LỜI MỞ ĐẦU Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản, là nền tảng và động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Có thể nói rằng không có cạnh tranh thì cũng không thể có nền kinh tế thị trường. Cùng với quy luật cung cầu và quy luật giá trị, cạnh tranh trở thành một quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường. Trong thời gian qua, cùng với chính sách đổi mới, mọi thành phần kinh tế được khuyến khích và tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tham gia kinh doanh trong thị trường. Từ đó, cạnh tranh ngày càng trở nên mạnh mẽ trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng mức độ cạnh tranh, đã xuất hiện những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế, Quốc hội đã giao nhiệm vụ cho Chính phủ xây dựng Luật Cạnh tranh nhằm điều tiết các hành vi cạnh tranh, hạn chế và ngăn ngừa những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo các cơ hội cạnh tranh cho các doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Với mục đích muốn tìm hiểu một cách toàn diện và có hệ thống về lĩnh vực pháp luật này, trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp đại học, em đã chọn đề tài: “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.” Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Chương 2: Thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam và một số kiến nghị.
Trang 1Xuất phát từ những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế, Quốc hội đã giaonhiệm vụ cho Chính phủ xây dựng Luật Cạnh tranh nhằm điều tiết các hành vi cạnhtranh, hạn chế và ngăn ngừa những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, duy trì môitrường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo các cơ hội cạnh tranh cho các doanh nghiệp,
sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững
Với mục đích muốn tìm hiểu một cách toàn diện và có hệ thống về lĩnhvực pháp luật này, trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp đại học, em đã chọn đề
tài: “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam - Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn.”
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu củakhóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và
pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Chương 2: Thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh ở Việt Nam và một số kiến nghị
Chương 1:
Trang 2Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH
VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1 Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh không lành mạnh
a Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh
Hiểu theo nghĩa chung “Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm phạm lợi ích của các nhà kinh doanh khác, lợi ích của người tiêu dùng, lợi ích của xã hội”[12].
Trong quá trình xây dựng các chế định của pháp luật cạnh tranh, nhiềuquốc gia trên thế giới đã đưa ra các khái niệm về hành vi cạnh tranh không lànhmạnh, theo đó:
Luật Cạnh tranh Bungaria ban hành ngày 02/05/1991 tại Khoản 2 Điều
12, định nghĩa: “Cạnh tranh không bình đẳng là hành vi hoặc biểu hiện tiến hành các hoạt động kinh tế trái với tiêu chuẩn thông thường về kinh doanh trung thực, gây hại hoặc có thể gây hại tới những lợi ích của các đối thủ cạnh tranh trong các mối quan hệ giữa họ với người tiêu dùng ”[9].
Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Đức (1909), một trongnhững đạo luật ra đời sớm nhất điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, tại Điều 1 đã khẳng định: “Người nào trong các giao dịch kinh doanh mà thực hiện các hành vi trái với thuần phong mỹ tục, thì có thể bị yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại” Luật cũng đã liệt kê những hành vi
cạnh tranh không lành mạnh như: Quảng cáo so sánh, quảng cáo trái với thuầnphong mỹ tục, hành vi làm hàng nhái [10]
Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa quy định: “Cạnh tranh không lành mạnh là hoạt động của doanh nghiệp trái với quy định của luật này, gây thiệt hại cho quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp khác, làm rối loạn trật tự kinh tế - xã hội ”[11].
Như vậy, mặc dù chưa có khái niệm nào đầy đủ và bao quát nhất nhưngqua tìm hiểu hệ thống pháp luật của một số quốc gia, chúng ta bước đầu đã hìnhdung được “diện mạo” của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trang 3Bên cạnh hệ thống pháp luật của các quốc gia, những Điều ước quốc tế cóliên quan cũng đưa ra những cách hiểu về hành vi cạnh tranh không lành mạnh,trong đó phải kể đến Công ước Paris 1883 về Quyền sở hữu công nghiệp, mộttrong những điều ước quốc tế sớm nhất có quy định về việc chống các hành vicạnh tranh không lành mạnh, tại Điều 10 Bis Công ước đã đưa ra khái niệm về
các hành vi này, theo đó: “Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh tranh không trung thực, vi phạm những nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh, được tiến hành trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nhằm hưởng lợi bất hợp pháp từ thành quả kinh doanh của người khác hoặc gièm pha đối thủ cạnh tranh, qua đó, giành giật khách hàng về phía mình ”[8].
Ở Việt Nam, trước khi Luật cạnh tranh 2004 ra đời đã có một số văn bảnpháp luật đề cập tới vấn đề cạnh tranh không lành mạnh, tuy nhiên không có mộtvăn bản nào đưa ra khái niệm về hành vi này Một số nhà nghiên cứu đã đưa raquan điểm của mình về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tuy nhiên đều chưa
có tính thuyết phục Mãi tới kỳ họp thứ V Quốc hội khóa XI khái niệm cạnhtranh không lành mạnh mới được đưa ra trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các đạibiểu Quốc hội [13 tr.17] Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004:
“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng”.
Như vậy, có thể thấy có nhiều quan điểm, nhiều cách định nghĩa khác nhau
về hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, tất cả các khái niệm đó đều cóchung quan điểm đây là hành vi cạnh tranh không đẹp, vi phạm môi trường kinhdoanh lành mạnh và cần phải được ngăn chặn kịp thời để bảo vệ lợi ích của nhànước, quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp khác và người tiêu dùng
b Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Từ khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tạikhoản 4 điều 3 Luật Cạnh tranh 2004, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của
doanh nghiệp, hiệp hội trong quá trình kinh doanh
Đặc điểm này cho chúng ta nhận biết được chủ thể thực hiện hành vi cũngnhư thời điểm thực hiện nó Theo Điều 2 – Luật Cạnh tranh 2004 quy định về đối
Trang 4Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
tượng áp dụng, có thể thấy đối tượng áp dụng của Luật này là các tổ chức, cá nhânkinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) và các hiệp hội ngành nghề hoạt động tạiViệt Nam, do đó chủ thể của hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ có thể là cácdoanh nghiệp, hiệp hội, còn các cá nhân khác cho dù có thực hiện những hành vi códấu hiệu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng không được coi là chủ thểcủa hành vi này, không chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh
Mặt khác, các chủ thể này phải thực hiện hành vi cạnh tranh không lànhmạnh trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận, còn cáchành vi nằm ngoài chức năng kinh doanh của chủ thể thì không được coi là hành
vi cạnh tranh không lành mạnh
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải nhằm mục đích cạnh tranh.
Có thể thấy cạnh tranh là một vấn đề sống còn của doanh nghiệp trongnền kinh tế thị trường Quy luật cạnh tranh cũng giống như những quy luật tồntại và đào thải của tự nhiên, nó luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh
Do đó để thu được nhiều lợi nhuận, các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh vớinhau và đôi khi họ sử dụng cả những cách thức, phương pháp mà pháp luậtkhông cho phép, xâm phạm đến lợi ích của các đối thủ khác Mục đích cạnhtranh là yếu tố bắt buộc để xác định một hành vi là cạnh tranh lành mạnh haykhông lành mạnh Nếu hành vi của Doanh nghiệp, hiệp hội không nhằm mụcđích cạnh tranh thì đó không phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh vàkhông thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật này
Thứ ba, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi trái với các chuẩn
mực thông thường về đạo đức kinh doanh
Chuẩn mực về đạo đức kinh doanh là một khái niệm mang tính chất trừutượng và rất khó xác định, nó phụ thuộc vào quan niệm, truyền thống kinhdoanh của từng quốc gia, từng vùng miền Một hành vi ở nơi này có thể bị coi là
vi phạm đạo đức kinh doanh nhưng ở nơi khác lại không Tuy nhiên hành vicạnh tranh không lành mạnh thường được hiểu là đi ngược lại với pháp luật,thông lệ, tập quán kinh doanh
Thứ tư, hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải gây thiệt hại hoặc có thể
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của doanh nghiệp khác hoặc củangười tiêu dùng
Trang 5Điều 4 Luật Cạnh tranh 2004 có cho phép các doanh nghiệp được quyền
tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Tuy vậy, những trường hợp doanhnghiệp thực hiện quyền tự do cạnh tranh mà gây thiệt hại cho các chủ thể khácthì bị xếp vào nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh Thiệt hại là yếu tốphải xác định để có thể coi một hành vi cạnh tranh là lành mạnh hay không lànhmạnh Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể gây ra những thiệt hại choNhà nước như tác động xấu đến thị trường, làm đảo lộn trật tự quản lý kinh tế ,cũng có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác như làm mất uy tín, giảm thịphần, giảm doanh thu , có thể gây thiệt hại cho khách hàng như bị nhầm lẫn,mua phải hàng hóa kém chất lượng, bị giảm sút về sức khỏe, thậm chí là thiệthại về tính mạng
Nếu doanh nghiệp, hiệp hội chứng minh được hành vi của mình khôngảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của doanh nghiệp khác hoặc củakhách hàng thì không phải chịu những chế tài theo pháp luật cạnh tranh khônglành mạnh Tuy nhiên, việc xác định thiệt hại là một vấn đề hết sức phức tạp, đòihỏi phải tuân thủ những quy định chặt chẽ của pháp luật
Như vậy, để xác định một hành vi là hành vi cạnh tranh không lành mạnhphải có đủ bốn đặc điểm trên Nếu thiếu một trong bốn đặc điểm này thì hành vi
đó không được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và không chịu sự điềuchỉnh của Luật Cạnh tranh 2004
1.1.2 Phân biệt cạnh tranh không lành mạnh với hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh lành mạnh
a Phân biệt cạnh tranh không lành mạnh với hạn chế cạnh tranh
Hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh đều là các hành vi gâytổn hại đến hoạt động cạnh tranh trên thị trường, cần phải loại bỏ và được quyđịnh trong pháp luật cạnh tranh của hầu hết các nước trên thế giới
Tại Việt nam, theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004:
“Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế”.
