1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cam kết về dịch vụ môi trường của việt nam với WTO

60 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 264 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Ngày 1112007 Việt Nam chính thức trở thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở nước ta nói riêng và thế giới nói chung. Đặng Tiểu Bình đã từng nói “Kinh tế kế hoạch không đồng nghĩa với CNXH, CNTB cũng có kế hoạch; kinh tế thị trường không đồng nghĩa với CNTB, CNXH cũng có thị trường, kế hoạch và thị trường đều là biện pháp kinh tế”.( ) Đúng như vậy, tại Việt Nam kể từ năm 1986, chúng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và trải qua hơn 20 năm chúng ta đã gặt hái được nhiều thành công, nhưng cũng không ít khó khăn phải đương đầu mà ở đó đòi hỏi sự đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân. Khi toàn cầu hoá trở thành xu hướng chung của nhân loại thì Việt Nam cũng không thể không nằm trong vòng xoáy ấy, có lẽ những bước tiến trong những thập kỷ qua do toàn cầu hoá mang lại không ai có thể phủ nhận, nhưng cũng không ít những vấn đề nổi cộm được đặt lên bàn nghị sự đòi hỏi các quốc gia phải cùng nhau ngồi lại và tìm ra phương án thích hợp nhất như: khủng hoảng kinh tế, nạn khủng bố, ô nhiễm môi trường… với mục đích cho cuộc sống của con người được tốt đẹp và an toàn hơn. Trong những vấn đề kể trên, ô nhiễm môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu và hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng diễn ra liên tiếp trong thời gian qua (động đất, lũ lụt, hạn hán, trái đất nóng dần lên, mực nước biển dâng đe doạ cuộc sống người dân của những quốc gia có đường biên giới giáp biển…) đang được các quốc gia đề cập đến một cách nghiêm túc để khắc phục và phòng ngừa một cách hiệu quả nhất. Khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, việc thực hiện một cách nghiêm túc các cam kết về ngành dịch vụ môi trường nói riêng và các ngành dịch vụ khác trong biểu cam kết, không những khẳng định sự tuân thủ luật lệ quốc tế cùng với các nghĩa vụ với tư cách là thành viên của WTO, mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững nền kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trước thực trạng môi trường đang bị xuống cấp nghiêm trọng, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của ngành dịch vụ môi trường tại Việt Nam và yêu cầu thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với WTO của Việt Nam theo các biểu cam kết cụ thể về ngành DVMT, em đã lựa chọn đề tài “Cam kết về dịch vụ môi trường của Việt Nam với WTO” cho khoá luận tốt nghiệp của mình.

Trang 1

MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG

CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG 7

1.1 Khái niệm chung về dịch vụ môi trường 7

1.2.1 Dich dưới góc độ kinh tế 7

1.1.2 Dịch vụ môi trường dưới góc độ pháp lý (theo Luật Bảo vệ môi trường 2005) 7

1.1.3 Phân biệt khái niệm dịch vụ môi trường với một số khái niệm khác 8

1.2 Phân loại dich vụ môi trường 11

1.3 Vai trò của dịch vụ môi trường 13

1.4 Thực trạng dịch vụ môi trường tại Việt Nam 14

1.4.1 Hiện trạng môi trường tại Việt Nam 14

1.4.2 Thực trạng dịch vụ môi trường tại Việt Nam trước khi gia nhập WTO 16

1.4.3 Thực trạng dịch vụ môi trường tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO 17

1.4.4 Kinh nghiệm quản lý ngành dịch vụ môi trường tại một số quốc gia trên thế giới 22

CHƯƠNG II-NHỮNG CAM KẾT ĐỐI VỚI NGÀNH DỊCH VỤ MÔI

TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 26

2.1 Những qui định pháp lý về dịch vụ môi trường tại Việt Nam trước khi ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2005 26

2.2 Những qui định pháp lý về dịch vụ môi trường tại Việt Nam sau khi ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2005 29 2.3 Những cam kết về dịch vụ môi trường của Việt Nam khi gia nhập

Trang 2

WTO 31

2.3.1 Cam kết chung 31

2.3.2 Cam kết cụ thể 33

CHƯƠNG III- NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÁC CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 43

3.1 Những thuận lợi đối với những cam kết về dịch vụ môi trường tại Việt Nam 43

3.2 Những khó khăn đối với những cam kết dịch vụ môi trường tại Việt Nam 47

3.2.1 Về mặt pháp luật 47

3.2.2 Về mặt nguồn nhân lực 50

3.2.3 Về mặt khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng 50

3.3.4 Về mặt ý thức bảo vệ môi trường của người dân 51

3.3.5 Một số khó khăn khác 52

3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết về dịch vụ môi trương tại Việt Nam 53

3.3.1 Về mặt pháp luật 53

3.3.2 Về mặt nguồn nhân lực 54

3.3.3 Về mặt khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng 54

3.3.4 Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân 54

3.3.5 Các giải pháp khác 55

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 3

CÁC TỪ VIẾT TẮT

DVMT : Dịch vụ môi trường

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Ngày 11/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành viên thứ 150 của Tổ chứcthương mại thế giới (WTO), đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở nước ta nói riêng và thế giớinói chung Đặng Tiểu Bình đã từng nói “Kinh tế kế hoạch không đồng nghĩa vớiCNXH, CNTB cũng có kế hoạch; kinh tế thị trường không đồng nghĩa vớiCNTB, CNXH cũng có thị trường, kế hoạch và thị trường đều là biện pháp kinhtế”.(1) Đúng như vậy, tại Việt Nam kể từ năm 1986, chúng ta đã tiến hành côngcuộc đổi mới đất nước và trải qua hơn 20 năm chúng ta đã gặt hái được nhiềuthành công, nhưng cũng không ít khó khăn phải đương đầu mà ở đó đòi hỏi sựđồng lòng của toàn Đảng, toàn dân Khi toàn cầu hoá trở thành xu hướng chungcủa nhân loại thì Việt Nam cũng không thể không nằm trong vòng xoáy ấy, có lẽnhững bước tiến trong những thập kỷ qua do toàn cầu hoá mang lại không ai cóthể phủ nhận, nhưng cũng không ít những vấn đề nổi cộm được đặt lên bàn nghị

sự đòi hỏi các quốc gia phải cùng nhau ngồi lại và tìm ra phương án thích hợpnhất như: khủng hoảng kinh tế, nạn khủng bố, ô nhiễm môi trường… với mụcđích cho cuộc sống của con người được tốt đẹp và an toàn hơn Trong nhữngvấn đề kể trên, ô nhiễm môi trường dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu và hàngloạt các hậu quả nghiêm trọng diễn ra liên tiếp trong thời gian qua (động đất, lũlụt, hạn hán, trái đất nóng dần lên, mực nước biển dâng đe doạ cuộc sống ngườidân của những quốc gia có đường biên giới giáp biển…) đang được các quốc gia

đề cập đến một cách nghiêm túc để khắc phục và phòng ngừa một cách hiệu quảnhất Khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, việc thực hiện một cách nghiêmtúc các cam kết về ngành dịch vụ môi trường nói riêng và các ngành dịch vụkhác trong biểu cam kết, không những khẳng định sự tuân thủ luật lệ quốc tếcùng với các nghĩa vụ với tư cách là thành viên của WTO, mà còn góp phần bảo

1() Tiến sĩ Nguyễn Đăng Ninh “Tìm hiểu pháp luật Trung Quốc trong lĩnh vực thương mại”, Nxb Lý luận chính trị Hà Nội, 2006.

Trang 5

vệ môi trường và phát triển bền vững nền kinh tế của nước ta trong giai đoạnhiện nay Trước thực trạng môi trường đang bị xuống cấp nghiêm trọng, tácđộng mạnh mẽ đến sự phát triển của ngành dịch vụ môi trường tại Việt Nam vàyêu cầu thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với WTO của Việt Nam theo các biểu

cam kết cụ thể về ngành DVMT, em đã lựa chọn đề tài “Cam kết về dịch vụ môi

trường của Việt Nam với WTO” cho khoá luận tốt nghiệp của mình.

