1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phạm vi áp dụng thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao so sánh dưới góc độ pháp lý

55 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 462 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Một nền tài chính quốc gia vững mạnh không phải dựa vào các nguồn thu bên ngoài, mà phải dựa vào nguồn thu trong nước. Bởi vì, nguồn thu trong nước, trong đó có thuế mang tính vững chắc, ổn định lâu dài. Nhìn vào đó, người ta có thể thấy được quốc gia có phát triển vững chắc hay không. Chính vì thế mà vai trò của thuế ngày càng thể hiện rõ nét trong nguồn thu ngân sách nhà nước, trong quá trình Nhà nước tổ chức thực hiện “chi ngân sách”, cũng như quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật thuế của Nhà nước. Thuế đối với thu nhập của cá nhân cũng vậy. Tồn tại được khoảng 18 năm, nó đã và đang chứng minh được vai trò của mình trong hệ thống thuế Việt Nam. Nhà nước đã chú ý hơn trong việc hoàn thiện chính sách thuế đối với thu nhập cá nhân. Từ chỗ là văn bản dưới luật Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (Pháp lệnh thuế thu nhập cao), đến nay Luật thuế thu nhập cá nhân đã ra đời (năm 2007). Đây là văn bản luật gây nhiều tranh luận nhất bởi trong quá trình soạn thảo luôn có các ý kiến, quan điểm khác nhau. Đây cũng là một công trình có quá trình nghiên cứu xây dựng lâu dài, với nhiều lần giải trình, chất vấn trước các cơ quan có thẩm quyền. Cuối cùng, nó đã được thông qua vào tháng 112007 từ những cống hiến về công sức, trí tuệ…của các chuyên gia tham gia xây dựng luật. Luật thuế thu nhập cá nhân có nhiều điểm mới so với Pháp lệnh thuế thu nhập cao, đồng thời nó cũng đã khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh thuế thu nhập cao. Mặc dù Luật thuế thu nhập cá nhân mới chỉ được áp dụng trong thời gian ngắn, lại đang trong quá trình giãn nộp thuế nhưng nó đã thể hiện được những ưu điểm của mình so với Pháp lệnh thuế thu nhập cao, đặc biệt là về phạm vi áp dụng thuế. Để làm rõ vấn đề trên, em đã chọn đề tài “Phạm vi áp dụng thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: so sánh dưới góc độ pháp lý” để làm đề tài khoá luận của mình. Từ đó, làm rõ hơn nội dung phạm vi áp dụng của hai văn bản pháp luật này. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: tư duy biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mac – Lênin, đặc biệt là phương pháp so sánh cùng với các phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp,… để làm rõ các vấn đề trong đề tài. Khoá luận được trình bày với kết cấu gồm hai chương ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể là: Chương I: Khái quát về phạm vi áp dụng của pháp luật thuế thu nhập đối với cá nhân. Chương II: Nội dung các quy định của pháp luật về phạm vi áp dụng trong Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao dưới góc độ so sánh.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI CÁ NHÂN 3

1 Sự hình thành và phát triển của thuế thu nhập đối với cá nhân trên thế giới và ở Việt Nam 3

2 Những vấn đề chung về phạm vi áp dụng trong thuế thu nhập đối với cá nhân 6

2.1 Đối tượng nộp thuế 6

2.2 Đối tượng chịu thuế 7

2.3 Đối tượng miễn thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế 9

3 Phạm vi áp dụng trong pháp luật thuế thu nhập đối với cá nhân ở

Việt Nam 11

CHƯƠNG II NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHẠM VI ÁP DỤNG TRONG LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LỆNH THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU NHẬP CAO DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 17

1 Đối tượng nộp thuế 17

1.1 Điểm tương đồng giữa Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về đối tượng nộp thuế 18

1.2 Điểm khác biệt giữa Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về đối tượng nộp thuế 20

2 Đối tượng chịu thuế 25

2.1 Điểm tương đồng giữa Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về đối tượng chịu thuế 28

2.2 Điểm khác biệt giữa Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về đối tượng chịu thuế 30

3 Đối tượng được miễn thuế, đối tượng không thuộc diện chịu thuế 43

3.1 Điểm tương đồng giữa Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về đối tượng miễn thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế 43

3.2 Điểm khác biệt giữa Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về đối tượng miễn thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế 45

KẾT LUẬN 52

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Một nền tài chính quốc gia vững mạnh không phải dựa vào các nguồn thubên ngoài, mà phải dựa vào nguồn thu trong nước Bởi vì, nguồn thu trong nước,trong đó có thuế mang tính vững chắc, ổn định lâu dài Nhìn vào đó, người ta cóthể thấy được quốc gia có phát triển vững chắc hay không Chính vì thế mà vaitrò của thuế ngày càng thể hiện rõ nét trong nguồn thu ngân sách nhà nước,trong quá trình Nhà nước tổ chức thực hiện “chi ngân sách”, cũng như quá trìnhxây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật thuế của Nhà nước Thuếđối với thu nhập của cá nhân cũng vậy Tồn tại được khoảng 18 năm, nó đã vàđang chứng minh được vai trò của mình trong hệ thống thuế Việt Nam Nhànước đã chú ý hơn trong việc hoàn thiện chính sách thuế đối với thu nhập cánhân Từ chỗ là văn bản dưới luật - Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người cóthu nhập cao (Pháp lệnh thuế thu nhập cao), đến nay Luật thuế thu nhập cá nhân

đã ra đời (năm 2007) Đây là văn bản luật gây nhiều tranh luận nhất bởi trongquá trình soạn thảo luôn có các ý kiến, quan điểm khác nhau Đây cũng là mộtcông trình có quá trình nghiên cứu xây dựng lâu dài, với nhiều lần giải trình,chất vấn trước các cơ quan có thẩm quyền Cuối cùng, nó đã được thông qua vàotháng 11/2007 từ những cống hiến về công sức, trí tuệ…của các chuyên giatham gia xây dựng luật

Luật thuế thu nhập cá nhân có nhiều điểm mới so với Pháp lệnh thuế thunhập cao, đồng thời nó cũng đã khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnhthuế thu nhập cao Mặc dù Luật thuế thu nhập cá nhân mới chỉ được áp dụngtrong thời gian ngắn, lại đang trong quá trình giãn nộp thuế nhưng nó đã thể hiệnđược những ưu điểm của mình so với Pháp lệnh thuế thu nhập cao, đặc biệt là vềphạm vi áp dụng thuế

Để làm rõ vấn đề trên, em đã chọn đề tài “Phạm vi áp dụng thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: so sánh dưới góc độ pháp lý” để làm đề tài khoá luận của mình Từ đó, làm rõ hơn nội dung

Trang 3

phạm vi áp dụng của hai văn bản pháp luật này Trong quá trình nghiên cứu đềtài, em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: tư duy biện chứng, duy vậtlịch sử của Chủ nghĩa Mac – Lênin, đặc biệt là phương pháp so sánh cùng vớicác phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp,… để làm rõ các vấn đề trong đềtài

Khoá luận được trình bày với kết cấu gồm hai chương ngoài lời nói đầu,kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể là:

Chương I: Khái quát về phạm vi áp dụng của pháp luật thuế thu nhập đốivới cá nhân

Chương II: Nội dung các quy định của pháp luật về phạm vi áp dụngtrong Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người cóthu nhập cao dưới góc độ so sánh

