Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ phục vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ) Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ phục vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ) Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ phục vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ) Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ phục vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ) Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ phục vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ) Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ phục vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ) Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ phục vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1HOÀNG XUÂN DIỆU
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY GỖ PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG VÙNG NÚI CAO THUỘC HUYỆN TRÀ LĨNH,
TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
Thái Nguyên - 2017
Trang 2HOÀNG XUÂN DIỆU
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY GỖ PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG VÙNG NÚI CAO THUỘC HUYỆN TRÀ LĨNH,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Vĩnh Phúc, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Xuân Diệu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết của mỗi học viên, nhằm vận dụng và củng cố những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ phục vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng”
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo Cao học ngành Lâm học khoá 23, giai đoạn 2015 – 2017 Luận văn là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Khảo nghiệm mở rộng một số loài có triển vọng và biện pháp kỹ thuật trồng rừng ở vùng núi cao miền Bắc Việt Nam” mà tác giả là cộng tác viên chính
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Phòng Đào tạo sau đại học, cũng như các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ cho em trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Huy Sơn - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này
Tác giả xin cảm ơn Ban Lãnh đạo Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Đông Bắc
Bộ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả triển khai đề tài, đặc biệt xin cảm ơn đồng nghiệp Ths Bùi Trọng Thuỷ Bộ môn Nghiên cứu Lâm sinh Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả thu thập, xử lý số liệu phục vụ cho luận văn
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Vĩnh Phúc, tháng 09 năm 2017
Tác giả
Hoàng Xuân Diệu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Những đóng góp mới của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Các nghiên cứu khảo nghiệm loài, xuất xứ và giống 3
1.1.2 Các nghiên cứu chọn giống và trồng rừng trên các dạng lập địa khác nhau 4
1.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng 6
1.2 Ở Việt Nam 8
1.2.1 Khái quát thực trạng rừng trồng keo ở Việt Nam hiện nay 8
1.2.2 Các nghiên cứu khảo nghiệm giống 9
1.2.3 Các nghiên cứu chọn loài cây cho vùng cao 11
1.2.4 Ảnh hưởng của lập địa đến năng suất gỗ rừng trồng các loài cây liên quan 12
1.2.5 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng 16
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp tổng quát 22
Trang 62.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 22
2.4 Đặc điểm khí hậu, địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu 27
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Thực trạng các mô hình rừng trồng ở độ cao trên 600m 30
3.1.1 Về loài cây và phương thức trồng 30
3.1.2 Về kỹ thuật xử lý thực bì, trồng và chăm sóc rừng trồng 30
3.1.3 Về tỷ lệ sống, sinh trưởng và năng suất 35
3.1.4 Kết quả điều tra phỏng vấn các vấn đề khác có liên quan 40
3.1.5 Tóm lại 41
3.2 Đánh giá sinh trưởng mô hình khảo nghiệm loài tại cao Bằng 41
3.2.1 Về tỷ lệ sống 41
3.2.2 Về sinh trưởng 42
3.2.3 Tóm lại 47
3.3 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng 48
3.3.1 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của rừng trồng cây ngoại nhập 48
3.3.2 Ảnh hưởng của phương thức hỗn giao đến sinh trưởng của rừng trồng 56
3.3.3 Ảnh hưởng của tiêu chuẩn cây con Xoan nhừ và Cáng lò trong phương thức trồng làm giầu 60
3.4 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng cho các loài có triển vọng 66
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Tồn tại 70
3 Kiến nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 711 NPK (5.10.3) Phân tổng hợp có tỷ lệ 5 đạm, 10 lân, 3 kali
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp diện tích khảo nghiệm loài 26
Bảng 2.2 Tổng hợp diện tích các thí nghiệm về kỹ thuật trồng rừng 26
Bảng 2.3 Tổng hợp thông tin về điều kiện tự nhiên ở địa điểm xây dựng mô hình 28
Bảng 3.1 Sinh trưởng của các mô hình rừng trồng ở tỉnh Bắc Kạn 32
Bảng 3.2 Sinh trưởng của các mô hình rừng trồng ở tỉnh Cao Bằng 33
Bảng 3.3 Kết quả điều tra phỏng vấn 40
Bảng 3.4 Kết quả khảo nghiệm 8 loài cây tại Cao Bằng 43
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của các loài cây ngoại nhập 14 tháng tuổi (8/2013-10/2014) 49
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của các loài cây ngoại nhập 26 tháng tuổi (8/2013-10/2015) 51
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của các loài cây ngoại nhập 38 tháng tuổi (8/2013-10/2016) 53
Bảng 3.8 Sinh trưởng của các loài cây trong các mô hình trồng hỗn giao 58
Bảng 3.9 Tiêu chuẩn cây con trong băng làm giầu rừng 14 tháng tuổi (8/2013-10/2014) 61
Bảng 3.10 Tiêu chuẩn cây con trong băng làm giầu rừng 26 tháng tuổi (8/2013-10/2015) 63
Bảng 3.11 Tiêu chuẩn cây con trong băng làm giầu rừng 38 tháng tuổi (8/2013-10/2016) 65
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Thông caribê 38 tháng tuổi trồng khảo nghiệm loài ở Cao Bằng 45
Hình 3.2 Xoan nhừ 38 tháng tuổi trồng khảo nghiệm loài ở Cao Bằng 46
Hình 3.3 Keo lai 38 tháng tuổi ở thí nghiệm bón phân tại tỉnh Cao Bằng 56
Hình 3.4 Xoan nhừ trồng hỗn giao với Bạch đàn 38 tháng tuổi 60
Hình 3.5 Xoan nhừ 38 tháng tuổi trong mô hình làm giầu rừng 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Theo vùng sinh thái lâm nghiệp thì miền núi phía Bắc có 4 vùng: Tây Bắc bộ,
Trung tâm, Đông Bắc bộ và vùng Đồng bằng sông Hồng (Bách khoa toàn thư,
2011) Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng có địa hình thấp và tương đối bằng
phẳng, chủ yếu là canh tác nông nghiệp Các vùng còn lại gồm 16 tỉnh, chủ yếu là đồi núi, thích hợp với nhiều loài cây lâm nghiệp kể cả cây gỗ và cây lâm sản ngoài gỗ; địa hình bị chia cắt phức tạp, nhiều nơi có độ cao và độ dốc lớn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Người dân sinh sống ở đây phần lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số với tập tục canh tác nương rẫy là chủ yếu, đời sống kinh tế còn khó khăn Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, nhiều chương trình hỗ trợ đầu tư phát triển, nhất là phát triển rừng đã góp phần không nhỏ vào sự thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn vùng núi và đời sống kinh tế xã hội của người dân Tiềm năng đất đai để phát triển lâm nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế
xã hội nói chung ở các vùng sinh thái này rất lớn, nhưng chưa được khai thác có hiệu quả Đặc biệt là cơ cấu cây trồng còn nghèo nàn, chưa cho năng suất cao và chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng tại chỗ của người dân cũng như cung cấp gỗ chế biến các mặt hàng xuất khẩu
Ở độ cao dưới 600 m so với mực nước biển đã có khá nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây gỗ thích hợp để trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, ở độ cao trên 600 m, phần lớn diện tích đất có độ dốc lớn và điều kiện khí hậu khắc nghiệt, nên các công trình nghiên cứu về rừng trồng cũng như xác định
