LỜI NểI ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Thuế cú vai trũ rất quan trọng đối với một quốc gia, đối với đời sống xó hội và sự phỏt triển kinh tế của quốc gia đó. Thuế là công cụ hiệu quả để Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế xã hội của đất nước, để điều tiết một phần tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu chung của nhà nước và xã hội. Nó góp phần bảo đảm công bằng xã hội và hội nhập quốc tế. Hoạt động quản lý thuế là một hoạt động không thể thiếu trong việc quản lý nền kinh tế tài chính của đất nước, nhận thấy được tầm quan trọng của nó,các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã đưa ra những chính sách, biện pháp, giải pháp quản lý hữu hiệu nhất, pháp luật thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế nói riêng đã từng bước hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu đó. Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót cần được khắc phục.Vì vậy cần một hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế thớch hợp để góp phần đảm bảo công bằng xó hội, đảm bảo tính dân chủ cao. Qua quá trình học tập nghiên cứu Môn Luật Tài Chính, người viết nhận thấy vấn đề quản lý thuế là một vấn đề hay, đang được xã hội quan tâm,bằng những kiến thức được học tập và qua nghiên cứu tìm hiểu pháp luật thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế nói riêng,người viết chọn đề tài: “Pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và hướng hoàn thiện” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
Trang 1LỜI NểI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thuế cú vai trũ rất quan trọng đối với một quốc gia, đối với đời sống xóhội và sự phỏt triển kinh tế của quốc gia đó Thuế là công cụ hiệu quả để Nhànước điều tiết nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, giải quyếtnhiều vấn đề kinh tế xã hội của đất nước, để điều tiết một phần tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầuchi tiêu chung của nhà nước và xã hội Nó góp phần bảo đảm công bằng xãhội và hội nhập quốc tế
Hoạt động quản lý thuế là một hoạt động không thể thiếu trong việcquản lý nền kinh tế - tài chính của đất nước, nhận thấy được tầm quan trọngcủa nó,các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã đưa ra những chính sách,biện pháp, giải pháp quản lý hữu hiệu nhất, pháp luật thuế nói chung và phápluật quản lý thuế nói riêng đã từng bước hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu đó
Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế ở Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc, nhưng bêncạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót cần được khắc phục.Vì vậycần một hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế thớch hợp đểgóp phần đảm bảo công bằng xó hội, đảm bảo tính dân chủ cao
Qua quá trình học tập nghiên cứu Môn Luật Tài Chính, người viết nhậnthấy vấn đề quản lý thuế là một vấn đề hay, đang được xã hội quan tâm,bằngnhững kiến thức được học tập và qua nghiên cứu tìm hiểu pháp luật thuế nói
chung và pháp luật quản lý thuế nói riêng,người viết chọn đề tài: “Pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và hướng hoàn thiện” làm đề
tài khoá luận tốt nghiệp
Trang 22 Đối tượng và mục đích nghiên cứu của khóa luận
Khoỏ luận nghiờn cứu một số vấn đề về nội dung cỏc quy định củapháp luật quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam Đồng thời, khoỏ luận xem xộtcỏc biện pháp nhằm bảo đảm cho cỏc quy định đó sẽ được thực hiện một cỏchhiệu quả trờn thực tế Bờn cạnh đó, khúa luận cũn xem xột, đánh giỏ thực tiễn
ỏp dụng cỏc quy định này, trờn cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoànthiện cũng như nõng cao hiệu quả ỏp dụng cỏc quy định của pháp luật về vấn
đề này
3 Phương pháp nghiờn cứu
Để đạt được mục đích nghiờn cứu, khoỏ luận chủ yếu dựa trờn cơ sởphương pháp luận của triết học Mac - Lờnin Ngoài ra để hoàn thành đề tài,khúa luận cũn sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiờn cứu truyền thốngnhư: Phương pháp phõn tớch, tổng hợp; phương pháp đối chiếu, so sỏnh;phương pháp logic; phương pháp thống kờ… nhằm làm sỏng tỏ cỏc vấn đềcần nghiờn cứu
4 Bố cục của khoỏ luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khúa luậnđược kết cấu gồm 3 chương :
Chương I: Những vấn đề chung về quản lý thuế và pháp luật quản lý thuế
Chương II: Thực trạng pháp luật quản lý thuế hiện nay ở Việt Nam
Chương III: Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế của việt nam
Trang 3Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ
VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ
1.1 Những vấn đề chung về quản lý thuế
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quản lý thuế
1.1.1.1 Khái niệm
Quản lý là một phạm trù để chỉ những mối quan hệ và sự tác động qualại giữa các chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý nhằm đạt được nhữngmục tiêu đề ra trong điều kiện có sự biến đổi của môi trường [5] Quản lýxuất hiện từ khi có hoạt động chung của con người Tuỳ theo yêu cầu, mụctiêu và phạm vi nghiên cứu mà ta có thể hiểu chủ thể quản lý và những đốitượng bị quản lý ở chừng mực nhất định Nội dung quản lý thường bao gồm :Lập kế hoạch; tổ chức bộ máy quản lý; đào tạo cán bộ xác lập biên chế cho tổchức, cho mỗi loai công việc; chỉ huy, động viên cán bộ làm việc theo các kếhoạch, mục tiêu; kiểm tra
Khái niệm QLT (quản lý thuế) có thể hiểu theo 2 nghĩa như sau :
Theo nghĩa rộng : quản lý thuế là quản nhà nước trong lĩnh vực thuế, làquá trình xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành các luậtthuế, tổ chức, quản lý, điều hành, thanh tra, giám sát việc thực hiện các luậtthuế; thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Theo nghĩa hẹp : quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế,
là việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế; bao gồm các hoạtđộng nghiệp vụ mang tính chất hành chính trong lĩnh vực thuế; là hoạt độngchấp hành theo kế hoạch và trình tự nhất định được thực hiện bởi các cơ quanQLT
Luật QLT của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10, số 78/2006/QH11ngày 29/11/2006, tiếp cận vấn đề quản lý thuế theo nghĩa hẹp Luật không đưa
ra khái niệm cụ thể về QLT mà chỉ nêu ra các nội dung trong quản lý thuế tại
Trang 4Điều 3 Nội dung quản lý thuế bao gồm : Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế,
ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xoỏ nợ tiền thuế, tiềnphạt; Quản lý thụng tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế;Cưỡng chế thi hành quyết định hành chớnh thuế; Xử lý vi phạm pháp luật vềthuế; Giải quyết khiếu nại, tố cỏo về thuế
Từ điều luật này có thể thấy, pháp luật quản lý thuế bao gồm các quy địnhmang tính thủ tục được xây dựng để thực hiện các chính sách thuế của nhànước
Bản chất của QLT là quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thuế
Vì vậy, QLT được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý hành chính
Chủ thể trong quan hệ QLT bao gồm 2 đối tượng :
+) Đối tượng quản lý : về cơ bản, trách nhiệm tham gia QLT là của nhànước và mọi tổ chức, cá nhân Tuy nhiên,để đảm bảo thực thi trách nhiệmQLT, nhà nước trao quyền hạn, trách nhiệm QLT trực tiếp cho cơ quan QLT
cụ thể là cơ quan thuế (gồm Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế )và cơquan hải quan (gồm Tổng cục hải quan, Cục hải quan, Chi cục hải quan)
+) Đối tượng chịu sự QLT của nhà nước là đối tượng nộp thuế được xác
định trong luật quản lý thuế 2006 gồm ‘‘ a) Tổ chức, hộ gia đỡnh, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; b) Tổ chức, hộ gia đỡnh, cỏ nhõn nộp cỏc khoản thu khỏc thuộc ngõn sỏch nhà nước (sau đây gọi chung
là thuế) do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật; c)
Tổ chức, cỏ nhõn khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế.’’ Khoản 1, điều 2,LQLT.