Trang 4

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA PHÁP

LUẬT THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI CÁ NHÂN

1 Sự hình thành và phát triển của thuế thu nhập đối với cá nhân trên thế giới và ở Việt Nam

Thuế thu nhập cá nhân ra đời đã lâu trong lịch sử thuế khoá và được ápdụng từ rất sớm ở các nước phát triển Thuế thu nhập cá nhân được áp dụng đầutiên ở Hà Lan vào năm 1797, còn ở Anh vào năm 1799 thuế thu nhập cá nhânđược đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trangtrải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng vào năm 1842,sau đó lan truyền sang các nước khác: Nhật Bản năm 1887, Đức năm 1899, Mỹnăm 1913, Pháp năm 1914, Liên Xô năm 1922, Trung Quốc năm 1936, TháiLan năm 1939, Philipin năm 1945, Hàn quốc năm 1948…Các nước ở Châu Âu

đã gọi thuế thu nhập cá nhân là “Nữ hoàng”, còn các nước ở Châu Á như NhậtBản gọi thuế thu nhập cá nhân là “Vua” của các loại thuế [19] Ngày nay, thuếthu nhập cá nhân đã được áp dụng ở hơn 180 quốc gia trên thế giới1 Sự ra đờicủa thuế thu nhập cá nhân một mặt do nhu cầu tài chính ngày càng tăng của nhànước nhằm thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của mình, duy trì hoạt động của

bộ máy nhà nước Ở các nước phát triển, thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ lệ lớn,khoảng 30 - 40% tổng thu ngân sách nhà nước, một số nước ASEAN tỷ lệ này

là 12 - 16% [12,tr.13] Ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã có kết quảtăng trưởng thu khá lớn: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao là 62 tỷ đồng, thì đến năm 2002 thu được 2.338 tỷ, năm

2004 thu được 3.521 tỷ, năm 2005 thu được 4.234 tỷ và đến năm 2006 số thu đãđạt 5.179 tỷ, nhưng tỷ trọng thu cũng mới chỉ đạt khoảng 1,85% tổng thu ngânsách nhà nước, khoảng 3,6% tổng thu trong nước (không kể thu từ dầu thô)[15]

Tỷ lệ này có xu hướng ngày càng tăng bởi lẽ kinh tế xã hội ngày càng phát triển,quá trình toàn cầu hoá kinh tế diễn ra nhanh chóng thì nhu cầu trên của Nhà

1 Công ty Luật hợp danh Việt Nam (Vinalaw firm), Ths.Ls Phan Thông Anh chủ biên, Sự cần thiết phải ban hành luật thuế thu nhập cá nhân, Nxb GTVT 2009

Trang 5

nước cho lợi ích chung của xã hội cũng tỷ lệ thuận theo quá trình đó Thuế thunhập cá nhân cũng góp phần bù đắp những khoản chi tiêu này.

Mặt khác, thuế thu nhập cá nhân ra đời cũng nhằm thực hiện chức năngtái phân phối thu nhập, bảo đảm công bằng xã hội Nếu như thuế nói chung xuấthiện trong xã hội loài người khi thoả mãn hai điều kiện cần và đủ là sự ra đờicủa nhà nước và thu nhập xã hội, thì thuế thu nhập cá nhân chỉ xuất hiện khi thunhập xã hội đạt đến một mức độ tạo nên khoảng cách chênh lệch giữa các cánhân với nhau Thu nhập của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế thị trường bị chiphối không phải chỉ bởi lao động và vốn mà còn chịu sự tác động lớn bởi côngnghệ Đăc biệt trong nền kinh tế tri thức ngày nay, thu nhập ngày càng bị tácđộng mạnh và dẫn tới một hệ quả tất yếu là sự phân hoá giàu nghèo lớn hơn Đểgiảm bớt khoảng cách này, thuế thu nhập cá nhân - loại thuế trực thu ra đời đãđiều tiết một phần thu nhập của bộ phận dân có thu nhập cao vào ngân sách nhànước Từ đó nhà nước tái phân phối lại thu nhập để bảo đảm công bằng xã hội

Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân ra đời là một công cụ để nhà nướcquản lý, điều tiết các hoạt động kinh tế một phần nào đó cùng với các loại thuếkhác Thông qua việc đánh thuế thu nhập cá nhân, nhà nước có thể tác động trựctiếp, định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điềuchỉnh kinh tế cho phù hợp với đường lối, chiến lược của nhà nước đã đề ra

Ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, pháp luật thuế về thunhập của cá nhân cũng bắt nguồn từ một số cơ sở trên Tuỳ vào từng thời kỳkhác nhau với các điều kiện kinh tế phát triển hay không phát triển, cũng nhưđời sống người dân cao hay thấp mà nhà nước ban hành các sắc thuế phù hợp,nhằm động viên một phần thu nhập của dân cư trong xã hội bổ sung vào ngânsách nhà nước

Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh thuế thunhập đối với người có thu nhập cao và được áp dụng trên thực tế từ ngày1/4/1991 Thời kỳ này, việc gọi tên là Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người cóthu nhập cao là phù hơn tên gọi thuế thu nhập cá nhân, bởi thu nhập của người

Trang 6

dân lúc này rất thấp, đến lương của Thủ tướng Chính phủ mới chỉ có 120.000đồng/tháng [15] Để phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước, Pháp lệnh thuế thu nhập cao đã được sửa đổi, bổsung 6 lần: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 19/5/1994, lầnthứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ tư vào ngày 30/6/1999, lần thứ năm vào ngày19/5/2001 và lần thứ sáu là Pháp lệnh thuế thu nhập cao sửa đổi, bổ sungsố14/2004/PL-UBTHQH11 ban hành ngày 24/3/2004 (có hiệu lực từ ngày1/7/2004) [19] Việc Pháp lệnh tồn tại khoảng 15 năm mà vẫn không thay đổitên gọi, bởi vì thời kỳ này kinh tế nước ta chưa phát triển mạnh, đang trong thời

kỳ chuyển đổi, cùng với việc chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tếtrên thế giới cũng như trong khu vực Do đó, đời sống dân cư xét về cùng mộtmặt bằng là chưa cao, chưa ổn định, vì vậy Nhà nước mới chỉ động viên thunhập của bộ phận dân cư có thu nhập cao hơn mặt bằng chung

Năm 2007 đánh dấu sự ra đời của Luật Thuế thu nhập cá nhân - văn bảnpháp lý có giá trị cao hơn (có hiệu lực từ ngày 1/1/2009) Luật Thuế thu nhập cánhân là một trong những sắc thuế quan trọng nhằm tiến tới công bằng xã hội khi

nó bảo đảm cho mọi người bình đẳng về nghĩa vụ đối với đất nước và tạo điềukiện cho mọi người tự giác đóng thuế để tăng ngân sách nhà nước, củng cố anninh - quốc phòng, tăng cường an ninh xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng, pháttriển kinh tế… Tỷ trọng nguồn thu từ thuế chiếm ngày càng cao trong tổng thungân sách nhà nước (khoảng 90%), nên việc làm cho các tầng lớp nhân dân hiểusâu sắc về Luật thuế thu nhập cá nhân, thấy rõ quyền lợi và nghĩa vụ, tự giácchấp hành pháp luật là vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết Luật thuế thunhập cá nhân được thông qua khi mà thị trường đã bắt đầu có dấu hiệu củanhững “cơn bão giá” nên các đại biểu Quốc hội rất thận trọng khi đưa ra các ýkiến của mình cũng như thảo luận các quy định của dự thảo Luật thuế thu nhập

cá nhân ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt trong hệ thống pháp luật thuế, trong

sự phát triển kinh tế đất nước cũng như đời sống của của người dân ngày càngcao

Trang 7

2 Những vấn đề chung về phạm vi áp dụng trong thuế thu nhập đối với cá nhân

Thuế thu nhập đối với cá nhân đã và đang ngày càng trở nên phổ biếnhơn Việc tìm hiểu phạm vi áp dụng trong thuế thu nhập đối với cá nhân là rấtcần thiết Để tiện cho việc nghiên cứu, các thông tin về đối tượng nộp thuế vàđối tượng chịu thuế của một số nước trên thế giới được tham khảo trong cuốn

Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng và Việt Nam của TS.Lê Văn Ái và TS.Đỗ Đức Minh, Nxb Tài chính, Hà Nội 2002.

