Nói một cách khái quát, năng lực là một trạng thái hoặc một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể, Trong chương trình đạy học định hướng phát triển
Trang 1TRINH VAN QUYNH - NGUYEN THI KIEU HOA
CHINH PHUC NANG LUC DOC HIẾU VA LAM VAN - Hệ thống trọn vẹn nội dung chương trình lớp 11 và lớp 12
- Bứt phá chinh phục kì thi THPT Quốc gia từ năm 2018
- Kết hợp hoàn hảo khi tự học với các khóa học online
Trang 3MỤC LỤC
LOL NOL DAU 00010100 -1+-+2aaạHHHH)))))).), 3
PHAN 1: Lí THUYET VE NANG LUC.scssssssssssssscussssenssssstsnanseen "— ,ÔỎ 5
PHAN 2: NẴNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BAN THÔNG TIN 2.12012410011211 18 PHAN 3: NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN văn học 2 k.L121,2011.11101 01 2.0,e 93
Thi phap van hoc Trung dail .sssssssssessccecsecssscsessesssssnnsonessanssessanssastesseesecnterseenesnecesssensents 96
TU TINH I
HG XUAN HUONG eeseessssssssscssccccssceccesseesssscececnssesceessessssueseessvssssssssessssssecececseceesessaasseusovevessasanseesessnsseasnsnsssases 103
CÂU CA MUA THU
Thi pháp Văn học lãng mạn (văn xuôi lãng mạn) 2 s setter 182
HAI DUA TRE
Tha Lar weccsccssssssssessessstsssscsesesscssssssssssssnssssesssscsesguessssuuevosssvanovscscascassssssssssessaseesasssnenseasosesesenerscensnerssenssenneseeses 185
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Thi pháp Văn học lãng mạn (Thơ mới 1932 - 19445) v12 1011111142208 x66 201
Trang 4Ngwyén Trung TRAD cccssssenessseseesssncetcsceeessstensnsesessesesssssssnssseesessecesasenseegnsseseeasessesnnsssnseanscesseessss 289)
Hö§U ai ác ôn" 300 SÓNG
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
Nguyễn Minh Châu
Thi pháp thể loại tùy bút « se1231.111T1101114411114011144811140 027141 17A EAkxrErketstreorevvee 322 NGƯỜI LÁI ĐỒ SÔNG ĐÀ
AIDA DAT TEN CHO DONG SONG
Hoang Phti NEOC TUGIG sesesssssssssssssessesrsssssssnssecsseuesstecceneeecnsnssssseeeesunasensseesunesseseeeeeeecensssseegeeseeseuasanaseseseees 338
HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT
Luu Quang Vai
TÀI LIEU THAM KHAO.wcssssssssssssssnsssssssnssnessessntsenstssevesnesesee en — 369
TTỞ€S, Seiiiiierivieeeee ssssaenseeanainenseeseeecenes ssussseseueneseneeesesousenssecsuecanessenescnteeneney 370
Trang 5
LỮI NOI DAU
Các thầy cô giáo và các em học sinh thân mến!
Trong những năm gần đây, giáo dục nhiêu nước trong đó có Việt Nam chuyển từ định hướng phát triển nội dung sang định hướng phát triển năng lực Bên cạnh việc phát huy khả
năng huy động kiến thức còn tập trung phát triển các kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành
và đặc biệt chú ý hình thành thái độ, cảm xúc, giá trị, đạo đức, động lực của người học để thực
hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể Việc vận dụng đạy học và kiểm tra
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực trong bộ môn Ngữ văn còn gặp nhiều khó khăn
Để giúp các thầy cô giáo và các em học sinh có thêm tài liệu dạy học và ôn tập theo xu hướng
rnà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tích cực đổi mới, đồng thời giúp các em học sinh có kiến thức
và kĩ năng tốt nhất phục vụ kì thi THPT Quốc gia, chúng tôi biên soạn cuốn sách Chính phục
năng lực đọc hiểu và làm văn đành cho học sinh lớp 11 và 12 Tài liệu kết hợp để tự học hiệu quả
với các khóa học online tại địa chỉ: hocvanvanhoc.vn
Nội dung cuốn sách gồm ba phần:
Phần 1: Lí thuyết về năng lực Phần này chúng tôi khái quát chung về năng lực để giúp giáo viên và học sinh thấy được tầm quan trọng của việc định hướng phát triển năng lực người học; phân loại các năng lực theo
các tiêu chí khác nhau Đặc biệt tập trung vào năng lực đọc hiểu và năng lực làm văn trong
năng lực riêng của bộ môn Ngữ văn Chúng tôi cũng chủ trương phân biệt giữa năng lực đọc
hiểu văn bản nghị luận và văn bản thông tin và năng lực đọc hiểu văn bản văn học vì những
khác biệt về đặc điểm và mục đích tiếp cận
Phần 2: Năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận và văn bản thông tin Phần này chúng tôi đề xuất phương pháp giúp học sinh đọc hiểu văn bản một cách tích cực và chủ động bao gồm: đọc hiểu trước khi đọc văn bản - đọc hiểu trong khi đọc văn bản
- đọc hiểu sau khi đọc văn bản, đồng thời triển khai các kĩ thuật đặt câu hỏi bốn cấp độ theo
chuẩn đánh giá năng lực Pisa quốc tế Chúng tôi còn cung cấp 25 đề luyện tập theo mau của đề
thi trung học phổ thông quốc gia cập nhật với nội dung đa dạng và hữu ích Các văn bản thông
tin (văn bản báo chí, văn bản khoa học, văn bản nghị luận) nhằm cung cấp thông tin có ý nghĩa
trong đời sống giúp học sinh hoàn thiện kĩ năng sống, thái độ sống phù hợp Năng lực đọc hiểu
có sự tích hợp sâu sắc với năng lực làm văn nghị luận xã hội là bí quyết giúp các em học sinh
đạt điểm tối đa ở cả hai nội dụng này
Phần 3: Năng lực đọc hiểu văn bản văn học Phần này chúng tôi hệ thống kiến thức logic theo các năng lực: tái hiện hình tượng - liên tưởng, cảm thụ - đánh giá, nhận thức giúp học sinh phân biệt được kiến thức cơ bản và nâng cao
đồng thời tự đánh giá được năng lực đọc hiểu và làm văn của bản thân đạt mức độ nào Vì vậy
học sinh biết cách để tự hoàn thiện và nâng cao năng lực cảm thụ văn bản văn học Các tác phẩm
2
Trang 6
Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài giảng online
LOI NOI DAU
Các thầy cô giáo và các em học sinh thân mến!
Trong những năm gần đây, giáo dục nhiều nước trong đó có Việt Nam chuyển từ định hướng phát triển nội dung sang định hướng phát triển năng lực Bên cạnh việc phát huy khả
năng huy động kiến thức còn tập trung phát triển các kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành
và đặc biệt chú ý hình thành thái độ, cảm xúc, giá trị, đạo đức, động lực của người học để thực
hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể Việc vận dung day hoc va kiém tra
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực trong bộ môn Ngữ văn còn gặp nhiều khó khăn
Để giúp các thầy cô giáo và các em học sinh có thêm tài liệu dạy học và ôn tập theo xu hướng
nà Bộ Giáo đục và Đào tạo đang tích cực đổi mới, đồng thời giúp các em học sinh có kiến thức
và kĩ năng tốt nhất phục vụ kì thi THPT Quốc gia, chúng tôi biên soạn cuốn sách Chính phục
năng lực đọc hiểu và làm văn đành cho học sinh lớp 11 và 12 Tài liệu kết hợp để tự học hiệu quả
với các khóa học online tại địa chỉ: hocvanvanhoc.vn
Nội dung cuốn sách gồm ba phần:
Phần 1: Lí thuyết về năng lực
Phần nây chúng tôi khái quát chưng về năng lực để giúp giáo viên và học sinh thấy được
tâm quan trọng của việc định hướng phát triển năng lực người học; phân loại các năng lực theo
các tiêu chí khác nhau Đặc biệt tập trung vào năng lực đọc hiểu và năng lực làm văn trong
năng lực riêng của bộ raôn Ngữ văn Chúng tôi cũng chủ trương phân biệt giữa năng lực đọc
hiểu văn bản nghị luận và văn bản thông tin và năng lực đọc hiểu văn bản văn học vì những
khác biệt về đặc điểm và mục đích tiếp cận
Phần 2: Năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận va văn hản thông tin
Phần này chúng tôi đề xuất phương pháp giúp học sinh đọc hiểu văn bản một cách tích
cực và chủ động bao gồm: đọc hiểu trước khi đọc van ban — đọc hiểu trong khi đọc văn bản
- đọc hiểu sau khi đọc văn bản, đồng thời triển khai các kĩ thuật đặt câu hỏi bốn cấp độ theo
chuẩn đánh giá năng lực Pisa quốc tế Chúng tôi còn cung cấp 25 đề luyện tập theo mẫu của đề
thi trung học phổ thông quốc gia cập nhật với nội dung da dang và hữu ích Các van ban thông
tin (van ban báo chí, văn bản khoa học, văn bản nghị luận) nhằm cung cấp thông tin có ý nghĩa
trong đời sống giúp học sinh hoàn thiện kĩ năng sống, thái độ sống phù hợp Năng lực đọc hiểu
có sự tích hợp sâu sắc với năng lực làm văn nghị luận xã hội là bí quyết giúp các em học sinh
đạt điểm tối đa ở cả hai nội dung này
Phần 3: Năng lực đọc hiểu văn bản văn học
Phần này chúng tôi hệ thống kiến thức logic theo các năng lực: tái hiện hình tượng - liên -
tưởng, cảm thụ - đánh giá, nhận thức giúp học sinh phân biệt được kiến thức cơ bản và nâng cao
đồng thời tự đánh giá được năng lực đọc hiểu và làm văn của bản thân đạt mức độ nào Vì vậy
học sinh biết cách để tự hoàn thiện và nâng cao năng lực cảm thụ văn bản văn học Các tác phẩm
g
Trang 7ae
Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài gidng online
LOI NOI BAU
Các thầy cô giáo và các em học sinh thân mến!
Trong những năm gần đây, giáo dục nhiều nước trong đó có Việt Nam chuyển từ định hướng phát triển nội dung sang định hướng phát triển năng lực Bên cạnh việc phát huy khả
năng huy động kiến thức còn tập trung phát triển các kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành
và đặc biệt chú ý hình thành thái độ, cảm xúc, giá trị, đạo đức, động lực của người học để thực
hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể Việc vận dụng đạy học và kiểm tra
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực trong bộ môn Ngữ văn còn gặp nhiều khó khăn
Để giúp các thầy cô giáo và các em học sinh có thêm tài liệu đạy học và ôn tập theo xu hướng
mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tích cực đổi mới, đồng thời giúp các em học sinh có kiến thức
và kĩ năng tốt nhất phục vụ kì thi THPT Quốc gia, chúng tôi biên soạn cuốn sách Chỉnh phục
năng lực đọc hiểu và làm văn đành cho học sinh lớp 11 và 12 Tài liệu kết hợp để tự học hiệu quả
với các khóa học online tại địa chỉ: hocvanvanhoc.vn
Nội dung cuốn sách gồm ba phần:
Phần 1: Lí thuyết về năng lực 7 Phần này chúng tôi khái quát chung về năng lực để giúp giáo viên và học sinh thấy được
ˆ tầm quan trọng của việc định hướng phát triển năng lực người học; phân loại các năng lực theo
các tiêu chí khác nhau Đặc biệt tập trung vào năng lực đọc hiểu và năng lực làm văn trong
năng lực riêng của bộ môn Ngữ văn Chúng tôi cũng chủ trương phân biệt giữa năng lực đọc
hiểu văn bản nghị luận và văn bản thông tin và năng lực đọc hiểu văn bản văn học vì những
khác biệt về đặc điểm và mục đích tiếp cận
Phần 2: Năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận và văn bản thông tin Phần này chúng tôi đề xuất phương pháp giúp học sinh đọc hiểu văn bắn một cách tích cực và chủ động bao gồm: đọc hiểu trước khi đọc văn bản - đọc hiểu trong khi đọc văn bản
- đọc hiểu sau khi đọc văn bản, đồng thời triển khai các Kĩ thuật đặt câu hỏi bốn cấp độ theo
chuẩn đánh giá năng lực Pisa quốc tế Chúng tôi còn cung cấp 25 đề luyện tập theo mẫu của đề
thi trung học phổ thông quốc gia cập nhật với nội dung đa đạng và hữu ích Các văn bản thông
tin (văn bắn báo chí, văn bản khoa học, văn bản nghị luận) nhằm cung cấp thông tỉn có ý nghĩa
trong đời sống giúp học sinh hoàn thiện kĩ năng sống, thái độ sống phù hợp Năng lực đọc hiểu
có sự tích hợp sâu sắc với năng lực làm văn nghị luận xã hội là bí quyết giúp các em học sinh
đạt điểm tối đa ở cả hai nội dung này
Phần 3: Năng lực đọc hiểu văn bản văn học Phan này chúng tôi hệ thống kiến thức logic theo các năng lực: tái hiện hình tượng - liên ' tưởng, cảm thụ - đánh giá, nhận thức giúp học sinh phân biệt được kiến thức cơ bản và nâng cao
đồng thời tự đánh giá được năng lực đọc hiểu và làm văn của bản thân đạt mức độ nào Vì vậy
học sinh biết cách để tự hoàn thiện và nâng cao năng lực cảm thụ văn bản văn học Các tác phẩm
Š
Trang 8
Chinh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
được phân loại và sắp xếp theo đặc trưng thi pháp như: văn học trung đại, thơ mới, văn xuôi
lãng mạn, văn học cách mạng, văn học hiện thực, văn học đổi mới sau 1975, thi pháp bút ký và
thi pháp kịch Các tác phẩm được giải mã theo đặc trưng thi pháp nhằm tạo liên hệ sâu sắc giữa
các tác phẩm có cùng tác giả, cùng thời đại hoặc cùng trào lưu, thể loại Mở đầu mỗi bài học là
các câu hỏi gợi mở giúp học sinh suy ngẫm và thảo luận đồng thời tích hợp giải quyết các vấn đề
thực tiễn một cách khéo léo, gần gũi Kết thúc bài học là phần vận dụng, định hướng học sinh đọc
hiểu các văn bắn văn học ngoài sách giáo khoa có cùng đặc trưng thi pháp
Với tất cả tâm huyết, chúng tôi raong muốn truyền tải những nội dung và phương pháp
học tập mới nhất, hiệu quả nhất tất không chỉ giúp các bạn học sinh giảm nhẹ gánh nặng học tập,
chinh phục đỉnh cao điểm số quà) àitích lũy kiến thức và hình thành nhân cách Chúng tôi rất
raong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các em học sinh và độc giả quan tâm để