Quy định này thể hiện tư tưởng xã hội hoá hoạt động QLT của nhà làmluật, đây là xu hướng chung của công cuộc cải cách quản lý hành chính nhànước hiện nay Mặt khác sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước cũng
là một trong 4 trụ cột cơ bản để quản lý nhà nước tốt (Ba trụ cột còn lại làtrách nhiệm giải trình, tính minh bạch, tính tiên liệu) Tuy nhiên để thực hiện
Trang 5được điều này thì trước tiên phải đổi mới tư duy của đội ngũ cán bộ côngchức và xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch
1.1.1.2 Đặc điểm của quản lý thuế
QLT bao gồm các đặc điểm sau :
Thứ nhất, QLT là một hoạt động nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi phải đảmbảo lợi ích của cả 2bên: nhà nước và người nộp thuế Đặc điểm này đòi hỏi cơquan QLT phải có những phương thức quản lý linh hoạt, không thể tuỳ tiện đề
ra các quy định có tính áp đặt, độc đoán Lịch sử đã chứng minh những bứcxúc với chế độ thuế khoá có thể kéo theo những chuyển biến chính trị rất căn bản
Thứ hai, QLT là quản lý bằng pháp luật và theo pháp luật và các biệnpháp nghiệp vụ, biện pháp hành chính khác, trong đó pháp luật là công cụ chủyếu, là chuẩn mực buộc mọi người phải tuân theo, dù là người thu thuế hayngười nộp thuế Bên cạnh đó còn có dư luận xã hội góp phần quan trọng vàocông tác QLT nói riêng và trong lĩnh vực thuế nói chung
Thứ ba, hiệu quả của công tác QLT phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : ýthức chấp hành pháp luật thuế của người dân, trình độ năng lực của công chứcQLT, cơ sở vật chất của ngành thuế, hệ thống thể chế quản lý kinh tế - xã hội(quản lý đất đai, quản lý đăng ký kinh doanh, chế độ kế toán ) Đặc điểm nàyđặt ra yêu cầu : mọi cuộc cải cách hệ thống thuế phải được tiến hành đồng bộ,
có chiến lược tổng quát, tránh lối cải cách khập khiễng, chắp vá
1.1.2 Cơ chế quản lý thuế trong xã hội hiện đại
Cơ chế QLT là tổng hợp của các yếu tố: phương châm quản lý, cáchthức tiến hành hoạt động quản lý và bộ máy tổ chức của cơ quan thực hiệnhoạt động này Nếu như cơ chế quản lý thuế truyền thống là quản lý theo chế
độ chuyên quản (một cán bộ chuyên quản thực hiện toàn bộ các khâu và trựctiếp thu thuế từ đối tượng nộp thuế rồi sau đó nộp vào kho bạc) với phươngchâm là chủ yếu dùng quyền lực mang tính áp đặt đối với người nộp thuế, thìphương châm của cơ chế quản lý thuế hiện đại là làm cho người nộp thuế hiểu
và tự giác tuân thủ nghĩa vụ thuế của mình Theo đó, cách thức tiến hành là:
Trang 6người nộp thuế sẽ tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế, cơ quan QLT chỉ ấn địnhthuế trong trường hợp người nộp thuế vi phạm pháp luật thuế, không tự tínhđược số thuế phải nộp hoặc các trường hợp đặc biệt khác theo quy định tạiđiều 37, 38, 39 của Luật QLT Cơ chế QLT này đã được triển khai áp dụng ởnước ta từ năm 2007 và tỏ ra có nhiều ưu điểm vượt trội so với cơ chế cũ như:
Một là: Tiết kiệm thời gian, công sức của cán bộ QLT : cán bộ QLTkhông phải mất thời gian tính toán số liệu trên tờ khai, số thuế phải nộp,không mất thời gian gửi thông báo thuế và đôn đốc thu nộp
Hai là: Tiết kiệm chi phí quản lý hành chính thuế : không phải gửi hàngtriệu thông báo thuế cho các đối tượng nộp thuế, tiết kiệm chi phí in ấn, cướcphí bưu điện
Ba là: Người nộp thuế giảm thời gian chờ cơ quan thuế chấp nhận tờkhai hàng tháng trước khi phát hành thông báo thuế
Bốn là: Nâng cao trách nhiệm pháp lý của đối tượng chịu thuế, phảichịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của số liệu kê khai, tính chínhxác của việc tính toán chính xác số thuế phải nộp
Năm là: Tạo tiền đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế của cơquan thuế Do không mất thời gian tính lại số thuế phải nộp, gửi thông báothuế, cán bộ thuế có điều kiện tập trung thời gian, công sức cho các công việcquản lý như công tác thanh tra, kiểm tra, đôn đốc thu nộp
Ngoài ra, cơ quan QLT còn thực hiện quản lý thuế dựa trên kỹ thuậtquản lý rủi ro (quản lý theo mức độ tuân thủ của người nộp thuế). Quản lý rủi
ro là việc dự đoán về những khả năng và mức độ hậu quả của sự việc có thểxảy ra, qua đó áp dụng những biện pháp để làm giảm độ không an toàn vàthay đổi cách xem xét và hành động đối với sự việc đó Dưới góc độ quản lý,quản lý rủi ro là một phương pháp để phát hiện ra những yếu tố gây ảnhhưởng xấu đến hiệu quả của công tác quản lý từ đó thay đổi cách xem xét vàhành động nhằm loại trừ hoặc làm giảm sự ảnh hưởng của những yếu tốtrên.Quản lý rủi ro trong QLT nghĩa là cơ quan QLT phải nghiên cứu hành vi
Trang 7tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, trong đó tập trung vào các yếu tố bêntrong của hành vi không tuân thủ Sau đó căn cứ vào lịch sử tuân thủ củangười nộp thuế, cơ quan quản lý thuế phân loại người nộp thuế theo nhữngnhóm khác nhau như: nhóm người nộp thuế tuân thủ tốt, sắn sàng thực hiệncác nghĩa vụ thuế; nhóm người nộp thuế tuân thủ nhưng đôi khi vẫn vi phạm;nhóm người nộp thuế chống đối không muốn tuân thủ; nhóm người nộp thuế
cố tình không tuân thủ, trốn thuế Việc phân loại này chỉ sử dụng trong nội bộ
cơ quan quản lý thuế, không công bố cho người nộp thuế Tiếp theo, cơ quanQLT sẽ xác định thứ tự ưu tiên các biện pháp xử lý đối với những rủi ro tuânthủ về thuế Yêu cầu đặt ra là phải đa dạng hoá các biện pháp xử lý chứ khôngchỉ áp dụng một biện pháp với tất cả các loại rủi ro nhằm nâng cao hiệu quảcủa biện pháp đó, đồng thời củng cố sự tin cậy của cộng đồng những ngườinộp thuế với cơ quan quản lý thuế
Có thể thấy, phương pháp quản lý rủi ro thực chất là một kỹ thuật được
áp dụng trong một chu trỡnh mang tớnh logic và hệ thống từ thiết lập bốicảnh, xỏc định - phân tích - đánh giá - xử lý và quản trị rủi ro cũng như gắnrủi ro với tác động của nó Phương pháp quản lý rủi ro trở thành một cụng cụhữu hiệu ỏp dụng cho cỏc biện pháp hoặc quy trỡnh nghiệp vụ trong cỏc kếhoạch, chương trỡnh hành động nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra
Bên cạnh đó, việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế phải đượccoi là một nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quản lý thuế Loại hỡnh dịch vụ
sẽ được cung cấp như: hướng dẫn cho phép người nộp thuế tiếp cận các vănbản pháp quy, hướng dẫn, biểu mẫu cần thiết cho họ hiểu rừ nghĩa vụ củamỡnh; cung cấp thụng tin giỳp người nộp thuế có thể thực hiện nghĩa vụ thuếmột cách thuận tiện, nhanh chóng và đảm bảo tính công bằng, minh bạch cho
hệ thống thuế; tư vấn cung cấp thông tin có tính chuyên môn cao từ cácchuyên gia trong lĩnh vực thuế cho người nộp thuế Các phương thức hỗ trợ sẽđược đa dạng hóa nhằm thuận tiện cho các đối tượng nộp thuế như qua điện
Trang 8thoại, dịch vụ internet Để thực hiện những yêu cầu trên thì cơ cấu tổ chứccủa cơ quan QLT được sắp xếp thành những bộ phận theo nhóm người nộpthuế, với các chức năng chuyên sâu nhằm quản lý và cung cấp dịch vụ chotừng nhóm người nộp thuế Cơ quan QLT đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu vàđáp ứng nhu cầu của người nộp thuế hơn là buộc người nộp thuế phải đáp ứng yêucầu của mình.
1.2 Khái quát chung về pháp luật quản lý thuế
1.2.1 Khái niệm
Cỏc quy định về hỡnh thức tổ chức và đảm bảo thực hiện hệ thống thuếthường được quan niệm như là những quy định về hỡnh thức của pháp luậtthuế, bởi nú cú nhiệm vụ xỏc định trỡnh tự, thủ tục hành thu thuế và quản lýthuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết cỏc tranh chấp về thuế Hiểu theonghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thểđược gói gọn trong một thuật ngữ là “pháp luật quản lý thuế” và tựy thuộcvào quan điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộluật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạoluật về quản lý thuế
Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung
về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ Trong bộ luật này, nhà làm luật vừa quy định
về nội dung cụ thể của các loại thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định vềtrỡnh tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm vàgiải quyết cỏc tranh chấp về thuế Giải pháp này đó từng được áp dụng tạiMiền Nam Việt Nam trước năm 1975( Xem: Bộ luật thuế vụ, Nguyễn HùngTrương sao lục, Sài Gũn, 1972) Hiện tại, giải pháp này cũng đang được ápdụng tại Cộng Hũa Pháp [3]
Ngược lại, có những nước lựa chọn giải pháp thiết kế mỗi loại thuếđược ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảotính tương thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế
Trang 9bằng một đạo luật riờng biệt so với các đạo luật thuế Đây là giải pháp đangđược áp dụng tại Việt Nam và một số quốc gia khác trên thế giới.