cơ cấu loài cây trồng rừng kinh tế cho vùng cao này còn rất hạn chế, nhất là trồng rừng cung cấp gỗ lớn
Cao Bằng là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc nước ta, diện tích tự nhiên khoảng 670.785 ha, diện tích đất có rừng khoảng 339.200 ha, nhưng diện tích rừng
tự nhiên là 324.181 ha (Bộ NN&PTNT, 2015) Theo cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng, diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm hơn 90% diện tích tự nhiên của
Trang 11tỉnh, chủ yếu là núi đá vôi xen lẫn núi đất, độ cao trung bình là 200m, nhưng hầu hết diện đất tích vùng núi phía Bắc của tỉnh giáp biên giới với Trung Quốc chủ yếu
ở độ cao từ 600-1300m so với mực nước biển, đây là vùng đất tiềm năng để trồng rừng, nhưng chưa xác định được cơ cấu cây trồng rừng chủ yếu cho vùng này Vì
vậy, việc nghiên cứu “Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ phục
vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng” là cần thiết, có ý
nghĩa cả khoa học và thực tiễn
Trên cơ sở một số mô hình khảo nghiệm loài đã thực hiện từ những năm trước đây, nhất là mô hình khảo nghiệm loài của đề tài cấp Bộ (Bộ NN&PTNT) giai đoạn 2012-2015 do Ths Bùi Trọng Thuỷ là chủ nhiệm và tôi là cộng tác viên chính thực hiện đề tài này, được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài, tôi đã kế thừa mô hình và một phần số liệu, đồng thời nghiên cứu bổ sung thêm để hoàn thiện luận văn theo chương trình đào tạo Thạc sĩ của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên giai đoạn 2015-2017
2 Mục tiêu của đề tài
Bước đầu xác định được một số loài cây có triển vọng, làm cơ sở đề xuất các biện pháp phù hợp để trồng rừng cho vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh của tỉnh Cao Bằng
và những nơi có điều kiện sinh thái tương tự Đồng thời đánh giá được ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh đến khả năng sinh trưởng của các loài được đã khảo nghiệm
3 Những đóng góp mới của đề tài
- Về mặt lý luận: Đã cung cấp các cơ sở khoa học để xác định những loài cây
phù hợp với điều kiện lập địa vùng núi cao tỉnh Cao Bằng, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo
- Về mặt thực tiễn: Bước đầu đã xác định được 4 loài cây (Bạch đàn uro,
Thông caribê, Keo lai, Xoan nhừ) và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng ở vùng núi cao trên 600m ở tỉnh Cao Bằng, góp phần phát triển kinh tế, xã hội và môi trường cho vùng nông thôn miền núi
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu, từ khảo nghiệm loài, khảo nghiệm xuất xứ, khảo nghiệm giống để chọn loài hoặc xuất xứ hoặc giống phù hợp với đặc điểm sinh thái nơi gây trồng Đồng thời, cũng có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng… Trong phạm vi phần này có thể tổng quan các vấn
đề liên quan đến các nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn như sau:
1.1.1 Các nghiên cứu khảo nghiệm loài, xuất xứ và giống
Bước đi đầu tiên trong công tác cải thiện giống cây rừng cũng như các nghiên cứu về trồng rừng là phải thực hiện các khảo nghiệm loài, tiếp theo là khảo nghiệm xuất xứ và khảo nghiệm hậu thế hoặc các dòng vô tính Trong thực tế, các nhà khoa học thường kết hợp khảo nghiệm loài với khảo nghiệm xuất xứ, một trong những khảo nghiệm loài kết hợp loài với xuất xứ điển hình là ở Trung Quốc gồm 179 xuất
xứ của 21 loài acacias đã khảo nghiệm trên diện tích là 130 ha Căn cứ vào khả
năng sinh trưởng và hình dạng thân cây đã xác định được nhiều xuất xứ của các loài keo có triển vọng cho vùng Quảng Đông và đảo Hải Nam Trong đó, có 3 xuất xứ
của loài A mangium gồm: Abergowie (Qld), Claudie River (Qld) và Oriomo (PNG)
(Harwood, C.E and Wiliam, E.R., 1992) [53] Hiện nay đã có gần 200 loài bạch
đàn (Eucalyptus sp.) được đưa vào khảo nghiệm ở nhiều nước, nhiều nhất ở Trung
Quốc, nhưng mới chỉ có khoảng 10 loài được gây trồng rộng rãi như:
E.camaldulensis, E.tereticornis E.urophylla, E.grandis, E.Saligna, E.deglupta, E.globulus, E.pellita và các dòng bạch đàn lai cao sản phát triển mạnh ở các nước:
Cônggô, Braxin, Nam Phi, Trung Quốc, Thái Lan, Úc…
Tại Papua New Guimea, một số loài và xuất xứ acacias (gồm A mangium)
được nhập vào khảo nghiệm từ 1982 Trong đó, một khảo nghiệm được bố trí trên 3 dạng lập địa: đất thoát nước, đất thoát nước kém và đất đồng cỏ Sau 2,5 năm tuổi, một số xuất xứ sinh trưởng nổi trội khá rõ rệt và rất có triển vọng, gồm: Balamuk
Trang 13PNG, Toko PNG, Lokwa PNG và Oriomo PNG Tại Philippine, các loài acacias cũng đã được nhập vào khảo nghiệm từ năm 1980, trong đó A mangium là loài có
triển vọng nhất, năng suất năm thứ 10 trồng ở Tal Ogon đạt tới 32m3/ha/năm Một
khảo nghiệm khác vào năm 1993 gồm 20 xuất xứ của 15 loài acacias cũng cho thấy triển vọng nhất là loài A mangium, sau đó đến A auriculiformis Đặc biệt, 4 xuất
xứ của A mangium nổi trội nhất, gồm: Kini, Bensbach, Wipim (PNG) và Claudie
River (Qld) (Baggayan and Baggayan, 1998) [47]
1.1.2 Các nghiên cứu chọn giống và trồng rừng trên các dạng lập địa khác nhau
Các dạng lập địa khác nhau, nhất là các loại đất ở độ cao khác nhau ảnh hưởng rất rõ đến năng suất chất lượng rừng trồng Vì vậy, các nhà khoa học trên thế giới đã chú ý đến việc khảo nghiệm và chọn giống cho các dạng lập địa khác nhau cũng như ở các độ cao khác nhau từ rất sớm, điển hình là khảo nghiệm dòng vô tính cho
các dòng bạch đàn lai (E urophylla x E camaldulensis, E grandis x E urophylla)
trên các dạng lập địa khác nhau ở Quảng Châu (Trung Quốc) Kết quả bước đầu sau
3 năm trồng cho thấy hầu hết đều sinh trưởng khá tốt và rất có triển vọng đạt trên 25m3/ha/năm (Yang, 2003) [63] Đặc biệt là công trình nghiên cứu của Arnold et al
(2004) [46] ở miền Nam Trung Quốc đã cho thấy các loài Bạch đàn E grandis, E
saglina, E dunnii có khả năng sinh trưởng tốt ở độ cao từ 700-1200m so với mực
nước biển Tác giả cũng cho rằng các loài bạch đàn á nhiệt đới là nhóm loài cây trồng rừng quan trọng ở nhiều nước trên thế giới như Australia, Chi Lê, Argentina, Brazil, Trung Quốc, Mỹ và Nam Phi Các loài bạch đàn được sử dụng để trồng rừng
công nghiệp thông dụng là Eucalyptus globulus, Eucalyptus nitens), Eucalyptus
grandis, Eucalyptus saligna, Eucalyptus microcorys và Eucalyptus dunnii Ngoài
ra, còn có thể kể đến một số xuất xứ vùng cao của Bạch đàn Eucalyptus urophylla Đặc biệt, hai loài Eucalyptus globulus và Eucalyptus nitens phân bố tự nhiên ở vùng
cực nam của Australia và đảo Tasmania thích hợp cho vùng ôn đới và á nhiệt đới lục địa ở vùng vĩ độ cao Hai loài này được gây trồng chủ yếu ở miền nam Australia
và đảo Tasmania, Chile, Argentina
Nghiên cứu của Eldridge et al., 1993) [49] đã chỉ ra rằng hai loài E.grandis và
E saligna có đặc điểm hình thái rất giống nhau chỉ có thể phân biệt được qua hình
Trang 14thái quả trưởng thành, theo tác giả loài bạch đàn E grandis có sinh trưởng tốt hơn ở
những nơi có điều kiện đất đai còn tương đối tốt và lượng mưa khá, trong khi bạch
đàn E saligna có sinh trưởng chậm hơn nhưng lại có khả năng thích nghi tốt hơn trên các lập địa nghèo dinh dưỡng và có thời gian khô hạn kéo dài Bạch đàn E
dunnii có khả năng thích nghi rộng rãi với nhiều dạng lập địa khác nhau
Nghiên cứu về Keo vùng cao, nhiều tác giả nước ngoài đã cho thấy Keo A
mearnsii có phân bố tự nhiên ở vùng ven biển phía Nam bang New South Wales,
bang Victoria và đảo Tasmania Hiện loài cây này đã được di thực tới nhiều quốc gia trên thế giới, chúng thích hợp ở độ cao trên 700m so với mực nước biển, đang được gây trồng rộng rãi các vùng khí hậu á nhiệt đới của Nam Phi, Tanzania, Kenya, Ấn Độ, Trung Quốc , chủ yếu để cung cấp gỗ nguyên liệu giấy, than hầm
và chiết xuất tannin cho công nghiệp thuộc da (Forest Ecology and Managemant (2003) [51]
Thông Caribê cũng có một số nghiên cứu đã cho thấy đây là loài đã được dẫn nhập và gây trồng ở trên 65 nước trên thế giới với giới hạn vĩ độ vùng trồng được