Xét về mức độ phức tạp và nguy hại cho thị trường thì hành vi hạn chếcạnh tranh ở mức độ cao hơn và nguy hiểm hơn so với hành vi cạnh tranh không
Trang 6Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
lành mạnh đơn thuần Có thể thấy chế định về hạn chế cạnh tranh bao gồm tổngthể các quy định của pháp luật thể hiện sự can thiệp trực tiếp của Nhà nướcnhằm kiểm soát, giới hạn hoặc cấm đoán tất cả các thỏa thuận, liên kết dẫn đến
sự hạn chế hoặc triệt tiêu sự cạnh tranh, giảm sút các chủ thể đang nắm giữ vị trí
có quyền lực thị trường, hạn chế sự cạnh tranh trong một tương quan hợp lý vớilợi ích chung của toàn xã hội Do việc triệt tiêu quy luật cạnh tranh, thao túngmột ngành, một lĩnh vực của hoạt động sản xuất, kinh doanh, những hành vi nàyphá vỡ tương quan và cơ cấu thị trường, gây suy giảm sản xuất, đơn điệu trongkinh doanh dịch vụ, tác động tiêu cực đến thị trường và xã hội Do đó các biệnpháp chế tài được áp dụng đối với loại hành vi này thường nghiêm khắc vàcương quyết hơn Nhà nước chủ động can thiệp nhằm loại bỏ các hành vi hạnchế cạnh tranh mà không cần phải có chủ thể khiếu kiện
Trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ nhằm mục đíchcạnh tranh với các đối thủ khác cũng như chiếm lĩnh thị trường, thu hút kháchhàng về phía mình; tác động chủ yếu đến các đối thủ cạnh tranh, khách hàngtrong cùng một thị trường hàng hóa, dịch vụ liên quan; xâm hại đến các đốitượng cụ thể của thị trường Vì vậy, các biện pháp chế tài áp dụng cho hành vinày mang tính chất dân sự, như là một biến thể của bồi thường thiệt hại
b Phân biệt cạnh tranh không lành mạnh với cạnh tranh lành mạnh
Mặc dù chưa có một định nghĩa chung nhất về cạnh tranh lành mạnh,nhưng chúng ta có thể hiểu cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh đẹp,trong sáng, cạnh tranh bằng tiềm năng vốn có của bản thân doanh nghiệp Đó lànhững hoạt động nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm và phù hợpvới tập quán thương mại và đạo đức kinh doanh
Trái ngược với cạnh tranh lành mạnh, hành vi cạnh tranh không lànhmạnh được hiểu là những hành vi cụ thể của một chủ thể kinh doanh, nhằm mụcđích cạnh tranh, luôn thể hiện tính không lành mạnh (không nhất thiết phải tráipháp luật) và vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh tranh hay bạnhàng cụ thể
Tuy nhiên, ranh giới giữa cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lànhmạnh là rất mong manh và khó xác định Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏđến nhận thức và hành động của các chủ thể cạnh tranh, đồng thời khiến trật tựkinh tế và môi trường cạnh tranh bị xáo trộn Đây chính là một trở ngại đối vớicác nhà quản lý
Trang 71.1.3 Phân loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được phân thành nhiềuloại khác nhau phụ thuộc vào tiêu chí cũng như mục đích phân loại Căn cứ vàolợi ích của chủ thể bị xâm hại, người ta có thể phân loại thành hành vi xâm hạilợi ích của đối thủ cạnh tranh và hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng
a Những hành vi xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh.
Theo quy định của Luật Cạnh tranh 2004 thì những hành vi thuộc nhómnày có thể được biểu hiện dưới những hình thức như: Xâm phạm bí mật kinhdoanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp khác, đưa ra các chỉ dẫn gây nhầm lẫn, ép buộc trong kinh doanh Mụcđích của các chủ thể khi thực hiện hành vi này thường là hạ thấp uy tín, làm thiệthại đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp khác Đây là hành vi rất đáng lo ngại vì
nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các doanh nghiệp trong quá trìnhcạnh tranh mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng và về lâu dài nó sẽ gây
ra những xáo trộn trong trật tự quản lý kinh tế - xã hội Vì vậy, cần thiết phải cónhững biện pháp phù hợp để điều chỉnh những hành vi thuộc nhóm này
b Những hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng
Có thể thấy khách hàng là chủ thể không thể thiếu trong nền kinh tế thịtrường và việc lôi kéo khách hàng về phía mình là công việc quan trọng nhất củamỗi doanh nghiệp, bởi lẽ mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp chính là lợi nhuận.Trong quá trình cạnh tranh, bên cạnh những cách thức hợp pháp, lành mạnh, đểđạt được lợi nhuận, các doanh nghiệp sẵn sàng bỏ qua lợi ích của khách hàngbằng hành vi gây cho họ những thiệt hại nhất định về quyền tự do lựa chọn, vềsức khỏe, thậm chí là tính mạng nhằm mục đích cạnh tranh Ở Việt Nam hiệnnay, tuy đã thành lập hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng (VINATAS) nhưng tổ chứcnày chưa được quản lý chặt chẽ nên chưa phát huy được vai trò của nó, chưa thực
sự trở thành địa chỉ tin cậy của khách hàng và vì vậy, người tiêu dùng vẫn là “nạnnhân”, là mục tiêu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng, Luật Cạnh tranh 2004 cũng quyđịnh một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến người tiêu dùngnhư: chỉ dẫn gây nhầm lẫn, khuyến mại gian dối, quảng cáo gian dối Tất cảnhững hành vi này đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng,làm cho những doanh nghiệp làm ăn chân chính bị những thiệt hại nhất định vànếu không được ngăn chặn kịp thời thì nó sẽ có tác động xấu đến môi trường
Trang 8Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
kinh doanh nói chung Mục đích của chủ thể khi thực hiện hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh là để lôi kéo, thu hút khách hàng về phía mình Vì vậy, cầnthiết phải có những biện pháp nhằm xử lý cũng như ngăn chặn những hành vinày, đảm bảo cho người tiêu dùng tránh được những thiệt hại do hành vi cạnhtranh không lành mạnh gây ra
Có thể khẳng định việc phân loại dựa vào chủ thể bị xâm hại có ý nghĩa vôcùng quan trọng, nhờ sự phân loại này mà cơ quan quản lý cạnh tranh trong quátrình xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể xác định được nhữngchế tài áp dụng cũng như cách xử lý sao cho đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời, cácdoanh nghiệp và khách hàng cũng dễ dàng nhận ra được những hành vi ảnh hưởngtrực tiếp đến quyền lợi của mình, qua đó có biện pháp bảo vệ mình cũng như gópphần phát hiện và xử lý những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Tuy nhiên việc phân loại này chỉ mang tính chất tương đối, vì có nhữnghành vi vừa xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh lại vừa xâm hại lợi ích củakhách hàng như hành vi ép buộc trong kinh doanh, hành vi quảng cáo nhằmcạnh tranh không lành mạnh Một hành vi cạnh tranh không lành mạnh dù đượcxếp vào nhóm này hay nhóm kia đều cần có những chế định xử lý nghiêm khắc
và triệt để
1.2 Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
1.2.1 Khái niệm và cơ cấu của pháp luật cạnh tranh
a Khái niệm pháp luật cạnh tranh
Pháp luật cạnh tranh của các nước ra đời đều bắt nguồn từ nhu cầu củanền kinh tế Cùng với quá trình phát triển, pháp luật cạnh tranh đã được liên tụcsửa đổi để phù hợp với thực tiễn Luật Cạnh tranh có thể được gọi theo nhiềucách khác nhau như Luật cạnh tranh – Competition Law của Anh, Luật chốngđộc quyền – Anti monopoly Act của Nhật Bản, Luật Thương mại lành mạnh –Fair Trade Law của Đài Loan nhưng tất cả đều có một mục đích chung là duytrì và bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cho phép các thực thể kinhdoanh có cơ hội bình đẳng cạnh tranh cũng như tiếp cận thị trường Bảo vệngười tiêu dùng thông qua việc khuyến khích hạ giá và cải thiện chất lượng sảnphẩm được xem như một hệ quả của cạnh tranh tự do và lành mạnh trên thị trường
Trên thế giới có nhiều cách tiếp cận khác nhau về luật cạnh tranh Hoa Kỳ
được coi là quốc gia khởi xướng ngành luật này đã định nghĩa: “Luật cạnh tranh
Trang 9là công cụ tự vệ của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh trên thị trường, xuất phát từ học thuyết chủ đạo coi cạnh tranh là mục đích”[14].