Trong bối cảnh thế giới đương đại, xu hướng chung của các nước làtỡm cỏch ban hành những đạo luật riêng về từng loại thuế và cố gắng táchbạch các quy định về hành chính thuế ra khỏi các đạo luật về thuế, bằng cáchban hành một đạo luật riêng, gọi là Luật về quản lý thuế Giải pháp này đượcđánh giá là thích hợp hơn với điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, vỡ nú chophộp nhà làm luật cú thể sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quy định trongcác đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn, so với việc đưa tất cả các quy định vềthuế trong một Bộ luật chung về thuế
Pháp luật QLT là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhànước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh tronghoạt động QLT của nhà nước (quan hệ quản lý trong việc thu nộp thuế chongân sách nhà nước của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các đốitượng nộp thuế và các đối tượng khác có liên quan)
Một cỏch tổng quỏt, cú thể hỡnh dung pháp luật quản lý thuế bao gồmcỏc nhúm quy định cơ bản sau đây:
Một là: Các quy định về đăng ký, kờ khai, tính thuế, nộp thuế, quyếttoán thuế, truy thu và hoàn thuế Đăng ký, kờ khai, tớnh thuế, nộp thuế, quyếttoỏn thuế, truy thu và hoàn thuế là những hoạt động quan trọng trong quátrỡnh thực hiện chức năng quản lý thuế của các cơ quan nhà nước có thẩmquyền Trước đây, các hoạt động này thường được thực hiện bằng các quyếtđịnh hoặc hành vi hành chính đơn phương của Nhà nước và bất chấp thái độcủa người nộp thuế Hiện nay, quy trỡnh này về cơ bản đó được thay đổi, theohướng dành quyền chủ động tối đa cho người nộp thuế trong việc tự đăng kýthuế, tự kờ khai, tớnh thuế và tự nộp thuế cho nhà nước, trên cơ sở chịu sựkiểm tra, giám sát trực tiếp, thường xuyên của các cơ quan quản lý thuế - với
tư cách là người đại diện cho Nhà nước trong hoạt động hành thu thuế Như
đó phõn tớch ở trờn, việc chuyển sang mụ hỡnh hành thu thuế theo cơ chế tự
Trang 10đăng ký, tự khai, tự tớnh và tự nộp là bước đột pháp quan trọng trong tiếntrỡnh cải cỏch hành chớnh thuế ở cỏc nước trên thế giới nói chung và ở ViệtNam nói riêng Xét từ phương diện pháp luật, các quy định về cơ chế tự đăng
ký, tự kờ khai, tự tớnh và tự nộp thuế nhằm hướng tới mục tiêu mở rộngquyền năng cho người nộp thuế, đồng thời thông qua đó cũng đề cao ý thứctrỏch nhiệm của họ trong quỏ trỡnh thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhànước
Hai là: Các quy định về thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm phápluật thuế Đây là những quy định thể hiện rừ nhất vai trũ, chức năng quản lýhành chính của Nhà nước đối với xó hội núi chung và đối với người nộp thuếnói riêng Trước đây, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế thường được tiếnhành trước khi người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, gọi là cơ chế
“tiền kiểm” Tuy nhiên, gần đây, những nỗ lực trong quá trỡnh cải cỏch hànhchớnh thuế đó dẫn đến việc chuyển đổi từ cơ chế “tiền kiểm” sang cơ chế
“hậu kiểm”, theo đó cơ quan quản lý thuế chỉ tiến hành thanh tra, kiểm tra saukhi người nộp thuế đó tự thực hiện cỏc thủ tục chớnh yếu của quỏ trỡnh quản
lý thuế như đăng ký thuế, kờ khai thuế, tớnh thuế và nộp thuế, quyết toánthuế, hoàn thuế hay xin miễn giảm thuế Dựa trên cơ sở kết quả thanh tra vàkiểm tra, cơ quan thuế có quyền áp dụng các chế tài xử lý đối với những hành
vi vi phạm pháp luật thuế Việc quy định theo hướng này không những làmgiảm gánh nặng công việc cho cơ quan quản lý thuế, đảm bảo tính hợp lý củaquá trỡnh quản lý thuế mà cũn tạo điều kiện để cơ quan thuế nâng cao tínhchuyên nghiệp trong quá trỡnh thanh tra, kiểm tra thuế - với tư cách là nhữngcông cụ quản lý thuế hiệu quả nhất
Ba là: Cỏc quy định về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thuế Tranhchấp nói chung và tranh chấp về thuế nói riêng là hậu quả khó tránh của quátrỡnh thực hiện chức năng quản lý hành chính, đặc biệt là quản lý hành chớnhtrong lĩnh vực thuế Sở dĩ như vậy là bởi vỡ, cỏc quy định gần đây của Luậtthuế có chiều hướng gia tăng và ngày càng trở nên phức tạp hơn, cùng với nó
Trang 11là quá trỡnh chuyển đổi sang mô hỡnh nhà nước – pháp quyền và xó hội dõn
sự Điều này dẫn tới hệ quả là Nhà nước phải tỡm cỏch thiết lập những cơ chếgiải quyết thích hợp đối với các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thuế,thông qua đó nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham giaquan hệ pháp luật thuế [25]
1.2.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật QLT là một quá trìnhbền bỉ, lâu dài Tuy còn có những hạn chế, thiếu sót nhưng với những nỗ lực,
cố gắng không ngừng, pháp luật QLT ngày càng tiến bộ, phù hợp với tiếntrình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, theo kịp trình độ của quốc tế.Quá trình này có thể chia làm 2 giai đoạn như sau :
1.2.2.1 Giai đoạn trước 2006
Trong nhiều năm, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, mởcửa và hội nhập, hệ thống chính sách thuế đó được cải cách và hoàn thiện đểđáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Các luật thuế đó được Quốc hội banhành tương đối đồng bộ và có phạm vi điều chỉnh toàn diện đến các hoạt độngkinh tế - xó hội Đồng thời trong từng luật thuế đó quy định nội dung quản lýthuế mang tính chất khung, trên cơ sở đó Chính phủ, Bộ Tài chính đó cúnhững quy định cụ thể để hướng dẫn, tổ chức công tác quản lý thuế đảm bảoviệc thực thi chính sách thuế theo quy định của pháp luật
Mặt khỏc trong quỏ trỡnh thực thi cỏc luật thuế, cụng tỏc cải cỏch hànhchớnh thuế luụn được xác định là yếu tố quan trọng và từng bước được hoànthiện Các thủ tục hành chính thuế như: Đăng ký thuế, nộp thuế, miễn giảmthuế đó được quan tâm sửa đổi, bổ sung theo hướng đơn giản, rừ ràng, minhbạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, từng bước chuyển sang cơchế tự khai, tự nộp thuế, cơ quan Thuế chuyển từ quản lý thuế tiền kiểm sanghỡnh thức hậu kiểm và cung cấp dịch vụ công nhằm giúp người nộp thuế thựchiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
Trang 12Bên cạnh đó, ý thức tuõn thủ pháp luật thuế của người nộp thuế ngàycàng được nâng cao, vai trũ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác quản
lý thuế từng bước được tăng cường Nhiều tổ chức, cá nhân hoàn thành tốtnghĩa vụ nộp thuế đó được cơ quan Nhà nước tôn vinh Dư luận xó hội ngàycàng quan tõm nhiều đến công tác thuế, tích cực phối hợp với cơ quan quản lýthuế trong cụng tỏc quản lý thuế, phản ỏnh và phờ phỏn những hành vi trốnthuế và gian lận tiền thuế
Công tác quản lý thuế đó hỡnh thành một tổ chức thống nhất trong cảnước và từng bước được củng cố, tăng cường, kiện toàn cả về tổ chức bộ máyquản lý thuế và quy trỡnh nghiệp vụ quản lý Trỡnh độ công chức thuế ngàycàng được nâng lên theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp, nhờ đó mà số thu
từ thuế và phí vào ngân sách Nhà nước luôn vượt dự toán Nhà nước giao hàng năm
Song bên cạnh những thành tựu đó đạt được trong công tác quản lýthuế, trước yêu cầu phát triển kinh tế - xó hội và hội nhập kinh tế quốc tế,cụng tỏc quản lý thuế cũn bộc lộ một số tồn tại như :
Nước ta chưa có một văn bản luật thống nhất về QLT, các quy định vềQLT nằm rải rác trong nhiều các văn bản pháp luật khác nhau như trong cácvăn bản pháp luật ở từng sắc thuế có những quy định về QLT riêng như : quyđịnh về thủ tục đăng ký thuế, cấp mã số thuế, thủ tục về mua hoá đơn, chứngtừ,thủ tục về kê khai thuế, thời hạn nộp thuế, thủ tục về quyết toán thuế, thờihạn nộp quyết toán thuế Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật khác cónhững quy định liên quan đến QLT như : các văn bản pháp luật về kế toán, vềhoá đơn chứng từ; các văn bản về khiếu nại, tố cáo; các văn bản về thanh tra,kiểm tra; các văn bản về xử phạt hành chính Một hệ thống các văn bản phápluật như vậy sẽ có nhiều quy định mâu thuẫn nhau, gây khó khăn cho việcthực hiện
Giai đoạn này có nhiều thủ tục QLT được ban hành chủ yếu trong cácvăn bản dưới luật (nghị định, thông tư) nên tính pháp lý không cao Pháp luậtQLT còn chưa đảm bảo tính thống nhất, còn chắp vá, tản mạn,chưa mang tính
Trang 13hệ thống Các nội dung về QLT được quy định trong các văn bản quy phạmpháp luật phù hợp với từng sắc thuế nên không đảm bảo tính thống nhất Mỗiluật thuế, pháp lệnh thuế đều có các quy định riêng về QLT cho sắc thuế đó.