cuốn sách được hoàn thiện hơn
Tác giả
i
1 4
Trang 10Chỉnh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
KHÁI QUAT CHUNG VE NANG LUC
1 NANG LUC LA Gi?
Trong thực tế tiếng Việt, khái niệm năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt Tuy nhiên năng lực nghĩa gốc có thể hiểu là:
- Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó;
- Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào
đó với chất lượng cao
Từ góc độ tâm lí học, nhiều tác giả có quan điểm chung về năng lực: năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả
Ở góc độ giáo dục học: năng lực là một hệ thống các cấu trúc tỉnh thần bên trong và khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành và thái độ, cảm xúc, giá trị, đạo đức, động lực của một người để thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể,
Trong phát triển chương trình giáo dục, nhiều nước nêu lén định nghĩa về năng lực, chẳng hạn:
Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của học sinh; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; Tigoài
ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác”
Nang luc là một tiêu chuẩn đòi hỗi ở một cá nhân khi thực hiện một công việc cụ thể Nó bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức, Kĩ năng và hành vì ứng xử trong thực hành Nói một cách khái quát, năng lực là một trạng thái hoặc một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể,
Trong chương trình đạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực có thể được hiểu như sau:
- Năng lực liên quan đến bình điện mục tiêu của đạy học: mục tiêu day hoc duoc mé ta thông qua các năng lực cần hình thành;
~ Trong các môn học, những nội đung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;
- Năng lực là sự kết nối trí thức, hiểu biết, kha năng, mong muốn ;
- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội đung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp;
- Năng lực mô tả việc giải quyết những đồi hỏi về nội dung trong các tình huống: ví du như đọc một văn bản cụ thể Nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ bản
Trang 11
Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài giảng online
- Các năng hực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền táng chung chớ ` công việc giáo dục và day học; _
- Mức độ đổi với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các chuẩn; Đến một thời điểm nhất định nào đó, học sinh có thể/phải đạt được những gi?
3 CÁC NỘI DŨNG CƠ BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Theo mô ta va lí giải của một số nước thì chương trình tiếp cận năng lực thực chất vẫn
là cách tiếp căn kết quả đầu ra, trong đó đầu ra của cách tiếp cận này tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học, Chương trình tiếp cận theo hướng này chỗ trương giúp học
sinh không chỉ biết học thuộc, ghỉ nhớ raà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử „ dụng những trí thức học được để giải quyết các tình huồng do cuộc sống đật ra
Chương trình tiếp cận nội dung chủ yếu yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Biết cải gữ chương trình tiếp cân năng lực luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gi từ những điều đã biết So với thiết kế truyền thống, thiết kế chương trình theo hướng tiếp cận năng lực có sự khác biệt Thiết
kế truyền thống thường bắt đầu từ mục tiểu giáo dục sau đó xác định các lĩnh vực/nôn học,
chuẩn kiến thức và kĩ năng, phương pháp đạy học và cuối cùng là đánh giá Thiết kế chương
trình theo năng lực trước hết căn xác định các năng lực chung cân trang bi va phát triển cho Học sinh Những năng lực này có thể nếu ngay trong mục tiểu của chương trình giáo đục Từ các năng lực này mới xác định các lĩnh vực/môn học bắt buộc cần thiết có vai tro trong cong việc phát triển năng lực; sau đó phải xác định được chuẩn năng lực cho môi gial doan/cap/ldp;
tiếp đến là xác định những năng lực mà mỗi môn học bắt buộc có thể đảm nhận,
Để hình thành và phát triển nãng lực cần xác định các thành phan và cấu trúc của chúng
Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc raô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhan, Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của bốn nằng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể,
() Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên xôn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên nôn một cách độc lập, có phương pháp và chính sác về mật chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội đụng ~ chuyên môn và chủ yếu gan với khá niếng nhận thức và tầm lí vận động,
(1) Năng lực phương pháp: Là khả năng đổi với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên raôn Trung tâm của phương pháp nhận
thức là những khả năng tiếp nhận, xử 1í, đánh giá, truyền thụ và trình bày trí thức Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận - giải quyết vấn đề,
GIÓ Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiến tứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác, Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp,
(iv) Năng lực cá thể: Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phái triển cũng
như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây đựng và thực hiện kể hoạch phát triển cả nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chỉ phối các thái độ và hành
vi ứng xử, Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc ~ đạo đức và liên quan đến tự duy và hành
- động tự chịu trách nhiệm SỐ |
Trang 12
Chính phục năng lực đọc hiểu và làm văn
Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt gido duc theo UNESCO:
Các thành phần năng lực Các trụ cột giáo dục của UNESO
Nội dung đạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức
và kĩ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội đung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực:
Học nội đúng .| Học phương phắp = Học giao tiếp: ~ Học tự trải nghiệm —
- Các trí thức chuyên | - Lập kế hoạch học tập, | - Làm việc trong nhóm |- Tự đánh giá điểm
mạnh, điểm yếu
- Xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân
- Đánh giá, hình thành
- Ưng dụng, đánh giá | - Các phương pháp môn bày thông tin thân trách nhiệm | các chuẩn mực giá
khả năng giải quyết| trị đạo đức và văn
_Nănglực |: :' Nănglực '¡ Ì- Nănglực - oo Nang hire
chuyên mội - Jˆ.'- phương phán: ]: xã hội: nhân cách - :
Căn cứ vào thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của các nước có thể thấy hai loại chính:
đó là những năng lực chung và năng lực cụ thể, chuyên biệt
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội, năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, lên quan đến nhiều môn học
Năng lực cụ thể chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó
3 ĐÁNH GIÁ TÍNH ỨNG DỤNG
Phát triển chương trình giáo đục phổ thông theo tiếp cận năng lực là xu thế đang được nhiều quốc gia thực hiện Các nước đã đưa ra khung năng lực, chú trọng những phương điện
Trang 13Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bai giảng online
năng lực cần cho việc học suốt đời, cho cuộc sống hàng ngày, cần cho công dân để thích ứng với xã hội hiện đại Các răng lực chung sẽ được triển khai cụ thể trong xây dựng chương trình
- Về nội dung chwong trinh: C6 cu triic da tang, cdc linh vite hoc tap, mén hoc chuyén
đề, hoạt động giáo dục tạo sự linh hoạt, gắn kết, tổng thể Quan điểm tích hợp được chú trọng
trong cấu trúc nội dung chương trình Điêu đó được thể hiện qua việc xây dựng các môn học
tích hợp, các lĩnh vực học tập Có sự phân hóa, hướng tới cá nhân người học Mang tính phổ
thông, cơ bẳn, cân đối, toàn điện để đảm bảo mỗi cá nhân phát huy được tối đa tiềm năng, có
những kiến thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống xã hội hiện đại, cho học tập suốt đời
- Về phương pháp đạy học: chú trọng tới yêu cầu sử dụng các phương pháp dạy học tích
cực; chú ý cho học sinh thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào các tình huống thực tiễn,
các tình huống có tính “phức hợp”, tìm tòi khám phá, nghiên cứu thực hiện các dự án học tập,
thảo luận, thuyết trình qua đó phá triển các năng lực của người học
- Về đánh giá kết quả học tập của người học: chú ý nhiều hơn đến các thành tố khác
nhau của năng lực như kiến thức, kĩ năng, giá trị, thái độ chứ không chí tập trung vào ghỉ nhớ
kiến thức đơn thuần, cũng không chỉ quan tâm đến kiến thức, kĩ năng môn học riêng lễ mà còn
quan tâm tới việc học sinh thể hiện năng lực như thế nào ở các hối cảnh, tình huống phức hợp
và thực tiễn; không chứ đánh giá kết quả đầu ra mà còn cả quá trình đi đến kết quả
Trang 14
Chỉnh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
NANG LỰC ĐỤC HIỂU - LÀM VĂN
1 NĂNG LỰC CHUYÊN BIỆT MÔN NGỮ VĂN
Năng lực chuyên biệt được hiểu là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ
sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động,
công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt,
đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như toán học, ngữ văn, âm nhạc, rnĩ thuật,
thể thao, địa 1í, lịch sử
Chương trình tổng thể định hướng phát triển năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn bao
gồm năng lực tiếp nhận văn bân (gồna Kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập văn bản (gồm kĩ
năng nói và viết
Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng
trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát
ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của
sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát
hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi: Cái gì? Như
thé nao? Lam thé nao?
