LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Với một nước đang phát triển như Việt Nam thì ngân hàng là nguồn tài chính bên ngoài cực kỳ quan trọng đối với doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại (NHTM) đã đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân như cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế quốc dân, tăng trưởng đầu tư, thúc đẩy tốc độ chu chuyển thanh toán, chu chuyển vốn với vai trò là trung tâm thanh toán của nền kinh tế, góp phần tham gia thực hiện chính sách tiền tệ của nhà nước. Như vậy, một ngân hàng yếu kém trong hoạt động, thường xuyên gặp rủi ro sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó, mà còn tạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyền cho các đơn vị khác và ngược lại. Rõ ràng, khả năng chống đỡ của ngân hàng càng cao, khả năng hỗ trợ cho khu vực doanh nghiệp sẽ càng lớn. Thời gian tới, khi hàng loạt các ngân hàng ngoại sẽ ồ ạt đổ bộ vào Việt Nam, chắc chắn những đòi hỏi về công tác quản trị rủi ro của ngân hàng sẽ càng gay gắt hơn. Năm 2008 vừa qua, chúng ta chứng kiến vụ phá sản ngân hàng thương mại lớn nhất lịch sử nước Mỹ, ngân hàng Washington Mutual (WaMu). Có lịch sử 119 năm, tài sản lên tới 307 tỷ USD và 2.300 chi nhánh tại 15 bang. Tại sao chúng ta lại nhắc tới vụ việc này, bởi vì sở dĩ WaMu lâm vào tình trạng bi đát như hiện nay là do tình trạng thua lỗ nặng nề ở danh mục cho vay cầm cố địa ốc và sự tháo chạy của các khách hàng gửi tiết kiệm 35. Như vậy để chứng minh rằng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất cao dù đó là một ngân hàng tầm cỡ. Đây là bài học cho các ngân hàng ở những nước khác trên thế giới, trong đó có các ngân hàng Việt Nam, khi xem xét, cho vay đối với khách hàng. Các NHTM là các doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt động của các ngân hàng cũng có những “đặc thù” khác với các công ty đó là: độ rủi ro lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạt động là rất cao và rất dễ dẫn đến phá sản; chịu sự quản lý chặt chẽ với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu đổ vỡ có thể gây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng. Vì thế, bản thân các ngân hàng cũng phải đưa ra các quy định rất cụ thể, rõ ràng như các hạn chế về hoạt động (sản phẩm, chi nhánh), yêu cầu về đảm bảo an toàn (phân loại tín dụng, dự trữ bắt buộc…). Một trong những rủi ro xảy đến với ngân hàng thương mại đó là rủi ro pháp lý. Những rủi ro pháp lý thường xuyên xảy ra như rủi ro pháp lý từ hợp đồng tín dụng từ chính sách vĩ mô của nhà nước hay từ chính sách vi mô của ngân hàng thương mại. Rủi ro pháp lý này đã gây ra nhiều thiệt hại, có những thiệt hại vật chất có thể đo đếm được, có những thiệt hại vật chất không đo đếm được mà trong trường hợp này là đã ảnh hưởng đến khả năng thâm nhập thị trường. Bên cạnh đó là những mất mát phi vật chất rất lớn như ảnh hưởng đến thương hiệu, uy tín, khả năng cạnh tranh thị trường. Chính từ những thiệt hại mà rủi ro pháp lý gây ra nên việc nghiên cứu để hiểu rõ vấn đề này từ đó có những biện pháp phòng chống mang tính khả thi tránh được những thiệt hại cho ngân hàng thương mại là rất cần thiết. Từ nhận thức như trên, em mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Những rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại và các biện pháp phòng chống” làm chủ đề nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với một nước đang phát triển như Việt Nam thì ngân hàng là nguồn tàichính bên ngoài cực kỳ quan trọng đối với doanh nghiệp Ngân hàng thươngmại (NHTM) đã đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dânnhư cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế quốc dân, tăng trưởng đầu
tư, thúc đẩy tốc độ chu chuyển thanh toán, chu chuyển vốn với vai trò là trungtâm thanh toán của nền kinh tế, góp phần tham gia thực hiện chính sách tiền tệcủa nhà nước Như vậy, một ngân hàng yếu kém trong hoạt động, thườngxuyên gặp rủi ro sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó, mà còntạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyền cho các đơn vị khác vàngược lại Rõ ràng, khả năng chống đỡ của ngân hàng càng cao, khả năng hỗtrợ cho khu vực doanh nghiệp sẽ càng lớn Thời gian tới, khi hàng loạt cácngân hàng ngoại sẽ ồ ạt "đổ bộ" vào Việt Nam, chắc chắn những đòi hỏi vềcông tác quản trị rủi ro của ngân hàng sẽ càng gay gắt hơn
Năm 2008 vừa qua, chúng ta chứng kiến vụ phá sản ngân hàng thương
mại lớn nhất lịch sử nước Mỹ, ngân hàng Washington Mutual (WaMu) Có
lịch sử 119 năm, tài sản lên tới 307 tỷ USD và 2.300 chi nhánh tại 15 bang.Tại sao chúng ta lại nhắc tới vụ việc này, bởi vì sở dĩ WaMu lâm vào tìnhtrạng bi đát như hiện nay là do tình trạng thua lỗ nặng nề ở danh mục cho vaycầm cố địa ốc và sự tháo chạy của các khách hàng gửi tiết kiệm [35] Như vậy
để chứng minh rằng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại luôn tiềm
ẩn nguy cơ rủi ro rất cao dù đó là một ngân hàng tầm cỡ Đây là bài học chocác ngân hàng ở những nước khác trên thế giới, trong đó có các ngân hàngViệt Nam, khi xem xét, cho vay đối với khách hàng Các NHTM là các doanhnghiệp đặc biệt nên hoạt động của các ngân hàng cũng có những “đặc thù”khác với các công ty đó là: độ rủi ro lớn, nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi rotrong hoạt động là rất cao và rất dễ dẫn đến phá sản; chịu sự quản lý chặt chẽ
Trang 2với nhiều quy định khắt khe và chi tiết do tầm quan trọng trong hệ thống, nếu
đổ vỡ có thể gây ra tổn thất lớn và trên phạm vi rộng Vì thế, bản thân cácngân hàng cũng phải đưa ra các quy định rất cụ thể, rõ ràng như các hạn chế
về hoạt động (sản phẩm, chi nhánh), yêu cầu về đảm bảo an toàn (phân loạitín dụng, dự trữ bắt buộc…)
Một trong những rủi ro xảy đến với ngân hàng thương mại đó là rủi ropháp lý Những rủi ro pháp lý thường xuyên xảy ra như rủi ro pháp lý từ hợpđồng tín dụng từ chính sách vĩ mô của nhà nước hay từ chính sách vi mô củangân hàng thương mại Rủi ro pháp lý này đã gây ra nhiều thiệt hại, có nhữngthiệt hại vật chất có thể đo đếm được, có những thiệt hại vật chất không đođếm được mà trong trường hợp này là đã ảnh hưởng đến khả năng thâm nhậpthị trường Bên cạnh đó là những mất mát phi vật chất rất lớn như ảnh hưởngđến thương hiệu, uy tín, khả năng cạnh tranh thị trường Chính từ những thiệthại mà rủi ro pháp lý gây ra nên việc nghiên cứu để hiểu rõ vấn đề này từ đó
có những biện pháp phòng chống mang tính khả thi tránh được những thiệthại cho ngân hàng thương mại là rất cần thiết
Từ nhận thức như trên, em mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Những rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại và các biện pháp phòng chống” làm chủ đề nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nhằm nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, đầy đủ, có
hệ thống về lý luận và thực tiễn của rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vaycủa NHTM Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phòng chống các rủi ro nàyđối với hoạt động cho vay của NHTM
Để đạt mục đích trên, khóa luận tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đềsau đây:
- Nghiên cứu đặc điểm của rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay của
NHTM và các nguyên nhân dẫn đến rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay
Trang 3của NHTM.