Hồ sơ, thủ tục khai thuế, nộp thuế và đặc biệt là các chế tài xử phạt đối vớimỗi sắc thuế cũng khác nhau làm cho việc áp dụng gặp nhiều khó khăn
Pháp luật QLT còn nhiều quy định chưa rõ ràng, thiếu tính khả thi, nhưchưa có quy định về trách nhiệm của người nộp thuế trong việc cung cấpthông tin cho cơ quan nộp thuế để phục vụ cho việc QLT; chưa có quy định vềquyền của người nộp thuế Ngoài ra, còn thiếu một số quy định cần thiếtnhư: chưa có quy định cụ thể việc đánh giá, phân loại đối tượng cần thanh tra,kiểm tra; chưa quy định thẩm quyền điều tra, khởi tố các hành vi vi phạm vềthuế cho cơ quan thuế và cơ quan hải quan
Tóm lại, trước 2006, pháp luật QLT ở nước ta còn nhiều hạn chế, thiếu sót như :
Thứ nhất, các quy định trùng lặp, chồng chéo nhau, thậm chí nhiều quy định mâu thuẫn nhau gây khó khăn cho quá trình thực hiệndẫn đến hạn chế trong việc tuõn thủ pháp luật thuế
Thứ hai, các quy định về quản lý thuế cũn phõn tỏn tại nhiều văn bản pháp luật, cú nội dung cũn chưa thống nhất
Thứ ba, quyền hạn, nghĩa vụ và trỏch nhiệm pháp luật của cỏc chủ thế tham gia quản lý thuế chưa được quy định đầy đủ, rừ ràng, ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác quản lý thuế, cụng tỏc phũng chống, xử lý cỏc hành vi
vi phạm phỏt luật thuế, chống thất thu thuế cũn hạn chế
1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay
Thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 đó được BộChính trị phê duyệt, cùng với việc hoàn thiện và xây dựng mới cỏc luật vềchớnh sỏch thuế Luật Quản lý thuế đó được xây dựng nhằm để khắc phục cáchạn chế trong công tác quản lý thuế đó nờu ở trờn, đồng thời đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế - xó hội và hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 22/11/2006 Quốc
Trang 14hội đó biểu quyết thụng qua và cú hiệu lực thi hành từ 1/7/2007 Luật đó tạokhung pháp lý chung để thực thi tất cả các luật, pháp lệnh về thuế và cáckhoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý thuế thu Sự rađời của Luật Quản lý thuế đó khắc phục được tỡnh trạng chia cắt tỏch biệt vềphương thức quản lý giữa các loại thuế Từ đó tạo nền tảng cho việc áp dụngmột cơ chế quản lý thuế tiờn tiến, hiện đại theo hướng tự tính, tự khai, tự nộpthuế Đây là một cơ chế đề cao quyền và trách nhiệm của các chủ thể chấphành pháp luật thuế, người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và tổ chức, cỏ nhõnliờn quan Cỏc quy định của luật tạo điều kiện cho việc cải cách thủ tục hànhchính thuế, tăng cường công cụ quản lý, nõng cao hiệu lực của hệ thống phápluật thuế Diện mạo cụng tỏc quản lý thuế sẽ được hiện đại hóa phù hợp vớithông lệ quốc tế, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn tới
Luật quản lý thuế được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệulực, hiệu quả công tác quản lý thuế; tạo điều kiện thuận lợi cho người nộpthuế nộp đúng, đủ kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước và cơ quanquản lý thuế thu đúng, thu đủ tiền thuế; quy định rừ quyền, nghĩa vụ, trỏchnhiệm của người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và của cỏc tổ chức, cỏ nhõn
cú liờn quan trong việc quản lý thuế Đồng thời Luật được ban hành nhằmđẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản, rừ ràng,minh bạch, dễ thực hiện, tăng cường vai trũ kiểm tra giỏm sỏt của Nhà nước,cộng đồng xó hội trong việc thực hiện quản lý thuế
Luật quản lý thuế ra đời cú ý nghĩa rất to lớn:
Thứ nhất, Kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý thuế
để quy định thống nhất trong luật quản lý thuế chung, phự hợp với mục tiờu,yờu cầu cải cỏch quản lý thuế trong những năm tới
Thứ hai, Tiếp cận với những kinh nghiệm quản lý thuế của cỏc nướctiên tiến, áp dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam
Trang 15Thứ ba, Tạo hành lang pháp lý cho đổi mới phương thức quản lý thuế
từ cơ chế chuyên quản, người nộp thuế thụ động trong thực hiện nghĩa vụthuế sang cơ chế người nộp thuế chủ động trong việc xác định đúng số thuếphải nộp, thực hiện nộp thuế đúng thời hạn cũng như xác định các ưu đóithuế, quyền lợi về thuế của mỡnh Cơ quan quản lý thuế tập trung vào thựchiện tuyền truyền, phổ biến hướng dẫn pháp luật thuế, kiểm tra, thanh tra bảođảm tuân thủ pháp luật thuế
Chương II:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng pháp luật quản lý thuế
2.1.1.Hệ thống pháp luật quản lý thuế hiện hành ở Việt Nam
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập, hệ thống chínhsách thuế đó được cải cách và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển củađất nước, hệ thống các Luật thuế đó được ban hành tương đối đồng bộ và cóphạm vi điều chỉnh toàn diện đến các hoạt động kinh tế - xó hội của đất nước,công tác quản lý thuế đó hỡnh thành một hệ thống tổ chức thống nhất trong cảnước, từng bước đó được củng cố và tăng cường, kiện toàn cả về tổ chức bộmáy thuế và quy trỡnh nghiệp vụ quản lý thuế; xong tính pháp lý của các quyđịnh về quản lý thuế chưa cao, dẫn đến hạn chế trong việc tuân thủ pháp luậtthuế của các chủ thể tham gia quản lý Nhằm khắc phục các hạn chế trongcông tác quản lý thuế, đồng thời đáp ứng các yờu cầu phỏt triển kinh tế - xóhội và hội nhập kinh tế Quốc tế, Luật Quản lý thuế ban hành và cú hiệu lực từngày 1 thỏng 7 năm 2007 Luật Quản lý thuế gồm có 14 chương và 120 điều
Luật quy định việc quản lý đối với các loại thuế và các khoản thu khácthuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế thu theo quy định của phápluật Như vậy, pháp luật QLT không chỉ điều chỉnh các quan hệ quản lý thuếcủa cơ quan thuế mà cũn điều chỉnh các quan hệ quản lý thuế của cơ quan hảiquan và các khoản thu do cơ quan hải quan thực hiện
Trang 16Luật ỏp dụng đối với người nộp thuế được quy định tại các luật thuế,phí và lệ phí, các đại lý thuế; cơ quan quản lý thuế; cụng chức thuế, cụngchức hải quan; cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thựchiện các luật thuế
Luật đó phản ỏnh, ghi nhận khá đầy đủ, toàn diện các nội dung củaquản lý thuế và đặc biệt có thêm nhiều nội dung mới mà trước đây các luật vềchính sách thuế chưa có điều kiện quy định như: Nguyên tắc quản lý thuế;Trách nhiệm của Hội đồng tư vấn thuế xó, phường, thị trấn; Trách nhiệm của
cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án; Trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc ViệtNam, tổ chức chính trị - xó hội - nghề nghiệp; Trỏch nhiệm của cơ quan thôngtin, báo chí trong việc quản lý thuế; Hợp tỏc quốc tế về quản lý thuế; Xõydựng lực lượng quản lý thuế; Hiện đại hoá công tác quản lý thuế; Tổ chứckinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế; Thông tin về người nộp thuế; Gia hạnnộp thuế; Xoá nợ thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế v.v Hoặc các vấn đề về quản lý thuế có quy định tại các luật về chính sách thuếnhưng chưa chi tiết cụ thể hoặc được quy định ở các nghị định, thông tư, như:Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt; Xử lý số tiền thuế nộp thừa; Nộp thuếtrong thời gian giải quyết khiếu nại, khiếu kiện; Trỏch nhiệm hoàn thànhnghĩa vụ nộp thuế; Các biện pháp áp dụng trong thanh tra thuế đối với trườnghợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế; Cưỡng chế thuế v.v
Để hỗ trợ Luật QLT 2006 được thực hiện một cách hiệu quả nhất,nhiềuvăn bản khác hướng dẫn thi hành luật đã được ban hành như :
Nghị định số 85/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 5 năm
2007 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế Trongnghị định này qui định về các nội dung liên quan đến quản lý thuế như: khaithuế; hồ sơ khai thuế; thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế; thứ tự thanhtoán tiền thuế, tiền phạt; xử lý số tiền thuế nộp thừa; nộp thuế trong thời giangiải quyết khiếu nại, khởi kiện; gia hạn nộp thuế; ấn định số tiền thuế phảinộp; trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc giải quyết hồ sơ hoàn
Trang 17thuế; xây dựng và quản lý hệ thống thụng tin về người nộp thuế; trách nhiệmcung cấp thông tin của cơ quan nhà nước, của tổ chức cá nhân có liên quan;thanh tra thuế; quyền khiếu nại của người nộp thuế
Thông tư số 60/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 14/6/2007Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hànhNghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiếtthi hành một số điều của Luật Quản lý thuế (Kốm theo 2 files về mẫu biểutheo thông tư 60-2007-TT-BTC) Thông tư này áp dụng đối với việc quản lýcác loại thuế theo quy định của pháp luật về thuế; các khoản phí, lệ phí thuộcNgân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí; các khoảnthu khác thuộc Ngân sách Nhà nước do cơ quan thuế quản lý thu (gọi chung
là thuế) Nội dung quản lý thuế hướng dẫn tại Thông tư này bao gồm: 1 Khaithuế, tớnh thuế; 2 Ấn định thuế; 3 Nộp thuế; 4 Uỷ nhiệm thu thuế; 5 Trỏchnhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; 6 Thủ tục miễn thuế, giảm thuế; xoỏ nợtiền thuế, tiền phạt; 7 Thủ tục hoàn thuế, bự trừ thuế; 8 Kiểm tra thuế, thanhtra thuế; 9 Giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện liên quan đến thực hiệnpháp luật thuế