2 Mục đích, nhiệm vụ của khóa luận:

Mục đích của khoá luận là đi sâu tìm hiểu những nội dung cam kết vềngành dịch vụ môi trường của Việt Nam trong biểu cam kết với WTO, để từ đóthấy được những thuận lợi cũng như khó khăn tác động đến sự phát triển củangành và đưa ra những giải pháp hoàn thiện với mục đích nâng cao hiệu quảthực thi các cam kết về ngành dịch vụ môi trường tại Việt Nam, để thực hiệnđược mục đích này khoá luận sẽ lần lượt thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Phân tích khái niệm dịch vụ môi trường, nêu được vai trò của ngànhdịch vụ môi trường

- Nêu được những qui định của pháp luật môi trường về ngành dịch vụmôi trường trước và sau khi ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2005

- Nêu được những nội dung cam kết (cam kết chung và cam kết riêng) đốivới ngành dịch vụ môi trường trong biểu cam kết

- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi các cam kếtcủa Việt Nam đối với ngành dịch vụ môi trường trong thực tiễn

3 Phạm vi nghiên cứu:

Khóa luận tập trung nghiên cứu những nội dung cam kết đối với ngànhdịch vụ môi trường, để thấy được những thời cơ và thách thức đối với sự pháttriển của ngành Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy những thuận lợi,hạn chế những khó khăn thách thức để ngành dịch vụ tiềm năng này có thể pháttriển một cách lớn mạnh

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong khoá luận kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phươngpháp lôgic, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổnghợp… nhưng chủ yếu sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp phân tích

và phương pháp tổng hợp

5 Kết cấu của khoá luận:

Với đề tài “Cam kết về dịch vụ môi trường của Việt Nam với WTO”, nộidung chính của khoá luận như sau:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về dịch vụ môi trường

Chương II: Những cam kết đối với ngành dịch vụ môi trường tại ViệtNam khi gia nhập WTO

Chương III: Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi các camkết về dịch vụ môi trường tại Việt Nam

Đây là một đề tài khá mới mẻ trong lĩnh vực dịch vụ môi trường, thực sự

có ý nghĩa khi Việt Nam đang hội nhập kinh tế ngày càng mạnh mẽ và đã trởthành thành viên của WTO được khoảng thời gian gần hai năm Tuy nhiên, do

sự hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của tác giả nên khoá luậnkhông thể tránh những thiếu xót, mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến đểkhoá luận được hoàn thiện hơn

Trang 7

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG

Có thể thấy rằng, thương mại dịch vụ đang ngày càng phát triển và chiếm

tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập quốc nội (GDP- Gross Domestic Product) củacác quốc gia, tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ Điềunày có lẽ xuất phát từ những tính chất đặc trưng của dịch vụ, và sự phát triểnmạnh mẽ của thương mại dịch vụ trong khoảng thời gian gần đây so với lịch sửlâu dài của thương mại hàng hoá Tổ chức thương mại thế giới(WTO) cũngkhông đưa ra một định nghĩa cụ thể về dịch vụ, mặc dù các thành viên của WTO

đã cùng nhau soạn thảo một Hiệp định về thương mại dịch vụ- Hiệp định GATS(The General Agreement on Trade in Services) Để biết được các hoạt động nàođược coi là dịch vụ, WTO đưa ra hệ thống CPC (Hệ thống phân loại sản phẩmcủa Liên hợp quốc- Central Product Classification) Dịch vụ môi trường thuộcmột trong 11 ngành dịch vụ được WTO liệt kê trong hệ thống CPC, để hiểu vềDVMT chúng ta có thể tiếp cận dưới các góc độ sau:

1.1.1 Dịch vụ môi trường dưới góc độ kinh tế

Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về DVMT, nhưng nếuxét dưới góc độ kinh tế có thể hiểu như sau: “DVMT (Environmental Services)được hiểu là hoạt động cung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình chu chuyểnkinh tế (bao gồm hoạt động sản xuất, tiêu dùng hay sinh hoạt…)”.(2)

1.1.2 Dịch vụ môi trường dưới góc độ pháp lý (Theo Luật Bảo vệ môi trường 2005)

Trong 136 điều luật của Luật Bảo vệ môi trường 2005 không có bất cứmột điều khoản nào đề cập đến DVMT, nhưng tại Điều 116 qui định về “Phát

2() Tiến sĩ Vũ Thu Hạnh, “Bước đầu nghiên về cơ chế chi trả DVMT tại Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 7/2007, tr16.

Trang 8

triển dịch vụ bảo vệ môi trường” theo đó những dịch vụ này bao gồm các hoạtđộng như thu gom, tái chế xử lý rác thải, quan trắc, đánh giá tác động môitrường… Nếu xét các dịch vụ này với cách phân loại ngành DVMT của WTOtheo hệ thống CPC, cũng như các cam kết của Việt Nam về ngành DVMT tạibiểu cam kết thì thấy rằng các nhà lập pháp ghi nhận trong Luật Bảo vệ môitrường 2005 dịch vụ bảo vệ môi trường với các phân ngành giống như các phânngành DVMT theo biểu cam kết khi gia nhập, hay DVMT trong trường hợp nàyđược hiểu là dịch vụ bảo vệ môi trường Như vậy để nắm được định nghĩa vềDVMT dưới góc độ pháp lý, trước tiên chúng ta phải định nghĩa được dịch vụbảo vệ môi trường và thông qua định nghĩa về “Hoạt động bảo về môi trường”tại Khoản 3, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 có thể hiểu dịch vụ bảo vệmôi trường (Enviromental Protection Services) như sau: dịch vụ bảo vệ môitrường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừahạn chế tác động xấu đối với môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phụchồi và cải thiện môi trường, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên,bảo vệ đa dạng sinh học như: hoạt động thu gom, tái chế rác thải, quan trắc,phân tích môi trường, đánh giá tác động môi trường…

Do DVMT được tiếp cận dưới góc độ dịch vụ bảo vệ môi trường theo quiđịnh của pháp luật Việt Nam cho nên định nghĩa về DVMT sẽ được hiểu là địnhnghĩa dịch vụ bảo vệ môi trường như trên

1.1.3 Phân biệt khái niệm dịch vụ môi trường với một số khái niệm khác

* Phân biệt khái niệm DVMT theo cam kết khi gia nhập WTO với khái niệm dịch vụ bảo vệ môi trường theo qui định tại Điều 116- Luật Bảo vệ môi trường 2005:

Như đã phân tích tại phần trên, DVMT trong biểu cam kết khi Việt Namgia nhập WTO được hiểu là dịch vụ bảo vệ môi trường được qui định tại Điều

116 Luật Bảo vệ môi trường 2005, mặc dù đây là hai thuật ngữ khác nhau về

Trang 9

mặt tên gọi nhưng lại có nội dung giống nhau Điều này có lẽ được giải thích bởiLuật Bảo vệ môi trường 2005 được ban hành trước khi Việt Nam hoàn thànhquá trình gia nhập WTO vào cuối năm 2006, sau 11 năm đàm phán vì thế màmột số khái niệm trong văn bản luật còn chưa thực sự phù hợp với qui định củaWTO.