2.1 Đối tượng nộp thuế.

Đối tượng nộp thuế chung của thuế thu nhập cá nhân chính là cá nhân cóthu nhập chịu thuế Mỗi quốc gia lại có những quy định riêng để xác định đốitượng nộp thuế cụ thể Đa số các quốc gia trên thế giới đều quy định đối tượngnộp thuế dựa trên tiêu chí “cư trú” để xác định đối tượng cư trú và không cư trú

Ví dụ như: Luật thuế thu nhập cá nhân ở Pháp quy định: đối tượng nộp thuế làcác thể nhân là đối tượng cư trú hoặc không cư trú thuế ở Pháp Cá nhân đượccoi là cư trú thuế ở Pháp phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:

- Có hộ gia đình tại Pháp;

- Có thời gian sống chủ yếu tại Pháp từ 183 ngày trở lên;

- Có hoạt động nghề nghiệp hay trung tâm kinh tế ở Pháp

Cá nhân còn lại được coi là không cư trú thuế tại Pháp

Luật thuế thu nhập cá nhân ở Trung Quốc ra đời năm 1936 đến nay đãmang lại cho ngân sách Trung Quốc một khoản thu không nhỏ Theo đó đốitượng nộp thuế bao gồm cá nhân cư trú và không cư trú có thu nhập chịu thuế.Đối tượng cư trú là những người có nhà hoặc chỗ ở cố định tại Trung Quốc vànhững người không có nhà hoặc không có chỗ ở cố định tại Trung Quốc nhưng

cư trú tại Trung Quốc 1 năm trở lên Đối tượng không cư trú là những cá nhâncòn lại Đối với cá nhân cư trú và không cư trú thì nghĩa vụ nộp thuế của họ làkhác nhau đối với thu nhập phát sinh

Trang 8

Còn ở Nhật Bản, trước đây khi mới ra đời thuế thu nhập cá nhân chỉ được

áp dụng cho nhóm người có thu nhập cao, nhưng theo quy định hiện hành mọi

cá nhân có thu nhập đều là đối tượng phải nộp thuế Cụ thể, đối tượng nộp thuếbao gồm những người cư trú (thường xuyên, không thường xuyên) và nhữngngười không cư trú Trong đó, đối tượng cư trú thường xuyên gồm những người

có nhà ở thường trú tại Nhật Bản và những người cư trú liên tục tại Nhật Bản từ

5 năm trở lên, họ phải nộp thuế trên toàn bộ thu nhập bất kể nguồn gốc thu nhập

từ đâu Đối tượng cư trú không thường xuyên gồm những người không có ý định

ở lâu dài và thời gian cư trú dưới 5 năm, họ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tínhtrên toàn bộ thu nhập có nguồn gốc thu nhập từ Nhật Bản và thu nhập có nguồngốc thu nhập từ nước ngoài nhưng được chi trả tại Nhật Bản Đối tượng còn lạigọi là đối tượng không cư trú, họ chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập có nguồngốc từ Nhật Bản

Phải nói rằng khi quy định như vậy sẽ rất thuận lợi cho các quốc gia khi

áp dụng thuế thu nhập cá nhân để xác định nghĩa vụ nộp thuế của cá nhân có thunhập chịu thuế phát sinh, vì tiêu chí nhằm xác định là đối tượng cư trú haykhông cư trú là rất rõ ràng, dễ áp dụng trên thực tế mà không có tranh cãi

2.2 Đối tượng chịu thuế.

Thuế thu nhập cá nhân đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân.Hiện chưa có một cách hiểu thống nhất mang tính chất luật định về thu nhập. Ở

mỗi góc độ nghiên cứu, mỗi nhà nghiên cứu lại có cách hiểu theo cách riêng.JOSEPL E STIGLITZ đã từng nói “Quan niệm thu nhập về lý thuyết dườngnhư khá đơn giản song trên thực tế việc xem xét cái gì phải và cái gì là khôngphải là thu nhập lại là một vấn đề khó khăn”[2,tr.459]

Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2008 của Trung tâm từ điển học VIETLEX,Nxb Đà Nẵng thì “thu nhập là tổng thể nói chung các khoản thu nhập đượctrong một khoảng thời gian nhất định, thường tính theo tháng, năm” Còn nếuthu nhập được coi là một động từ thì “thu nhập là thu được, kiếm được tiền bạc,của cải, vật chất từ một công việc nào đó để chi dung cho cuộc sống”

Trang 9

“Thu nhập” cũng được nhiều nhà kinh tế hoc định nghĩa theo cách riêngcủa mình Trong cuốn Kinh tế học II của PAUL A SAMUELSON vàWILLIAM D NORDHAUS thì “thu nhập” là “ phần thu được của một cá nhânhay một nước về tiền lương, tiền lãi cho vay, tiền lãi cổ phần và những khoảnthu nhập khác”[1,tr.699] Một số nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra quanđiểm của mình như sau: Thu nhập là tổng giá trị tài sản và của cải được biểuhiện dưới hình thức tiền tệ mà chủ thể nào đó trong nền kinh tế tạo ra và nhậnđược từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phốitổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời hạn nhất định[10,tr.9].

Với một số khái niệm trên ta có thể hiểu khái niệm “thu nhập” làm căn cứ

tính thuế như sau: Thu nhập là các khoản thu dưới dạng tiền tệ, hiện vật hoặc dưới các hình thức lợi ích mang tính chất kinh tế khác nhau mà cá nhân nhận được hoặc tạo ra thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, từ lao động, từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, từ quà biếu…hoặc từ các khoản thu nhập hợp pháp khác.

