1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn TNXH lớp 3 để giáo dục môi trường cho học sinh

99 3,4K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 ĐỂ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH .... Xuất phát từ những lí do trên, tôi tiến hành

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, với tình cảm chân thành em xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Quảng Bình, giảng viên khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã tận tình giảng dạy, động viên, khích lệ, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên - TS Đoàn Kim Phúc đã hướng dẫn em để hoàn thành khóa luận này

Xin cảm ơn giáo viên chủ nhiệm đã động viên khi em gặp khó khăn, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn lo lắng động viên và ủng hộ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

Do điều kiện về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được các ý kiến đóng góp của quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn !

Đồng Hới, tháng 5 năm 2017

Tác giả

Tưởng Thị Thùy

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Phương pháp và đối tượng nghiên cứu 5

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Đóng góp của đề tài 7

9 Cấu trúc của đề tài 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 ĐỂ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH 8

1.1 Cơ sở lí luận 8

1.1.1 Môi trường và giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học 8

1.1.2 Phương pháp dạy học ? 12

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của HSTH 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Đặc điểm môn Tự nhiên và Xã hội, môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 20

1.2.2 Thực trạng việc vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 23

Trang 5

CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 ĐỂ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO

HỌC SINH 32

2.1 Những nội dung về môi trường và bảo vệ môi trường có trong nội dung Chương trình và Sách giáo khoa môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 32

2.3 Đổi mới phương pháp dạy học nói chung và trong môn Tự nhiên và Xã hộ nói riêng 33

2.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học 33

2.3.2 Đổi mới phương pháp dạy học trong môn Tự nhiên và Xã hội 45

2.4 Quy trình sử dụng Phương pháp đóng vai để giáo dục môi trường cho học sinh 46

2.4.1 Các nguyên tắc xây dựng quy trình 46

2.4.2 Quy trình thực hiện chung 49

2.4.3 Quy trình cụ thể 50

2.4.4 Một số yêu cầu khi sử dụng phương pháp đóng vai nhằm giáo dục môi trường cho HSTH 63

2.4.5 Điều kiện để thực hiện quy trình tổ chức cho học sinh đóng vai đạt hiệu quả 65

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68

3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm 68

3.1.1 Mục đích của thực nghệm sư phạm 68

3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm 68

3.1.3 Đối tượng thực nghiệm 69

3.1.4 Địa bàn thực nghiệm 70

3.1.5 Thời gian thực nghiệm 70

3.1.6 Nội dung thực nghiệm 70

3.1.7 Phương pháp thực nghiệm 70

3.2 Tổ chức thực nghiệm 71

3.2.1 Chọn bài thực nghiệm 71

Trang 6

3.2.2 Soạn giáo án thực nghiệm 71

3.2.3 Bồi dưỡng giáo viên thực nghiệm 71

3.2.4 Tiến hành thực nghiệm 71

3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 73

KỂT LUẬN, KIẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Kiến nghị 77

2.1 Đối với cấp quản lí chỉ đạo 77

2.2 Đối với giáo viên 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 80

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Bảo vệ và cải thiện môi trường của con người là vấn đề lớn làm ảnh hưởng tới cuộc sống tốt đẹp của mỗi quốc gia và phát triển kinh tế thế giới Là khát khao của các dân tộc và là nhiệm vụ của mọi chính phủ Vì vậy có thể nói, môi trường ngày nay đang thực sự lâm vào cuộc khủng hoảng với qui mô toàn cầu và trở thành nguy cơ trực tiếp đối với cuộc sống hiện tại và sự tồn vong của xã hội loài người trong tương lai Chính vì thế mà hiện nay trên toàn thế giới đều có chung nhận định là cần sử dụng tổng hợp một loạt các biện pháp để giải quyết vấn đề môi trường như xây dựng một bộ luật bảo vệ môi trường và quản lí theo bộ luật đó; sử dụng các biện pháp xử phạt hành chính; áp dụng chế độ thuế môi trường; Bởi vấn đề môi trường còn là vấn đề của lối sống, của cách suy nghĩ của con người, là những vấn đề có liên quan đến đạo đức của con người Cho nên biện pháp giáo dục sẽ có tác dụng lâu dài và triệt để nhất Đặc biệt nếu nhìn nhận lâu dài với tầm vĩ mô thì vấn đề môi trường chỉ có thể giải quyết được một cách triệt để nếu các tầng lớp thanh niên hưởng được một nền giáo dục mới về môi trường Bởi họ là chủ nhân tương lai của đất nước, là người sẽ thực hiện các biện pháp khác để tiếp tục giải quyết vấn đề môi trường

Giáo dục môi trường (GDMT) là một quá trình giáo dục nhằm góp phần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi người Từ đó, giúp họ có ý thức tạo ra những thay đổi tích cực trong việc bảo vệ môi trường nâng cao chất lượng cuộc sống

Mục tiêu của GDMT cũng nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng hành động bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn Phương pháp GDMT hiệu quả nhất là giáo dục kiến thức về môi trường trong một môi trường cụ thể nhằm hướng đối tượng giáo dục có hành động bảo vệ môi trường

Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì tiểu học là bậc học quan trọng nhất,

là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển của xã hội về vật chất và tinh thần, là

cơ sở ban đầu hết sức quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ thành những con

Trang 8

người có tri thức khoa học, có tư duy sáng tạo, có năng lực thực hành, có tác phong công nghiệp, tính tổ chức kỉ luật cao Hơn nữa, ở bậc học này còn trang

bị những kiến thức cơ bản phù hợp với độ tuổi và tâm sinh lí của HS về các yếu

tố môi trường, vai trò của môi trường đối với con người và tác động của con người đối với môi trường, giáo dục cho HS có ý thức trong việc BVMT, phát triển khả năng bảo vệ và giữ gìn môi trường Môn Tự nhiên và Xã hội nhằm cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về con người ở hai khía cạnh sinh học và nhân văn, về xã hội theo không gian và thời gian, về thế giới vật chất xung quanh bao gồm cả thế giới vô sinh và hữu sinh

Từ đó hình thành ở HS ý thức thái độ, cách ứng xử đúng đắn với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, thể hiện tình yêu thiên nhiên với quê hương đất nước đồng thời hình thành lòng ham hiểu biết cho HS

Đối với HS lớp 3, ở lứa tuổi này các em còn mang đậm bản sắc hồn nhiên, sự chú ý chưa cao Bên cạnh hoạt động học là hoạt động chủ đạo thì nhu cầu vui chơi giao lưu với bạn bè vẫn còn tồn tại và cần thỏa mãn Nếu GV biết phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động học với việc cho các em thực hành một số cách ứng xử với các tình huống trong thực tế thì các em sẽ say mê học tập, sẽ có cách ứng xử đúng đắn, tất yếu kết quả học tập sẽ cao Đây cũng là đặc thù của phương pháp đóng vai Sử dụng phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội, trong giáo dục môi trường cho các em Đặc biệt phương pháp đóng vai là các tình huống trong thực tế cuộc sống được thể hiện tức thời thành những hành động có tính kịch Qua các vai diễn học sinh thể hiện nhận thức, thái độ của mình trong các tình huống cụ thể và HS phải có cách ứng xử cho phù hợp trong các tình huống đó Thông qua các vai diễn HS được bộc lộ khả năng tự nhận thức, khả năng giao tiếp, khả năng tự giải quyết các vấn

đề về sức khỏe, các tình huống trong cuộc sống Học sinh được rèn luyện thực hành những cách ứng xử để BVMT trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn Khích lệ sự thay đổi nhận thức hành vi thái độ của HS theo

Trang 9

Trong thực tiễn dạy học môn TNXH lớp 3 cho thấy đóng vai là phương pháp dạy học mới, GV sử dụng chưa nhiều Nếu có thì GV tổ chức cho HS đóng vai nhưng chưa theo quy trình chặt chẽ mà còn lộn xộn, việc tổ chức cho học sinh đóng vai chưa làm nổi bật được trong tâm của bài học Vì vậy, việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học chưa đạt kết quả cao Xuất phát từ những lí

do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn TNXH lớp 3 để giáo dục môi trường cho học sinh"