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện
luận đúng - sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt Mục đích trong tác
phẩm văn chương, đọc hiểu là phải thấy được:
+ Nội dung của văn ban
+ Mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây đựng
+ Ý đồ, mục đích
+ Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm
+ Giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật
+ Ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn ban
+ Thể loại của văn bản, hình tượng nghệ thuật
Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua
khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn,
nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cắm của
người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể
của học sinh, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề đọc hiểu
văn bản ngày càng được quan tâm
Làm văn có thể hiểu là kĩ năng tạo lap van ban trong đó có kĩ năng nói và viết Trong
trường phổ thông hiện nay, có sáu kiểu văn bản được đưa ra làm nội dung rèn luyện cho
học sinh, đó là: miêu tả, tự sự (kể chuyện, trần thuật, tường thuật), biểu cảm, thuyết minh, nghị
„Iữ- é
Trang 15
Truy cập hocvanvarthoc.vn để khám phá thế giới bài giảng online
luận Nếu như làm văn miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh học sinh sáng tạo ra văn bản mới
thì làm văn nghị luận thông qua các thao tác như giải thích, phân tích, bình luận, so sánh, học
sinh đưa ra những nhận xét, đánh giá về một văn bản đã có sẵn Vì thế kĩ năng đọc hiểu văn bản
thường tương ứng với kĩ năng làm văn nghị luận như một hoạt động tiếp nhận văn học
2 TÍCH HỢP NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU - LÀM VĂN
Chương trình Ngữ văn THPT lấy trục tích hợp là hai raạch nội dung đọc hiểu văn bản và
tạo lập văn bản, nhằm giúp học sinh phát triển và nâng cao năng lực thưởng thức văn học và
năng lực sử dụng tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp văn hoá (nói và viết) Mặc dù các
năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản có phần tích hợp nhiều nội đụng còn rời rạc nhưng về
căn bản hai nội dung này có sự phối hợp và gắn kết nhất định Có đọc hiểu văn bản hiệu quả
thì mới đi đến hoàn thiện kĩ năng làm văn
Việc đạy học đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho học sinh năng lực đọc hiểu văn bản mà
còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo Viết sáng tạo là khả
năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng, vấn đề được đặt
ra Viết sáng tạo thể hiện ở cách quan sát và phát hiện những đặc điểm của đối tượng từ góc độ
cá nhân, ở những suy nghĩ, cảm nhận riêng về đối tượng, ở cách diễn đạt, thể hiện mang sắc
thái cá nhân, ở việc thể hiện những liên hệ, trải nghiệm riêng từ văn bản đến cuộc sống, ở việc
trình bày ra những ý tưởng, giải pháp để giải quyết một tình huống thực tiến
3 PHÂN LOẠI VĂN BẢN ĐỌC HIỂU - LÀM VĂN
Trong nhà trường phổ thông của Việt Nam và các nước trên thế giới, văn bản đọc hiểu
được chia làm hai loại: loại thứ nhất là văn bản văn học; loại thứ hai ở Việt Nam gọi là văn bản
nhật dụng Văn bản văn học bao gồm các thể loại khác nhau, ở những thời kì phát triển khác
nhau cia văn học Văn bản nhật dụng là cách gọi tên các văn bản phi văn hạc có sự khác nhau
nhưng đều là những văn bản có nhiệm vụ cung cấp thông tin hoặc được dùng vào những chức
năng nhất định Văn bản nhật dụng không phải là một thể loại văn học hay một kiểu văn bản
Sở đĩ gọi văn bản nhật dụng là xuất phát từ nội dung đề tài gắn với những vấn đề có tính thời
sự Vì thế để phân biệt giữa văn bản văn học và văn bản phi văn học; văn bản hư cấu và phi hư
cấu có thể sử dụng khái niệm văn bản thông tin để phân biệt với văn bản văn học Từ đó mới
hình thành những năng lực đọc hiểu khác nhau tương ứng với từng loại văn bản
Theo PISA 2012, đối tượng của đọc hiểu không chỉ là kiểu văn bản thông thường mà xét về
chất liệu và phương tiện thể hiện còn có những văn bản mà ngôn ngữ của nó được sử đụng ở đạng
đồ họa, in và kĩ thuật số, bao gồm cả văn bản thông tìn và văn bản văn học, là những hiển thị hình
ảnh như sơ đồ, bản đồ, bảng biểu, đồ thị và truyện tranh với những chú thích bằng ngôn ngữ
Như vậy, xu thế quốc tế hiện nay cho thấy sự rở rộng về văn bản đọc hiểu: có bao nhiêu
loại văn bản trong cuộc sống thì có bấy nhiêu loại được dạy đọc hiểu trong nhà trường phổ
thông Ví đụ như một đơn thuốc, một thông báo, một trang báo, một cuộc tranh luận Việc dạy
học đọc hiểu văn bản ở nhà trường phổ thông phải đảm bảo giúp học sinh hình thành và phát
triển năng lực đọc, vận dụng được vào thực tế đời sống của bản thân
Theo đó, PISA hướng trọng tâm tới kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tín Cụ thể như PISA
2012 cho rằng khi đọc hiểu, người đọc phải hoàn thành năm nhiệra vụ đọc như sau: lấy thông
Trang 16
Chinh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
tin từ văn bản; tạo nên sự hiểu biết chung về văn bắn; phát triển sự giải thích về văn ban; phan
ánh và đánh giá về nội dung của văn bản; phần ánh và đánh giá về hình thức của văn bản Năm nhiệm vụ trên được tổ chức thành ba khía cạnh chính: truy cập và lấy thông tin; tích hợp
và giải thích; phân ánh và đánh giá
PISA 2012 đã đưa ra các mức độ đọc hiểu xếp từ cao xuống thấp cho từng loại văn bắn Ở đây chỉ nói đến các mức độ đọc hiểu văn bản Có sáu mức độ đọc hiểu như sau:
- Mức độ 6: yêu cầu người đọc tạo ra được nhiều suy luận, so sánh và phản bác một cách chỉ tiết và cụ thể Yêu cầu người đọc phải thể hiện/trình bày một cách đầy đủ và tỉ mĩ hiểu biết của mình về một hoặc nhiều văn bản và có thể tích hợp thông tin từ nhiều văn bản Nhiệm vụ này cũng có thể yêu cầu người đọc bộc lộ suy nghĩ của mình về những chủ đề mới hoặc khác nhau bằng việc nêu ra những ý trổng/thông tin nổi bật, mang tính khái quát của văn bản Phân ánh và đánh giá có thể yêu cầu người đọc đưa ra giả thuyết hoặc phê bình về một văn bản có tính tổng hợp/đa dạng về chủ đề và hình thức thể hiện, đồng thời vận dụng sự hiểu biết sâu sắc
về văn ban Một điều kiện quan trọng đối với phân ánh và đánh giá ở cấp độ này là độ chính xác của phân tích và sự quan tâm đến từng chỉ tiết nhồ trong van ban
- Mức độ 5: liên quan đến việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số mắng thông tin liên quan đến các ý nằm sâu trong văn bản Các nhiệm vụ phân ánh
đề cập đến việc người đọc đưa ra đánh giá hoặc giả thuyết dựa trên kiến thức chuyên sâu/ chuyên ngành Cả hai nhiệm vụ điễn giải và phản ánh đều đòi hỏi một sự hiểu biết đầy đủ và chỉ tiết về một văn bản có nội dụng hoặc hình thức mới Đối với tất cả các khía cạnh của đọc hiểu, nhiệm vụ ở cấp độ này thường Hên quan đến việc xử lí với các vấn đề trái với suy nghĩ thông thường
- Mức độ 4: bao gồm việc lấy thông tin, yêu cầu người đọc xác định vị trí và tổ chức một số thông tin lấy từ trong văn bản Một số nhiệm vụ ở cấp độ này yêu cầu giải thích ý nghĩa sắc thái của ngôn ngữ trong một đoạn văn bằng cách đặt nó vào chỉnh thể của văn bản Các nhiệm vụ điễn giải khác đòi hỗi sự hiểu biết và áp dụng vào một ngữ cảnh mới Các nhiệm vụ phần ánh ở cấp độ này yêu cầu độc giả sử đụng các kiến thức cơ bản và phổ thông để đưa ra giả thuyết hoặc phê bình đánh giá một văn bản Người đọc phải thể hiện một sự hiểu biết chính xác về một văn ban dài hoặc phức tạp với nội dung hoặc hình thức có thể không quen thuộc
- Mức độ 3: đòi hỏi người đọc xác định vị trí, và trong một số trường hợp nhận ra các mối quan hệ giữa một số thông tin Các nhiệm vụ giải thích ở cấp độ này đòi hỏi người đọc tích hợp một số phần của một văn bản để xác định nội dung chính, hiểu một mối quan hệ hoặc giải thích
ý nghĩa của một từ hoặc cụm từ Người đọc cần phải đưa ra được những biểu hiện cụ thể trong khi so sánh, đối lập hoặc phân loại Các thông tín đưa ra thường không phải là nổi bật hoặc có nhiều thông tin cạnh tranh/nhiéu, hoặc có những trở ngại khác từ văn bắn, chẳng hạn như các
ý tưởng (của người viết) trái với kì vọng/suy nghĩ thông thường hoặc có những cách diễn đạt tiêu cực Những nhiệm vụ phần ánh ở raức này có thể yêu cầu kết nối, so sánh và giải thích, hoặc có thể yêu cầu người đọc đánh giá một đặc điểm của văn bản Một số nhiém vu phan ánh yêu cầu độc giả chứng minh một ý hay của văn bán liên quan đến tri thức hàng ngày
Các nhiệm vụ khác không yêu cầu hiểu chỉ tiết văn bản, nhưng yêu cầu người đọc rút ra kiến thức ít phổ biến hơn
Trang 17
Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài giảng online
- Mức độ 2: đòi hôi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều mẩu thông tín có thể cần phải được suy ra và có thể gặp trong một số hoàn cảnh nhất định Những yêu cầu khác
như nhận ra nội đung chính của một văn bản, hiểu các mối quan hệ, hoặc giải thích ý nghĩa
của một phần của văn bản được giới hạn khi thông tin là không nổi bật và người đọc phải đưa
ra được suy luận ở mức độ thấp Các nhiệm vụ ở cấp độ này có thể liên quan đến việc so sánh
hoặc tương phần dựa trên một đặc điểm nào đó của văn bản Các nhiệm vụ phần ánh tiêu biểu
ở cấp độ này yêu cầu độc giả so sánh hoặc tạo ra sự kết nối giữa các văn bản và kiến thức bên
ngoài, bằng cách dựa trên kinh nghiệm và thái độ của cá nhân
- Mức độ 1a: đồi hôi người đọc xác định vị trí của một hoặc nhiều phần thông tin để nhận
ra chủ đề chính hay mục đích của tác giả trong một văn bản về một đề tài quen thuộc, hoặc
để tạo ra một kết nối đơn giản gìữa các thông tin trong các văn bản và kiến thức thông thường
hàng ngày Thông thường các thông tin cần thiết trong văn bản là nổi bật và có rất ít tính cạnh
tranh/nhiễu Người đọc được định hướng một cách rõ ràng để xem xét các yếu tố liên quan
trong nhiệm vụ và trong văn bản
- Mức độ †b: đòi hỏi người đọc xác định vị trí của một mẩu thông tin duy nhất được quy định rõ ràng ở một vị trí nổi bật trong một văn bản đơn giản về cú pháp, ngắn và quen thuộc
về chủ đề và thể loại, chẳng hạn như một văn bản tự sự hay một bản danh sách đơn giản Các
văn bản thông thường cung cấp cho người đọc các dấu hiệu, chẳng hạn như sự lặp đi lặp lại
các thông tin, hình ảnh hoặc biểu tượng quen thuộc với rất ít các thông tin cạnh tranh/nhiễu
Trong các nhiệm vụ giải thích, người đọc có thể cần phải thực hiện các kết nối đơn giản giữa
các thông tin gần kề nhau
Để đạt được các nhiệm vụ trên, trong quá trình dạy học đọc hiểu, học sinh cần thực hiện các nội đung cơ bản sau:
a) Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân - là những hiểu biết về chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại của văn bản)
b) Thể hiện những hiểu biết về văn bản:
~ Tìm kiếm thông tin: doc lướt để tìm ý chính; đọc kĩ để tìm các chỉ tiết
- Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, phân tích, so sánh, kết nối, tổng hợp thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản:
+ Giải thích nghĩa và tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, câu văn, chỉ tiết, biện pháp tu tờ
trong văn bản
+ Thu thập thông tin từ những yếu tố khác của văn bản như các bẩn đồ, biểu đồ, đồ thị
(nếu có)
+ Chỉ ra được mối quan hệ giữa các thông tin trong văn bản
+ Sắp xếp các chỉ tiết trong văn bản theo một trình tự nhất định (theo thứ tự thời gian hoặc không gian), phân loại các chỉ tiết được đưa ra
+ Nắm được ý chính của các đoạn trong văn bản
+ §o sánh để chỉ ra sự tương đồng hoặc khác biệt giữa các tư tưởng/quan điểm (của các
nhan vat) :
Trang 18
+ Phân tích các mô hình tổ chức trong văn bắn: liệt kê/nêu trình tự các ý tưởng hay sự kiện, sơ sánh - đối lập, nguyên nhân - kết quả, các lí đo/tồng hợp-kết luận, vấn đề-giải pháp + Đưa ra những kết luận về văn bản từ các thông tin, quan điểm của người viết
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản:
+ Đánh giá các thông tin, các cảm xúc, suy nghĩ của người viết,
+ Nhận ra những khuynh hướng tư tưởng của người viết (ví dụ: qua những từ ngữ, ngôn _ ngữ văn học mà người viết sử dụng)
+ Đưa ra những sự khái quát hóa ở mức độ phê bình bằng cách: kết nối/ so sánh với các văn bản khác (về thể loại, về các hình ảnh, chỉ tiết )
+ Làm rõ phong cách của người viết ở các khía cạnh: sử dụng ngôn từ (từ vựng, ngữ pháp), sử dụng các kĩ thuật viết/biện pháp nghệ thuật, cách thức và quan điểm khi đề cập đến một chủ đê hoặc đề tài nào đó
c) Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu
+ Đọc các văn bản khác (ngoài chương trình, sách giáo khoa) có cùng đề tài/chủ đề hoặc hình thức thể hiện để củng cố những hiểu biết và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu
+ Suy luận để bàn luận về những vấn đề trong cuộc sống có thể giải quyết bằng sự học hỏi
từ nội đung của văn bản đã đọc hiểu
+ Trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể (là một nhiệm vụ trong học tập, trong đời sống) từ việc vận dụng những hiểu biết về văn bản đã đọc hiểu
Tuy nhiên yêu cầu và phương pháp đọc hiểu của PISA phù hợp hơn với văn bản thông tỉn, có quan điểm khoa học, rõ ràng, khách quan Khoảng cách giữa các văn ban théng tin này
và thực tiễn rất gần nhau vì vậy việc vận đụng tri thức đọc hiểu để giải quyết các vấn đề trong đời sống trở nên thiết thực hơn, đễ đàng hơn
Mục tiêu của việc tập trung phát triển những năng lực trên là xây dựng những con người hành động, có năng lực thực tiễn, cụ thể là:
- Khai thác được thông tin ở mọi văn bản trong cuộc sống
- Chủ động trong tiếp nhận và lựa chọn được những thông tin hữu ích đối với nhận thức
và hành động của mình
~ Vận dụng được trí thức đọc hiểu tiếp nhận được để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