Hiện nay thu nhập của cá nhân rất đa dạng, có thể bằng tiền hoặc hiện vật

Và nếu dựa vào nguồn tạo ra thu nhập thì có thu nhập từ lao động, từ kinhdoanh, từ nhận quà biếu, quà tặng, từ thừa kế… Nó cũng có thể là thu nhậpthường xuyên và thu nhập không thường xuyên nếu dựa vào tần suất phát sinh

Và cũng có thể là thu nhập phát sinh trong nước và thu nhập phát sinh ở nướcngoài khi xét nó ở phạm vi lãnh thổ phát sinh

Ở các quốc gia, các khoản thu nhập chịu thuế được pháp luật quy địnhkhông hoàn toàn giống nhau bởi lẽ: mỗi quốc gia có quyền đánh thuế riêng theocách của mình, theo những tiêu chí khác nhau với phạm vi điều tiết rộng hẹpkhác nhau; trình độ, năng lực kiểm soát, quản lý thuế từ thu nhập phát sinh làkhác nhau, không phải nước nào cũng ở trình độ cao cả; và điều kiện kinh tế xãhội cũng như chính sách phát triển đất nước của từng quốc gia là không giốngnhau, nên nó chi phối phần nào các quy định của pháp luật

Trang 10

Trong hầu hết luật của các quốc gia trên thế giới, thay vì định nghĩa “thunhập” là gì thì nó liệt kê những thu nhập của cá nhân phải chịu thuế Ví dụ:

Trong luật của Hàn Quốc, thu nhập chịu thuế bao gồm:

- Thu nhập từ lao động hay thu nhập từ kinh doanh;

- Thu nhập từ cho thuê bất động sản;

- Thu từ tài sản tạm thời: lợi nhuận, chuyển quyền sở hữu, quyền khaithác và cho thuê cửa hàng;

- Thu nhập khác từ trúng thưởng xổ số,…;

- Một số thu nhập riêng biệt như: lương hưu, khai thác gỗ…

Còn trong Luật thuế thu nhập cá nhân của Pháp có quy định 8 loại thunhập chịu thuế, bao gồm:

- Thu nhập từ lương và các khoản coi như lương;

- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh công thương ngiệp;

- Thu nhập từ nông nghiệp: từ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi;

- Thu nhập từ hành nghề độc lập và các dịch vụ tư vấn;

- Thu nhập từ đầu tư chứng khoán;

- Thu nhập từ cho thuê bất động sản;

- Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản;

- Thù lao cho người điều hành công ty

Từ những nước ra đời pháp luật thuế thu nhập cá nhân đầu tiên đến cácnước sau này, đã tạo ra một tiền lệ chung về quy định đối tượng chịu thuế, theo

đó đối tượng chịu thuế đã được liệt kê một cách cụ thể, nhiều ít khác nhau theo ýchí của nhà làm luật ở mỗi quốc gia

2.3 Đối tượng miễn thuế và đối tượng không thuộc diện chịu thuế.

Trong quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân bao giờ cũng quy địnhcác trường hợp được miễn thuế và các trường hợp không thuộc diện chịu thuế.Xét về bản chất, hai loại thu nhập là thu nhập được miễn thuế và thu nhập khôngthuộc diện chịu thuế là hoàn toàn khác nhau Thu nhập được miễn thuế là nhữngkhoản thu nhập chịu thuế mà do các tính chất, đặc trưng của nó cũng như điều

Trang 11

kiện về kinh tế, xã hội, đời sống nên thu nhập này được miễn, nhưng khi có đủđiều kiện và cần thiết nhà nước sẽ không cho các thu nhập này được miễn thuế

mà sẽ đưa nó vào diện chịu thuế, chịu sự điều chỉnh của các quy định liên quan

về thu nhập chịu thuế, thuế suất, giảm trừ gia cảnh…và các thủ tục liên quankhác Còn thu nhập không thuộc diện chịu thuế thì nó nằm ngoài phạm vi điềuchỉnh của các quy định pháp luật, pháp luật chỉ liệt kê ra để thuận tiện cho việc

áp dụng trên thực tế

Pháp luật về thuế thu nhập của cá nhân của các nước trên thế giới cũngquy định về các trường hợp miễn thuế Ví dụ trong pháp luật của Trung Quốc cóliệt kê các thu nhập sau được miễn thuế:

- Thu nhập từ giải thưởng trong các lĩnh vực như khoa học, giáo dục,công nghệ, văn hoá, y tế, thể thao, và bảo vệ môi trường được trao bởi cấp chínhquyền nhân dân tỉnh, các bộ và các ban của Hội đồng Nhà nước…, thu nhập từgiải thưỏng của tổ chức nước ngoài hoặc cơ sở giáo dục quốc tế;

- Lãi từ trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu tài chính do Nhà nướcpháthành ;

- Trợ cấp và phụ cấp được nhận theo các quy định của Nhà nước;

- Phúc lợi xã hội, trợ cấp lương hưu và tiền cứu tế;

- Bảo hiểm bồi thường thiệt hại;

- Tiền trợ cấp xuất ngũ và tiền trợ cấp mất sức quân nhân;

- Trợ cấp chuyển công tác sang nơi mới, tiền hưu trí, tiền hưu trí chonhững cán bộ cựu chiến binh, phụ cấp sinh hoạt cho các cựu chiến binh về hưu,cán bộ theo quy định thống nhất của nhà nước;

- Thu nhập của đại diện ngoại giao, và các nhân viên của đại sứ quán vàlãnh sự quán nước ngoài tại Trung Quốc, quyền được miễn thuế như quy địnhtrong việc áp dụng luật pháp của nhà nước;

- Thu nhập được miễn thuế theo quy định tại các công ước quốc tế thamgia vào hoặc ký kết thỏa thuận của chính phủ Trung Quốc;

Trang 12

- Thu nhập được miễn thuế như chấp thuận của Sở Tài chính của Hộiđồng Nhà nước[18].

Việc quy định các trường hợp miễn thuế và không thuộc diện chịu thuếcũng nhằm bảo đảm những nguyên tắc quan trọng của pháp luật thuế nói chung

và chính sách thuế thu nhập cá nhân nói riêng Đó là cân đối lợi ích nhà nước vàlợi ích người nộp thuế vì thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, ảnh hưởngtrực tiếp đến lợi ích cá nhân người nộp thuế Điều này giống như Bộ trưởng tàichính của Pháp Colbert đã nói: “Đánh thuế cũng giống như vặt lông ngỗng: anhmuốn vặt được số lông ngỗng tối đa với số tiếng kêu tối thiểu của conngỗng”[1,tr.464]

3 Phạm vi áp dụng trong pháp luật thuế thu nhập đối với cá nhân ở Việt Nam

Pháp luật Việt Nam về thuế thu nhập cá nhân tuy được áp dụng sau cácnước khác trên thế giới nhưng trải qua một quá trình áp dụng nó cũng đã dầnphát triển và hoàn thiện, được áp dụng ngày càng có hiệu quả trong đời sống xãhội Từ chỗ là các quy định trong Pháp lệnh, ngày nay các quy phạm pháp luậtthuế thu nhập cá nhân đã được đặt đúng chỗ của mình trong một hình thức pháp

lý cao hơn - luật Việc Luật thuế thu nhập cá nhân ra đời đã chứng tỏ tầm quantrọng của thuế thu nhập cá nhân cũng như tạo ra sự bảo đảm thi hành trên thựctế

Lần sửa đổi cuối cùng Pháp lệnh thuế thu nhập cao là vào ngày24/03/2004 và tồn tại cho đến khi Luật thuế thu nhập cá nhân ra đời Theo quyđịnh của Pháp lệnh thuế thu nhập cao và các văn bản hướng dẫn liên quan, thìthuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là loại thuế trực thu, thu vào một sốkhoản thu nhập cao, chính đáng của cá nhân nhằm thực hiện chính sách điều tiếtthu nhập giữa các tầng lớp dân cư, góp phần thực hiện công bằng xã hội về thunhập và góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Trang 13

Dấu hiệu đặc trưng của phạm vi áp dụng theo các quy định của Pháp lệnhthuế thu nhập cao được thể hiện ở một số điểm sau:

Thứ nhất: Đối tượng nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là

các cá nhân không kinh doanh có thu nhập chịu thuế phát sinh Đó là: công dânViệt Nam ở trong nước hoặc đi lao động, công tác ở nước ngoài có thu nhậpchịu thuế; cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cưkhông thời hạn tại Việt Nam có thu nhập; người nước ngoài làm việc tại ViệtNam kể cả người nước ngoài không sinh sống ở Việt Nam nhưng có thu nhậpphát sinh tại Việt Nam (Điều 1- NĐ 147/2004 của Chính Phủ quy định chi tiếtthi hành Pháp lệnh thuế thu nhập cao (NĐ 147))

Thứ hai: Thu nhập chịu thuế trong thuế thu nhập đối với người có thu

nhập cao là các khoản thu nhập phát sinh từ lao động và các khoản thu nhậpkhác không từ kinh doanh của các cá nhân Bao gồm:

1, Thu nhập thường xuyên dưới các hình thức:

- Các khoản tiền lương, tiền công, kể cả các khoản thu nhập được chi trả

hộ không tính trong tiền lương, tiền công như tiền nhà, điện, nước; các khoảnthu nhập khác do tham gia dự án hiệp hội kinh doanh…; các khoản phụ cấp, cáckhoản tiền thưởng;

- Các khoản thu nhập về tiền bản quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, tácphẩm; thu nhập về tiền nhuận bút, thu nhập về dịch vụ khoa học, kỹ thuật; dịch

vụ tin học ;

- Các khoản thu nhập ngoài tiền lương, tiền công do tham gia hoạt độngsản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanhnghiệp

2, Thu nhập không thường xuyên dưới các hình thức:

- Chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp biếu, tặng;

- Trúng thưởng xổ số (Điều 2 - NĐ 147)

Thứ ba: Các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế, bao gồm:

- Phụ cấp lưu động;

Trang 14

- Phụ cấp độc hại, nguy hiểm;

- Phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm đối với cán bộ công chức;

- Phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đặc biệt;

- Phụ cấp thâm niên đối với lực lượng vũ trang, hải quan và cơ yếu;

- Một số khoản phụ cấp khác;

- Tiền công tác phí;

- Các khoản trợ cấp xã hội;

- Tiền bồi thường bảo hiểm;

- Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm;

- Trợ cấp điều động về cơ sở sản xuất kinh doanh;

- Một số loại tiền thưởng như: tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chếphát minh, tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được nhà nước phong tặng…

- Thu nhập của hộ kinh doanh cá thể thuộc diện chịu thuế thu nhập doanhnghiệp;

- Tiền nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế từ tiền lương, tiền công củangười lao động (Điều 4 - NĐ 147)

Thứ tư: Đối tượng được miễn thuế gồm hai trường hợp sau:

- Cá nhân người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, địch hoạ, tai nạn làmthiệt hại đến tài sản, thu nhập và đời sống

- Trong trường hợp đặc biệt, nếu việc nộp thuế của cá nhân làm ảnh

hưởng đến lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia (Điều 15 - NĐ 147)

Thứ năm: Các khoản thu nhập tạm thời chưa thu thuế, bao gồm: lãi tiền

gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi mua tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, cổphiếu; thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán, chênh lệch mua bán chứngkhoán (Điều 3 - NĐ 147)

Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, thu nhập và đời sống của nhân dânngày càng cao, điều đó dẫn đến hệ lụy tất yếu là pháp luật thực định không cònphù hợp với thực tế, không điều chỉnh được hết các quan hệ xã hội phát sinhtrong thực tế đời sống và đòi hỏi pháp luật phải được sửa đổi, bổ sung hoặc ban

Trang 15

hành mới Pháp lệnh Thuế thu nhập cao cũng vậy, nó được thay thế bằng LuậtThuế thu nhập cá nhân 2007, có hiệu lực chính thức ngày 01/01/2009 Theo quyđịnh pháp luật mới thì phạm vi áp dụng của Luật Thuế thu nhập cá nhân có một

số điểm nổi bật sau:

Thứ nhất: Về đối tượng nộp thuế: Là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế

phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhậpchịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam (Điều 2 - Luật thuế thu nhập cánhân)

Thứ hai: Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân bao gồm 10 loại thu nhập

phân loại theo nguồn gốc phát sinh bao gồm:

- Thu nhập từ kinh doanh;

- Thu nhập từ tiền lương, tiền công;

- Thu nhập từ đầu tư vốn;

- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn;

- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;

- Thu nhập từ trúng thưởng;

- Thu nhập từ bản quyền;

- Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chứckinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặcđăng ký sử dụng;

- Thu nhập từ nhận quà tặng và chứng khoán, phần vốn trong các tổ chứckinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặcđăng ký sử dụng (Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân)

Thứ ba: Thu nhập được miễn thuế bao gồm 14 loại:

- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ

đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với condâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoạivới cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau;

Trang 16

- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắnliền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duynhất;

- Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được nhà nước giaođất;

- Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng,cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồngvới con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại,

bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau;

- Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâmnghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sảnphẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường;

- Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đượcNhà nước giao để sản xuất;

- Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểmnhân thọ;

- Thu nhập từ kiều hối;

- Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so vớitiền lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật;

- Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả;

- Thu nhập từ học bổng;

- Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiềnbồi thường tai nan lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồithường khác theo quy định của pháp luật;

- Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩmquyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhânđạo, không nhằm mục đích lợi nhuận;

Trang 17

- Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện,nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phê duyệt (Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân).

Trên đây là một số quy định pháp luật liên quan đến phạm vi áp dụngpháp luật thuế thu nhập đối với cá nhân của hai văn bản pháp luật là Luật thuếthu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Từ

đó ta sẽ so sánh dưới góc độ pháp lý để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt vềphạm vi áp dụng của hai văn bản pháp luật này

Trang 18

CHƯƠNG II NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ PHẠM VI ÁP DỤNG TRONG LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LỆNH THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI

CÓ THU NHẬP CAO DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

1 Đối tượng nộp thuế

Như đã nói, thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sựcông bằng trong phân phối thu nhập và nó chỉ xuất hiện khi thu nhập xã hội đạtđến một mức độ tạo nên khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các cá nhânvới nhau Trước đây, khi mà nền kinh tế nước ta là nền kinh tế tập trung quanliêu bao cấp, thu nhập của người dân chưa cao lại khá đồng nhất nên chưa cóthuế thu nhập cá nhân Sau đó nước ta bước vào công cuộc đổi mới (năm 1986)với chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài nên số người có thu nhập caongày càng nhiều, chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày một biểuhiện rõ Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam, các thịtrường tài chính, chứng khoán, bất động sản đang bắt đầu phát triển mạnh mẽhơn, giúp các cá nhân có cơ hội đầu tư tạo ra các khoản thu nhập đột biến khôngnhỏ Bên cạnh đó, dòng chảy vốn FDI vào Việt Nam cũng làm gia tăng thu nhậpcủa nhiều cá nhân Chính vì vậy, ở mỗi giai đoạn kinh tế mà Nhà nước lại đưa racác chính sách về thuế thu nhập đối với cá nhân như thế nào, đối tượng phải nộpthuế ở đây bao gồm những ai Do đều là văn bản pháp luật điều chỉnh thu nhậpcủa cá nhân nên Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh có một số điểm tươngđồng nhất định và cũng có một số khác biệt do chính sách pháp luật áp dụngkhác nhau ở mỗi thời kỳ

Trang 19

1.1 Điểm tương đồng giữa Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về đối tượng nộp thuế