* Phân biệt khái niệm DVMT khi cam kết gia nhập WTO với khái niệm dịch vụ hệ sinh thái :

Dịch vụ hệ sinh thái là loại dịch vụ được đề cập khá nhiều trong thời gianvừa qua, đây là một loại dịch vụ không mới ở một số châu lục như: Châu Mỹ Latinh, Châu Âu, Châu Úc tại một số quốc gia như: Mỹ, Pháp, Costarica,Australia… Tại Việt Nam dịch vụ này đang bắt đầu được chú trọng đến với mụctiêu đảm bảo sự phát triển của hệ sinh thái một cách bền vững, trong khi hệ sinhthái tại nước ta đang bị đe doạ một cách nghiêm trọng do việc khai thác bừa bãĩkhông theo một qui hoạch cụ thể, sự vô ý thức đối với bảo vệ môi trường củangười dân nói chung và một trong những ngưyên nhân quan trọng hơn cả là vìnhững mục tiêu kinh tế với khoản lợi nhuận khổng lồ mà tự nhiên mang lại chocon người, bất chấp những hậu quả nghiêm trọng xảy ra con người huỷ hoại hệsinh thái một cách “không thương tiếc” Tại Việt Nam kháI niệm dịch vụ hệ sinhthái (Ecosystem Service) được đề cập trong một số chính sách, dự án như:Chính sách thí điểm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, dự án RUPES(chi trả cho người nghèo vùng cao DVMT mà họ mang lại)

Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về loại dịch vụ này, tuy nhiênhiểu mội cách khái quát nhất thì dịch vụ hệ sinh thái là những lợi ích trực tiếphay gián tiếp do chức năng của hệ sinh thái mang lại cho con người (khái niệm

hệ sinh thái đã được định nghĩa tại Khoản 15 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường2005- Hệ sinh thái là quần thể sinh vật trong một khu vực địa lý tự nhiên nhấtđịnh cùng tồn tại và phát triển, có tác động qua lại với nhau), ví dụ như dịch vụ

hệ sinh thái rừng bảo vệ lưu vực và cung cấp nước sạch cho hạ lưu hay dịch vụ

Trang 10

rừng ngập mặn cung cấp nước sạch và phòng chống lũ lụt… Theo bài viết “Tàiliệu về chi trả DVMT” (3) phân loại dịch vụ hệ sinh thái thành bốn loại sau:

1) Dịch vụ sản xuất thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, nguồn gen…;2) Dịch vụ điều tiết: Phòng hộ đầu nguồn, phòng chống lũ lụt…;

3) Dịch vụ văn hoá: Du lịch sinh thái, giáo dục…;

4) Dịch vụ cấu tạo: Cấu tạo đất, điều hoà dinh dưỡng…

Ngoài ra có thể thấy trong một số văn bản pháp lý khác như: Quyết định

số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 2 năm 2007 về phê duyệt chiến lược phát

triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020, hay Quyết định số

380/QĐ-TTg ngày 10 tháng 4 năm 2008 về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi

trường rừng, dịch vụ hệ sinh thái tiếp cận dưới góc độ dịch vụ môi trường rừng

được đề cập đến Theo qui định tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định số

380/2007/QĐ-TTg dịch vụ môi trường rừng được định nghĩa như sau: “Dịch vụ

môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá trị sử dụng của môi trường rừng (điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống bồi lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh học” Như vậy mặc dù có tên

gọi giống như các cam kết về ngành DVMT của Việt Nam khi gia nhập WTOnhưng loại dịch vụ này không được tiếp cận dưới góc độ là dịch vụ bảo vệ môi

3() http://www.vietnamjournalism.com

Trang 11

những qui định khung Xuất phát từ những lý đó Quốc hội đã ban hành Luật Đadạng sinh học vào ngày 13 tháng 11 năm 2008, luật này chính thức có hiệu lựcvào ngày 01 tháng 07 năm 2009, và tại Điều 74 qui định về DVMT liên quanđến đa dạng sinh học Theo định nghĩa tại Khoản 5 Điều 3 Luật Đa dạng sinhhọc: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh tháitrong tự nhiên” như vậy hệ sinh thái chỉ là một bộ phận trong đa dạng sinh học.Dịch vụ liên quan đến đa dạng sinh học có thể được hiểu là những lợi ích màcon người nhận được từ chức năng của môi trường (của các loài sinh vật, của hệsinh thái…) mang lại như điều hoà khí hậu, cung cấp nước sạch, không khí sạchhấp thụ khí thải, nước thải, phân huỷ chất rắn, cung cấp những nguồn gen… Từđịnh nghĩa trên cũng có thể đưa ra một kết luận rằng khái niệm DVMT trongtrường hợp này cũng không được hiểu là dịch vụ bảo vệ môi trường như theoqui định trong Luật Bảo vệ môi trường 2005.

Như vậy có thể thấy rằng mặc dù về mặt ngôn ngữ đây là những thuật ngữ

có tên gọi hoàn toàn giống nhau nhưng nội dung tiếp cận lại khác nhau

1.2 PHÂN LOẠI DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG

- Đề tài này tiếp cận DVMT trong cam kết gia nhập WTO của Việt Namdưới giác độ là những dịch vụ về bảo vệ môi trường, vì đây là một ngành dịch

vụ cũng khá mới mẻ ở nước ta do vậy có nhiều cách phân loại khác nhau Tuynhiên có thể chia ngành dịch vụ này làm bốn loại sau(4):

a) Dịch vụ về nước thải: Là các dịch vụ xử lý nước thải chủ yếu nhằm đẩynhanh vòng tuần hoàn tự nhiên của nước bị ô nhiễm đến một mức độ chấp nhậnđược để có thể đưa trở lại môi trường

4() Tiến sĩ Bùi Hữu Đạo, chuyên đề “Các biện pháp liên quan đến thương mại môi trường và những vấn đề đặt ra sau khi Việt Nam gia nhập WTO” , Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới của

Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) tr 239; “Tổng quan các vấn đề tự do hoá thương mại dịch vụ “ của Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, tr 896; Thạc sỹ Hồ Trung Thành, giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học

“Điều tra đánh giá thực trạng phát triển DVMT ở Việt Nam đề suất chính sách phát triển DVMT phù hợp với các cam kết quốc tế trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, tr 88.

Trang 12

b) Dịch vụ về rác thải bao gồm thu gom, vận chuyển, xử lý các chất thảirắn từ các hộ, các cơ quan, các cơ sở kinh doanh hay các nhà máy sản xuất, cácdịch vụ làm giảm chất thải.

c) Dịch vụ vệ sinh và các dịch vụ tương tự bao gồm các dịch vụ ngoàitrời, làm sạch băng và tuyết

d) DVMT khác gồm dịch vụ làm sạch không khí bị ô nhiễm, hạn chếtiếng ồn, bảo vệ thiên nhiên và cảnh quan môi trường

- Đối với WTO việc phân loại DVMT được qui định trong hệ thống phânloại sản phẩm như sau:

+) Dịch vụ giảm thiểu tiếng ồn (CPC 9405)

+) Dịch vụ bảo vệ cảnh quan và thiên nhiên (CPC 9406)

+) DVMT khác chưa được đề cập (CPC 9409)

- Theo cách phân loại của OECD (Organisation for Economic operation and Development) /EUSTAT (The Basque Statistics Institute): Baogồm những dịch vụ cung cấp nhằm đo lường, ngăn ngừa, hạn chế, giảm thiểuhoặc khôi phục những thiệt hại môi trường đất, nước, không khí cũng như cácvấn đề liên quan đến chất thải, tiếng ồn và hệ sinh thái Hệ thống này phân loạigồm các dịch vụ sau:

Co-a) Quản lý ô nhiễm trong đó có dịch vụ liên quan tới xây dựng và lắp đặtcông trình phụ trợ phục vụ mục đích quản lý ô nhiễm, các dịch vụ liên quan tớilắp đặt và sử dụng

Trang 13

b) Công nghệ và sản phẩm sạch hơn.

c) Công nghệ hạn chế rủi ro về môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và việc sửdụng tài nguyên

1.3 VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG

Là một quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển trên thế giới, mụctiêu phát triển bền vững- có sự hài hoà giữa ba yếu tố phát triển kinh tế với vấn

đề xã hội và bảo vệ môi trường tại Việt Nam phải luôn đựợc coi trọng hơn cả,mục tiêu này đã được đề cập khá cụ thể tại các Văn kiện đại hội Đảng, Chiếnlược bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Luật Bảo

vệ môi trường 2005… DVMT là môt trong những công cụ kinh tế hiệu quảtrong công tác bảo vệ môi trường để đạt được các mục tiêu chiến lược về bảo vệmôi trường quốc gia DVMT là ngành dịch vụ khá phát triển tại các quốc gianhư Mỹ, Australia, Singapore, Nhật Bản… Bởi vậy chúng ta phải tham khảonhững kinh nghiệm của nước bạn áp dụng vào Việt Nam sao cho phù hợp vớiđiều kiện kinh tế xã hội, để khắc phục cũng như phòng ngừa ô nhiễm môitrường, suy thoái môi trường như hiện nay