mở rộng đáng kể so với nơi nguyên sản, từ 550 vĩ độ Nam ở Argentina tới 330 vĩ độ Bắc ở Ấn Độ Độ cao từ mặt nước biển tới 1200m ở Zaire, lên tới 1220m ở Nigeria, trên 1820m ở Uganda và 2400m ở Kenya Thông Caribê đã được gây trồng trên nhiều vùng tiểu khí hậu của các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới (Noruo A O and G
P Berlyn, 1993) [57]
Một số loài cây lá rộng bản địa như Tống quá sủ cũng đã được nghiên cứu cải thiện giống như các công trình của Trịnh Vạn Quân, Phó Lập Quốc và Thành Tĩnh Dung (1978) mô tả Tống quá sủ là cây gỗ nhỡ, đường kính tối đa có thể đạt 1m, cây trưởng thành cao khoảng 15-20m, tốc độ sinh trưởng nhanh, thân thẳng, đẹp và phân cành cao Trong tự nhiên, Tống quá sủ mọc rải rác trong các rừng khô, rừng thứ sinh, trên độ cao 800-2400m ở Ấn Độ, Myanma, Trung Quốc (Vân Nam, Tây Nam Tứ Xuyên, Đông Nam Tây Tạng, Tây Nam Quý Châu và Tây Quảng Tây) Thích hợp nơi có nhiệt độ trung bình năm 12,8-180C, tổng tích ôn 3269-58170C, nhiệt độ tối thấp trung bình tháng lạnh nhất 2-30C, nhiệt độ tối cao trung bình tháng nóng nhất từ 21-220C, nhiệt độ trung bình thích hợp 130C, lượng mưa trung bình năm 800mm, độ ẩm trên 70% (dẫn theo Đặng Văn Thuyết, 2012) [37]
Trang 15Khi nghiên cứu về cây Sồi phảng ở Trung Quốc, Paul C F Tam and D A Griffiths (1993) [58] đã cho thấy Sồi phảng là cây gỗ nhỡ đến gỗ lớn, phân bố ở đai cao từ 700 - 1.700m so với mực nước biển, tập trung ở các tỉnh Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến của Trung Quốc Cây thường mọc ở trong rừng thường xanh, nơi
có điều kiện đất ẩm, tầng đất sâu, đất thịt nặng; đất chua, pH từ 4,5 - 5 Cây có thể chống chịu ở nhiệt độ tối thấp tới -50C, có thể sống ở những khu vực có điều kiện lượng mưa trung bình năm từ 1.000 - 2.000mm, sinh trưởng tốt nhất ở khu vực sườn núi có tầng đất dày
Cáng lò (Betula alnoides Buch.-Ham.) cũng là cây gỗ lớn, phạm vi phân bố tự
nhiên khá rộng, từ Myanmar, Ấn Độ, Nepal, Thái Lan, Lào, Việt Nam đến vùng Tây Nam của Trung Quốc Gỗ cây Cáng lò có màu nâu đỏ, giác lõi phân biệt, rất nặng và cứng nên thường được sử dụng trong xây dựng và đóng đồ gia dụng cao cấp (Jie Zeng và cộng sự, 2003) [52]
1.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng
Cùng với các nghiên cứu về khảo nghiệm giống, kỹ thuật trồng rừng cũng là một vấn đề quan trọng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm, điển hình là công trình nghiên cứu của Appanah, S and Weiland, G (1993) [45], các tác giả đã tổng kết những kinh nghiệm trồng rừng gỗ lớn ở bán đảo Malaysia, trong đó có hơn 40 loài cây đã được xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng lấy gỗ Mayhew, J.E và Newton, AQ.C (1998) [55] đã tổng hợp các tiến bộ kỹ thuật lâm sinh trong kinh
doanh cây gỗ thương mại nổi tiếng loài cây Mahogany (Swietenia macrophylla)
Tuy nhiên, các tác giả cũng đã đề cập đến những khó khăn trong trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh, nhất là đối với các loài cây bản địa, những khó khăn chủ yếu là việc lựa chọn loài cây thích hợp cho từng lập địa, vấn đề cung cấp và bảo quản hạt giống, vấn đề cây con đem trồng, kỹ thuật lâm sinh trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng rừng
Một số các biện pháp kỹ thuật thâm canh trong trồng rừng cũng đã được đề cập đến như ở Trung Quốc đã áp dụng biện pháp tưới nước cho rừng trồng cây
Dương lai (Populus euramericana) Sau 6 năm tuổi đường kính trung bình đã đạt ≈
Trang 1626cm, trong khi không tưới nước đường kính chỉ đạt 9-10cm Cũng ở Trung Quốc rừng trồng thâm canh bạch đàn đã đạt năng suất trên 40 m3/ha/năm (theo Nguyễn Huy Sơn, 2006) [27]
Khi nghiên cứu về mật độ trồng rừng, Evans Julians (1992) [50] cho thấy mật
độ có ảnh hưởng khá rõ đến khả năng sinh trưởng, năng suất gỗ rừng trồng khá rõ Đồng thời tỉa thưa cũng là biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất chất lượng rừng,
khi nghiên cứu rừng trồng thông Pinus patula, ở giai đoạn 19 tuổi chưa qua tỉa thưa
chiều dài tán lá bằng 29% tổng chiều dài thân, nhưng ở rừng cùng tuổi đã tỉa thưa một lần vào tuổi 9, chiều dài tán lá lên tới 40% chiều dài thân cây Chứng tỏ tỉa thưa
đã làm tăng sự phát triển của tán lá, tức là tăng diện tích quang hợp của lá, từ đó đã nâng cao được năng suất rừng trồng
Với sự trợ giúp của tổ chức JICA Nhật Bản, hiện nay ở Trung Quốc đang phát triển việc tạo bầu ươm cây con bằng giá thể hữu cơ, các loài cây đang được nghiên
cứu sử dụng giá thể hữu cơ từ giai đoạn vườn ươm là các loài Pinus yunnanensis,
Pinus armandi, Pinus densata, Acacia richii, Acacia mearnsii, Eucalyptus maidenii, Picea balfouriana, Larix kaemperi (Toshiaki 2005, 2007) [61],[62] Ưu điểm của
phương pháp này là ruột bầu rất nhẹ (trọng lượng chỉ bằng ¼ trọng lượng bầu đất thông thường) rễ cây con cuốn chặt trong bầu hữu cơ, do vậy khi mang cây đi trồng rừng người dân sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn do công vận chuyển cây con lên rừng, đặc biệt là do rễ cây con cuốn chặt với nhau trong giá thể hữu cơ do vậy khi mang cây đi trồng rừng người ta không sợ bầu cây bị vỡ, cây con không bị đứt rễ khi nhổ từ vườn ươm do vậy tỷ lệ sống sẽ cao hơn so với trồng cây bằng giá thể bầu đất bình thường
Bón phân cho rừng trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh
ảnh hưởng trực tiếp đến hệ rễ của cây trồng nói chung và rừng trồng acacias nói
riêng nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng Vấn đề này đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm cho các loài cây rừng khác nhau, điển hình như công trình của Mello (1976) [56]và Schonau (1985) [59] bón
phân cho E grandis, Bolstad at al (1988) [46] và Herrero at al (1988) nghiên cứu bón phân cho Pinus caribeae Tuy nhiên, việc bón phân cho rừng trồng dựa trên cơ
Trang 17sở khoa học nào thì hiện nay chỉ có một số ít công trình đề cập đến, điển hình là
công trình của Simpson, J.A (2000) [60] nghiên cứu phân bón cho rừng trồng A
mangium ở Kalimantan và Trung Quốc Tác giả đã phân tích hàm lượng dinh dưỡng
trong lá cây và trong đất, đặc biệt là hàm lượng các nguyên tố đa lượng như N, P,
K Hàm lượng các nguyên tố này trong lá sẽ chỉ cho biết trong đất thiếu chất dinh dưỡng nào, hoặc nhu cầu của cây đang cần nguyên tố nào, từ đó tác giả đã xác định
P là nguyên tố cần bổ sung cho đất và đã bón 50 kg super lân/ha Ngoài ra, tác giả còn cho thấy K là nguyên tố thường ít thiếu hụt trong đất trồng rừng các loài
acacias ở Kalimantan, Trung Quốc và Việt Nam, các nguyên tố trung lượng và vi
lượng như Mg, Bo, Ca, Zn, Mn và Cu không thực sự thiếu hụt trong các loại đất trồng rừng nói chung
1.2 Ở Việt Nam
Việc khảo nghiệm chọn loài, chọn xuất xứ và chọn giống trồng rừng cũng đã được các nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Tuy nhiên, tập trung nhiều nhất vào những năm 80 của thế kỷ trước Bắt đầu từ dự án FAM đã nhập hàng chục tấn hạt keo và bạch đàn vào trồng ở các tỉnh miền núi nước ta Mục tiêu ban đầu chỉ là phủ xanh đất trống đồi núi chọc, tạo dựng hoàn cảnh môi trường sinh thái, sau đó mới là lấy gỗ làm bột giấy Đến những năm cuối của thế kỷ XX, việc trồng rừng thâm canh cung cấp nguyên liệu cho chế biến bột giấy và ván nhân tạo mới được quan tâm nghiên cứu và phát triển mạnh Có thể tóm tắt các công trình nghiên cứu theo các lĩnh vực điển hình sau đây:
1.2.1 Khái quát thực trạng rừng trồng keo ở Việt Nam hiện nay
Tính đến 31/12/2015 diện tích rừng nói chung của nước ta đã tăng lên tới 14.061.856ha, trong đó rừng tự nhiên có 10.175.519 ha, rừng trồng có 3.886.337 ha, bao gồm cả rừng phòng hộ (RPH), rừng đặc dụng (RĐD) và rừng sản xuất (RSX) Riêng rừng trồng là RSX có 2.727.950 ha, trong đó rừng trồng sản xuất cây lấy gỗ
là 2.272.207 ha, chiếm 83,29% diện tích rừng trồng sản xuất (Bộ NN&PTNT, 2016) Theo số liệu thống kê của Dự án FST 2008/039 tính đến 31/12/2015 thì diện tích rừng trồng keo và bạch đàn có 1.513.424 ha, trong đó rừng trồng keo là 1.302.806 ha và bạch đàn là 210.618 ha (Tổng cục Hải quan, 2016; dẫn theo Vũ
