LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nước ta đang trên con đường đổi mới để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó, một yêu cầu đặt ra đối với luật pháp là phải đảm bảo quyền con người, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Điều 50 Hiến pháp 1992 quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.” Trong những năm gần đây, khi sự nghiệp đổi mới được Đảng ta khởi xướng, thì vấn đề mở rộng dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ có hiệu quả các quyền công dân và quyền con người ngày càng là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Do vậy, việc xây dựng Nhà nước vững mạnh với hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thuận lợi là mục tiêu của cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) ra đời ngày 26112003 “đã đáp ứng được yêu cầu bảo vệ XHCN, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý kiên quyết mọi hành vi phạm tội”. Các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm dân chủ, công bằng xã hội. Trong số những người tham gia tố tụng thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người có vai trò trung tâm. Vì các hoạt động và các hành vi tố tụng của các cơ quan và người tham gia tố tụng hình sự (TTHS) đều xoay quanh nhiệm vụ là chứng minh họ có tội hay không có tội. Vì vậy, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong TTHS trước hết phải nói đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một chế định quan trọng của luật TTHS, không những được thừa nhận ở Việt Nam mà còn được thừa nhận rộng rãi tại các quốc gia trên thế giới. Đây là một nội dung quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, thực tiễn những năm qua cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự tôn trọng và bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nhiều cơ quan còn coi nhẹ nguyên tắc này, thực hiện chưa thực sự nghiêm túc, có nhiều vi phạm, làm cho người dân vô tội bị kết tội oan, bị áp dụng hình phạt quá nặng. Trong khoa học pháp luật TTHS, vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống; các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền bào chữa thì chưa được xác định cụ thể, chi tiết dẫn đến việc khó thực hiện nguyên tắc trong thực tế.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trên con đường đổi mới để xây dựng một xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội Để đạt được điều
đó, một yêu cầu đặt ra đối với luật pháp là phải đảm bảo quyền con người, bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Điều 50 Hiến pháp 1992 quy
định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.”
Trong những năm gần đây, khi sự nghiệp đổi mới được Đảng ta khởixướng, thì vấn đề mở rộng dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa(XHCN), bảo vệ có hiệu quả các quyền công dân và quyền con người ngày càng
là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội Do vậy, việc xây dựng Nhà nước vữngmạnh với hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và những điều kiện kinh tế, chính trị, xãhội thuận lợi là mục tiêu của cách mạng trong giai đoạn hiện nay
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) ra đời ngày 26/11/2003 “đã đáp ứng được yêu cầu bảo vệ XHCN, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý kiên quyết mọi hành vi phạm tội” Các hoạt động của cơ quan tiến
hành tố tụng hình sự đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm dân chủ, côngbằng xã hội Trong số những người tham gia tố tụng thì người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là người có vai trò trung tâm Vì các hoạt động và các hành vi tố tụng củacác cơ quan và người tham gia tố tụng hình sự (TTHS) đều xoay quanh nhiệm
vụ là chứng minh họ có tội hay không có tội Vì vậy, việc bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của công dân trong TTHS trước hết phải nói đến việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một chế định quan trọng
Trang 2của luật TTHS, không những được thừa nhận ở Việt Nam mà còn được thừanhận rộng rãi tại các quốc gia trên thế giới Đây là một nội dung quan trọngtrong việc bảo đảm quyền con người.
Tuy nhiên, thực tiễn những năm qua cho thấy, các cơ quan tiến hành tốtụng chưa thực sự tôn trọng và bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo, nhiều cơ quan còn coi nhẹ nguyên tắc này, thực hiện chưa thực sựnghiêm túc, có nhiều vi phạm, làm cho người dân vô tội bị kết tội oan, bị ápdụng hình phạt quá nặng Trong khoa học pháp luật TTHS, vấn đề lý luận vàthực tiễn liên quan đến việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống;các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền bào chữa thì chưa được xác định cụ thể,chi tiết dẫn đến việc khó thực hiện nguyên tắc trong thực tế
2 Mục đích nghiên cứu của khóa luận
Mục đích của em khi lựa chọn đề tài này là nghiên cứu nhằm làm rõ một
số vấn đề lý luận chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo; làm rõ nội dung và sự thể hiện của nguyên tắc trongpháp luật TTHS hiện hành; nghiên cứu thực trạng thực hiện nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; tìm hiểu những hạn chế,vướng mắc và nguyên nhân của chúng, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải phápkhắc phục hạn chế, góp phần nâng cao hiệu quả, tính khả thi của nguyên tắctrong các giai đoạn tố tụng
3 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đã đề ra, em sử dụng những phương phápnghiên cứu sau: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp sosánh, phương pháp thống kê hình sự… nhằm phân tích rõ nội dung của nguyêntắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và thực tiễn thihành nguyên tắc Từ đó góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụnghình sự về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bịcáo
Trang 34 Cơ cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khoáluận được chia thành ba chương, bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữacủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Chương 3: Thực tiễn thi hành nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo và các giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tắcnày trong tố tụng hình sự
Trang 4CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN,
* Khái niệm quyền bào chữa
Trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử, Nhà nước luôn có những quyđịnh cụ thể về quyền và nghĩa vụ của công dân Những quyền đó được Nhànước bảo đảm thực hiện, đồng thời công dân cũng có nghĩa vụ phải tôn trọng vàbảo đảm quyền lợi của người khác Một trong các hình thức thực hiện quyềncông dân chính là quyền được bảo vệ mình trước cơ quan pháp luật, trong đó cóquyền bào chữa Quyền bào chữa được ghi nhận trong BLTTHS là cần thiết,giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án được khách quan và tránh đượcviệc làm oan người vô tội
Để hiểu khái niệm “quyền bào chữa”, trước hết phải hiểu khái niệm “bào chữa” là gì? Bào chữa theo nghĩa chung nhất là hành vi của một người đưa ra
các bằng chứng chứng minh cho sự không có lỗi của chính mình (tự bào chữa)hoặc của người khác (bào chữa cho người khác) [12] Quyền bào chữa là mộtchế định quan trọng trong luật TTHS và cho tới nay nó vẫn còn cần được làmsáng tỏ từ góc độ lý luận, làm tiền đề cho việc thực hiện nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa trong TTHS, một trong những điều kiện để TTHS đạt hiệu quảcao
Về khái niệm quyền bào chữa trong TTHS, hiện nay có nhiều quan điểmkhác nhau :
Trang 5Quan điểm thứ nhất cho rằng : “Quyền bào chữa thuộc về bị can, bị cáo”[2].