Ngày 25/7/2007, Bộ Tài chính đó cú Quyết định số 2476/QĐ-BTC Vềviệc đính chính Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tàichính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thihành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy địnhchi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế.Việc đính chính này chỉ làđính chính mẫu biểu
Trong lĩnh vực xuất khẩu,nhập khẩu,Bộ tài chính ban hành Thông tư số59/2007/TT-BTC ngày14/6/2007 hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu, quản lư thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
thuế có trong một số văn bản sau:
Trang 18Thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ Tài chính Hướngdẫn thi hành Luật quản lý thuế về việc đăng ký thuế
Ngày 22 tháng 06 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đó ban hànhQuyết định số 93/2007/QĐ-TTg ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa,
cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.Trên cơ sở đó, Bộ tài chính ban hành Quyết định 78/2007/QĐ-BTC ban hànhngày 18/9/2007 Ban hành quy chế hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về chínhsách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế của ngườinộp thuế theo cơ chế " một cửa Quy chế hướng dẫn, giải đáp vướng mắc vềchính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết cỏc thủ tục hành chớnh thuế củangười nộp thuế theo cơ chế “một cửa” nhằm đảm bảo việc tiếp nhận và giảiquyết các yêu cầu hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc về chính sách thuế,quản lý thuế, tiếp nhận và giải quyết cỏc thủ tục hành chính thuế của ngườinộp thuế được thuận lợi nhất, đồng thời đảm bảo giám sát được công chứcthuế trong việc thực hiện giải quyết các yêu cầu, thủ tục hành chính thuế củangười nộp thuế (Điều 1)
* ) Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của
cơ quan thuế các cấp có trong các văn bản như:
Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ban hành ngày 27/11/2008 của ChínhPhủ về việc quy định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của
Bộ Tài Chính Theo Nghị định này, Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ,thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: tài chính (bao gồm: ngân sách nhànước, thuế, phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước, dự trữ nhà nước,tài sản nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước, đầu tư tài chính, tài chính doanhnghiệp, tài chớnh hợp tỏc xó và kinh tế tập thể); hải quan; kế toỏn; kiểm toỏnđộc lập; giá; chứng khoán; bảo hiểm; hoạt động dịch vụ tài chính và dịch vụkhác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; thực hiện đại diện chủ sở hữuphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Về cơ cấu
tổ chức, Bộ Tài chính có 25 đơn vị tổ chức hành chính (gồm các Vụ, Cục,
Trang 19Tổng cục chuyên môn) giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhànước; 4 đơn vị tổ chức sự nghiệp nhà nước phục vụ quản lý nhà nước thuộc
Bộ (Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Thời báo Tài chính Việt Nam,Tạp chí Tài chính, Trường bồi dưỡng cán bộ tài chính)
Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
Tổng cục Thuế được tổ chức quản lý tập trung, thống nhất thành hệ thốngngành dọc từ Trung ương đến địa phương, theo đơn vị hành chính gồm 16Ban chuyên môn ở Trung ương Tổng cục Thuế sẽ được tăng thêm quyền hạnnhư thẩm định, trỡnh cấp cú thẩm quyền quyết định hoặc quyết định theothẩm quyền việc gia hạn thời gian nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn thời hạn nộpthuế, xóa tiền nợ thuế, tiền phạt; quyền ấn định thuế, xử lý vi phạm hànhchớnh về thuế, truy thu thuế, thực hiện cỏc biện pháp cưỡng chế thi hànhquyết định hành chính thuế để thu tiền thuế nợ, tiền phạt vi phạm hành chínhthuế Ngoài ra, Tổng cục Thuế có thể tiến hành giám định để xác định số thuếphải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩmquyền; lập hồ sơ đề nghị khởi tố cỏc tổ chức, cỏ nhõn vi phạm pháp luật vềthuế
Quyết định của Bộ Tài chính số 49/2007/QĐ-BTC ngày 15 tháng 6năm 2007 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế
*)Quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế cú trong các văn bản: Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định
về xử lư vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hànhchính thuế.Nghị định này qui định nguyờn tắc, thẩm quyền, hành vi vi phạm,mức và biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về thuế; trỡnh tự, thủ tục cỏc quiđịnh về xử lý vi phạm pháp luật về thuế theo qui định của Luật Quản lý thuế
và pháp luật xử lý vi phạm hành chớnh Những nội dụng qui định tại Nghịđịnh này ỏp dụng chung cho cỏc luật, pháp lệnh thuế
Trang 20Nghị định số 13/2009/Né-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghịđịnh số 98/2007/Né-CP ngày 7-6-2007 của Chớnh phủ quy định về xử lý viphạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.Nghị định có hiệu lực từ ngày 1-4-2009.
Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ tài chính hướngdẫn thực hiện xử lư vi phạm pháp luật về thuế Thụng tư hướng dẫn thực hiện:phạt theo số tiền tuyệt đối đối với các hành vi vi phạm thủ tục thuế, mức phạttối đa không quá 100 triệu đồng Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối vớimột hành vi vi phạm thủ tục thuế là mức trung bỡnh của khung tiền phạt đượcquy định đối với hành vi đó; nếu có tỡnh tiết giảm nhẹ thỡ mức tiền phạt cúthể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiềnphạt, nếu có tỡnh tiết tăng nặng thỡ mức tiền phạt cú thể tăng lên nhưngkhông được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt
Quyết định của Bộ Tài chính số 2538/QĐ-BTC Về việc đính chínhThông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 hướng dẫn thực hiện xử lý viphạm pháp luật về thuế (Đính chính điểm 5.3 Mục I Phần B Thông tư số61/2007/TT-BTC)
Ngày 16.1.2008, Bộ Tài chính đó ra Quyết định số 93/QĐ-BTC Vềviệc đính chính Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14/06/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạmpháp luật về thuế
Trong xử phạt vi phạm hành chớnh và cưỡng chế thi hành quyết địnhhành chính thuế có các văn bản :
Pháp lệnh xử phạt hành chính 2002
Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định
về xử lư vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chínhtrong lĩnh vực hải quan Theo Nghị định, những hành vi vi phạm quy địnhquản lý nhà nước về hải quan và pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất,
Trang 21nhập khẩu một cách cố ý hoặc vụ ý mà khụng phải là tội phạm sẽ bị xử phạt
vi phạm hành chớnh Nghị định quy định thêm về hành vi vi phạm hành chính
và hỡnh thức xử phạt, tăng mức phạt tiền đối với các hành vi cản trở cán bộhải quan đang thi hành công vụ và quy định rừ cưỡng chế thi hành quyết địnhhành chính trong lĩnh vực hải quan
Nghị định số 18/2009/NĐ-CP ban hành ngày 18 tháng 2 năm 2009 củaChính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 97/2007/NĐ-CPngày 07 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định việc xử lý vi phạm hànhchớnh và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan.Nghị định sửa đổi, bổ sung các điều về các hỡnh thức xử phạt vi phạm hànhchớnh trong lĩnh vực hải quan; những trường hợp không xử phạt vi phạmhành chớnh; xử lý cỏc loại hành vi vi phạm về hải quan; quy định về trườnghợp xúc phạm, đe dọa, cản trở công chức hải quan đang thi hành cụng vụ; quyđịnh liên quan đến thẩm quyền xử lý vi phạm hành chớnh về hải quan Ngoài
ra Nghị định cũn quy định hiệu lực hồi tố
Thông tư số 62/2007/TT-BTC ngày14/6/2007 của Bộ tài chính hướngdẫn thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quyđịnh về xử lư vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hànhchính trong lĩnh vực hải quan
Quy định về xử lý hỡnh sự : chủ yếu là trong bộ luật hỡnh sự, như : quyđịnh về tội trốn thuế (điều 161), các quy định về tội phạm về chức vụ, tộiphạm khác có liên quan đến lĩnh vực thuế hoặc người thu thuế như chốngngười thi hành công vụ…
Những văn bản pháp luật trên đây có tác dụng luật hoá trách nhiệm củacác cơ quan thuế, người nộp thuế, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm nângcao trách nhiệm pháp luật của các ngành, các cấp và cộng đồng xã hội trongviệc thi hành pháp luật thuế Luật hoá các thủ tục hành chính về thuế, thủ tục
xử phạt vi phạm hành chính một cách cụ thể, đầy đủ, rõ ràng để nâng caotính pháp lý và đảm bảo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện
Trang 22Bên cạnh đó những văn bản này còn nhằm mục đích thúc đẩy việc thựchiện tốt hơn cơ chế QLT hiện đại - cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế Đây làphương thức quản lý thu thuế tiên tiến, hiện đại đang được hầu hết các nướctrên thế giới áp dụng Theo cơ chế này thì các cá nhân, tổ chức nộp thuế căn
cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh trong kì kê khai của mình và căn cứ vàocác quy định cuẩ pháp luật về nghĩa vụ thuế tự tính ra số thuế phải nộp vàongân sách nhà nước, từ đó tự kê khai và tự thực hiện nghĩa vụ nộp số thuế đã