Ở Châu Âu, cạnh tranh chỉ được nhìn nhận là phương tiện, Luật Cạnh
tranh được hiểu là “tổng hợp các quy phạm pháp luật áp dụng với các tác nhân kinh tế trong hoạt động cạnh tranh nhằm đảm bảo cho cạnh tranh diễn ra trên thị trường một cách hợp lý, tức là không thái quá”[14].
Như vậy, các khái niệm trên về Luật Cạnh tranh đều thể hiện một điểmchung: pháp luật cạnh tranh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều tiết vàkiểm soát cạnh tranh nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, hợp pháp, bảo
vệ lợi ích quốc gia, lợi ích của doanh nghiệp và của người tiêu dùng, góp phầnthúc đẩy kinh tế xã hội Pháp luật cạnh tranh là công cụ của Nhà nước để đảmbảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh
b Cơ cấu của pháp luật cạnh tranh
Pháp luật về cạnh tranh bao gồm hai bộ phận cơ bản hợp thành, đó làpháp luật chống hạn chế cạnh tranh và pháp luật chống cạnh tranh không lànhmạnh Mặc dù cả hai nhóm hành vi này đều làm thiệt hại đến sự vận động bìnhthường của thị trường nhưng do đối tượng điều chỉnh, tính chất hành vi và mức
độ nguy hại của chúng đối với thị trường là khác nhau nên cần phải có nhữngquy định, biện pháp riêng điều chỉnh cho phù hợp với tính chất của những quan
hệ trong từng lĩnh vực
Thứ nhất, Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh
Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh ra đời khi sự tích tụ tư bản tăng lên,hình thành các tập đoàn tư bản độc quyền và chủ nghĩa độc quyền, được đánhdấu với sự ra đời của đạo luật chống Trust đầu tiên – đạo luật Sherman ban hànhvào năm 1890 ở Mỹ Đây là bộ luật chống độc quyền đầu tiên được thông quabởi các bang trước khi trở thành bộ luật Liên bang Luật Sherman gồm hai phầnchính: Phần một quy định các thỏa thuận gây hạn chế thương mại; phần hai cấmviệc giành được vị thế độc quyền bằng việc sử dụng các biện pháp phản cạnhtranh hoặc lạm dụng vị trí độc quyền (không phải là độc quyền tự nhiên) Mộtđiểm quan trọng cần lưu ý là Luật Sherman có thể được thực thi như luật dân sựhoặc như luật hình sự, các phán xét được trao cho Vụ Chống độc quyền, Bộ Tưpháp Sau đó, lần lượt các đạo luật chống Trust ra đời nhằm bổ sung cho đạoluật Sherman như đạo luật Clayton 1914, đạo luật Robison – Patman 1936.Trong đó, đạo luật Sherman và Clayton là hai đạo luật được dùng chủ yếu Đến
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, luật chống hạn chế cạnh tranh và kiểm soátđộc quyền đã ra đời như Luật Chống hạn chế cạnh tranh của Đức 1957, Luật Cạnhtranh của Canada 1889, Luật về Thương mại và độc quyền của Hàn Quốc 1980
Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh hay kiểm soát độc quyền thường baogồm những nội dung chủ yếu sau: cấm cartel, kiểm soát sáp nhập, kiểm soátviệc lạm dụng quyền lực thống lĩnh thị trường với mục đích lớn nhất là bảo vệ
cơ cấu và tổng quan thị trường, bảo vệ cơ chế cạnh tranh và môi trường cạnhtranh lành mạnh
Do tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi hạn chế cạnh tranh hayđộc quyền mà pháp luật các nước thường quy định việc kiểm soát chặt chẽ cùngcác chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi này
Thứ hai, Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ra đời sớm hơn pháp luậtchống hạn chế cạnh tranh Khi mới ra đời, khái niệm pháp luật cạnh tranh đượchiểu đồng nghĩa với pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh theo cách hiểungày nay
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh được bắt đầu từ nước Pháp.Mặc dù không có đạo luật riêng về lĩnh vực này nhưng trong các quy định tạiĐiều 1382 và 1383 của Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (1840) đã có các quyđịnh về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Ở Italia, liên quan đến chống cạnh tranh không lành mạnh có quy định tạicác điều 1151, 1152 của Bộ luật Dân sự 1865, sau đó được bổ sung thành nhữngnguyên tắc chung ở các điều 2598, 2601 của Bộ luật Dân sự 1942 Đến năm
1990, ở Italia đã ban hành Luật Cạnh tranh và kinh doanh lành mạnh (có hiệulực từ ngày 10/10/1990) [15 tr73]
Tại Đức, Luật chống cạnh tranh không lành mạnh được ban hành vào năm
1909 Luật này ngăn cấm tất cả các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trongkinh doanh nhằm mục đích trấn áp các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo
hộ nhà sản xuất, người tiêu dùng và công chúng [16]
Đến nay, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh đã có được vị tríquan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia ở khắp các khu vực trênthế giới, tiêu biểu là Luật Cạnh tranh của Nhật Bản 1938, của Trung Quốc 1993,
Trang 11Thái Lan 1979, Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Nga 1991, Hungary
1990, Ba Lan 1990
Mục đích của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh không chỉ làbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng màcao hơn là nhằm răn đe, ngăn cấm mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh cónguy cơ xâm hại và làm ảnh hưởng môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nềnkinh tế, đảm bảo được trật tự cạnh tranh lành mạnh
Trên thực tế, ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển như Pháp,Đức, Italia thì pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chốnghạn chế cạnh tranh được quy định ở hai đạo luật riêng biệt Còn ở một số nước
có nền kinh tế chuyển đổi như Ba Lan, Séc hay một số nước Châu Á khác nhưHàn Quốc, Nhật Bản ban hành cùng một đạo luật điều chỉnh cả hai loại hành
vi Tại Việt Nam, pháp luật cạnh tranh áp dụng theo mô hình “một luật” Điều
này thể hiện rõ ngay tại Điều 1 Luật Cạnh tranh 2004: “Luật này quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh”
1.2.2 Vai trò của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản, là nền tảng và động lực phát triển củakinh tế thị trường Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ có thể xuất hiện với tư cách là mộtsản phẩm của kinh tế thị trường trong những điều kiện của những tiền đề pháp lý
cụ thể, nghĩa là các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế phải được Nhà nướcthừa nhận và bảo vệ quyền tự do, tự chủ trong kinh doanh, quyền sở hữu và tính
đa dạng của các loại hình sở hữu cũng như địa vị bình đẳng trước pháp luật Do
đó, xây dựng chính sách duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh và kiểmsoát sự độc quyền trong kinh doanh là việc làm cần thiết
Có thể thấy, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh - một bộ phậncủa pháp luật cạnh tranh, có những vai trò cơ bản sau:
Thứ nhất, tạo nền tảng cơ bản cho quá trình cạnh tranh, duy trì và thúc
đẩy quá trình cạnh tranh tự do hay bảo vệ hoặc thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh
Luật cạnh tranh bảo vệ và khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh,hợp tác bình đẳng trong một khuôn khổ pháp luật chung, điều tiết mặt trái củacạnh tranh bằng cách kiểm soát quá trình dẫn đến vị trí thống lĩnh thị trường,
Trang 12Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
độc quyền của doanh nghiệp, chống các hành vi gây cản trở cạnh tranh, cũngnhư thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường Vì vậy, tháchthức đặt ra đối với doanh nghiệp đó là buộc doanh nghiệp phải chấp nhậncạnh tranh một cách văn minh hơn, bài bản hơn, và sẽ không có đất dung thâncho các doanh nghiệp làm ăn chụp giật Các doanh nghiệp lớn sẽ phải cẩnthận hơn trước khi đưa ra những quyết định quan trọng trong kinh doanh, bởi
lẽ những quyết định của họ sẽ ảnh hưởng đáng kể tới thị trường và sẽ đ ượcgiám sát chặt chẽ
Thứ hai, điều tiết quá trình cạnh tranh, tôn trọng và đảm bảo quyền lợi
hợp pháp của người tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi của chủ thể kinh doanh, Nhànước và xã hội
Thị trường hình thành từ mối quan hệ qua lại giữa người mua vàngười bán, hay rộng hơn là người sản xuất và người tiêu dùng dưới quy luậtcung - cầu và quy luật giá trị Trong mối quan hệ này, người tiêu dùng luôn
ở vị trí trung tâm Họ có quyền lựa chọn hàng hóa cũng như người cung ứnghàng hóa và trả tiền cho sự lựa chọn đó Tuy nhiên, quyền lựa chọn của họ
bị giới hạn trong phạm vi khả năng cung ứng của người sản xuất Về phíangười sản xuất, lợi nhuận không chỉ là mục tiêu, động lực mà còn là phươngthức tồn tại của họ Việc nâng cao năng lực sản xuất sẽ mở rộng khả năngđáp ứng các nhu cầu luôn thay đổi và ngày một tăng của người tiêu dùng