Trên trường quốc tế:

- Năm 1972, trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về “Môi trường và con người” họp tại Stockholm đã nêu: “Việc giáo dục môi trường cho thề hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để học có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường” Ngay sau đó, chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEF) cùng với các tổ chức văn hóa – khoa học – giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã thành lập chương trình giáo dục môi trường quốc tế (IEEP)

- Tháng 10/1975 IEEP đã tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về Giáo dục môi trường ở Beograde (Cộng Hòa Liên Bang Nam Tư), kết thúc hội thảo

đã đưa ra được một nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và những nguyên tắc hướng dẫn giáo dục môi trường Trong đó nêu rõ mục tiêu giáo dục môi tiêu giáo dục môi trường là nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của môi trường và hiểu biết về môi trường; giúp cho mỗi người xác định thái độ và lối sống cá nhân tích cực đối với môi trường; có những hành động cho một môi trường tốt đẹp

Trang 10

- Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Công ước khung Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu tầm quốc tế của Liên hiệp quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính Bản dự thảo được ký kết vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ ba khi các bên tham gia nhóm họp tại Kyoto, và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2 năm 2005

- Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất được tổ chức ở Rio de Janeiro, Brazil Tại Hội nghị này, vấn đề GDMT được nhấn mạnh và đưa vào chương trình Nghị sự 21: đưa khái niệm về môi trường và phát triển vào tất cả các chương trình giáo dục, xây dựng các chương trình đào tạo cho học sinh và sinh viên

- Mốc quan trọng cuối cùng trên quy mô toàn cầu là Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Bền vững tổ chức ở Johannesburg, Nam Phi năm 2002 Hội nghị thống nhất: Mục đích của GDMT giờ đây đã trở thành việc theo đuổi

của tất cả các hoạt động giáo dục (Nguyễn Thị Bích Hảo, 2011; Phan Nguyên

Hồng, Vũ Thục Hiền, 2005)

 Tại Việt Nam:

- Chỉ thị số 36 CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” đã đưa ra những giải pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường như: “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng bảo vệ môi trường” và “Đưa các nội dung bảo

vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân”

- Cùng với Luật giáo dục thì Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 3288/QĐ_BGD&ĐT ngày 2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính sách và chiến lược giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Việt Nam và một số văn bản hướng dẫn kèm theo Các văn bản này là cơ sở pháp lý

Trang 11

quan trọng cho việc tổ chức triển khai các hoạt động giáo dục môi trường ở các trường phổ thông và trường sư phạm trong hệ thống giáo dục quốc dân

- Quyết định số 1363/QĐ-TT ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”

- Quyết định số 256/QĐ-TT ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm

2020

- Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ

8, đã ban hành Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 và Luật có hiệu lực ngày 1/7/2006

Có thể nói về lĩnh vực môi trường được cả thế giới quan tâm Tuy nhiên cũng có thể nhận thấy, chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về vấn đề vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn tự nhiên và xã hội để giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn TNXH lớp 3 nhằm giáo dục môi trường cho học sinh Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn TNXH lớp 3 nói riêng và các môn học ở Tiểu học nói chung

4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1 Phạm vi

Nghiên cứu quá trình dạy học môn TNXH lớp 3

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Cách thức, quy trình sử dụng phương pháp đóng vai

Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn TNXH lớp 3 để GDMT

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu giáo viên biết vận dụng một cách linh hoạt và hợp lí phương pháp đóng vai theo một quy trình bao gồm các giai đoạn, các bước, được sắp xếp theo

Trang 12

một trình tự hợp lí phù hợp với lôgic hoạt động nhận thức, lôgic quá trình dạy họctrong dạy học môn TNXH lớp 3 thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề giáo dục môi trường trong dạy học môn TNXH lớp 3 nói chung và giáo dục môi trường bằng phương pháp đóng vai nói riêng

Nghiên cứu thực trạng việc vận dụng phương pháp đóng vai của giáo viên, ảnh hưởng của nó trong quá trình nhận thức và chất lượng giáo dục môi trường của học sinh trong môn Tự nhiên và Xã hội

Vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hôi

để giáo dục môi trường cho các em

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu:

7.2 Nhóm PPNC thực tiễn

Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các hoạt động GDMT của học sinh tại trường tiểu học nhằm tìm hiểu kinh nghiệm sử dụng phương pháp đóng vai để GDMT cho học sinh thông qua dạy học môn TNXH lớp 3

Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi với giáo viên để tìm hiểu quan niệm, thái độ, cách thức tổ chức dạy học mà họ đã tiến hành nhằm GDMT cho học

Trang 13

sinh trong dạy học môn TNXH lớp 3, những thuận lợi và khó khăn mà giáo viên

đã gặp phải khi GDMT cho HS

Phương pháp điều tra: Điều tra nhận thức giáo viên về các vấn đề môi trường, các hình thức đã sử dụng để GDMT cho học sinh thông qua môn TNXH cũng như hiệu quả của nó

Phương pháp thực nghiệm: Dựa vào giả thuyết khoa học đã đặt ra tiến hành thể nghiệm ở trường tiểu học để xem xét hiệu quả và tính khả thi của việc

sử dụng phương pháp đóng vai để GDMT cho học sinh tiểu học thông qua môn TNXH lớp 3 như đã đề xuất

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này được dùng để phân tích và xử lí các kết quả thu được qua điều tra và thể nghiệm

9 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp đóng vai trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 để giáo dục môi trường cho học sinh

Chương 2: Quy trình sử dụng phương pháp đóng vai trong môn Tự nhiên

và Xã hội lớp 3 để giáo dục môi trường cho học sinh

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG MÔN TỰ NHIÊN VÀ

XÃ HỘI LỚP 3 ĐỂ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Môi trường và giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học

1.1.1.1 Vấn đề về môi trường hiện nay

MT là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống xã hội do con người tạo ra, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao xung quanh con người và ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên

Mỗi giai đoạn phát triển, các thách thức về môi trường toàn cầu có sự khác nhau Những thập kỷ 1970-1980, các vấn đề môi trường cần quan tâm là ô nhiễm do phát thải công nghiệp, nhưng trong giai đoạn 1990 - 2010 là sự suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH), biến đổi khí hậu (BĐKH) và sa mạc hóa Trong những năm gần đây, với xu thế toàn cầu hóa, dân số tiếp tục gia tăng và đô thị hóa nhanh chóng, các vấn đề môi trường toàn cầu cũng có những diễn biến phức tạp, đặt ra những thách thức mới Hiện nay môi trường đang bị đe dọa trầm trọng vì tình hình thế giới phát triển càng lúc càng cao, các nhà máy, công trình, xưởng sản xuất mỗi ngày thải ra ngoài môi trường rất nhiều khí thải, chất thải nguy hại, dẫn đến môi trường bị đe dọa ô nhiễm

Hiện nay ở Việt Nam tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra ngày càng nghiêm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế

hệ hiện tại và tương lai Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn

Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường

Trang 15

một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20% Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác

Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường thì ngoài ra còn có ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn Những năm gần đây, dân số tăng nhanh Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không

có bất kỳ một biện pháp xử lí môi trường nào nào ngoài việc vận chuyển đến bãi

chôn lấp Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân ở các thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn mét khối nước thải độc hại; các phương tiện giao thông thải ra hàng trăm tấn bụi, khí độc Trong tổng số khoảng 34 tấn rác thải rắn y tế mỗi ngày, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến 1/3; bầu khí quyển của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có mức benzen và sunfua đioxit đáng báo động Theo một kết quả nghiên cứu mới công bố năm 2008 của Ngân hàng Thế giới (WB), trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước, không khí, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất nặng nhất Theo báo cáo của Chương trình môi trường của Liên hợp quốc, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu châu Á về mức độ