Trang 18Huy Đại, 2016) Qua đó có thể thấy tỷ lệ diện tích rừng trồng keo và bạch đàn ở nước ta khá lớn, chiếm tới 55,48% diện tích rừng trồng sản xuất, nếu chỉ tính riêng rừng trồng keo trong diện tích rừng trồng sản xuất thì đã chiếm tới 47,76% và rừng trồng bạch đàn chỉ có 7,72% Như vậy, có thể thấy keo thực sự là cây trồng chủ lực của ngành Lâm nghiệp nước ta trong những năm vừa qua, mục tiêu chủ yếu là cung cấp gỗ nhỏ phục vụ công nghiệp chế biến dăm và bột giấy Thực tế đã chứng minh trong 5 năm vừa qua (2011-2015), nước ta đã xuất khẩu từ 6-8 triệu tấn dăm khô mỗi năm, chủ yếu nhờ vào rừng trồng sản xuất cây mọc nhanh, nhất là rừng trồng keo Mặt khác, Dự án FST 2008/039 còn cho thấy diện tích rừng trồng các loài keo lớn nhất ở 3 vùng sinh thái: Đông Bắc bộ có 501.588 ha, Bắc Trung bộ có 284.952
ha và Duyên hải Nam Trung bộ có 265.908 ha Tuy nhiên, hầu hết diện tích rừng trồng chủ yếu ở vùng núi thấp dưới 600m so với mực nước biển (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn 2017)
1.2.2 Các nghiên cứu khảo nghiệm giống
Một trong những khảo nghiệm loài đầu tiên ở nước ta vào năm 1982 tại Ba Vì
(Hà Nội) cho 4 loài keo: Keo tai tượng (A mangium), Keo lá tràm (A
auriculiformis), Keo lá liềm (A crassicarpa) và Keo đa thân (A aulacocarpa) Sau
8 năm trồng, Keo tai tượng có khả năng sinh trưởng nhanh nhất, đường kính ngang ngực (D1,3) đạt 18,95cm, chiều cao đạt 15,42 m; tiếp theo là loài Keo lá tràm với các trị số tương ứng là 14,88 cm và 13,19 m, hai loài còn lại kém hơn với các trị số tương ứng từ 10,10 - 13,82 cm và 10,78 - 12,53 m Hai khảo nghiệm khác ở Hóa Thượng (Thái Nguyên) năm 1984 và ở Đại Lải (Vĩnh Phúc) năm 1986 cũng gồm 4 loài trên Sau 6 năm trồng, kết quả cho thấy ở Hóa Thượng sinh trưởng tốt nhất là Keo tai tượng, tiếp theo là Keo lá tràm Sau 5 năm trồng khảo nghiệm ở Đại Lải kết quả cho thấy tốt nhất lại là Keo lá tràm, sau đó mới đến Keo tai tượng, hai loài còn lại kém nhất (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [22]
Một công trình đã công bố khác của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2013) [25] đã cho thấy giai đoạn những năm 80 của thế kỷ trước, các loài và xuất xứ bạch đàn cũng đã được khảo nghiệm khá nhiều ở nước ta Cụ thể là giai đoạn từ 1987-1991 đã khảo nghiệm ở Đại Lải (Vĩnh Phúc) 23 xuất xứ của 9 loài bạch đàn, kết quả sau 4 năm
Trang 19trồng cho thấy bạch đàn E exserta sinh trưởng tốt nhất về đường kính, tiếp theo là loài E urophylla có các xuất xứ Mt Egon; và loài E tereticornis có xuất xứ Mt
Garnet Giai đoạn 1990-1997 cũng khảo nghiệm Đại lải Vĩnh Phúc 27 xuất xứ của 7
loài, trong đó có 10 xuất xứ của E camaldulensis, 6 xuất xứ của loài E exserta, 4 xuất xứ của loài E tereticornis và một số xuất xứ của các loài khác; sau 6,5 năm tuổi, các xuất xứ của các loài E camaldulensis và E exserta vẫn tỏ ra có khả năng sinh trưởng nhanh hơn Một khảo nghiệm gồm 12 xuất xứ của loài bạch đàn E
camaldulensis ở La Ngà (Đồng Nai), sau 3 năm tuổi thì khả năng sinh trưởng cả
đường kính và chiều cao được phân thành 2 nhóm khá rõ rệt, nhóm sinh trưởng nhanh có đường kính đạt từ 7,3-7,5cm gồm các xuất xứ: Gibb River, Katherin, Gilbert River, Mt Carbine, Petfod, còn lại đều nhỏ dưới 7,0cm
Trên cơ sở kết quả các khảo nghiệm loài và xuất xứ đã chọn lọc qua nhiều năm kết hợp với nguồn vật liệu giống nhập từ nước ngoài, Hà Huy Thịnh và cộng
sự (2011) [35] đã sử dụng nguồn vật liệu giống của các loài keo này để khảo nghiệm ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Trong đó, Keo tai tượng có 210 cây trội chọn lọc trong các vườn giống FORTIP và 200 gia đình ở các vườn giống thế hệ 2; Keo lá tràm có 230 cây trội và các lô hạt nhập từ nơi nguyên sản cũng như các dòng
vô tính đã được chọn lọc từ nhiều năm trước; Keo lai tự nhiên bao gồm 5 dòng của
Ba Vì, 7 dòng từ Đông Nam bộ, 4 dòng từ Phân viện Nam bộ Ngoài ra, còn một số dòng lai mới cũng đã được bổ sung Sau 5 năm khảo nghiệm đã xác định được nhiều giống ưu việt cho các vùng sinh thái khác nhau Đối với Keo lá tràm đã công nhận được 03 giống Quốc gia và 16 giống Tiến bộ kỹ thuật, năng suất đạt ≥ 15
m3/ha/năm, vượt trội ≥ 20% so với giống đại trà Keo tai tượng cũng có 01 xuất xứ được công nhận là giống Tiến bộ kỹ thuật Các dòng Keo lai là giống Quốc gia và giống Tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận trước đây vẫn duy trì được ưu thế trong các khảo nghiệm mới Đặc biệt, các giống đã chọn lọc trong các khảo nghiệm này đều có năng suất và tỷ trọng gỗ cao hơn các giống còn lại Trong một nghiên cứu khác của Hà Huy Thịnh và cộng sự (2015) [36] đã chọn được một bộ giống công tác cho Keo lá tràm gồm 21 gia đình, 13 dòng vô tính và 60 cây trội trong các vườn giống thế hệ 2 Đối với Keo lai tự nhiên cũng đã chọn lọc được 550 dòng vô tính
Trang 20vừa sinh trưởng nhanh vừa có chất lượng thân cây tốt ở giai đoạn từ 18-24 tháng tuổi Đồng thời đã chọn lọc được 10 dòng vô tính mới (BV106, 233/3, BV340, BV368, BV376, BV536, 102, BV469, BV374, 98/1) Tại thời điểm 6,5 năm tuổi, các giống Keo lai đã được là công nhận là giống Quốc gia (BV10, BV16, BV32 và BV33) vẫn thể hiện sự ưu việt về sinh trưởng với năng suất gỗ đạt từ 30,4-33,7m3/ha/năm, đặc biệt các giống BV37 và BV 71 đã được công nhận là giống Tiến bộ kỹ thuật đạt năng suất cao nhất, dao động từ 34,6-38,5m3/ha/năm
1.2.3 Các nghiên cứu chọn loài cây cho vùng cao
Từ những năm 1950, Việt Nam đã có một số mô hình trồng thử các loài Bạch đàn ở Mang Linh, Lâm Đồng ở độ cao 1.500 m so với mực nước biển với hàng chục loài Bạch đàn khác nhau (dẫn từ Lê Đình Khả, 1996) [16] Tuy nhiên chỉ có các loài Bạch đàn grandis, Bạch đàn saligna và Bạch đàn microcorys là có khả năng sinh trưởng tốt ở đây Trong những năm 1990, Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành khảo nghiệm loài và xuất xứ nhiều loài Bạch đàn ở Mang Linh, ở độ cao 1.500m và Lang Hanh với độ cao 820 m tại Lâm Đồng Tại Lang Hanh, khảo nghiệm gồm 24 xuất
xứ thuộc 8 loài Bạch đàn đã được khảo nghiệm Sau 4 năm tuổi, kết quả cho thấy nhóm sinh trưởng nhanh về đường kính gồm 6 xuất xứ trong đó có xuất xứ Paluma
của Eucalyptus grandis, Helenvale, Goe-Kiriwo và Bloomfield của Eucalyptus
pellita, Blackdown của Eucalyptus saligna và Mt Egon của Eucalyptus urophylla
Sinh trưởng nhanh nhất về chiều cao là xuất xứ Morehead River của Eucalyptus
camaldulensis và Mt Lewis của Eucalyptus grandis Các xuất xứ sinh trưởng nhanh
có thể đạt lượng tăng trưởng chiều cao từ 1,5 đến 1,8 m/năm Sinh trưởng chậm là
các xuất xứ Barrington của Eucalyptus saligna và Artheton của Eucalyptus grandis
Tại Mang Linh, một bộ giống gồm 24 xuất xứ của 9 loài đã được khảo nghiệm Kết quả đánh giá sau 1,5 tuổi cho thấy các xuất xứ sinh trưởng nhanh gồm Mt Ego của
Eucalyptus urophylla, Lâm Đồng, Paluma và Cardwell của Eucalyptus grandis,
Blackdown và Barrington của Eucalyptus saligna Lượng tăng trưởng của các xuất
xứ tốt có thể đạt 2-3 m/năm và đường kính đạt 1,5-2,5 cm/năm Xuất xứ Mt Egon
của Eucalyptus urophylla có sinh trưởng nhanh nhưng có tỷ lệ sống rất thấp (26%) trong khi các xuất xứ của Eucalyptus grandis và Eucalyptus saligna có tỷ lệ sống
Trang 21cao (70-85%) Bạch đàn Eucalyptus microcorys đã được trồng thử ở Đà Lạt từ
những năm 1960, đến nay trong Trạm thực nghiệm Cam Ly vẫn còn nhiều cây có
đường kính đạt đến 50-60 cm, chiều cao đạt đến 40 m Rừng trồng Bạch đàn E
microcorys ở Lang Hanh trồng năm 1990 lấy giống từ những cây này có đường
kính trung bình đạt 30 cm và chiều cao đạt 25 m với lượng tăng trưởng bình quân năm từ 12-14 m3/ha/năm Như vậy, đây cũng là loài cây có nhiều triển vọng cho
trồng rừng ở vùng núi cao phía Bắc để cung cấp gỗ xẻ
1.2.4 Ảnh hưởng của lập địa đến năng suất gỗ rừng trồng các loài cây liên quan
Trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng đã được các nhà khoa học trong nước quan tâm từ những năm 90 của thế kỷ trước, hiện nay cũng đã đạt được những thành tựu nhất định Đặc biệt, là một số công trình nghiên cứu gần đây tại một số vùng trọng điểm trên các lập địa khác nhau, cùng một giống đã được cải thiện và kỹ thuật trồng giống nhau, nhưng sinh trưởng và năng suất gõ ở mỗi địa điểm đều khác nhau, cụ thể là dòng bạch đàn PN108 đạt ≈ 22m3/ha/năm ở Yên Bái, đạt 26-31 m3/ha/năm ở Hòa Bình và đạt 20 m3/ha/năm ở Thanh Hóa; dòng PN3D đạt 25-26m3/ha/năm ở Yên Bái; dòng PN10 đạt 22-24 m3/ha/năm ở Thanh Hóa; PN46 và PN47 đạt 22-25m3/ha/năm ở Hòa Bình (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2013) [25] Keo lai bao gồm giống Keo lai tự nhiên và giống Keo lai nhân tạo đã được nghiên cứu và trồng khảo nghiệm trên các vùng sinh thái khác nhau từ những năm
1990 ở Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Tây (cũ), Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Quảng Trị, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, nhưng khả năng sinh trưởng và năng suất gỗ cũng rất khác nhau, các tác giả đều có chung nhận định rằng càng dịch chuyển vùng trồng vào phía Nam thì khả năng sinh trưởng và năng suất gỗ có xu hướng tăng (Lê Đình Khả 1999, 2003 [17],[18]; Nguyễn Hoàng Nghĩa 2003, 2007 [22],[23]
Keo lai có thể sống ở tất cả các nơi được trồng khảo nghiệm, sinh trưởng thường cao gấp 1,5 – 3 lần cây bố mẹ, tuy nhiên sinh trưởng của chúng trên các lập địa là hoàn toàn khác nhau, ví dụ trong 3 năm đầu Keo lai ở Tuyên Quang, Hòa Bình, Đông Hà có thể đạt năng suất 19-27 m3/ha/năm, trong khi ở Hà Tây (cũ), Vĩnh Phúc năng suất chỉ đạt 5,7- 13,5 m3/ha/năm (Lê Đình Khả 1999, 2006) [17],[19]
Trang 22Keo A mearnsii là loài keo vùng cao đã được khảo nghiệm ở Đà lạt (Lâm Đồng), Ngân Sơn (Cao Bằng), Đồng Văn (Hà Giang) và Sapa (Lào Cai), sau 4 năm trồng cho thấy ở vùng cao Đà Lạt cho sinh trưởng nhanh nhất, các xuất xứ tốt nhất
ở Đà Lạt gồm: Nowa Nowa (VIC), Bodala và Nowra, đường kính trung bình đạt ≈
10 cm, chiều cao đạt ≈ 10 m (Lê Đình Khả, 2003) [18] Thông Pinus caribeae có nhiều chủng khác nhau cũng đã được khảo nghiệm từ rất sớm ở nước ta Đặc biệt, được dẫn nhập đầu tiên vào nước ta năm 1963 trồng thử nghiệm tại Lang Hanh và Mang Linh của tỉnh Lâm Đồng và rất có triển vọng gỗ lớn cho các vùng cao này (Lê Đình Khả, 1999) [17], (Phí Quang Điện, 1996) [11]
Nghiên cứu mở rộng rừng trồng Thông caribê trên một số dạng lập địa vùng Đông Bắc, năm 2000-2004, (Nguyễn Ngọc Đích và Lương Thế Dũng, 2004) [10] đã xây dựng 25 ha mô hình ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang và Vĩnh Phúc Kết quả đánh giá rừng trồng có triển vọng, ở giai đoạn 2 tuổi rừng không có
sự sai khác rõ về sinh trưởng ở các địa điểm trồng Thông caribê xuất xứ hondurensis giống ở Đại Lải – Vĩnh Phúc tỏ ra phù hợp để gây trồng rừng ở vùng Tây Bắc kể cả ở độ cao 800m lên đến 1300m, đạt năng suất 0,7-2,2m3/ ha/năm ở tuổi 4 (Đặng Văn Thuyết - 2010) [38] Biến chủng Hondurensis của loài thông Caribeae đã được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật (theo QĐ số 3614/QĐ-BNN- KHCN ngày 8/8/2001 của Bộ trưởng bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) [1] Nghiên cứu xác định điều kiện gây trồng cây Thông caribê cung cấp gỗ lớn của Đặng Văn Thuyết, Lương Thế Dũng và Nguyễn Thanh Sơn (2009) cho thấy cây Thông caribê có thể gây trồng ở cả 6 tỉnh vùng Đông Bắc Bộ, tuy nhiên diện tích có điều kiện thích hợp để trồng rừng cung cấp gỗ lớn phân bố thành các dải, chủ yếu tập trung ở Lạng Sơn, Bắc Giang, Cao Bằng và Thái nguyên [37]
Nghiên cứu về cây Tống quá sủ - một trong những loài cây bản địa được đưa vào danh mục các loài cây trồng rừng chủ yếu tại vùng cao của các tỉnh Tây Bắc Hiện nay loài cây này đã có 70 ha lâm phần tuyển chọn làm rừng giống tại tỉnh Lào Cai đây là tiền đề để tuyển chọn được nguồn hạt giống tốt để sản xuất cây con phục
vụ đề tài nghiên cứu và mở rộng diện tích trồng rừng Đề tài nghiên cứu về tuyển chọn giống và gây trồng loài cây này do Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã
Trang 23triển khai tại vùng Tây Bắc kết quả bước đầu cho thấy đây là loài cây gỗ bản địa mọc nhanh, phù hợp với điều kiện lập địa, khí hậu vùng núi cao Tây Bắc và là loài
có triển vọng trồng thành rừng gỗ lớn cung cấp gỗ cho sản xuất công nghiệp (Đặng Văn Thuyết - 2012) [39]
Một số các nghiên cứu về giống đối với các loài cây bản địa khác như Sa mộc, cáng lò, Tô hạp Điện Biên… cũng đã được Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam bước đầu nghiên cứu về khả năng nhân giống ở vùng Tây Bắc (Phạm Quang Tuyến-2010) [43]
Nghiên cứu về kỹ thuật trồng cây Cáng lò (Beltula alnoides) bằng phương
pháp bứng cây con từ rừng tự nhiên cũng đã được (Nguyễn Đức Thịnh, 2008) nghiên cứu và đưa ra hướng dẫn sơ bộ về kỹ thuật trồng loài cây này tại vùng Tây Nguyên [34] Các xuất xứ cây Cáng lò, kỹ thuật tạo cây con, tỷ lệ nảy mầm ở vườn
ươm Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Quang Thu (2009) thì Cây Cáng lò (Betula
alnoides Buch Ham EXD Don) là loài phân bố rộng từ Trung Quốc, Miến Điện,
Lào, Ấn Độ, Thái Lan đến Việt Nam Tại Việt Nam thường gặp cây mọc tự nhiên ở các tỉnh vùng núi phía Bắc Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu Cáng lò có phân bố ở độ cao 300 – 1000m so với mực nước biển
là loài cây ưa sáng mạnh đặc biệt là giai đoạn còn nhỏ, tái sinh mạnh trên đất sau nương rẫy [24]
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước, Trần Văn Con (2006) [4] đã đưa ra danh mục 15 loài cây bản địa thích hợp cho trồng làm giầu rừng tại Việt Nam, đó là các loài
Lim xanh (Erythrophloem fordii), Ràng ràng mít (Ormosia balancae), Chò nâu (Dipterocarpus tonkinensis), Re hương (Cinamomum iners ), Re gừng (Cinamomum
parthenoxylum), Vạng trứng (Endospermum chinensis), Dẻ cau (Quercus platycalyx),
Xoan đào (Prunus arborea), Dẻ hương (Pasania shaerocarpa), Sồi phảng ( Lithocarpus
fissus), Sồi gai (Castanopis chinensis), Kháo vàng (Machilus bonii), Trám trắng
(Canarium album), Lim xẹt (Peltophorum tonkinensis), Dẻ đỏ (Lithocarpus ducampii)
Tuy nhiên, tùy vào điều kiện lập địa và sự phân bố tự nhiên của các loài cây bản địa, mà cần nghiên cứu bổ sung các loài cây trồng phù hợp cho từng địa phương, từng hoàn cảnh rừng cụ thể
Trang 24Về kỹ thuật trồng rừng ở Việt Nam cũng có nhiều thành tựu và tiến bộ trong nghiên cứu và thực tiễn, đặc biệt là các thành tựu trong kỹ thuật trồng rừng thâm canh với suất đầu tư cao để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng Tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu được triển khai ở vùng thấp (<600 m), nhiều đề tài nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng đã được tiến hành trong những năm gần đây, có thể kể các công trình điển hình như: Nguyễn Xuân Quát (1990) [27] nghiên cứu xây dựng các biện pháp kỹ thuật trồng rừng cung cấp gỗ lạng ở Tây Nguyên Đoàn Bổng 1988-1990 về thâm canh Bạch đàn và Keo ở Đông Nam Bộ Phạm Thế Dũng (2002-2005) [9] về kỹ thuật thâm canh cho một số dòng Keo lai được tuyển chọn trên đất phù sa cổ tại Bình Phước Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) [28] ở Bình Dương, Gia Lai, Quảng Trị Nguyễn Huy Sơn (2006) [29] đã nghiên cứu các biện pháp khoa học công nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu, chưa đi vào gỗ lớn và áp dụng các biện pháp thâm canh tổng hợp
Đã có các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng và thâm canh với Keo lai, trong
đó có các biện pháp thử nghiệm về mật độ và bón phân Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Xuân Quát và Đoàn Hoài Nam (2006) [30], mật độ trồng rừng tối ưu và các phương thức bón phân (bón lót) tối ưu cho Keo lai có ảnh hưởng khác nhau trên từng vùng sinh thái Tại vùng Đông Nam Bộ, nhóm tác giả đã thử nghiệm 3 công thức mật độ đối với Keo lai (1110 cây/ha, 1660 cây/ha và 2220 cây/ha) kết hợp với 14 công thức bón phân (bón lót), kết quả cho thấy mật độ 1110 cây/ha và 1660 cây/ha là thích hợp nhất và lượng phân bón là: 200g NPK + 100 phân hữu cơ vi sinh/gốc là thích hợp nhất