Do có sự hữu hạn của các yếu tố sản xuất, người tiêu dùng và nguồn lợinhuận – sự hữu hạn của thị trường nói chung, các nhà sản xuất luôn có sựcạnh tranh theo hai hướng: mở rộng đầu ra và thu hẹp đầu vào Quá trìnhnày diễn ra liên tục, đòi hỏi mỗi người phải luôn cố gắng phát triển, vượt lêntrên các đối thủ, không ngừng tự hoàn thiện nếu không muốn bị loại bỏ Kếtquả còn lại là những nhà sản xuất có năng lực nhất, có khả năng phục vụ tốtnhất người tiêu dùng Như vậy, cạnh tranh tham gia vào mọi phương diệncủa nền kinh tế; nó sàng lọc và lành mạnh hóa thị trường, thúc đẩy sản xuất
và điều tiết tiêu dùng
Thứ ba, chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Vai trò này thể hiện tính hiệu quả của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh.Luật Cạnh tranh đã quy định cụ thể các hành vi cạnh tranh không lành mạnh vàbiện pháp xử lý đối với các hành vi này Sự tác động của pháp luật lên các hành vi
vi phạm pháp luật thể hiện hai mục đích: xử lý theo quy định và ngăn chặn, răn đe
Trang 13các hành vi vi phạm khác Bởi vậy, đòi hỏi sự can thiệp của pháp luật phải phù hợp
và ở mức độ cần thiết, tức là quy định trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền
về cạnh tranh, các biện pháp xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh phải phùhợp với thực tế, đảm bảo tính nghiêm minh, khả thi và tính hiệu quả, tạo tâm lý,thái độ tôn trọng pháp luật của các chủ thể kinh doanh
1.2.3 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước năm 1986, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạchhóa tập trung, toàn bộ hoạt động của nền kinh tế cũng như của từng doanhnghiệp đều tuân thủ theo một kế hoạch đã định trước, các chỉ tiêu pháp lệnhđược phân bổ để thực hiện kế hoạch đều bắt buộc phải thực hiện Nền kinh tếchỉ bao gồm hai thành phần cơ bản là thành phần kinh tế thuộc sở hữu nhà nước(doanh nghiệp nhà nước) và thành phần kinh tế thuộc sở hữu tập thể (hợp tácxã) Thành phần kinh tế tư nhân luôn bị cải tạo, thu hẹp và bị xóa bỏ Thời kỳnày không có môi trường cho cạnh tranh tồn tại và phát triển
Sau năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế theo hướng pháttriển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường,dưới sự quản lý của Nhà nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI củaĐảng khởi xướng, các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tếkhác nhau cùng tồn tại bình đẳng Quyền tự do kinh doanh được ghi nhận tạiHiến pháp 1992 với sự đa dạng về các thành phần kinh tế được thừa nhận vàđược tạo điều kiện để phát triển đã tạo ra và thúc đẩy môi trường cạnh tranh pháttriển Cạnh tranh không còn là hiện tượng mới mẻ trong nền kinh tế Thực tiễn
đó buộc Nhà nước ta phải ban hành các văn bản pháp luật để điều tiết nó
Bên cạnh những nguyên tắc chung về cạnh tranh được quy định tại Hiếnpháp 1992 và Bộ luật Dân sự 1995 thì cạnh tranh trong kinh doanh còn phải tuânthủ các nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, tôn trọng lợi ích công cộng,tôn trọng quyền và lợi ích của người khác, tôn trọng đạo đức, truyền thống tốtđẹp, tôn trọng quyền nhân thân Vi phạm quyền nhân thân, lợi dụng uy tín, gièmpha, ép buộc trong kinh doanh, gây thiệt hại cho người khác là những hành vicạnh tranh không lành mạnh, vi phạm các nguyên tắc cơ bản tại Điều 2, Điều 4
và Điều 5 Bộ luật Dân sự 1995
Luật Thương mại năm 1997 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quyđịnh trực tiếp về quyền cạnh tranh của thương nhân trong hoạt động thương mại
Trang 14Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
Tại Điều 8 Luật Thương mại 1997 quy định: “Thương nhân được cạnh tranh hợp pháp trong hoạt động thương mại; nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh gây tổn hại đến lợi ích quốc gia và các hành vi sau đây: a) Đầu cơ để lũng đoạn thị trường; b) Bán phá giá để cạnh tranh; c) Gièm pha thương nhân khác; d) Ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa nhân viên hoặc khách hàng của thương nhân khác; đ) Xâm phạm quyền về nhãn hiệu hàng hóa, các quyền khác về sở hữu công nghiệp của thương nhân khác; e) Các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp khác” Ngoài ra, Điều 9 Luật Thương mại năm 1997 còn cấm các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh xâm hại đến lợi ích của người tiêu dùng như lừa dối kháchhàng, gây nhầm lẫn cho khách hàng, quảng cáo dối trá, khuyến mại bất hợp pháp
Ngoài Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 1995 và Luật Thươngmại năm 1997, các quy định liên quan đến cạnh tranh trong kinh doanh cònđược quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Hình sự năm
1999, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999, Pháp lệnh quảngcáo năm 2001, Pháp lệnh giá năm 2002, Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóanhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 Tuy nhiên, những quy định về cạnh tranh
ở những văn bản này không phát huy được nhiều hiệu quả trong đời sống kinh tế
- xã hội ở nước ta, bởi vì còn thiếu các quy định cụ thể về bộ máy thực thi, cơchế áp dụng cũng như chế tài xử lý đối với các thương nhân vi phạm
Đặc biệt, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ký kết, gianhập nhiều hiệp định thương mại, đầu tư song phương hoặc đa phương và làthành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn trong khu vực và quốc tế như ASEAN,AFTA, ASEM, APEC, WTO Các công ty đa quốc gia xuất hiện ở Việt Namngày càng nhiều và với những tiềm lực kinh tế vượt trội, các công ty này có khảnăng tạo lập được vị trí thống lĩnh và độc quyền, gây không ít khó khăn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanhnghiệp vừa và nhỏ
Đứng trước đòi hỏi của thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội trong nước vàđáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sau nhiều năm khởixướng xây dựng cơ chế kinh tế thị trường và thực thi chính sách cạnh tranh,ngày 03/12/2004, tại kỳ họp thứ VI, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Cạnhtranh Luật này có hiệu lực từ ngày 01/07/2005
Trang 16Chương 2:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Ở VIỆT NAM 2.1 Các quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh 2004, hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh bao gồm:
2.1.1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Sử dụng những chỉ dẫn gây nhầm lẫn có thể coi là hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh phổ biến nhất hiện nay Hành vi này thường là sự cố ý củadoanh nghiệp nhằm làm cho khách hàng bị nhầm lẫn giữa những nhà sản xuất,hàng hóa, dịch vụ với nhau Nhằm ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh giữacác doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm quyền kinh doanh hợp pháp của các chủthể kinh doanh trên thị trường, Điều 40 Luật Cạnh tranh 2004 đã quy định:
Thứ nhất, cấm doanh nghiệp sử dụng các chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây
nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao
bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệchnhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, việc chỉ dẫn gây nhầm lẫn khác với việc đưathông tin về hàng giả (hàng có nhãn hiệu thật nhưng nội dung giả) Hàng hóa,dịch vụ có chỉ dẫn gây nhầm lẫn là hàng hóa, dịch vụ có thể được đăng ký chấtlượng tại cơ quan có thẩm quyền nhằm mục đích thu hút khách hàng thông quaviệc lợi dụng uy tín, xuất xứ hàng hóa, dịch vụ đang có trên thị trường
Thứ hai, cấm kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm
lẫn quy định tại khoản 1 điều này
Mục đích của điều luật này là nhằm ngăn chặn một cách triệt để các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường từ việc kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ nêu trên Có thể nói, đây là một quy định rất có ý nghĩa thực tiễn, hạn chếhậu quả có thể phát sinh đối với người tiêu dùng từ hành vi trái pháp luật này
Thực tiễn cho thấy, không có một sản phẩm nổi tiếng nào lại không bị làmgiả, làm nhái, từ những vật dụng sinh hoạt cho đến những máy móc, phương tiện
kỹ thuật hiện đại Ví dụ các nhãn hiệu gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của hãng giầyBiti’s như Bisti’s, Bista’s; đối với nước uống Cocacola là Haracola, Vinacola.Sản phẩm trà chanh Nestea rất được ưa chuộng trên thị trường nhưng không ít
Trang 17khách hàng, nhất là khách hàng ở các tỉnh bị nhầm lẫn với sản phẩm Freshteacủa Công ty Thúy Hương (Thanh Trì, Hà Nội) Cụ thể, Công ty Thúy Hương đã
sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn giữa Freshtea và Nestea Sự tương tự
về phần chữ: Cấu tạo, cách phát âm và tương tự cả về cách trình bày, bố cục,màu sắc Trông bề ngoài, nếu không để ý sẽ khó phát hiện hai gói trà chanh này
là do hai công ty khác nhau sản xuất Một số người tiêu dùng được hỏi thì chorằng, cả Freshtea và Nestea cùng là sản phẩm của công ty Nestle vì trông chúngrất giống nhau [26]
Tình trạng sao chép kiểu dáng, mẫu mã còn phổ biến ở rất nhiều mặt hàngtrên thị trường như các sản phẩm bánh kẹo, bia rượu, thuốc lá, đặc biệt là cácsản phẩm trong lĩnh vực thời trang và rượu ngoại
Có thể thấy đây là hành vi mang tính phổ biến nhất hiện nay, nó làm rốiloạn thị trường trong nước, làm cho các doanh nghiệp phải mất thời gian, tiềnbạc trong việc khiếu nại giành giật lại thương hiệu của mình, đồng thời quyềnlợi của khách hàng cũng bị xâm hại một cách nghiêm trọng Do đó, cần phải cónhững biện pháp cụ thể, kịp thời để nhanh chóng ngăn ngừa và xử lý các hành vinày, nhất là trong điều kiện nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập quốc tếhiện nay thì yêu cầu này càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết
2.1.2 Xâm phạm bí mật kinh doanh
Theo khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004, bí mật kinh doanh là thôngtin có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, không phải là hiểu biết thông thường, nghĩa là các hiểu biết này
phải mang tính chất nghiệp vụ, kỹ thuật trong lĩnh vực kinh doanh cụ thể
Thứ hai, có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ
tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi hơn so với người không nắm giữ hoặckhông sử dụng thông tin đó
Thứ ba, được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông
tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được
Như vậy, muốn xác định một thông tin là bí mật kinh doanh thì phảichứng minh được thông tin đó có đủ ba thuộc tính trên
Điều 41 Luật Cạnh tranh 2004 cấm các doanh nghiệp thực hiện các hành
vi xâm phạm bí mật kinh doanh dưới các hình thức sau:
Trang 18Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
Thứ nhất, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại
các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó
Quy định này được hiểu là nghiêm cấm việc tiếp cận, thu thập thông tinthuộc bí mật kinh doanh mà không được sự đồng ý của người sở hữu bí mật kinhdoanh đó Trên thực tế thì đây là hình thức diễn ra phổ biến nhất, nó trực tiếp phá
vỡ sự bảo vệ của chủ sở hữu hợp pháp Nó có thể là những cách thức tiếp cận từđơn giản đến hiện đại, tinh vi, từ việc đột nhập vào doanh nghiệp có bí mật kinhdoanh “ăn cắp” cho đến hành vi truy cập trái phép vào hệ thống mã nguồn (máytính) lưu giữ bí mật kinh doanh thuộc sở hữu của một doanh nghiệp khác
Thứ hai, tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không
được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh Bí mật kinh doanh thường có rất ítngười biết, thường là chủ doanh nghiệp hoặc nhân viên có trách nhiệm trongviệc thực hiện quản lý và sản xuất sản phẩm Do đó, vi phạm bí mật kinh doanhdưới hình thức này thường do những nhân viên làm tại các doanh nghiệp có điềukiện, cơ hội tiếp cận với những tài liệu, công nghệ thuộc bí mật kinh doanh hoặc
có thể do mục tiêu cá nhân hoặc bị mua chuộc đã lấy cắp thông tin để đem rangoài hoặc phục vụ cho riêng mình
Thứ ba, vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của
người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bímật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh
Hợp đồng bảo mật là hợp đồng mà theo đó, một bên hợp đồng đượcquyền tiếp cận thông tin bí mật về kinh doanh của một chủ sở hữu nhưng cónghĩa vụ phải bảo mật thông tin đó Bên có nghĩa vụ bảo mật làm lộ thông tin về
bí quyết kinh doanh cho bên thứ ba thì bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanhtheo quy định của điều luật Ngoài ra, điều luật cũng quy định bất kỳ hành vi nàolợi dụng quan hệ sẵn có để lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có trách nhiệm bảomật nhằm lấy được thông tin bảo mật về bí mật kinh doanh và sau đó tiết lộ thôngtin đó cho người thứ ba thì cũng bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh
Thứ tư, tiếp cận, thu thập các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người
khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinhdoanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện phápbảo mật của các cơ quan nhà nước, hoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mụcđích kinh doanh, mục đích xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưuhành sản phẩm
Trang 19Trong quá trình kinh doanh, từ sản xuất, lưu thông đến tiêu thụ sản phẩm,nhiều lúc doanh nghiệp phải thực hiện những thủ tục tại cơ quan nhà nước cóthẩm quyền theo quy định của pháp luật và trong nhiều trường hợp, doanhnghiệp phải tiết lộ những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của mình để thựchiện thủ tục đó Đây là cơ hội thuận lợi để những đối thủ cạnh tranh của doanhnghiệp tiếp cận thông tin bằng nhiều cách như mua chuộc nhân viên của cơ quannhà nước hoặc thâm nhập vào mạng máy tính của cơ quan đó, sau đó sử dụngnhững thông tin này để kinh doanh hoặc lập hồ sơ xin phép thành lập liên quanđến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm Việc pháp luật quy định chế định này
là điều rất cần thiết, một mặt nó nâng cao ý thức trách nhiệm của cơ quan nhànước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện những thủ tục liên quan đến bímật kinh doanh, mặt khác nó đảm bảo cho doanh nghiệp yên tâm khi thực hiệnnhững thủ tục đăng kí theo quy định của pháp luật
Có thể nói, pháp luật nói chung và pháp luật cạnh tranh nói riêng đều cónhững chế định nghiêm khắc để cấm việc thực hiện những hành vi này Tuynhiên, những hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh thường rất tinh vi, khó pháthiện và thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau; do đó, đòi hỏi phải tiếp tụchoàn thiện những chế định này và có cơ chế bảo đảm thực hiện, góp phần đẩylùi những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
2.1.3 Ép buộc trong kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp,trong đó có quyền tự do lựa chọn đối tác kinh doanh là quyền rất quan trọngđược pháp luật ghi nhận và bảo vệ Điều này được thể hiện rõ trong Điều 8 LuậtDoanh nghiệp 2005, theo đó, doanh nghiệp có quyền tự chủ kinh doanh, chủđộng tìm kiếm thị trường, tự chủ quyết định các công việc kinh doanh và quan
hệ nội bộ cũng như quyền tự do lựa chọn đối tác kinh doanh Tuy nhiên, trongquá trình cạnh tranh, để đạt được mục đích của mình, các doanh nghiệp khôngngần ngại xâm phạm quyền tự do lựa chọn đối tác của doanh nghiệp khác, đồngthời vi phạm nghiêm trọng đến quyền tự do lựa chọn của khách hàng Do đó,
Điều 12 Luật Cạnh tranh 2004 quy định: “cấm doanh nghiệp ép buộc khách hàng bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó” Theo quy định này, có hai hành vi ép
buộc trong kinh doanh bị cấm:
Trang 20Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
Thứ nhất, đe dọa đối tác kinh doanh và khách hàng của doanh nghiệp là
đối thủ cạnh tranh Hành vi đe dọa có thể là đe dọa về vật chất hoặc có thể là đedọa về tinh thần như: trừng phạt kinh tế, tiết lộ bí mật đời tư, cắt hợpđồng khiến khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của doanh nghiệp lo sợ, buộcphải thực hiện hành vi trái ý muốn Tuy nhiên, hành vi đe dọa phải mang tínhchất hiện hữu và có thể thực hiện ngay được, đồng thời phải hướng vào một chủthể cụ thể, xác định
Thứ hai, cưỡng ép đối tác kinh doanh và khách hàng của doanh nghiệp là
đối thủ cạnh tranh Biểu hiện của hành vi này là việc sử dụng những lợi ích vậtchất, đưa ra điều kiện liên quan đến công việc, đưa ra những lời hứa hẹn hấpdẫn để đặt doanh nghiệp, khách hàng vào tình thế bị động, làm cho họ không
có sự lựa chọn nào khác trong cách xử sự của mình, do đó không thể biểu hiện ýchí một cách đúng đắn được
Như vậy, điều luật này quy định nghiêm cấm việc ép buộc trong kinhdoanh nhằm ngăn chặn hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệpđối với đối thủ cạnh tranh, đồng thời bảo đảm quyền tự do kinh doanh của cácchủ thể kinh doanh trên thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích của người tiêu dùng
2.1.4 Gièm pha doanh nghiệp khác
Điều 43 Luật Cạnh tranh 2004 quy định: “Cấm doanh nghiệp gièm pha doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó”.