ô nhiễm bụi

1.1.1.2 Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học

Ở nước ta, việc giáo dục môi trường mới được bắt đầu từ những năm cuối của thập niên 70, còn việc GDMT trong nhà trường phổ thông mới được thực hiện vào đầu năm 1981 cùng với kế hoạch cải cách giáo dục Từ năm học 1986 đến 1992 các sách giáo khoa Tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông với một số nội dung được cải tiến, trong đó vấn đề GDMT đã được quan tâm nhiều hơn Đặc biệt, bắt đầu từ năm học 2002 - 2003, việc đổi mới nội dung chương trình, SGK với nhiều bài, nhiều mục, nhiều nội dung GDMT được đưa

Trang 16

vào các môn học tạo điều kiện thuận lợi cho việc GDMT trong nhà trường phổ thông

Tuy nhiên, hiện tại nhận thức và hành động tiêu cực của học sinh vẫn còn

là trở ngại lớn cho việc BVMT và thiên nhiên ở nước ta Do đó việc nâng cao nhận thức cho nhân dân và học sinh về MT và BVMT cần được quan tâm hơn Kiến thức MT và phát triển bền vững phải đưa dần từng bước giúp học sinh có ý thức tự giác từ nhỏ cho đến hết đời mình Chúng ta nhận thấy, công tác GDMT

ở nước ta những năm qua tuy đã thu được một số kết quả bước đầu nhưng đang còn nhiều tồn tại và thiếu sót Đinh Quang Báo và Dương Tiến Sỹ: "tài liệu phục

vụ GDMT còn thiên về cung cấp kiến thức chưa đề cập đến phương pháp, hình thức GDMT, thiếu phương pháp, biện pháp giáo dục kĩ năng, thái độ, hành vi BVMT, dẫn tới việc khai thác tri thức MT và BVMT lồng ghép tích hợp trong nội dung môn học còn gặp nhiều lúng túng và mức độ thực hiện còn hạn chế”

Để khắc phục những thiếu sót trên và thực hiện mục tiêu GDMT trong quá trình dạy học, cần phải triển khai đồng bộ các hướng nghiên cứu khoa học lấy GDMT làm định hướng và cơ sở thực hiện Bên cạnh đó, cần tập trung nghiên cứu khai thác các nội dung GDMT được lồng ghép tích hợp trong các môn học, các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh, đảm bảo GDMT sát với yêu cầu thực tiễn

Để công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường mang lại hiệu quả, khi giáo dục bảo vệ môi trường chưa thể là một môn học thì cần giáo dục cho học sinh bắt đầu từ những việc làm, hành động nhỏ nhất như trồng và chăm sóc cây xanh; vệ sinh trường lớp; tổ chức các diễn đàn về môi trường để học sinh tham gia một cách dân chủ; giáo dục học sinh có ý thức tiết kiệm năng lượng như điện và nước, khuyến khích học sinh có các ý tưởng sáng tạo tái chế rác…

Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng rất quan trọng, dễ tiếp thu những giá trị mới về kiến thức và kỹ năng nên việc đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào bậc

Trang 17

Nếu được giáo dục tốt các em sẽ là lực lượng nòng cốt trong việc cải tạo, bảo vệ môi trường tại địa phương và đặc biệt hơn các em sẽ trở thành những tuyên truyền viên tích cực trong cộng đồng Vì vậy, mục tiêu giáo dục môi trường ở bậc Tiểu học cần đạt là:

Về kiến thức: Giúp cho học sinh ban đầu biết được: Các thành phần của

môi trường và tác động qua lại giữa chúng, mối quan hệ giữa con người với môi trường , biết được thế nào là ô nhiễm môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường xung quanh

Về Kĩ năng: Biết giữ gìn vệ sinh mọi nơi, mọi lúc , biết làm đẹp môi

trường xung quanh , biết trồng và chăm sóc cây xanh,

Thái độ: Có tình thương yêu, tôn trọng mọi người , có ý thức bảo vệ môi

trường và sống thân thiện với thiên nhiên

1.1.1.3 Nhiệm vụ giáo dục môi trường ở trường tiểu học

GDMT là một quá trình nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn cho HS về vấn đề MT Do đó nó có các nhiệm vụ sau:

- Làm cho HS hiểu biết về thiên nhiên, về MT nói chung và MT Việt Nam nói riêng Nhận thức rõ mối quan hệ khăng khít với sự tác động tương hỗ giữa các sinh vật với các yếu tố của MT Tầm quan trọng của MT đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

- Trên cơ sở những hiểu biết đó, giáo dục cho HS ý thức, thái độ, sự quan tâm, hành vi cư xử đúng mực với môi trường và BVMT, dần dần hình thành ở

HS lòng yêu thiên nhiên, mong muốn được bảo vệ môi trường sống, các phong cảnh đẹp, các di tích văn hoá, lịch sử của đất nước và cuối cùng làm cho việc BVMT trở thành phong cách, nếp sống của HS

- Trang bị cho HS các kĩ năng và biện pháp BVMT thông thường trong sinh hoạt và lao động sản xuất để sau này ra đời các em có thể tham gia một cách có hiệu quả trong việc BVMT ở nơi sinh sống và làm việc

Trang 18

1.1.1.4 Nội dung giáo dục môi trường có trong nội dung chương trình môn

Tự nhiên và Xã hội

Phần lớn các nội dung GDMT đều được đưa vào nội dung các môn học để giáo dục cho HS Trong môn TNXH nội dung GDMT được đưa vào với các lĩnh vực sau:

- Những kiến thức về môi trường và các yếu tố của môi trường bao gồm: các yếu tố của MT tự nhiên và các yếu tố của MT nhân tạo, các điều kiện sinh thái của MT, quan hệ giữa các yếu tố sinh thái của MT với đời sống của con người

- Những tác động của MT đến đời sống sinh vật và con người bao gồm: tác động đến MT đến sự tồn tại và phát triển của động thực vật và con người; tác động đến các điều kiện lao động sản xuất của con người, tác động đến các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí và sức khoẻ của con người

- Những tác động của con người và của động thực vật đến MT bao gồm: việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, việc bảo vệ và cải tạo MT tự nhiên, những nguyên nhân gây biến đổi MT

- Những kĩ năng học tập và BVMT bao gồm: các kĩ năng học tập như điều tra quan sát thực tế Các kĩ năng BVMT như: vệ sinh nhà cửa, trường lớp,

Theo định nghĩa chung nhất, phương pháp là con đường, là cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích đã định Phương pháp là một phạm trù của lí thuyết hoạt động có liên quan mật thiết với các phạm trù chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung hoạt động

Trang 19

Theo quan điểm triết học, chúng ta có thể nêu lên một số khái niệm về phương pháp như sau:

- Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện là tổ hợp các bước

mà trí tuệ phải đi theo để tìm ra và chứng minh chân lí Chẳng hạn phương pháp biện chứng, phương pháp phân tích hệ thống

- Phương pháp đồng nghĩa với biện pháp kĩ thuật, biện pháp khoa học

- Phương pháp còn là tổ hợp những quy tắc, nguyên tắc quy phạm dùng

để chỉ đạo hành động Tuy nhiên chỉ có định nghĩa do Hê ghen đưa ra là chứa đựng một nội hàm sâu sắc và bản chất được V.I Lê Nin nêu lên trong tác phẩm

“Bút kí triết học” của mình: Phương pháp là “ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung”

Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định Nếu mục đích không đạt được thì có nghĩa là phương pháp không phù hợp với mục đích hoặc nó không được sử dụng đúng

Bất kỳ phương pháp nào, dù là phương pháp nhận thức hay phương pháp thực hành sản xuất, để thực hiện có kết quả vào đối tượng nào đó thì cũng phải biết được tính chất của đối tượng, tiến trình biến đổi của nó dưới tác động của phương pháp đó Nghĩa là phải nhận thức những quy luật khách quan của đối tượng mà chủ thể định tác động vào thì mới đề ra những biện pháp hoặc hệ thống những thao tác cùng với những phương tiện tượng ứng để nhận thức và để hành động thực tiễn

1.1.2.2 Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là một trong những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học Đồng thời là vấn đề tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, có thể nêu nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Sau đây chúng tôi xin nêu một vài định nghĩa về phương pháp dạy học:

- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sử

Trang 20

dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật lô gic, các hoạt động độc lập của học sinh và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo (I.D Dverev)

- Phương pháp dạy học là một hệ thống hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội nội dung học vấn (I laLecne 1981)

- Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (U.k Babanxki 1983)

Theo Phạm Viết Vượng phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh, trong đó phương pháp dạy chỉ đạo phương pháp học, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo thực hành sáng tạo

Mặc dù chưa có ý kiến thống nhất về định nghĩa phương pháp dạy học song các tác giả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc trưng sau:

- Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đặt ra

- Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định

- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò

- Phản ánh cách thức giao tiếp giữa thầy và trò

- Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động

Qua sự phân tích các tác giả trên thế giới và trong nước chúng ta có thể khẳng định rằng: Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của cả thầy và trò trong quá trình dạy học, dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học

Nói cách khác phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức

Trang 21

và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy học

Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với

sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy Phương pháp dạy học là tổ hợp những biện pháp với tư cách là những thành phần cấu trúc của nó, song việc phân như vậy cũng chỉ có tính chất tương đối Chẳng hạn giảng giải là phương pháp dạy học trong tiết học lĩnh hội tri thức mới nhưng lại là một biện pháp của phương pháp công tác trong phòng thí nghiệm Điều đó có nghĩa là trong những điều kiện nhất định, chúng có thể chuyển hoá lẫn nhau

1.1.2.3 Phương pháp đóng vai

1.1.2.3.1 Khái niệm về phương pháp đóng vai

PP đóng vai là PPDH tổ chức cho học sinh được thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định

Để tăng thêm tính hấp dẫn, gây sự chú ý của HS trong quá trình tổ chức giáo viên hướng dẫn HS chuẩn bị một số đạo cụ cần thiết để trang phục cho

“diễn viên” trong quá trình diễn xuất Không gian lớp học bố trí hợp lý, đủ rộng

để HS diễn xuất một cách thoải mái, đồng thời tất cả HS có thể theo dõi được tiến trình diễn xuất

Phương pháp này được thực hiện theo chủ đề của một tình huống cụ thể Xây dựng kịch bản phải phù hợp, đơn giản và dễ hiểu Kịch bản nên có sự tham gia ít nhất 2 nhân vật Việc giải quyết tình huống đó không được xây dựng thành kịch bản, các “diễn viên” phải nhập vai nhanh chóng, phải phát huy được óc tưởng tượng và tư duy sáng tạo, linh hoạt để giải quyết tình huống ngay trong khi biểu diễn không được diễn tập trước

Như vậy, mục đích của phương pháp đóng vai là cụ thể hoá bài học bằng

sự diễn xuất để phân tích nội dung bài giảng chi tiết hơn, sâu sắc hơn

- Làm cho giờ học sinh động

Trang 22

- Học sinh dễ dàng nắm bắt được nội dung bài học

- Phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi HS tiểu học

- Hình thành và phát triển các kĩ năng sống cho các em

Đây là PP giảng dạy nhằm giúp cho học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn

đề bằng cách tậptrung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được

Ví dụ : đóng vai bác sĩ, giáo viên, công nhân,

1.1.2.3.2 Một số lưu ý khi sử dụng PPDH đóng vai

- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục, phù hớp với lứa tuổi, trình độ học sinh, điều kiện và hoàn cảnh lớp học

- Tình huống nên để mở, không cho trước kịch bản, lời thoại

- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình

- Nên khuyến khích học sinh lên đóng vai, đặc biệt là những em nhút nhát, ít nói,

- Có đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai

1.1.2.3.3 Ưu điểm của phương pháp đóng vai

- Học sinh tự rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử, trình bày, bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn khi thực hành

- Gây được hứng thú và sự chú ý của học sinh

- Tạo điều kiện làm nảy sinh các sáng tạo của học sinh

- Thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức

1.1.2.3.4 Cách tổ chức cho học sinh đóng vai

Bước 1: GV chia nhóm, giao tình huống đóng vai theo từng nhóm, quy định rõ thời gian để trình bày

Bước 2: Các nhóm tiến hành thảo luận, chuẩn bị để đóng vai

Bước 3: Lần lượt từng nhóm lên trình bày, GV phỏng vấn học sinh đóng vai

Bước 4: Lớp thảo luận, nhận xét

Trang 23

1.1.2.3.4 Vai trò của PP đóng vai trong GDMT cho học sinh

Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của HSTH Lí luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: Nếu biết tổ chức cho trẻ đóng vai một cách hợp lí, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục Học trong quá trình đóng vai là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn sống, kinh nghiệm xã hội một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí HSTH Học lồng ghép với đóng vai sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm sự căng thẳng thần kinh ở các

em, giữ được sự hồn nhiên của trẻ thơ Chính vì vậy, việc vận dụng phương pháp đóng vai để GDMT thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng cao Cụ thể là:

- Mục tiêu cuối cùng của vấn đề GDMT là hình thành hành vi đúng đắn Trong khi đó, nội dung đóng vai sẽ minh họa một cách sinh động các mẫu hành vi này Nhờ đó mà các hành vi này sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt ở

HS, giúp các em ghi nhớ dễ dàng và lâu bền

- Nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng xuống cấp MT là do những hành động và suy nghĩ trước đây của loài người Nhiều người trong chúng ta vẫn chưa thấy được lợi ích về sự thay đổi hành vi và thói quen ứng xử với MT Ngay cả những người hiểu được cũng không thường xuyên thực hiện ý muốn này Việc thay đổi thái độ và hành vi của con người đòi hỏi phải có một chiến dịch tuyên truyền đồng bộ Trong khi đó, qua đóng vai rất dễ làm thay đổi thái độ và hành vi về MT Cũng như, qua đóng vai HS được luyện tập những kĩ năng những thao tác hành vi đúng đắn về vấn đề MT, giúp các em thể hiện hành vi một cách đúng đắng và tự nhiên

- Qua đóng vai, HS có cơ hội thể nghiệm những chuẩn mực hành vi BVMT Chính nhờ sự thể hiện này, sẽ hình thành được ở HS niềm tin về những chuẩn mực hành vi đã học, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi BVMT trong cuộc sống

Trang 24

- Qua đóng vai, HS sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình một cách ứng xử đúng đắn, phù hợp với MT

- Qua đóng vai, HS được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác là phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực hành vi BVMT

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của HSTH

1.1.3.1 Về tri giác và nhận thức của HS lớp 3

* Tri giác

Ở lứa tuổi HSTH, tri giác của các em còn mang tính tổng thể, chưa đạt được đến trình độ của tri giác phân biệt Nét đặc trưng nhất của tri giác giai đoạn lứa tuổi này là tính chất ít phân hóa của nó Tuy nhiên, đặc điểm này không theo suốt trong quá trình phát triển tâm lí HSTH, mà có sự biến đổi, phát triển lên nhờ quá trình học tập Để hoàn thành nhiệm vụ học tập, trẻ buộc phải thực hiện các thao tác trí tuệ như: phân loại, phân tích, đối chiếu, tổng hợp,… nhờ đó tính tổng thể của tri giác dần nhường chỗ cho tri giác chính xác điều này thể hiện ở cuối bậc tiểu học Đối với các em những hình ảnh rực rỡ, sinh động dễ gây ấn tượng và giúp các em tri giác tốt hơn

Từ những đặc điểm tri giác trên, tổ chức cho học sinh đóng vai trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội chính là chúng ta đã tạo dựng từ những tình huống giả định thành những tình huống có thực trong cuộc sống để các em được tri giác một cách trực quan, toàn diện Trong quá trình đóng vai các em trang phục đúng với tính cách nhân vật điều đó lại càng tăng tính hấp dẫn đối với các em Thông qua các vai diễn học sinh phân tích, so sánh, tổng hợp… rút

ra tính cách, hành vi, thái độ của nhân vật đồng thời tự rút ra các tri thức khoa học, ý thức BVMT cho chính bản thân mình