- Đưa ra những phân hồi, đánh giá về nội dung, hình thức, giá trị của văn bản
- Trình bày được quan điểm của bản thân, thuyết phục được người khác đồng ý với quan điểm của mình
Vì những lẽ đó, chúng tôi đề xuất sử dụng những năng lực kể trên làm định hướng đầu ra trong quá trình đọc hiểu văn bản thông tin nhất là các văn bản có nội dung gần gũi, thiết thực với đời sống và bản thân người học Hiệu quả của hoạt động đọc hiểu này tác động trực tiếp
và nhanh nhất đến những hành động thực tiễn đồng thời giúp học sinh hoàn thiện nhân cách Các năng lực riêng biệt theo hướng này cần có sự kết hợp với các năng lực chung nhự giao tiếp
147 Š
Trang 19Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài giảng online
thuyết trình, hợp tác, giải quyết vấn đề để phát huy cao nhất sự chủ động của học sinh, hoạt
động tự học và học tập trong hợp tác
Đọc hiểu một văn bản nghệ thuật không đơn giản là hoạt động truy cập và lấy thông tin;
tích hợp và giải thích; phân ánh và đánh giá Phương thức tồn tại của một tác phẩm văn học còn
là những hình tượng thẩm mĩ được kí hiệu hóa do nhà văn sáng tạo nên như không gian nghệ
thuật, thời gian nghệ thuật, các chỉ tiết nghệ thuật Đặc trưng này phân biệt quá trình đọc hiểu
- nhận thức đối với văn bản thông tin và văn bản nghệ thuật
Sáng tác văn học còn là câu chuyện của cảm xúc, là những tâm tư tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm Vì thế đọc hiểu văn bản nghệ thuật quan trọng còn ở sự đồng cẩm, bắt mạch
được nội tâm người sáng tác Từ cái “tôi” cá nhân người đọc đi đến chỗ bắt gặp hòa cảm với
“cái tôi”, “cái ta” chung trong tác phẩm Người đọc không chỉ phân tích được cốt truyện, hình
tượng nhân vật điển hình mà còn cảm nhận được hình tượng tác giả trong từng tác phẩm Vì
thế đối với một tác phẩm văn học đòi hỏi những năng lực đặc thù trong thưởng thức, tiếp nhận
Trong cuốn Văn học nhà trường, nhận điện - tiếp cận - đổi mới, GS Phan Trọng Luận đã đưa ra những ý kiến bàn về năng lực văn chương cần được hình thành cho học sinh Cụ thể xét
trên phương điện tiếp nhận văn học, người học cần có những năng lực sau:
- Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật: Tri giác là quá trình tâm lí phần ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật hiện tượng khi chúng tác động qua các giác quan Cụ thể
trong văn học là khả năng tri giác được ngôn ngữ thông qua cách nhìn, đọc, lắng nghe Không
có hoạt động tri giác ngôn ngữ của người đọc thì tác phẩm chỉ là tập hợp kí hiệu chết, không có
linh hồn Học sinh kém hay chậm phát triển về năng lực văn học không cảm nhận được dưới
các kí hiệu là những biểu tượng, những chuỗi biểu tượng về các sự vật, hiện tượng đời sống
thiên nhiên, cơn người mà nhà văn đã đựng lên qua ngôn ngữ Tri giác được nhanh hay chậm
hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm là dấu hiệu của năng lực văn
- Năng lực tưởng tượng tái hiện hình tượng: Tưởng tượng là khả năng hình thành các hình ảnh, cảm giác, khái riệm trong tâm trí khi không nhận thức đối tượng đó thông qua thị
giác, thính giác hoặc các giác quan khác Tưởng tượng tái hiện là bước giúp người đọc nhìn ra
thế giới bên trong của tác phẩm năm đưới các kí hiệu ngôn ngữ Ở người đọc không phát triển
thì tưởng tượng tái hiện không vận hành và đo đó người đọc không nhận ra được thế giới tác
phẩm Ngược lại năng lực tưởng tượng tái hiện càng phát triển, người đọc càng dễ nhận ra
được đầy đủ, phong phú và tinh tế mọi cảnh vật, con người và tình huống trong tác phẩm
- Nang lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học: Liên tưởng là quan hệ giữa các từ mà
- khi một từ xuất hiện thì làm cho người ta nghĩ đến từ khác Từ gợi ý của nhà văn thông qua
những chỉ tiết, những hình ảnh, những con người, những tâm trạng, người đọc với vốn sống
trực tiếp hoặc gián tiếp của mình bắt gặp được ý, lời tâm tình của nhà văn Do vốn sống, kinh
nghiệm riêng khác nhau nên trường liên tưởng cũng rất khác nhau Khi một tín hiệu, một từ
ngữ, một hình ảnh, một chỉ tiết do nhà văn dựng lên thường gợi lên ở bạn đọc những liên tưởng
có khi rất bất ngờ với bản thân của nhà văn
- Năng lực cảm thụ, khái quát hóa các chỉ tiết nghệ thuật: Khái quát hóa là dùng những câu súc tích, đơn giãn để cung cấp cho người khác nội dung vấn đề từ một hay nhiều
khía cạnh khác nhau Càng đi sâu và càng đi rộng ta càng tạo ra khung cảnh sát thực của vấn
Trang 20
Chinh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
đề hơn Trong một tác phẩm văn học tính cắm tính cụ thể bao giờ cũng kết hợp hữu cơ với tính khái quát Mỗi một từ, một chỉ tiết, một hình ảnh, một nhân vật, một bức tranh, một sự kiện của tác phẩm Người học phải biết cắt nghĩa nó một cách khái quát trong hệ thống chỉnh thể của tác phẩm đưới ý đồ tư tưởng của nhà văn
- Năng lực nhận biết thế loại: nếu không ý thức được sự khác biệt giữa tự sự và trữ tình cũng như các loại thể khác nhau thì người doc sé dé lac hướng và việc lĩnh hội tác phẩm không đạt được kết quả mong muốn
- Năng lực cảm xúc thẩm mĩ: Đó là năng lực sáng tạo ra cái đẹp và thưởng thức cái đẹp, một trong những năng lực đặc thù của con người Khi đọc một tác phẩm văn học mà người doc cho du da tái hiện một phần thế giới nghệ thuật của tác phẩm nhưng trong lòng vẫn đửng dưng, chẳng buồn, chẳng vui, chẳng yếu ghét giận hờn chẳng phấn khích, lo lắng hay hồi hộp
gì trước cuộc sống con người, cuộc đời hay những vấn đề nhà văn đặt ra thì có thể nói là chưa
có hoạt động đọc thực sự
- Năng lực tự nhận thức: Đọc một cuốn sách văn học, người đọc hiểu ra nhiều chuyện đời có khi mình chưa rõ, đồng thời hiểu rõ cái lẽ đời sâu kín Hiểu rồi cảm được nỗi đau, niềm vui của con người của cuộc đời Hiểu và cảm thương đưa đến một sự “thanh lọc”, một sự tự nhận thức, một sự thức tỉnh bên trong mỗi con người,
- Năng lực đánh giá: tự nhìn nhận, phát hiện giá trị của tác phẩm ở tầm khái quát, vĩ mô trong nhiều quan hệ giữa tác phẩm với tác giả, với tác phẩm khác của các tác giả khác với đời sống xã hội phát sinh của tác phẩm, với đời sống xã hội ngày nay Năng lực đánh giá tác phẩm đòi hỏi học sinh phải có những hiểu biết ngoài tác phẩm, phải đặt tác phẩm trong nhiều quan
hệ so sánh, đối chiếu với thời đại, các sáng tác và tác phẩm để có thể đưa ra những nhận định khách quan có giá trị về vai trò vị trí của tác phẩm trong lịch sử sáng tác của nhà văn cũng như trong tiến trình lịch sử của văn học
Mục tiêu của việc tập trung phát triển những năng lực trên là xây đựng thế hệ học sinh
có năng khiếu văn chương, cụ thể là:
- Có lòng say mê văn học
- Tính nhạy cảm nhân ái và thẩm mĩ,
- Khả năng quan sát nhạy bén, tỉnh tế cuộc sống con người và cảnh vat
- Khả năng liên tưởng, tưởng, tượng nhạy bén và phong phú, nhất là tưởng tượng sáng tạo
- Thói quen và khả năng tư duy hình tượng và khái quát hình tượng
- Khả năng sáng tạo về ngôn ngữ
Thiết nghĩ các năng lực trên đã xuất phát trên cơ sở khoa học, trong đó chủ yếu là tâm 1í học tiếp nhận văn học, do đó phù hợp với bản chất của hình tượng văn chương cũng như phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí học sinh Mặc đù các tiêu chí hình thành năng lực chưa thực sự
cụ thể, các mức thang đánh giá còn mơ hồ mang cảm tính nhưng cũng có thể coi đó làm căn cứ
để định hướng cách đọc hiểu văn bản văn học trong sự khu biệt với văn bản thông tin Đặc biệt các năng lực này phù hợp với việc phát hiện, bồi dưỡng, phát triển học sinh có năng khiếu và tai nang van hoc trong nhà trường
ie &.
Trang 21
Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài giảng online
Trong cuốn sách này, chúng tôi thử nghiệm vận dụng những năng lực trên trong việc đọc hiểu văn bản văn học Những năng lực này đi đến sự thay đổi bên trong cầm xúc, thái độ và nhận thức từ đó đi đến những ứng xử nhân văn trong cuộc sống Quá trình tri giác - tái hiện
- liên tưởng - khái quát - nhận thức - đánh giá thường là những tiếp nhận mang tính cá nhân dién ra trong đầu của mỗi người Bởi vì quan niệm, kinh nghiệm, vốn sống và cách cảm nhận của mỗi người là khác nhau Về phương pháp yếu tố quan trọng nhất chính là khuyến khích học sinh có những suy nghĩ, cảm nhận khác biệt mang tính cá nhân Trên cơ sở đó phải cung cấp cho học sinh hệ thống lí thuyết tiếp nhận trong đó tiếp nhận thi pháp nhân vật, thể loại, tác giả trong việc chiếm lĩnh tác phẩm văn học cần được đề cao
Trang 23
Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài giảng online
1 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN
Đọc hiểu không đơn thuần chỉ là đọc một trích đoạn văn bắn, trả lời các câu hỏi có trước
Đọc hiểu phải có tính tự nguyện, chủ động với một thái độ hứng thú mới có thể rèn luyện cho
bạn những kĩ năng, tình cảm và thói quen hữu ích Đọc hiểu cũng cần phải nâng cấp lên thành
thói quen đọc, và cao hơn là văn hóa đọc
Việc giáo viên lựa chọn một trích đoạn trong một văn bản hoàn chỉnh, yêu cầu học sinh trả lời các câu hôi đặt ra từ trước khiến học sinh hoàn toàn thụ động Đây là biện pháp “cơ học”,
“cưỡng bức” để bộ não phải tư đuy và ghi nhớ Nhất là khi các câu hỏi theo một công thức, một
đạng lặp đi lặp lại giữa các văn bản tạo nên những lối mòn tư đuy chẳng những không có ích
cho kĩ năng đọc hiểu mà còn không liên kết được câu hỏi với câu trả lời, giữa văn bản và người
đọc văn bản Người học trở thành “người đọc” không đúng nghĩa, không có suy nghĩ độc lập
Người đọc gần như quên ngay thông tin được nhắc đến trong văn bản Chính đo quá trình quên
thanh chóng các nội dung quan trọng này, chúng ta thường không thể kết nối kiến thức, không
thể thành công trong các kì thi và không thể hoàn thành tốt công việc của chính bản thân mình
Bởi vì mục đích của hoạt động đọc hiểu theo phương pháp này chỉ dừng lại ở việc trả lời câu hỏi nên hoạt động đọc hiểu văn bản thông tin sẽ chấm đứt ngay sau khi trả lời xong câu
hồi Người đọc không có cơ hội để vận dụng tri thức đọc hiểu được vào thực tiễn
Phương pháp đọc hiểu này không thể khuyến khích học sinh niềm hứng thú với việc đọc, chưa hình thành cho học sinh văn hóa đọc Học sinh không có nhu cầu tìm tòi văn bản mới để
đọc, khi bắt gặp các văn bản mới đòi hỗi đến kĩ năng đọc hiểu học sinh hoàn toàn không có khả
năng đặt câu hỏi, tóm tắt thông tin hoặc tìm kiếm thông tin cần đến Chúng ta chỉ có thể dạy và
học đọc hiểu hiệu quả nếu chúng ta chú tâm một cách tích cực và hiểu rõ nội dung mà tài liệu
đang đọc và trình hày
Phương pháp SQ3R (Francis Robinson, 1970) là một kĩ thuật hữu hiệu nhằm giúp chúng
ta nắm hết toàn bộ nội đung thông tin của một tài liệu, một quyển sách, một văn bản hàm chứa
thông tin thông qua việc làm cho ta phải chú tâm đọc tài liệu một cách tích cực Phương pháp
này được nhiều trường đại học trên thế giới khuyến khích các sinh viên sử đụng để nâng cao
hiệu quả học tập, nghiên cứu Các chữ cái SQ3R là từ viết tắt của các kĩ thuật rà chúng ta sẽ
sử dụng liên tiếp để đạt đến mục đích cuối cùng là nắm toàn bộ nội dung của tài liệu: Survey —
Question - Read - Recite - Review (Khảo sát — đặt câu hỏi - đọc - thuật lại ~ xem lại)
Các bước tiến hành:
Bước 1 Survey (Khảo sát): Thu thập các thông tin cần thiết để tập trung và hình thành các mục đích khi đọc Đọc khảo sát giúp bạn xây dựng nền tảng kiến thức Khi không
chuẩn bị trước kiến thức để đọc một vấn đề nào đó, người đọc sẽ đọc rất chậm và cảm thấy
khó hiểu Khảo sát là bước chuẩn bị để bắt đầu đọc một vấn đề nào đó Khi đọc khảo sát,
người đọc sẽ đọc phải chú ý đến những điểm như: đầu đề của mỗi chương, mỗi phần, đọc
câu đầu hoặc câu cuối của mỗi đoạn văn để nắm ý chính, làm quen với tên nhân vật, đọc
mục tiêu của văn bản, để nắm khái quát nội dung của văn bản hay một cuốn sách Đọc khảo
sát giúp người đọc có óc tổ chức hệ thống vấn đề tốt hơn Khi xem xét toàn bộ văn bản trước
khi đọc, người đọc sẽ có thể nhớ những gì mình đọc một cách chặt chẽ hơn Đọc khảo sát là
một bước khởi động tư duy trước khi bắt đầu tập trung vào đọc Như vậy, quá trình đọc có
Trang 24
"thé dién ra lâu hơn và bền bỉ hơn Đọc khảo sát để khắc phục sức ì của trí óc Người đọc sẽ gặp khó khăn nếu không biết mình đang đọc gì và hệ thống các phần ra sao, liên kết giữa các đoạn văn như thế nào
Trước khi đọc bất kì tài liệu nào, hãy dành một phút ban đầu để xem xét tổng quát tài liệu bằng cách xem qua mục lục, các tiêu đề của văn bản, các câu chủ đề, phần mở đầu, phần kết luận Chú ý những bảng biểu, đồ thị, hình vẽ trong văn bản nếu có Hãy cổ gắng đưa ra ý kiến liệu rằng tài liệu hay cuốn sách này có giúp ích gì cho bạn không? Nếu cảm thấy rằng nó không có ích lợi gì cho bạn, hãy lựa chọn một cuốn sách khác
Việc xem xét tổng quát tài liệu sẽ giúp chúng ta:
- Có một khái niệm ban đầu và sự quen thuộc với nội dung chuẩn bị đọc
- Cho phép ta ước lượng thời gian cần thiết để đọc tài liệu
- Khi đọc toàn bộ nội dung tài liệu, người đọc sẽ thông hiểu tài liệu gấp đôi
Bước 2 Question (Đặt câu hỏi): Việc đặt câu hỏi sau khi đọc khảo sát làm cho não của ban bat dau hoạt động và tập trung bằng cách dựng lên một loạt câu hỏi làm “khung sườn” cho nội dung Người đọc có thể sử dụng kĩ thuật 5W1H hoặc QtA để tạo ra các câu hôi trước khi sử dụng ngay các câu hỏi do giáo viên đưa ra Như thế quá trình đọc hiểu mới thực sự do người đọc thực hiện
Đặt ra các câu hỏi trước khi bắt đầu đọc thật sự, sẽ giúp người đọc có chủ đích khi tiến hành đọc tài liệu Lí đo duy nhất để đặt câu hỏi trước khi đọc là buộc người đọc tập trung và chú ý đến các từ quan trọng, cần thiết hơn Người đọc có thể đặt những câu hỏi khác liên quan đến những gì mình đã đọc, ví dụ:
Đoạn văn này muốn nói điều gì?