Bên cạnh đó xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường đang được toàn thểnhân dân hưởng ứng mạnh mẽ, DVMT là một trong những nội dung trong côngtác này Như vậy DVMT sẽ góp phần đẩy mạnh phong trào bảo vệ môi trườngcủa toàn thể xã hội, của mọi thành phần kinh tế… và đồng thời nâng dần ý thứccủa người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường mặc dù ý thức giữ gìn môi trườngtrong lành, sạch đẹp ở nước ta nhìn chung chưa cao Có thể thấy rằng đây là mộtnguồn lực quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ môitrường, bởi khi Nhà nước chú trọng đẩy mạnh các loại hình DVMT bằng cácbiện pháp kinh tế, pháp luật… sẽ tạo cơ sở vững chắc cho cộng đồng chung sứcbảo vệ môi trường

Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến thời điểm hiện nay, những tháchthức và khó khăn mà chúng ta phải đối diện đã được đề cập khá nhiều trong các

Trang 14

diễn đàn cũng như trên các phương tiện truyền thông, DVMT cũng không nằmngoài những sự tác động đó Bên cạnh những khó khăn mà các doanh nghiệpViệt Nam phải đương đầu trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, không thể không nóitới những lợi ích mà chúng ta sẽ nhận được: Đó các doanh nghiệp kinh doanhDVMT sẽ có cơ hội xâm nhập vào thị trường của 152 nước thành viên còn lại,được đối xử bình đẳng bởi qui chế đối xử quốc gia (NT) và đối xử tối huệ quốc(MFN) mà các thành viên dành cho Chúng ta được tiếp cận với những côngnghệ hiện đại của các quốc gia phát triển, những kinh nghiệm trong quản lý kinhdoanh, nguồn tín dụng trong nước cũng như ngoài nước sẽ tăng lên và đây làmột nhân tố quan trọng giúp cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao khảnăng kinh doanh bởi thiếu vốn kinh doanh là một trong những cản trở lớn chocác doanh nghiệp trong nước, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp trên trường quốc tế Mặt khác sẽ tạo ra cơ hội lựa chọn sử dụng các loạidịch vụ phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng tài chính của khách hàng trongnước, tạo cơ hội việc làm trong nước nhiều hơn…

Ngoài ra, DVMT còn đóng vai trò hỗ trợ các ngành các lĩnh vực khác, đặcbiệt trong bối cảnh các nhu cầu bảo vệ môi trường của các nước cũng như ý thứccủa người tiêu dùng ngày càng tăng

1.4 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

1.4.1 Hiện trạng môi trường Việt Nam

Trong những năm vừa qua, mặc dù đã có những nỗ lực lớn trong công tácbảo vệ môi trường tuy nhiên tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ở nước

ta diễn ra ngày càng nghiêm trọng, thậm chí có những nơi trở nên trầm trọngvới nồng độ chất gây ô nhiễm vượt quá nhiều lần cho phép Có thể điểm qua bứctranh về môi trường của Việt Nam như sau:

* Môi trường nước

Trang 15

Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước ngầm, nướcbiển Nếu xét chung cả nước thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đốiphong phú chiếm khoảng 2% lượng dòng chảy của các dòng sông trên thế giới.Trong khi đó, diện tích đất liền của nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% thế giới.Với lượng mưa lớn cộng với hệ thống sông hồ dày đặc phân bố trên hầu hết lãnhthổ thì nguồn nước của ta là tương đối dồi dào Tuy nhiên do lượng mưa và sựphân bố không đồng đều theo thời gian trong năm và theo vùng lãnh thổ, khảnăng giữ nước kém… đã gây nên tình trạng thừa nước vào mùa mưa và thiếunước vào mùa khô Sự khan hiếm nước vào mùa khô gây khó khăn cho đời sống

và sản xuất nông nghiệp thêm vào đó nguồn nước mặt lại bị ô nhiễm do nướcthải sinh hoạt và công nghiệp thải trực tiếp vào kênh mương, sông hồ Chấtlượng nước của mốt số khu vực như sông Sài Gòn, Thị Vải, Đồng Nai… bị suygiảm Theo kết quả đánh giá vào năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trongmùa cạn có thể lên tới 90km3 chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cungcấp hay 65% tổng lượng dòng chảy trong mùa cạn tương ứngvới tần suất 75%.Đặc biệt ở không ít và lưu vực sông lượng nước cần dùng có thể gấp vài lầntổng lượng nước có thể cung cấp Điều đó có nghĩa là không những vượt quá xalượng nước cần có thể duy trì sinh thái mà không có nguồn nước tại chỗ để cungcấp cho sinh hoạt và sản xuất.(5)

* Môi trường không khí, tiếng ồn, chất bụi, chất thải

- Các đô thị có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn nông thôn Sự bùng nổgiao thông và gia tăng dân dòng người di cư vào trong thành thị đã dẫn đếnnhững vấn đề môi trường lớn tại các đô thị Ở hầu hết các đô thị Việt Nam, ônhiễm bụi và khí thải thường lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép Nồng độ bụi ởcác khu dân cư bên cạnh nhà máy, đường giao thông lớn hơn trị số tiêu chuẩncho phép từ 1.5 đến 3 lần có trường hợp cá biệt lên tới 5 lần Tại những nút giaothông lớn của các đô thị ô nhiễm không khí do các loại khí phát thải thường lớn

5 () Tiến sĩ Bùi Đường Nghiêu (chủ biên) “ Thuế môi trường”, Nxb Tài chính , tr112.

Trang 16

hơn trị số tiêu chuẩn cho phép Ngoại trừ những cơ sở sản xuất mới đầu tư xâydựng nhìn chung công nghệ sản xuất lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên liệunhiên liệu không cao, chất thải tính trên đầu sản phẩm thường lớn Các vùng dân

cư lân cận các nhà máy lớn thường bị ô nhiễm trầm trọng, vượt quá trị số tiêuchuẩn cho phép

- Đối với vấn đề chất thải nguy hại, mặc dù thực tế chất thải nguy hại ởnước ta hiện nay không nhiều bằng các nước phát triển khác, song nước ta đangtrong quá trình phát triển kinh tế mạnh, đô thị hoá, gia tăng dân số và côngnghiệp hóa thì lượng chất thải nói chung và chất thải nguy hại nói riêng tăng sẽtăng lên nhanh chóng Theo thống kê của Tổng cục Môi trường tổng lượng chấtthải rắn nguy hại phát sinh hằng năm trên toàn quốc là 125.000 tấn bao gồm chấtthải của các ngành công nghiệp nhẹ, hoá chất, cơ khí luyện kim, y tế, chất thảisinh hoạt đô thị Chất thải rắn nguy hại của ngành điện- điện tử có số lượng ítnhất nhưng lại chứa chất hữu cơ khó phân huỷ như PCB và kim loại nặng đặcbiệt nguy hại tới sức khoẻ của con người và môi trường

Chất thải rắn nguy hại tập trung chủ yếu ở ba trọng điểm kinh tế là miềnBắc (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), miền Trung (Quảng Nam, Đà Nẵng,Quảng Ngãi), miền Nam (TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu).Trong đó chất thải rắn nguy hại phát sinh ở khu vực trọng điểm kinh tế phíaNam, khoảng 80.332 tấn/năm, lớn gấp ba lần khu phía Bắc và lớn gấp 20 lầnmiền Trung Thách thức lớn nhất cho các kế hoạch quản lý và xử lý chất thải rắnnguy hại hiện nay chính là thiếu vốn đầu tư, việc thiết kế xây dựng một bãi trônlấp chất thải hợp vệ sinh đòi hỏi một số vốn lớn, việc xây dựng các khu xử lý tậptrung chất thải nguy hại qui mô trung bình đòi hỏi số vốn đầu tư từ 40- 100 triệuUSD đó còn chưa kể đến quỹ đất khá lớn cho cần cho bãi lấp và khu xử lý chấtthải nguy hại Đây là một vấn đề đặc biệt khó khăn của nhiều địa phương đặcbiệt là các tỉnh cùng đồng bằng trung du vốn đông dân cư và ít đất canh tác

Trang 17

Từ thực trạng môi trường ở nước ta như trên vấn đề khắc phục, phòngngừa ô nhiễm suy thoái môi trường hết sức cấp thiết, sự cần thiết này sẽ tạo rarất nhiều cơ hội cho ngành DVMT phát triển Tuy nhiên thực trạng về DVMTtại Việt Nam hiện nay ra sao? Câu trả lời sẽ được làm sáng tỏ trong phần tiếptheo đây.