Bên cạnh đó, trong những năm đầu của bậc tiểu học, nhu cầu nhận thức của HS phát triển rất rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh Ở lớp 3, các em có nhu cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, riêng biệt khác với nhu cầu

Trang 25

gắn liền với sự phát hiện nguyên nhân, quy luật, các mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng ở lớp 4, đặc biệt là lớp 5

* Trí nhớ

Học sinh tiểu học trí nhớ trực quan, hình tượng phát triển, các em nhớ chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Giai đoạn đầu của bậc tiểu học ghi nhớ không chủ định chiếm ưu thế Trí nhớ chủ định dần dần phát triển ở các lớp trên, năng lực ghi nhớ cũng tăng dần

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng đối với trí nhớ HSTH, đặc biệt ở các lớp cuối cấp, cần có sự tham gia tích cực của ngôn ngữ Đây cũng là điều kiện thuận lợi thúc đẩy trí nhớ có chủ định phát triển Nhờ có ngôn ngữ trẻ thường biểu đạt các tri thức đã ghi nhớ bằng lời nói, chữ viết của mình Điều này không chỉ quan trọng cho sự phát triển trí nhớ mà còn quan trọng cho cả sự phát triển của tưởng tượng, tư duy cuả trẻ

* Tưởng tượng

Đối với HS đầu cấp tiểu học, tưởng tượng của các em mang nặng tính trực quan cụ thể Các em thường chỉ hình dung được những trạng thái ban đầu và cuối cùng của sự vật, hiện tượng Sang các lớp cuối cấp trí tưởng tượng của trẻ ngày càng phát triển theo xu hướng rút gọn, khái quát hơn Sở dĩ như vậy, vì các

em biết tưởng tượng sáng tạo dựa trên ngôn ngữ để xây dựng hình tượng và đặc điểm này được phát triển song song với ghi nhớ có chủ định Tuy nhiên, với HSTH tưởng tượng sáng tạo mới bắt đầu được hình thành, nó sẽ được phát triển mạnh ở lứa tuổi Trung học cơ sở

Từ những đặc điểm trên, trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội, sử dụng phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm kích thích trí tưởng tượng của các

em Các nhân vật cụ thể trong cuộc sống được “chứa đựng” trong ngôn ngữ thông qua các tình huống giả định Các em được thảo luận, bàn bạc trao đổi những sự kiện, những nhân vật trong quá khứ, những cảnh tượng chưa từng thấy hoặc sắp

Trang 26

xảy ra tạo thành những câu chuyện có thực diễn ra trước mắt các em Điều đó giúp

HS có được những nguyên liệu quý giá cho sự phát triển trí tưởng tượng

Trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cần khơi dậy trí tưởng tượng của HS trong các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để hình thành cho các em khả năng ứng xử khả năng đối phó phù hợp, dần dần hình thành và phá t triển ý thức BVMTcần thiết ban đầu cho các em

1.1.3.2 Về tư duy và hứng thú của HS lớp 3

Ở lứa tuổi lớp 3, tư duy của trẻ đã lôgic hơn và tư duy trực quan hình tượng của trẻ đã khác nhiều ở lứa tuổi trước đó Ở lứa tuổi này, trẻ đã biết phân tích so sánh, khái quát, đây là những năng lực cần thiết để trẻ học tập Chính vì vậy, GDMT thông qua đóng vai là rất cần thiết

Đối với trẻ em, đặc biệt là HS tiểu học khi làm một việc gì đó mà không hứng thú thì sẽ không tập trung chú ý, ngược lại, khi có hứng thú, thì các em thường hướng toàn bộ quá trình nhận thức của mình vào đó làm cho sự quan sát, tư duy, suy nghĩ tinh tế hơn, nhớ nhanh và lâu bền hơn Việc GDMT cho HS thông qua đóng vai bao gồm nhiều việc phức tạp không đơn giản, nếu GV không khơi nguồn hứng thú của HS thì giờ học sẽ trở nên khô khan thậm chí là nặng nề với HS Điều này dẫn đến ý thức, mức tập trung của các em bị hạn chế, các em

sẽ không tham gia tích cực, chủ động trong việc đóng vai của mình Như vậy, người GV cần nắm bắt được những sự hay đổi tâm sinh lý đó của HS lớp 3 để có phương pháp dạy học TNXH nói chung và GDMT cho HS nói riêng phù hợp để kích thích được hứng thú học tập của HS và nâng cao hiệu quả giờ học

Đây cũng là cơ sở quan trọng để chúng tôi đề xuất quy trình tổ chức đóng vai cho HS lớp 3 để GDMT cho các em

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Đặc điểm môn Tự nhiên và Xã hội và môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3

1.2.1.1 Đặc điểm môn Tự nhiên và Xã hội

1.2.1.1.1 Môn TNXH là môn học được xây dựng theo quan điểm tích hợp

Trang 27

- Dạy học theo quan điểm tích hợp là sự trình bày các khái niệm, các nguyên lí khoa học cho phép sự diễn đạt thống nhất một cách cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh quá sớm hoặc quá muộn về sự khai thác giữa các lĩnh vực khác nhau

- Tính tích hợp trong môn TNXH ở tiểu học được thể hiện như sau:

+ Môn TNXH xem xét con người trong một thể thống nhất có mối quan

hệ qua lại và tác động khác nhau trong đó có con người là yếu tố cốt lõi, yếu tố quyết định

+ Môn TNXH được hình thành từ tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học

- Trong chương trình môn TNXH ở tiểu học tích hợp được thể hiện ở nội dung và phương pháp dạy học với nhiều mức độ và hình thức khác nhau được thể hiện theo 2 giai đoạn của quá trình nhận thức:

+ Giai đoạn lớp 1, 2, 3: Ở giai đoạn này HS có cách nhìn nhận về môi trường ở dạng tổng thể vì vậy nội dung kiến thức được chia theo dạng chủ điểm: gia đình, con người, xã hội sở dĩ như vậy là do nhận thức trực quan hình tượng của trẻ còn chiếm ưu thế, khả năng phân tích chưa cao, trẻ khó xác định mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhau

+ Giai đoạn lớp 4, 5: HS đã bước đầu có khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp đặc biệt là khả năng tư duy trìu tượng phát triển hơn Vì vậy trẻ có khả năng tiếp thu kiến thức về mặt bản chất do đó chương trình được cấu tạo dưới dạng các phân môn: Khoa học, Lịch sử và Địa lí

1.2.1.1.2 Môn TNXH được xây dựng theo hướng đồng tâm

Các kiến thức trong chương trình được trình bày từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp Đặc biệt tăng dần tính phức tạp và khả năng khái quát ở các lớp cao hơn

1.2.1.1.3 Môn TNXH là môn học cung cấp cho HS các kiến thức khoa học

Các kiến thức khoa học cung cấp cho HS về TNXH, con người gấn gũi với đời sống hàng ngày của trẻ vì vậy HS có thể vận dụng những hiểu biết của mình về cuộc sống để tham gia vào quá trình dạy học

Trang 28

1.2.1.1.4 Môn TNXH là môn học thực hiện theo định hướng đổi mới

Môn TNXH tạo điều kiện tối đa cho GV đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực trên cơ sở phát huy tính độc lập sáng tạo, tự chủ cho HS

1.2.1.2 Đặc điểm nội dung SGK môn TNXH lớp 3

Các bài TNXH lớp 3 được chia làm 3 chủ đề đó là: con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên

- Chủ đề con người và sức khỏe HS được tìm hiểu về:

+ Cơ quan hô hấp: nhận biết trên sơ đồ, hoạt động lao động và tập thể vừa sức

+ Cơ quan bài tiết nước tiểu: nhận biết trên sơ đồ, biết giữ vệ sinh

+ Cơ quan thần kinh: nhận biết trên sơ đồ, biết ngủ, nghỉ ngơi, học tập và làm việc điều độ

+ Giáo dục các em vệ sinh thế nào cho các cơ quan hoạt động tốt, phát triển bình thường, giáo dục kỹ năng sống cho HS