Quan điểm thứ hai được đề cập trong các sách báo pháp lý là quan điểm
của Luật sư, PGS.TS Phạm Hồng Hải Theo ông: “Trong TTHS, sự buộc tội đôi khi xuất hiện cả khi chưa có quyết định khởi tố bị can trong trường hợp có người bị tạm giữ và kết thúc khi TTHS kết thúc Tất nhiên, bào chữa cũng xuất hiện khi xuất hiện sự buộc tội và kết thúc khi sự buộc tội kết thúc Điều đó có nghĩa rằng trong TTHS, quyền bào chữa thuộc về các đối tượng sau: người bị tạm giữ (người bị nghi phạm tội), bị can, bị cáo, người bị kết án” Từ nhận xét
đó, ông đưa ra khái niệm tổng quát về quyền bào chữa trong TTHS như sau:
“Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự” [3, tr.29].
Quan điểm thứ ba là quan điểm trong BLTTHS năm 2003: Quyền bào
chữa thuộc về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Ngoài những quan điểm trên, trong luật TTHS của các nước trên thế giớicũng có những quan điểm rất khác nhau về chủ thể của quyền bào chữa
Trong luật TTHS một số nước thuộc hệ thống pháp luật Commomlaw:TTHS được coi là bắt đầu từ thời điểm vụ án hình sự được chuyển sang Toà án
và quyền bào chữa chỉ thuộc về bị cáo
Trong BLTTHS Liên Bang Nga, tại khoản 1 Điều 16 quy định: “Người bị tìnhnghi và bị can được bảo đảm quyền bào chữa Họ có thể tự mình bào chữa hoặcnhờ sự giúp đỡ của người bào chữa và (hoặc) người đại diện hợp pháp”.[8, tr11]
Theo BLTTHS Nhật Bản thì quyền bào chữa chỉ thuộc về người bị tìnhnghi, bị cáo Điều 30 Bộ luật này quy định: “Bị cáo hoặc người bị tình nghi cóthể lựa chọn luật sư bất cứ lúc nào” [14]
Như vậy, khái niệm về quyền bào chữa trong TTHS đã được hiểu rất khácnhau và thực tế đã được quy định khác nhau trong luật TTHS của các nước Để
Trang 6tìm hiểu rõ hơn về các quan điểm trên, trước hết chúng ta hãy đi tìm hiểu kháiniệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Người bị tạm giữ: “Là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quảtang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú vàđối với họ đã có quyết định tạm giữ” (khoản 1 Điều 48 BLTTHS năm 2003)
Bị can: “Là người bị khởi tố về hình sự”.(khoản 1 Điều 49 BLTTHS năm 2003)
Bị cáo: “Là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử” (khoản 1 Điều
50 BLTTHS năm 2003)
Bị can bị buộc tội bằng quyết định khởi tố bị can, đề nghị truy tố của cơquan điều tra (CQĐT), bản cáo trạng của Viện kiểm sát (VKS) và phải chịunhững hậu quả pháp lý nhất định như: bị áp dụng các biện pháp điều tra theoluật định, bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp cưỡng chế khác…
Bị cáo bị buộc tội bằng bản án của Tòa án và có thể phải chịu hình phạt…Người bị tạm giữ tuy chưa bị buộc tội bằng một văn bản có tính chất pháp lýnhưng đối với họ đã có quyết định tạm giữ và họ đã bị áp dụng biện pháp cưỡngchế tố tụng là tạm giữ
Từ sự phân tích ở trên, chúng tôi thấy rằng: quan điểm quy định tại Điều
11 của BLTTHS Việt Nam năm 2003 về chủ thể quyền bào chữa là hoàn toànchính xác và chúng tôi đồng ý với quan điểm này Quyền bào chữa chỉ thuộc vềnhững chủ thể: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo - những người có thể bị buộc tội,với nội dung: đưa ra những chứng cứ chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảmnhẹ tội cho mình Ngoài những chủ thể trên, những người khác không chịu sựbuộc tội thì không có quyền bào chữa; để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình, họ có thể sử dụng những quyền năng khác được pháp luật quy định vàđảm bảo thực hiện
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi đưa ra khái niệm về quyền bào
chữa trong TTHS như sau: “Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành
vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội
Trang 7của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình
BLTTHS Việt Nam năm 2003 quy định: “người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ”.
Việc pháp luật quy định bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo là một nguyên tắc trong TTHS xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyềncon người, bảo đảm tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án
Từ nhận xét nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa như sau:
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
là tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chung, được quy định trong luật TTHS, trong đó xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, đồng thời quy định các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của pháp luật.
1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
* Ý nghĩa chính trị
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo có ý nghĩa chính trị sâu sắc
Nó là một trong những nguyên tắc hiến định quan trọng được ghi nhận ởĐiều 132 Hiến pháp 1992 và được quy định cụ thể hơn tại Điều 11 BLTTHS
Trang 8Việc quy định bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáotrong BLTTHS chứng tỏ ở nước ta, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, các quyềncông dân ngày càng được tôn trọng và bảo đảm thực hiện.