1.4.2 Thưc trạng dịch vụ môi trường tại Việt Nam trước khi gia nhập WTO

Mặc dù trước khi gia nhập WTO, vấn đề bảo vệ môi trường cũng đã đượcNhà nước và toàn thể nhân dân quan tâm tới, cụ thể các vấn đề liên quan đếnbảo vệ môi trường đã được thể chế hóa trong các văn kiện đại hội Đảng, trongLuật Bảo vệ môi trường 1993 và các văn bản pháp lý liên quan khác Tuy nhiên

sự quan tâm này cũng ở một mức độ nhất định, sự chú trọng hơn cả là tăngtrưởng kinh tế, đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng do ảnh hưởng của cơchế kế hoạch tập trung để lại Do vậy tình trạng môi trường ngày càng biến đổixấu như đã được chỉ ra trong phần trước dường như chưa phải là vấn đề đáng longại, chính vì lý do đó mà DVMT chưa có “cơ hội” để phát triển Vào thời điểmtrước khi Việt Nam gia nhập WTO ngành DVMT là ngành dịch vụ còn khá mới

mẻ, chỉ có một vài công ty kinh doanh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhưngtheo hình thức sở hữu Nhà nước Vấn đề sở hữu Nhà nước đối với ngành nàykhông chỉ xuất hiện tại Việt Nam mà đây là xu hướng chung trên thế giới tạimột số quốc gia như: Mỹ, Nhật Bản,… Điều này được lý giải bởi những nguyênnhân sau:

Thứ nhất, một số tiểu ngành dịch vụ trong ngành dịch vụ này mang đặc

điểm của hàng hóa công cộng, tức ở đó không cho phép có sự tham gia củathành phần sở hữu tư nhân như vệ sinh đường phố, công viên…

Thứ hai, DVMT là ngành đòi hỏi số vốn đầu tư rất lớn ví dụ như dịch vụ

xử lý rác thải, dịch vụ xử lý nước thải… trong khi tại nước ta thời kỳ trước đây

và hiện nay các doanh nghiệp thường tồn tại dưới dạng doanh nghiệp vừa và

Trang 18

nhỏ, chúng chiếm tới 90% trong các loại hình doanh nghiệp Do vậy các doanhnghiệp này không thể có đủ lượng vốn đầu tư hoặc nếu có đầu tư đi chăng nữathì phần lợi nhuận mà họ thu được không thể bù đắp được chi phí khổng lồ mà

họ bỏ ra Điều này lý giải vì sao các nhà đầu tư trong ngành DVMT chiếm mộtcon số ít ỏi

1.4.3 Thực trạng dịch vụ môi trường tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Kể từ khi là thành viên của WTO đến nay, Việt Nam luôn đẩy mạnh cácbiện pháp để thực hiện đầy đủ các cam kết khi gia nhập với các nước thành viênnói chung và ngành DVMT nói riêng Trước đây khi DVMT chỉ xuất hiện tạimột số doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước thì hiện nay được mở rộng với cảhình thức sở hữu tư nhân Bởi lẽ một trong những mục tiêu hoạt động của WTO

là góp phần đẩy mạnh tự do hoá thương mại quốc tế và không một quốc giathành viên nào được phép cản trở quá trình này, trừ một số trường hợp ngoại lệdành cho các quốc gia đang phát triển và kém phát triển Khi đã trở thành thànhviên của WTO Việt Nam cũng phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ để thực hiện tự

do hoá thương mại, nghĩa là mở cửa cho thành phần sở hữu tư nhân tham giakinh doanh và sự xuất hiện của sở hữu tư nhân trong ngành DVMT là biểu hiệncủa việc tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ của Việt Nam Bước tiến lớn trong quátrình hoàn thiện pháp luật về DVMT là những qui định về dịch vụ bảo vệ môitrường trong Luật Bảo vệ môi trường 2005, đã tạo nền tảng pháp lý vững chắccho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này Có thể đưa ra một số dữ liệu sau

về DVMT tại nước ta trong thời gian vừa qua như sau:

- Về thành phần kinh tế tham gia: Gần đây do thực hiện chủ trương xã

hội hoá công tác bảo vệ môi trường cũng như thực hiện các cam kết trong WTO,bên cạnh các doanh nghiệp kinh doanh DVMT dưới hình thức sở hữu Nhà nước

đã xuất hiện một số Công ty cổ phần, Hợp tác xã (do Liên minh hợp tác xã ViệtNam đã ứng dụng tiến bộ kĩ thuật xây dựng mô hình hợp tác xã thu gom và chế

Trang 19

biến rác thải sinh hoạt cho các thị trấn và khu vực nông thôn), Trung tâm nghiêncứu như Công ty cổ phần nước và môi trường WACO, Hợp tác xã DVMT TiềnPhong xây dựng mô hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt và phụ phẩm nông nghiệp,Trung tâm nghiên cứu ứng dụng và dịch vụ khoa học công nghệ Tiền Giang…

- Về năng lực cung cấp DVMT: Theo kết quả điều tra của Dự án “Điều

tra hiện trạng ngành công nghiệp môi trường, đề xuất giải pháp nhằm phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam” do Viện Nghiờn cứu Chiến lược

Chính sách công nghiệp tiến hành trong các năm 2006- 2007 trờn phạm vi 20tỉnh, đó thống kờ được khoảng trên 2000 doanh nghiệp đang hoạt động tronglĩnh vực môi trường Bên cạnh các công ty URENCO (Công ty TNHH Nhànước một thành viên môi trường đô thị) của các tỉnh, thành phố còn có cácdoanh nghiệp tư nhân các nhà cung cấp nước ngoài dưới hình thức liên doanhhoặc 100% vốn nước ngoài Quy mô của các công ty cũng tăng rất nhanh, trong

đó một số công ty có doanh số lên đến 1000 tỷ VNĐ/năm

Hoạt động môi trường của Việt Nam đang dần trở nên chuyên môn hóasõu, mang tớnh cụng nghiệp với cỏc doanh nghiệp chuyờn sản xuất và cung ứngdịch vụ trờn tất cả 3 lĩnh vực dịch vụ, sản xuất thiết bị cụng nghệ và quản lý tàinguyờn Mặc dù đó đạt được những kết quả nhất định, nhưng theo đánh giá củacác chuyên gia, ngành công nghiệp môi trường ở Việt Nam vẫn chưa thực sựphát triển do gặp nhiều trở ngại

Qui mô các doanh nghiệp không ngừng tăng Các lĩnh vực hoạt độngkhông ngừng được mở rộng không chỉ ở khu vực đô thị mà còn tại các khu côngnghiệp, tại các doanh nghiệp, kiểm soát ô nhiễm, tái chế, quản lý tài nguyênthiết bị công nghệ

- Phân ngành xử lý nước thải: Năng lực cung cấp dịch vụ trong các

doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, lượng nước thải chưa được xử lý hoặcđược xử lý nhưng chưa đạt tiêu chuẩn vẫn còn lớn Giá dịch vụ trong nước thấp,rất cạnh tranh, chất lượng dịch vụ chưa cao, chậm đổi mới công nghệ, trình độ

Trang 20

chuyên môn còn thấp, thời gian cung cấp chưa đáp ứng yêu cầu của khách hàng,qui mô doanh nghiệp đa phần là vừa và nhỏ.