kê khai vào ngân sách nhà nước theo đúng thời hạn mà pháp luật quy định
2.1.2 Nội dung cơ bản của Luật QLT và các văn bản hướng dẫn thi hành luật.
Qua nghiờn cứu Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hànhhiện hành, có thể đánh giá tổng quan, về hỡnh thức, Luật Quản lý thuế ViệtNam khỏ hoàn chỉnh, thống nhất Về nội dung, phự hợp với Luật Quản lýthuế mẫu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và tương thớch với Luật Quản lý thuếcủa cỏc nước cũng như thông lệ quốc tế trong việc quản lý thuế
Các nội dung về quản lý thuế được quy định khá đầy đủ, chi tiết trongpháp luật QLT, mà cụ thể là trong Luật quản lý thuế và các văn bản hướngdẫn thi hành nó Trong đó, Luật quản lý thuế quy định các vấn đề chung nhất,bao quát và toàn diện nhất, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Luật Quản lý thuế quy định đầy đủ các nội dung của công tác quản lý thuế, có phạm vi điều chỉnh thống nhất đối với toàn bộ các loại thuế
(thuế nội địa và thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu), các khoản thukhác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định củapháp luật Cỏc quy định của Luật đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhànước thông qua các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rừ ràng,minh bạch đó bảo đảm tớnh pháp lý cho việc thực hiện cơ chế quản lý thuếmới, cơ chế tự tớnh, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trỏch nhiệm trước phápluật của người nộp thuế Cơ quan thuế chuyển sang thực hiện chức năngtuyờn truyền, hỗ trợ người nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, phự hợpvới thụng lệ quốc tế nhằm nâng cao trách nhiệm và bảo đảm quyền lợi hợp
Trang 23pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luậtthuế.
a Trong cụng tỏc quản lý thuế:
Luật quản lý thuế đó quy định đầy đủ cỏc nội dung trong cụng tỏc quản
lý thuế Từ đú tạo thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụthuế, từ việc đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, trỏch nhiệm hoàn thành nghĩa
vụ nộp thuế…
Về thủ tục đăng ký thuế: Luật quy định cụ thể về đối tượng phải đăng
ký thuế, thời hạn đăng ký thuế, hồ sơ đăng ký thuế, địa điểm nộp hồ sơ đăng
ký thuế, tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế, cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế,thay đổi thụng tin đăng ký thuế, sử dụng mó số thuế của người nộp thuế vàchấm dứt hiệu lực mó số của người nộp thuế
Về khai thuế: Luật quy định nguyờn tắc khai thuế, hồ sơ khai thuế, thờihạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, khai bổ sung hồ sơ khaithuế, tiếp nhận và giải quyết hồ sơ khai thuế Để phự hợp với thực tiễn, trongmột số trường hợp do nguyờn nhõn bất khả khỏng, Luật đó quy định ngườinộp thuế được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế mà khụng bị xử lý vi phạm hành chớnh
Về nộp thuế: Luật quy định thời hạn nộp thuế; đồng tiền nộp thuế; địađiểm và hỡnh thức nộp thuế; thứ tự thanh toỏn tiền thuế; xỏc định ngày nộpthuế; xử lý số tiền thuế nộp thừa; nộp thuế trong thời gian khiếu nại, khởikiện; gia hạn nộp thuế
Luật quản lý thuế đó quy định người nộp thuế được gia hạn nộp tiềnthuế mà khụng bị xử phạt về hành vi chậm nộp Trong thực tiễn, một sốtrường hợp người nộp thuế gặp phải khú khăn bất khả khỏng, khụng cú khảnăng nộp thuế đỳng hạn, nhưng chưa cú quy định được gia hạn nộp thuế vàđược miễn xử phạt trong thời gian gia hạn nộp thuế, dẫn đến họ cú số tiềnphạt chậm nộp lớn hơn cả số thuế phải nộp Trong khi đú, cơ quan thuế khụng
cú thẩm quyền xoỏ nợ tiền phạt, dẫn đến số nợ thuế lớn, khụng cú khả năng thu
Trang 24Về ấn định thuế: Luật quy định nguyờn tắc ấn định thuế, ấn định thuếđối với người nộp thuế vi phạm pháp luật về thuế, ấn định thuế đối với hộkinh doanh theo phương pháp khoỏn thuế, ấn định thuế đối với trường hợpxuất khẩu, nhập khẩu hàng hoỏ, trỏch nhiệm của cơ quan quản lý thuế và củangười nộp thuế trong việc ấn định thuế Luật quản lý thuế đó quy định cơquan quản lý thuế ấn định số thuế phải nộp hoặc ấn định từng yếu tố liờn quanđến việc xỏc định số thuế phải nộp Quy định này đó giải quyết được vướngmắc trong việc ấn định thuế hiện nay là ấn định toàn bộ số thuế phải nộp,trong khi người nộp thuế vụ tỡnh hoặc cú hành vi cố ý sử dụng hoặc một sốchứng từ khụng hợp pháp.
Theo quy định của Luật, người nộp thuế cú trỏch nhiệm thực hiện cỏcnội dung quy định để thực hiện nghĩa vụ của mỡnh theo quy định của phápluật thuế Cơ quan thuế thực hiện vai trũ hỗ trợ, giỳp người nộp thuế hiểuđược chớnh sỏch, cỏch kờ khai, hoàn thành thủ tục Đồng thời, cơ quan thuế
cú trỏch nhiệm tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thủ tục đỳng thời hạn và thụng bỏocho người nộp thuế hoàn chỉnh hồ sơ trong trường hợp hồ sơ hoặc thụng tin
kờ khai chưa đầy đủ Đặc biệt quan tõm cụng tỏc hỗ trợ người nộp thuế Theoquy định của Luật quản lý thuế thỡ cơ quan thuế tập trung hỗ trợ doanhnghiệp theo 8 nội dung quản lý thuế (Điều 3 Luật quản lý thuế)
b Trong xõy dựng hệ thống thụng tin về người nộp thuế
Thụng tin về người nộp thuế là yờu cầu quan trọng của cụng tỏc quản
lý thuế hiện đại, đảm bảo cơ quan quản lý thuế theo dừi, tổng hợp, phõn tớch,đỏnh giỏ mức độ tuõn thủ pháp luật thuế của người nộp thuế Trờn cơ sở đú,
cơ quan quản lý thuế tập trung vào quản lý cỏc đối tượng cú nhiều khả năng
vi phạm pháp luật thuế, trỏnh thất thu ngõn sỏch, đồng thời giảm phiền hà chođối tượng chấp hành tốt pháp pháp luật thuế
Hệ thống thụng tin về người nộp thuế được xõy dựng từ cỏc nguồn:Thụng tin từ hồ sơ thuế do người nộp thuế kờ khai, gửi cơ quan quản lý thuế;
Trang 25Thụng tin từ cỏc cơ quan nhà nước, tổ chức, cỏ nhõn cú liờn quan đến ngườinộp thuế.
Trỏch nhiệm cung cấp thụng tin cho cơ quan thuế của cỏc cơ quan quản
lý nhà nước được quy định thành 2 nhúm:
+ Nhúm 1- Cung cấp thụng tin tự động theo phỏt sinh sự kiện liờnquan đến người nộp thuế: Cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,
cơ quan cấp Giấy phộp thành lập và hoạt động cú trỏch nhiệm cung cấp thụngtin về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy phộp thành lập vàhoạt động hoặc Giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh,quyết định sỏt nhập, chia tỏch, giải thể, phỏ sản của tổ chức, cỏ nhõn nộp thuếtrong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày phỏt sinh cỏc sự kiện trờn và cỏcthụng tin khỏc theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế; Kho bạc Nhà nước cútrỏch nhiệm cung cấp thụng tin cho cơ quan quản lý thuế về số tiền thuế đónộp, đó hoàn của người nộp thuế
+ Nhúm 2- Cung cấp thụng tin theo yờu cầu của cơ quan quản lý thuế:Ngõn hàng, tổ chức tớn dụng cú trỏch nhiệm cung cấp nội dung giao dịch quatài khoản của người nộp thuế trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đượcyờu cầu cung cấp thụng tin của cơ quan quản lý thuế Cơ quan quản lý nhànước về nhà, đất cú trỏch nhiệm cung cấp thụng tin về hiện trạng sử dụng đất,
sở hữu nhà của tổ chức, hộ gia đỡnh, cỏ nhõn Cơ quan cụng an cú trỏchnhiệm cung cấp, trao đổi thụng tin liờn quan đến đấu tranh phũng, chống tộiphạm về trật tự quản lý kinh tế và an ninh quốc gia liờn quan đến quản lýthuế; cung cấp thụng tin về cỏ nhõn xuất cảnh, nhập cảnh và thụng tin vềđăng ký, quản lý phương tiện giao thụng Cơ quan chi trả thu nhập cú trỏchnhiệm cung cấp thụng tin về chi trả thu nhập và số thuế khấu trừ của ngườinộp thuế theo yờu cầu của cơ quan quản lý thuế Cơ quan quản lý thương mại
cú trỏch nhiệm cung cấp thụng tin về chớnh sỏch quản lý hàng hoỏ xuất khẩu,nhập khẩu, quỏ cảnh của Việt Nam và nước ngoài; thụng tin về quản lý thịtrường;
Trang 26Cơ quan quản lý thuế, cụng chức quản lý thuế , người đó là cụng chứcquản lý thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế phải giữ bớ mậtthụng tin của người nộp thuế theo quy định của pháp luật; tuy nhiên, cơ quanquản lý thuế vẫn có thể được cụng khai thụng tin vi phạm pháp luật về thuếcủa người nộp thuế trong một số trường hợp.