- Thực tiễn các rủi ro pháp lý xảy ra trên thực tế trong hoạt động cho
vay của NHTM và một số kiến nghị nhằm đưa ra các cách phòng tránh tronghoạt động cho vay của NHTM
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử Mác-xit, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm củaĐảng và Nhà nước ta về rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay của NHTM
Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài
bao gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so
sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê và khảo sát thực tiễn
4 Cơ cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Khóaluận được thiết kế gồm 2 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về rủi ro pháp lý trong hoạt động cho
vay của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực tiễn rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay của ngân
hàng thương mại và các biện pháp phòng chống
Trang 4CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 BẢN CHẤT CỦA RỦI RO PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG CHOVAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm rủi ro và rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Khái niệm rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM
Rủi ro được hiểu là những nguy cơ tiềm tàng có thể dẫn đến thiệt hại vềvật chất hoặc tinh thần Một trong đặc tính của rủi ro là tính khó xác định (cóthể xảy ra hoặc không xảy ra, xảy ra lúc nào, thiệt hại ở mức độ nào?) Do vậytrong hoạt động của con người cần tìm ra những biện pháp để hạn chế thấpnhất rủi ro hoặc khi xảy ra có thể hạn chế tối đa những thiệt hại [9]
Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, hoạt động từ lĩnh vực tíndụng (bao gồm các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnhngân hàng và các hoạt động nghiệp vụ khác) là hoạt động đem lại nhiều lợinhuận nhất nhưng đồng thời cũng là hoạt động gặp nhiều rủi ro nhất Nhữngrủi ro từ hoạt động tín dụng cũng gây thiệt hại lớn cho ngân hàng, thậm chí cóthể làm phá sản ngân hàng
Rủi ro tín dụng hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những khả năng mà theo
đó NHTM không thể cho vay hoặc không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cung cấp Nói cách khác, rủi ro tín dụng là việc người vay
không thanh toán đúng hạn khoản vay cho tổ chức tín dụng theo thời hạn đãthỏa thuận với bất kỳ lý do gì
Rủi ro ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nên kinh tế
- xã hội Đối với ngân hàng, rủi ro gây tổn thất về tài sản: mất vốn khi chovay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sảnkhiến ngân hàng thua lỗ, phá sản, ảnh hưởng tới khách hàng gửi tiền cũng nhưkhách hàng vay tiền,… làm giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân
Trang 5hàng Từ đó có thể làm nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thấtnghiệp, kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trong nước, trong khuvực; Ngoài ra rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới trongđiều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay.
Khái niệm rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là hình thức cấp tín dụng phổ biến nhất của ngân hàng thươngmại trong nền kinh tế thị trường Đây là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếucho NHTM nhưng rủi ro từ hoạt động này cũng được đánh giá là cao nhất, bởichính những đặc thù mang tính bản chất của hoạt động cho vay Rủi ro xảy ratrong hoạt động cho vay của ngân hàng xuất phát từ nhiều nguyên nhân Nếulấy tiêu chí tính pháp lý để phân loại thì rủi ro sẽ bao gồm rủi ro pháp lý và rủi
ro không mang tính pháp lý
Những rủi ro tín dụng không mang tính pháp lý không phát sinh từnhững tình huống tranh chấp, không phải hứng chịu những hậu quả pháp lýbất lợi gì cho các chủ thể và dường như các chủ thể phải chấp nhận như một
sự xui xẻo Trong bài viết này chỉ nghiên cứu các rủi ro tín dụng mang tínhpháp lý, hay còn gọi là rủi ro pháp lý trong hoạt động tín dụng
Xuất phát từ khái niệm rủi ro tín dụng, có thể hiểu rủi ro pháp lý trong
hoạt động cho vay của NHTM là khả năng mà theo đó NHTM không thể cho vay hoặc không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cung cấp mà nguyên nhân xuất phát từ các quy định của pháp luật hoặc liên quan tới những hậu quả pháp lý nhất định
1.1.2 Đặc trưng của rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế đang tạo ra một môitrường cạnh tranh gay gắt, khiến cho các ngân hàng thương mại phải thậntrọng hơn trong hoạt động của mình để tránh những rủi ro pháp lý Rủi ropháp lý là rủi ro có thể có tác động xấu lên hoạt động kinh doanh, uy tín và tàichính của ngân hàng do vi phạm các quy chế và điều luật hiện hành
Trang 6Một cách khái quát, có thể hình dung các đặc trưng của rủi ro pháp lýtrong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bao gồm:
Thứ nhất, rủi ro pháp lý luôn gắn với vấn đề pháp lý Rủi ro pháp lý là
những rủi ro mang tính chất pháp lý Những rủi ro này xảy ra gắn với việckhông tuân thủ pháp luật của NHTM, của người vay hay của cơ quan phápluật trong việc thực thi pháp luật hoặc từ chính những bất cập của pháp luật
Thứ hai, rủi ro pháp lý được tạo ra từ các tình huống pháp lý Tình huống
pháp lý là những sự việc xảy ra trong thực tiễn và có liên quan đến các yếu tốpháp lý như sự vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội và có sự tranh chấpgiữa các bên Rủi ro pháp lý được tạo ra từ các tình huống pháp lý này và cầnđược giải quyết bằng các cơ chế pháp lý thích hợp
Thứ ba, rủi ro pháp lý làm phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định cho
các bên liên quan hoặc cho người thứ ba Các hậu quả pháp lý này được thểhiện ở chỗ, có làm hạn chế các quyền năng pháp lý của chủ thể pháp luật hoặclàm tăng các nghĩa vụ pháp lý của chủ thể pháp luật đối với Nhà nước hoặcđối với chủ thể khác Ví dụ: Khi khách hàng vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ đốivới ngân hàng thì bản thân họ phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi như
bị phạt vi phạm hợp đồng, bị đốc thúc trả nợ hoặc thậm chí bị khởi kiện ra tòa
và bị bắt buộc phải phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho ngân hàng Đối với những rủi ro không mang tính pháp lý, hậu quả xảy ra cũng sẽ làviệc hai bên không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình nhưng sẽkhông có hậu quả nào mang tính pháp lý xảy ra cho các bên, nghĩa là phápluật sẽ không buộc họ phải gánh chịu thêm những hậu quả pháp lý bất lợi từnhững rủi ro đó Rủi ro pháp luật liên quan những sự cố hoặc sai sót trong quátrình hoạt động kinh doanh làm thiệt hại cho khách hàng và đối tác dẫn đếnviệc ngân hàng bị khởi kiện
Thực tiễn giao dịch ngân hàng cho thấy, các hậu quả pháp lý xảy ra từcác rủi ro pháp lý có thể là việc ảnh hưởng tới tư cách pháp lý của ngân hàngthương mại, tính hiệu lực của hợp đồng tín dụng, một trong các bên vi phạmhợp đồng phải bồi thường thiệt hại hoặc bị phạt vi phạm, NHTM bị tịch thu
Trang 7giấy phép, khách hàng bị tịch thu tài sản để xử lý nợ Những hậu quả nàyđược thể hiện trong các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như
cơ quan hành chính hoặc cơ quan tư pháp – Tòa án
1.2 CÁC LOẠI RỦI RO PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAYCỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Rủi ro pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động cho vaycủa ngân hàng thương mại Vì thế, việc nghiên cứu và tìm hiểu về các loạihình rủi ro pháp lý để từ đó xây dựng các biện pháp phòng chống và kiểmsoát rủi ro pháp lý là điều cần thiết
Các phân tích dưới đây sẽ góp phần làm rõ hơn về những loại hình rủi ropháp lý phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1 Rủi ro hợp đồng
Hình thức pháp lý của hoạt động cho vay chính là hợp đồng tín dụng Về
khía cạnh học thuật, hợp đồng tín dụng được hiểu là: sự thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng thương mại (bên cho vay) với tổ chức cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó NHTM thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm [1, tr 133]
