LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kháng cáo, kháng nghị là một chế định quan trọng trong luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát, bị cáo, những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án và những người khác theo quy định của pháp luật có quyền kháng cáo, kháng nghị những bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án, qua đó kịp thời phát hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp dưới cả về nội dung cũng như hình thức tố tụng, đảm bảo sự công bằng của pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đặc trưng của xét xử hình sự là có thể đưa đến hậu quả bất lợi cho bị cáo, buộc bị cáo phải chịu hậu quả và các biện pháp tư pháp khác. Vì vậy, Bản án hay quyết định của Tòa án khi xét xử phải đảm bảo chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp ngay từ đầu phán quyết của Tòa án đã đảm bảo được yêu cầu này. Do đó, pháp luật quy định việc xét xử phải được thực hiện ở các cấp khác nhau nhằm đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. BLTTHS năm 2003 ra đời đã khắc phục được những vướng mắc, thiếu sót của BLTTHS năm 1988. Tuy nhiên, vẫn còn những điểm chưa đầy đủ, hoàn thiện trong quy định của pháp luật về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm cùng với việc hướng dẫn, giải thích của các cơ quan có thẩm quyền chưa rõ ràng, đầy đủ dẫn đến trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp còn nhiều sai phạm. Nhiều trường hợp các sai phạm của Tòa án cấp dưới không được khắc phục kịp thời, không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, làm giảm uy tín của Tòa án và làm cho mục đích của xét xử phúc thẩm không đạt được. Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Và chúng ta đang đẩy nhanh tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49NQTW ngày 262005 của Bộ chính trị nhằm xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, công bằng và nghiêm minh theo hướng ngày càng chú trọng hơn đến lợi ích của cá nhân và chống làm oan người vô tội. Thì việc nghiên cứu các chế định về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng. Từ những ý nghĩa cấp thiết nêu trên, cùng với mong muốn nghiên cứu của bản thân nên em đã chọn đề tài: “Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kháng cáo, kháng nghị là một chế định quan trọng trong luật tố tụng hình
sự Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát, bị cáo,những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án vànhững người khác theo quy định của pháp luật có quyền kháng cáo, kháng nghịnhững bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực phápluật Đây là cơ sở pháp lý cho Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án, qua đó kịpthời phát hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp dưới cả vềnội dung cũng như hình thức tố tụng, đảm bảo sự công bằng của pháp luật, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân
Đặc trưng của xét xử hình sự là có thể đưa đến hậu quả bất lợi cho bị cáo,buộc bị cáo phải chịu hậu quả và các biện pháp tư pháp khác Vì vậy, Bản ánhay quyết định của Tòa án khi xét xử phải đảm bảo chính xác, đúng người, đúngtội, đúng pháp luật Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp ngay từ đầuphán quyết của Tòa án đã đảm bảo được yêu cầu này Do đó, pháp luật quy địnhviệc xét xử phải được thực hiện ở các cấp khác nhau nhằm đảm bảo giải quyếtđúng đắn vụ án hình sự
BLTTHS năm 2003 ra đời đã khắc phục được những vướng mắc, thiếusót của BLTTHS năm 1988 Tuy nhiên, vẫn còn những điểm chưa đầy đủ, hoànthiện trong quy định của pháp luật về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm cùngvới việc hướng dẫn, giải thích của các cơ quan có thẩm quyền chưa rõ ràng, đầy
đủ dẫn đến trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp còn nhiều sai phạm Nhiềutrường hợp các sai phạm của Tòa án cấp dưới không được khắc phục kịp thời,không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, làmgiảm uy tín của Tòa án và làm cho mục đích của xét xử phúc thẩm không đạtđược
Trang 2Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành xâydựng nhà nước pháp quyền XHCN Và chúng ta đang đẩy nhanh tiến trình cảicách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ chínhtrị nhằm xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, công bằng và nghiêm minhtheo hướng ngày càng chú trọng hơn đến lợi ích của cá nhân và chống làm oanngười vô tội Thì việc nghiên cứu các chế định về kháng cáo, kháng nghị phúcthẩm có ý nghĩa rất quan trọng.
Từ những ý nghĩa cấp thiết nêu trên, cùng với mong muốn nghiên cứu của
bản thân nên em đã chọn đề tài: “Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là trên cơ sở lý luận và thực tiễn,khóa luận đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt độngkháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận phải giải quyết những nhiệm vụsau đây:
+ Phân tích khái niệm và ý nghĩa của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tụcphúc thẩm
+ Làm rõ và đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành vềkháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
+ Phân tích, đánh giá thực tiễn thi hành hoạt động kháng cáo, kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm, làm rõ những vướng mắc trong quy định của pháp luật,những tồn tại trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của những vướng mắc,tồn tại đó Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễnnhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động kháng cáo, kháng nghị theo thủ tụcphúc thẩm trên thực tế
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Trang 3Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề chung về kháng cáo,kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam vàluật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về kháng cáo, kháng nghị bản án,quyết định theo thủ tục phúc thẩm.Thực tiễn thi hành quyền kháng cáo, khángnghị theo thủ tục phúc thẩm trong những năm gần đây.
Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một chế định rộng vàphức tạp liên quan đến nhiều chế định khác trong pháp luật tố tụng hình sự Bởivậy, trong phạm vi nghiên cứu của một khóa luận tốt nghiệp, không thể xem xét
và giải quyết mọi vấn đề một cách toàn diện và sâu sắc Do đó, em chỉ tập trungtrình bày những nội dung cơ bản của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúcthẩm như: chủ thể, thời hạn, thủ tục, vấn đề thay đổi bổ sung kháng cáo, khángnghị… đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩmtrong BLTTHS năm 2003
4 Phương pháp nghiên cứu.
Việc nghiên cứu đề tài này được tiến hành trên cơ sở phương pháp luậnMác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểmcủa Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách vàhoàn thiện hệ thống pháp luật Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương phápnghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lý luậnkết hợp thực tiễn, phương pháp lịch sử
5 Cơ cấu khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungkhóa luận gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm
Chương 2: Những quy định của BLTTHS năm 2003 về kháng cáo, kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm
Chương 3: Thực tiễn thi hành những quy định của BLTTHS năm 2003 về
kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và một số kiến nghị
Trang 4
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ
THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM
1.1 Khái niệm kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Để đảm bảo sự thận trọng trong việc xét xử, cũng như đảm bảo quyềnđược phản đối lại bản án, quyết định của Tòa án của bị cáo và những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, luật TTHS Việt Nam quy định “nguyên tắc hai
cấp xét xử” Theo đó, bản án và quyết định sơ thẩm sau khi tuyên án có thể bị
kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại một lần nữa Khi có kháng cáo, kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm, Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm
sẽ tiến hành mở phiên tòa phúc thẩm để xét xử lại vụ án về mặt nội dung cũngnhư xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm Tòa án cấp phúcthẩm sau khi xét xử sẽ ra bản án hoặc quyết định cần thiết để giải quyết vụ án,bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án
Như vậy, xét xử phúc thẩm là một giai đoạn của TTHS Trong giai đoạnnày Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm màbản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị khángcáo hoặc kháng nghị nhằm khắc phục những sai lầm của Tòa án cấp dưới, bảođảm áp dụng thống nhất pháp luật, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của công dân [10, tr.406]
1.1.1 Khái niệm kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm
Theo Từ điển tiếng Việt, “kháng cáo là chống án lên Tòa án cấp trên yêu
cầu xét xử lại”[14, tr.492] Khái niệm trên chỉ nêu một cách chung chung, cho tamột khái niệm khái quát và mang tính hình thức mà chưa đề cập đến những vấn
Trang 5đề cơ bản của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm như: chủ thể, đối tượng… Theo
cách định nghĩa này thì khái niệm “kháng cáo” đồng nghĩa với “chống án” mà
trước đây một số người thường dùng Pháp luật TTHS nước ta hiện nay không
dùng thuật ngữ này mà thống nhất dùng thuật ngữ “kháng cáo”.