Mặc dù hai văn bản pháp luật quy định về đối tượng nộp thuế theo tiêuchí riêng của mình nhưng ta có thể thấy điểm tương đồng ở hai văn bản này nhưsau:

Thứ nhất: Đối tượng nộp thuế đều là các cá nhân có thu nhập chịu thuế

phát sinh Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập cao đều điềuchỉnh thu nhập của cá nhân phát sinh trong kỳ nộp thuế - tức khoảng thời gian

để xác định số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của phápluật về thuế1 Theo đó, trong kỳ nộp thuế nếu cá nhân có thu nhập chịu thuế phátsinh thì sẽ phải nộp thuế cho nhà nước trên cơ sở đăng ký thuế, khai thuế, nộpthuế,…theo quy định của pháp luật về quản lý thuế Và nếu cá nhân thuộc cáctrường hợp ưu đãi về thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế thì sẽ được cơ quanquản lý thuế thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

Thứ hai: Cả Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập cao

đều lấy tiêu chí “cư trú” để xác định đối tượng nộp thuế

Theo các quy định của Pháp lệnh thuế thu nhập cao thì tiêu chí “cư trú”được quy định cho đối tượng nộp thuế là người nước ngoài Theo đó, “ngườinước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam từ 183 ngày trởlên tính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam”, còn người nước ngoàiđược coi là không cư trú tại Việt Nam “nếu ở tại Việt Nam dưới 183 ngày, kể cảtrường hợp không hiện diện tại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại ViệtNam” Còn theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân thì tiêu chí “cư trú”được quy định cho cả người Việt Nam và người nước ngoài Theo đó, chỉ cầnđáp ứng một trong các điều kiện sau thì sẽ được coi là cá nhân cư trú:

- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trở lên tính trong một nămdương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại ViệtNam;

1 Khoản 4 Điều 5 Luật quản lý thuế 2006

Trang 20

- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thườngtrú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.

Nếu không đáp ứng đáp ứng một trong hai điều kiện trên sẽ là cá nhânkhông cư trú

Với cách quy định như trên giúp xác định phạm vi thu nhập của cá nhânphải nộp thuế Có phải là mọi khoản thu nhập chịu thuế phát sinh kể cả ở ViệtNam và nước ngoài hay chỉ một phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam Đồngthời, cũng phần nào giúp cho việc so sánh về phạm vi áp dụng của Luật thuế thunhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập cao dễ dàng hơn, thấy rõ được điểmtương đồng giữa hai văn bản pháp luật này Việc Pháp lệnh thuế thu nhập caolấy tiêu chí “cư trú” để xác định đối tượng nộp thuế chứng tỏ các nhà làm luật đãtiếp thu phần nào pháp luật thuế thu nhập của các nước khác trên thế giới Vàđến nay, Luật thuế thu nhập cá nhân lại kế thừa làm cho pháp luật thuế thu nhập

cá nhân của Việt Nam thêm phù hợp với pháp luật thế giới về vần đề này

Thứ ba: Cả Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập cao

đều điều chỉnh những cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, chuyển giaocông nghệ, trúng thưởng xổ số, trúng thưởng khuyến mại

Vấn đề đối tượng nộp thuế có liên quan đến đối tượng chịu thuế - thunhập chịu thuế Hai nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau, bởi đối tượngnộp thuế là người tạo ra thu nhập mà thu nhập đó phát sinh thì sẽ phải nộp thuế.Chính vì vậy, pháp luật đưa thu nhập nào vào diện đánh thuế thì cá nhân có hoạtđộng tạo ra thu nhập đó sẽ nằm trong sự điều chỉnh của pháp luật, tức là cá nhân

đó phải nộp thuế; còn nếu thu nhập nào mà pháp luật không đánh thuế thì cánhân tạo ra thu nhập sẽ không phải nộp thuế Tất nhiên, một cá nhân có thể tạo

ra nhiều loại thu nhập khác nhau, chứ không phải một cá nhân chỉ có một loạithu nhập nên họ có loại thu nhập nào thuộc diện chịu thuế thì sẽ phải nộp thuếcho loại thu nhập đó

Việc Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập cao tươngđồng nhau ở điểm này cũng không có gì phải lý giải nhiều Những thu nhập phổ

Trang 21

biến trước đây nay vẫn thấy phù hợp, vẫn thấy cần phải điều chỉnh thì đươngnhiên nó vẫn nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật thuế thu nhập cá nhân.

1.2 Điểm khác biệt giữa Luật thuế thu nhập cá nhân và Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về đối tượng nộp thuế.

Không chỉ có điểm tương đồng mà giữa Luật thuế thu nhập cá nhân vàPháp lệnh thuế thu nhập cao còn có một số điểm khác biệt liên quan đến đốitượng nộp thuế, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Về tiêu chí để xác định đối tượng nộp thuế Theo các quy định

của Pháp lệnh thuế thu nhập cao thì ba tiêu chí được sử dụng để xác định đốitượng nộp thuế là “quốc tịch”, “nơi cư trú” và “lãnh thổ” Tiêu chí “quốc tịch”được thể hiện ở quy định “công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác,lao động ở nước ngoài có thu nhập” Tiêu chí “nơi cư trú” thể hiện ở quy định

“cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư không thờihạn tại Việt Nam” Còn tiêu chí “lãnh thổ” chính là quy định “người nước ngoàilàm việc tại Việt Nam kể cả người nước ngoài không sinh sống ở Việt Namnhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam” Chính việc quy định như vậy làmcho pháp luật về thuế thu nhập của cá nhân ở Việt Nam phần nào khác với phápluật của các nước khác trên thế giới về vấn đề này, bởi họ chỉ áp dụng tiêu chí là

“cư trú” để xác định đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú hay cá nhân không cư trú

Vấn đề Pháp lệnh thuế thu nhập cao không đồng nhất với pháp luật cácnước (ở góc độ nào đó) cũng cản trở mối quan hệ hợp tác giữa nước ta với cácnước khác, đặc biệt hợp tác về kinh tế mà quan hệ chủ yếu thông qua các cánhân trực tiếp Quan trọng hơn là trong bối cảnh toàn cầu hoá, quá trình hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, việc thu hútđầu tư từ nước ngoài vào trong nước đang được ưu tiên hàng đầu của bất kỳquốc gia nào trên thế giới nhằm phát triển kinh tế nội địa Nhiều hàng rào (hàngrào thuế quan và hàng rào phi thuế quan) đã dần dần được cắt giảm cũng nhưxoá bỏ thông qua các điều ước quốc tế đa phương và song phương giữa các quốc

