quy trình QLT do TCT ban hành nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời tiền thuế vào NSNN; đồng thời qua đó đề cao ý thức tự giác chấp hành chính sách, pháp luật về thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho các DN thực hiện tốt nghĩa vụ
về thuế Trên cơ sở đó, có biện pháp hoàn thiện quy trình QLT, phân công,
Trang 28phân nhiệm rõ ràng, chuẩn hóa công tác QLT nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy QLT cũng như chất lượng làm việc của công chức thuế
b Vai trò của kiểm soát thuế TN và phí BVMT
Kiểm soát thuế nói chung, kiểm soát thuế TN và phí BVMT nói riêng là một trong những chức năng, nhiệm vụ của CQT theo quy định của Luật QLT Vai trò của kiểm soát thuế TN và phí BVMT được thể hiện như sau:
Công cụ huy động nguồn lực vật chất
Thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực tài chính tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, và cũng là nguồn thu chính của NSNN Nền kinh tế tăng trưởng và đạt hiệu suất hoạt động càng cao thì nguồn thu được từ Thuế càng nhiều
Công cụ điều tiết kinh tế
Thông qua điều chỉnh chính sách thuế, Nhà nước có thể thực hiện tăng giảm thuế đối với thu nhập của cá nhân, DN nhằm mục đích kích thích hay hạn chế sự phát triển của lĩnh vực ngành nghề khác nhau Ngoài ra điều chỉnh chính sách thuế còn góp phần hình thành nên cơ cấu ngành nghề hợp lý theo yêu cầu nền kinh tế trong từng giai đoạn phát triển khác nhau
Công cụ điều hoà thu nhập
Căn cứ theo chính sách và vai trò của Thuế, Nhà nước đã tác động đến cung cầu thị trường Từ đó điều chỉnh lại quá trình phân phối đầu vào đầu ra của nguồn lực hàng hoá thị trường, từ đó làm thay đổi thu nhập, phân phối công bằng xã hội
Thuế thể hiện vai trò phân phối, thực hiện lại thu nhập thông qua việc sử dụng tiền thuế để đưa vào sản xuất hàng hoá dịch vụ công nhằm phục vụ tiêu dùng cho xã hội Ngoài ra, một phần tiền thuế được Nhà nước sử dụng để trợ cấp, điều hoà thu nhập trong xã hội
Trang 29Công cụ kiểm tra, kiểm soát
Thuế còn là công cụ hữu hiệu để kiểm tra, kiểm soát các DN Bằng việc kê khai thuế, CQT có thể dễ dàng kiểm soát được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó CQT có thể phát hiện được những vấn đề gian lận trong thương mại hay tình trạng trốn thuế, lậu thuế hay khai báo sai tình hình thực tế sản xuất
Tóm lại, thông qua việc kiểm soát thuế TN và phí BVMT, Nhà nước tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển trên cơ sở sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, tài sản quốc gia, góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế Từ vai trò của kiểm soát thuế TN và phí BVMT cho thấy, kiểm soát thuế TN và phí BVMT là cần thiết, quan trọng để quản lý nhà nước nói chung, QLT nói riêng Để kiểm soát được người nộp thuế trong việc tuân thủ pháp luật thuế, cơ quan thuế cần có hệ thống pháp lý, quy trình nghiệp vụ bắt buộc chung áp dụng trên toàn ngành thuế nhằm đảm bảo cho người nộp thuế thực hiện
1.2.2 Đặc điểm và yêu cầu kiểm soát thuế TN và phí BVMT
b Yêu cầu
- Kiểm soát thuế TN và phí BVMT phải kiểm soát toàn diện từ kiểm soát các chỉ tiêu tính thuế/phí đến chính sách miễn giảm
Trang 30- Kiểm soát thuế TN và phí BVMT ngoài tuân thủ theo Luật QLT, Luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành, còn phải kiểm soát tuân thủ các Luật khác như: Luật doanh nghiệp, Các chính sách ưu đãi của Chính phủ
1.2.3 Quy trình QLT - nền tảng cho quy trình kiểm soát thuế
Thực hiện kiểm soát thuế theo quy trình QLT bao gồm đăng ký thuế, cấp