Trong khoa học pháp lý hiện nay, còn có những khái niệm khác nhau về
kháng cáo Trong cuốn “Từ điển giải thích luật học” của Trường Đại học Luật
Hà Nội có đưa ra khái niệm kháng cáo “Người tham gia tố tụng có quyền và lợi
ích trong vụ án yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án hoặc quyết định
sơ thẩm” [11, tr.182] Khái niệm trên đã nêu được đối tượng, chủ thể, mục đích
của kháng cáo nhưng chưa chỉ rõ được đối tượng là bản án có hiệu lực hay chưa
có hiệu lực pháp luật Nên định nghĩa này cũng chưa đầy đủ
Tác giả Đinh Văn Quế trong cuốn “Thủ tục phúc thẩm trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam” đã đưa ra khái niệm “Kháng cáo là biểu thị sự bất đồng của mình đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại” [7, tr.8] Đây là một khái niệm khá đầy đủ đã nêu được chủ
thể, đối tượng và Tòa án có thẩm quyền xét xử, nhưng chưa chính xác ở điểm
“tòa án cấp trên” Theo Điều 230 BLTTHS 2003 thì chỉ có “Tòa án cấp trên
trực tiếp” mới có quyền xét xử lại bản án, quyết định theo thủ tục phúc thẩm khi
có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Mặt khác, định nghĩa trên đãnêu được đối tượng của kháng cáo nhưng chưa chỉ rõ đối tượng của kháng cáophúc thẩm
Kháng cáo “là quyền theo luật định của những người tham gia tố tụng
được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đang còn trong thời gian kháng cáo” [1, tr.249] Đây là một khái
niệm khá hợp lý, đã nêu được chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúcthẩm là những người theo luật định mà không phải là bất cứ người tham gia tốtụng nào cũng có quyền kháng cáo như: Người bị tạm giữ, người làm chứng Ngoài ra, khái niệm này còn nêu được Tòa án có thẩm quyền xét xử, thời hạn
Trang 6kháng cáo Tuy nhiên, khái niệm trên chưa chỉ rõ được đối tượng của kháng cáo,
và cần phải thay từ “thời gian” bằng từ “thời hạn” thì sẽ mang tính pháp lý hơn.
Nhìn chung, các khái niệm nêu trên đều chưa đưa ra được một khái niệmchính xác về kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm Theo chúng tôi, để có được kháiniệm đầy đủ và hoàn chỉnh về kháng cáo, chúng ta cần làm rõ những vấn đề sau:
Thứ nhất, đối tượng của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là các bản án,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Trong thời hạnluật định (hoặc ngoài thời hạn luật định nhưng có lý do chính đáng), nếu bản ánhoặc quyết định bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Tòa án cấptrên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải xét xử lại bản án theo thủ tục phúc thẩm
Thứ hai, chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là những
người tham gia tố tụng, nhưng không phải tất cả người tham gia tố tụng đều cóquyền kháng cáo mà chỉ những người được pháp luật quy định cụ thể mới cóquyền kháng cáo Chủ thể của quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm có thể lànhững người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, bản án và quyết định củaTòa án đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Chủ thể của quyềnkháng cáo còn có thể là những người không có quyền và lợi ích pháp lý liênquan đến vụ án nhưng họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho những ngườikhác Đó là người mà họ đại diện hợp pháp hoặc là người họ nhận bào chữa, bảo
vệ quyền lợi trong trường hợp những người này chưa thành niên hoặc có nhượcđiểm về thể chất, tâm thần Do bản án, quyết định của Tòa án có ảnh hưởng trựctiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ hoặc của người mà họ đại diện, bảo
vệ nên pháp luật quy định cho họ quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm đốivới bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, để họbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Thứ ba, mục đích của kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Khi xét xử Tòa án phảituân theo pháp luật từ việc đánh giá chứng cứ đến việc đưa ra bản án, quyếtđịnh Nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà bản án có thể không đúng pháp luật,
Trang 7không đảm bảo sự chính xác Pháp luật quy định quyền kháng cáo phúc thẩm đểTòa án cấp trên trực tiếp phải xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật có sai sót, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngườitham gia tố tụng, tạo cho công dân niềm tin vào sự công minh của pháp luật.Trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị và trong thời gian xét xử phúc thẩm, bản
án sơ thẩm chưa được đưa ra thi hành Cho nên, khi xét xử phúc thẩm bản ánhoặc quyết định đó còn có thể được sửa theo hướng có lợi cho người tham gia tốtụng Mặt khác, nếu họ bị xử oan sai ở giai đoạn sơ thẩm thì sẽ được sửa sai,minh oan và trả tự do ngay sau khi HĐXX phúc thẩm tuyên án Hay nếu bị cáo
bị xử quá nhẹ so với hành vi phạm tội của mình thì sẽ phải chịu hình phạt thíchđáng và tương ứng với thiệt hại mà mình gây ra
Quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm còn nhằm để thực hiện “nguyên
tắc hai cấp xét xử”, một nguyên tắc đã có quá trình hình thành lâu dài và mới
được quy định lại trong BLTTHS năm 2003 Theo đó, xét xử sơ thẩm là cấp xét
xử thứ nhất, bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm sau khi tuyên thìViện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố tụngkhác có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trực tiếp yêu cầu xét xử lại Phúc
thẩm là cấp xét xử thứ hai Thực hiện tốt “nguyên tắc hai cấp xét xử” là đảm bảo
nền pháp chế XHCN
Thứ tư, quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm của những người tham
gia tố tụng phải được thể hiện dưới hình thức nhất định và theo thời hạn đượcquy định trong luật TTHS mới được coi là hợp pháp Thời hạn kháng cáo đượcquy định chung cho tất cả các chủ thể có quyền kháng cáo nhưng cách tính thờiđiểm bắt đầu khác nhau
Từ những điểm đã phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm kháng cáo
theo thủ tục phúc thẩm như sau: “Kháng cáo là quyền của một số người tham
gia tố tụng theo quy định của pháp luật được yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật trong thời hạn và theo thủ tục luật định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp họ”.
Trang 81.1.2 Khái niệm kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Tại Điều 19 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định “khi
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật” Như
vậy, “kháng nghị” không chỉ là cơ sở làm phát sinh thủ tục phúc thẩm mà còn là
căn cứ làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm Kháng nghị là hoạtđộng trọng tâm thể hiện chức năng của Viện kiểm sát nhưng hiện nay lại chưa
có một khái niệm nào về kháng nghị được quy định trong các văn bản pháp luật
tố tụng hình sự mà mới chỉ có những định nghĩa mang tính khoa học
Từ điển Luật học nêu định nghĩa về kháng nghị nói chung trong đó cókháng nghị phúc thẩm như sau: kháng nghị là việc người có thẩm quyền bằngvăn bản của mình gửi đến Tòa án có thẩm quyền làm ngưng hiệu lực phán quyếtcủa Tòa án trong bản án, quyết định để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốcthẩm hoặc tái thẩm nhằm làm cho vụ án được chính xác, khách quan và đúngpháp luật[1, tr.249] Cách định nghĩa này rất khái quát, đã nêu được chủ thể, đốitượng, thủ tục nhưng còn thiếu sót Như trong thời gian kháng nghị phúc thẩm,bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Vì vậy, kháng nghị
không thể làm “ngưng” hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm (Điều 240
BLTTHS năm 2003) Ngoài ra, khái niệm chưa nêu được chủ thể của quyềnkháng nghị là Viện kiểm sát
Theo “Từ điển giải thích Luật học” của Trường đại học Luật Hà Nội thì kháng nghị là việc “người có thẩm quyền yêu cầu Tòa án xét lại bản án, quyết
định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm” [11, tr.183].