c Thực hiện quy định của Luật Quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế phảităng cường kiểm tra giám sát việc kê khai thuế, thanh tra thuế, phát hiện, ngănchặn và xử lý kịp thời cỏc hành vi vi phạm pháp luật thuế
Kiểm tra thuế được xác định là công việc thường xuyên mang tínhnghiệp vụ được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan thuế dựa trờn hồ sơ khaithuế của người nộp thuế hoặc được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế khi
mà người nộp thuế khụng giải trỡnh được cỏc số liệu chưa hợp lý trong hồ sơkhai thuế
Thanh tra thuế được thực hiện trong cỏc trường hợp: Có dấu hiệu viphạm pháp luật thuế; Doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm
vi kinh doanh rộng thỡ thanh tra định kỳ một năm không quá một lần; Để giảiquyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan Nhà nước
Trang 27năng cùng với cơ quan quản lý thuế thực hiện việc cưỡng chế thi hành quyếtđịnh hành chính thuế Lực lượng cảnh sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảmtrật tự, an toàn, hỗ trợ cơ quan quản lý thuế trong quỏ trỡnh cưỡng chế thihành quyết định hành chính thuế khi có yêu cầu của người ban hành quyếtđịnh cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
Thứ hai: Xác định đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham
gia quản lý thuế, nhất là cỏc tổ chức, cỏ nhõn cú liờn quan
Xuất phát từ quan điểm tiền thuế phục vụ lợi ích chung của toàn xó hội
Do đó, mọi tổ chức, cá nhân trong xó hội phải cú trỏch nhiệm tham gia quản
Yờu cầu cơ quan quản lý thuế giữ bớ mật thụng tin
Ký hợp đồng với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế thaymặt mỡnh làm cỏc thủ tục về thuế
b Luật Quản lý thuế quy định đầy đủ trách nhiệm và quyền của cơquan quản lý thuế Trong đó:
Nhấn mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, cụng khaiminh bạch cỏc thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế, gắn trỏch nhiệm của
cơ quan quản lý thuế, cụng chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận và giảiquyết hồ sơ
Quy định cụ thể quy trỡnh tiếp nhận, xử lý hồ sơ thuế Trong trườnghợp hồ sơ khụng hợp lệ thỡ trong thời hạn 3 ngày phải thụng bỏo cho ngườinộp thuế biết để hoàn thiện hồ sơ
Trang 28Quy trỡnh tiếp nhận, xử lý hồ sơ theo cơ chế một cửa, ấn định rừ thờihạn giải quyết từng loại hồ sơ thuế
Trỏch nhiệm trong việc xõy dựng hệ thống thụng tin về người nộp thuếlàm căn cứ cho việc phân loại, đánh giá mức độ tuân thủ trên cơ sở phõn tớchtập trung vào đối tượng có nhiều khả năng vi phạm Đồng thời cơ quan thuế
cú trỏch nhiệm bảo mật thụng tin cho người nộp thuế
Quy định trách nhiệm kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế nộpthuế; xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế
Quy định cơ quan quản lý thuế được quyền ký hợp đồng uỷ nhiệm thuthuế với tổ chức, cá nhân để thu một số loại thuế, khoản thu Bên được uỷnhiệm thu thuế thông qua hợp đồng được hưởng kinh phớ uỷ nhiệm thu trớch
từ kinh phớ khoỏn chi của cơ quan quản lý thuế
c Luật Quản lý thuế quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cỏnhõn tham gia cụng tỏc quản lý thuế:
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo,giám sát việc chấp hành các Luật thuế
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cú trỏch nhiệm vận động nhõn dõn nghiờmchỉnh thi hành pháp luật thuế, giỏm sỏt việc thi hành pháp luật thuế của ngườinộp thuế và cơ quan quản lý thuế, phờ phỏn cỏc hành vi vi phạm pháp luậtthuế
Cơ quan thụng tin, bỏo chớ cú trỏch nhiệm tuyờn truyền, phổ biếnchớnh sỏch, pháp luật thuế và phản ỏnh, phờ phỏn cỏc hành vi vi phạm phápluật thuế
Cỏc cơ quan quản lý nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ quản lý ngành
cú trỏch nhiệm cung cấp thụng tin liờn quan đến người nộp thuế cho cơ quanquản lý thuế hoặc phối hợp với cơ quan quản lý thuế thực hiện cưỡng chếthuế, xử lý nghiờm cỏc trường hợp vi phạm pháp luật thuế
Hội đồng tư vấn thuế xó, phường, thị trấn do Chủ tịch Ủy ban nhõn dõnquận, huyện, thị xó, thành phố thuộc tỉnh quyết định thành lập theo đề nghị
Trang 29của Chi cục trưởng Chi cục thuế Hội đồng tư vấn thuế xó, phường, thị trấn cúnhiệm vụ tư vấn cho cơ quan thuế về mức thuế của các hộ, gia đỡnh, cỏ nhõnkinh doanh trờn địa bàn, bảo đảm đúng pháp luật, dân chủ, công khai, côngbằng, hợp lý.
Thứ ba: Cải cỏch thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rừ
ràng, minh bạch, nhằm nõng cao trỏch nhiệm, bảo đảm quyền, lợi ích hợppháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốtpháp luật thuế
a Quy định rừ, cụng khai, minh bạch cỏc loại giấy tờ của từng loại hồ
sơ thuế: hồ sơ khai thuế, hồ sơ miễn giảm thuế, hồ sơ hoàn thuế… để ngườinộp thuế tự xác định được trỏch nhiệm của mỡnh và trỏnh tuỳ tiện của cụngchức thuế, cụng chức hải quan trong khi thi hành cụng vụ
Đồng thời ban hành hệ thống mẫu biểu áp dụng chung cho người nộpthuế và cơ quan thuế Trong đó có hướng dẫn cụ thể cách khai các chỉ tiêutrong mẫu biểu để người nộp thuế dễ thực hiện
b Thống nhất thời hạn nộp hồ sơ khai thuế phù hợp với từng loại thuếkhai theo tháng, theo năm, theo từng lần phát sinh để người nộp thuế dễ thựchiện Sửa đổi một số thời hạn, phương thức khai thuế của một số loại thuế chophự hợp với thực tế hơn
c Nõng cao tinh thần trỏch nhiệm của người nộp thuế trong quỏ trỡnhtuõn thủ pháp luật thuế Khi phỏt hiện hồ sơ khai thuế cú sai sút, người nộpthuế được khai bổ sung khai thuế và khụng bị phạt vi phạm hành chớnh vềcỏc lỗi sai sút này
d Bổ sung hỡnh thức khai thuế điện tử: Chương trỡnh tiếp nhận hồ sơkhai thuế điện tử sẽ tự động kiểm tra, soát xét tính đầy đủ, hợp lý của cácthông tin khai trong hồ sơ thuế Người nộp thuế cũng sẽ biết ngay được cáclỗi kê khai để hoàn chỉmh, bổ sung hồ sơ kịp thời theo quy định, tránh đượccỏc lỗi sai sút khụng cần thiết.Đưa hỡnh thức khai thuế điện tử vào trong luật
Trang 30tạo điều kiện pháp lý cao trong hỡnh thức khai này, điều đặc biệt hữu ích vớicác doanh nghiệp giảm được chi phí đi lại và thời gian lưu chuyển hồ sơ thuế.