mã số thuế, kê khai thuế; thanh tra/kiểm tra giám sát hồ sơ khai thuế; quản lý
nợ và cưỡng chế thuế; xử lý vi phạm hành chính Việc kiểm soát thuế TN và phí BVMT phải dựa vào quy trình QLT được thể hiện qua sơ đồ 1.1:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mối quan hệ công việc của Quy trình QLT
Trình tự quy trình QLT như sau:
(1) NNT đăng ký thuế, nhận thông báo về cấp MST từ cơ quan cấp giấy ph p (2) CQT phối hợp với cơ quan cấp giấy ph p (Sở kế hoạch và đầu tư hoặc UBND) cấp MST cho NNT
(3) NNT nộp hồ sơ kê khai thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế cho CQT để kiểm tra, kiểm soát theo quy định
(4) NNT nộp thuế theo kê khai hoặc theo thông báo của CQT
(5) Kho bạc chuyển chứng từ nộp thuế của NNT về CQT để kiểm tra, đối chiếu (hiện nay các DN đã thực hiện nộp tiền thuế điện tử)
Trang 31(6) CQT thanh tra/kiểm tra đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế hoàn thuế, miễn giảm thuế, quản lý nợ thuế theo quy trình
Bên cạnh đó, trong kiểm soát thuế TN và phí BVMT có cơ chế phối hợp
giữa CQT với cơ quan Tài nguyên và Môi trường, cơ quan Hải quan như sau:
Giữa CQT với cơ quan Tài nguyên và Môi trường:
+ Căn cứ kê khai của NNT về sản lượng tài nguyên thực tế khai thác trong năm theo từng mỏ tại Bảng kê được nộp cùng với Tờ khai quyết toán thuế tài nguyên khi kết thúc năm tài chính, trong vòng 05 ngày làm việc, CQT
có trách nhiệm chuyển cơ quan Tài nguyên và Môi trường thông tin chi tiết về sản lượng khai thác tài nguyên trong năm theo từng mỏ của các đơn vị trong địa bàn
+ Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm đối chiếu sản lượng tài nguyên đã khai thác tại từng mỏ do đơn vị khai thác khai, nộp thuế với dữ liệu đã có tại cơ quan Tài nguyên và Môi trường; Trường hợp sản lượng khai thuế không phù hợp sản lượng được ph p khai thác ghi trên giấy ph p khai thác hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì cơ quan Tài nguyên và Môi trường sẽ thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để xác định sản lượng khai thác thực tế của đơn vị
+ Trong vòng 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin do CQT chuyển đến, cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chuyển thông tin cho cơ quan thuế để xử lý theo quy định của Luật QLT
Giữa CQT và cơ quan Hải quan:
Trường hợp trên địa bàn có DN khai thác, xuất khẩu sản phẩm tài nguyên, CQT thực hiện xác định sản lượng sản phẩm tài nguyên thực tế xuất khẩu trên Tờ khai Hải quan theo cơ chế trao đổi thông tin tại Quyết định số
574 QĐ/BTC ngày 30/3/2015 của Bộ Tài chính để quy đổi ra sản lượng sản phẩm tài nguyên sản xuất và thực hiện đối chiếu với sản lượng tài nguyên trên
Trang 32Tờ khai quyết toán thuế tài nguyên của DN Trường hợp phát sinh chênh lệch sản lượng tài nguyên tính thuế mà DN đã kê khai, nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì CQT áp dụng các biện pháp kiểm tra, thanh tra phù hợp theo quy định của Luật QLT để tính, thu đủ thuế tài nguyên và xử lý vi phạm theo quy định
1.3 NỘI DUNG QUY TRÌNH KIỂM SOÁT THUẾ TÀI NGUYÊN VÀ PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Hiện nay, ngành thuế áp dụng mô hình tổ chức bộ máy kiểm soát thuế đối với tất cả các loại hình DN cũng như đối với DN khai thác khoáng sản theo mô hình chức năng Theo đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các phòng, bộ phận thực hiện chức năng QLT theo nhiệm vụ được phân công
Thực hiện kiểm soát thuế theo chức năng là nhằm thực hiện cơ chế QLT theo hướng: NNT tự tính, tự khai và tự nộp thuế vào NSNN