Hợp đồng tín dụng thường chứa đựng những nguy cơ rủi ro rất lớn tớiquyền lợi của bên cho vay (ngân hàng thương mại) bởi theo cam kết tronghợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thờihạn nhất định Nếu thời gian cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro, bất trắc cànglớn Vì thế mà những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thườngxuyên xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồngkhác
Xét về mặt lý thuyết, rủi ro hợp đồng tín dụng đối với ngân hàng là rủi ro
do hợp đồng được ký kết không chặt chẽ hoặc có những điều khoản bất lợicho phía ngân hàng, hoặc nội dung hay hình thức hợp đồng không phù hợpvới pháp luật nên có thể dẫn tới nguy cơ hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu
Trang 8Ngoài ra, đôi khi các rủi ro hợp đồng có thể đến từ việc thực hiện hợpđồng của các bên, chẳng hạn như trường hợp một bên vi phạm các điều khoản
đã cam kết và gây thiệt hại cho bên kia, hoặc trường hợp các bên đơn phươnghoặc cùng thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng tín dụng trước hạn…
Các phân tích dưới đây về rủi ro pháp lý trong quá trình soạn thảo và kýkết hợp đồng cũng như rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng sẽ góp phầnlàm rõ hơn vấn đề này
Rủi ro pháp lý trong soạn thảo và ký kết hợp đồng
Ông Bill Gate, trong một lần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào Tậpđoàn Microsoft đã đặt câu hỏi: “Theo các bạn đâu là yếu tố duy trì sự ổn định
và thành công của các hoạt động kinh doanh ngày nay?” Một ứng viên tiêubiểu đã trả lời: “Đó chính là tính chặt chẽ của hợp đồng” Nhiều người khi đó
đã nghi ngờ tính nghiêm túc trong câu trả lời của ứng viên này, nhưng BillGate không nghĩ vậy Ông đã cho ứng viên này điểm tối đa và nhận anh ta vàolàm việc Điều này cho ta thấy quy trình soạn thảo và ký kết hợp đồng luônđược đề cao, hợp đồng càng chi tiết, chặt chẽ và dự liệu cả những tình huốnghiếm khi xảy ra sẽ càng thuận lợi cho việc thực hiện Đặc biệt, với NHTM khithực hiện hoạt động cho vay thì khâu này không thể xem nhẹ Nếu khâu soạnthảo và ký kết không được chú trọng thì hậu quả là khi thực hiện hợp đồng rấtkhó khăn, dễ xảy ra tranh chấp và thường bị thua khi kiện tụng
Rủi ro pháp lý trong soạn thảo và ký kết hợp đồng là khả năng mà theo
đó NHTM sẽ không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cung cấp cho khác hàng, do hợp đồng tín dụng được ký kết không chặt chẽ, không phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
Rủi ro pháp lý trong soạn thảo và ký kết hợp đồng tín dụng thường thấy
đó là người ký hợp đồng không đúng thẩm quyền, bên vay không đủ các điềukiện do luật định, hoặc có sự lừa dối ngay từ khâu này, việc thẩm định hồ sơcho vay của ngân hàng thương mại không thực hiện đúng theo quy trình màvẫn ký, soạn thảo những điều khoản trong hợp đồng không được chặt chẽ, gâykhó khăn và rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng
Trang 9Rủi ro pháp lý trong thực hiện hợp đồng
Dù đã hoàn tất các thủ tục cho vay nhưng nếu các bên không thực hiệnđúng nghĩa vụ của mình thì hợp đồng tín dụng cũng không đạt được mụcđích Thực hiện hợp đồng tín dụng là hành vi các chủ thể của hợp đồng làmcho các điều khoản cam kết trong hợp đồng trở thành hiện thực
Rủi ro pháp lý trong thực hiện hợp đồng là khả năng mà theo đó NHTM
sẽ không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cấp do người vay hay người cho vay (NHTM) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Rủi ro này cũng khá thường xuyên xảy ra, ví dụ như ngân hàng khônggiao tiền cho người vay đúng cam kết, lỏng lẻo trong khâu giám sát, ngườivay sử dụng tiền không đúng mục đích đã cam kết với ngân hàng, người vaykhông hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi đúng hạn, việc phát mại tài sản bảo đảmkhông đúng quy định của pháp luật…
Rủi ro pháp lý trong giải quyết tranh chấp hợp đồng
Tranh chấp hợp đồng tín dụng là tình trạng pháp lý của quan hệ hợpđồng tín dụng, trong đó các bên thể hiện sự xung đột bất đồng ý chí với nhau
về những quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ hợp đồng tín dụng [1,tr.160]
Thực tiễn cho thấy vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng cóảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay của ngân hàng Do đó, việc tiến hànhgiải quyết các tranh chấp này một cách nhanh chóng và đúng pháp luật sẽ bảođảm quyền lợi của các bên tham gia và ngược lại, nếu giải quyết không kịpthời, không đúng pháp luật và không thỏa đáng thì sẽ gây thiệt hại cho cácbên, trong đó có ngân hàng thương mại
Rủi ro pháp lý trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụngđược hiểu là khả năng ngân hàng không thu hồi được nguồn vốn cho vay doviệc giải quyết tranh chấp không hợp lý hoặc không đúng pháp luật Các rủi
ro này có thể liên quan đến những tổn thất về kinh tế do việc lựa chọn hình
Trang 10thức giải quyết tranh chấp và kết quả cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp
từ hợp đồng tín dụng
Ví dụ: Khi các bên lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng conđường tòa án, cơ chế này được coi là có mức chi phí cao hơn, thời gian cũnglâu hơn so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác Hoặc, khi tòa án hoặc
cơ quan giải quyết tranh chấp tuyên hợp đồng tín dụng vô hiệu, dẫn đến hậuquả các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Điều này rất bất lợi chongân hàng bởi tiền đã giao cho khách hàng, nếu khách hàng không có khảnăng trả nợ, các tài sản bảo đảm không đủ để bù cho số tiền đã cho vay thìngân hàng phải chấp nhận rủi ro
1.2.2 Rủi ro chính sách
Ngoài các rủi ro pháp lý phát sinh từ việc ký kết và thực hiện hợp đồng,hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có thể đối mặt với các rủi rophát sinh từ sự thay đổi, điều chỉnh chính sách pháp luật của Nhà nước, cũngnhư từ sự xây dựng và điều chỉnh, áp dụng chính sách mới của ngân hàngthương mại Loại rủi ro pháp lý này được gọi là rủi ro chính sách
Thực tế cho thấy, nhiều ngân hàng thương mại có kinh nghiệm lâu nămtrong thương trường và có khả năng quản lý rủi ro rất tốt bằng các nghiệp vụquản trị rủi ro trong quá trình cho vay, nhưng rốt cuộc vẫn khó tránh khỏinhững rủi ro đến từ chính sách Đó là những rủi ro trong quá trình xây dựngcác chính sách của Nhà nước, của NHTM, trong quá trình thực hiện chínhsách này và trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và NHTM.Trong nền kinh tế thị trường, chính sách vĩ mô của Nhà nước và chínhsách vi mô của ngân hàng thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chovay của NHTM Điều đó cũng có nghĩa là những hạn chế, bất cập trong cácchính sách này có thể gây ra các rủi ro pháp lý cho hoạt động cho vay củangân hàng thương mại
Đối với chính sách vĩ mô của Nhà nước, các rủi ro cho ngân hàngthương mại có thể xảy ra từ những quy định không hợp lý của Nhà nước được
Trang 11thể hiện trong các chính sách này Những quy định không hợp lý có thể khiếnkhách hàng không tiếp cận được nguồn vốn, tức là các ngân hàng cũng khôngthể cho vay được Có thể hiểu rủi ro pháp lý từ chính sách vĩ mô của nhà nước
chính là những bất cập của các quy định pháp luật hoặc mặt trái của các quy định chính sách dẫn đến khả năng ngân hàng thương mại không cho vay được hoặc không thu hồi được vốn đã cho vay.
Đối với chính sách vi mô của NHTM, đây là hệ thống các quan điểm,chủ trương, định hướng quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng và đầu tư củangân hàng phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng và những quyđịnh pháp lý hiện hành, các rủi ro cho ngân hàng có thể đến từ những quyếtsách sai lầm của những người tham gia quản trị, điều hành ngân hàng Mặtkhác, các rủi ro cũng có thể xảy ra từ các bất hợp lý trong các quy chế, quytrình nghiệp vụ cho vay của ngân hàng, dẫn đến nguy cơ thu hẹp thị trường,giảm sút doanh thu và lợi nhuận
Như vậy có thể hiểu rủi ro pháp lý trong chính sách vi mô của NHTM là khả năng NHTM không cho vay được hoặc không thu hồi được vốn đã cho vay xuất phát từ những bất hợp lý trong chính sách kinh doanh của ngân hàng thương mại.