Khái niệm trên đã nêu được đối tượng, chủ thể nhưng chưa nêu rõ chủ thể nào
có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chủ thể nào có quyền xét khángnghị
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một
văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ
Trang 9án mà Tòa án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật” [7, tr.40] Định nghĩa đã nêu được hình thức, thẩm
quyền, chủ thể của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nhưng tác giả chỉ mới đisâu vào hình thức, mà chưa nêu được bản chất của kháng nghị theo thủ tục phúcthẩm là nhằm sửa chữa những sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm sao cho đúng.Mặt khác, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm cả trongtrường hợp bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thiếu căn cứ, khôngphản ánh đúng sự thật khách quan chứ không chỉ có quyền kháng nghị duy nhất
đối với bản án, quyết định “không đúng pháp luật”.
Còn có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau về kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm, nhưng theo chúng tôi cách định nghĩa theo Giáo trình
Công tác kiểm sát là hợp lý và khoa học “kháng nghị phúc thẩm là một trong
những quyền của Viện kiểm sát được thể hiện bằng một văn bản pháp lý thể hiện quan điểm không thống nhất với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm vì xét xử thiếu căn cứ, không hợp pháp và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án đó đúng pháp luật” [12, tr.88] Định
nghĩa trên đã nêu được một cách cơ bản các nội dung của kháng nghị như chủthể, thẩm quyền, đối tượng, hình thức Tuy không phải là khái niệm pháp lýđược ghi nhận trong các văn bản pháp lý nhưng đây là một khái niệm khá chínhxác và khoa học
Phân tích những khái niệm nêu trên, chúng tôi thấy rằng khái niệm khángnghị theo thủ tục phúc thẩm phải nêu được một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, về chủ thể của kháng nghị là VKSND, ở đây là Viện kiểm sát
cùng cấp và Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm Chủthể của quyền kháng nghị phúc thẩm khác với quyền kháng nghị giám đốc thẩm,tái thẩm Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyềnkháng nghị phúc thẩm Còn kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm chỉ dành choViện kiểm sát cấp trên trực tiếp (từ cấp tỉnh trở lên) và một số chủ thể khác
Trang 10Thứ hai, đối tượng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm cũng là bản án
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định khi đã cóhiệu lực pháp luật thì không phải là đối tượng kháng cáo, kháng nghị theo thủtục phúc thẩm mà là đối tượng của kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Thứ ba, pháp luật quy định cho Viện kiểm sát quyền đồng thời là nhiệm
vụ kháng nghị phúc thẩm nhằm mục đích để Viện kiểm sát thực hiện chức năngkiểm sát việc xét xử và thực hành quyền công tố, đảm bảo vụ án được giải quyếtđúng đắn, khách quan và công bằng Chức năng kiểm sát việc tuân theo phápluật đảm bảo cho hoạt động tố tụng hợp pháp, khách quan, đầy đủ, tương hỗ chochức năng thực hành quyền công tố làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án,
xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Quy định quyền kháng cáo, khángnghị theo phúc thẩm còn nhằm mục đích sửa chữa và khắc phục những sai lầmcủa Tòa án cấp sơ thẩm Đây là điều mà những người thực hiện quyền khángcáo, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị và chính Tòa án các cấp hướngtới
Thứ tư, thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm được quy định khác
nhau cho hai chủ thể có quyền kháng nghị Điều này khác với kháng nghị giámđốc thẩm và tái thẩm, thời hạn được quy định giống nhau cho tất cả các chủ thểthực hiện quyền kháng nghị Thời hạn kháng nghị cũng được quy định khác vớithời hạn kháng cáo, thời hạn kháng cáo được quy định chung cho tất cả các chủthể có quyền kháng cáo
Thứ năm, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm phải được thể hiện theo hình
thức luật định, Viện kiểm sát khi ban hành kháng nghị phải thể hiện dưới dạngvăn bản Điều này khác với kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, người có quyềnkháng cáo có thể kháng cáo thông qua văn bản (đơn kháng cáo) hoặc trình bàytrực tiếp bằng miệng
Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, chúng tôi thấy rằng khái niệm kháng
nghị theo thủ rục phúc thẩm cần phải bao hàm các nội dung sau: “Kháng nghị
phúc thẩm là quyền của Viện kiểm sát nhân dân được thể hiện bằng một văn
Trang 11bản pháp lý, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm do xét xử thiếu căn cứ, không hợp pháp nhằm đảm bảo vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan
và công bằng ”.
Nói tóm lại, kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đều thể hiện sựbất đồng quan điểm của các chủ thể theo quy định của pháp luật với bản án,quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Chỉ khi có kháng cáo, kháng nghị Tòa áncấp trên trực tiếp mới xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm Khi có kháng cáo,kháng nghị hợp pháp việc xét xử là bắt buộc để kiểm tra lại tính hợp pháp vàtính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đồngthời cũng xét xử lại nội dung vụ án Vì vậy, kháng cáo kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm là phù hợp với “nguyên tắc hai cấp xét xử” và đảm bảo cho nền pháp
mở phiên tòa phúc thẩm, qua đó bị cáo có thể trình bày thêm những chứng cứhay thông tin liên quan để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và quyết định Thôngqua kháng cáo, họ thể hiện sự bất đồng và những quan điểm của mình về việcgiải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, đồng thời đề đạt những nguyện vọng, yêu cầucủa mình đối với Tòa án cấp phúc thẩm, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình, đảm bảo sự dân chủ
Trang 12Trong trường hợp kháng cáo hợp lệ thì Tòa án cấp phúc thẩm phải mởphiên tòa phúc thẩm để xem xét, giải quyết kháng cáo đó Tòa án là cơ quanđược Nhà nước trao quyền xét xử Chính vì vậy, việc Tòa án cấp phúc thẩm xét
xử lại bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị đã thể hiện mối quan hệ qualại giữa nhà nước và công dân, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền
Mặt khác, kháng nghị phúc thẩm là một hình thức pháp lý quan trọng đểViện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc xét xử và thực hành quyềncông tố Khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa ánphúc thẩm sẽ tiến hành nhiều biện pháp nhằm làm sáng tỏ nội dung kháng cáo,kháng nghị, xem xét những vấn đề khác có liên quan, đồng thời chuẩn bị cácđiều kiện cần thiết khác để đưa vụ án ra xét xử Trong toàn bộ quá trình này,Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với tất cả cáchoạt động tố tụng của HĐXX và những người tham gia tố tụng khác tại phiêntòa phúc thẩm Hoạt động này của Viện kiểm sát cũng là một nhân tố bảo đảmcho hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa (nhưtham gia xét hỏi, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát, tranh luận, đối đáp, đềnghị HĐXX chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị) đạt hiệuquả cao Kiểm sát viên theo dõi chặt chẽ diễn biến phiên tòa, kịp thời phát hiệnnhững sai lầm thiếu sót của HĐXX trong quá trình giải quyết vụ án để yêu cầukhắc phục ngay, đảm bảo vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan, côngbằng và đúng pháp luật, đảm bảo nguyên tắc pháp chế và đảm bảo tính tốithượng của pháp luật
Khi các chủ thể thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị của mình đồngnghĩa với việc họ đã giúp Tòa án cấp trên biết những sai lầm, thiếu sót của Tòa
án cấp dưới để có sự chỉ đạo, hướng dẫn, kịp thời khắc phục những sai phạm vàrút kinh nghiệm cho công tác xét xử, đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật thốngnhất của Tòa án các cấp Từ nội dung kháng cáo, kháng nghị các cơ quan bảo vệpháp luật sẽ thấy những vướng mắc trong quy định của pháp luật, từ đó có kiếnnghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Trang 131.2.2 Ý nghĩa pháp lý
Việc quy định và thực hiện chế định kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là
cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục phúc thẩm Khi có kháng cáo, kháng nghịphúc thẩm Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm sẽ tiến hành
mở phiên tòa phúc thẩm xét xử lại vụ án về nội dung cũng như xét lại tính hợppháp của bản án Tòa án cấp phúc thẩm khi xét lại bản án, quyết định sơ thẩmchưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị và trong quá trình xét xử lại
vụ án có khả năng phát hiện những sai lầm, thiếu sót trong việc xét xử sơ thẩm
và sửa chữa những sai lầm, thiếu sót đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Qua
đó, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức
và công dân Mặt khác, thông qua việc sửa chữa sai lầm của Tòa án cấp dưới,Tòa án cấp phúc thẩm hướng dẫn Tòa án cấp dưới giải thích và vận dụng đúngpháp luật
Chế định kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm còn có ý nghĩa quan trọng đảm
bảo thực hiện một số nguyên tắc cơ bản của luật TTHS như nguyên tắc “thực
hiện chế độ hai cấp xét xử”, nguyên tắc “thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS”… đây là những nguyên tắc thể hiện thái
độ thận trọng của Nhà nước trong việc đưa ra phán xét về số phận pháp lý, sinhmạng và quyền lợi của người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự Đồng thời, thể hiện rõ ràng nhất bản chất của Nhà nước pháp quyền Việt Nam lànhà nước của dân, do dân và vì dân, luôn tôn trọng và bảo vệ các quyền, lợi íchchính đáng, hợp pháp của công dân
1.2.3 Ý nghĩa xã hội
Tòa án với nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp của nhà nước, trong phạm
vi xét xử của mình phải đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Vì thế, khi nhận được một bản kháng cáo, kháng nghị thì cả Tòa án cấp sơ thẩm
và Tòa án cấp phúc thẩm đều phải có trách nhiệm kiểm tra lại bản án, quyết định
đã tuyên Bản án, quyết định nếu có sai sót thì sửa chữa, khắc phục, nếu đúngpháp luật thì bác đơn kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm
Trang 14Đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật sẽ nâng cao uy tín củaTòa án, tạo lòng tin cho người bị hại, người có quyền và lợi ích liên quan, thậmchí cả bị cáo khi nhận được một bản án đúng với hành vi của mình, đồng thờitạo lòng tin cho cả xã hội.