Nội dung kiểm soát thuế của các DN nói chung cũng như kiểm soát thuế
TN và phí BVMT đối với DN khai thác khoáng sản nói riêng bao gồm:
1.3.1 Kiểm soát đăng ký thuế, cấp mã số thuế và khai thuế
a Kiểm soát đăng ký thuế, cấp mã số thuế
Dựa trên thông tin đăng ký kinh doanh của các DN, Sở Kế hoạch và Đầu
tư và CQT tiến hành cấp mã số thuế cho các DN Mỗi NNT chỉ được cấp một
mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thuế cho đến khi chấm dứt hoạt động Mã số thuế được dùng để khai thuế, nộp thuế cho tất cả các loại thuế mà NNT phải nộp, kể cả trường hợp người nộp thuế kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh tại các địa bàn khác nhau
Việc quản lý DN được thực hiện dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung trên cả nước mà cụ thể thông qua mã số thuế đã được cấp, CQT kiểm soát được các thông tin của NNT bao gồm:
Trang 33+ Và các thông tin liên quan khác
Việc quản lý DN thông qua MST là phương thức hiện đại được áp dụng
ở nhiều nước trên thế giới Nó cho ph p CQT tiết kiệm được thời gian, công sức mà vẫn đảm bảo tính chính xác ngay cả trong trường hợp tra cứu NNT với số lượng lớn
b Kiểm soát kê khai thuế TN và phí BVMT
Công tác kê khai và kế toán thuế là một nội dung quan trọng trong QLT,
nó được xem như căn cứ để CQT kiểm soát việc thi hành chính sách thuế của
DN Với cơ chế “tự tính, tự khai, tự nộp” nghĩa là việc kê khai thuế là do NNT
tự thực hiện, có sự hướng dẫn, kiểm tra của CQT Căn cứ vào quy định của Luật QLT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật QLT, NNT tự xác định và
kê khai đầy đủ số thuế phải nộp, lập tờ khai thuế theo biểu mẫu thống nhất và nộp thuế đúng thời gian quy định
Việc thực hiện kê khai đối với thuế TN và phí BVMT là kê khai theo tháng và quyết toán theo năm Cụ thể, một số quy định liên quan đến việc kê khai, quyết toán thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản cần lưu ý khi thực hiện kiểm soát thuế TN và phí BVMT như sau:
+ NNT khai thác tài nguyên có trách nhiệm thông báo với CQT về phương pháp xác định giá tính thuế đối với từng loại tài nguyên khai thác, kèm theo hồ sơ khai thuế tài nguyên của tháng đầu tiên có khai thác Trường hợp thay đổi phương pháp xác định giá tính thuế thì thông báo lại với CQT
Trang 34trực tiếp quản lý trong tháng có thay đổi
+ Hàng tháng, NNT thực hiện khai thuế đối với toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong tháng (không phân biệt tồn kho hay đang trong quá trình chế biến) Trường hợp trong tháng không phát sinh thuế TN và phí BVMT đối với khai thác khoáng sản, NNT vẫn phải kê khai và nộp tờ khai với CQT Khai quyết toán thuế TN và phí BVMT đối với khai thác khoáng sản bao gồm khai quyết toán năm và khai quyết toán đến thời điểm chấm dứt hoạt động khai thác khoáng sản, chấm dứt hoạt động kinh doanh, chấm dứt hợp đồng chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp hoặc tổ chức lại DN + Khi quyết toán thuế TN, NNT phải lập Bảng kê kèm theo Tờ khai quyết toán thuế năm trong đó kê khai chi tiết sản lượng khai thác trong năm theo từng
mỏ tương ứng với Giấy ph p được cấp Số thuế TN được xác định căn cứ thuế suất của loại tài nguyên khai thác tương ứng với sản lượng và giá tính thuế như sau:
Sản lượng tài nguyên tính thuế là tổng sản lượng tài nguyên khai thác trong năm, không phân biệt tồn kho hay đang trong quá trình chế biến hoặc vận chuyển Trường hợp trong sản lượng bán ra vừa có sản lượng sản phẩm tài nguyên vừa có sản lượng sản phẩm công nghiệp thì phải quy đổi từ tài nguyên