1.3 NHỮNG NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN DẪN ĐẾN RỦI RO PHÁP
LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Những nguyên nhân khách quan dẫn đến rủi ro cho NHTM
Các nguyên nhân khách quan chủ yếu xuất phát từ phía Nhà nước vàkhách hàng của NHTM Có thể dễ dàng nhận thấy các rủi ro pháp lý đối với
Trang 12hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại bắt nguồn từ các nguyên nhânkhách quan sau đây:
Thứ nhất, do khách hàng (bao gồm người gửi tiền và người vay tiền) có
những hành vi hay động thái gây bất lợi cho ngân hàng thương mại Chẳnghạn, một mặt, khi khách hàng gửi tiền đồng loạt rút vốn khỏi ngân hàng cùngmột thời điểm thì khi đó ngân hàng có thể lâm vào hoàn cảnh khó khăn vềnguồn vốn cho vay cũng như nguồn vốn hoàn trả cho người gửi tiền Điều nàydẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán tạm thời cho ngân hàng thươngmại, đồng thời có thể dẫn đến nguy cơ mất khách hàng và thu hẹp thị trườngtín dụng của chính ngân hàng Mặt khác, khi khách hàng vay sử dụng vốn saimục đích hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả tiền vay theo hợpđồng tín dụng thì tất yếu dẫn đến rủi ro mất vốn của ngân hàng Ngoài ra, cácrủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng có thể bắt nguồn từ việc kháchhàng vay không có khả năng sử dụng vốn hiệu quả, hoặc từ khả năng quản lýkinh doanh yếu kém và tình hình tài chính thiếu minh bạch
Thứ hai, do các quy định còn hạn chế, bất cập và không hợp lý trong các
chính sách hiện hành của Nhà nước liên quan đến hoạt động cho vay của ngânhàng thương mại, cũng như những yếu kém trong quá trình thực thi chínhsách của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Có thể dễ dàng nhận thấy các rủi ro pháp lý cho ngân hàng thương mạitrong hoạt động cho vay bắt nguồn từ các chính sách của Nhà nước đối vớikhu vực kinh tế nhà nước Trong quá khứ và cả hiện tại, những ưu đãi củaNhà nước đối với khu vực kinh tế nhà nước đã từng gây ra rất nhiều rủi ro chonguồn vốn tín dụng của NHTM, do hậu quả của chính sách cho vay theo chỉđịnh của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước một thời Ngoài ra, sựyếu kém trong hoạt động điều hành của các cơ quan chính quyền cấp địaphương cũng góp phần gây ra những rủi ro pháp lý cho hoạt động cho vay củangân hàng thương mại Điều đó thể hiện ở việc các cơ quan này không hỗ trợđược nhiều cho các ngân hàng thương mại trong quá trình kê biên, xử lý tàisản bảo đảm để thu hồi nợ vay của ngân hàng thương mại
Trang 13Đặc biệt, những rủi ro đối với hoạt động cho vay của ngân hàng thươngmại còn bắt nguồn từ những yếu kém trong cơ chế thanh tra giám sát hiện naycủa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đối với hoạt động kinh doanhcủa các ngân hàng thương mại Điều đó thể hiện chỗ, mô hình tổ chức Thanhtra Ngân hàng và hệ thống pháp luật về thanh tra, giám sát ngân hàng còn bấtcập so với các thông lệ tốt và chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng(Basel), nhất là so với yêu cầu thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở rủi ro Theoquyền hạn, nhiệm vụ quản lý nhà nước, NHNN thanh tra, giám sát hoạt độngngân hàng và Bộ Tài chính thanh tra, giám sát thị trường chứng khoán, bảohiểm Tuy nhiên, sự phối hợp giữa NHNN và Bộ Tài chính còn nhiều hạn chếtrong việc thanh tra, giám sát toàn bộ thị trường tài chính Do vậy sự thiếu antoàn ở khu vực tài chính nào đó, đặc biệt là hệ thống các tổ chức tín dụng đều
có khả năng lan tỏa ra các khu vực khác của thị trường tài chính [24] Nănglực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một sốnghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theokịp Do vậy mà có những sai phạm của các NHTM không được thanh traNHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề
đã xảy ra rồi mới can thiệp Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tíndụng ở một số NHTM dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự antoàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máythanh tra phát hiện và xử lý sớm hơn
Mặt khác, Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNNhoạt động đã quá một thập niên nhưng chưa phải là cơ quan định mức tínnhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp cònđơn điệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tincủa các ngân hàng CIC chỉ có thể thu thập thông tin từ các tổ chức tín dụng,công ty tài chính, chưa thể có thông tin về quan hệ tín dụng của khách hàng
Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểmsoát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin
Trang 14tương xứng Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tíndụng trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăngnguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng kéo theo những rủi ro pháp lý giatăng
Các nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro cho ngân hàng thương mại
Các nguyên nhân này bắt nguồn từ những yếu kém trong cơ chế tổ chức
và hoạt động của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, mô hình tổ chức và quản lý kinh doanh của NHTM được thiết
kế và vận hành không hợp lý là nguyên nhân chủ quan đầu tiên ảnh hưởngđến kết quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Việc không tách bạch rõràng giữa chức năng quản trị ngân hàng với chức năng điều hành hoạt độngngân hàng của bộ máy quản lý ngân hàng thương mại tất yếu dẫn đến nhữngvướng mắc trong quá trình thực hiện cơ chế quản trị ngân hàng Điều này dẫnđến tình trạng rủi ro cho ngân hàng do chất lượng quản trị và điều hành ngânhàng bị yếu kém
Hiện nay, số lượng NHTM cổ phần khá đông đảo và đang tiếp tục tănglên, nhưng các thống kê cho thấy chủ sở hữu ngân hàng chiếm đa số là cánhân Rủi ro xuất phát từ chính đối tượng này khi họ là những nhà đầu tư trẻ,
ít kinh nghiệm, ít kiến thức chuyên ngành tài chính Đây là một thực trạngđang diễn ra, việc đầu tư của những người này thường theo tâm lý, mang tính
cờ bạc nhiều hơn và có xu hướng đầu tư ngắn hạn theo trào lưu Sự hạn chế
về kiến thức cũng với sự hạn chế trong việc nắm bắt, tìm hiểu thông tin củacác nhà đầu tư cá nhân đã tạo nên một đặc tính chung của nhà đầu tư cá nhânViệt Nam hiện nay Điều này làm tăng nguy cơ rủi ro trong hoạt động củaNHTM cổ phần trong đó có hoạt động cho vay.[25]
Thứ hai, chất lượng yếu kém về nguồn nhân lực của ngân hàng thương
mại cũng là một trong những yếu tố dẫn đến rủi ro cho NHTM Điều nàykhông chỉ liên quan đến các quyết định và cách thức thực thi quyết định củangân hàng, mà còn ảnh hưởng đến các rủi ro pháp lý cho các giao dịch đượcngân hàng xác lập với khách hàng, trong đó có quan hệ cho vay