Với loài Thông Caribê, Bộ NN & PTNT đã ban hành qui trình kỹ thuật trồng
rừng Thông Caribê theo quyết định số 50 /2004 /QĐ - BNN ngày 19/10/2004 [2]
Rừng trồng Thông caribê với mật độ 1100 cây/ha, có bón 300g lân cho mỗi cây có sinh trưởng tốt và phù hợp cho trồng rừng lấy gỗ ở vùng Tây Bắc (Đặng Văn Thuyết - 2010) [38]
Gây trồng cây bản địa nhằm phục hồi rừng tự nhiên và trồng rừng cung cấp gỗ lớn cũng đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu tại Việt Nam từ những năm
1980 trở lại đây, phòng hộ rừng bằng trồng bổ sung các loài cây bản địa đã được nhiều
Trang 25tác giả quan tâm nghiên cứu Nổi bật có công trình “Nghiên cứu các phương thức phục hồi rừng vùng Sông Hiếu” (1981-1985) của Nguyễn Bá Chất [3], đề tài đã gây trồng cây Lát hoa với các loài cây bản địa khác như Lim xẹt, Giổi xanh, Thôi chanh, Lõi thọ, Ràng ràng, nhằm tạo nên cấu trúc hỗn loài hợp lý Theo dõi thí nghiệm đến năm thứ 10, thấy
rõ sinh trưởng của cây Lát hoa trồng hỗn loài sinh trưởng tốt hơn trồng thuần loài Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài sử dụng lớp thực bì phục hồi tự nhiên có ưu điểm về sinh trưởng cây trồng và có dấu hiệu phục hồi đất
Trong những năm gần đây, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã triển khai các nghiên cứu trồng cây bản địa theo rạch và theo đám Nguyễn Văn Thông 2005 đã nghiên cứu xây dựng mô hình trồng rừng theo rạch bằng loài cây Sồi phảng, Giổi xanh, Re hương tại Đoan Hùng, Phú Thọ Biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng là chặt loại bỏ cây
có phẩm chất kém, cây sâu bệnh, mở rạch rộng 2m và 4m, băng chừa 3m, cuốc hố kích thước 40 x 40 x 40cm ở giữa băng chặt Trên rạch rộng 2 m trồng Giổi xanh, Re hương, rạch rộng 4 m trồng Lát hoa, Ràng ràng mít, Lim xẹt, Xoan mộc Sau 7 đến 8 năm trồng, đường kính cây tăng trưởng từ 0,31cm đến 1,88 cm/ năm, chiều cao tăng trưởng từ 0,56cm đến 1,29 cm/năm, tùy thuộc vào từng loài cây mà lượng tăng trưởng về chiều cao
và đường kính khác nhau (theo Trần Văn Con và cộng sự, 2006) [4]
1.2.5 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng
Khi nghiên cứu về phương thức trồng rừng trên đất thoái hóa ở vùng núi phía
Bắc, Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Bá Chất (2004) [33] đã sử dụng cây Sồi phảng để
trồng hỗn loài với các loài cây bản địa khác như Lim xanh, Trám trắng, Vạng trứng
và Re gừng trên đối tượng đất rừng thoái hoá tại Cầu Hai - Phú Thọ Sinh trưởng của Sồi phảng trong những năm đầu đã đạt mức tăng trưởng là 1,6 cm/năm về đường kính và 1,5 m/năm về chiều cao Đến tuổi 6 một số cây Sồi phảng trong mô hình đã ra hoa, kết quả Kết quả sau 7 năm thực hiện mô hình cho thấy Sồi phảng còn lại với tỷ lệ sống đạt 90 - 92% tuỳ theo từng công thức thí nghiệm và hiện tại Sồi phảng đang sinh trưởng phát triển tốt và rất có triển vọng Kết quả nghiên cứu này cho thấy Sồi phảng có thể trồng hỗn loài theo hàng với các loài cây lá rộng bản địa khác trên đối tượng đất thoái hoá ở các tỉnh phía Bắc
Trang 26Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây Sồi phảng cung cấp gỗ lớn, Lê Minh Cường (2015) [6] đã cho thấy trồng cây Sồi phảng với mật độ 1.100 cây/ha (3
x 3m) là phù hợp và có thể giảm chi phí trồng rừng Kết hợp các biện pháp nông lâm kết hợp bằng cách trồng xen cây Sắn giữa 2 hàng cây Sồi phảng để tăng thu nhập trong năm đầu Đối với làm giàu rừng tự nhiên áp dụng cả 2 phương thức làm giàu theo băng và theo đám bằng cây Sồi phảng đều có triển vọng để tăng chất lượng rừng tự nhiên nghèo kiệt
Làm đất là biện pháp kỹ thuật tác động vào hoàn cảnh sống của cây trồng, có tác dụng rất rõ đến bộ rễ của chúng Vì thế Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2006) [29]
đã xếp "kỹ thuật làm đất" vào nhóm các biện pháp kỹ thuật mũi nhọn trong hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng Khi nghiên cứu trồng rừng Keo lai ở khu vực Đông Nam bộ, Phạm Thế Dũng (2005) [9] đã thử nghiệm 2 phương thức làm đất thủ công và cơ giới trên đất dốc Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng của Keo lai ở phương thức làm đất thủ công tốt hơn phương thức làm đất bằng cơ giới, sau 3 năm trồng ở công thức làm đất thủ công đạt từ 9,40-10,38 cm về đường kính
và từ 11,33-11,71 m về chiều cao, trong khi đó làm đất bằng cơ giới chỉ đạt các giá trị tương ứng từ 8,74-8,87 cm và 9,82-9,92 m Tác giả lý giải rằng trên đất dốc còn tính chất đất rừng, sử dụng máy móc cơ giới để xử lý thực bì, san ủi gốc cây và cày toàn diện sẽ làm cho đất bị xói mòn và rửa trôi nhanh hơn, thúc đẩy quá trình thoái hóa đất cũng nhanh hơn Vì vậy, phải tùy thuộc vào điều kiện đất đai, địa hình cụ thể để xác định phương thức làm đất phù hợp Công trình nghiên cứu của Nguyễn Huy Sơn (2006) [29] ở Đồng Hỷ (Thái Nguyên) đã bố trí 3 công thức làm đất kết hợp thời vụ trồng khác nhau, gồm: 1/ Trồng đúng thời vụ (đầu mùa mưa), cuốc hố 40x40x40cm; 2/ Trồng muộn thời vụ (giữa mùa mưa), cuốc hố 40x40x40cm; 3/ Trồng đúng thời vụ (đầu mùa mưa), cuốc hố 25x25x25cm Sau 30 tháng tuổi (2,5 năm), khả năng sinh trưởng ở công thức cuốc hố 40x40x40cm và trồng đúng thời vụ
là tốt nhất, đường kính (D1,3)≈ 8,07cm, chiều cao (H) ≈ 8,76m, trữ lượng cây đứng (M) ≈ 34,21m3/ha; xếp thứ 2 là công thức cuốc hố 40x40x40cm và trồng muộn thời
vụ, mặc dù trồng muộn sau gần 2 tháng nhưng đường kính cũng đạt ≈ 6,85cm, chiều cao ≈ 7,48m, trữ lượng cây đứng đạt ≈ 20,04m3/ha; kém nhất là công thức cuốc hố
Trang 2725x25x25cm mặc dù trồng đúng thời vụ vào đầu mùa mưa nhưng cũng chỉ đạt 6,69cm về đường kính, 7,48m về chiều cao và trữ lượng cây đứng chỉ đạt 18,38
m3/ha, kém hơn cả công thức trồng muộn sau gần 2 tháng Điều này chứng tỏ cuốc
hố rộng và sâu hơn cũng có ảnh hưởng khá rõ tới khả năng sinh trưởng và năng suất
và bạch đàn ở miền Đông và Tây Nam bộ … Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Ngô Đình Quế và cộng sự (2004), tác giả đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây và nghiên cứu bổ sung, xây dựng được Qui phạm kỹ thuật bón phân cho 4 loài cây chủ yếu, gồm: Keo lai, Bạch đàn uro, Thông nhựa và Dầu nước Nguyễn Đức Minh và cộng sự (2004) đã khảo sát 14 ô tiêu chuẩn ở rừng trồng Keo lai từ 1,5-5,5 năm tuổi ở 5 tỉnh khác nhau, kết quả cho thấy mặc dù rừng trồng được bón lót 100g NPK (5:10:3)/hố, nhưng bón thúc năm thứ hai vẫn có hiệu lực thúc đẩy sinh trưởng và năng suất gỗ cao hơn không bón thúc (dẫn theo Nguyễn Huy Sơn) Mật độ là một trong những nội dung thâm canh rừng trồng, là yếu tố góp phần quan trọng quyết định năng suất của rừng trồng Vì thế, Bộ NN&PTNT đã ban hành Qui trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp gỗ nguyên liệu giấy ở các tỉnh miền núi phía Bắc cho một số loài Thông, Keo lá to và Bồ đề với mật độ trồng từ 1.200-1.500 cây/ha, bạch đàn là 1.000 cây/ha (Vụ KHCN&CLSP, 2001) [46] Tuy nhiên, đây là qui trình tạm thời, nên trong những năm đầu của thế kỷ XXI các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu mật độ trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ, phần lớn các thí nghiệm đều bố trí các loại mật độ: 1.110 cây/ha (3x3m), 1.333 cây/ha (2,5x3m), 1.660 cây/ha (2x3m), 2.000 cây/ha (2x2,5m) và 2.500 cây/ha (2x2m)
Trang 28Trong thực tế sản xuất ở các công ty trồng rừng nguyên liệu dăm - giấy thường trồng mật độ từ 1.660-2.000 cây/ha tùy theo từng vùng sinh thái khác nhau; nhân dân ở vùng Quảng Ngãi thì trồng từ 5.000-10.000 cây/ha, sau 3 - 4 năm đã khai thác bán tính theo tấn/ha Khi đánh giá năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam
bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) [8] đã khảo sát trên 4 mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau, gồm: 952, 1.110, 1.142 và 1.660 cây/ha Sau 3 năm trồng, năng suất đạt cao nhất ở mật độ 1.660 cây/ha (21m3/ha/năm), năng suất thấp nhất ở mật độ 952 cây/ha (9,7m3/ha/năm), tác giả cho rằng đối với Keo lai ở Đông Nam bộ chỉ nên trồng mật độ từ 1.110-1.660 cây/ha là thích hợp Một nghiên cứu khác về mật độ trồng rừng thâm canh Keo lai ở Bình Phước của Bùi Thanh Hằng (2005), [14] tác giả đã bố trí 4 loại mật độ: 3.330 cây/ha (1,5x2m), 2.220 cây/ha (1,5x3m), 1.660 cây/ha (2x3m) và 1.110 cây/ha (3x3m) Sau 20 tháng trồng, khả năng sinh trưởng cả đường kính và chiều cao đạt cao nhất ở mật độ 1.110 cây/ha (D1,3= 7,64cm, Hvn = 8,72m) và có xu hướng giảm dần theo chiều tăng của mật độ, thấp nhất ở mật độ 3.330 cây/ha (D1,3= 5,55cm, Hvn = 6,92m)
Một công bố khác của Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2014) [31] về mật độ trồng rừng thâm canh Keo lá tràm ở Sông Mây (Đồng Nai), các tác giả đã bố trí 2 loại mật độ là 1.110 cây/ha và 1.660 cây/ha Sau 11 năm trồng, ở mật độ trồng ban đầu là 1.110 cây/ha còn trung bình 1.020 cây/ha, ở mật độ trồng 1.660 cây/ha còn 1.275 cây/ha Khả năng sinh trưởng đường kính trung bình ở công thức mật độ còn 1.020 cây/ha đạt 17,98cm, trong khi đó đường kính trung bình ở công thức mật độ còn 1.275 cây/ha chỉ đạt 16,28cm Tỷ lệ số cây có D1,3≥ 18cm ở mật độ 1.020 cây/ha chiếm 48,38%, ở mật độ 1.275 cây/ha trung bình chỉ có 31,41% Điều đó chứng tỏ mật độ trồng ban đầu có ảnh hưởng rất rõ tới khả năng sinh trưởng và năng suất gỗ của rừng trồng, nhất là tỷ lệ gỗ lớn trong cùng một khoảng thời gian nhất định
Nhận xét đánh giá chung
Tóm lại về kỹ thuật trồng rừng hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều thành tựu trong nghiên cứu cả cây ngoại nhập và cây bản địa Công tác cải thiện giống được
Trang 29chú trọng, nhiều công trình khảo nghiệm giống được nghiên cứu, đặc biệt là các thành tựu trong kỹ thuật trồng rừng thâm canh đầu tư cao để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu được triển khai ở các vùng thấp (≤600m), rất ít các công trình nghiên cứu cho vùng núi cao trên 600m so với mực nước biển, nhất là ở các tình vùng núi phía Bắc, nơi có điều kiện khó khăn
về khí hậu và địa hình Bên cạnh đó cơ cấu cây trồng rừng ở vùng cao cũng rất
nghèo nàn Vì vậy, việc “Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây gỗ
phục vụ trồng rừng vùng núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng” là cần thiết
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 30Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đất lâm nghiệp còn tính chất đất rừng ở độ cao > 600m so với mực nước biển;
- Loài cây gồm 8 loài cả cây ngoại nhập và cây bản địa như sau:
1/ Bạch đàn micro (Eucalyptus microcorys), hạt từ vườn giống Ba Vì;
2/ Bạch đàn uro (Eucalyptus urophylla), hạt giống Ba Vì;
3/ Keo mơn si ai (Acacia mearnsii), xuất xứ Nowa Nowa và Bodala;
4/ Keo mela (Acacia melanoxylon), xuất xứ từ Bli Bli và Mt Mee Sellin;
5/ Keo lai (Acacia hybrids), hỗn hợp các dòng vô tính BV32 và BV33; 6/ Thông Caribe (Pinus caribaea), biến chủng Hondurensis;
7/ Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), xuất xứ giống Cao Bằng;
8/ Cáng lò (Betula alnoides) xuất xứ giống Cao Bằng
- Các mô hình nghiên cứu (mô hình khảo nghiệm loài và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng)
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá và tổng kết thực trạng các loài cây trồng rừng hiện có ở độ cao >600m so với mực nước biển ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, trong đó có tỉnh Cao Bằng
- Theo dõi, đánh giá sinh trưởng của các mô hình khảo nghiệm loài và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng đã bố trí thí nghiệm tại xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng
- Thời gian thực hiện của đề tài cấp Bộ từ 2012-2015, thời gian theo dõi tiếp theo của đề tài luận văn từ 2016-2017 Trong phạm vi luận văn này đã kế thừa một phần số liệu của đề tài cấp bộ và theo dõi số liệu sinh trưởng thêm 1 năm để bổ sung
2.2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được mục tiêu đã đặt ra, các nội dung nghiên cứu bao gồm các nội dung chính sau đây:
Trang 31- Đánh giá thực trạng các mô hình rừng trồng ở độ cao trên 600m so với mực nước biển
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của mô hình khảo nghiệm loài
- Đánh giá ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng
- Đề xuất các loài cây có triển vọng và biện pháp kỹ thuật trồng rừng cho vùng cao tỉnh Cao Bằng và các vùng có điều kiện sinh thái tương tự
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tổng quát
Đề tài tiếp cận nắm bắt thông tin ban đầu thông qua cán bộ lâm nghiệp ở địa phương như Chi cục lâm nghiệp, kiểm lâm, lâm trường và người dân địa phương, đồng thời kế thừa các tài liệu đã có về các loài cây đã có khảo nghiệm để lựa chọn
Kế thừa các kết quả nghiên cứu, các kỹ thuật tiến bộ, các quy phạm kỹ thuật trồng rừng, các quy trình kỹ thuật trồng rừng của các loài cây đã được nghiên cứu để vận dụng trong quá trình thiết lập thí nghiệm nghiên
Sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát kết hợp phương pháp kế thừa các kết quả phỏng vấn đã thu thập thông tin từ các mô hình đã có ở độ cao trên 600m so với mực nước biển Phương pháp chủ đạo là phương pháp kế thừa, đặc biệt là kế thừa các
mô hình khảo nghiệm loài và khảo nghiệm các biện pháp kỹ thuật của đề tài cấp bộ giai đoạn 2012-2015 của ThS Bùi Trọng Thủy, bố trí thí nghiệm theo phương pháp ngẫu nhiên lặp lại từ 3-4 lần theo tiêu chuẩn 04-TCN-147-2006 của Bộ NN&PTNT Thu thập số liệu theo phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn (OTC) Mỗi ô diện tích 500m2, trên mỗi ô đo đếm 30 cây Các chỉ tiêu đo đếm bao gồm: D00 hoặc D1,3, HVN, HDC,
DT Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học có sự trợ giúp của các phần
mềm máy tính như SPSS, Excel 7.0
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin và điều tra các mô hình đã có sẵn
- Thu thập thông tin chung: Sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát kết hợp với phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal- PRA) Kế thừa tài liệu, báo cáo đã có lập phiếu điều tra, phỏng vấn để thu thập thông tin từ các cơ quan quản lý, các cán bộ kỹ thuật và người dân địa
Trang 32phương (thông qua phiếu điều tra) để tổng kết, đánh giá các mô hình các loài cây và biện pháp kỹ thuật gây trồng đã áp dụng hiện nay ở vùng núi cao miền Bắc Việt Nam Các tỉnh đã điều tra thu thập thông tin từ cấp Chi cục (Chi cục Kiểm lâm và Lâm nghiệp) và cấp Sở gồm: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang và Quảng Ninh, mỗi tỉnh phỏng vấn 01 cán bộ quản lý và 01 cán bộ kỹ thuật Riêng tỉnh Cao Bằng có 13 huyện và thị xã, Bắc Kạn có 8 huyện và thị xã Đã điều tra phỏng vấn tại các phòng Nông nghiệp và các Hạt Kiểm lâm của cả 21 huyện và thị xã của 2 tỉnh, mỗi đơn vị hành chính phỏng vấn thu thập thông tin từ 03 cán bộ vừa quản lý vừa kỹ thuật Ngoài ra, còn phỏng vấn 12 chủ rừng, tổng cộng số người tham gia được phỏng vấn thu thập thông tin là 87 người Các thông tin được thu thập gồm: các loài cây trồng, kỹ thuật trồng từ ban đầu, năm trồng, mức đầu tư, sự
hỗ trợ của các cơ quan chức năng địa phương, điều kiện hoặc địa điểm trồng rừng, đánh giá về khả năng sinh trưởng, các thông tin về nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, điều kiện đất đai, …
- Điều tra các mô hình: Thông qua phỏng vấn đã xác định được ở Bắc Kạn có
5 mô hình và Cao Bằng có 7 mô hình trồng ở độ cao > 600m so với mực nước biển Mỗi mô hình lập 3 ÔTC, diện tích 500m2, trên mỗi ô đo đếm 30 cây Chỉ tiêu đo đếm gồm: D1,3, HVN, HDC, DT năm trồng, phương thức trồng, tỷ lệ hỗn giao, trồng bằng cây hạt hay cây hom hoặc cây rễ trần, tiêu chuẩn cây con đem trồng, mật độ trồng, biện pháp xử lý thực bì, làm đất, bón phân, chăm sóc
2.3.2.2 Phương pháp bố trí các thí nghiệm