có trong sản lượng sản phẩm tài nguyên và sản phẩm công nghiệp ra sản lượng tài nguyên khai thác theo định mức sử dụng tài nguyên do NNT tự xác định
Giá tính thuế là giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm tài nguyên được xác định bằng cách lấy tổng doanh thu bán tài nguyên chia cho tổng sản lượng tài nguyên bán ra tương ứng trong năm
Hiện nay, với việc kê khai thuế đã được thực hiện qua mạng, CQT sẽ kiểm soát việc DN thực hiện kê khai các tờ khai thuế có đúng quy định và đúng hạn hay không Trong thời hạn xử lý tờ khai, thông qua công tác kiểm
Trang 35soát, nếu phát hiện sai sót thì CQT thông báo yêu cầu NNT điều chỉnh, nếu tờ khai hợp lệ sẽ được công chức thuế chấp nhận vào hệ thống QLT tập trung (TMS) Trong quá trình kiểm soát việc xử lý tờ khai, CQT phân tích các dữ liệu kê khai của NNT để phát hiện những trường hợp có dấu hiệu bất thường hoặc dấu hiệu vi phạm, thông qua đó có các biện pháp ngăn chặn kịp thời Trường hợp NNT nộp tờ khai quá hạn hoặc không nộp tờ khai hoặc không điều chỉnh theo yêu cầu của CQT thì sẽ bị xử lý phạt hành chính hoặc bị ấn định thuế của kỳ tính thuế hoặc có thể bị kiểm tra tại trụ sở của NNT
c Kiểm soát xử lý miễn, giảm thuế TN và phí BVMT
Hiện nay, chỉ thuế TN có quy định về các trường hợp được miễn, giảm thuế Riêng đối với hoạt động khai thác khoáng sản thì có những quy định về miễn, giảm:
+ Miễn thuế TN đối với tổ chức, cá nhân khai thác nước thiên nhiên dùng cho hoạt động sản xuất thuỷ điện để phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình,
cá nhân; Miễn thuế TN đối với nước thiên nhiên do hộ gia đình, cá nhân khai thác phục vụ sinh hoạt; Miễn thuế TN đối với đất do tổ chức, cá nhân được giao, được thuê khai thác và sử dụng tại chỗ trên diện tích đất được giao, được thuê, đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình an ninh, quân sự, đê điều (Đất khai thác và sử dụng tại chỗ được miễn thuế tại điểm này bao gồm
cả cát, đá, sỏi có lẫn trong đất nhưng không xác định được cụ thể từng chất và được sử dụng ở dạng thô để san lấp, xây dựng công trình; Trường hợp vận chuyển đi nơi khác để sử dụng hoặc bán thì phải nộp thuế TN theo quy định) + t miễn, giảm thuế TN phải nộp cho số tài nguyên bị tổn thất đối với NNT gặp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất đến tài nguyên đã kê khai, nộp thuế
Căn cứ các điều kiện được miễn giảm, CQT kiểm tra các thủ tục được miễn giảm theo quy định của Luật QLT và các hồ sơ tài liệu liên quan chứng
Trang 36minh nhằm xác định đúng đối tượng được miễn giảm theo đúng quy định
1.3.2 Kiểm soát thông qua kiểm tra, thanh tra hồ sơ khai thuế
Thanh tra/kiểm tra là một trong những khâu quan trọng, góp phần kiểm soát nguồn thu thuế Kiểm tra, thanh tra thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử
lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về thuế như khai sai, gian lận thuế, trốn thuế, chiếm dụng tiền thuế; Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế; Phát hiện những kẽ hở trong chính sách thuế mà NNT lợi dụng để gian lận thuế, trốn thuế Đồng thời qua đó phát hiện những quy định không phù hợp của các Luật Thuế với thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội, những bất hợp lý của công tác tổ chức hệ thống bộ máy thanh tra/kiểm tra, từ đó kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung kịp thời nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát thuế một cách chặt chẽ, đảm bảo thực hiện công bằng trong việc thực hiện các Luật Thuế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