Trang 15Rủi ro pháp lý sẽ gia tăng và trở nên phức tạp hơn nếu những cán bộ cótrách nhiệm của ngân hàng vừa yếu kém về chuyên môn, vừa thiếu đạo đứcnghề nghiệp Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng mộtcán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguyhiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng Với các chiêu thường thấy nhưcùng khách hàng làm giả hồ sơ vay vốn hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cốlên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng… Một thực tế là cán bộ pháp
lý ít có cơ hội tham gia vào các phiên tòa xét xử các vụ việc mà ngân hàng làđương sự Họ cũng ít có dịp tiếp xúc, làm việc với khách hàng mà chủ yếu lấythông tin qua cán bộ tín dụng Việc tham gia phiên tòa là rất quan trọng vìngoài việc nâng cao kỹ năng tranh luận thì những lập luận, phán quyết của tòa
án thường mang tính “chuẩn”, “mẫu” cao có thể giúp ích cho cán bộ pháp lýkhi giải quyết các tình huống tương tự để tránh những rủi ro cho ngân hàng.Vấn đề tưởng chừng như đơn giản nhưng lại rất quan trọng nữa đó làthiếu vốn kiến thức ngoại ngữ Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng nhưhiện nay thì khách hàng của ngân hàng là người nước ngoài rất nhiều Tuynhiên cán bộ pháp lý nói riêng và cán bộ ngân hàng nói chung rất hạn chế vềtrình độ ngoại ngữ Họ không thể trực tiếp làm việc, đàm phán với kháchhàng mà phải nhờ người phiên dịch Điều này làm giảm bớt tính tự chủ vàhiệu quả trong công việc đồng thời tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro
Thứ ba, những điểm bất hợp lý trong quy trình hoạt động nghiệp vụ của
ngân hàng cũng là một trong số các nguyên nhân chủ quan dẫn đến những rủi
ro pháp lý cho ngân hàng trong hoạt động cho vay Ví dụ điển hình là việc cácngân hàng chưa coi trọng công tác quản trị rủi ro trên cơ sở phân tích tín dụngđối với khách hàng trong quy trình nghiệp vụ cho vay mà chủ yếu cho vaydựa vào tài sản bảo đảm Mặt khác, sự lơ là trong kiểm tra, giám sát việc sửdụng vốn vay và bỏ qua các thủ tục cần thiết trong thẩm định hồ sơ tín dụngcũng là căn nguyên dẫn đến các rủi ro cho NHTM
Trang 161.3.2 Nguyên tắc xử lý rủi ro pháp lý trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Để xử lý rủi ro trong hoạt động cho vay một cách hiệu quả, cần quántriệt các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, việc xử lý rủi ro phải bắt đầu từ việc xác định chính xác, đầy đủ
các nguyên nhân dẫn đến rủi ro
Không một rủi ro nào mà không có nguyên nhân, do vậy điều quan trọngnhất và đầu tiên phải làm khi gặp rủi ro là tìm hiểu nguyên nhân của nó Tìmhiểu chính xác, đầy đủ các nguyên nhân dẫn đến rủi ro sẽ giúp tìm ra các biệnpháp thích hợp và triệt để xử lý rủi ro, đồng thời đề phòng những rủi ro lặplại Nếu không tìm được nguyên nhân chính gây rủi ro mà chỉ xử lý nhất thờithì rủi ro đó sẽ tiếp diễn, gây thiệt hại thậm chí còn biến đổi nặng nề hơn càngkhó khăn trong việc xử lý
Hai là, việc xử lý rủi ro phải được tiến hành triệt để trên cơ sở áp dụng
đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau
Tìm được nguyên là một điều kiện thuận lợi cho việc tìm ra các biệnpháp khắc phục, nhưng chỉ tìm được nguyên nhân mà không sử dụng biệnpháp xử lý cho phù hợp thì hiệu quả khắc phục không cao thậm chí là gây tổnthất lớn Thường thì rủi ro có nhiều nguyên nhân, do đó việc xử lý mộtnguyên nhân thôi chưa đủ mà cần xử lý tất cả một cách triệt để Các biện phápkhắc phục cũng phải phối hợp nhịp nhàng đồng bộ, căn cứ vào tính chất, mức
độ của rủi ro để áp dụng các biện pháp cho phù hợp
Ba là, việc xử lý rủi ro phải ưu tiên các biện pháp phòng ngừa rủi ro hơn
là các biện pháp chống đỡ, khắc phục hậu quả rủi ro
Một khi rủi ro xảy ra, thiệt hại là điều khó tránh khỏi, may mắn thì có thểkhắc phục tương đối các thiệt hại đó nhưng thời gian và công sức bỏ ra đểkhắc phục hậu quả thì không thể lấy lại Chưa kể nhiều thiệt hại không thểkhôi phục như ban đầu thậm chí để lại hậu quả rất lâu về sau
Phải khẳng định rằng rất ít doanh nghiệp sẽ phủ nhận thực tế việc có mặt
Trang 17tại toà án luôn phức tạp và tốn kém chi phí, không chỉ về mặt các chi phí pháp
lý liên quan mà còn bao hàm các nội dung phán quyết của toà án dẫn tới cácchi phí khác phát sinh Sẽ là cần thiết để tránh các thiệt hại, thời gian, côngsức thậm chí ảnh hưởng tới uy tín do những rủi ro xảy ra, việc phòng ngừaphải được đề cao
Trang 18CHƯƠNG II THỰC TIỄN RỦI RO PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
2.1 THỰC TIỄN RỦI RO PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAYCỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1.1 Đối với các rủi ro hợp đồng
Như đã nói ở trên, hợp đồng tín dụng là hình thức pháp lý của quan hệcho vay giữa NHTM và khách hàng vay, đồng thời cũng là luật đối với cácbên cam kết Qua khảo sát thực tiễn cho thấy, các rủi ro pháp lý đối với ngânhàng trong hợp đồng tín dụng là rất phổ biến và phát sinh dưới nhiều hìnhthức khác nhau Cụ thể là:
Thứ nhất, rủi ro pháp lý từ thỏa thuận bảo đảm tiền vay.
Biện pháp bảo đảm tiền vay là một biện pháp nhằm khắc phục những rủi
ro có thể xảy ra trong hợp đồng tín dụng, nó có thể là một điều khoản của hợpđồng tín dụng hoặc được tách ra thành một hợp đồng phụ Các biện pháp bảođảm thông dụng nhất thường được ngân hàng chấp nhận hiện nay, đó là bảođảm bằng tài sản gồm cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh bằng tài sản của ngườithứ ba Ngoài ra, có một số trường hợp ngân hàng chấp nhận hình thức bảolãnh bằng uy tín (hình thức tín chấp) của người thứ ba đối với bên vay
Đối với các biện pháp bảo đảm bằng tài sản: Rủi ro xảy ra khi NHTM
nhận tài sản bảo đảm tiền vay trong trường hợp giá trị của tài sản nhỏ hơn giátrị nghĩa vụ được bảo đảm, nhưng khách hàng vay chưa đáp ứng các điều kiệnvay không có bảo đảm bằng tài sản Bảo đảm bằng tài sản loại này, nhiềuNHTM tỏ ra thiếu nhất quán, lúng túng trong việc quyết định của mình, thểhiện một cách mơ hồ bằng cách ghi chép theo kiểu hàng hai trong tờ trìnhthẩm định và trên hợp đồng tín dụng, đại loại như “có tài sản bảo đảm +không có tài sản bảo đảm” hay “thế chấp tài sản của khách hàng vay, tài sảncủa bên thứ ba và tín chấp” Việc NHTM sử dụng đồng thời biện pháp bảođảm tiền vay bằng tài sản và biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp
Trang 19cho vay không có bảo đảm bằng tài sản trong một hợp đồng tín dụng là để chedấu hành vi cho vay vượt giá trị tài sản bảo đảm (nếu ghi cho vay có tài sảnbảo đảm) và cho vay không đáp ứng đủ các điều kiện về biện pháp bảo đảmtiền vay không có bảo đảm bằng tài sản (nếu ghi bảo đảm bằng tài sản như làmột biện pháp bổ sung đối với khoản vay) Thậm chí, có trường hợp kháchhàng vay không còn tài sản, hoặc còn nhưng giá trị tài sản bảo đảm không đápứng đầy đủ nghĩa vụ cho khoản vay mới mà NHTM vẫn cho vay, chính điềunày làm cho ngân hàng tự đưa mình vào những rủi ro Dẫn chứng là vụ củaanh Nguyễn Thanh Sơn chủ doanh nghiệp tư nhân Lâm Phát Ngày22/10/2004, anh Nguyễn Thanh Sơn đã dùng hợp đồng mua lô hàng gỗ chòtròn (hơn 3.000m3) của Chi nhánh Công ty Xuất nhập khẩu Bình Định để thếchấp tài sản vay 5 tỷ đồng của Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnhĐồng Tháp Tuy nhiên giá trị thực tế của bản hợp đồng chỉ còn phân nửa vìtrước đó Sơn đã bán hết 1.400m3 gỗ, thu trên 5,4 tỷ đồng Sau đó Sơn tiếp tụcthế chấp tài sản là bản hợp đồng mua lô hàng 2.000m3 gỗ căm xe của Công tyXuất nhập khẩu Bình Định (thực tế Sơn đã bán gần 400m3 gỗ) và hợp đồngmua bán gỗ với Công ty Cơ khí 1-5 Tiền Giang (bản hợp đồng này đã bị Sơncạo sửa làm giả) để làm đơn xin vay 7 tỷ đồng của Chi nhánh Ngân hàng Đầu
tư và phát triển tỉnh Đồng Tháp Sau khi được ngân hàng chấp nhận cho vay
và giải ngân, Sơn đã bán 2 lô gỗ thế chấp với ngân hàng, chiếm đoạt của Chinhánh Ngân hàng ĐT&PT tỉnh Đồng Tháp số tiền 12 tỷ đồng [31] Sự việclừa đảo này sẽ khó thực hiện nếu Ngân hàng tuẩn thủ đúng các quy định kiểmtra tài sản thế chấp và thẩm định năng lực kinh doanh của doanh nghiệp tưnhân Lâm Phát
Để giảm thiểu rủi ro, các NHTM hiện nay phần lớn sử dụng biện phápbảo đảm bằng tài sản Tuy nhiên, tình trạng thiên về tài sản bảo đảm, coi đây
là yếu tố quan trọng để xem xét quyết định cho vay đôi khi quá khắt khe,không những gây ra phiền phức cho khách hàng, mà còn đánh mất cơ hội đầu
tư, nhất là đối với khách hàng có quy mô hoạt động lớn đang cần vốn mởrộng sản xuất kinh doanh, khách hàng thuộc sở hữu nhà nước có lịch sử tàichính trung bình đủ điều kiện vay không có bảo đảm bằng tài sản, hoặc khách
Trang 20hàng có tài sản nhưng do giá trị tài sản bảo đảm thấp so với nhu cầu vốn thựchiện dự án đầu tư Đó là chưa kể đến bản thân các tài sản bảo đảm này cũng
ẩn chứa nhiều rủi ro như tài sản hư hỏng, khó bán, mất mát, giảm giá trị…Đặc biệt, với tài sản bảo đảm là bất động sản thì mức độ rủi ro của nóphụ thuộc nhiều vào sự biến động giá cả trên thị trường bất động sản Nếu thịtrường ổn định, tính thanh khoản cao thì độ rủi ro được hạn chế và ở mứcthấp Ngược lại, mức độ rủi ro sẽ là rất cao khi thị trường có nhiều biến độngmạnh Đối với Việt Nam, thị trường bất động sản được đánh giá là có nhiềubiến động mạnh, thất thường Điều này sẽ ảnh hưởng nhất định đến hoạt độngcủa các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, qua đógây rủi ro cho hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng bất động sản của cácNHTM
Điển hình trong vụ án Epco Minh Phụng, tuy vụ án đã xảy ra gần chụcnăm nay nhưng cho đến tận bây giờ, vụ án này vẫn đang giữ khá nhiều kỷ lục,đặc biệt về giá trị tài sản phải thi hành án, theo đó các bị cáo và các doanhnghiệp thuộc hai nhóm Epco và Minh Phụng phải bồi thường và thanh toáncác khoản nợ cho 6 Ngân hàng Thương mại: Công thương Việt Nam(Incombank), Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Thươngmại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Sài Gòn Công thươngNgân hàng; Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Nam; Ngân hàng Thươngmại cổ phần Gia Định, tổng số tiền gần 6.000 tỷ đồng và 32,6 triệu USD.[33]Việc bán tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ ngân hàng, nhiều khoản nợ này,sau gần 10 năm, các NHTM mới bù đắp được tổn thất
Trong giai đoạn 2005-2008 cũng vậy, thị trường bất động sản lúc ở trạngthái đóng băng, lúc lại ở trạng thái sốt nóng Những tháng cuối năm 2007 khicác Ngân hàng thương mại chạy đua tăng trưởng dư nợ và đều lấy thị trườngbất động sản làm mục tiêu cạnh tranh Các NHTM cho vay theo tỷ lệ rất cao(70%, thậm chí có ngân hàng cho vay đến 90%/giá trị tài sản bảo đảm) giữakhoản vay và tài sản thế chấp là bất động sản, khi giá nhà đất sụt giảm mạnh
Trang 21thì cả người vay lẫn các NHTM sẽ gặp rủi ro Đại diện ngân hàng VPbank khiđược hỏi về kế hoạch xử lý đối với các khoản vay của khách hàng khi đếnthời điểm đáo hạn nhưng khách hàng chưa có khả năng thanh toán cho biết:ngân hàng sẽ chia sẻ khó khăn với khách hàng, chấp nhận một phần rủi ro,chứ không phát mãi tài sản cầm cố của khách hàng bằng mọi giá.[36]
Đối với biện pháp bảo đảm bằng tín chấp: Khi xảy ra rủi ro không thu
hồi được nợ, hầu như bên tín chấp đều không có khả năng hoặc không muốnthực hiện việc đôn đốc trả nợ thay cho khách hàng, cái phao cứu hộ cuối cùng
là tài sản bảo đảm đối với các NHTM cũng không có Đây cũng là lý do mànhiều ngân hàng còn rụt rè đối với hình thức này
Phân tích tình hình cho vay tín chấp hiện nay có thể thấy, cho vay tínchấp chủ yếu áp dụng đối với các khoản cho vay tiêu dùng cá nhân, còn đốivới các doanh nghiệp thì việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng bằng cách sử dụnghình thức bảo đảm này vẫn là bài toán nan giải Thực tế hầu hết các doanhnghiệp khởi đầu bằng vốn tự có và vay mượn của người thân, bạn bè Việccác ngân hàng tài trợ cho các dự án khởi nghiệp thông qua cho vay tín chấpvẫn là điều “không tưởng” Thậm chí, trong cho vay cá nhân tiêu dùng hiệnnay cũng không phải thuận lợi như những gì các NHTM quảng cảo rầm rộthời gian qua Dẫn đầu thị trường trong các hạn mức tín dụng cho vay tiêudùng phải kể đến con số 1 tỷ đồng của SeABank, hay 500 triệu đồng củaLienVietBank và Eximbank Còn lại, hạn mức vay tín chấp tối đa của cácNHTM dao động từ 200-500 triệu đồng, tùy từng NHTM như OceanBank,SHB, ACB, VIB, ABBANK…, với thủ tục cho vay cũng được tạo điều kiệnnhanh chóng, tiện lợi và dễ dàng Nhanh nhất vẫn là DongABank với sảnphẩm "Vay 24 phút" đáp ứng nhu cầu cần vốn cấp tốc với lãi suất cho vay1,07%/tháng Tiếp đó, EximBank thực hiện cho vay cầm cố sổ tiết kiệm củachính ngân hàng này tối đa trong vòng 1 giờ, cấp hạn mức tiêu dùng đảm bảobằng bất động sản tối đa 2 ngày…TienPhongBank cũng cho vay thấu chi cầm
Trang 22cố sổ tiết kiệm trong khoảng 60 phút, vay thế chấp chứng khoán niêm yết tối
đa là 4 giờ, vay giấy tờ có giá khoảng 30 phút…[32]
Những quảng cáo rất hấp dẫn nhưng thực tế lại không thuận lợi như vậy.Chị Nguyễn Ngọc Anh, một người có nhu cầu vay tiêu dùng cũng như bao cánhân có nhu cầu khác, tới các NHTM để tìm hiểu về vay tiêu dùng hình thứctín chấp để thấy được việc vay vốn vẫn nằm xa tầm tay của người muốn vay.Chị Nguyễn Ngọc Anh đến SeABank (điểm giao dịch trên đường CMT8, Q.3