Có những chỉ tiết nào quan trọng hỗ trợ cho ý chính?
Ví dụ này có giúp cho ý chính của đoạn văn rõ hơn không?
Tác giả đưa ra những dẫn chứng nào?
Đoạn văn này có chủ đề giống với đoạn văn nào từng đọc trước đó không?
Bước 3 Read (Đọc):
Sau khí đọc khảo sát và đặt câu hôi, chúng ta bắt đầu đi vào đọc từng đoạn trong chương Khi đọc, chúng ta chỉ cố gắng trả lời một câu hồi trong đầu là đoạn văn này muốn nói gì Nếu không thể trả lời được, bạn phải đọc lại cho đến khi có thể trả lời được Bạn phải đọc và cố gắng hiểu tất cả các đoạn văn theo trình tự thì bạn mới có thể hiểu được nội dung của cả chương Cố gắng đọc ý tưởng và khái niệm mà tác giả muốn trình bày chứ không phải đọc từ Kết thúc một đoạn, dừng lại để trả lời câu hỏi về ý chính của đoạn trước khí sang phần khác
Trong quá trình đọc, hãy cố gắng tập trung tìm kiếm các chỉ tiết nhãm giúp ta trả lời những câu hỏi đã đặt ra Khi đọc, chúng ta có thể ghỉ chú đơn giản hoặc gạch ý để hệ thống các chỉ tiết Bước 4 Recite (Thuật lại): Ở bước này chúng ta giúp não bộ tập trung ghi nhớ về nội dung vita xem bang cách thuật lại, diễn giải nội dung đã đọc bang chính ngôn ngữ của bắn thân
8
Trang 25
Nếu cần thiết, ngay sau khi đọc, người đọc hãy viết ra các diễn giải hay các câu trả lời hằng chính suy nghĩ, điễn đạt của mình Đây là một điều rất quan trọng, qua cách diễn đạt của
chính mình sẽ là cơ sở để minh chứng bạn hiểu vấn đề được văn bản đề cập đến như thế nào?
Nếu có thể, hãy đọc hay diễn tả lại nội dung vừa xem bằng cách nói lớn tiếng, trình bày trong nhóm hoặc trước lớp Hãy tưởng tượng, bạn đang phải trình bày lại nội dung của cuốn
sách, bài báo, hay đơn giản là nội đụng đoạn văn bản vừa xern cho 1000 khán giả trước mặt,
trong một khán phòng rộng lớn, những khán giả này đang chăm chú lắng nghe từng lời diễn tả
của bạn Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng ta có xu hướng quên đến 80% nội dung mà mình
đã đọc sau 2 tuần lễ Nhưng nếu chúng ta tiến hành bước “thuật lại”, thì chúng ta chỉ quên có
20% với cùng thời gian 2 tuần
Bước 5 Review (Xem lại):
Bước xem lại này sẽ được tiến hành sau khi bạn đã đọc xong toàn bộ văn bản Bước này kiểm tra chắc chắn xem mình có hiểu và nhớ những gì mình đọc Trả lời những câu hỏi được
đặt ra ban đầu và liên kết các câu hồi này thành một hệ thống để đễ nhớ và dễ hiểu Quá trình
xem lại này không chỉ điễn ra ngay sau khi đọc mà bạn nên thường xuyên xem lại Điều này
giúp cho quá trình ôn tập thuận lợi hơn Những điều đã đọc sẽ theo ta vào tiềm thức và giúp
chúng ta ghỉ nhớ lâu hơn
Thời gian tốt nhất để xem lại tài liệu đã đọc là một ngày trước khi đọc Vào ngày hôm sau, tuần sau, hãy thử quay lại đọc toàn bộ quyển sách chứa văn bản và xem thử bạn nhớ được và
có thể thuật lại bằng chính từ ngữ của bạn bao nhiêu về nội dung Ở bước này, chúng ta chỉ
nhìn lướt lại quyển sách đã đọc, các câu trả lời đã hoàn thành, các câu hỏi đã đặt ra và thử xem
bạn có thể trả lời chúng một cách trôi chảy hay không Nếu không, hãy làm lại các bước trên
Bước cuối cùng này giúp cho nội dung được làm nên sự thay đổi về nhận thức và thái độ trong
tri óc của chúng ta, từ đó mới có cơ hội để thay đổi hành động trong đời sống
Kết luận: Với phương pháp SQ3R, người đọc sẽ rèn luyện cho mình kĩ năng học và đọc mét cach tich cực, tránh bị nhồi nhét kiến thức, nắm vững nội dung và kiến thức trong các văn
bản thông tín
Các kĩ năng đọc và học tích cực càng hiệu quả, kĩ năng sử dụng trang thiết bị càng thuần thục thì người đọc cần có thời gian và thực hành thường xuyên trên nhiều loại văn bản và
niưiều chủ đề khác nhau
2 KĨ THUẬT ĐẶT CÂU HỎI ĐỌC HIỂU
Người đọc cần tự tạo lập câu hồi của riêng mình một cách độc lập, phân loại các câu hỏi theo các mục đích khác nhau, thay vì chỉ trả lời câu hỏi của giáo viên đưa ra, học sinh có thể
cùng thảo luận trong nhóm, thảo luận cùng giáo viên để đưa ra tiếng nói chung trong quá trình
đọc hiểu văn bản
Những tiêu chí mỉnh chứng cho một người đọc có kĩ năng thành thạo:
« Nhận thức được lí đo tại sao họ đang đọc văn bản
e Xem trước và đưa ra đự đoán
« Đọc một cách có chọn lọc
« Kết nối và liên kết với văn bản dựa trên những gì họ đã biết
« Tỉnh chỉnh các đự đoán và kì vọng
Trang 26
Chinh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
« Sử dụng ngữ cảnh để xác định ngữ nghĩa của những từ không quen thuộc
e Đọc lại và ghí chép lại
« Đánh giá chất lượng của văn bản
« Xem lại các điểm quan trọng trong văn bản
s Xem xét cách thông tin có thể được sử dụng trong tương lai
Đọc thành công không chỉ đơn giản là quá trình cơ học của «giải mã» văn bản Thay vào
đó, nó là một quá trình điều tra tích cực Các độc giả có năng lực tiếp cận văn bản với các câu hỏi và phát triển các câu hỏi mới khi họ đọc, ví dụ:
Nội dung cơ bản của văn bản này là gì?
Tác giả muốn đưa ra quan điểm gì?
Tác giả đã truyền đạt được điều đó chưa? Nếu vậy thì sao?
Ngay cả sau khi đọc, độc giả tham gia vẫn đặt câu hỏi:
Ý nghĩa của những gì tôi đã đọc?
Tại sao tác giả kết thúc đoạn văn (hoặc chương, hoặc cuốn sách) theo cách này?
Mục đích của tác giả trong việc viết bài này là gì?
Bằng cách này, đọc trở thành một sự hợp tác giữa người đọc và tác giả Tác phẩm của tác giả là đặt câu hỏi và trả lời chúng - hoặc cung cấp một số câu trả lời có thể Người đọc hợp tác bằng cách đặt các câu hỏi đúng, chú ý cẩn thận đến các câu trả lời của tác giả, và đặt câu hỏi của riêng mình
Để giúp độc giả học cách đặt câu hỏi trước, trong và sau khi đọc, hãy nghĩ và nói to những suy nghĩ của bạn Viết mỗi câu hổi bên cạnh hoặc sau bài viết và đán nó vào văn bản Bạn có thể ngạc nhiên trước bao nhiêu câu hỏi mà bạn thường suy nghĩ, hỏi và trả lời khi bạn đọc Bạn
có thể băn khoăn khi bạn đọc hoặc sau khi bạn đọc ở tiêu đề của tác giả, bằng từ vựng, hoặc về cách bạn sẽ sử đụng thông tỉn này trong tương lai
Trước khi đọc văn bản, bạn có thể đặt những câu hỏi như:
Tiêu đề bài viết cho tôi biết gì về câu chuyện?
Đây là câu chuyện thực hay tưởng tượng?
Tại sao tôi lại đọc nó?
Tôi đã biết gì về ?
Tôi có thể dự đoán được những gì?
Trong quá trình đọc, hãy chọn trước một vài điểm đừng trong văn bản để hỏi và trả lời câu hỏi đọc Đây cũng là thời gian tuyệt vời để mô hình “chiến lược sửa chữa” sửa chữa những hiểu lầm trong dự đoán ban đầu trước khi đọc của bạn Bắt đầu đọc văn bản, và tự hỏi mình câu hồi khi đọc như:
Tôi hiểu gì từ những dòng tôi vừa đọc?
Ý tưởng chính là gì?
Hình ảnh tác giả hiện lên như thế nào trong đầu?
Tôi có cần phải đọc lại để tôi hiểu không?
Trang 27Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài giảng online
Sau đó, hãy hồi những câu hồi khi bạn hoàn thành việc đọc văn ban:
Những dự đoán của tôi là đúng? Những thông tin nào từ bản văn nói với tôi rằng tôi đúng?
Những ý tưởng chính là gì?
Tôi có thể kết nối với văn bẵn như thế nào? Tôi cảm thấy thế nào về nó?
Tôi có đồng ý với quan điểm của tác giả không?
Khuyến khích học sinh tự hỏi những câu hồi của mình sau khi bạn đã mô phống chiến lược này, và viết tất cả các câu hỏi của họ trên giấy biểu đồ Học sinh có thể được nhóm lại
để trả lời các câu hỏi của một người khác và tạo ra những câu hỏi mới dựa trên các cuộc thảo
luận Hãy chắc chắn rằng trọng tâm không phải là tìm ra câu trả lời đúng, bởi vì nhiều câu hỏi
có thể chủ quan, nhưng với sự tò mò, tự hỏi, và đặt câu hỏi chu đáo, học sinh có thể đọc hiểu
theo cach riéng cha minh
Câu hỏi và câu trả lời cần có mối liên hệ mật thiết với nhau mà mục đích chính là làm rõ cách học sinh tiếp cận các nhiệm vụ đọc hiểu văn bản và trả lời các câu hỏi Cụ thể các câu hổi
và câu trả lời trước tiên cần phác thảo được các thông tin có thể được tìm thấy “trong văn bản”
hoặc “trong đầu của tôi” Với một số câu hỏi, tác giả đưa ra câu trả lời trong văn bản Với người
khác, câu trả lời phải được phát triển dựa trên ý tưởng và kinh nghiệm của người đọc Sau đó
có thể chia nhỏ các câu hồi - câu trả lời thành bốn loại: Ngay tại văn bản (right there); Nghĩ và
tìm kiếm (think and search); Tac giả và tôi (author and D; Suy nghĩ của riêng tôi (on ray own)
Học sinh thường tiếp cận văn bản theo nghĩa đen hoặc sẽ suy luận trong đầu khi trả lời các câu hỏi về những gì đã đọc Hiểu các mối quan hệ giữa câu hỏi và câu trả lời giúp học sinh
suy nghĩ về các loại câu hồi ở từng cấp độ khác nhau, cũng như là cách để tìm các câu trả lời
trong văn bản Điều đó khuyến khích học sinh trở thành độc giả hiệu quả hơn
Đối với học sinh có thể giúp các em đặt câu hỏi hiệu quả khi các em đọc và trả lời văn bản
Đối với giáo viên sử dụng đúng các phương pháp đặt câu hỏi để hướng dẫn và giám sát việc học
tập của học sinh sẽ giúp các em thúc đẩy tư duy theo những cấp độ cao hơn trong học sinh của
mình Phương pháp đặt câu hỏi này sẽ khuyến khích giáo viên nhận thức được và hi vọng cải
thiện các cấp độ tư duy mà họ đang đổi hỏi học sinh mình đạt được
Dưới đây là ví dụ về những câu hỏi ở mỗi cấp độ:
Cấp độ 1: Trong văn bản
e Ngay tại văn bản Những loại câu hỏi này là câu hỏi theo nghĩa đen Bởi vì câu trả lời nằm trong một câu của văn bản; câu hỏi và câu trả lời thường có cùng một từ ngữ Câu trả lời thường là đáp án
ngắn, thông thường chỉ có một câu trả lời đúng cho câu hồi đạng này Về mặt hình thức, có
những cụm từ thường được sử dụng cho kiểu câu hỏi này:
Văn bản hình thúc gì, thuộc loại văn bản nào?