Việc quy định và thực hiện chế định kháng cáo phúc thẩm là cơ sở pháp lýđảm bảo cho quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng được bảo vệ một cáchcông khai và chính đáng Với nhiều lý do khác nhau, bản án sơ thẩm có thể quánặng hoặc quá nhẹ so với mức độ nguy hiểm của tội phạm gây ra, ảnh hưởngđến quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng Trong trường hợp đóngười có quyền kháng cáo thực hiện quyền kháng cáo nhằm bảo vệ quyền và lợiích của chính họ hoặc cho người mà họ đại diện Quy định quyền kháng cáo làcách mà pháp luật trao sự chủ động và quyền tự bảo vệ chính mình cho bị cáo vànhững người tham gia tố tụng khác
Kháng nghị của Viện kiểm sát đối với các bản án, quyết định sơ thẩm có
vi phạm pháp luật vừa thể hiện kết quả hoạt động kiểm sát việc tuân theo phápluật, vừa thể hiện trách nhiệm thực hành quyền công tố, bảo đảm không để xảy
ra các trường hợp xét xử oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, nhằm bảo vệ lợi ích củaNhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Kháng nghị khi pháthiện thiếu sót trong bản án, quyết định của Tòa án không chỉ là quyền hạn màcòn là nhiệm vụ của Viện kiểm sát
Chế định kháng cáo phúc thẩm được quy định trong BLTTHS thể hiện sựtôn trọng và đảm bảo thực hiện có hiệu quả các quyền của con người trong lĩnhvực tư pháp Quy định này tạo điều kiện để các chủ thể tham gia tố tụng có thểtrực tiếp bảo vệ quyền lợi của mình ở cấp xét xử cao hơn Khi kháng cáo hợp lệ,những người kháng cáo có quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm, họ được trựctiếp đưa ra các chứng cứ, tình tiết mới để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét
Như vậy, việc quy định và thực hiện chế định kháng cáo, kháng nghị theothủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự góp phần rất lớn vào việc đảm bảo côngbằng xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội
Trang 15phạm, góp phần củng cố lòng tin của của nhân dân vào hoạt động xét xử củaTòa án, nâng cao uy tín của Tòa án nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụngnói chung Bởi vì, mục đích cao nhất của hoạt động xét xử là đảm bảo xét xửđúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai và bảo đảm quyền bình đẳngcủa mọi công dân trước pháp luật
Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT BLTTHS NĂM 2003
VỀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH
CỦA TÒA ÁN THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM
2.1 Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Điều 230 BLTTHS năm 2003 quy định: bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Như vậy, đối tượng của khángcáo, kháng nghị phúc thẩm là các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lựcpháp luật Pháp luật tố tụng nước ta không hạn chế đối tượng của kháng cáo,kháng nghị phúc thẩm Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc khángcáo tràn lan trong thực tế Về vấn đề này pháp luật tố tụng một số nước có quy
định khác với pháp luật nước ta Ví dụ: Điều 546 luật TTHS Pháp quy định những người có quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm “nếu hình phạt đã
tuyên là hình phạt tiền quy định cho tội vi cảnh bậc năm, nếu Tòa án đã tuyên
Trang 16hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 131 – 16 Bộ luật hình sự, hoặc nếu mức tiền phạt mà Tòa án đã tuyên vượt quá mức tối đa quy định cho tội vi cảnh bậc hai” [21, tr.234] Quy định này đã được giải thích rõ hơn trong cuốn “Tố tụng hình sự và vai trò của tố tụng hình sự” như sau: “Đối với các tội vi cảnh, chỉ có những án vi cảnh quan trọng đến mức nào đó mới bị kháng cáo, kháng nghị Ngày nay chỉ những án vi cảnh bị phạt tiền từ 5.000 phờ - răng trở lên mới bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm” [5, tr.42] Như vậy, luật TTHS Pháp quy
định một số vụ án có thể xét xử chung thẩm, chỉ những vụ án vi cảnh quan trọnghoặc án vi cảnh bị phạt tiền từ 5.000 phờ - răng trở lên mới được kháng cáo,kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Việc xét xử phúc thẩm không chỉ là xét lại tính hợp pháp và tính có căn
cứ của bản án, quyết định sơ thẩm mà trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã có trong
vụ án xét xử lại nội dung vụ án, không chỉ trong phạm vi những phần bản án,quyết định bị kháng cáo mà có thể xem xét cả phần bản án, quyết định kháckhông bị kháng cáo, kháng nghị nhưng liên quan đến việc giải quyết tổng thể vụ
án Theo quy định của luật TTHS thì chỉ những bản án sơ thẩm chưa có hiệu lựcpháp luật mới bị kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt,một số bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật vẫn có thể trở thành đối tượngcủa kháng cáo, kháng nghị như trường hợp kháng cáo quá hạn, hay Tòa án cấpphúc thẩm xem xét ngoài phạm vi kháng cáo theo quy định tại Điều 240BLTTHS năm 2003, hoặc trường hợp bản án đã đưa ra thi hành vẫn có thể bịkháng cáo, kháng nghị theo khoản 2 Điều 255 BLTTHS năm 2003
Theo quy định tại khoản 2 Điều 239 BLTTHS năm 2003 thì: “quyết định
tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo trong thời hạn bảy ngày” Như vậy, bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác chỉ có quyền kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ
án của Tòa án cấp sơ thẩm, vì đây là các quyết định có liên quan trực tiếp đếnquyền và lợi ích của họ Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 316 BLTTHS
năm 2003 thì “việc kháng nghị hoặc kháng cáo đối với quyết định của Tòa án về
Trang 17việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được tiến hành như đối với bản án
sơ thẩm” Quy định này cho chúng ta thấy rằng quyết định áp dụng biện pháp
chữa bệnh cũng là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
2.2 Chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
2.2.1 Chủ thể có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm
Điều 231 BLTTHS năm 2003 quy định về quyền kháng cáo của bị cáo vàcác đương sự trong trường hợp họ không nhất trí với bản án hoặc quyết định củaTòa án cấp sơ thẩm Quy định này thể hiện tính nhân đạo và dân chủ của phápluật tố tụng hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi vụ
án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm Những quy định về chủ thể có kháng cáo là
cơ sở pháp lý để các chủ thể chủ động thực hiện quyền kháng cáo của mình,đồng thời là cơ sở để Tòa án xem xét kháng cáo đó có hợp lệ hay không Theoquy định của BLTTHS năm 2003 các chủ thể sau đây có quyền kháng cáo:
* Bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ
Bị cáo là đối tượng của việc buộc tội trong hình sự, họ có thể phải chịuhình phạt và bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra bằng mộtbản án, quyết định của Tòa án hoặc có thể được tuyên vô tội và được trả tự dongay Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, họ có quyền kháng cáo.Quyền kháng cáo được pháp luật tố tụng quy định cho chính bản thân bị cáo.Người đại diện hợp pháp của bị cáo trong trường hợp bị cáo là người chưa thànhniên hoặc là người có nhược điểm về thể chất, tâm thần có thể là cha, mẹ, anhchị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Theo hướngdẫn tại Nghị quyết 05/2005/ NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 thì: chỉ người đại diệntheo pháp luật của bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâmthần hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm
Như vậy, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáođối với mọi bản án, quyết định sơ thẩm Nếu bị cáo là người chưa thành niên, cónhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì họ cũng có quyền tự mình kháng cáo,
Trang 18đồng thời, người đại diện hợp pháp và người bào chữa của họ có quyền khángcáo trong các trường hợp này để bảo vệ quyền lợi cho bị cáo mà không cần có
sự đồng ý hay yêu cầu của bị cáo, đây là quyền kháng cáo độc lập, không phụthuộc vào yêu cầu của bị cáo Trong luật của một số nước lại quy định về việckháng cáo thay cho bị cáo như quy định tại Điều 129 BLTTHS nước Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa “Nếu bị cáo đồng ý, người bào chữa hoặc nhân thân của bị
cáo có thể kháng cáo lên Tòa án cấp trên” [15, tr.47] Hay luật TTHS Nhật Bản
cho phép bị cáo ủy quyền cho người khác kháng cáo thay mình [24, tr.60]
Bị cáo và người đại điện hợp pháp có quyền kháng cáo đối với toàn bộbản án: về tội danh, điều khoản BLHS, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệmhình sự, hình phạt chính và hình phạt bổ sung, về biện pháp tư pháp, xử lý vậtchứng, án phí, bồi thường thiệt hại… và các quyết định sơ thẩm: quyết định đìnhchỉ, tạm đình chỉ vụ án và quyết định áp dụng biện pháp chữa bệnh
Để khôi phục hoàn toàn danh dự cho mình, người được Tòa án tuyên làkhông có tội có quyền kháng cáo phần lý do của bản án sơ thẩm tuyên bị họ
không có tội Ví dụ: Nguyễn Văn A không thực hiện hành vi trái pháp luật
nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định A có thực hiện hành vi trái pháp luậtnhưng chưa đến mức cấu thành tội phạm Trong trường hợp này, A có quyềnkháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại phần nhận định của bản án chođúng với sự thật [25]
* Người bào chữa
Để đảm bảo việc bảo vệ quyền lợi cho bị cáo là người bị hạn chế về nănglực hành vi tố tụng, luật TTHS Việt Nam quy định người bào chữa có quyềnkháng cáo để bảo vệ lợi ích của bị cáo là người chưa thành niên hoặc có nhượcđiểm về thể chất, tâm thần Đây là quyền kháng cáo độc lập của người bào chữa,không phụ thuộc bị cáo có đồng ý hay không Việc người bào chữa kháng cáokhông loại trừ quyền tự bào chữa của bị cáo
* Người bị hại và đại diện hợp pháp của họ
Trang 19Quyền kháng cáo của người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ
được quy định tại Điều 231 “người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có
quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm” Như vậy, nếu người bị hại là
người đã thành niên và không có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần thì họphải tự mình thực hiện quyền kháng cáo Nếu người bị hại là người chưa thànhniên, có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần thì người đại diện hợp pháp của
họ có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm
Người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản
án, quyết định của Tòa án về phần hình phạt cũng như bồi thường thiệt hại.Riêng về bồi thường thiệt hại, Nghị quyết số 05/2005/ NQ - HĐTP có hướng
dẫn “trong trường hợp người bị hại chỉ kháng cáo phần bản án hoặc quyết định
sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại thì họ có thể ủy quyền cho người khác Người được ủy quyền có các quyền và nghĩa vụ như người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự”.
Trong trường hợp người bị hại chết mà có từ hai người trở lên đều là
người đại diện hợp pháp của người bị hại (ví dụ: cha, mẹ, vợ và con thành niên
của người bị hại) thì phân biệt như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố hoặc tại phiên tòa sơ thẩm những ngườinày đã đồng ý cử một người trong số họ tham gia tố tụng với tư cách là ngườiđại diện hợp pháp của người bị hại thì sau khi xét xử sơ thẩm những người nàyvẫn có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm Việc khángcáo có thể do từng người thực hiện hoặc có thể cử một người trong số họ thaymặt họ thực hiện
Trong quá trình điều tra, truy tố hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, những ngườinày chưa cử ai trong số họ thay mặt họ làm người đại diện hợp pháp của người
bị hại, mà người đại diện hợp pháp của người bị hại chỉ do một hoặc một sốngười trong số họ tự nhận, nếu sau khi xét xử sơ thẩm có người trong số nhữngngười chưa cử người đại diện có đơn với nội dung khiếu nại bản án sơ thẩmhoặc yêu cầu xét xử phúc thẩm mà nội dung đơn của họ phù hợp với nội dung
Trang 20kháng cáo của người đại diện hợp pháp đã tham gia tố tụng thì Tòa án cấp phúcthẩm chấp nhận để xét xử theo thủ tục chung Nếu nội dung đơn của họ khôngphù hợp với nội dung kháng cáo của người đại diện hợp pháp đã tham gia tốtụng hoặc người đại diện hợp pháp đã tham gia tố tụng không kháng cáo nhưngtrong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác kháng cáo, Viện kiểm sátkháng nghị thì khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án hoặcquyết định sơ thẩm về phần có liên quan mà họ có khiếu nại hoặc yêu cầu xét xửphúc thẩm vụ án, để điều tra lại hoặc xét xử sơ thẩm lại do vi phạm nghiêmtrọng về thủ tục tố tụng (chưa đưa họ vào tham gia tố tụng khi quyền, lợi ích của
họ xung đột với quyền và lợi ích của người đại diện hợp pháp đã tham gia tốtụng) [25]
Người bị hại có quyền kháng cáo cả theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹđối với bản án sơ thẩm: về tội danh, điều khoản của BLHS, tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính và hình phạt bổ sung, về bồithường thiệt hại, về quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
* Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ
Do lợi ích của nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự chỉ liên quan đến việcbồi thường thiệt hại, nên họ chỉ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyếtđịnh sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại Quyền kháng cáo củanguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự có thể do họ hoặc người đại diện, người bảo
vệ quyền lợi của họ thực hiện
Nếu nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự là người chưa thành niên hoặc cónhược điểm về thể chất, tâm thần thì người đại diện hợp pháp của họ cũng cóquyền kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm Ngoài ra, BLTTHS năm
2003 đã có quy định mới về việc kháng cáo đối với đương sự là người chưathành niên: đối với những người này, người bảo vệ quyền lợi cho họ có quyềnkháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền và nghĩa vụ củangười mà mình bảo vệ
Trang 21* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, là người mà quyềnlợi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định của cơ quan tiến hành tốtụng Họ có thể là người không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nhưng các
cơ quan tiến hành tố tụng phải xử lý theo pháp luật những vấn đề có liên quan
đến quyền và nghĩa vụ của họ Ví dụ: Người có tài sản bị kẻ phạm tội sử dụng
làm công cụ, phương tiện phạm tội, người đã được kẻ phạm tội cho một số tàisản do phạm tội mà có Người đã tham gia vào việc thực hiện tội phạm nhưngđược miễn trách nhiệm hình sự cũng có thể trở thành người có quyền và nghĩa
vụ liên quan, nếu cơ quan tiến hành tố tụng xử lý những vấn đề liên quan đếnquyền lợi và nghĩa vụ của họ, như xử lý vật thuộc sở hữu của họ làm công cụ,phương tiện phạm tội, xử lý tài sản do phạm tội mà có
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợppháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đếnquyền lợi và nghĩa vụ của họ
Khác với BLTTHS năm 1988, Điều 231 BLTTHS năm 2003 đã quy định