- TP.HCM) hỏi về thủ tục vay vốn để sửa chữa nhà Chị được nhân viên tưvấn là có cho vay tiêu dùng (hình thức tín chấp) với mức lãi suất 14%/năm.Nhưng hỏi kỹ mới biết, những hạn mức cho vay tiêu dùng tín chấp lên tới 500triệu đồng, thực tế các NH cho vay với số tiền tương đương 18 tháng lương vàvới mức lương từ 5 triệu đồng trở lên Lãi suất cho vay được NH trả lời làtheo thỏa thuận, tùy vào món vay, và tất cả đều được để ở chế độ điều chỉnh…Sau đó, nghe bên HSBC (NH Hongkong - Thượng Hải) cho vay lãi suất chỉ12%/năm, chị Anh sang tìm hiểu thì mới biết lãi suất thực không phải nhưcông bố vì HSBC cho vay theo lãi suất phẳng (tức là lãi suất sẽ tính theo dư
nợ ban đầu) Sau khi tìm hiểu rõ, chị Anh đã phải ngừng lại việc vay Vì vớithu nhập hai người gần 10 triệu, chị vay 200 triệu đồng, trả cả gốc lẫn lãi gần
6 triệu đồng/tháng trong 5 năm, chỉ còn 4 triệu, trong khi đó rất nhiều thứ phảichi tiêu Điều mà những khách hàng như chị Anh lo nhất là thất nghiệp, đau
ốm dài ngày, tai nạn… Đó là chưa kể lãi suất đang có chiều hướng tăng, vì lãisuất huy động đang tăng trở lại [32]
Xem ra hình thức cho vay tín chấp vẫn khó thực hiện trên thực tế, đểđảm bảo an toàn cho ngân hàng, lãi suất cho vay tín chấp thường cao hơnhình thức khác, tuy nhiên đối tượng cho vay tín chấp tiêu dùng thường là cánhân với những nhu cầu riêng như mua nhà, sửa chữa, xây dựng nhà cửa, mua
ô tô… cộng với những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày thì việc lãi suất cao sẽ trởthành rào cản cho họ tiếp cận với hình thức vay này
Một thực tế nữa là các điều kiện của ngân hàng đưa ra trong cho vay tín
Trang 23chấp cá nhân phải được cung cấp bằng văn bản Tuy nhiên, có trường hợpngười vay liên lạc với một ngân hàng để đề nghị được vay tín chấp nhưng hộkhẩu không thể xuất trình do đang phải nộp cho cơ quan nhà nước, chỉ có thểnộp bản photo (không có chứng thực sao y) và đã được cán bộ tín dụng chấpnhận Việc xác nhận thu nhập lại càng đơn giản Bằng mối quan hệ chưa đếnmức thân thiết thì khách hàng cũng có thể xin được xác nhận bảng lương lênđến cả chục triệu đồng với dấu đỏ hẳn hoi Khi cán bộ ngân hàng gọi điện đếncông ty để xác nhận công tác thì sẽ nhận được câu trả lời quen thuộc: “anh/chị
A vừa mới ra ngoài” Khâu xác định tính xác thực về nhân thân của kháchhàng cá nhân hầu như bỏ ngỏ, chỉ dựa trên các giấy tờ do khách hàng cungcấp Việc rút ngắn thời gian giải ngân xuống chỉ còn 8 giờ là nguyên nhân củatình trạng này Rõ ràng, việc “đơn giản hóa” các thủ tục và giấy tờ vay vốn sẽtạo điều kiện để người dân thật sự có nhu cầu được tiếp cận nguồn vốn củangân hàng dễ dàng hơn, song rủi ro của các ngân hàng là vô cùng lớn nếukhách hàng cố tình gian dối khi làm giả các giấy tờ trên.[37]
Thứ hai, rủi ro pháp lý từ thỏa thuận về bồi thường thiệt hại và phạt vi
phạm hợp đồng
Để phòng ngừa một bên vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia thìthỏa thuận về bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng là không thểthiếu trong các hợp đồng tín dụng Nhưng cách thỏa thuận thế nào để bồithường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng phát huy được tác dụng của nó thìkhông phải trường hợp nào cũng dễ, chỉ một sai sót có thể dẫn đến việc bịthiệt hại mà không được bồi thường
Trong giao dịch, các bên thường thỏa thuận trong trường hợp một bên viphạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia thì bên vi phạm phải bồi thườngthiệt hại cho bên bị vi phạm Pháp luật Việt Nam quy định giá trị bồi thườngthiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu
do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ đượchưởng nếu không có hành vi vi phạm Căn cứ để bên bị vi phạm yêu cầu bên
vi phạm bồi thường thiệt hại là: có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại
Trang 24thực tế; hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.Tuy nhiên, gần đây một số khách hàng nước đã yêu cầu đưa vào hợp đồngquy định bên Việt Nam có nghĩa vụ bồi hoàn cho bên nước ngoài tất cả cácthiệt hại phát sinh từ/hoặc liên quan hợp đồng trong trường hợp bên Việt Nam
vi phạm hợp đồng dẫn đến gây thiệt hại cho bên nước ngoài Đối chiếu vớiquy định nêu trên của pháp luật Việt Nam, thì quy định trong dự thảo hợpđồng do bên nước ngoài đưa ra là không có lợi cho bên Việt Nam Bởi vì,theo yêu cầu của khách hàng nước ngoài, bên Việt Nam phải trả cho bên nướcngoài cả những thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp liên quan đến hợpđồng Bồi hoàn những thiệt hại trực tiếp là có thể chấp nhận được vì thỏathuận này phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam Nhưng đối vớinhững thiệt hại gián tiếp, bên Việt Nam khó có thể kiểm soát được và không
có nghĩa vụ bồi hoàn cho bên nước ngoài theo quy định của pháp luật ViệtNam Hơn nữa, trong trường hợp có thiệt hại gián tiếp, bên nước ngoài có thể
có lỗi khi gây thiệt hại cho bên thứ ba Chính vì những lẽ trên, ngay từ khiđàm phán hợp đồng, bên Việt Nam cần có thái độ kiên quyết đề nghị sửa đổiđiều khoản nói trên theo hướng bên Việt Nam chỉ bồi thường cho bên nướcngoài thiệt hại trực tiếp và thực tế phát sinh từ/hoặc liên quan đến hợp đồng vìyêu cầu của bên nước ngoài trong dự thảo hợp đồng không phù hợp với quyđịnh của pháp luật Việt Nam
Về thỏa thuận sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng tín dụng: Sự kiệnbất khả kháng là một trong những sự kiện pháp lý rất quan trọng mà pháp luậtthường quy định các bên được miễn giảm trách nhiệm trong giao dịch Tuynhiên khi soạn thảo ký kết hợp đồng tín dụng, các bên không định nghĩa cụthể thế nào là sự kiện bất khả kháng thì có thể dẫn đến những tranh cãi bất tận
về khái niệm bất khả kháng Bởi vì các trường hợp bất khả kháng được phápluật quy định chỉ áp dụng với một vài trường hợp cá biệt chứ không áp dụngchung cho tất cả các giao dịch Ví dụ Bộ Luật dân sự chỉ định nghĩa sự kiệnbất khả kháng để loại trừ khỏi “ thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự (Điều 161BLDS “thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệuyêu cầu giải quyết việc dân sự”) hoặc Bộ Luật lao động định nghĩa sự kiện bất
Trang 25khả kháng để cho phép người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấmdứt hợp đồng lao động (Điều 38 Bộ Luật lao động và khoản 2 Điều 12 Nghịđịnh số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của BLLĐ về hợp đồng lao động).