- Chủ đề xã hội HS được tìm hiểu về:

+ Gia đình: mối quan hệ họ hàng nội ngoại (cô, dì, chú, bác, cậu và các chị em họ); quan hệ giữa sự gia tăng số người trong gia đình và số người trong cộng đồng; biết giữ an toàn khi ở nhà

+ Trường học: một số hoạt động chính ở trường tiểu học, vai trò của GV

và HS trong các hoạt động đó; biết giữ an toàn khi ở trường

+ Tỉnh hoặc thành phố nơi bạn đang sống: một số cơ quan hành chính, giáo dục, văn hóa, y tế, ; làng quê và đô thị; giữ vệ sinh nơi công cộng; an toàn giao thông

- Chủ đề tự nhiên HS được tìm hiểu về:

+ Thực vật và động vật: đặc điểm bên ngoài của một số cây xanh và con vật (đặc điểm chung và riêng của một số cây cối, con vật)

Trang 29

● Mặt trời: nguồn sáng và nguồn nhiệt; vai trò của mặt trời đối với sự sống trên trái đất; trái đất trong hệ mặt trời; mặt trăng và trái đất

● Trái đất: hình dạng đặc điểm bề mặt và sự chuyển động của trái đất; ngày đêm, năm tháng, mùa

Như vậy ta thấy chương trình, nội dung môn TNXH lớp 3 rất đa dạng và phong phú, bao gồm kiến thức về tự nhiên, xã hội, con người do vậy để dạy học môn này thành công thì GV không chỉ phải nắm vững kiến thức mà còn phải biết lựa chọn, kết hợp các phương pháp dạy học khác nhau trong một giờ học

1.2.2 Thực trạng việc vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy học môn

Tự nhiên và Xã hội lớp 3

1.2.2.1 Đặc điểm tình hình trường Tiểu học số 1 Quảng Phú

Trường Tiểu học số 1 Quảng Phú là ngôi trường nằm trên địa bàn thôn Phú Lộc 4, xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nằm ngay cạnh UBND xã Quảng Phú Cụ thể: Tổng số CBGV, NV: 37 đồng chí Biên chế: 33 đồng chí Hợp đồng: 4 đồng chí Trình độ ĐH: 33 đồng chí; CĐ: 4 đồng chí; đạt chuẩn cả 100% Đội ngũ đáp ứng với yêu cầu giáo dục hiện nay Trình độ chuyên môn: 100% GV qua dự giờ đều đạt loại khá và tốt, không có GV yếu kém về năng lực Tổng số học sinh trong toàn trường là 61 em Khối 1: 111 em/4 lớp (bình quân 27 em/lớp) Khối 2: 135 em/4 lớp (bình quân 33 em/lớp) Khối 3: 131 em/4 lớp (bình quân 32 em/lớp) Khối 4: 108 em/4 lớp (bình quân

27 em/lớp) Khối 5: 126 em/4 lớp (bình quân 31 em/lớp) Số học sinh công giáo

là 154 em.Học sinh đa số ngoan, chăm học Một số em có hoàn cảnh gia đình khó khăn như: hộ nghèo và cận nghèo (10 em), phần đa là bố mẹ không có việc làm ổn định ảnh hưởng tới việc phối hợp để giáo dục Thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua từ đầu năm đến nay nhà trường đã thực hiện được: Phối hợp với các ban ngành đoàn thể trong và ngoài nhà trường và ban đại diện hội cha mẹ học sinh để thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua Thực hiện một cách có sáng tạo, thiết thực, hiệu quả việc “Học tập

và Làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Cuộc vận động “Mỗi thầy giáo,

Trang 30

cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” Thực hiện phong trào

“xây dựng trường học thân thiên, học sinh tích cực” Tiếp tục hoàn thành mô hình lớp học thân thiện, phù hợp với tâm lý học sinh Phát huy mô hình “Thư viện thân thiện”, phong trào “Giỏ sách lưu động” Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học, các hoạt động giáo dục và xây dựng quy tắc ứng xử văn hóa trong nhà trường Phối hợp với gia đình và cộng đồng trong giáo dục đạo đức và kỹ năng sống, đưa chương trình giáo dục địa phương lồng ghép vào các môn học Hoàn thiện quy hoạch khuôn viên trường, tôn tạo và chăm sóc bồn hoa, tạo phong cảnh xanh – sạch – đẹp Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa thể thao, các hoạt động ngoài giờ lên lớp Chú trọng và tăng cường nếp sống văn hóa, văn hóa truyền thống, kỹ năng sống Đẩy mạnh việc giáo dục an toàn giao thông Đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) Sắp xếp, trang trí các phòng học đảm bảo khoa học, thân thiện tạo điều kiện cho việc tổ chức đổi mới PPDH đạt hiệu quả cao Nhà trường đã tổ chức các chuyên đề: Dạy học theo mô hình trường học mới (VNEN) chuyên đề về dạy học theo nhóm

Về giáo dục thể chất, thẩm mỹ: nhà trường đã tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong năm như: “Chúng em kể chuyện Bác Hồ” nhân dịp ngày hội HSTH; “Hát về thầy cô, mái trường” kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam

20 – 11; Chúng em chăm sóc “Công trình măng non”; …Một số trò chơi khám phá thế giới xung quanh em với hình thức “Rung chuông vàng” Tổ chức các hoạt động trong nhà trường, công tác Đội TNTP Hồ Chí Minh, Liên đội luôn sát chủ đề Chủ điểm, nhiệm vụ năm học để triển khai các hoạt động một cách hiệu quả

Về công tác quản lý: Phân công trách nhiệm trong quản lý để điều hành công việc khoa học, hiệu quả Tham mưu với các cấp chính quyền để giữ vững trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 Từng bước xây dựng trường chuẩn quốc gia mức độ 2 Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ trường học, nhất

Trang 31

cương, nề nếp trong nhà trường Như vậy, trường đã có những sự cố gắng rất lớn trong việc tu sửa trường học, nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên trong trường, nhằm tạo môi trường học tập tốt nhất cho học sinh

1.2.2.2 Mục đích khảo sát

- Tôi tiến hành khảo sát thực trạng nhận thức của GV trong việc vận dụng phương đóng vai để GDMT cho HS trong dạy học môn TNXH lớp 3 nhằm thu thập thông tin tìm ra những ưu điểm, hạn chế và xác định nguyên nhân của những hạn chế đó trong quá trình sử dụng phương pháp

- Khảo sát những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng PPĐV để GDMT trong dạy môn TNXH lớp 3

- Từ đó có thể đề xuất quy trình tổ chức cho HS đóng vai trong dạy học

để khắc phục những nhược điểm trên

1.2.2.3 Nội dung khảo sát

Với phạm vi và nội dung nghiên cứu đề tài, chúng tôi giới hạn xác định khảo sát trên một số chỉ tiêu cơ bản sau:

- Nhận thức của GV về GDMT

- Thực trạng hoạt động GDMT của GVTH

1.2.2.4 Đối tượng khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát đối với 64 HS được chọn ngẫu nhiên từ 131

em HS ở khối lớp 3 và 10 GV khối lớp 3 của trường Tiểu học số 1 Quảng Phú

1.2.2.5 Các phương pháp khảo sát

- Phương pháp điều tra:

+ Điều tra bằng Anket: Dùng phiếu thăm dò, thu thập ý kiến của một số GV

và HS theo các chỉ tiêu đã được xác định

+ Thống kê toán học: Sau khi điều tra khảo sát tôi dùng phương pháp này

để tổng hợp kết quả điều tra làm cơ sở cho việc phân tích kết quả

- Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ, quan sát quá trình giờ dạy trên lớp của GV và quá trình học tập của HS

Trang 32

- Phỏng vấn, tọa đàm: Tiến hành đối với các GV và HS lớp 3 nhằm thu thập những thông tin, dữ liệu bổ sung cho việc khẳng định các biện pháp mình đã đề xuất