Trong đoạn văn bẵn, ai là ? ở đâu 7
Sự việc này diễn ra ở đâu? Trong bối cảnh nào?
Những gì là ?
Bao nhiêu ?
Trang 28
Chinh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
s Suy nghĩ và tìm kiếm
Câu trả lời có thể được tìm thấy trong một số phần của văn bản Tuy nhiên không đừng
ở việc trích lại thông tin, chỉ tiết có sẵn, câu hỏi dạng này đòi hôi độc giả phải tư duy về thông tin ấy xem chúng có liên quan như thế nào giữa các phần của văn bản từ đó mà cắt nghia, lí giải, đưa ra câu trả lời Câu hỏi và trả lời có những đoạn văn khác nhau Câu trả lời thường là câu trả lời ngắn
Một số ví dụ về cụm từ được sử dụng cho các câu hỏi Suy nghĩ và tìm kiếm:
Lí do gì ?
Nhu thé ndo ?
Tai sao đã ?
Điều gì đã gây ra ?
Cấp độ 2: Trong đầu tôi
Học sinh phải sử dụng kiến thức nền tảng có sẵn để trả lời những loại câu hôi này
« Tác giả và tôi
Câu trả lời cho câu hỏi bắt nguồn từ cả hai manh mối trong văn bản và kiến thức sẵn có của học sinh Học sinh phải tổng hợp văn bản để hiểu đầy đủ câu hỏi Đây là kiểu câu hỏi sáng tạo tạo ra kết nối trong hoạt động đọc, đào sâu những tầng ngữ nghĩa phía sau câu chữ Một số ví dụ về cụm từ được sử dụng cho câu hỏi Tác giả và tôi:
Tác giả ngụ ý gì ?
Quan điểm của tác giả ?
Điều tác giả nói có gì giống và khác biệt với những văn bản khác?
Bạn đã đồng ý với .?
Bạn nghĩ gì về ?
« Suy nghĩ của riêng tôi
Câu trả lời hoàn toàn dựa trên kiến thức của học sinh Những câu hỏi này đòi hồi suy luận và trình bày quan điểm cá nhân Các câu trả lời không đòi hỏi thông tín từ văn bản nhưng yêu cầu học sinh phải đưa ra một số đánh giá về/hoặc liên quan đến chủ đề của văn hân Đời hỏi đây phải là những câu hỏi mở vì tri thức, trải nghiệm và quan điểm, cách nhìn nhận của mỗi độc giả trước văn bản có thể có những khác biệt
Một số ví dụ về cụm từ được sử dụng cho câu hỏi Suy nghĩ của riêng tôi:
Bạn có biết ?
Bạn có bao giờ ?
Theo ý kiến của bạn thi ?
Điều gì khiến bạn tâm đắc?
Dựa vào trải nghiệm của chính bạn
24 &
Trang 29
Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bai gidng online
Học sinh cần nhận thức được thời điểm tốt nhất để đặt câu hỏi trong suốt quá trình đọc
Giáo viên kiểm soát các câu hỏi của học sinh, đảm bảo chắc chắn những quy chuẩn trong việc
đặt câu hỏi:
« Có thể được sử dụng để hiểu sâu hơn về văn bản
« Có câu trả lời có thể khác với mọi người
« Có câu trả lời có thể được tìm thấy trong văn bản ® Làm rõ ý định của tác giả
« Có thể giúp làm rõ ý nghĩa
e Giúp học sinh suy luận
« Giúp học sinh đưa ra dự đoán
« Giúp học sinh kết nối với các văn bân khác hoặc kiến thức sẵn có Khi học sinh bắt đầu đọc văn bản một cách độc lập, giáo viên nên tiếp tục mô hình quy trình đặt câu hỏi và khuyến khích học sinh sử đụng nó thường xuyên Sau khi đọc có thể
hướng dẫn khi học sinh làm việc với các văn bản khó hơn Khi học sinh cảm thấy thoải mái với
chiến lược hỏi, học sinh có thể sử dụng hướng dẫn một cách độc lập trong khi đọc, với mục đích
tạo câu hỏi trước, trong và sau khi đọc để tăng cường sự hiểu biết
3 LUYỆN ĐỀ
Đề1:
CÂN BẰNG LÀ MộT KHÁI NIỆM NHẮM NHÍ
Đối với tôi, điều tuyệt vời về một sự nghiệp theo đuổi mối quan hệ là nó không phải đơn thuần là công việc mà thôi Nó là một phong cách sống Cách đây vài năm, tôi bắt đầu nhận
thấy rằng nối kết là một cách thật tuyệt để nhìn thế giới Khi tôi suy nghĩ và hành động theo
cách này, phân chia cuộc sống thành hai cực, chuyên môn và riêng tư không còn cần thiết nữa
Tôi nhận thấy rằng điều giúp bạn thành công ở cả hai cực chính là thế giới con người và cách
nối kết với họ Cho dù những người này là gia đình, đồng nghiệp, hay bạn bè, sự nối kết thật
sự cũng đòi hỏi bạn phải mang lại những giá trị tương đương cho mỗi nối kết Vì vậy, tôi thấy
không cần thiết phải phân biệt giữa hạnh phúc trong công việc và hạnh phúc trong đời sống
riêng - đây là ca hai phần không thể thiếu trong tôi Cuộc đời tôi
Khi tôi hiểu rõ rằng chìa khóa quan trọng của cuộc đời là mối quan hệ, tôi nhận thấy minh
không cần phải ngăn cách công việc ra khỏi gia đình hay bạn bè Tôi có thể ăn mừng sinh nhật
tại một hội thảo công việc, chung với những người bạn tuyệt vời, như lần gần đây, hay tôi có thể
ở nhà tại Los Angeles hay New York với những người bạn thân
Khái niệm sai lầm về cân bằng như một phương trình, và bạn có thể lấy bớt vài giờ bên
này bỏ sang bên kia không còn hợp thời nữa Vì vậy không còn cần thiết phải căng thẳng cố
gang dat trạng thái cân bằng mà chúng ta vẫn thường nghe mọi người kêu gọi Cân bằng không
phải là một món hàng để bán mua Cân bằng cũng không cần phải “được thực hiện”, Cân bằng
Trang 30
Chinh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
là cách suy nghĩ, cũng đặc biệt và độc đáo như bộ gene của mỗi chúng ta vậy Khi bạn tìm thấy niềm vui, nghĩa là bạn đã thấy cân bằng Lịch làm việc tất bật của tôi rất phù hợp với tôi, và có thể chỉ phù hợp với mỗi tôi thôi Sự đan xen giữa công việc và cuộc sống không phải phù hợp với tất cả mọi người Điều quan trọng là phải nhìn nhận việc kết nối với người khác không phải là một công cụ điều khiển để đạt mục tiêu mà là một lối sống Khi bạn mất cân bằng, bạn sẽ nhận thấy ngay vì mình bị hối hà, giận đữ, thấy thiếu ý nghĩa Khi bạn cân bằng, bạn vui tươi, hăng hái, và đầy hàm ơn
(Đừng bao giờ đi ăn mét minh, Keith Ferrazzi, Tahl Raz, NXB Tré, 2008)
HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU
e Trước khi đọc văn bản:
Hãy đọc lướt qua nhan đề, nguồn trích dẫn, câu chủ đề, phân chia bố cục các đoạn, sau
đó tự trả lời các câu hỏi dưới đây:
Tiêu đề của văn bản cho biết tác giả đang bàn về vấn đề gì?
Thái độ của tác giả đối với vấn đề đó?
Tôi đã biết gì về vấn đề đó?
Tôi có thể dự đoán được những gì?
« Trong khi đọc văn bản:
Đọc văn bản trên và trả lời các câu hỏi dưới đây:
Câu 1: Thao tác lập luận được sử dụng trong văn bản?
Câu 2: Khái niệm cân bằng được tác giả hiểu như thế nào?
Câu 3: Tác giả đã làm thế nào để cân bằng hai cực chuyên môn và riêng tư? Giải pháp đó
có đúng với tất cả mọi người?
Câu 4: Anh/chị muốn mình trở thành một con người của chuyên môn hay riêng tự? Là một học sinh anh/chị làm thế nào để cân bằng việc học và các mối quan hệ
« Sau khi đọc văn bản:
Suy ngẫm của anh/chị về thông điệp mà tác giả nhắc đến trong văn bản đọc hiểu: Khi bạn mất cân bằng, bạn sẽ nhận thấy ngay vì mình bị hối hã, giận dữ, thấy thiếu ý nghĩa Khi bạn cân bằng, bạn vui tươi, hăng hái, và đầy hàm ơn
BÀI LÀM
e Trước khi đọc văn bản:
Tiêu đề của văn bản cho biết tác giả đang bàn về sự cân bằng trong cuộc sống Đó có thể
là sự cân bằng giữa công việc chuyên môn bận rộn với các mối quan hệ gia đình và cá nhân
Đó là điều mà những con người hiện đại luôn bận rộn với guồng quay công việc rất khó có thể
Thái độ của tác giả phan đối khái niệm cân bằng cuộc sống, coi đây là một khái niệm sai lầm
: &.
Trang 31
Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài giảng online
Tôi đã biết: cân bằng vốn là khái niệm khoa học quen thuộc như cân bằng một phân số, cân bằng một phương trình hóa học nghĩa là làm hai vế đối lập đều nhau bằng việc bớt ở bên
vế này thêm vào vế bên kia Vậy vì sao cân bằng là một khái niệm nhảm nhí?
Tác giả sẽ đưa ra những lí lẽ để chứng minh cân bằng là một khái niệm nhảm nhí Tôi sẽ tìm được giải pháp để cân bằng mọi thứ trong cuộc sống của mình Chưa chắc tôi đã đồng ý với
điều đó vì mỗi người có một cuộc sống riêng chỉ chính mình mới thấu hiểu
e Trong khi đọc văn ban:
Đọc văn bản trên và trả lời các câu hỏi dưới đây:
Câu 1: Thao tác lập luận được sử đụng trong văn bản là thao tác bác ba
Câu 2: Theo tác giả: Cân bằng là cách suy nghĩ, bạn tìm thấy niềm vui, nghĩa là bạn đã thấy cân bằng
Câu 3: Để có một cuộc sống cân bằng cần phải đan xen giữa công việc và cuộc sống;
không cần thiết phải phân tách riêng giữa niềm vui công việc và niềm vui cuộc sống riêng tư
Giải pháp đó chỉ là quan điểm riêng từ kinh nghiệm cuộc sống của tác giả Thực tế có những người lấy niềm vui công việc làm niềm vui cuộc sống, có những người hạnh phúc khi
chăm lo cho tình yên gia đình, có những người luôn tách bạch việc công và việc tư Hạnh phúc
không có khuốn mẫu mà do cảm nhận của mỗi người
Câu 4:
Học sinh nên đưa ra quan điểm cá nhân của chính mình
- Nhiều bạn coi việc học là quan trọng nhất, dành toàn bộ thời gian của mình để học vì việc học sẽ quyết định tương lai sau này Đặt mục tiêu sau này có thể trở thành những nhà lãnh
đạo, doanh nhân Thành công trong sự nghiệp có thể giúp bản thân có được hạnh phúc trong
- Bạn có thể là người giàu tình cẩm, trân quý yêu thương gia đình Nhiều người sẵn sàng chấp nhận hi sinh để làm trọn bổn phận gia đình để những người thân có cơ hội thăng tiến
trong sự nghiệp xã hội
- Cuộc sống khó có sự cân bằng, không thể nắm bắt trước được tương lai Có những giai đoạn trong cuộc đời bạn dành thời gian cho công việc, có những giai đoạn gia đình là số một
s Sau khi đọc văn bản:
Suy ngắm của anh/chị về thông điệp mà tác giả nhắc đến trong văn bản đọc hiểu:
Khí bạn mất cân bằng, bạn sẽ nhận thấy ngay vi minh bị hối hd, gidn dé, thấy thiếu ý nghĩa
Khi bạn cân bằng, bạn vùi tươi, hăng hái, và đầy hàm ơn :
Trang 32e Phân tích, chứng minh
Mỗi người đều có 24 giờ để sống trọn vẹn Bất cứ ai trong chúng ta cũng đều muốn có thành công tột đỉnh mà lại vẫn được sống thẳnh thơi, không chút căng thẳng Nếu cuộc sống không cân bằng nghĩa là cuộc sống có nhiều khoảng trống cần lấp đầy Có thể công việc khiến bạn bận rộn không còn thời gian nghỉ ngơi, thư giãn hay dành cho gia đình Khi đó sức khỏe có thể bị tổn hại, tâm lí hay giận đữ vì công việc không hoàn thiện Bạn đánh mất những phút giây hạnh phúc bên người thân và chẳng bao giờ được hưởng thụ cuộc sống thực sự
Cũng có người rơi vào trạng thái không thỏa mãn với sự thành công, dù là nhỏ nhặt nhất Khi đó người ấy sẽ luôn dẳn vặt, hối hận vì không được theo đuổi đến cùng đam mê
e Bình luận
Chắc chắn sẽ có một buổi sáng đẹp trời, bạn đứng ở cửa sổ phòng làm việc, nhìn qua khung cửa và bỗng nhận ra rằng mình đã bỏ 1ỡ quá nhiều cơ hội để nhận được những món quà vô giá mà cuộc sống trao tặng Đó là về đẹp huy hoàng và rực rỡ của ánh bình minh, hay
những nũ CH xẻ am sẽ tự hồi: “thân g hiết hao lân sa niềm
Tthững nụ cười của con trẻ, Khi đó, bạn sẽ tự hỏi: Không hiết bao lâu hay mei
sống của ta là gì nhỉ?” Và khi cuộc sống trong bạn diễn ra êm ả, tốt dep, bạn sẽ có tỉnh thần tập trung và thánh thơi suy nghĩ về những dự án cuộc đời mà bạn biết mình có khả năng thực hiện tốt
s Bài học & Hên hệ bản thân
Hãy học cách hân hoan, vui mừng với những thành quả đạt được và tạo ra sự cân bằng giữa công việc, gia đình, bạn bè và những thú vui đời thường của bản thân Nếu như bạn không cân bằng được những giá trị cốt lõi của đời sống, bạn sẽ không bao giờ cảm thấy mình hạnh phúc và thực sự sống Gandhi đã từng nói: “Con người đừng để rơi vào tình trạng: không thể làm tốt một lĩnh vực trong cuộc sống, nhưng lại mất quá nhiều thời gian để làm sai trong một Tĩnh vực khác Cuộc c sống) là một tổng thể không thé chia cat t được”
Z3 n2:
Đừng nói cho bố biết, mẹ nhé!