Thứ hai, thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo chính là việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân
Với công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, chúng ta đã đạt đượcnhững thành quả to lớn, đặc biệt là phát huy toàn diện quyền tự do dân chủ củacông dân, bảo đảm các quyền của con người Việc Hiến pháp và các văn bảnpháp luật ghi nhận quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thànhmột nguyên tắc và quy định cơ chế bảo đảm việc thực hiện đã chứng tỏ bản chấtdân chủ của Nhà nước ta luôn lấy con người là mục tiêu, trung tâm và là độnglực cho sự phát triển của đất nước
Thứ ba, thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo là sự thể hiện rõ nét quan điểm của Đảng và Nhà nước tatrong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong sự nghiệp đổimới ở nước ta
* Ý nghĩa xã hội
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, dodân và vì dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mọi công dân đềubình đẳng trước pháp luật Một trong những quyền của công dân khi tham giaTTHS với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền bào chữa Quyềnbào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một biểu hiện của nền dân chủXHCN, góp phần bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi thamgia tố tụng; làm cho công tác điều tra, xử lý vụ án được chính xác, khách quan,toàn diện và đầy đủ Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo là nguyên tắc mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, thể hiện tính nhân đạotrong TTHS Việt Nam Pháp luật TTHS không chỉ quy định việc bảo đảm quyền
tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa mà trong một số trường hợp nhất định cơ
Trang 9quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm có sự tham gia của người bào chữa, như: bịcan, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quyđịnh trong Bộ luật hình sự; bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người cónhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
là một biểu hiện của tính dân chủ trong hoạt động TTHS Do là người có nguy
cơ bị cơ quan có thẩm quyền buộc tội nên người bị tạm giữ, bị can, bị cáothường tham gia tố tụng một cách thụ động Nguyên tắc bảo đảm quyền bàochữa đã tạo điều kiện thuận lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có cơ hộiđưa ra những chứng cứ cần thiết, lưu ý cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tìnhtiết minh oan hoặc giảm nhẹ tội cho mình theo quy định của pháp luật, có cơ hộiđược tranh tụng bình đẳng trước Toà án
Việc quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo góp phần tích cực vào việc bảo vệ pháp chế XHCN, củng cố lòngtin của quần chúng nhân dân vào hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự
* Ý nghĩa pháp lý
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáođược thực hiện trên thực tế chính là việc thực hiện chức năng cơ bản của luậtTTHS Đó cũng là biểu hiện cụ thể của yếu tố tranh tụng trong TTHS, điều màNghị Quyết 08 của Bộ chính trị ngày 02/01/2002 về công tác tư pháp đòi hỏi cầnđược thực hiện trong hoạt động tư pháp hình sự, đặc biệt là trong hoạt động xét
xử hiện nay
Việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảmtrong quá trình tố tụng không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội,đảm bảo điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Thựchiện nguyên tắc này một cách có hiệu quả sẽ hạn chế tối đa tình trạng oan saitrong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Trang 10Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, việc quy định nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa là cơ sở pháp lý đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp của cácquyết định tố tụng mà các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra Trong bất cứ giaiđoạn nào của TTHS, các cơ quan tiến hành tố tụng đều phải làm việc dựa trênnguyên tắc tôn trọng sự thật khách quan Muốn vậy thì các cơ quan này phảiđảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trìnhđiều tra, truy tố, xét xử Chứng cứ rút ra từ những lời khai của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo kết hợp với những chứng cứ khác giúp các cơ quan tiến hành tốtụng xác định họ có tội hay không có tội
1.2 Sơ lược lịch sử nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can bị cáo
1.2.1 Giai đoạn từ khi cách mạng tháng Tám thành công (năm 1945) cho đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộnghoà ra đời, nhiệm vụ của Nhà nước non trẻ lúc này là củng cố chính quyền, kịpthời ban hành pháp luật cách mạng làm vũ khí chống lại thù trong giặc ngoài,xây dựng xã hội mới Mặc dù trong những ngày đầu cách mạng mới thành công
có biết bao nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh chống cácloại tội phạm, nhưng chính quyền dân chủ nhân dân vẫn rất quan tâm tới nhiệm
vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó có quyền bàochữa trước Toà án
Ngày 13/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 33C về việcthành lập các Toà án quân sự Đoạn 4 Điều 5 sắc lệnh này quy định: “Bị cáo cóthể tự bào chữa hay nhờ người khác bênh vực cho họ”
Ngày 10/10/1945, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 46-SL quy định tổ chứccác đoàn thể luật sư Theo quy định tại Điều 2 Sắc lệnh này thì: “Các luật sư cóquyền bào chữa ở tất cả các Toà án hàng tỉnh trở lên và trước tất cả các Toà ánquân sự”
Trang 11Để khắc phục tình trạng trên, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 21ngày 14/02/1946 về tổ chức các Toà án quân sự Điều 5 của Sắc lệnh này cóđoạn viết: “Bị cáo có quyền tự bênh vực lấy hay nhờ luật sư hoặc một ngườikhác bênh vực cho”.
Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã được thông quangày 09/11/1946 Với ý nghĩa là luật cơ bản, Hiến pháp 1946 đã đề cập đếnnhiều nguyên tắc quan trọng, trong đó có nguyên tắc về quyền bào chữa của bịcáo
Đoạn 2 Điều 67 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Người bị cáo đượcquyền bào chữa lấy hoặc mượn luật sư”
Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, vấn đề bảo đảm quyền bàochữa của bị cáo được coi là nguyên tắc hiến pháp Cùng với một số nguyên tắckhác, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo đã thể hiện rõ nét bản chất
ưu việt của pháp luật cách mạng so với các kiểu pháp luật trước đây Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhận định: “Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động… Pháp luật của ta là pháp luật thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động” [1, tr.187] Những
nội dung về quyền bào chữa của bị cáo được quy định trong Hiến pháp 1946 đãthực sự là nền móng cho quá trình phát triển và hoàn thiện nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa trong luật TTHS của nước Việt Nam hiện nay
Trang 12Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miềnBắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn taysai thống trị Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII khoá II(8/1955) đã xác định: “Đường lối củng cố miền Bắc của ta là: củng cố và pháttriển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xãhội”.