- Phân ngành xử lý chất thải rắn: Hầu hết chất thải rắn trong các khu

công nghiệp, khu chế xuất chưa được thu gom và xử lý tại chỗ mà ký kết hợpđồng với các công ty cung cấp dịch vụ có chức năng bên ngoài khu công nghiệp

xử lý Đối với rác thải sinh hoạt hiện nay do doanh nghiệp nhà nước URENCO

xử lý và một số doanh nghiệp tư nhân tham gia thu gom

- Phân ngành xử lý khí thải và giảm tiếng ồn: Hiện chưa có doanh

nghiệp xử lý khí thải và tiếng ồn tại các đô thị Các dịch vụ cung cấp trong lĩnhvực này chủ yếu là dịch vụ tư vấn, dịch vụ quan trắc, thiết kế…, và được thựchiện chủ yếu bởi các viện, trung tâm nghiên cứu Các thiết bị công nghệ xử lýkhí thải chủ yếu là nhập khẩu nước ngoài

- Phân ngành đánh giá tác động môi trường: Chủ yếu do các viện,

trường, trung tâm nghiên cứu cung ứng với tỷ lệ trên 90% Đây là lĩnh vựcdoanh nghiệp Việt Nam có khả năng cạnh tranh, tuy nhiên chất lượng chưa cao,giá dịch vụ chưa hợp lý phần lớn qui định theo tỷ lệ tổng vốn đầu tư của dự án

Như vậy, đánh giá một cách tổng thể có thể thấy rằng nếu nhìn theo mụctiêu ngắn hạn thì ngành DVMT chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư, khả năngcạnh tranh của các doanh nghiệp chưa cao Điều này xuất phát bởi những lý dosau:

Thứ nhất, vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay chưa được các doanh nghiệp

và người dân quan tâm một cách đáng kể Thị trường Việt Nam đã bắt đầu cónhu cầu sử dụng dịch vụ này, tuy nhiên con số sử dụng dịch vụ chưa cao bởi lẽchỉ khi bảo vệ môi trường tồn tại trong ý nghĩ thường trực của mỗi người, khisức ép của cạnh tranh với nhu cầu đòi hỏi các “sản phẩm xanh”… thì lúc đóphương diện của vấn đề sẽ theo chiều ngược lại còn hiện nay những vấn đề trênchưa thực sự được quan tâm tại Việt Nam

Trang 21

Thứ hai, cơ sở hạ tầng và công nghệ tương đối lạc hậu chưa có sức cạnh

tranh, đây là một bài toán khó có lời giải đáp không chỉ đối với ngành DVMT

mà đối với cả các ngành thương mại khác ở nước ta Cơ sở hạ tầng là một trongnhững nguyên nhân chính của hiện tượng một số nhà đầu tư nước ngoài thôikhông đầu tư vào nước ta nữa, mặc dù họ biết có rất nhiều tiềm năng và lợi thếtại Việt Nam

Thứ ba, các chính sách ưu đãi mặc dù đã được đề cập trong Luật Đầu tư,

Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14 tháng

01 năm 2009 của Chính phủ về ưu đãi hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường,

nhưng thực sự vẫn chưa thu hút được các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tưnước ngoài (Theo danh mục các dự án kêu gọi đầu tư của Cục Đầu tư nướcngoài- FIA (Foreign Investment Agency) trong lĩnh vực môi trường tại Thànhphố Hồ Chí Minh không có dự án nào, tại Thành phố Hải Phòng chỉ có một dự

án với tên gọi dự án “Sản xuất thiết bị lọc nước và xử lý nước thải”, hay tạiThành phố Hà Nội cũng chỉ có một vài dự án) Một trong những lý do của tìnhtrạng trên là những qui định về ưu đãi hỗ trợ đối với hoạt động bảo vệ môitrường còn mang tính chất qui định chung chung, hoặc không mở rộng cho tất cảcác đối tượng kinh doanh trong lĩnh vực này Một điều hiển nhiên là khi đầu tưvào bất cứ lĩnh vực, bất cứ ngành nào các nhà đầu tư thường quan tâm đếnnhững ưu đãi cũng như hỗ trợ đầu tư của quốc gia nước sở tại Nếu như các ưuđãi này chưa thực sự hấp dẫn thì sự đầu tư cũng hạn chế

Thứ tư, nguồn vốn đầu tư trong nước hạn hẹp Đây là một cản trở lớn đối

với các doanh nghiệp Việt Nam khi đang bước ra một sân chơi đầy mạo hiểm vàcạnh tranh khốc liệt, phần thắng chỉ thuộc về những chủ thể thực sự có nănglực

Tuy nhiên nhìn theo hướng một mục tiêu dài hạn thì có lẽ đây là một thịtrường thực sự tiềm năng cho các doanh nghiệp trong nước và các nhà đầu tưnước ngoài bởi những lý do sau:

Trang 22

Thứ nhất, để thực hiện các cam kết của mình đối với WTO Chính phủ sẽ

có những chính sách ưu đãi và hỗ trợ nhất định, mang tính thực tiễn hơn đối vớicác doanh nghiệp trong nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như hỗ trợ vềgiải phóng mặt bằng, về xây dựng cơ sở hạ tầng, giảm miễn thuế… để tạo điềukiện cho các doanh nghiệp có đủ tiềm lực hoạt động Bên cạnh đó, các cam kết

mở cửa thị trường trong biểu cam kết cũng là những lợi thế nhất định mà cácnhà đàm phán có thể tính toán một cách khéo léo nhất những điều có lợi chodoanh nghiệp trong nước Đối với các doanh nghiệp nước ngoài khi các qui chếđối xử quốc gia (NT) và đối xử tối huệ quốc (MFN) được áp dụng thì chính sựđối xử bình đẳng này sẽ tạo tiền đề cho các doanh nghiệp đó phát huy thế mạnhcủa mình khi quyết định đầu tư vào Việt Nam

Thứ hai, khi cuộc sống của người dân càng được nâng cao thì nhu cầu về

một môi trường xanh sạch đẹp là một điều tất yếu Bên cạnh đó khi sức ép củahội nhập kinh tế quốc tế, của sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong vấn đềsản xuất ra những sản phẩm sạch đạt tiêu chuẩn quốc tế, cũng như nhu cầu củangười dân thì lúc đó thực sự DVMT là ngành không thể thiếu trong đời sống xãhội Đặc biệt nhu cầu này trong tương lai có xu hướng ngày càng tăng và ngànhDVMT hứa hẹn một môi trường tiềm năng đầy hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong

và ngoài nước

1.4.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NGÀNH DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNGTẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

* Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu

Có thể thấy rằng Liên minh châu Âu (EU) được xem là một trong nhữngthị trường khó tính nhất thế giới trong vấn đề nhập khẩu hàng hoá và các dịch vụthương mại EU quản lý hàng hóa nhập khẩu bằng các qui định về tiêu chuẩnnhư hệ thống qui định HACCP (phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn),các qui định về phụ gia thực phẩm, về đóng gói, về nhãn sản phẩm… Tuy nhiên

Trang 23

đối với lĩnh vực DVMT, EU đã đưa ra những chính sách nhằm thúc đẩy ngànhnày phát triển như sau:

- Khuyến khích tái chế chất thải: Áo ban hành một Nghị định về bao bìvới mục tiêu khuyến khích tái chế tới 80% chất thải, Bỉ áp dụng những qui định

về sử dụng nguyên liệu tái chế và tái sử dụng các chất thải nguy hại, Đan Mạchxây dựng một chương trình hành động về chất thải và tái chế, Phần Lan cũng đặt

ra mục tiêu tăng tỷ lệ tái chế giấy thải tới mức yêu cầu chung của EU Pháp luậtqui định mọi chất thải phải được qua xử lý, đồng thời ban hành một Nghị địnhyêu cầu các doanh nghiệp phải tái chế lại các bao gói họ thải ra hoặc chuyển đếncác đơn vị chức năng tái chế