Gièm pha doanh nghiệp khác là hành vi cạnh tranh không lành mạnhtương đối phổ biến trong hoạt động kinh doanh, nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranhhoặc kìm hãm sự phát triển kinh doanh của đối thủ cạnh tranh thông qua việcgiảm lượng khách hàng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp đó Hành vi nàyđược thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể từ đơn giản đến phức tạp,trực tiếp hoặc gián tiếp Trên thực tế đã có rất nhiều vụ gièm pha doanh nghiệpkhác dẫn tới những thiệt hại nghiêm trọng Vào giữa tháng 10/2003, sau khi cótin đồn ông Phạm Văn Thiệt – Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần ÁChâu (ACB) thụt két một khoản tiền lớn rồi bỏ trốn, các khách hàng của Ngânhàng này đổ xô đến rút tiền với gần 100 tỷ VND trong vòng một tuần lễ, chínhđiều này đã đẩy ACB vào tình trạng bị áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt củaNgân hàng Nhà nước, mặc dù sau đó ông Mai Đức Thúy – Thống đốc Ngân
Trang 21hàng trung ương đã khẳng định đây chỉ là tin đồn thất thiệt, nhưng lợi nhuận và
uy tín của doanh nghiệp cũng đã bị giảm sút nghiêm trọng [27]
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn sử dụng thủ đoạn đưa ra những thông tinsai lệch về nhân thân, cuộc sống đời tư của chủ doanh nghiệp, cách hành xử củadoanh nghiệp đối với nhân viên và những người khác; những thông tin xấu vềtình trạng tài chính gây hoang mang cho đối tác đang làm ăn, giao dịch vớidoanh nghiệp, và do đó, công việc kinh doanh chắc chắn sẽ gặp những cản trởnhất định
Tuy nhiên, không phải bất kỳ một thông tin nào ảnh hưởng đến doanhnghiệp khác cũng là những hành vi gièm pha doanh nghiệp, mà nó phải đảm bảomột số tiêu chí nhất định như:
Thứ nhất, hành vi này phải xuất phát từ đối thủ cạnh tranh và vì mục đích
cạnh tranh
Thứ hai, hành vi gièm pha phải nhằm vào đối thủ cạnh tranh trong một thị
trường liên quan (bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lýliên quan)
Có thể thấy, hành vi gièm pha doanh nghiệp khác không những gây ranhững tổn thất lâu dài cho doanh nghiệp mà việc khắc phục những hậu quả của
nó cũng rất khó khăn, đồng thời ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng dokhông có điều kiện để kiểm tra tính xác thực của những thông tin đó Vì vậy,cần phải ngăn chặn hành vi này để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh,bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trên thị trườngcũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
2.1.5 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Để bảo đảm quyền kinh doanh của các chủ thể trên thị trường, Điều 44 Luật
Cạnh tranh 2004 quy định: “Cấm doanh nghiệp gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó” Qua đó cho thấy, hành vi gây rối hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp khác được biểu hiện dưới hai hình thức:
Thứ nhất, hành vi nhằm cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
khác Hành vi này thường được biểu hiện dưới hình thức tác động trực tiếp đếnnguồn cung cấp nguyên vật liệu, cản trở việc tiêu thụ hàng hóa, ép giá, gây
Trang 22Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
nhiễu hệ thống thông tin liên lạc làm cho doanh nghiệp gặp không ít khó khăntrong kinh doanh
Thứ hai, những hành vi làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp Hành vi này có thể được biểu hiện bằng việc thực hiện những cách thứcnhư phá hoại máy móc công nghệ làm cho quá trình kinh doanh bị gián đoạn vàdoanh nghiệp phải mất một thời gian dài mới hoạt động trở lại được; hành vimua chuộc, dụ dỗ cán bộ, công nhân kỹ thuật có trình độ cao làm cho doanhnghiệp rơi vào tình trạng không thể tiến hành hoạt động kinh doanh được; hoặccũng có thể là hành vi kích động, xúi giục công nhân bãi công đình công làmcho hoạt động kinh doanh bị ngưng trệ Một ví dụ điển hình đã xảy ra trên thực
tế có thể kể đến là sự việc công ty taxi Tân Hoàng Minh (V20) bị các doanhnghiệp khác cấu kết và gây rối hoạt động kinh doanh bằng cách sử dụng thiết bịthu phát sóng cùng tần số làm nhiễu tín hiệu liên lạc tổng đài trong giờ caođiểm, do đó các nhân viên điều hành không thể liên lạc được với lái xe, làm chocác giao dịch bị gián đoạn trong một thời gian, lượng khách hàng ngày cũng vìthế mà giảm đi khoảng 40-60%, gây thiệt hại trên 20 triệu đồng/ngày.[28]
Như vậy, Luật Cạnh tranh 2004 đã bước đầu ghi nhận gây rối hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp khác là hành vi cạnh tranh không lành mạnh cầnphải ngăn chặn, tuy nhiên, chế định này mới chỉ tiếp cận ở khái niệm của hành
vi mà chưa đưa ra được những biểu hiện cụ thể mang tính điển hình, do đó, cần
có thêm những quy định cụ thể tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước trongquá trình xử lý hành vi này
2.1.6 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Quảng cáo là việc giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanhhàng hóa, dịch vụ của thương nhân Nhu cầu quảng cáo đang ngày càng tăngđược thể hiện trên phương tiện thông tin đại chúng Chính vì vậy, để điều chỉnhhoạt động quảng cáo theo hướng duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, Nhànước đã quy định cấm thực hiện các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh khônglành mạnh tại Điều 45 Luật Cạnh tranh 2004 Theo đó, các hành vi quảng cáo bịcấm bao gồm:
Thứ nhất, so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch
vụ cùng loại của doanh nghiệp khác
Trang 23Quảng cáo so sánh là việc các doanh nghiệp trong quá trình quảng cáo đã đưa
ra những thông tin có nội dung so sánh với sản phẩm của doanh nghiệp khác[15].Hành vi quảng cáo so sánh được biểu hiện rõ nét qua hai trường hợp [19]:
Một là, quảng cáo so sánh để cho rằng sản phẩm của mình tốt hay đạt chất
lượng ngang bằng sản phẩm đã có uy tín trên thị trường của đối thủ cạnh tranh.Đây là kiểu quảng cáo mang tính chất “dựa dẫm”, thường được các doanhnghiệp sử dụng khi mới thâm nhập thị trường để khẳng định chất lượng củamình, tìm chỗ đứng trên thị trường Tuy nhiên, hình thức quảng cáo mang tínhngang bằng này ít được các doanh nghiệp sử dụng, bởi nó vừa kém hiệu quả,không gây được ấn tượng cho khách hàng về tính ưu việt của sản phẩm, vừa dễgây ra sự phản ứng của đối thủ cạnh tranh
Hai là, quảng cáo so sánh có tính chất phủ định, tự cho rằng sản phẩm của
mình có chất lượng vượt xa các sản phẩm cùng loại khác Hình thức quảng cáonày hiện nay diễn ra một cách tràn lan, chúng ta dễ dàng bắt gặp như: “Comforttinh chất mới đậm đặc hơn, thơm lâu hơn gấp 4 lần nước xả vải thông thường”;
“Bột giặt Ômô tẩy sạch vết bẩn ngay trong lần giặt đầu tiên, cả những chỗ màbột giặt thường không thể lui tới được” Với những khẩu hiệu đầy ấn tượngnhư vậy, các doanh nghiệp đã tự cho mình là số 1 và phủ định chất lượng củanhững sản phẩm cùng loại khác của các đối thủ cạnh tranh mà không hề có mộtcăn cứ nào
Thứ hai, bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho
khách hàng