Pháp luật TTHS trong thời kỳ này ở miền Bắc đã một lần nữa ghi nhậnquyền bào chữa của bị cáo Điều 101 Hiến pháp 1959 quy định: “Quyền bàochữa của người bị cáo được bảo đảm” Như vậy, so với Hiến pháp 1946, Hiếnpháp năm 1959 có tiến bộ hơn là, không chỉ quy định bị cáo có quyền bào chữa
mà còn khẳng định cả cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo Cùng với sự
ra đời của Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 15/07/1960 quy định
cụ thể hơn nữa quyền bào chữa của bị cáo là: “Quyền bào chữa của bị cáo đượcbảo đảm, ngoài việc tự bào chữa ra, bị cáo có thể nhờ luật sư bào chữa chomình Bị cáo cũng có thể nhờ một công dân được đoàn thể nhân dân giới thiệuhoặc được Toà án nhân dân (TAND) chấp nhận bào chữa cho mình Khi cầnthiết, TAND chỉ định người bào chữa cho bị cáo.”
Mặc dù tới trước khi ban hành BLTTHS năm 1988, quyền bào chữa của bịcan chưa được thừa nhận và thể chế hoá trong các văn bản pháp luật, nhưng sovới thời kỳ trước thì quyền bào chữa của bị cáo cũng có những điểm khác biệt,tiến bộ và thể hiện tính chất dân chủ hơn
Trong bản hướng dẫn trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự (kèm theo Thông
tư số 16 – TAND ngày 27/08/1974 của Toà án nhân dân tối cao) khẳng định,quyền bào chữa là quyền quan trọng nhất của bị cáo nên TAND phải bảo đảmcho họ thực hiện đầy đủ quyền đó và nghiên cứu lời bào chữa một cách kháchquan Bản hướng dẫn đã quy định ba trường hợp bắt buộc phải có sự tham giacủa người bào chữa trong giai đoạn xét xử, đó là các trường hợp sau:
+ Bị cáo có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình;
Trang 13+ Bị cáo là vị thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tâm thần(ví dụ: có bệnh động kinh hoặc trước khi phạm pháp, kẻ phạm pháp đã bị điênnhưng đã chữa khỏi…) mà phạm pháp nghiêm trọng;
+ Vụ án có tính chất quan trọng, phức tạp và có ảnh hưởng lớn trong dưluận của nhân dân
Hiến pháp 1980 và Luật tổ chức TAND năm 1981 quy định quyền bàochữa trong TTHS về căn bản giống quy định trong Hiến pháp 1959 và Luật tổchức TAND năm 1961 Trong điều kiện chưa có BLTTHS, nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa của bị cáo đã được cụ thể hoá trong một số Thông tư hướng dẫn
và bản tổng kết công tác năm của Toà án nhân dân tối cao [3, tr.95]
Tóm lại, giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi BLTTHS năm 1988 có hiệulực pháp luật là giai đoạn dân tộc ta tiến hành cuộc cách mạng thống nhất đấtnước Trong giai đoạn này, sự phát triển của chế định quyền bào chữa trongTTHS luôn luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội của đất nước.Mặc dù còn rất nhiều khó khăn nhưng chế định bào chữa vẫn tiếp tục phát triểntheo hướng dân chủ và ngày càng hoàn thiện hơn, thể hiện tính nhân đạo và dânchủ trong pháp luật TTHS của nước ta Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo đãtrở thành nguyên tắc hiến định, được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bảnpháp luật khác Tuy nhiên, những quy định về quyền bào chữa trong thời kỳ nàyvẫn còn những hạn chế, như chỉ coi quyền bào chữa là của bị cáo Do vậy việcbào chữa thường chỉ được thực hiện ở giai đoạn xét xử
1.2.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời cho đến trước năm 2003
Bộ luật TTHS đầu tiên của nước ta được Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ 3thông qua ngày 28/06/1988, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 Đây làmột bước tiến lớn trong lịch sử lập pháp TTHS ở nước ta Sự ra đời củaBLTTHS đã đánh dấu một bước phát triển mới, quan trọng trong việc từng bướchoàn thiện chế định bào chữa, nó đánh dấu sự thay đổi về chất của nguyên tắcbảo đảm quyền bào chữa Tại Điều 12 BLTTHS năm 1988, có quy định về
Trang 14nguyên tắc này như sau: “Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ.”
Như vậy, chủ thể của quyền bào chữa trong BLTTHS bây giờ không chỉthuộc về bị cáo mà còn thuộc về bị can Bộ luật TTHS cũng phân biệt rõ kháiniệm bị can, bị cáo tại Điều 34 Theo đó, “bị can là người đã bị khởi tố về hình
sự, bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử.” Đồng thời Điều 34cũng khẳng định một lần nữa bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờngười khác bào chữa cho mình
Cùng với BLTTHS, Hiến pháp năm 1992 cũng xác định: “Quyền bàochữa của bị cáo được bảo đảm.” Có thể nói lần đầu tiên, quyền bào chữa của bịcan, bị cáo được ghi nhận trong một điều luật của TTHS Việc ghi nhận đóchứng tỏ Nhà nước ta luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, bảo vệ mọiquyền lợi của nhân dân
1.2.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cải cách hànhchính, cải cách tư pháp theo đường lối của Đảng, BLTTHS năm 1988 đã bộc lộmột số mặt hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng vàchống tội phạm trong tình hình mới Bộ luật TTHS năm 2003 được Quốc hộinước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông quangày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004 nhằm giải quyếtcác yêu cầu trên, đồng thời cũng nhằm góp phần bảo đảm thực hiện đúng Bộluật hình sự năm 1999, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 1992 đã được sửađổi bổ sung năm 2001
Bộ luật TTHS năm 2003 gồm tám phần, trong đó nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa được ghi nhận tại phần thứ nhất: “Những quy định chung”.Theo quy định của BLTTHS năm 2003, chủ thể của quyền bào chữa đã được mởrộng thêm, không chỉ có bị can, bị cáo mà người bị tạm giữ cũng có quyền bàochữa Nhà nước cũng quy định trực tiếp các cơ chế bảo đảm thực hiện nguyên