- Sử dụng công cụ kinh tế nhằm đảm bảo sự tuân thủ thay vì chỉ sử dụngcác công cụ hành chính: như Thổ Nhĩ Kỳ đánh thuế đối với chất thải Ở Nauy đểkhuyến khích tái chế hoặc thải an toàn đối với 26 loại chất thải và giảm lượngchất thải nói chung, Nhà nước đã đánh thuế đối với nồng độ khí CO2 thải ra.Thụy Điển cũng đánh thuế đối với chất thải có chứa Sunphua, thu phí đối vớinitro ôxit, đánh thuế đối với diesel…

- Một số nước còn áp dụng hình thức thoả thuận tự nguyện của ngành đốivới Chính phủ như: Áo đã kí kết về việc tăng cường tái chế trong các ngành sảnxuẩt giấy, xi măng, nhựa và ngành sản xuất động cơ giao thông theo hình thứcthoả thuận tự nguyện này, hoặc Hà Lan áp dụng thoả thuận tự nguyện đối vớingành luyện kim, hoá chất và in ấn

- EU tận dụng những ngoại lệ của WTO về trợ cấp để cho phép các nướcthành viên được trợ cấp cho các chương trình môi trường của doanh nghiệp như

hỗ trợ tài chính trong trường hợp doanh nghiệp doanh nghiệp vì khó khăn màkhông thực hiện được chính sách môi trường…

* Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trang 24

Bộ Bảo vệ môi trường Trung Quốc áp dụng một số biện pháp để thúc đẩy

sự phát triển của ngành công nghiệp môi trường bao gồm:

- Yêu cầu chính quyền và phòng ban các cấp dành sự quan tâm chiến lượcđến phát triển ngành môi trường bằng cách nêu rằng ngành môi trường là mộtlĩnh vực ưu tiên trong quá trình tái cơ cấu các ngành kinh tế

- Áp dụng cơ chế thị trường đối với các nhà sản xuất hàng hoá môi trường

và cung cấp DVMT và tạo cho họ môi trường cạnh tranh bình đẳng Đồng thờicác phòng ban về khoa học và công nghệ các cấp và các cơ quan quản lý cóthẩm quyền cũng được yêu cầu hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu phát triển, triểnkhai và xúc tiến của ngành môi trường Theo báo cáo tổng hợp “Điều tra, nghiêncứu, xây dựng khuôn khổ chính sách hạn chế tác động tiêu cực lên môi trườnggiai đoạn hậu WTO” của Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trườngcho biết rằng Cục bảo vệ môi trường quốc gia Trung Quốc đã ban hành Quyếtđịnh về một số vấn đề liên quan đến khoa học công nghệ môi trường và ngànhmôi trường trong đó nêu rõ sẽ áp dụng các yêu cầu cao hơn đối với phát triểnngành môi trường trong bối cảnh tái cấu trúc các ngành, Quyết định nêu rằngngành môi trường cần được mở rộng về qui mô tại một số lĩnh vực chủ chốt mộtcách có kế hoạch

- Ngoài ra, Trung Quốc còn ban hành một số chính sách quản lý liên quanđến DVMT bao gồm: Các qui định về công tác đánh giá tác động môi trường,các qui định quản lý dịch vụ quan trắc môi trường, các qui định về cấp phéphoạt động thiết kế cơ khí môi trường, các qui tắc quản lý liên quan đến vận hànhcác thiết bị môi trường, các chính sách tài chính và thuế quan liên quan đếnDVMT (các chính sách cho vay vốn ưu đãi phát triển DVMT và chính sách ưuđãi về thuế thu nhập đối với doanh nghiệp môi trường)

* Kinh nghiệm của Thái Lan

Từ thập kỷ 90 Thái Lan đã nhận thức rõ tầm quan trọng của ngànhDVMT, tuy nhiên các chính sách của Chính phủ trong giai đoạn đó mới chỉ tập

Trang 25

trung vào việc tạo công ăn việc làm mà không chú ý tới vấn đề bảo vệ môitrường Thái Lan đã dựa quá nhiều vào khả năng tự xử lý chất thải của hệ sinhthái Nguồn cung các DVMT như quản lý chất thải độc hại hoặc ít hoặc đượccung cấp bởi cơ quan Chính phủ như là một phần trong trong chính sách phúclợi xã hội Các “vấn đề xanh” bao gồm rừng, sông, động vật hoang dã và đất chủyếu được giải quyết bởi khu vực Nhà nước, trong khi đó khu vực tư nhân thamgia một cách tích cực trong việc giải quyết các “vấn đề xám”

- Về dịch vụ xử lý rác thải: Tại Thái Lan các dịch vụ này được tiến hànhbởi chính quyền địa phương Tuy nhiên các cơ quan địa phương lại gặp phải vấn

đề trong việc đưa chi phí xử lý vào phí dịch vụ nước sạch Gần đây khu vực tưnhân ngày càng tham gia nhiều vào lĩnh vực này, nhằm giảm bớt nhu cầu về vốnđầu tư và mua công nghệ mới của khu vực Nhà nước và hợp lý hoá dịch vụ này.Khu vực tư nhân được tham gia dưới hình thức liên doanh với tỷ lệ góp vốn của

cơ quan quản lý nước thải không quá 30%

- Về chất thải công nghiệp đặc biệt là chất thải độc hại việc xử lý đượcthực hiện bởi cơ chế độc quyền Cụ thể một số công ty tư nhân như GENCOđược cấp phép xử lý chất thải công nghiệp Ngay từ khi bắt đầu hoạt độngGENCO có trách nhiệm xử lý chất thải công nghiệp và hộ gia đình trên khắp cảnước, hoạt động của công ty này rất hiệu quả và vì thế Chính phủ tập trung rất ítvào lĩnh vực xử lý chất thải rắn và có điều kiện để xây dựng cơ sở hạ tầng củalĩnh vực xử lý nước thải

Trang 26

Chương II NHỮNG CAM KẾT ĐỐI VỚI NGÀNH DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

2.1 NHỮNG QUI ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TẠIVIỆT NAM TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 2005

Trước khi Luật Bảo vệ môi trường 2005 được ban hành, các qui định liênquan đến bảo vệ môi trường được áp dụng theo qui định của Luật Bảo vệ môitrường 1993 Có thể nhận định rằng sự ra đời của văn bản pháp lý này có ảnhhưởng rất lớn đến công tác bảo vệ môi trường tại nước ta, những qui định trong

Trang 27

văn bản này tập trung vào các nội dung lớn sau: i) Phòng chống suy thoái môitrường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường; ii) Khắc phục suy thoái môitrường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường; iii) Quản lý nhà nước về bảo vệmôi trường; iv) Quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trường; v) Khen thưởng và xử lý

vi phạm trong hoạt động bảo vệ môi trường Tuy nhiên, trong 55 điều của đạoluật không có một điều khoản nào qui định về DVMT (hay dịch vụ bảo vệ môitrường) và đương nhiên là chúng không được qui định trong văn bản hướng dẫn

thi hành (Nghị định số 175/CP ngày 18 tháng 10 năm 1994 về hướng dẫn thi

hành Luật Bảo vệ môi trường) Song, nếu đọc kỹ một số điều khoản trong Luật

Bảo vệ môi trường 1993 có thể thấy một số qui định có liên quan đến ngànhDVMT mặc dù chúng không đề cập trực tiếp đến thuật ngữ DVMT Ví dụ: TạiĐiều 46 về các chính sách ưu tiên đối với các nước các tổ chức quốc tế, các tổchức cá nhân nước ngoài trong một số hoạt động liên quan đến bảo vệ môitrường tại Việt Nam trong đó có các dự án xử lý nước thải tại Việt Nam mà theocách phân loại tại Chương 1 thì dịch vụ xử lý nước thải thuộc ngành DVMT,

hoặc tại đoạn 2 Điều 3 qui định: “Nhà nước có chính sách đầu tư khuyến khích

và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức cá nhân trong nước ngoài nước đầu

tư dưới nhiều hình thức, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào việc bảo vệ môi trường”.