Thứ ba, rủi ro pháp lý từ thỏa thuận về luật điều chỉnh hợp đồng tín
vụ của các bên tham gia hợp đồng; và cũng là cơ sở để quan tòa ra phán quyếtkhi giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên Chỉ cho đến khi có tranhchấp xảy ra hoặc bên nước ngoài không tuân thủ đúng những cam kết, thỏathuận trong hợp đồng, ngân hàng Việt Nam mới hiểu được mục đích, ý nghĩacủa việc lựa chọn luật điều chỉnh hợp đồng Lúc đó thì ngân hàng Việt Namthường mất lợi thế bảo vệ quyền lợi của mình trong vụ tranh chấp liên quanđến giao dịch thương mại do sự thiếu hiểu biết về luật nước đó
Thứ tư, rủi ro pháp lý từ thỏa thuận về cơ quan giải quyết tranh chấp và
nơi giải quyết tranh chấp
Pháp luật Việt Nam không quy định điều khoản về giải quyết tranh chấp,
là một trong những nội dung chủ yếu của hợp đồng, nhưng điều khoản nàykhá phổ biến trong các hợp đồng tín dụng quốc tế Cơ quan giải quyết tranhchấp và nơi giải quyết tranh chấp được thỏa thuận trong hợp đồng sẽ có ảnhhưởng nhất định đến quyền lợi của bên Việt Nam trong quá trình khởi kiện(nguyên đơn)
Ví dụ như hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng thương mại
Trang 26Phương Đông Việt Nam và một bên là khách hàng Singapore, các bên thỏathuận cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ/hoặc liên quan đến hợp đồng
là trung tâm trọng tài quốc tế tại Singapore nhưng điều khoản về bồi thườngthiệt hại lại thỏa thuận bên nước ngoài chỉ phải bồi thường thiệt hại cho bênViệt Nam khi bên nước ngoài có lỗi, vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho bênViệt Nam và có bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án Rõ ràng với thỏathuận này, bên Việt Nam không thể yêu cầu bên nước ngoài bồi thường thiệthại được vì để được bồi thường, bên Việt Nam phải khởi kiện bên nước ngoài
ra tòa án, trong khi các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cơ quan giải quyếttranh chấp là trung tâm trọng tài quốc tế tại Singapore Cho nên, căn cứ thỏathuận của các bên trong hợp đồng, tòa án sẽ không có cơ sở để thụ lý đơnkhởi kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bên Việt Nam (các bên chưathỏa thuận chọn tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp) Vì vậy, phần thỏathuận trong hợp đồng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên nước ngoàiđối với bên Việt Nam nói trên sẽ bị vô hiệu (hợp đồng bị vô hiệu từng phần).Mặt khác, nơi giải quyết tranh chấp cũng là nội dung mà các bên rất quan tâmkhi thương lượng và đàm phán hợp đồng Lý do ở chỗ nếu nơi giải quyếttranh chấp là nước nơi bên nước ngoài có trụ sở giao dịch hoặc nước thứ ba
có lệ thuộc về kinh tế với nước nơi bên nước ngoài được thành lập, hoạt động,thì e rằng bản án, quyết định của tòa án hoặc quyết định của trọng tài sẽkhông bảo đảm tính khách quan Hơn nữa, khi tham gia giải quyết tranh chấptại những địa điểm này, bên Việt Nam phải chịu nhiều chi phí phát sinh hơnbên nước ngoài, như: chi phí ăn ở, đi lại trong quá trình tham gia tố tụng…
Thứ năm, rủi ro pháp lý từ thỏa thuận về lãi suất
Thực tế thời gian qua cho thấy, khi giá cả thị trường tăng cao, đồng tiềnmất giá, những biến động trên thị trường thế giới tác động không tốt vào ViệtNam khiến cho NHTM có những khi phải cho vay với lãi suất cao Tuy nhiên,chính lãi suất cao làm cho khách hàng tiềm lực yếu khó vay vốn, nếu kháchhàng chấp nhận vay để tiếp tục sản xuất kinh doanh thì mức độ rủi ro lại tăngcao Đã có thời gian, NHTM cho vay một số sản phẩm tín dụng với mức lãi
Trang 27suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước ban hành bởi lãisuất cho vay tiêu dùng trong thời gian đó thường cao hơn mức trên nên cácNHTM lựa chọn việc cho vay trái với pháp luật (khoản 1 Điều 476 BLDS qui
định lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố với loại cho vay tương ứng) để có thể tồn tại trên thương trường Rủi ro xảy ra từ hai phía, nếu
NHTM lựa chọn cho vay thấp để đúng luật thì kinh doanh không hiệu quả,trong môi trường cạnh tranh mạnh thì việc làm ăn không hiệu quả có thể dẫntới NHTM bị đẩy ra khỏi cuộc chơi Ngược lại nếu cho vay với lãi suất caohơn thì lại phạm luật Ví dụ thực trạng Ngân hàng cho vay với lãi suất hơn1.031% /tháng trong suốt năm 2007
Lãi suất bất ổn còn gây rủi ro cho hoạt động cho vay trung và dài hạn.Hiện nay, NHTM thường sử dụng nguồn vốn huy động ngắn để cho vay trung
và dài hạn Đặc biệt các thỏa thuận lãi suất trong các dự án cho vay bất độngsản trung và dài hạn Theo thống kê của NHNN Việt Nam, cơ cấu cho vay bấtđộng sản trung dài hạn luôn chiếm tỷ trọng khoảng 80% tổng dư nợ cho vaybất động sản Trong những tháng đầu năm 2008, do NHNN thực hiện chínhsách thắt chặt tiền tệ, nguồn cung tiền giảm Để đảm bảo số dư huy động phục
vụ cho việc duy trì các khoản cho vay bất động sản trung dài hạn, các ngânhàng phải cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn với công cụ chủ yếu là lãisuất làm lãi suất huy động tăng liên tục.Vì các ngân hàng đã dùng nguồn vốnhuy động ngắn để cho vay trung dài hạn nên khi nguồn cung tiền giảm, cộngvới các đợt tăng lãi suất liên tiếp đã làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản
và lợi nhuận của ngân hàng Một số NHTM cổ phần phải điều chỉnh kế hoạchlợi nhuận cho năm 2008 Cho đến tháng 07/2008, đã có một số NHTM cổphần công bố điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận: ABC điều chỉnh kế hoạch từ2.800 tỷ đồng xuống 2.500 tỷ đồng; EIB điều chỉnh kế hoạch từ 1500 tỷ đồngxuống 1.300 tỷ đồng; ABB điều chỉnh kế hoạch từ 555 tỷ đồng xuống 500 tỷ
Trang 28đồng So với kế hoạch dự kiến ban đầu, lợi nhuận điều chỉnh trong năm 2008của một số ngân hàng đã giảm xuống khoảng 10% - 20%.[14]
Một thực tế rủi ro nữa đó là lãi suất cho vay không được xác định khoahọc dựa trên chi phí vốn, mức độ rủi ro và mức lợi nhuận hợp lý của ngânhàng Các ngân hàng không định giá khoản vay trên cơ sở đảm bảo lãi chovay đủ bù đắp chi phí biên của vốn, chi phí quản lý khoản vay, phần bù rủi ro
và lợi nhuận hợp lý cho ngân hàng Việc định giá khoản vay được thực hiệnmột cách cảm tính hoặc cứng nhắc dựa vào mức lãi suất thông báo áp dụngchung cho tất cả mọi khách hàng; việc lượng hoá độ rủi ro của khách hàng, dự
án vẫn rất khó khăn ở Việt Nam Khi các ngân hàng không có phần mềm vàđầy đủ thông tin để định giá Các thông số của thị trường dùng trong đo lường(như hệ số bêta, xếp hạng tín dụng…) chưa có cơ quan chuyên nghiệp để xácđịnh, ngoài kết quả thu hẹp lợi nhuận của ngân hàng còn đồng thời làm chotính rủi ro của dự án cao hơn do sự dễ dãi của ngân hàng.[ 34]
Việc trích lập dự phòng rủi ro trên cơ sở nợ quá hạn chứ không phải trênmức rủi ro tín dụng Tuy nhiên có những khoản vay mặc dù chưa tới hạnnhưng đã tiềm ẩn khả năng mất vốn rất cao, cần được dự phòng rủi ro song lạikhông được trích lập Điều khoản về lãi suất quá hạn cũng là một trong cácđiều khoản quan trọng của hợp đồng tín dụng giữa NHTM và khách hàng vay.Nếu ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và áp dụng lãi suất quá hạn khôngphù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng tín dụng có thể bị tuyên vôhiệu một phần do quy định về lãi suất quá hạn vi phạm quy định của phápluật Nhưng cũng có trường hợp như trong quý I năm 2008, lãi suất quá hạnlại thấp hơn lãi suất cho vay mới (nguyên nhân do biến động thị trường) dẫnđến người vay không trả nợ đến hạn vì e ngại ngân hàng không cho vay vàkhó có thể vay tại ngân hàng khác trong điều kiện thị trường tín dụng hầu nhưđóng băng hoặc nếu vay lại phải chịu lãi suất quá cao (lãi suất vay cũ khoảng12%/năm, lãi suất phạt quá hạn 18%/năm thấp hơn lãi suất cho vay mới