e Thời hạn nộp thuế được quy định gắn với thời hạn khai thuế vừa bảođảm phù hợp với tính chất của từng loại thuế, vừa tạo thuận lợi cho ngườinộp thuế dễ nhớ, dễ thực hiện và khụng phải làm cỏc thủ tục hành chớnh thuếrải rỏc nhiều ngày trong thỏng, giảm phiền hà cho người nộp thuế
Vớ dụ: Ngày 20 hàng thỏng là ngày cuối của thời hạn nộp thuế củaloại khai thuế theo tháng (thuế GTGT tháng, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêuthụ đặc biệt, thuế tài nguyên, )
f Đối với số tiền thuế nộp thừa hoặc số tiền thuế thuộc diện được hoàn,người nộp thuế được quyền lựa chọn hoặc yờu cầu cơ quan thuế làm thủ tụchoàn trả ngay, hoặc để thanh toán cho số thuế phải nộp của lần nộp thuế tiếptheo So với quy định hiện hành, chỉ có thuế giá trị gia tăng thỡ được hoànngay, cũn cỏc loại thuế khỏc phải để lại nộp cho kỳ tiếp theo và chỉ được hoàntrả khi người nộp thuế kết thúc hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế thỡ quyđịnh này linh hoạt và tôn trọng quyền lợi của người nộp thuế hơn
g Luật Quản lý thuế cũn quy định một số quyền của người nộp thuếnhư: yêu cầu cơ quan thuế hướng dẫn, giải thích về chính sách thuế, thủ tụchành chớnh thuế tự giỏc thực hiện nghĩa vụ thuế của mỡnh; yờu cầu cơ quanthuế thực hiện đúng việc miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, bồi thường thiệt hại
về thhuế theo quy định của pháp luật để đảm bảo lợi ích hợp pháp của mỡnh;yờu cầu cơ quan thuế giữ bí mật thụng tin do mỡnh và cỏc tổ chức, cỏ nhõnkhỏc cung cấp phục vụ cho việc quản lý thuế
Thứ tư: các quy định của Luật Quản lý thuế phù hợp với thông lệ quốc
tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước
a Luật Quản lý thuế mở rộng cỏc hỡnh thức giao dịch làm thủ tục vềthuế như khai thuế điện tử, nộp tiền thuế theo hỡnh thức chuyển khoản… tạođiều kiện cho người nộp thuế cú thể hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước mọi
Trang 31lỳc, mọi nơi, khụng bị bú hẹp trong giới hạn giờ làm việc hành chớnh của cơquan thuế.
Áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế đối với hầu hết các sắcthuế và đại bộ phận người nộp thuế
b Về kiểm tra, thanh tra thuế dựa trờn cơ sở phõn tớch thụng tin vềngười nộp thuế để lựa chọn đối tượng kiểm tra thuế, thanh tra thuế (phươngpháp quản lý rủi ro, tỡm khõu yếu nhất để tập trung giỏm sỏt, kiểm tra)
c Luật quy định khung pháp lý cho hoạt động của tổ chức kinh doanhdịch vụ làm thủ tục về thuế Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuếphải là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ có điều kiện, được thành lập và hoạtđộng theo quy định của Luật doanh nghiệp, có ngành nghề dịch vụ làm thủtục về thuế Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế được thay mặtngười nộp thuế thực hiện một trong các thủ tục: Khai thuế, nộp thuế, quyếttoán thuế, lập hồ sơ đề nghị số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm,
số tiền thuế được hoàn theo quy định của luật này và pháp luật khỏc cú liờnquan Tổ chức này chịu trỏch nhiệm với người nộp thuế theo nội dung thoảthuận trong hợp đồng dịch vụ theo pháp luật dõn sự Tuy nhiờn, trong quỏtrỡnh cung cấp dịch vụ, tổ chức KD dịch vụ làm thủ tục về thuế chịu trỏchnhiệm về việc làm sai của mỡnh với người nộp thuế theo quy định của Phápluật dân sự; người nộp thuế vẫn phải chịu trách nhiệm với Nhà nước về nghĩa
vụ thuế của ngưũi nộp thuế
Quy định này thể hiện sự cam kết của Việt Nam trong việc mở cửa thịtrường kinh doanh dịch vụ khi vào WTO, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ
sở kinh doanh, người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ thuế
d Luật Quản lý thuế quy định về trách nhiệm của cơ quan thuế vớingười nộp thuế Nếu cơ quan thuế làm chậm cỏc thủ tục, dẫn đến thiệt hại chongười nộp thuế thỡ phải đền bự thiệt hại cho người nộp thuế Hoặc nếu cụngchức thuế tiết lộ cỏc thụng tin của người nộp thuế (vi phạm quy định về bảomật thụng tin) thỡ phải chịu trỏch nhiệm về thiệt hại gõy ra cho người nộp thuế
Trang 32Luật Quản lý thuế quy định và đặt ra yờu cầu hiện đại hoỏ toàn diệncụng tỏc quản lý thuế, cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chớnh, bộmỏy tổ chức, đội ngũ cỏn bộ và cả cụng nghệ quản lý.
2.1.3 Những vướng mắc còn tồn tại trong pháp luật quản lý thuế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được,pháp luật QLT ở nước ta còn tồntại một số hạn chế như sau :
Thứ nhất, về nguyờn tắc thiết kế của Luật Quản lý thuế, những người
thiết kế đó sử dụng kết hợp đan xen nhiều nguyên tắc nhưng chủ yếu theonguyên tắc trỡnh tự thời gian, trong khi đó bộ máy quản lý thuế được thiết kếtheo mô hỡnh chức năng Tổ chức QLT theo chức năng là mô hỡnh tổ chứclấy chức năng QLT làm nguyên tắc bao trùm Theo đó, cơ cấu gồm các bộphận, mỗi bộ phận thực hiện một chức năng QLT cơ bản đối với hầu hết cácloại thuế và đối với tất cả các đối tượng nộp thuế theo thẩm quyền được phâncông Các chức năng QLT cơ bản gồm: Tuyên truyền và hỗ trợ; xử lý tờ khai;quản lý nợ và cưỡng chế thuế; thanh tra, kiểm tra thuế… Điều này sẽ dẫn đếnnhững điểm chưa thực sự tương thích giữa Luật Quản lý thuế với thực tiễnvận hành của bộ mỏy quản lý thuế trong việc tổ chức thực hiện cỏc luật thuế,đặc biệt, khi áp dụng cơ chế quản lý thuế theo mụ hỡnh “một cửa” Bởi thực
tế cho thấy, việc tổ chức bộ máy ngành thuế theo chức năng dẫn đến bất kỳ bộphận nào cũng có thể yêu cầu doanh nghiệp trực tiếp làm việc, giải trỡnh khidoanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế của mỡnh Song khi cần hướng dẫn đểđược giải quyết các nghiệp vụ cụ thể phát sinh, doanh nghiệp không biết liên
hệ đến bộ phận nào và thuộc thẩm quyền trách nhiệm của ai Vỡ vậy, doanhnghiệp gặp những khú khăn nhất định trong quá trỡnh thực thi pháp luật thuếtheo luật
Chẳng hạn, việc lập và nộp hồ sơ khai thuế, các bộ phận có liên quanđều có chức năng kiểm tra hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp Cụ thể, hồ sơkhai thuế của doanh nghiệp được thực hiện kiểm tra từ bộ phận một cửa; sau
đó chuyển cho bộ phận kê khai và kế toán thuế; sau đó lại tiếp tục chuyển đến
Trang 33các bộ phận khác có liên quan như bộ phận kiểm tra, thanh tra… mỗi bộ phậnđều có quyền yêu cầu doanh nghiệp giải trỡnh, vỡ vậy một doanh nghiệptrong một kỳ kờ khai cú thể nhận được 4-5 thông báo giải trỡnh của cơ quanthuế nhưng không biết liên hệ đến những bộ phận nào để giải quyết Hoặc vềcông tác thu nộp thuế, Phũng kiểm tra thuế cú chức năng thực hiện kế hoạchthu thuế được giao, vỡ vậy cú trỏch nhiệm đôn đốc thu thuế Tuy nhiên, LuậtQuản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định rừ Phũngkiểm tra thực hiện đôn đốc thu từ ngày nào đến ngày nào, Phũng thu nợ vàcưỡng chế thuế thực hiện từ khâu nào v.v
Thứ hai, Luật Quản lý thuế hiện nay không chỉ quy định những vấn đề
chung về tổ chức thực hiện cỏc luật thuế, mà cũn quy định cả những nội dung
tổ chức thực hiện riêng của từng luật thuế (những vấn đề quản lý có tính chấtđặc thù của từng sắc thuế) và điều đáng nói là số lượng của các điều luật quyđịnh các nội dung quản lý đặc thự chiếm tỷ lệ khá nhiều, đặc biệt là các quyđịnh quản lý về thuế xuất khẩu, nhập khẩu Vỡ vậy giả sử rằng, khi cỏc luật
về chớnh sỏch thuế được tiếp tục ban hành và đó là xu thế tất yếu (chẳng hạn
ở nước ta dự kiến đến năm 2010 sẽ ban hành Luật Thuế tài sản, Luật Thuếbảo vệ môi trường…) [19] đương nhiên kéo theo sự thay đổi, bổ sung củaLuật Quản lý thuế và theo đó, vô hỡnh trung, đó phỏ vỡ tớnh ổn định của LuậtQuản lý thuế Có lẽ giải pháp tốt nhất, các vấn đề quản lý có tính chất đặc thựcủa từng sắc thuế nờn quy định trong các luật về chính sách thuế Điều này sẽ
có hiệu ứng tốt hơn trong việc đảm bảo thực hiện các chính sách thuế của cácchủ thể có nghĩa vụ thuế
Thứ ba, Luật Quản lý thuế vẫn cũn đảm nhiệm sứ mệnh “giải quyết
tỡnh thế” cho cỏc luật về chớnh sỏch thuế
Chẳng hạn tại Điều 65, Luật Quản lý thuế quy định các trường hợpđược xoá nợ tiền thuế, tiền phạt “1 Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đó thựchiện cỏc khoản thanh toỏn theo quy định của pháp luật phá sản mà không cũntài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt; 2 Cá nhân được pháp luật coi là đó chết,