Câu hỏi đặt ra rằng tại sao trong thời kỳ này lại không có những qui định

về DVMT trong các văn bản pháp lý về bảo vệ môi trường? Câu trả lời có thểđược lý giải như sau:

- Một là, ngành DVMT là ngành còn mới mẻ đối với hầu hết các nước ở

khu vực Đông Nam Á, nhận định này có thể được chứng minh bởi con số sau:Vào năm 1996 thị trường môi trường toàn cầu (theo thống kê của Công ty Kinhdoanh môi trường quốc tế thị trường môi trường toàn cầu bao gồm ba nhóm:Nhóm thiết bị (gồm thiết bị hoá chất xử lý nước, thiết bị kiểm soát ô nhiễmkhông khí, thiết bị công cộng và hệ thống thông tin, thiết bị quản lý chất thải,

Trang 28

qui trình/công nghệ phòng ngừa); nhóm dịch vụ (gồm dịch vu quản lý chất thảirắn, dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, dịch vụ tư vấn và kĩ thuật, dịch vụ côngnghiệp và phục hồi môi trường, dịch vụ phân tích, dịch vụ xử lý nước); nhómnguồn tài nguyên (gồm tài nguyên nước, tái tạo tài nguyên, năng lượng mặttrời)) ước tính đạt 453 tỷ USD trong đó dịch vụ chiếm hơn một nửa với 229 tỷUSD, trong đó dịch vụ quản lý chất thải rắn (102 tỷ USD), dịch vụ xử lý nước(69 tỷ USD) là các ngành dịch vụ chiếm ưu thế Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âuchiếm 87% thị trường toàn cầu, trong khi đó châu Phi, châu Á, châu Mỹ La tinhchiếm 7% thị trường(6) Việt Nam là một trong các nước nằm trong khu vựcĐông Nam Á và thuộc nước có nền kinh tế gần như kém phát triển nhất trongkhu vực này, do vậy DVMT chưa phát triển thậm chí nếu xét theo tiêu chí chungcủa ngành DVMT thì chúng còn chưa xuất hiện Một điều dễ hiểu rằng DVMTchỉ thực sự xuất hiện và phát triển ở những quốc gia có mức tăng trưởng kinh tếcao, bởi lẽ khi cuộc sống đã được nâng cao thì ắt hẳn con người không chỉ cónhu cầu một cuộc sống tiện nghi đầy đủ mà cao hơn nữa là sống trong môitrường thực sự trong lành.

- Hai là, năm 1986 là năm Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới,

nhưng những năm tiếp theo đó đất nước vẫn chìm trong khủng hoảng, đặc biệtvào đầu những năm 90 hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên

Xô bắt đầu lâm vào khủng hoảng và liên tiếp có dấu hiệu tan rã, Việt Nam cũngchịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự sụp đổ đó Tuy nhiên, với chiến lược riêng củamình Việt Nam bắt tay vào khôi phục kinh tế Do vậy mục tiêu quan trọng hơn

cả vào thời điểm này là phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường chỉ là một trongcác nhiệm vụ kèm theo của quá trình phát triển kinh tế Cho nên những qui địnhtrong Luật Bảo vệ môi trường 1993 chỉ là những qui định khung mang tính chấtkhắc phục là chính mà chưa quan tâm thực sự đến các biện pháp phòng ngừa,đánh giá được sự tác động của thương mại quốc tế đối với bảo vệ môi trường ví

dụ như các biện pháp quản lý chất thải được áp dụng là quản lý chất thải cuối

6() Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế “Tổng quan các vấn đề tự do hoá Thương mại dịch vụ”, tr 893.

Trang 29

đường ống, các biện pháp này chỉ được áp dụng phổ biến ở các nước có nềnkinh tế kém phát triển do công nghệ lạc hậu, chưa đủ sức quản lý chất thải theocách thức quản lý chất thải theo đường ống sản xuất như các nước phát triểnkhác Như vậy khi các nhà quản lý chưa chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường,chưa khuyến khích xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường (chính là phát triểnngành DVMT) chỉ tập trung vào vấn đề tăng trưởng kinh tế, thậm chí khai thácquá mức các tài nguyên thiên nhiên quý giá để xuất khẩu, bên cạnh đó cộngđồng dân cư một chủ thể đóng vai trò lớn trong bảo vệ môi trường cũng “hờhững” với sự suy thoái môi trường ngày càng nghiêm trọng thì lúc đó DVMTchưa thể phát triển.

- Ba là, tại Việt Nam thời kỳ đó chưa có môi trường đầu tư thuận lợi để

ngành dịch vụ này cạnh tranh Mặc dù vào năm 1994 Hoa Kỳ đã bỏ lệnh cấmvận với Việt Nam, điều này tạo điều kiện cho chúng ta hợp tác với một đối táclớn trên thế giới cũng như mở rộng quan hệ trên mọi lĩnh vực với một số quốcgia khác, nhưng sự mở cửa hợp tác này vẫn mang tính thận trọng, thậm chí sựcan thiệp của Nhà nước vào các mối quan hệ kinh tế là rất lớn Mặt khác cơ sở

hạ tầng- kỹ thuật trong nước khá lạc hậu, không theo kịp được những bước tiến

bộ về khoa học kỹ thuật của nhân loại và của các nước đi trước Điều này vôhình chung đã kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước cũng nhưthu hút các nhà đầu tư nước ngoài Pháp luật là một trong các yếu tố của kiếntrúc thượng tầng nó thường chậm thay đổi hơn so với cơ sở hạ tầng và phụ thuộcvào cơ sở hạ tầng Đây là yếu tố lý giải tại sao Luật Bảo vệ môi trường 1993 lạichưa qui định về DVMT

Sự thay đổi lớn nhất đối với ngành DVMT đánh đấu bởi sự kiện Luật Bảo

vệ môi trường 2005 được ban hành

2.2 NHỮNG QUI ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TẠIVIỆT NAM SAU KHI BAN HÀNH LUẬT BVMT 2005

Trang 30

Trước đòi hỏi cấp thiết của việc hoàn thành quá trình Việt Nam gia nhậpWTO (sau 11 năm đàm phán đánh dấu từ mốc tháng 06 năm 1994 Việt Namđược công nhận là quan sát viên của GATT- The General Agreement on Tariffsand Trade), hàng loạt các văn bản pháp lý được Quốc hội ban hành vào năm

2005 như: Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo vệmôi trường… Luật Bảo vệ môi trường 2005 ra đời đã khắc phục được nhữngnhược điểm của Luật Bảo vệ môi trường 1993, trong đó DVMT đã được ghinhận mặc dù thuật ngữ được sử dụng tại văn bản này là “dịch vụ bảo vệ môitrường” Nội dung của những qui định này xem tại Điều 116 Luật Bảo vệ môitrường 2005, nhưng có thể tóm lược các phân ngành của ngành DVMT theo quiđịnh này như sau: Dịch vụ thu gom, tái chế, xử lý chất thải; dịch vụ quan trắc,phân tích môi trường, đánh giá tác động môi trường, dịch vụ phát triển, chuyểngiao công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, công nghệ môi trường, dịch

vụ tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về môi trường; dịch vụ giám định thiệt hạimôi trường, giám định về môi trường đối với máy móc, thiết bị công nghệ; cácdịch vụ khác về bảo vệ môi trường

Bên cạnh đó tại Khoản 7 Điều 6 qui định về những hoạt động bảo vệ môitrường được khuyến khích trong đó có hoạt động cung cấp dịch vụ bảo vệ môitrường Cùng với Luật Bảo vệ môi trường 2005 Chính phủ đã ban hành hai vănbản hướng dẫn thi hành là Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm

2006 của Chính phủ về qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của

Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 2 năm

2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số

80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, nhưng có

thể thấy rằng các văn bản dưới luật này không qui định về DVMT, DVMT chỉđược qui định như những điều khoản khung ban đầu tại Luật Bảo vệ môi trường

2005 Tuy nhiên sự ghi nhận tại Luật Bảo vệ môi trường 2005 về loại hình dịch

vụ này đã đánh dấu một tín hiệu vui cho các bước phát triển tiếp theo trong một

Ngày đăng: 16/03/2018, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w