cụ thể về quyền kháng cáo của người bảo vệ quyền lợi cho người chưa thànhniên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tâm thần đối với phần bản án hoặcquyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi của họ, mà không được khángcáo về phần hình phạt và bồi thường thiệt hại như bị cáo hay người bị hại
* Người bảo vệ quyền lợi của đương sự
Người bảo vệ quyền lợi của đương sự chưa thành niên, có nhược điểm vềtâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định sơ thẩm liênquan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ Đây là quyền khángcáo độc lập, không phụ thuộc đương sự có đồng ý hay không
2.2.2 Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Nhằm mục đích bảo vệ pháp chế XHCN, bảo đảm tính hợp pháp và cócăn cứ của bản án, quyết định của Tòa án Điều 232 BLTTHS năm 2003 quy
Trang 22định “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền
kháng nghị những bản án và quyết định sơ thẩm” Theo Điều 19 luật tổ chức
VKSND năm 2002, thì “khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ
án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm ” Quy định này nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của Viện kiểm sát
các cấp trong việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động điều tra, xét xử,đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có sai lầm, thiếu sót trong việc đánhgiá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị để yêucầu Tòa án cấp trên xét xử lại.Việc quy định cả Viện kiểm sát cùng cấp và Việnkiểm sát cấp trên trực tiếp đều có quyền kháng nghị là nhằm phát hiện và khắcphục kịp thời các sai sót về xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm tính hợppháp và có căn cứ của các bản án hoặc quyết định sơ thẩm trước khi đưa ra thihành
Về quyền kháng nghị trong TTHS của một số nước có những điểm khácvới quy định của Việt Nam Theo luật TTHS của nước Cộng hòa nhân dânTrung Hoa thì chỉ có Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị (Điều 130BLTTHS Trung Hoa) [15, tr.47], hay luật TTHS Nhật Bản quy định Luật sưthực hiện chức năng công tố có quyền kháng nghị (Điều 373) [24, tr.61]
Theo Điều 36 BLTTHS năm 2003 thì người có thẩm quyền quyết địnhviệc kháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cáccấp Kháng nghị phúc thẩm cũng có điểm khác so với kháng nghị giám đốcthẩm và tái thẩm: chủ thể có quyền kháng nghị phúc thẩm là Viện kiểm sát cùngcấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; chủ thể cóquyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là Viện kiểm sát cấp trên trực tiếphoặc cấp trên nữa, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp không có quyền khángnghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Viện kiểm sát được tổ chức và hoạt động theo hệ thống ngành dọc, cấpdưới phải phục tùng cấp trên Nếu kháng nghị của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm có
Trang 23nội dung mâu thuẫn với kháng nghị của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm (ví dụ:
Viện kiểm sát cấp sơ thẩm kháng nghị yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bịcáo, nhưng viện kiểm sát cấp phúc thẩm lại kháng nghị theo hướng giảm nhẹhình phạt cho bị cáo), thì Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung mâuthuẫn theo kháng nghị của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm Trường hợp hai bảnkháng nghị không mâu thuẫn với nhau thì việc xem xét nội dung kháng nghịđược tiến hành đồng thời theo quy định của pháp luật
Phạm vi kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát không bị giới hạn, Việnkiểm sát có quyền kháng nghị toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định củaTòa án cấp sơ thẩm: về tăng nặng hay giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về mứcbồi thường thiệt hại, về áp dụng BLHS…
2.3 Thủ tục kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm
2.3.1 Thủ tục kháng cáo phúc thẩm
Pháp luật TTHS Việt Nam không chỉ quy định cho bị cáo và những ngườitham gia tố tụng quyền kháng cáo, mà quy định rõ cả thủ tục mà họ phải tiếnhành để chủ động thực hiện quyền của mình, đồng thời để Tòa án cấp phúc thẩmxác định được kháng cáo của họ có hợp lệ hay không Chỉ khi quyền kháng cáođược thực hiện đúng thủ tục luật định thì kháng cáo đó mới được coi là hợp lệ
và mới được giải quyết
Theo quy định tại khoản 1 Điều 233 BLTTHS năm 2003 thì: “Người
kháng cáo phải gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại tạm giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm về việc kháng cáo” Như
vậy, người kháng cáo có thể thực hiện việc kháng cáo của mình dưới hai hìnhthức: bằng văn bản (đơn kháng cáo) hoặc trực tiếp trình bày với Tòa án đã xét
xử sơ thẩm Quy định như vậy nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp củanhững người tham gia tố tụng Bởi trên thực tế, do trình độ dân trí của nước tacòn thấp nên vẫn còn một bộ phận người dân chưa biết chữ, họ không thể tự
Trang 24mình viết đơn kháng cáo Vì vậy, nếu chỉ quy định hình thức kháng cáo bằngvăn bản thì sẽ hạn chế quyền kháng cáo của những người này.
Nếu lựa chọn hình thức kháng cáo bằng văn bản thì người kháng cáo cóthể gửi đơn đến Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm Trước đây, việcnhận và xử lý đơn kháng cáo chưa được hướng dẫn cụ thể Hiện nay, theo hướngdẫn tại Mục I.3 Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP của TANDTC ngày 08/12/2005thì: nếu đơn gửi tới Tòa án cấp sơ thẩm thì sau khi nhận đơn kháng cáo, Tòa áncấp sơ thẩm vào sổ nhận đơn và kiểm tra tính hợp pháp về chủ thể, nội dung,thời hạn kháng cáo có đúng quy định pháp luật hay không Nếu đơn kháng cáohợp lệ thì tiến hành thông báo theo quy định tại Điều 236 BLTTHS và hoàn tất
hồ sơ vụ án để chuyển lên Tòa án cấp phúc thẩm cùng với đơn kháng cáo Nếuđơn kháng cáo, tài liệu,chứng cứ được gửi lên Tòa án cấp phúc thẩm thì sau khinhận đơn, Tòa án cấp phúc thẩm chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hànhcác công việc nêu trên Quy định như vậy là đúng đắn và hợp lý, bởi Tòa án cấp
sơ thẩm trên cơ sở đã xét xử sơ thẩm trước đó, nắm bắt được nội dung vụ án,chủ thể, thời hạn kháng cáo Trên cơ sở kiểm tra các yếu tố đó, nếu thấy nộidung đơn kháng cáo chưa đầy đủ thì Tòa án cấp sơ thẩm sẽ thông báo ngay chongười kháng cáo để họ bổ sung kịp thời, đảm bảo quyền kháng cáo của họ [25]
Đơn kháng cáo là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc giải quyết quyền, lợiích hợp pháp của người tham gia tố tụng Vì vậy, trong đơn kháng cáo phải ghi
rõ các nội dung như: ngày làm đơn kháng cáo, họ tên và tư cách tham gia tốtụng trong vụ án của người kháng cáo, kháng cáo về vấn đề gì trong bản án,quyết định sơ thẩm, lý do kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo
Người kháng cáo cũng có thể không viết đơn kháng cáo mà trình bày trựctiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm về việc kháng cáo Trong trường hợp này, Tòa
án phải lập biên bản về việc kháng cáo, ghi rõ ngày kháng cáo, họ tên và tư cách
tố tụng trong vụ án của người kháng cáo nội dung kháng cáo
Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam thì đơn kháng cáo được gửiqua Ban giám thị trại giam Ban giám thị trại giam phải có trách nhiệm tạo điều
Trang 25kiện thuận lợi cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo Ban giám thị trại giam phảitiếp nhận đơn kháng cáo, xác nhận ngày, tháng, năm nhận đơn, ký và đóng dấuvào đơn rồi gửi ngay cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án.