Trang 15tắc đó Ngoài ra, để các quy định về việc bảo đảm quyền bào chữa của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo được thống nhất, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đãban hành Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP trong đó có hướng dẫn thi hành một
số quy định về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo
Qua nghiên cứu một số khái niệm về quyền bào chữa, lịch sử hình thành
và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật TTHS, có thểrút ra một số nhận xét :
+ Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bịcáo đã được ghi nhận trong các Điều ước quốc tế và trở thành một giá trị pháp lýđược quốc tế hoá Quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa chính là một sựtất yếu thể hiện xu thế của thời đại
+ Quyền bào chữa là một trong các chế định quan trọng không thể thiếuđược của pháp luật TTHS Việt Nam Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa đượcquy định xuất phát từ việc bảo đảm thực hiện quyền con người và những quyền
cơ bản kháccủa công dân Đồng thời, việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn giúp các cơ quan tiếnhành tố tụng xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp TTHS được tiếnhành đúng mục đích, xét xử công minh, kịp thời, không để lọt tội phạm, khônglàm oan người vô tội
+ Quyền bào chữa ở Việt Nam mang tính ổn định và tính hoàn cảnh lịch
sử Tính ổn định thể hiện: nguyên tắc bảo đảm quuyền bào chữa được ghi nhậntrong tất cả các bản Hiến pháp của nước ta Tính hoàn cảnh lịch sử thể hiện ởnhững bảo đảm pháp lý và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trongviệc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được tínhtoán, cân nhắc phù hợp với điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng giaiđoạn
Trang 161.3 Mối quan hệ giữa nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo với các nguyên tắc khác của Tố tụng hình sự
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với một loạt các nguyên tắc khác của TTHS
Trong TTHS, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa gắn liền với nguyêntắc pháp chế XHCN, được quy định ở Điều 3 BLTTHS: “Mọi hoạt động tố tụnghình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này”
Nguyên tắc pháp chế XHCN đòi hỏi các CQĐT, VKS, TAND và nhữngngười tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng phải nghiêm chỉnh chấphành các quy định của BLTTHS Nhờ đó, một mặt đảm bảo cho việc phát hiệnnhanh chóng tội phạm, mặt khác đảm bảo cho sự công bằng, đúng pháp luật, bảođảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia TTHS
Để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, bảo vệ các quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án được ghi nhận tạiĐiều 10 và nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự được ghi nhậntại Điều 13 BLTTHS Nội dung cơ bản của các nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:các cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện chức năng của mình đều phải đứngtrên quan điểm bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước khỏi bị xâmphạm, nhanh chóng phát hiện tội phạm, áp dụng hình phạt công bằng đối vớingười phạm tội Đây là một quá trình đòi hỏi hết sức thận trọng và chính xác Từđó: nếu không bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì
sự buộc tội dễ dàng chỉ là sự áp đặt thiếu dân chủ Như vậy, nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa và hai nguyên tắc trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa còn có mối liên hệ chặt chẽ vớinguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã cóhiệu lực pháp luật quy định tại Điều 9 BLTTHS: “Không ai bị coi là có tội vàphải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực phápluật.” Nguyên tắc này không cho phép kết tội bị cáo dựa trên các giả thiết, mà
Trang 17chỉ có thể được quyết định trong điều kiện hành vi phạm tội của bị cáo đã đượcchứng minh đầy đủ Do đó có thể thấy, nguyên tắc quy định tại Điều 9 BLTTHS
đã trở thành phương tiện rất hữu hiệu mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể
sử dụng khi cần thiết, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nguyên tắc này
Bảo đảm quyền bào chữa phải được thực hiện trên cơ sở bình đẳng cả vềmặt pháp lý và thực tiễn giữa các bên buộc tội và bên bào chữa trong quá trìnhtiến hành các hoạt động TTHS dưới hình thức tranh tụng Điều 19 BLTTHS thểhiện rõ nét nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án: “Kiểmsát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của
họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa
ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án.”
Có quan điểm cho rằng: tranh tụng và bình đẳng giữa các bên tranh tụngchỉ áp dụng cho giai đoạn xét xử mà không thể áp dụng cho giai đoạn điều tra,truy tố Điều này dẫn tới sự bất bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa.Thực tế cho thấy, nếu ở giai đoạn điều tra, truy tố sự bình đẳng giữa hai bênkhông được bảo đảm thì sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng ở giai đoạn xét xử và tấtyếu sẽ không có sự bình đẳng trong toàn bộ quá trình TTHS
Yếu tố tranh tụng còn được phản ánh tương đối rõ trong các quy địnhkhác của BLTTHS về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể bên buộc tội, bên bàochữa và Toà án trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bảncủa công dân Điều 4 BLTTHS quy định: “Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng,Phó thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS, Kiểmsát viên, Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vitrách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những
Trang 18biện pháp đã áp dụng, kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếuxét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa.”
Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói trên liên quan trực tiếp tới cácquyền cơ bản của công dân, nó gắn liền với quá trình tiến hành các hoạt động tốtụng của các cơ quan có thẩm quyền như: CQĐT, VKS Do đó, người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo khi thực hiện quyền bào chữa của mình chính là làm rõ nhữngcăn cứ cho rằng không cần thiết phải áp dụng hoặc áp dụng những biện phápngăn chặn theo hướng nhẹ hơn mà vẫn bảo đảm mục đích của TTHS Như vậythông qua hoạt động bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh khỏi sự thiệt hại không cần thiết trongviệc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc từ các hành vi vi phạm pháp luật củanhững người tiến hành tố tụng
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa được thực hiện trên thực tế có mốiquan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dântrước pháp luật Nguyên tắc này được ghi nhận trong điều 52 Hiến pháp 1992 vàđược cụ thể hoá trong Điều 5 và Điều 19 của BLTTHS Mọi người đều bìnhđẳng trước pháp luật và trước Tòa án thể hiện ở chỗ: mọi người đều được phápluật bảo vệ và đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi vi phạm củamình Sự bình đẳng trước pháp luật và bình đẳng trước Toà án được đánh giátrong mối tương quan giữa việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khitham gia các hoạt động TTHS, không có sự ưu đãi ai hơn ai Đối với bất kỳngười nào, dù là Điều tra viên, Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán…có hành vi viphạm pháp luật đều bị xử lý Đối với người phạm tội thì họ phải chịu tráchnhiệm hình sự dù họ là ai, ở cương vị nào, làm nghề gì Ngược lại, với nhữngngười không có hành vi trái pháp luật thì không ai có quyền xâm hại đến quyền
và lợi ích của họ
Mặt khác, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trướcpháp luật và bình đẳng trước Toà án cũng đòi hỏi ở các chủ thể tham gia TTHSthực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình
Trang 19Tóm lại có thể nói, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo là nguyên tắc cơ bản và có tầm quan trọng lớn Các nguyêntắc khác của TTHS đều có quan hệ gắn bó mật thiết với quyền bào chữa củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo; và quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo chỉ có ý nghĩa khi việc bảo đảm cho quyền đó được thực hiện đồng bộ vớiviệc thực hiện các nguyên tắc nêu trên
Trang 20Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI
BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO
2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền tự bào chữa và nhờ người bào chữa
2.1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền tự bào chữa
Tự bào chữa là một trong những hình thức thực hiện quyền bào chữa củangười bị tạm giữ, bị can, bị cáo và là nội dung quan trọng của nguyên tắc bảođảm quyền bào chữa trong TTHS Tự bào chữa có nghĩa là người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo được tự mình thực hiện các hành vi tố tụng như: đưa ra các chứng
cứ, đưa ra những yêu cầu có lợi cho mình khi tham gia tố tụng
Xuất phát từ việc bào chữa là quyền chứ không phải là nghĩa vụ, cho nênngười bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể bảo vệ mình một cách tích cực bằng cáchành vi như: đưa ra chứng cứ, yêu cầu, đề xuất đối chứng, nhận xét chứng cứ,tranh luận trước Toà án Đối với các trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụngkhông nên coi đây là biểu hiện của hành vi ngoan cố, chối tội của họ Muốn xácđịnh được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có tội hay không có tội phải dựa trên
cơ sở đánh giá những chứng phản ánh những tình tiết khách quan của vụ án
Quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện ởcác giai đoạn trong tố tụng hình sự, từ điều tra, truy tố đến xét xử
Để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể tự mình thực hiện quyền bàochữa, pháp luật TTHS quy định họ có các quyền sau:
* Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ
Ngay từ lúc bị bắt, họ được nghe đọc biên bản bắt người và có quyền ghi
ý kiến không đồng ý của mình vào biên bản và ký xác nhận Khi bị tạm giữ, họ
Trang 21được cơ quan ra lệnh tạm giữ giao bản sao quyết định tạm giữ và được giải thích
lý do
* Bị can có quyền biết mình bị khởi tố về tội gì
Bị can cần được biết tội danh họ bị khởi tố, vì chỉ khi họ biết tội danh màmình đang bị cơ quan có thẩm quyền buộc tội thì họ mới có thể đưa ra nhữngchứng cứ, lý lẽ phủ nhận việc buộc tội đó Bị can phải được giao nhận quyếtđịnh khởi tố bị can Trong quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ thời gian, địađiểm ra quyết định; họ tên, ngày tháng năm sinh, nghề nghiệp, hoàn cảnh giađình của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hìnhsự; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm Nếu bịcan bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì trong quyết định khởi tố bị can phải ghi
rõ từng tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự được áp dụng Trong trường hợp
có sự thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can cũng phải thông báo cho bị canbiết
* Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có các quyền và nghĩa vụ theo luật định
và họ phải được biết các quyền và nghĩa vụ này để có thể thực hiện Các cơ quan
có thẩm quyền khi tạm giữ người và khi giao quyết định khởi tố cho bị can phảigiải thích các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can cho họ biết Chủtoạ phiên toà phải giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong thủ tục bắt đầuphiên toà
* Người bị tạm giữ, bị can có quyền trình bày lời khai: họ có quyền trình bày những vấn đề có liên quan đến việc họ bị bắt giữ, bị truy nã, tự thú, đầu thú
Đối với bị can, trình bày lời khai là quyền chứ không phải nghĩa vụ của
họ Trong trường hợp họ từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối thì họ cũngkhông phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó Ngược lại, thái độ khai báothành khẩn của họ lại được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm pkhoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999) CQĐT cần phải tôn trọng quyền
Trang 22trình bày lời khai của bị can để có thể xác định sự thật một cách khách quan,không phiến diện, không được dùng những biện pháp trái pháp luật để buộc bịcan phải khai báo Điều này là vi phạm quyền của bị can và có thể dẫn tới sailầm trong kết quả điều tra.
* Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Đây là quyền chứ không phải là nghĩa vụ của họ Người bị tạm giữ có thểđưa ra những tài liệu, đồ vật nhằm chứng minh mình không liên quan đến vụviệc mà vì đó họ bị bắt giữ Họ cũng có quyền yêu cầu xác minh lại sự việc, yêucầu CQĐT đưa ra những bằng chứng được coi là căn cứ bắt giữ họ…Bị cancũng có quyền đưa ra những yêu cầu như: yêu cầu trưng cầu giám định, giámđịnh bổ sung hoặc giám định lại, yêu cầu điều tra bổ sung…Bị cáo có quyền đưa
ra tài liệu, đồ vật tại phiên toà Bị cáo cũng có quyền đưa ra những yêu cầu như:triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu hoãn phiên toà…
* Người bị tạm giữ có quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Để tránh những sai sót trong quá trình điều tra, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, pháp luật TTHS quy định người bị tạm giữ có quyềnkhiếu nại nếu thấy việc mình bị tạm giữ là sai trái và không có căn cứ; khiếu nạicác quyết định khác có liên quan như khám nhà, khám người, tạm giữ đồ vật, tàiliệu khi khám xét… Khiếu nại này được gửi cho các cơ quan có thẩm quyềnxem xét, giải quyết
* Bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
Việc giải quyết vụ án hình sự chỉ có thể được tiến hành một cách kháchquan khi Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư kýTòa án cũng như người giám định, người phiên dịch…công minh và vô tư Dovậy, để bảo đảm tính khách quan trong quá trình điều tra, truy tố, BLTTHS quyđịnh bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, ngườigiám định, người phiên dịch khi có căn cứ theo quy định của pháp luật
Trang 23Điều 42 BLTTHS quy định: Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiếnhành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:
1- Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp,người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo;
2- Họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, ngườigiám định, người phiên dịch trong vụ án đó;
3- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khilàm nhiệm vụ
Ngoài việc quy định chung những trường hợp phải thay đổi người tiếnhành tố tụng, BLTTHS còn quy định việc thay đổi đối với từng chức danh tiếnhành tố tụng cụ thể tại các điều khác như: Điều 44 (Thay đổi Điều tra viên),Điều 45 (Thay đổi Kiểm sát viên), Điều 46 (Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm),Điều 47 (Thay đổi Thư ký Toà án), khoản 4 Điều 60 (Thay đổi người giámđịnh), khoản 3 Điều 61 (Thay đổi người phiên dịch)
Bị can, bị cáo phải đưa ra căn cứ rõ ràng chứng tỏ việc tiến hành hoặctham gia tố tụng của những người trên có thể ảnh hưởng đến việc xác định sựthật khách quan của vụ án
* Bị can được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; các quyết định tố tụng khác theo quy định của luật TTHS
Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền tiếnhành những hành vi tố tụng tác động trực tiếp tới bị can Bị can có quyền đượcnhận các quyết định tố tụng có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.Quyết định này nhằm tạo điều kiện cho bị can có thể thực hiện tốt quyền bàochữa cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình Đồng thời quyếtđịnh này cũng đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết vụ án theođúng thủ tục pháp luật
Trang 24Mặc dù BLTTHS đã quy định cụ thể về quyền của bị can trong giai đoạnđiều tra nhưng trong thực tế vẫn còn xảy ra trường hợp bị can không được giaonhận quyết định khởi tố hoặc có được giao nhận nhưng lại không được giải thích
về quyền và nghĩa vụ Thậm chí bị can bị khởi tố, bị truy nã mà bị can vẫnkhông hay biết vẫn sinh hoạt, làm việc bình thường Đó là vụ án xảy ra tại Xínghiệp chế biến lâm sản Thanh Niên (Thành phố Hồ Chí Minh) Điều gây kinhngạc cho những người tham dự phiên toà đó là vụ án xảy ra sau thời gian mườilăm năm, có hai bị can bị CQĐT ra quyết định khởi tố, sau đó ra lệnh truy nã,trong khi hai đối tượng này vẫn không hay biết và “vô tư” sống ở địa phương
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, lợidụng chức danh là Phó giám đốc Xí nghiệp chế biến lâm sản Thanh Niên,
Lê Thị Minh Nguyệt đã ký nhiều khế ước vay tiền của các hợp tác xã tíndụng Từ tháng 4 đến tháng 8/1989, Nguyệt đã mượn được 65 triệu đồngnhưng không đem về nhập quỹ, chi sai và chiếm đoạt 25 triệu đồng Hành
vi của Nguyệt bị cơ quan công tố cáo buộc tội “Tham ô tài sản” Trong vụ
án này còn có trách nhiệm liên quan của Kế toán trưởng là Võ MinhPhụng Phụng đã không thực hiện hết nhiệm vụ được giao, để cho Nguyệtthực hiện hành vi phạm tội Còn Giám đốc Nguyễn Quý Cáp cũng bị cáobuộc là thiếu trách nhiệm nhưng vì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sựcủa đối tượng này đã hết nên VKS nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã
ra quyết định đình chỉ đối với bị can này Tuy nhiên, tại tòa hai bị cáo LêThị Minh Nguyệt và Võ Minh Phụng cho rằng, trong thời điểm vụ ánđược khởi tố, họ không hề nhận được quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bịcan cũng như việc CQĐT ra lệnh truy nã họ Họ cho biết, tháng 1/2006,mới được CQĐT tống đạt quyết định khởi tố nhưng thời điểm ký là năm
1992 Khi họ thắc mắc điều này thì một điều tra viên tên Đệ đã giải thíchlà để bổ túc hồ sơ!
Trang 25Trong khi đó, những căn cứ mà hai bị cáo đưa ra cho thấy suốt thời gian
vụ án được điều tra, hai người này vẫn ở tại Thành phố Hồ Chí Minh “Thờiđiểm xảy ra vụ án, tôi vẫn có hộ khẩu trong Thành phố Hồ Chí Minh Năm
1996, tôi chỉ làm thủ tục chuyển hộ khẩu từ chung cư Lý Thường Kiệt (Quận10) đến nhà mẹ ở quận Phú Nhuận và năm 2000, tôi được cấp hộ chiếu đi dulịch” - Bà Nguyệt cho biết
Còn ông Phụng xác nhận: “Từ trước đến giờ tôi vẫn có hộ khẩu tạiphường Nguyễn Thái Bình, Quận 1 nhưng chưa bao giờ nhận được quyết định gìcủa cơ quan công an, ngoài giấy triệu tập lên làm việc Đầu năm 1993, tôi cònxin làm lại chứng minh nhân dân, có ai nói tôi bị truy nã đâu”
Khôi hài hơn khi một người làm chứng vốn là đồng nghiệp của hai bị cáocòn cho biết thêm, ông chưa hề biết đến quyết định khởi tố nào Trong thời giannghỉ việc tại xí nghiệp, bà Nguyệt và ông Phụng vẫn liên hệ và tham gia một sốcông tác của cơ quan chủ quản “Tôi đã từng hỏi có bị xử lý gì không, họ đềunói là không thấy gì” Trước những chứng cứ chứng minh sự tắc trách củaCQĐT, Hội đồng xét xử đã ra quyết định trả hồ sơ vụ án cho VKS với yêu cầuđiều tra, làm rõ thêm những vấn đề có liên quan đến thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự, xác minh việc cơ quan cảnh sát điều tra không tống đạt quyếtđịnh khởi tố bị can, không áp dụng biện pháp ngăn chặn nhưng lại truy nã các bịcáo [19]
* Bị can, bị cáo có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan; người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Điều này bắt buộc các chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ pháp luậttrong khi tiến hành tố tụng, phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của bịcan Bị can, bị cáo có thể khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của các cơquan, người có thẩm quyền tố tụng đến các chủ thể có thẩm quyền giải quyết
Trang 26Các chủ thể này phải xem xét giải quyết trong thời hạn luật định, kết quả xem