Trong thời gian chiến tranh tại Việt Nam, có một câu chuyện rất cảm động về một người lính bị bom đạn hủy hoại một cánh tay và cả đôi chân
Người lính trẻ nhập ngũ khi người vợ mới vừa mang thai đứa con đầu lòng Anh nhận lệnh chiến đấu ở miễn Nam Việt Nam Trong một trận còn quét, anh bị trúng bom nên mất toàn bộ đôi chân và một cánh tay Sau đó anh lại bị bắt làm tù binh trong 5 năm Suốt thời gian khủng khiếp
đó, vợ anh đã sinh cho anh một cậu con trai và tự mình nuôi con khôn lớn chờ ngày anh trở về Cuối cùng các tù bịnh cũng được trả tự do và được đưa về trên hai chiếc máy bay Một chiếc
Trang 33
Truy cập hocvanvanhoc.vn để khám phá thế giới bài giảng orline
hầu như các phương tiện truyền thông đều phỏng vấn những người lính trở về trên chiếc máy bay
đầu tiên Còn những người lính khác, được các nhân viên y tế lặng lẽ đưa xuống từ phúa của sau
của chiếc máy bay thứ hai
Cậu bé đứng đợi bố trong nỗi hồi hộp và mong chờ vì đây là lần đầu tiên cậu được gặp mặt
hố Khi trông thấy bố được đưa đến và không có chân Cậu bé liền chạy đến bên mẹ và hỏi: “Mẹ
ơi, bố con không có chân phải không?” Người mẹ trả lời con trong nước mắt dù đã kiềm chế
nỗi đau: “Đúng vậy, con yêu bố không có chân”
Khi người bố được đẩy đến gần hơn, cậu bé lại thấy bố mất một cánh tay Cậu lại chạy ngay đến mẹ hỗi tiếp: “Mẹ ơi, có phải bố cũng chỉ có riột cánh tay phải không?” Người mẹ chử biết gật
đầu để trả lời con trong nỗi lòng đau xé
Sau một lúc lặng yên, cậu bé quay sát tai mẹ thì thầm: “Mẹ ơi, chúng ta đừng nói cho bố biết
« Trước khi đọc văn bản:
Hãy đọc lướt qua nhan đề, nguồn trích dẫn, tìm kiếm các ý chính sau đó tự trả lời các câu
hỏi dưới đây:
Tiêu đề bài viết cho tôi biết gì về câu chuyện?
Đây là câu chuyện thực hay tưởng tượng?
Tại sao tôi lại đọc nó?
Tôi có thể dự đoán được những gì?
s Trong khi đọc văn bản:
Đọc văn bản trên và trả lời câu hỏi dưới đây:
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản?
Câu 2: Dụng ý của tác giả khi kể lại chỉ tiết các tù bình cũng được trả tự áo và được đưa về trên hai chiếc máy bay?
Câu 3: Cảm xúc và thái độ của người mẹ và con trai chứng kiến người cha không lành lặn của mình trở về sau chiến tranh?
Câu 4: Ani/chị hãy đưa ra những dự đoán cảm xúc của người cha khi đoàn tụ cùng vợ và cơn trai mình
« Sau khi đọc văn bản:
Suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được nhắc đến trong đoạn văn bản:
Tất cả chúng ta đều bị khuyết tật, nhưng không phải khuyết tật nào cũng có thể nhìn thấy được bằng mắt thường
Trang 34c— @ Chinh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
“ÓC văn, vàn ÓC
BÀI LÀM
e Trước khi đọc văn bản:
Tiêu đề của văn bản cho biết câu chuyện sẽ kể về một bí mật không muốn nói ra vì tế nhị, câu chuyện được nhìn bằng điểm nhìn của cậu con trai có sự trong sáng, ngây thơ và đầy yêu thương
Đây là một câu chuyện có thực nhưng có thể đã được viết lại nhằm truyền tải thông điệp của tác giả: không gục ngã
Tôi đọc nó vì có thể câu chuyện sẽ truyền đến cho tôi một thông điệp sống, tôi tò mo bi mật người con không muốn nói với người cha là gì?
Bí mật ở đây có thể là một điều tế nhị hoặc là một sức mạnh, niềm tin trong cuộc sống,
« Trong khi đọc văn bản:
Câu 1: Phương thức biểu đạt của văn bản là phương thức tự sự
Câu 2: Các tù binh được trả tự do và được đưa về trên hai chiếc máy bay khác nhau có thể ban đầu để tránh sự bất tiện cho những thương bình nhưng vô tình tạo ra sự phân biệt giữa người lính lành lặn và người lính bị thương Điều đó khiến những người lính bị thương về thể xác thêm tổn thương về tỉnh thần
Dung ý của tác muốn nói, những khuyết tật của người lính có thể nhìn và phân biệt bằng mắt, nhưng sự tổn thương về tỉnh thần mà người lính phải chịu đựng thì không ai có thể nhìn thấy được
Câu 3: Trước sự trở về không lành lặn của người cha, người mẹ cảm thấy rơi nước mắt đau xé lòng
Người con trai nhận ra sự khác biệt của cha nhưng không muốn cha nhận ra điều đó Cậu
bé không sợ hãi, không phân biệt hay tránh xa bởi cậu nhìn người cha bằng tình yêu thương Câu 4: Học sinh hoàn toàn có thể đưa ra các đự đoán khác nhau như một cách viết lại câu chuyện theo những điểm nhìn khác nhau:
- Người cha đau đớn khi trở về từ chiến tranh với một cơ thể không lành lặn
- Người cha có thể mặc cảm, tự tỉ không dám gần con vì khuyết tật của mình
- Người cha tưởng chừng có thể gục ngã Nhưng chính tình yêu thương, sự trong sáng của người con là chỗ dựa vực dậy tỉnh thần người cha, giúp gắn kết mọi người trong gia đình
« Sau khi doc van ban:
Suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được nhắc đến trong đoạn văn bản:
Tất cả chúng ta đều bị khuyết tật, nhưng không phải khuyết tật nào cũng có thể nhìn thấy được bằng mắt thường
Gợi ý:
« Giải thích
Khuyết tật là những khiếm khuyết về thể xác và tỉnh thần nó làm cần trở hoặc suy giảm các hoạt động trong cuộc sống Sự khuyết tật về cơ thể do tự nhiên hay do tai nạn gây nên có thể nhìn thấy bằng mắt thường Nhưng điều đáng sợ hơn là sự khuyết tật về tỉnh thần đó có thể là
“30.8 &
Trang 35
đi sự đúng dan trong suy nghĩ
«e Phần tích, chứng ninh Tất cả chúng ta không ai là toàn vẹn cả, cuộc sống chính là hành trình đi tìm những khiếm khuyết của hẳn thân và tự hoán thiện nó Đó là những vùng mù mà chính bản thân
mình không hận ra Cho dù bạn là người rất tài giỏi, thông mình, may mẫn hay là người theo
đuổi trường phái hoàn hảo thì chắc chắn bạn cũng sẽ có ít nhất một điểm yếu Ban đầu có thế
là một điểm yếu, nếu không khắc phục nó sẽ trở thành khuyết tật khó lành,
Những khuyết tật ấy sẽ khiến ban gặp nhiều khó khan trong cuộc sống từ giao tiếp, hợp
tác cắn trở hạn trên con đường thành công Hơn thế khuyết tật của bạn có thể làm nh hướng
đến người khác, biến bạn trở thành một người xấu trong mắt mọi người,
« Bình luận
Khuyét tat về thé xác không đáng sợ, nó để nhận ra và có thể khắc phục Những cái xấu
trong lòng người muới nguy hiểm bởi nó có thể đội tốt cái đẹp, nhân danh cái thiện lên tiếng Sự
khuyết tật trong tầm hồn mà biểu hiện thành hành động có thể khiến ta phải hối hận
« Bai hoc & lién hé ban than Bạn có đủ đăng cảm đối điện với khuyết tật trong tâm hồn mình hay không? Thay vi che giấu, hãy cố gắng kiếm soát chúng, muôi đưỡng cái thiện từ trong tâm như một cách để khắc
chế bản than Hãy tự coi mình là đối thủ để vượt qua ban thân, biết tự xấu hề trước những
hành động thiếu chuẩn mực
Một buổi sảng, cô hiệu trưởng gặp toàn thể học sinh trong căn phòng lớn và thông báo:
“Hôm nay chúng tạ sẽ tiến hành một thí nghiệm mớt Cô giữ cao hai cây thường xuân hề xíu
đựng trong hai cái chậu con giống hệt nhau, “Chúng ta có haÍ cây cơn, Trồng chúng hệt như nhau,
phải khéng?” Tất cả bọn trẻ, tò mô tràn vào hai chậu cấu, đồng thanh đáp: “Da phảt, “Chúng ta
sé nuôi dưỡng hai cây con này với cùng chế độ ánh sáng, cùng chế độ tưới nước, nhưng với sự
Chăm sóc khác nhau”, Cô nói tiển: “Chúng ta sẽ theo đối xem, điều gì sẽ xảy ra khi đặt một cây
trong nhà bến, cách xa chúng ta, và một cây ngay tại đây, trong phòng này, trên là sưới
Sau khi đặt một châu lên móp lò suỞi, cô hiệu trưởng đặt bọn trẻ vào bếp, đặt chậu còn lại lên quầy, Sau đó cô dẫn những đứa trẻ với những đôi mắt mỡ to vì bỡ ngỡ trở lại căn phòng lớn
“Chúng ta sẽ đối xử với cây như một người bạm Trong vài tháng tới, mỗi ngày chúng ta đều hất
cho cây thường xuân nghe Chúng tạ sẽ nói cho bạn ấy biết bạn ấy xinh đẹp thế nào và chúng ta
luần yéu mén hạn ấy biết bao Chúng ta sẽ luôn chúc bạn ấy mọi điều tốt đẹp ” Một bé gái giơ tay:
“Nhưng thưa cô, thế còn cái cây trong bếp thủ sao?” Cô hiệu trưởng mm cười thích thú: “Chúng
ta sẽ dùng cây ấy làm: cấy “đối chứng" trong thí nghiệm tuyết vời của chúng ta, Theo cúc em,
Trang 36v ỘDung Va chiing ta xem chuyén gi sé xay ra Ợ
Bén tuần sau, mắt của tôi cũng mở to ngạc nhiên y như bọn trẻ, Cây thường xuân trong nhà bẩp yếu ớt, mảnh khánh và chẳng lớn được tắ nào Còn châu cây đặt trong phòng lớn, được
bao bọc bởi những lời yêu thương êm diu, được bọn trẻ hát cho nghe mỗi ngà, đã lớn gấp ba với
những chiếc lá biếc xanh trần day nhựa sống Để chứng mình kết quả của cuộc thắ nghiệm và
cũng để lau Khô những giọt nước mắt của những đứa trẻ nhạy cằm, lo lắng cho số phận của cây
thường xuân Kia, cô hiệu trưởng giải thoát cho chậu cây thứ hai khôi cảnh lễ lai trong bếp và mang đặt nó trong phòng lớn, bên cạnh chậu cây thứ nhất,
Ba tuần sau, châu cây thứ hai đã bất kịp châu thử nhất Bốn tuần sau, chúng cùng lớn mạnh như nhau Tôi nghĩ nhớ mãi bài học này và tự đúc kết cho mình câu kết luận: Không ai, không vật
đì lớn lên được nếu không có tình yêu
(Lắng nghe điêu bình thường, Nhiều tác giả, NXB Tré, 2005)
_ HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU _
Ừ Trước khi đọc văn hắn:
Hãy đọc lướt qua nhan đề, nguồn (trắch dẫn, tìm kiếm các ý chắnh sau đó tự trả lời các câu hỏi dưới đầy:
Câu chuyện này diễn ra Ở đâu, các nhân vật là a
Đây là câu chuyện thực hay tưởng tượng?
Tại sao tôi lạt đọc nó?
Ti có thể dự đoán được những gì?
ề Trong khi đọc văn bản:
Đọc vần bản trên và trả lời câu hôi dưới đây:
Câu 1: Phương thức biếu đạt chữu: của văn bản trên là gL?
Cầu 2: Sự &hác biệt giữa cây thường xuân được đặt trong nhà bếp và cây thường xuân được đặt trong phòng học cạnh các bạn học sinh, Nguyên nhân nào dẫn đến sự khác biệt trang thắ nghiệm đó?
Câu 3: Ani/ciủ có tị rằng những cối cây có thể nghe được lời thầm thì những bài hút của các bạn học sinh? Vì saa?