2.3.2 Thủ tục kháng nghị phúc thẩm
Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát thì tại khoản 2 Điều 233 BLTTHS
năm 2003 quy định “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp kháng nghị bằng văn bản, có nêu rõ lý do” Như vậy, đối với việc kháng
nghị của Viện kiểm sát bắt buộc phải bằng văn bản Trong kháng nghị phải ghi
rõ ngày, tháng, nội dung, lý do kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát Ngoài ra, trong quyết định kháng nghị còn phải nêu rõ các căn cứ mà Viện kiểmsát dựa vào đó để kháng nghị Tuy nhiên, trong BLTTHS hiện hành lại chưa quyđịnh cụ thể về các căn cứ kháng nghị (vi phạm như thế nào, mức độ đến đâu thì
bị kháng nghị ) Vì vậy, để nhận thức và áp dụng thống nhất vấn đề này, tạikhoản 1 Điều 33 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét
xử hình sự ngày 17/09/2007 có quy định về các căn cứ kháng nghị phúc thẩm
như sau: “Bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong các căn cứ sau:
1) Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ.
2) Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
3) Có vi phạm trong việc áp dụng BLHS.
4) Thành phần HĐXX sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm
nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng” [23].
Thực tiễn xét xử cho thấy hầu hết các bản kháng nghị phúc thẩm đều nêu
rõ lý do kháng nghị Tuy nhiên, cũng có một số kháng nghị không nêu rõ lý do
mà chỉ nêu chung chung (như: không thỏa đáng, không nghiêm minh, khôngcông bằng ) Vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra đối với kháng nghị phúcthẩm là trong quyết định kháng nghị phải thể nêu rõ và cụ thể những vi phạm
Trang 26pháp luật của bản án (quyết định) sơ thẩm về đánh giá chứng cứ, về thủ tục tốtụng hay áp dụng BLHS và trình bày quan điểm của Viện kiểm sát về việc giảiquyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
2.4 Thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Việc kháng cáo, kháng nghị phải được thực hiện trong thời gian luật định,nếu quá hạn, kháng cáo kháng nghị bị coi là không hợp lệ và không được chấpnhận (trừ trường hợp kháng cáo quá hạn có lý do chính đáng)
Luật TTHS các nước quy định rõ về thời hạn kháng cáo, kháng nghị Thờihạn này có thể mang tính ổn định như trong luật TTHS của Trung Quốc, NhậtBản Nhưng cũng có thể thay đổi trong những trường hợp khác nhau, như luậtTTHS Pháp quy định: Về nguyên tắc, thời hạn yêu cầu phúc thẩm là 10 ngày trừtrường hợp bất khả kháng, từ ngày tống đạt bản án Thời hạn yêu cầu phúc thẩm
đôi khi kéo dài, ví dụ: thời hạn kháng nghị phúc thẩm của chánh biện lý viện
công tố là 2 tháng Thời hạn yêu cầu phúc thẩm cũng có thể rất ngắn: 24 giờ đốivới bản án tuyên thả tự do cho bị cáo hoặc liên quan tới việc kiểm tra tư pháp[21, tr.214]
2.4.1 Thời hạn kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm
Theo quy định tại điều 234 BLTTHS năm 2003 thì thời hạn kháng cáo là
15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tạiphiên tòa vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bảnsao bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết Thời điểm bắt đầu tính thời
hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày được xác định Ngày được
xác định là ngày Tòa tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp Viện kiểmsát, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc là ngày bản án, quyết định đượcgiao và niêm yết trong trường hợp bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa Thờiđiểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị là thời điểm kết thúc ngày cuốicùng của thời hạn Ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ hoặc ngày lễ thìthời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày
Trang 27nghỉ đó Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc 24 giờ củangày đó [16].
Ngày kháng cáo được xác định là ngày chủ thể thực hiện việc kháng cáo
Đó là ngày họ đến Tòa án nộp đơn kháng cáo hoặc kháng cáo bằng miệng Việcxác định kháng cáo có đúng thời hạn luật định hay không căn cứ vào ngày tuyên
án, ngày giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án, ngày người kháng cáo đến Tòa
án nộp đơn kháng cáo hoặc ngày Tòa án lập biên bản về việc người kháng cáotrực tiếp trình bày Trong trường hợp đơn kháng cáo được gửi đến qua đườngbưu điện, thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóngdấu ở phong bì Nếu đơn kháng cáo được gửi qua Ban giám thị trại giam, thìngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày Ban giám thị trại giam nhận đượcđơn Nếu Ban giám thị trại tạm giam không ghi ngày nhận đơn thì Tòa án yêucầu Ban giám thị xác nhận vào đơn đó để xác định ngày kháng cáo
* Kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm
“ Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm
có thể bị kháng cáo trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định” (khoản 2 Điều 239 BLTTHS năm 2003) Như vậy,
những người có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 231 chỉ có quyền khángcáo đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.Thời hạn kháng cáo đối với các quyết định này là bảy ngày, kể từ ngày người cóquyền kháng cáo nhận được quyết định
Khoản 1 Điều 235 BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể những
trường hợp kháng cáo quá hạn nào được coi là “có lý do chính đáng” Tuy nhiên, tại Mục I.5.1 Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn: “lý do chính
Trang 28đáng” là những trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà
người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật
định, ví dụ: do thiên tai, lũ lụt, ốm đau tai nạn phải nằm viện Ngay sau khi
những cản trở đã được khắc phục, người có quyền kháng cáo phải làm đơnkháng cáo ngay, trong đơn phải nêu rõ lý do kháng cáo quá hạn và gửi cho Tòa
án đã xét xử sơ thẩm Để được Tòa án chấp nhận, người kháng cáo phải cungcấp đầy đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh cho những lý do chính đáng của mình
Ví dụ: giấy chứng nhận của bệnh viện trong thời gian nằm viện, những bằng
chứng về thiên tai lũ lụt
Khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm có tráchnhiệm phải xác minh lý do kháng cáo quá hạn và gửi đơn kháng cáo quá hạn,biên bản và tài liệu xác minh lý do kháng cáo quá hạn cùng hồ sơ vụ án để Tòa
án cấp phúc thẩm xem xét
Đối với người bị xử tử hình, nếu hết thời hạn kháng cáo mà không nhậnđược đơn kháng cáo, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải xác minh xem họ có khángcáo hay không Biên bản xác minh phải có chữ ký của cán bộ Tòa án, cán bộ trạigiam và người bị xử phạt tử hình Nếu kết quả xác minh cho thấy bị cáo có làmđơn kháng cáo nhưng bị thất lạc, thì trong biên bản cần ghi rõ nội dung khángcáo và phải gửi ngay cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm [13, tr 643]
Việc xét lý do kháng cáo quá hạn phải được tiến hành trước khi mở phiêntòa phúc thẩm, không phụ thuộc vào việc ngoài bị cáo, đương sự kháng cáo quáhạn, trong vụ án còn có đương sự khác kháng cáo trong thời hạn luật định Phápluật quy định trách nhiệm của Tòa án cấp dưới khi nhận được kháng cáo quá hạnphải gửi ngay kháng cáo này cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩmkiểm tra nhằm xác định có hay không kháng cáo quá hạn trước khi mở phiêntòa, thậm chí ngay trước khi khai mạc phiên tòa mà Tòa án cấp phúc thẩm mớinhận được kháng cáo quá hạn thì HĐXX phúc thẩm phải mở phiên họp xétkháng cáo quá hạn đó [25]
Trang 29Việc xét kháng cáo quá hạn không phải mở phiên tòa Khác với BLTTHSnăm 1988, Điều 235 BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể thủ tục xét kháng cáo
quá hạn “Tòa án cấp phúc thẩm phải thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán
để xét lý do kháng cáo quá hạn và ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn Viện kiểm sát cấp phúc thẩm được thông báo để tham gia xét việc kháng cáo quá hạn và thư ký ghi biên bản phiên họp” Quy