Trang 22

gia nhằm thiết lập quan hệ thương mại quốc tế Việt Nam cũng không tránh khỏiquy luật này Chúng ta không nên tạo ra những rào cản một cách không cầnthiết, trong đó có rào cản pháp lý Chính những quy định của Pháp lệnh phầnnào tạo ra trở ngại trong nền kinh tế thị trường, nó tạo ra tâm lý e ngại cho cácnhà đâu tư khi muốn đầu tư vào Việt Nam, bởi nó liên quan đến trách nhiệm vềthuế mà họ phải gánh chịu Đó là việc, một khoản thu nhập của nhà đầu tư cóthể phải nộp thuế cho quốc gia nơi thu nhập phát sinh và cho quốc gia mà họmang quốc tịch sẽ làm giảm lợi nhuận mà họ thu được, nên có thể họ do dựtrong việc đầu tư vốn ở nước ngoài trong khi họ đang thừa vốn và có ý muốnđầu tư Đặc biệt khi mà giữa Việt Nam và nước có nhà đầu tư chưa ký kết hiệpđịnh tránh đánh thuế hai lần Điều đó dễ dẫn đến việc đánh thuế trùng - là việchai hay nhiều quốc gia đánh một loại thuế trên cùng một khoản thu nhập hay tàisản chịu thuế của cùng một đối tượng nộp thuế trong cùng một kỳ tính thuế1.Việc đánh thuế trùng của các quốc gia xuất phát từ nhiều nguyên nhân khácnhau như: do xung đột về quyền đánh thuế, mỗi quốc gia đều áp dụng quyềnđánh thuế của mình theo một hoặc hai hoặc cả ba nguyên tắc là theo quốc tịch,theo nơi cư trú và theo lãnh thổ; do các nước quy định về cách xác định quốctịch, nơi cư trú, nguồn thu nhập cũng khác nhau Hiện nay, do xu thế quốc tếhoá đời sống kinh tế - xã hội ngày càng mở rộng, hiện tượng một số đối tượngnộp thuế có nhiều quốc tịch, nhiều nơi cư trú, nhiều nguồn thu nhập phát sinhtrong và ngoài nước tương đối phổ biến, dẫn đến nhiều trường hợp bị đánh thuếtrùng đối với các loại thuế trực thu Việc đánh thuế trùng ảnh hưởng đến sự pháttriển kinh tế, xã hội chung ở các quốc gia Nó là rào cản đối với dòng luânchuyển hàng hoá, vốn, công nghệ và lao động, cản trở quá trình toàn cầu hoákinh tế.

Khác với Pháp lệnh thuế thu nhập cao, Luật thuế thu nhập cá nhân đã quyđịnh đối tượng nộp thuế dựa trên tiêu chí “cư trú” , được áp dụng thống nhất cho

cả cá nhân là người Việt Nam và người nước ngoài, nghĩa là trên cùng một mặt

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXBCAND, 2008

Trang 23

bằng về đối tượng Từ tiêu chí “cư trú” phân chia làm hai loại đối tượng nộpthuế là “cá nhân cư trú” và “cá nhân không cư trú” Điều đó làm cho các quyđịnh của Luật thuế thu nhập cá nhân chặt chẽ hơn và dễ áp dụng hơn Theo đó,đối với đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú thì thu nhập chịu thuế là cả thu nhậpphát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam; đối với đối tượng nộp thuế là cánhân không cư trú thì thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong lãnh thổViệt Nam.

Bên cạnh đó, việc xác định đối tượng là người cư trú trong Luật thuế thunhập cá nhân cũng khác với Pháp lệnh thuế thu nhập cao Chỉ cần đáp ứng mộttrong hai điều kiện tại khoản 2 Điều 2 Luật thuế thu nhập cá nhân là được coi là

cá nhân cư trú Mặt khác, Luật thuế thu nhập cá nhân cũng quy định khá cụ thể

về thời hạn cư trú tại Việt Nam Đó là, việc có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngàytrở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từngày có mặt tại Việt Nam, chứ không phải là ở tại Việt Nam từ 183 ngày trở lêntính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam như Pháp lệnh thuế thu nhậpcao quy định Đây là một quy định khá mềm dẻo của Luật thuế thu nhập cánhân Chính quy định này cũng góp phần bao quát hơn đối tượng nộp thuế, đôngthời khắc phục được hạn chế của quy định cũ

Xuất phát từ lợi ích của quốc gia mình, với mục tiêu thúc đẩy đầu tư nướcngoài, tạo cơ sở pháp lý hỗ trợ các nhà đầu tư tham gia vào hoạt động thươngmại, công nghiệp tài chính, cùng cạnh tranh lành mạnh, thực hiện đầu tư vốn,chuyển giao công nghệ và luân chuyển lao động mà không bị ảnh hưởng do việcđánh thuế trùng giữa các quốc gia Việt Nam cũng như các quốc gia khác trênthế giới đã tìm cách loại bỏ hiện tượng này bằng việc ký kết hiệp định tránhđánh thuế hai lần để giải quyết các vấn đề đa phương, song phương về thuế Đếnnay, Việt Nam đã ký kết được hơn 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần[3,tr.240] Việc Luật thuế thu nhập cá nhân quy định phù hợp với các nước kháctrên thế giới đã góp phần củng cố thêm hành lang pháp lý của Việt Nam liênquan đến việc tránh đánh thuế hai lần Tuy nhiên, việc quy định như trên cũng

Trang 24

đặt ra thách thức không nhỏ trong việc quản lý thu nhập phát sinh ngoài lãnh thổViệt Nam của cá nhân cư trú, vì nó liên quan đến pháp luật, tập quán của nước

sở tại có thu nhập phát sinh Nếu quản lý tốt được vấn đề này thì sẽ tránh đượcviệc thất thu một khoản thu nhất định cho ngân sách nhà nước

Thứ hai: Về vấn đề phạm vi đối tượng nộp thuế Rõ ràng, Pháp lệnh thuế

thu nhập cao không bao quát được hết đối tượng nộp thuế, mà chỉ điều chỉnhnhững cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, chuyển giao công nghệ,trúng thưởng xổ số, trúng thưởng khuyến mại Còn những cá nhân có thu nhập

từ nguồn khác như: thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ nhượng quyền thươngmại, thu nhập từ đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượngbất động sản…thì nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh thuế thu nhậpcao Điều đó có nghĩa là những cá nhân có thu nhập trên không phải nộp thuếkhi thu nhập đó phát sinh Không bao quát đối tượng nộp thuế cũng đồng nghĩavới việc làm giảm nguồn thu từ thuế thu nhập đối với người có thu nhập caotrong ngân sách nhà nước Đồng thời, nó cũng thể hiện sự không công bằng giữacác cá nhân là đối tượng phải nộp thuế nhưng lại chịu sự điều chỉnh của nhữngquy định pháp luật khác nhau, đặc biệt là giữa cá nhân kinh doanh (Luật thuếthu nhập doanh nghiệp 2003 điều chỉnh) và cá nhân phi kinh doanh ( Pháp lệnhthuế thu nhập đối với người có thu nhập cao điều chỉnh) và giữa các cá nhân cóthu nhập phát sinh từ những nguồn khác nhau thì có cá nhân phải nộp thuế, có

cá nhân không phải nộp thuế

Việc ra đời của Luật thuế thu nhập cá nhân cũng một phần do các quyđịnh trên của Pháp lệnh thuế thu nhập cao không còn phù hợp với thực tế, cầnphải bổ sung mới Chính vì vậy Luật thuế thu nhập cá nhân đã mở rộng đốitượng nộp thuế - một điểm mới rất cần thiết và hợp lý Theo đó, ngoài các đốitượng nộp thuế như trong Pháp lệnh thuế thu nhập cao, Luật thuế thu nhập cánhân còn bổ sung các cá nhân có thu nhập khác vào diện phải nộp thuế thu nhập

cá nhân, cụ thể:

Trang 25

- Cá nhân có thu nhập từ kinh doanh, bao gồm: cá nhân có thu nhập từhoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và cá nhân có thu nhập từ hoạtđộng hành nghề độc lập có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy địnhcủa pháp luật;

- Cá nhân có thu nhập từ đầu tư vốn;

- Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng vốn;

- Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;

- Cá nhân có thu nhập từ trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino

và trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúngthưởng khác;