Việc bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác có thể thông qua hình ảnhquảng cáo, nội dung quảng cáo tương tự làm cho người tiêu dùng nhầm tưởngsản phẩm đang quảng cáo là sản phẩm đã được quảng cáo trước đó Hoạt độngbắt chước một sản phẩm quảng cáo rất dễ gây nhầm lẫn với sản phẩm bị bắtchước, dẫn đến định hướng sai hành vi mua bán của khách hàng nên bị coi làhành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, hành vi bắt chước một sảnphẩm quảng cáo khác phải đi kèm với mục đích của hành vi là gây nhầm lẫn chokhách hàng hoặc hành vi gây ra hậu quả là gây nhầm lẫn cho khách hàng thì mới
có thể kết luận đó là hành vi bị cấm trong Luật Cạnh tranh
Thứ ba, đưa những thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về
một trong các nội dung như: Giá cả, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng,chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản
Trang 24Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; cách thức sử dụng, phương thứcphục vụ, thời hạn bảo hành; các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác
Trung thực là yêu cầu hàng đầu đối với hoạt động quảng cáo nhằm bảođảm môi trường kinh doanh lành mạnh Tuy nhiên, nhằm thu được lợi nhuận tối
đa, không ít doanh nghiệp đã lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết của kháchhàng để đưa những thông tin thiếu trung thực về sản phẩm Điển hình là côngtuy TNHH Tầm nhìn Việt Nam (nhà phân phối các sản phẩm Vision tại ViệtNam, kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp) khi bán hàng theo mạng đã
cho các trình dược viên giới thiệu tài liệu “một số kết quả cải thiện sức khỏe nhờ
sử dụng sản phẩm bổ sung dinh dưỡng của tập đoàn quốc tế Vision”, trong đó
giới thiệu nhiều bệnh nhân mắc nhiều chứng bệnh khác nhau đều khỏi bệnh saukhi sử dụng sản phẩm Vision Tài liệu này được coi là một xuất bản phẩm cóchứa đựng thông tin quảng cáo, nhưng nếu như không cần khám chẩn đoánbệnh, sản phẩm Vision vẫn chữa được mọi bệnh như thần dược thì nội dungquảng cáo này có chứa đựng thông tin gian dối về chất lượng, công dụng gâynhầm lẫn cho người tiêu dùng, nhất là khi đã từng có bệnh nhân bị ngộ độc do
sử dụng sản phẩm của Vision”[20]
Thứ tư, các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm
Ở hành vi này, pháp luật đã đưa ra quy định mở: cấm các hoạt động quảng cáokhác được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật ngoài Luật Cạnh tranhnhư: Luật thương mại (2005), Pháp lệnh quảng cáo (2001), Nghị định 24/2003/NĐ-
CP, Thông tư 43/2003/TT-BVHTT liệt kê một số hành vi cấm quảng cáo
2.1.7 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Khuyến mại là hoạt động thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến bánhàng, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.Trong nền kinh tế thị trường, khuyến mại được xem là một trong những công cụxúc tiến thương mại hiệu quả nhất mà các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng Tuynhiên, hoạt động khuyến mại hiện nay cũng chưa có một cơ chế kiểm soát chặtchẽ nên nhìn chung còn bộc lộ nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến lợi ích củadoanh nghiệp cũng như người tiêu dùng Vì vậy, Điều 46 Luật Cạnh tranh 2004
đã ghi nhận một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực khuyếnmại và cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động khuyến mại sau:
Thứ nhất, tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng.
Trang 25Đây là hình thức phổ biến và đa dạng trên thực tế Các doanh nghiệpthường tổ chức các đợt khuyến mại rầm rộ, đặc biệt là vào các dịp lễ tết nhưngrất ít khi những giải thưởng lớn như giải nhất, giải đặc biệt đến được tay ngườitiêu dùng Điển hình là đầu năm 2001, trong chương trình khuyến mại của công
ty sữa Foremost tổ chức từ 15/01/2001 cũng có những vấn đề đáng bàn: Giảithưởng lớn nhất mà Công ty đưa ra là 100 triệu đồng khi hộp sữa của kháchhàng có ba ngôi sao bên trong Thế nhưng, hai khách hàng tại Kontum và Thànhphố Hồ Chí Minh đều có hộp sữa có ba ngôi sao lại chỉ được “khuyến khích”bằng một máy ảnh trị giá 1,5 triệu đồng với lý do là ba ngôi sao của họ khôngnằm liền nhau mặc dù trước đó Hãng không hề đưa ra tiêu chí này[29]
Thứ hai, khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa,
dịch vụ để lừa dối khách hàng
Khuyến mại không trung thực là việc đưa ra các thông tin khuyến mạihàng hóa, dịch vụ gian dối nhằm “đánh lừa” khách hàng để khách hàng tiếp cậnhàng hóa, dịch vụ đó Ví dụ: hành vi đặt giá hàng hóa, dịch vụ ở mức quá caosau đó đưa ra chính sách khuyến mại giảm giá mạnh để khách hàng nhầm tưởnghàng hóa giá rẻ
Khuyến mại gây nhầm lẫn cho khách hàng về hàng hóa, dịch vụ có thể làviệc đưa ra những thông tin khuyến mại không chính xác về chất lượng hànghóa, dịch vụ bằng cách đưa ra những thông tin mập mờ hoặc những cách khác
“che mắt” người tiêu dùng Ví dụ như hàng tồn kho, hàng kém chất lượng nhưngthông tin khuyến mại đã làm cho khách hàng, người tiêu dùng nhầm tưởng hànghóa đó có chất lượng tốt
Thứ ba, phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn
tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại
Hành vi này thể hiện thái độ của doanh nghiệp đối với khách hàng ở cácđịa phương khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại Ví dụ như việcđưa ra chính sách khuyến mại giảm giá 20% giá một mặt hàng cho khách hàng ở
Hà Nội, trong khi chỉ giảm giá 15% mặt hàng đó cho khách hàng ở các tỉnhkhác Mặc dù về nguyên tắc, khi thực hiện một chương trình khuyến mại, doanhnghiệp phải đưa ra những điều kiện khách hàng được khuyến mại, thời gian, địabàn khuyến mại; nếu khách hàng đáp ứng được các điều kiện đó thì mặc nhiên
họ được nhận quà khuyến mại Việc phân biệt đối xử này là không công bằng và
Trang 26Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
vi phạm lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, do đó cần có sự kiểm soát chặtchẽ của cơ quan nhà nước
Thứ tư, tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách
hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đóđang sử dụng để dùng hàng hóa của mình
Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử là một hình thức khuyến mại rấthữu hiệu và được pháp luật cho phép Về nguyên tắc, khi tặng hàng hóa chokhách hàng dùng thử, doanh nghiệp không được kèm theo bất cứ điều kiện gì,bởi vì mục đích của hành vi tặng hàng dùng thử này là giới thiệu hàng hóa, sảnphẩm đó đến với khách hàng Tuy nhiên, đôi khi các doanh nghiệp lại lợi dụngđiều này để cạnh tranh không lành mạnh, đó là tặng hàng cho khách dùng thửnhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sảnxuất mà khách hàng đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình, nhằm loại bỏ sảnphẩm của doanh nghiệp khác Theo công bố của Ban Điều tra và Xử lý các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh trên báo Gia đình ngày 24/08/2007, Công tyMassan đã đưa ra chương trình khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnhtại Thành phố Hồ Chí Minh Công ty này đưa ra chương trình khuyến mại bộtcanh, người tiêu dùng có thể đem gói bột canh dùng dở đến đổi lấy sản phẩmMassan Ngay sau đó, Công ty Unilever Bestfood đã khiếu nại về chương trìnhkhuyến mại này tới Sở Thương mại TP.Hồ Chí Minh Thanh tra Sở đã lập biênbản và yêu cầu đình chỉ chương trình khuyến mại
Thứ năm, các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy định cấm.