định này đã khắc phục được tình trạng tùy tiện, không thống nhất về thủ tục xétkháng cáo quá hạn giữa các Tòa án cấp phúc thẩm do BLTTHS năm 1988không quy định cụ thể
Nếu kháng cáo quá hạn được chấp nhận, thì Tòa án cấp phúc thẩm mởphiên tòa để giải quyết nội dung kháng cáo theo quy định tại Chương XXIVBLTTHS Nếu kháng cáo quá hạn không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận,thì bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm raquyết định không chấp nhận kháng cáo quá hạn
2.4.2 Thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 234 BLTTHS năm 2003 thì: Thời hạnkháng nghị theo trình tự phúc thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, củaViện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án Cách tính thờihạn kháng nghị tương tự như cách tính thời hạn kháng cáo Nếu thời điểm tínhthời hạn của kháng cáo là căn cứ vào việc người có quyền kháng cáo biết đượcquyền của mình từ lúc nào, thì kháng nghị phúc thẩm, pháp luật quy định chỉtính từ thời điểm ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định, hết thời hạn trênViện kiểm sát đương nhiên không còn quyền kháng nghị phúc thẩm Luật khôngquy định về kháng nghị quá hạn, trong mọi trường hợp việc vi phạm thời hạncủa Viện kiểm sát bị coi là không hợp pháp
2.5 Thông báo kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Theo quy định tại Điều 236 BLTTHS năm 2003 thì khi nhận được khángcáo, kháng nghị, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho bằng văn bản cho Viện
Trang 30kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng trong thời hạn bảy ngày, kể
từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị
BLTTHS quy định về việc thông báo kháng cáo, kháng nghị không chỉ đểViện kiểm sát và những người tham gia tố tụng biết về nội dung kháng cáo,kháng nghị, tiến trình giải quyết vụ án mà còn nhằm mục đích để Viện kiểmsát và những người tham gia tố tụng có thời gian chuẩn bị cho việc tham giaphiên tòa phúc thẩm Qua đó, họ sẽ chuẩn bị cho việc tham gia và bảo vệ quyềnlợi của mình tại phiên tòa, cung cấp thêm những chứng cứ, tài liệu mới Đối với
bị cáo, việc thông báo còn đảm bảo cho họ có điều kiện thực hiện tốt quyền bàochữa tại phiên tòa phúc thẩm
Sau khi nhận được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị, Viện kiểm
sát và những người tham gia tố tụng “có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình
về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm ” (khoản 2 Điều
236 BLTTHS năm 2003) Ý kiến của họ và các chứng cứ, tài liệu này được đưa
ra xem xét tại phiên tòa phúc thẩm và lưu trong hồ sơ vụ án
BLTTHS năm 1988 đã có quy định về việc thông báo kháng cáo, khángnghị nhưng chưa quy định thời hạn để Tòa án cấp sơ thẩm gửi thông báo khángcáo, kháng nghị đến các chủ thể Trên cơ sở kế thừa và bổ sung nhằm hoàn thiện
hệ thống pháp luật, BLTTHS năm 2003 đã quy định thời hạn thông báo cho các
chủ thể là “bảy ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị” Quy định
này nhằm xác định rõ giới hạn phải thực hiện các hoạt động tố tụng nên có ýnghĩa rất tích cực, đảm bảo việc thực hiện các hoạt động tố tụng đúng thời hạn,đảm bảo các quyết định xử lý vụ án theo đúng thẩm quyền và kịp thời
Ngoài ra, BLTTHS năm 2003 cũng có quy định cụ thể khi có kháng cáo,
kháng nghị thì Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm phải thông báo bằng “văn
bản” cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng khác Tòa án
cấp sơ thẩm gửi bản thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị theo mẫu doTAND ban hành, trong đó cần ghi rõ nội dung kháng cáo, kháng nghị
Trang 31Trong trường hợp kháng cáo gửi trực tiếp cho Tòa án cấp phúc thẩm, thìTòa án cấp phúc thẩm phải thông báo nội dung kháng cáo cho Tòa án cấp sơthẩm để làm thủ tục thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị cho Viện kiểm sát
và những người tham gia tố tụng có liên quan đến việc kháng cáo [13, tr 645]
Về trách nhiệm thông báo kháng nghị thì “trong trường hợp Viện kiểm sát
kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm mà đã gửi kháng nghị cho bị cáo và đương sự có liên quan đến kháng nghị, thì Tòa án cấp sơ thẩm không phải gửi thông báo cho họ Nếu Viện kiểm sát chỉ gửi kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm, thì Tòa án cấp sơ thẩm thông báo việc kháng nghị cho bị cáo và đương sự bằng văn bản” (mục 6.3 Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP).
Việc thông báo kháng cáo, kháng nghị có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền
và lợi ích của những người tham gia tố tụng nên pháp luật tố tụng nước ta quyđịnh cụ thể trách nhiệm của Tòa án sơ thẩm trong việc thông báo kháng cáo,kháng nghị là đúng đắn Tòa án cấp sơ thẩm là nơi đã ra bản án, quyết định sơthẩm và cũng là nơi nhận đơn kháng cáo, kháng nghị và làm thủ tục để chuyển
hồ sơ lên Tòa án cấp phúc thẩm, nên việc thông báo kháng cáo, kháng nghịthuận tiện và đảm bảo tính chính xác
2.6 Hậu quả của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị, toàn bộ bản án của Tòa án cấp sơthẩm chưa có hiệu lực pháp luật Khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà cóđơn kháng cáo, kháng nghị thì những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghịchưa được đưa ra thi hành Trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255BLTTHS năm 2003, thì dù bản án hoặc một phần bản án chưa có hiệu lực phápluật vẫn được thi hành ngay sau khi tuyên án sơ thẩm Đó là trường hợp bị cáođang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kếttội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải
là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằnghoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định được thi hànhngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị
Trang 32Sau khi nhận được kháng cáo, kháng nghị đối với bản án sơ thẩm, Tòa áncấp sơ thẩm phải gửi toàn bộ hồ sơ vụ án cùng với đơn kháng cáo hoặc khángnghị cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết thời hạnkháng cáo, kháng nghị để Tòa án cấp phúc thẩm chuẩn bị cho việc xét xử phúcthẩm Trong trường hợp kháng cáo quá hạn, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải xácminh lý do kháng cáo quá hạn và gửi hồ sơ vụ án cùng đơn kháng cáo quá hạncho Tòa án cấp phúc thẩm xem xét
2.7 Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
2.7.1 Bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Khoản 1 Điều 238 BLTTHS năm 2003 quy định: “Trước khi bắt đầu hoặc
tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của
bị cáo” Như vậy, sau khi thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị người đã
kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo
của mình trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, nhưng “không được
làm xấu hơn tình trạng của bị cáo”.
Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 hướng dẫn cụ thể như
sau: “Trong trường hợp vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị quy định tại
Điều 234 của Bộ luật TTHS thì người đã kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, kháng nghị đối với phần hoặc toàn bộ bản án mà mình có quyền kháng cáo, kháng nghị theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo” Bởi vì, khi đó quyền kháng cáo của các chủ
thể vẫn còn, việc bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị như là lần đầu nên
không đặt ra vấn đề giới hạn, bổ sung Như vậy, nguyên tắc “không làm xấu hơn
tình trạng của bị cáo” chỉ được áp dụng trong trường hợp kháng cáo quá hạn.
Trong trường hợp còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì họ hoàn toàn có quyền
bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị của mình mà không bị hạn chế bởi bất
kỳ nguyên tắc nào Thời điểm “trước khi bắt đầu phiên tòa phúc thẩm” được