xét giải quyết phải được thông báo bằng văn bản cho bị can biết
* Bị cáo có quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định
áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án, bản án, quyết định của Toà án, các quyết định tố tụng khác theo quy định của BLTTHS
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo chậm nhất làmười ngày trước khi mở phiên toà Nếu không được bảo đảm quyền này, bị cáo
có quyền yêu cầu hoãn phiên toà Việc BLTTHS quy định cụ thể thời hạn giaonhận quyết định đưa vụ án ra xét xử như trên và quyền được giao nhận quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử có ý nghĩa lớn đối với việc bảo đảm quyền bào chữacủa bị cáo Dựa vào nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo biếtđược tội danh họ bị xét xử, thời gian, địa điểm mở phiên toà, tên của nhữngngười tham gia tiến hành tố tụng, vật chứng cần xem xét tại phiên toà… Trên cơ
sở đó giúp bị cáo chuẩn bị tốt hơn nữa và chủ động bào chữa cho mình tại phiêntoà, tạo điều kiện để bị cáo thực hiện quyền tố tụng của mình một cách hiệu quảnhất
Bị cáo cũng có quyền được nhận các quyết định khác có liên quan đếnquyền và nghĩa vụ của bị cáo như: quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏbiện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bản án, quyết địnhcủa Toà án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật Các quyết địnhnày là căn cứ pháp lý để bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ có liên quan đếncác quyết định đó
* Bị cáo có quyền tham gia phiên toà và có quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa
Trang 27Tham gia phiên toà xét xử vụ án mà chính mình bị buộc tội không chỉ làquyền mà còn là một vấn đề có tính nguyên tắc Tại phiên toà, bị cáo không chỉtrực tiếp trả lời các câu hỏi đặt ra của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bàochữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự mà còn trực tiếp thanh minh, bàochữa cho mình Tại phiên toà, bị cáo bình đẳng với Kiểm sát viên và nhữngngười tham gia tố tụng khác trong việc đưa chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêucầu và tranh luận dân chủ tại phiên toà Do vậy, việc bị cáo được quyền tham giaphiên toà để trực tiếp công khai trả lời những vấn đề liên quan đến vụ án, chứngminh và bác bỏ những kết luận vô căn cứ đối với bị cáo là cần thiết và quantrọng nhằm thực hiện quyền bào chữa của bị cáo Toà án phải bảo đảm quyềnbình đẳng trước Toà án của bị cáo và chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo trong nhữngtruờng hợp luật định Khi bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng, phải hoãn phiêntòa Để nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo được thực hiện một cáchtối đa tại phiên tòa, khoản 2 Điều 187 BLTTHS quy định Tòa án chỉ được xét xửvắng mặt bị cáo trong những trường hợp sau đây:
- Bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả;
- Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa;
- Nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đãđược giao giấy triệu tập hợp lệ
* Bị cáo có quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án
Sau khi chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận, bị cáo được nói lờisau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án Quyền được nói lời sau cùng là mộttrong những bảo đảm pháp lý quan trọng để bị cáo thực hiện quyền bào chữa củamình Đây là cơ hội để bị cáo bày tỏ thái độ và nguyện vọng của mình trước khiHội đồng xét xử đưa ra quyết định đối với vụ án Trong khi nói lời sau cùng, bịcáo có thể trình bày những tình tiết có liên quan đến vụ án nhưng chưa được Hội
Trang 28đồng xét xử xem xét; bày tỏ quan điểm, thái độ của mình đối với hành vi phạmtội; đưa ra những thỉnh cầu mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luậtđối với mình Hội đồng xét xử phải chú ý và tôn trọng quyền nói lời sau cùngtrước khi nghị án Vì nhiều trường hợp, khi nói lời sau cùng, bị cáo lại đưa ranhững tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, khi đó Hội đồng xét xử phảiquyết định trở lại việc xét hỏi
* Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án
Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm là một trong nhữngquyền quan trọng nhằm bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của bị cáo Sau khituyên án sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể
từ ngày tuyên án Trường hợp Toà án xử vắng mặt bị cáo thì thời hạn kháng cáođối với bị cáo vắng mặt tại phiên toà được tính từ ngày bản án được giao cho họ.Nếu Tòa án không thể giao bản án cho bị cáo vắng mặt thì thời hạn kháng cáođược tính từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thịtrấn, nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo… Khi kháng cáo của bịcáo là hợp lệ, Toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa xét xử
2.1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền nhờ người bào chữa
Bào chữa là một trong những chức năng quan trọng không thể thiếu đượctrong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chínhđáng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Trong thực tiễn, vì những lý do khácnhau nên không phải bất cứ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nào cũng có khảnăng tự bào chữa một cách có hiệu quả Do vậy để nguyên tắc bảo đảm quyềnbào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện trên thực tế, phápluật quy định những chủ thể trên ngoài việc tự bào chữa thì có thể nhờ ngườikhác bào chữa
*Khái niệm người bào chữa trong TTHS
Trang 29Người bào chữa là người tham gia TTHS theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, góp phần làm sáng tỏ các tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý.
Người bào chữa là người được các cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhậntham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bịcáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bịcan, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa họ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS năm 2003, người bào chữa
có thể là: luật sư; bào chữa viên nhân dân; người đại diện hợp pháp của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo
Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật,tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của họ theo quy định của pháp luật Hoạt động bào chữa của luật sưmang tính chất chuyên nghiệp
Theo Điều 10 Luật luật sư năm 2006 thì người có đủ các tiêu chuẩn sauđây có thể làm luật sư: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủHiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã đượcđào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảođảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư”
Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có thểtham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho họ Bộ luật TTHS nước ta chưa quy định cụ thể những ai có thể làngười đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng dựa trênnhững văn bản khác có thể hiểu : Người đại diện hợp pháp có thể là cha, mẹ, vợ,chồng, anh chị, em ruột, người đỡ đầu hoặc người giám hộ…của người bị tạmgiữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặcthể chất Người từ đủ 18 tuổi trở lên không có nhược điểm về tâm thần hay thể