Câu 4: Tử câu chuyện của hai cái cây q1UVCHỊ có thể rút ra được bài học gì cho mỗi chúng
tq trong cHộc sống?
ề Sau khi đọc văn bản:
Suy nghĩ của ani/chì về thông điệp được nhắc đến trong đoạn văn bản:
Khong ai, khong vật gì lớn lên được nếu không có tình yêu
e Trước khi đọc vần bản:
Câu chuyện dién ra trong lớp học, ở một giờ thắ nghiệm sinh hee
Đây là một cầu chuyện có thể có thực được kế lại nhằm truyền tái một thông điệp nào đó
Trang 37
Tray cap hocvanvanhoc.vn dé kham
a Đây là một thí nghiệm thông thường mà học sinh đã thực hiện trên lớp Vậy điều gì ì bất Se
Có lễ thông điệp nằm ở phần kết thúc của câu chuyện,
s Trong khí đọc vin ban:
Cẫu 1: Phương thức biểu đạt trong bài là phương thức tự sự, Cầu 2: Cây thường xuấn đặt trong bếp yếu ớt, mảnh khánh và chẳng lớn được tí nào
Cay đặt trong phòng lớn được chăm sóc, yêu thương lớn gấp ba, với những chiếc lá biếc xanh tràn đầy nhựa sống,
Nguyễn nhân quan trong không phải hới ánh sáng, nước hay phan bón mà 1à do sự chăm sóc khác rtháu, cầy đặt trong phòng được bao bọc bởi những lời yêu thương êm diu, được bọn trẻ hát chờ nghe rỗi ngày, còn cây thường xuân trong bếp thì không
Cầu 3: Học sinh có thể đưa ra những suy luận riêng của mình:
- Các loài thực vật cũng có khả nãng giao tiếp, khi sống trong mồi trường tích cực sẽ phát
Câu 3: Bài học từ nội dung câu chuyện;
~ Con người nhất là những đứa trẻ rất cân sự chăm sóc, ân cần bảo ban, dành tình yêu
thương để các ern có thể lớn khôn _
- Không ngừng trao đi yêu thương chơ những người thân, bạn bê,
e Sau khi đọc văn bản:
Suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được nhắc đến trong đoạn vấn bắn:
Không dì, không vật gì lớn lên được nếu không có tình yếu
Gợi ý:
+ Giải thích Tình yêu thương là một điều cần thiết để cuộc sống và những mối quan hệ trong xã hội
trở nên tốt đẹp hơn Tình yêu thương lã sự đùm bọc chế che gấn kết giữa con người với con
người, Từng biểu hiện chúng ta đành cho nhau, từ cứ chỉ quan tâm, lời nói, hành động hay lời nói ánh mặt cũng có thể đem lại yêu thương cho người khác
+ Phân tích, chứng minh
Tôi có thé cùng một lúc yêu thương chinh minh, gia đình mình, yêu thương mọi người,
yếu mục đích của tôi và yêu cả thể giới này Nhân ái làm cho ta đồng cảm sẻ chia với những số
phận bất hạnh, làm thay đổi những mãnh đời cơ cực, biến cái xấu xa thành lương thiện, Con
người sẽ thay tam hồn mình trở nên phong phú tràn đầy nhiệt huyết khi được cho và nhận tình
yêu thương Khi lời nói của tôi mang đến hoa hồng thay vì gai nhọn, tôi tạo nên một thế glớitố _
Trang 38
RS mae ays AP Re
Chỉnh phục năng lực đọc hiểu và làm văn
đẹp hơn Còn trong câu chuyện Người ăn xin của Tuốc-ghê-nhép, cậu bé không có tiền những
trao đi cả tấm lòng, Người ăn xi nhận được biết bao đồng cảm, thấu hiểu,
« Bình luận
Trong xã hội hiện đại, câu chuyện MC Phan Anh kêu gọi giúp đỡ đồng bào miền Trung lũ hạt, ca sĩ Mỹ Tâm đừng lại để hát ủng hộ một ca sĩ tật nguyền trong đêm giáng sinh là những tấm gương sáng về lòng nhân ái,
« Bài học & lên hệ ban than
Khi ta cảm thầy lòng mình rộng mở sẵn sàng ân cần cảm thông, ta sẽ thật dễ dàng để yêu
thương Hãy xóa bỏ sự ích kỉ, hẹp hỏi, hòa giải những hận thù và gửi đi tình yêu thương, Hãy biển những t trái tim ncháis san, trai thn n nhỏ nhẹn n thành hnhingn trái ấm nhân hậu, trải tìm ñ quảng đại
Chậm là tốt đẹp
Wagrain, thành phổ nghĩ mắt nếp nĩnh sâu vào đây Alps nước Áo, chuyển mình theo nhịp
chậm Mỗi năm ở thành phố nhỏ bé này còn hơn cả sống theo nhịp chậm Nỗ trở thành bệ phóng
cho triết lí Châm Tháng 10, Wagradin chủ trị hội nghị thường xuyên của Hiện hội Giảm tốc thời gian Đóng trụ sở tại thành phố Klagenfurt nước Áo, lại luôn tự hào về số lượng thành viên trải
khắp Trung Âu, Hiệp hội là lá cờ đầu cho phong trào sống Châm Hơn một ngàn hội viên của Hội
chữnh là những chiến sĩ bộ bình trong cuộc trường chỉnh chống lại tín điều làm mọi việc nhanh hơn, Trong đời sống hàng ngày tín điều đó có nghĩa là chậm lại nếu cần như vậy, Nếu một hội viên của Hội là bác sĩ, ông này có thể dành rhều thời gian để chuyện phiếm với bệnh nhân, Một cố vấn quản lí có thể từ chối trà lời các cuộc điện thoại công việc mỗi dịp cuối tuần, Một nhà thiết Kế có thể đạp xe đến các cuộc gặp thay vì lái xe hơi
Bên cạnh việc xuất bản những tờ bảo nghiêm chinh vé mat quan hệ giữa con người với thời gian, Hội côn gây tranh cãi bằng những trò quảng cáo châm chọc công khai, Các hội viên điều
hành qua nhiều thành phố, trước ngực hay trên lưng đeo những tấm biển đề thật bắt mắt khẩu
hiệu “Khẩn trương lên!” Cách đây không lâu, Hội côn vận động Ủy bạn Olympic Quốc tế trao huy chương vàng cho những vận động viên nhiều lần vê bét
“Tham gia phong trào Chấm không có nghĩa bạn luôn phải chậm ~ chúng tôi vẫn đi máy bay đấy chứi ~ Hay bạn luôn nhài nghiêm chình, thân nhiên, hoặc giả bạn muốn quấy rối thú vui của người khác” IMichaela Scimocser, vị thư kỷ nững động của Hội, nói “Nghiêm túc là tốt, nhưng không nhất thiết phải mất đi khiểu hài hước”
(Negi ca séng chém, Jean Carl Honore, NXB Phy nif, 2009)
HUONG DAN BOC HIEU
+ Trước khi đọc văn bản:
Hãy đọc lướt qua nhan đề, nguồn trích dẫn, câu chủ đề, phân chia bố cục các đoạn, sau
đó tự trả lời các cầu hỏi dưới đây:
Tiêu đề của văn bản cho biết tác giả đang bàn về vấn đề gì?
Thái độ của tác giả đối với vấn đề đó?
"` Bo ng lo an et
Trang 39
Tôi có thể đự đoán được những gì?
+ Trong khi đọc văn hắn:
Đọc văn hàn trên và trả lời câu hỏi dưới đây:
Câu 1; Mục địch tôn tại của Hiệp hội giầm tốc thời gian?
Cầu 2: Hiệp hội đã có thng hoạt động nào đề kêu gọi mọi người tìng hộ cho triết 1í sống
chậm của mình
Câu 3: An/Vchj có nghĩ triết lí sống châm và những hoạt động của hội là một điều nghiêm vic?
Câu 4: Nếu được lựa chọn anl/chị có đồng ý tham gia Hiệp hội giảm tốc thời gian không? Lí do?
» Sau khi đọc văn bản:
Suy nghĩ của anh/chị về tín điều sống chậm được nhắc đến trong văn bản đọc hiểu:
trong đới sống hàng ngày tín điều đó có nghĩa là chậm lại nếu cần như vậy
BÀI LÀM
s Trước khi đọc vần bản:
Tiêu đê cho thấy nội đụng cơ bản bàn về lối sống chậm -~ đối lập với sự vội vã của cuộc sống hiện đại Phương thức biểu đạt của văn bản là nghi luận
Thái độ của tác giả: ca nượi lối sống chậm,
Sống chậm là điều cần thiết để hưởng thụ trọn vẹn cuộc sống, công việc hối há ta cũng
niên dừng lại để tận hướng phúi giây thư giãn
Tôi muốn fim kiếm những dẫn chứng để thuyết phục tôi về lối sống chậm Có cách nào để
hài hòa giữa lối sống nhanh và chậm hay không?
Tôi là ruột tín đồ của triết lí sống chậm, nhưng bài tập các môn quá nhiều, kì thi học kì sắp đến, nếu sống chậm tôi biết làm như thế nào? :
« Trong khi đọc văn bán:
Cầu 1: Mục đích tôn tại của Hiệp hội giảm tốc thời gian:
- Chống lại tín điều làm mọi việc nhanh hơn,
- jêu gọi và khuyến khích mọi người sống chậm khi cần thiết, Câu 2: Những hoạt động của hiệp hội nhằm kêu gọi mọi người ủng hệ triết lí sống chậm của mình:
~- Xuất bản các tở báo
- Những trẻ quảng cáo châm chọc công khai,
- Trao huy chương vàng cho những vận động viên về bét
Câu 3: Học sinh có thể trả lời theo cách riêng của mình Có thể thara kháo một số gợi
y sau:
,~ Đây chỉ là triết lí sống hài hước như một thú vui giải trí trong cuộc sống, bản thân thành -
Trang 40
- Đây là triết lí nghiêm túc một cách hải hước tạo nên những niềm vui (rong cuộc sống,
Sông chậm không đồng nghĩa với sống tế nhạt
Câu 4: Học sinh có thể tự đưa ra quyết định và 1í do của minh Bibu quan trọng là bạn có lập trường vững vàng
- Đồng ý tham gìa vì cuộc sống cần những phút giây sống chậm, hài hước Lâm việc, thành cổng thì mục đích cuối cùng vẫn là giải trí và tận hướng cuộc sống,
- Không đồng ý tham gia vì muốn cuộc sống của tôi luôn là một đường thắng tiến về phía trước, chậm 1 phút tôi có thể đánh mất cơ hội của mình, Đồi khí cũng muốn sống thánh thơi những guỗồng quay xã hội hiện đại không cho phép
« Sau khi đọc văn bản:
Suy nghĩ của anh/chị về tín điều sống chậm được nhắc đến trong văn bân đọc hiểu:
Trong đời sống hàng ngày tín điều đó có nghĩa là chậm lại nếu cân như vậu
Ggy:
« Giải thích
Sống chậm lại là một tít điều sống ý nghĩa raà mỗi con người hiện đại cần phải đành thời
gian suy ngầm Sống chậm để cảm nhận những gì tốt đẹp của cuộc đời này, để nghĩ về cuộc sống
và những người xung quanh Sống chậm để lấy lại cân bằng trong cuộc sống, Con rgười hiện nay
chỉ biết lao đầu kiếm tìm những thứ hão huyền như tiền bạc, đanh lợi mà đánh rất đi nhiêu thứ Sống chậm ở đây không phải là cổ rứu giữ thời gian mà là để fa nhằm lại cuộc sống, nhìn lại chính minh Sống chậm ở đây cũng không có nghĩa chối từ công việc, chối từ công nghệ và thiết bị hiện đại ~ ngược lại đó là công cụ giúp ta tiết kiệm thời gian đành thời gian cho bản thân nhiều hơn,
e Phân tích, chứng mình
“Sống chậm lại Nghứ khác đi! Yêu thương riiu Rơn!” là một sự lựa chọn cho tâm hôn tối,
Nó giúp tôi bình tâm lại, suy nghĩ lại mọi thứ, ngẫm lại về đẹp thuần túy nhất, để trái tim nghỉ
một chút, và từ đó tôi có thể nhìn đời bằng con mất đơn giản nhất,
Sống chậm đã cho tôi những khoảng lặng lẽ, riêng tư với chính mình, để tôi biết suy nghĩ
va trân trọng những gì đã qua, quý trọng hiện tại và tôi biết rõ đó là tiền đề để tôi có được một tương lai tươi sáng, Biết sống chậm lại, tâm hồn của mỗi người sẽ trở nên thầm trầm, sâu sắc, tỉnh tế, chín chân và trưởng thành hơn,
« Bình luận
Sống vội vã gây cho con người áp lực, căng thẳng và làm khô héo tâm hồn, là vội vã, lạnh lùng với những người xung quanh Tôi nghĩ, sống chậm một chút, chúng ta có thể trao tình thương chơ mọi người, Một ánh mắt nhìn, một nụ cười thân thiện, một cái siết tay trìu mến cũng đỗ làm ấm lòng những trái tìm đang buối lạnh
« Bài học & Hén hé ban than
Tín điều sống này đã cho chúng ta một cách sống đúng đắn và rất thiết thực trong cuộc sống hiện đại, xã hội xô bồ hiện nay, Với tôi, đùng một ít thời gian để hít thở không khí trong
lành, một ít thời gian để đọc cuốn sách bôi bổ tâm hôn, một ít thời gian để lắng nghe những _
| 36 a we