Đây là quy định mở nhằm tạo điều kiện để pháp luật có thể quy định thêmnhững hành vi khuyến mại trái pháp luật sẽ phát sinh Ngoài ra, hành vi khuyếnmại bị pháp luật cấm cũng được quy định ở một số văn bản khác có liên quan
2.1.8 Phân biệt đối xử của hiệp hội
Khác với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên đây, hành vi phânbiệt đối xử của hiệp hội do hiệp hội ngành nghề thực hiện Theo khoản 2 Điều 3
Luật Cạnh tranh 2004, “hiệp hội ngành nghề bao gồm hiệp hội ngành hàng và hiệp hội nghề nghiệp” Hiệp hội ngành nghề đóng vai trò rất quan trọng trong
việc tập hợp các doanh nghiệp kinh doanh cùng một lĩnh vực Quyết định củaHiệp hội ngành nghề trong nhiều trường hợp có ảnh hưởng lớn đến hoạt độngsản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên Do vậy, Điều 47 LuậtCạnh tranh 2004 có quy định nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội
Trang 27đối với doanh nghiệp thành viên hoặc doanh nghiệp thành viên trong tương laivới mục đích là ngăn chặn khả năng tạo ra những điều kiện bất lợi về cạnh tranhcho một hoặc một số doanh nghiệp thành viên của hiệp hội, nhằm bảo đảmquyền bình đẳng, quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp cùng ngànhnghề trên thị trường Cụ thể:
Thứ nhất, từ chối doanh nghiệp có đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi
hiệp hội nếu việc từ chối đó mang tính phân biệt đối xử và làm cho doanhnghiệp đó bị bất lợi trong cạnh tranh
Một trong những nguyên tắc hoạt động của Hiệp hội là bình đẳng, tựnguyện và cùng có lợi Do đó, một doanh nghiệp nếu đáp ứng đầy đủ điều kiệntheo quy định của điều lệ của Hiệp hội thì hoàn toàn có thể làm đơn xin gia nhậphiệp hội Ngược lại, nếu doanh nghiệp không còn nhu cầu và đã thực hiện đầy
đủ các nghĩa vụ với hiệp hội thì hoàn toàn có quyền xin ra khỏi hiệp hội màkhông ai được quyền ngăn cản Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nàoquyền tự do đó của doanh nghiệp thành viên cũng được hiệp hội tôn trọng Đểxin gia nhập hoặc rút khỏi hiệp hội, doanh nghiệp phải trải qua rất nhiều thủ tục
và những khó khăn do hiệp hội cố tình tạo ra, nhất là khi sự gia nhập hay rút lui
đó ảnh hưởng đến quyền lợi của những doanh nghiêp khác Dù hành vi phân biệtđối xử này của hiệp hội xuất phát từ bất cứ lý do nào cũng đều bị coi là hành vicạnh tranh không lành mạnh, nếu sự gia nhập và rút lui của doanh nghiệp là phùhợp với các quy định của điều lệ, bởi vì sự phân biệt này đã trực tiếp ảnh hưởngtới quyền lợi của doanh nghiệp và thành viên hiệp hội
Thứ hai, hạn chế bất hợp lý các hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động
có liên quan tới mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên
Nguyên tắc hoạt động của hiệp hội là tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi.Mỗi thành viên của hiệp hội bên cạnh những ràng buộc của mình đều có sự tựchủ nhất định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Có thể thấy mục đích lớnnhất của các hiệp hội cùng ngành nghề là tạo ra sức mạnh cạnh tranh của cácdoanh nghiệp thành viên để các doanh nghiệp thành viên có thể mở rộng thịtrường, phát triển kinh doanh, cải tiến chất lượng hàng hóa, dịch vụ Do đó,việc hiệp hội đưa ra bất kỳ chính sách nào hoặc thực hiện bất kỳ hành vi nàonhằm hạn chế bất hợp lý hoạt động kinh doanh (hoặc liên quan đến hoạt độngkinh doanh) của một, một số hoặc tất cả các thành viên của hiệp hội thì đều bịcoi là trái pháp luật
Trang 28Khóa luận tốt nghiệp – KT30D
Như vậy, bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động của Hiệp hội nhiều khicòn biểu hiện những mặt tiêu cực, những hành vi cạnh tranh không lành mạnhngay cả với thành viên của nó Luật Cạnh tranh 2004 cũng đã có những chế địnhquan trọng để điều chỉnh hành vi này, tuy nhiên, những quy định đó mới chỉdừng lại ở mức độ khái quát nhất và do đó, khi áp dụng vào những tình huống
cụ thể vẫn có những khó khăn nhất định, đòi hỏi phải có những hướng dẫn cụthể hơn trong thời gian tới
2.1.9 Bán hàng đa cấp bất chính
Bán hàng đa cấp hay tiếp thị đa cấp là một hình thức bán lẻ đã xuất hiện ởViệt Nam vào khoảng đầu năm 2000 và phát triển với tốc độ rất nhanh chóng.Đến nay đã có khoảng hơn 20 doanh nghiệp bán hàng đa cấp đang hoạt độngtrên lãnh thổ Việt Nam với các mặt hàng kinh doanh chủ yếu liên quan đến sứckhỏe con người như thực phẩm, đồ uống dinh dưỡng, mỹ phẩm, máy ozone, vàcác đồ dùng trong gia đình như máy massage, nồi cơm điện [30]
Sở dĩ phương thức bán hàng này được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến
vì nó có thể đưa hàng hóa tiếp cận trực tiếp khách hàng trên quy mô rộng vànhanh nhất Tuy nhiên, bên cạnh các doanh nghiệp bán hàng đa cấp kinh doanhhợp pháp và minh bạch, trên thị trường Việt Nam cũng xuất hiện khá nhiều các
tổ chức, cá nhân kinh doanh bất hợp pháp, lừa đảo người tiêu dùng như việc đưa
ra những khoản đặt cọc lớn hoặc buộc phải mua một số lượng sản phẩm lớncùng với các hàng hóa kém chất lượng, Những hành vi này của doanh nghiệp
bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, và theo Luật Cạnh tranh 2004 thìđây là những hành vi bán hàng đa cấp bất chính Điều 48 Luật Cạnh tranhnghiêm cấm các hành vi sau:
Thứ nhất, yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số
lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham giamạng lưới bán hàng
Trong phương thức kinh doanh bán hàng đa cấp, việc đặt cọc không giốngvới hình thức đặt cọc trong quan hệ buôn bán thông thường “Người tham giatrong phương thức này không trực tiếp bán hàng hóa cho người tiêu dùng mà chỉgiới thiệu người tiêu dùng đến công ty để mua sản phẩm, vì vậy, yêu cầu ngườitham gia phải đặt cọc là không hợp lý”[19] Theo khoản 1, 2, 3, Điều 7 Nghịđịnh 110/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 về quản lý bán hàng đa cấp, cấm doanhnghiệp bán hàng đa cấp thực hiện các hành vi sau:
Trang 29- Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc để được quyền tham giamạng lưới bán hàng đa cấp.
- Yêu cầu người muốn tham gia phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu
để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp
- Yêu cầu người muốn tham gia phải trả tiền hoặc trả bất kỳ khoản phínào dưới hình thức khóa học, khóa đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay cáchoạt động tương tự khác để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, trừtiền mua tài liệu theo quy định
Thứ hai, không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa
đã bán cho người tham gia để bán lại
Về nguyên tắc, doanh nghiệp không có quyền yêu cầu người tham giamạng lưới bán hàng đa cấp phải mua một lượng hàng hóa ban đầu Tuy nhiên,nếu người tham gia muốn mua một lượng hàng hóa để bán lại và được doanhnghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận, thì doanh nghiệp buộc phải cam kết sẽ mualại với mức giá ít nhất bằng 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bánlại hoặc cho phép người tham gia trả tiền sau khi đã bán hết hàng Quy định nàyđược Luật Cạnh tranh hoặc các đạo luật kinh doanh của các quốc gia trên thếgiới điều chỉnh nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham giamạng lưới bán hàng
Thứ ba, cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh
tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp
Việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp là do sự tự nguyện của ngườitham gia, tuy nhiên trên thực tế, để lôi kéo thêm nhiều người tham gia mạng lướibán hàng của mình, doanh nghiệp bán hàng đa cấp thường cho khách hànghưởng những lợi ích kinh tế từ việc dụ dỗ người khác tham gia Điều này có thểgây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh nói chung cũng nhưtrật tự công cộng và trật tự quản lý kinh tế nói riêng, do đó cần thiết phải ngănchặn và xử lý những hành vi này
Thứ tư, cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới
bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ
dỗ người khác tham gia
Để thu hút nhiều người tham gia mạng lưới bán hàng của mình, doanhnghiệp thường đưa ra những thông tin hấp dẫn, sai sự thật như mức lợi nhuận,