Công tác kiểm tra thuế được thực hiện dưới hai hình thức: kiểm tra tại
trụ sở CQT và kiểm tra tại trụ sở của NNT NNT thuộc diện kiểm tra theo kế hoạch được lựa chọn trên số DN đang được CQT quản lý từ phần mềm lập kế hoạch thanh tra/kiểm tra thuế theo rủi ro
- Kiểm tra tại trụ sở CQT: Dựa trên danh sách NNT có rủi ro từ phần
mềm, công chức thuế quản lý DN thực hiện kiểm tra, đối chiếu nội dung kê khai trong hồ sơ khai thuế với các văn bản pháp luật về thuế, cơ sở dữ liệu của NNT và tài liệu có liên quan về NNT để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện các trường hợp khai chưa đúng, chưa đầy đủ dẫn tới việc khai thiếu thuế hoặc trốn thuế, gian lận thuế
Đối với các hồ sơ khai thuế qua kiểm tra, đối chiếu phát hiện khai chưa đúng, số liệu khai không chính xác hoặc có những nội dung cần xác minh liên quan đến số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được
Trang 37giảm, số tiền thuế được hoàn thì cần ra thông báo bằng văn bản đề nghị người nộp thuế giải trình hoặc bổ sung thông tin tài liệu
- Kiểm tra tại trụ sở NNT: CQT sẽ tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT
trong các trường hợp: kiểm tra từ hồ sơ khai thuế (qua kiểm tra NNT tại trụ sở CQT mà NNT không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu; hoặc không khai
bổ sung hồ sơ thuế; hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng; hoặc CQT không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp); kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm; kiểm tra hoàn thuế; kiểm tra theo kế hoạch, chuyên đề; và kiểm tra khác
Công tác thanh tra thuế được thực hiện tại trụ sở NNT trong các
trường hợp: Thanh tra theo kế hoạch hàng năm dưới sự chỉ đạo của TCT; DN
có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng CQT các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính; Các trường hợp thanh tra đột xuất thực hiện theo sự phân công của Lãnh đạo CQT DN thuộc diện thanh tra thuế theo kế hoạch cũng được lựa chọn từ phần mềm lập kế hoạch thanh tra/kiểm tra thuế theo rủi ro
Công tác thanh tra/kiểm tra thuế đối với DN nói chung tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
- Thanh tra/kiểm tra việc chấp hành quy định về đăng ký, kê khai nộp thuế
- Thanh tra/kiểm tra việc chấp hành sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định của các Luật Thuế
- Thanh tra/kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước
Việc kiểm soát thuế TN và phí BVMT được tuân thủ theo quy trình thanh tra ban hành kèm Quyết định 1404/QĐ-TCT ngày 28/7/2015 và quy trình kiểm tra ban hành kèm Quyết định 746/QĐ-TCT ngày 20/4/2015 của TCT
Trang 381.3.3 Kiểm soát nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế
Hiện nay, áp dụng cơ chế “tự tính, tự khai, tự nộp” nhưng trên thực tế nhiều NNT không tự giác, cố tình chiếm dụng tiền thuế, có trường hợp chiếm đoạt tiền thuế bằng cách bỏ trốn, giải thể, phá sản Kiểm soát nợ thuế là chức năng đảm bảo tiền thuế đã kê khai được nộp vào NSNN đầy đủ và đúng thời hạn, qua đó đánh giá tính tuân thủ pháp luật của NNT
Trước tình hình số nợ thuế ngày càng tăng và nợ đọng thuế k o dài thì quản lý thu nợ được xem là công tác trọng tâm trong việc kiểm soát nguồn thu đối với DN Theo quy định của Luật QLT hiện nay, NNT nộp chậm tiền thuế vào NSNN thì bị tính tiền chậm nộp với tỷ lệ 0,03%/ ngày nộp chậm (áp dụng
từ ngày 1/7/2016, trước thời điểm đó là tỷ lệ 0,05%/ngày)
Nội dung của công tác kiểm soát thu nợ thuế bao gồm:
- Giám sát chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của NNT, có biện pháp kịp thời để đôn đốc, xử phạt việc chậm nộp thuế theo quy định
- Theo dõi, phân tích số thuế nợ của NNT theo từng loại thuế, mức nợ, tuổi nợ, nguyên nhân của từng khoản nợ thuế và kết hợp với việc phân tích thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của DN để xây dựng kế hoạch, biện pháp tổ chức thu nợ, áp dụng các biện pháp cưỡng chế
nợ thuế phù hợp
Cưỡng chế nợ thuế
Các trường hợp bị cưỡng chế nợ bao gồm: (i) NNT nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế đã quá chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn (ii) NNT nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế khi đã hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế (iii) NNT còn nợ tiền thuế, tiền phạt có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn
Các biện pháp cưỡng chế nợ thuế:(1) Trích tiền từ TK của đối tượng bị cưỡng chế tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng
Trang 39khác; yêu cầu phong toả TK; (2) Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập;
(3) Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để
thu đủ tiền thuế, tiền phạt; (4) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ; (5) Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu; (6) Thu hồi
mã số thuế; đình chỉ việc sử dụng hóa đơn; (7) Thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy ph p thành lập và hoạt động, giấy ph p hành nghề
1.3.4 Kiểm soát xử lý vi phạm về thuế TN và phí BVMT
Mọi hành vi vi phạm về thuế, phí đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời Tùy vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà NNT phải chịu hình thức phạt khác nhau Kiểm soát xử lý vi phạm hành chính về thuế được xem như một công cụ nhằm răn đe đối với các hành vi không chấp hành các quy định về thuế, đồng thời giúp ngăn ngừa, hạn chế các hành vi tái phạm về sau
Xử lý vi phạm về thuế TN
- Vi phạm thủ tục về thuế: gồm các vi phạm về kê khai, đăng ký thuế, nộp hồ sơ khai thuế; NNT vi phạm các thủ tục về thuế có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền theo từng mức độ quy định
- Chậm nộp tiền thuế: NNT bị tính tiền chậm nộp tiền thuế khi nộp tiền thuế chậm so với thời hạn quy định, thời hạn ghi trong Quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế của CQT, nộp thiếu tiền thuế do khai sai số thuế phải nộp Đây được xem như hành vi chiếm dụng tiền thuế của NNT đối với NSNN
- Kê khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp: Khai sai thuế là việc NNT đã ghi ch p, phản ánh đầy đủ kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ khi lập BCTC nhưng xác định số thuế phải nộp thấp hơn so với quy định, làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn giảm Đối với hành vi này, ngoài việc phải nộp đầy
Trang 40đủ số tiền thuế kê khai thiếu, NNT còn bị tính tiền chậm nộp và theo quy định hiện hành bị phạt hành chính theo tỷ lệ 20% trên số tiền thuế kê khai thiếu
- Trốn thuế, gian lận thuế: Trốn thuế, gian lận thuế là việc NNT không ghi ch p, phản ánh đầy đủ kịp thời, trung thực các nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm phát sinh nghĩa vụ thuế trên sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ khi lập BCTC, từ đó xác định số thuế phải nộp thấp hơn số thuế theo quy định, làm tăng số thuế đƣợc hoàn hoặc đƣợc miễn giảm NNT có hành vi trốn thuế, gian lận về thuế ngoài việc phải nộp số tiền thuế trốn, gian lận còn bị xử phạt từ một lần đến ba lần số thuế trốn