- Cá nhân có thu nhập từ nhượng quyền thương mại;

- Cá nhân có thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các

tổ chức kinh tế, cơ sở kinh koanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sởhữu hoặc đăng ký sử dụng;

- Cá nhân có thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trongcác tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký

sở hữu hoặc đăng ký sử dụng

Như vậy, một mặt Luật thuế thu nhập cá nhân đã bao quát rộng hơn đốitượng nộp thuế so với Pháp lệnh thuế thu nhập cao, đồng thời nó cũng đảm bảocông bằng hơn cho các đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế như nhau Tuy nhiên, khinhững đối tượng này thuộc sự điều chỉnh của Luật thuế thu nhập cá nhân có thểgặp một số vấn đề về kỹ thuật đánh thuế, như việc sử dụng hóa đơn, chứng từ,chi phí khấu trừ,… Nhưng giải quyết được những vấn đề này sẽ là bước tiếnthuận lợi cho việc áp dụng pháp luật thuế lâu dài, cũng như tăng thu cho ngânsách nhà nước Vấn đề này Nhà nước cũng đã và đang có những biện pháp kỹthuật để giải quyết, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản

lý thông tin người nộp thuế, cách thức thu thuế

Với quy định và bổ sung mới như đã phân tích ở trên, Luật thuế thu nhập

cá nhân đã khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh thuế thu nhập cao, làm

Trang 26

cho pháp luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam phù hợp với thực tế điều kiệnkinh tế - xã hội của đất nước cũng như với thông lệ quốc tế hơn.

2 Đối tượng chịu thuế

Như đã nói khi xác định thu nhập chịu thuế thì có những tiêu chí khácnhau để xác định, tuỳ thuộc vào ý chí của nhà làm luật Luật thuế thu nhập cánhân và Pháp lệnh thuế thu nhập cao cũng có những căn cứ nhất định để phânloại thu nhập

Theo Pháp lệnh thuế thu nhập cao thì thu nhập được phân chia thành thunhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên (căn cứ vào tần suất phátsinh thu nhập) Mặc dù Pháp lệnh thuế thu nhập cao không quy định thế nào làthu nhập thường xuyên nhưng ta có thể hiểu thu nhập thường xuyên chịu thuế làkhoản thu nhập mang tính ổn định của từng cá nhân bình quân tháng trong năm,như: tiền lương, tiền công, tiền thưởng, tiền phụ cấp, tiền trợ cấp,…Còn thunhập không thường xuyên chịu thuế thì ngược lại, nó phát sinh từng lần, khôngmang tính ổn định, như: thu nhập từ chuyển giao công nghệ, trúng thưởng xổ số,trúng thưởng khuyến mại

Pháp lệnh thuế thu nhập cao ra đời từ năm 1990 và nó đã được sửa đổi, bổsung nhiều lần và lần cuối là vào năm 2004 So với Pháp lệnh thuế thu nhập caonăm 2001 thì Pháp lệnh thuế thu nhập cao sửa đổi, bổ sung năm 2004 có một sốđiểm tích cực sau liên quan đến phạm vi áp dụng:

Thứ nhất: Pháp lệnh thuế thu nhập cao năm 2004 đã cụ thể hoá hơn các

khoản thu nhập thường xuyên chịu thuế mà không nêu chung chung như Pháplệnh thuế thu nhập cao năm 2001 Việc quy định chi tiết như vậy cũng góp phầnvào việc áp dụng các quy định pháp luật trên thực tế một cách dễ dàng hơn

Thứ hai: Thu nhập không thường xuyên chỉ còn hai loại là thu nhập từ

chuyển giao công nghệ và trúng thưởng xổ số, bao gồm cả trúng thưởng khuyếnmại Như vậy đã bỏ quy định thu nhập từ quà biếu, quà tặng bằng hiện vật từnước ngoài chuyển về trong Pháp lệnh thuế thu nhập cao năm2001 Việc sửa đổinhư vậy là hợp lý, bởi lẽ: nó góp phần đơn giản hoá thủ tục kê khai và nộp thuế

Trang 27

vì liên quan đến nguồn gôc phát sinh thu nhập là từ nước ngoài chuyển về, liênquan đến việc kiểm soát nguồn thu nhập của cá nhân từ quà biếu, quà tặng từnước ngoài chuyển về là rất khó khăn, phức tạp Mặt khác, những hiện vật từnước ngoài chuyển vào trong nước đã phải chịu một số khoản thuế như: thuếnhập khẩu, thuế giá trị gia tăng…,nếu tiếp tục bị đánh thuế sẽ làm tăng gánhnặng về thuế đối với cá nhân.

Thứ ba: Cũng liên quan đến thu nhập chịu thuế, Pháp lệnh đã quy định

“tạm thời chưa thu thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập từ lãi tiền gửi ngânhàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi mua tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu, thunhập từ các hoạt động đầu tư chứng khoán, chênh lệch mua bán chứng khoán”.Vào thời điểm này, hoàn cảnh đất nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thu nhậpcủa người dân chưa cao, tích luỹ còn thấp, các loại thu nhập này không đáng kể.Với quy định này đã có những tác động tích cực đối với nền kinh tế- xã hội

Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực Pháp lệnh thuế thu nhập cao năm

2004 vẫn tồn tại một số bất cập sau:

Thứ nhất: Pháp lệnh thuế thu nhập cao không định nghĩa thế nào là thu

nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập không thường xuyên, mà chỉ liệt kênhững loại thu nhập nào thuộc thu nhập thường xuyên, những loại thu nhập nàothuộc thu nhập không thường xuyên Chính điều này làm giảm tính dự liệu củaluật, vì nếu định nghĩa hai loại thu nhập này thì khi áp dụng pháp luật trên thực

tế, có những loại thu nhập phát sinh mà không được liệt kê nhưng vẫn thuộc sựđiều chỉnh của pháp luật

Thứ hai: Việc coi các khoản thu nhập từ tiền bản quyền sử dụng sáng

chế, nhãn hiệu là các khoản thu nhập thường xuyên là không hợp lý Bởi lẽ, cácsản phẩm này là kết quả của sự sáng tạo trí tuệ không mang tính thường xuyên,không phải ai cũng đều đặn từng tháng, từng năm sáng tạo ra những sản phẩmtrí tuệ Thậm chí, có những sản phẩm ra đời trong một thời điểm bất chợt, khôngxác định trước, có những sản phẩm lại trải qua một quá trình nghiên cứu lâu dài,

có thể cả cuộc đời con người Vì vậy việc đưa thu nhập từ hoạt động này vào thu

Ngày đăng: 16/03/2018, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PAU A. SAMUELSON& WILLIAM D. NORDHAUS, Kinh tế học II, Viện Quan hệ Quốc tế, năm1989 Khác
2. JOSEPH E. STIGLITZ, Kinh tế học công cộng, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà nội 1995 Khác
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thuế Việt Nam, Nxb Công an, Hà nội 2008 Khác
5. Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao sửa đổi, bổ sung 2004 Khác
6. Nghị định 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân Khác
7. Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành NĐ100 Khác
8. Nghị định 147/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Khác
9. Thông tư 81/2004/TT-BTC hướng dẫn thi hành NĐ 147 Khác
10. TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh, Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng vào Việt Nam, Nxb Tài Chính, Hà nội 2002 Khác
14. Doanh nhân và pháp luật số 21 tháng 3/ 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w