đã có nhận thức đúng đắn về khái niệm MT

- Về mục tiêu GDMT

Chúng tôi đưa ra câu hỏi số 2 trong phiếu điều tra và kết quả thu được là: Với các mục tiêu đưa ra thì kết quả thu được có 3 mục tiêu đạt số phần trăm cao nhất là hình thành thái độ và hành vi bảo vệ môi trường: 91,41% Hình thành tình yêu thiên nhiên và môi trường: 82,82% Cung cấp tri thức về các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường: 79,29% Điều này chứng tỏ phần lớn giáo viên đã xác định được 3 mục tiêu chính của việc GDMT trong trường tiểu học và đặc biệt hơn nữa là giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của từng mục tiêu như cung cấp tri thức, bồi dưỡng tình cảm và hình thành thái độ, hành vi BVMT cho các em

- Khả năng GDMT qua các môn

Như vậy ở trường tiểu học môn học nào có nội dung GDMT nhiều nhất Chúng tôi đưa ra câu hỏi số 3 trong phiếu điều tra và kết quả thu được là:

Bảng 1: Khả năng GDMT qua các môn

Trang 33

Vậy điều đáng phấn khởi là đại đa số GVTH được thăm dò ý kiến đều cho rằng môn TNXH là môn có nhiều khả năng GDMT cao nhất

1.2.2.6.2 Về thực trạng vận dụng PPĐV của giáo viên trong dạy học môn TNXH lớp 3để GDMT cho HS

- Mức độ và hiệu quả sử dụng các hình thức và biện pháp GDMT Chúng tôi tiếp tục đưa ra câu hỏi số 4 trong phiếu điều tra và thu được kết quả như sau:

Bảng 2: Mức độ và hiệu quả các hình thức và biện pháp GDMT

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Chưa

sử dụng

có ít không

1 Xây dựng tình huống có vấn đề 6 4 0 8 2 0

2 Khuyến khích học sinh tham gia

7 Tổ chức tìm hiểu MT địa phương 0 2 8 1 8 1

8 Tổ chức sinh hoạt ngoại khoá 1 7 2 3 6 1

10 Tổ chức sưu tầm mẫu vật triển

Trang 34

Từ kết quả thu được, chúng tôi có thể đi đến nhận định sau:

Trong các trường tiểu học hiện nay, GV sử dụng phong phú các hình thức và biện pháp để GDMT trong dạy học môn TNXH Tuy nhiên mức độ sử dụng các hình thức và biện pháp khác nhau Đồng thời phần lớn GV được hỏi đều mới chỉ chú ý đến các hoạt động giáo dục trên lớp như: xây dựng tình huống có vấn đề, khuyến khích HS tham gia vào bài giảng, tổ chức đóng vai, cho HS thảo luận nhóm, lớp, về các vấn đề môi trường Đối với các hoạt động giảng dạy và giáo dục ngoài lớp như dạy học ngoài thiên nhiên, sinh hoạt ngoại khóa tổ chức tìm hiểu môi trường địa phương, thi viết vẽ về môi trường thì hầu như chưa được sử dụng hoặc sử dụng rất ít

Tuy nhiên điều chúng ta quan tâm ở đây là mức độ sử dụng và hiệu quả của việc tổ chức P P Đ V để GDMT trong dạy học môn TNXH Nhìn vào bảng 2 ta thấy chỉ có 28,79% GV được điều tra thường xuyên sử dụng PPĐV

để GDMT đồng thời hiệu quả lại chưa cao 41,92% Điều đó chứng tỏ việc vận dụng PPĐV để GDMT chưa được sử dụng thường xuyên trong dạy học môn TNXH Chỉ có số ít GV là chú trọng đến việc sử dụng hình thức này Số còn lại đôi khi và chủ yếu là sử dụng trong những tiết thao giảng, thi GV dạy giỏi Nhiều GV chưa thật sự quan tâm đến vấn đề GDMT, chỉ cố nhồi nhét cho HS những kiến thức trong SGK mà không quan tâm xem HS có thích thú với nội dung đó hay không, cũng như không hề quan tâm đến kết quả đó Dần dần nội dung về môi trường trở nên tẻ nhạt, HS cảm thấy mệt mỏi, nặng nề và không quan tâm đến chúng nữa Đây là một thực tế đòi hỏi chúng ta cần phải nhìn nhận

và tìm cách giải quyết

- Những khó khăn và thuận lợi khi vận dụng PPĐV để GDMT trong dạy môn TN XH lớp 3: Để đi sâu vào tìm hiểu vì sao GV lại ít sử dụng PPĐV để GDMT trong dạy học cũng như hiệu quả chưa cao chúng tôi tiếp tục đưa ra câu hỏi số 5 kết quả như sau:

Trang 35

+ Về thuận lợi: 72% GV cho là dễ chủ động thực hiện mục tiêu GDMT;

79% GV được điều tra cho rằng dễ thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của HS

về MT; 96% lớp HS hoạt động sôi nổi; 91% HS có hứng thú tích cực tham gia bài

+ Về khó khăn: 60% GV cho là không đủ thời gian để tổ chức PPĐV cho

HS; 70% không có kĩ năng dạy học bằng PPĐV; 63% thiếu tài liệu và sách hướng dẫn tổ chức PPĐVđể GDMT cho HS; 63% khó quản lí nề nếp lớp học; 66% mất quá nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị bài

Như vậy với kết quả trên chúng ta thấy rằng sở dĩ GV sử dụng PPĐV trong GDMT cho HS không thường xuyên và hiệu quả không cao là do GV không có kĩ năng dạy học bằng hình thức này cũng như GV quá thụ động ngại soạn bài cũng như chuẩn bị đồ dùng phục vụ cho việc đóng vai Trong khi đó đại

đa số GV được điều tra đều thấy được ưu điểm nổi trội của PPĐV trong việc GDMT cho HS là dễ làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của HS về MT; dễ chủ động thực hiện mục tiêu GDMT; HS rất hứng thú, tích cực tham gia Cho nên có thể nói rằng, với những thế mạnh và những thuận lợi của PPĐV trong việc GDMT cho HSTH nếu GV biết đầu tư hơn nữa trong việc nghiên cứu, tìm tòi các tình huống sao cho phù hợp với nội dung, đối tượng HS cũng như hoàn cảnh hiện tại của trường, địa phương cùng với việc kết hợp hình thức tổ chức dạy học trong hay ngoài lớp thì hiệu quả giáo dục phần nào sẽ nâng lên Bởi lẽ những khó khăn như: khó quản lí nề nếp lớp học, khó tìm địa điểm tổ chức không phải là vấn đề khó giải quyết

- Các nguồn đóng vai của GV:

Chúng tôi tiếp tục đưa ra câu hỏi số 6 trong phiếu điều tra và kết quả thu được là:

Kết quả cho thấy có 92% GV được điều tra sử dụng các tình huống đã được thiết kế sẵn trong sách giáo viên hoặc sách thiết kế bài giảng Kết quả này cho thấy sự thụ động của GV tiểu học hiện nay trong việc sưu tầm các tình huống đóng vai Chỉ có 28% GV được điều tra đã sưu tầm các kịch bản, quy trình trong các sách hướng dẫn tổ chức đóng vai cho HSTH Điều này có thể

Trang 36

giải thích là do tài liệu hướng dẫn tổ chức đóng vai để GDMT cho GV còn

ít và chưa thật sự phù hợp hoặc không phong phú và đa dạng Mặt khác do

GV không thực sự đầu tư vào bài giảng của mình Họ phụ thuộc quá nhiều vào các tài liệu hướng dẫn, các tài liệu có sẵn Việc trang bị sách tham khảo,

cơ sở vật chất cho các trường tiểu học đặc biệt là các trường địa phương còn rất hạn chế nên đây là một khó khăn lớn đối với việc tổ chức dạy và học của

GV và HS

- Mục đích sử dụng PPĐV trong tiến trình dạy học:

Để tìm hiểu mục đích sử dụng PPĐV trong tiến trình dạy học ở trường tiểu học, chúng tôi đưa ra câu hỏi số 7 kết quả thu được là 73% GV được điều tra thường sử dụng PPĐV để thực hiện bước củng cố, 7% sử dụng để khởi động trước khi vào bài mới trong tiến trình dạy học Còn việc sử dụng PPĐV như một phương tiện cung cấp tri thức mới và rèn kĩ năng trong quá trình dạy học thì rất ít chỉ chiếm 10% Thậm chí có GV chỉ sử dụng PPĐV như là một phương tiện để giải toả những căng thẳng hoặc lấp thời gian trống… (chiếm 5%)

Trong khi đó thực tế cho thấy rằng, đóng vai là một hình thức học tập hấp dẫn đối với HS thế nhưng ở đây GV chỉ xem PPĐV như một hình thức bổ trợ và thường diễn ra ở khâu củng cố tri thức Điều này có thể cho chúng ta thấy rằng đại đa số GV chưa nhận thức được ưu điểm cốt lõi của PPĐV trong quá trình dạy học nói chung và GDMT nói riêng Thực ra PPĐV không chỉ là hình thức để củng cố tri thức mà còn là phương tiện để cung cấp tri thức và rèn các kĩ năng cho các em Bởi qua việc đóng vai, HS tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn và hiệu quả hơn, các em được trải nghiệm nhân vật của mình một cách thực thụ từ đó sẽ đua ra được những cách ứng xử phù hợp

- Những điều kiện cần có đảm bảo cho việc vận dụng PPĐV có hiệu quả: Nhằm tìm hiểu những điều kiện cần có đảm bảo cho việc vận dụng PPĐV đạt hiệu quả chúng tôi đưa ra câu hỏi số 8 Kết quả 100% GV được điều tra cho rằng việc vận dụng PPĐV để GDMT trong dạy học môn TNXH lớp 3 có hiệu quả

Trang 37

lõi của PPĐV để GDMT Bởi chỉ khi GV nhận thức được vai trò quan trọng của PPĐV trong việc GDMT cho HSTH trong dạy học môn TNXH lớp 3 nói riêng và trong dạy học các môn khác nói chung thì GV mới có ý thức tự giác vận dụng cũng như ý thức tự học hỏi nâng cao kĩ năng dạy học bằng việc xây dựng các kịch bản cho chính bản thân để từ đó việc sử dụng kịch bản trong giáo dục cũng như trong dạy học được thường xuyên và hiệu quả hơn Bên cạnh đó, có 98%

GV cho là việc vận dụng PPĐV có hiệu quả hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào kĩ năng tổ chức c h o H S đ ó n g v a i của GV Ngoài ra, yếu tố vật chất còn là chất men xúc tác góp phần không nhỏ cho thành công của viêc đóng vai cho nên có đến 94% GV được điều tra đồng ý Đồng thời, sách và tài liệu giới thiệu kịch bản, quy trình tổ chức đóng vai học tập để GDMT là điều kiện không thể thiếu nên có số GV đồng ý chiếm tỉ lệ không nhỏ 87%

Trang 38

CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 ĐỂ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH

2.1 NHỮNG NỘI DUNG VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CÓ TRONG NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH VÀ SGK MÔN THXH LỚP 3

Để vận dụng PPĐV nhằm GDMT trong dạy học môn TNXH lớp 3, trước hết, người GV cần biết được những nội dung về MT và BVMT đã thể hiện trong từng bài học cụ thể của nội dung chương trình sách giáo khoa môn TNXH lớp 3 Qua nghiên cứu, khảo sát chúng tôi đã tiến hành thống kê các nội dung

về MT và BVMT được thể hiện trong sách giáo khoa môn TNXH, cụ thể như sau:

Chủ đề Nội dung về MT và BVMT

Các nội dung về MT và BVMT

Thể hiện qua các bài

- Sự đa dạng của MT TNXH Có thái

độ yêu mến thiên nhiên và con người

Bài 41 đến bài 55,

61, 69 - 70

Trang 39

Tự nhiên - Các hành tinh trong hệ Mặt Trời và

Trái Đất là hành tinh có sự sống Hình thành thái độ yêu mến thiên nhiên, gần gũi thiên nhiên

2.3 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÓI CHUNG VÀ TRONG MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI NÓI RIÊNG 2.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học

2.3.1.1 Đổi mới PPDH được hiểu như thế nào?

Đổi mới cách thực hiện PPDH là vấn đề then chốt của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đổi mới cách thực hiện PPDH sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế hệ học trò – chủ nhân tương lai của đất nước Như vậy, đổi mới PPDH sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạo Nó tạo ra sự hiện đại hoá của quá trình này Đổi mới cách thực hiện PPDH là đổi mới cái gì ? Cái gì cần làm mới lại ? Cái cũ là cái gì

? Giá trị của cái cũ còn đến đâu hay không còn giá trị? Mới là cái gì và giá trị của nó ở chỗ nào ? Chúng ta đều biết không phải cái gì cũ cũng tồi và cái gì mới cũng hoàn hảo Hiệu quả hay không của PPDH là do người tiến hành nó như thế nào Xét bản thân phương pháp thì không có phương pháp nào là phương pháp tồi, không có phương pháp nào là phương pháp tích cực hay thụ động, mà phương pháp ấy trở nên tồi, thụ động khi người ta không khai thác hết tiềm năng của nó hoặc sử dụng nó không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng Cần nhấn mạnh rằng, không có một phương pháp nào tồn tại lại không có ý nghĩa nào đó Đổi mới PPDH thực chất không phải là sự thay thế các PPDH cũ bằng một loạt các PPDH mới Về mặt bản chất, đổi mới PPDH là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên

cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học Như vậy, mục đích cuối cùng của đổi mới PPDH là làm thế

Trang 40

nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình Trong những phần tiếp theo của tài liệu này, thuật ngữ “đổi mới PPDH” được hiểu là

“đổi mới cách thực hiện PPDH”; “PPDH tích cực” được hiểu là “PPDH theo hướng tích cực hoá người học” hoặc “PPDH phát huy tính tích cực của người học” Những PPDH thường được sử dụng trước đây mà người ta vẫn gọi là PPDH truyền thống, thí dụ phương pháp thuyết trình, phương pháp hỏi - đáp, vẫn đang được thực hiện trong tất cả các giờ dạy của GV hiện nay Nhưng nếu các phương pháp này vẫn được tiến hành theo cái cách mà ở những thập niên trước sử dụng thì chắc chắn nó trở nên kém hiệu quả Vì vậy, phương pháp thuyết trình cần phải được “đổi mới” Hiện nay, phương tiện công nghệ thông tin phát triển đã không biến người học thành những “cỗ máy ghi chép” và người dạy là “máy đọc” Máy photocopy, máy chiếu, đèn chiếu, sẽ làm giảm thời gian dành cho sự ghi chép của GV lên bảng với ghi chép của HS vào vở Trên lớp, GV nên tập trung vào việc tổ chức quá trình lĩnh hội kiến thức Phương pháp thuyết trình sẽ trở nên tích cực khi GV thuyết trình trong một lượng thời gian phù hợp và biết kết hợp một cách nhuần nhuyễn, hợp lí và khoa học với các phương pháp khác để làm sao HS thích thú và hào hứng hoạt động Như vậy, đổi mới PPDH không phải là sự thay thế các phương pháp quen thuộc hiện có bằng những phương pháp mới lạ Thực chất chúng ta phải hiểu lại cho đúng cách làm, cách tiến hành các PPDH, và cách linh hoạt sáng tạo trong sử dụng nó ở những hoàn cảnh và tình huống khác nhau để những PPDH có tác động tích cực đến người học Ngoài ra, cùng với sự phát triển của phương tiện dạy học và của chính khoa học về PPDH, một số PPDH hiện đại cần được bổ sung trong “va li PPDH” của GV

Như vậy trước thực tiễn đổi mới của mục tiêu, nội dung chương trình Tiểu học, và cách đánh giá kết quả học tập của HS, PPDH cũng buộc phải thay đổi theo Đổi mới PPDH là nội dung hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học, bởi vì :

Ngày đăng: 16/03/2018, 12:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w