Các thí nghiệm khảo nghiệm giống và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh mặc dù được kế thừa của đề tài cấp Bộ giai đoạn 2012-2015, nhưng phương pháp bố trí thí nghiệm được mô tả cụ thể như sau:
- Thí nghiệm 1 Về khảo nghiệm loài gồm 8 loài cây (phần đối tượng đã nêu
cụ thể), thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 khối có đủ 8 loài cây, mỗi loài cây trong 1 lần lặp lại có dung lượng mẫu lớn (n = 49 cây), mật độ trồng ban đầu là 1.110 cây/ha (cự ly: 3x3m) Các yếu
tố khác đồng nhất như: xử lý thực bì toàn diện, cuốc hố 40x40x40cm, phân bón lót gồm 0,2kg NPK (5:10:3) kết hợp với 2kg phân chuồng hoai, chăm sóc 2 lần/năm, tiêu chuẩn cây con có chiều cao từ 30-35cm, thời gian trồng và chăm sóc như nhau
Trang 33- Thí nghiệm 2 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của rừng trồng Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên đầy đủ, lặp lại 3 lần với 6 loài cây
ngoại nhập trên đất trống, gồm: 1/ Bạch đàn micro (E microcorys), 2/ Bạch đàn uro
(E urophylla), 3/ Keo mơn si ai (A mearnsii), 4/ Keo mela (A.melanoxylon), 5/ Keo lai (A hybrids), 6/ Thông Caribe (P caribaea), 7/ Xoan nhừ (Choerospondias
axillaris), 8/ Cáng lò (Betula alnoides) Mỗi loài cây đều được bố trí 3 công thức
(CT) bón phân khác nhau, gồm:
CT1 0,1 kg NPK (5:10:3) + 2kg phân chuồng hoai;
CT2 0,2 kg NPK (5:10:3) + 2kg phân chuồng hoai;
CT3 0,3 kg NPK (5:10:3) + 2kg phân chuồng hoai
Mật độ trồng là 1.110 cây/ha( 3x3m) với cây bản địa và 1.650 cây/ha (3x2m) với cây ngoại nhập Các yếu tố khác đều đồng nhất như : cuốc hố 40x40x40cm, tiêu chuẩn cây con, thời vụ trồng, chăm sóc
- Thí nghiệm 3 Ảnh hưởng của loài cây hỗn giao đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng, gồm 2 công thức thí nghiệm sau đây:
CT1 Bạch đàn uro + Xoan nhừ + Cáng lò;
CT2 Keo mela + Xoan nhừ + Cáng lò
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ lặp lại 3 lần, dung lượng mẫu lớn (n = 49) Trong các công thức thí nghiệm, các loài ngoại nhập là bạch đàn
và keo đóng vai trò như là cây phù trợ, cây bản địa (Xoan nhừ và Cáng lò) đóng vai trò cây trồng chính Phương thức hỗn giao theo hàng, cứ 1 hàng cây bản địa thì đến
1 hàng cây ngoại nhập Mật độ trồng chung bình các loài trong mô hình là 1.380 cây/ha Trong đó, mật độ trồng cây bản địa là 550 cây/ha (cự ly: 3x6m), cây ngoại nhập là 830 cây/ha (cự ly: 2x6m) Tức là hàng cách hàng 3m, cây bản địa trên hàng cách nhau 3m, nhưng cây ngoại nhập trên hàng cách nhau 2m Các yếu tố khác đồng nhất như nhau, mỗi hàng cây ngoại nhập lại đến một hàng cây bản địa
- Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của tiêu chuẩn cây con trong phương thức trồng làm giầu bằng cây Xoan nhừ và Cáng lò Mỗi loài bố trí riêng trong các loại băng chặt khác nhau, nhưng tiêu chuẩn cây con và kích thước băng chặt giống nhau Băng chặt rộng 4m thì băng chừa cũng rộng 4m, băng chặt rộng 6m thì băng chừa cũng rộng 6m Đối với băng 4m trồng 1 hàng cây, cự ly giữa các cây trên hàng là
Trang 341,5m Đối với băng chặt rộng 6m trồng trồng 2 hàng thì hàng nọ cách hàng kia 3m
và cây nọ cách cây kia trên hàng 2m Trên các băng chặt có kích thước khác nhau lại trồng cây con theo 3 tiêu chuẩn khác nhau, bố trí thí nghiệm theo phương pháp ngẫu nhiên 3 lần lặp, gồm các công thức thí nghiệm sau:
* Băng rộng 4m gồm 3 tiêu chuẩn cây sau:
Các yếu tố khác như làm đất, bón phân, chăm sóc đồng nhất như nhau
2.3.2.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
- Định kỳ thu thập số liệu 12 tháng 1 lần vào cuối cuối mùa sinh trưởng
- Thu thập số liệu theo phương pháp điều tra OTC định vị, diện tích 500m2
- Các chỉ tiêu thu thập gồm: Tỷ lệ sống (TLS), chiều cao (Hvn), đường kính gốc hoặc đường kính ngang ngực (D00/D1,3), đường kính tán lá (Dt)
- Xử lý số liệu phương pháp thống kê sinh học có sử dụng các phần mềm chuyên dụng với sự trợ giúp của máy tính điện tử như các phần mềm SPSS, Excel 7.0
- Đánh giá sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm theo tiêu chuẩn F Nếu xác xuất của F tính toán được (Fpr) <0,05 thì có sự sai khác rõ rệt và ngược lại
- Một số công thức tính toán được sử dụng như sau:
* Thể tích của 1 cây được tính theo công thức: V = ( x d2)/4 x h x f)/10.000 Trong đó: V là thể tích, đơn vị là m3, = 3.14, d là đường kính 1,3m (cm), h là chiều cao vút ngọn (m), f là hình số được lấy giả định = 0,5
* Năng suất trung bình tính cho 1 ha theo công thức: ∆M = (V x N x TLS)/A Trong đó: ∆M là lượng tăng trưởng trữ lượng gỗ (m3/ha/năm), V là thể tích thân cây trung bình (m3), N là mật độ trồng ban đầu (cây/ha), TLS là tỷ lệ sống (%),
A là tuổi của khu khảo nghiệm
Trang 35Bảng 2.1 Tổng hợp diện tích khảo nghiệm loài
Bảng 2.2 Tổng hợp diện tích các thí nghiệm về kỹ thuật trồng rừng
Trang 36Tuy diện tích các thí nghiệm các biện pháp kỹ thuật trồng rừng khá lớn (bảng 2.1 và bảng 2.2), nhưng số liệu chỉ thu thập trong OTC có diện tích 500m2, 3 lần lặp lại ≈ 1.500m2 (≈0,15ha), dung lượng mẫu lớn (n=30)
2.4 Đặc điểm khí hậu, địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu
Trà lĩnh là huyện miền núi, có địa hình khá phức tạp, tạo nên các khu, các vùng địa hình khác nhau Vùng thì núi non hiểm trở, vùng thì đồi núi xen kẽ các thung lũng nhỏ hẹp Phía Tây Bắc của huyện có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với cấu trúc chủ yếu là đá vôi phong hóa mạnh, tạo ra nhiều hang động (Castơ) Phần phía Đông và phía Đông Nam là các dãy đồi thoải nhấp nhô liên tiếp nhau không theo hướng nhất định, khu vực trung tâm huyện tạo thành vùng thung lũng tương đối bằng phẳng Huyện Trà Lĩnh là khu vực thấp trũng so với các huyện lân cận, đặc biệt thấp hơn nhiều so với nước bạn Trung Quốc, đã dẫn tới hiện tượng trữ nước, khí hậu á nhiệt đới thể hiện rõ rệt
Địa mạo của huyện có thể chia thành hai miền khác nhau như sau:
* Miền núi đá vôi
Bao gồm các xã: Cô Mười, Quang Vinh, Lưu Ngọc, Tri Phương, Quang Trung
và một phần Cao Chương, Quốc Toản Vùng này có độ cao trung bình từ 700-800m
so với mặt nước biển, quá trình castơ phát triển mạnh làm cho địa hình hiểm trở, nhiều suối ngầm Vấn đề mất nước xảy ra thường xuyên ngay cả sau trận mưa (nước thấm qua khe castơ về khu vực hồ Thăng Hen qua huyện Hòa An chảy về sông Bằng Giang) Do đó, về mùa khô thường thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất và đời sống, ở vùng này không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu dành cho mục đích lâm nghiệp theo hướng khoanh nuôi bảo vệ, tái sinh rừng phòng
hộ đầu nguồn
* Miền đồi cao núi thấp
Đây là miền kéo dài từ khu vực cửa khẩu Trà Lĩnh qua huyện lỵ được phân bố trên các phần đất thuộc thị trấn Hùng Quốc và các xã: Quang Hán, Xuân Nội và một phần Cao Chương, Quang Trung, Quốc Toản có độ cao trung bình từ 600-800m so với mực nước biển, độ dốc trung bình 25- 400 (phần lớn là 30-350) hình thể ở đây là các dãy núi thấp đan chéo vào các dải đồi cao không theo hướng nhất định Giữa
Trang 37các vùng đồi núi tạo nên các thung lũng thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp Khu vực này có thể khai thác cho sản xuất nông lâm kết hợp
Nhìn chung, huyện Trà Lĩnh là một huyện có nhiều núi đá vôi chiếm trên 60% diện tích đất tự nhiên Điều kiện địa hình của huyện đã gây ra những hạn chế không nhỏ cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là những xã vùng cao, vùng sâu như xã Lưu Ngọc và xã Quang Vinh Đất đồi có độ dốc lớn cộng với rừng bị chặt phá khai thác bừa bãi các năm trước 1990 đã làm tăng thêm sụt lở, xói mòn ở nhiều nơi trong huyện
Trà Lĩnh là huyện có nguồn tài nguyên rừng khá phong phú và đa dạng Diện tích đất lâm nghiệp hiện có 18.789,9 ha, độ che phủ rừng đạt 52,5% Rừng Trà Lĩnh có nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm Tuy nhiên thảm thực vật tự nhiên Trà Lĩnh còn lại thưa thớt, có trữ lượng không cao, phân bố không đều trên địa bàn huyện, các vùng rừng tập trung chủ yếu ở những nơi hiểm trở, ven biên giới với nước bạn Trung Quốc Các quần thể thực vật ở huyện phân bố theo các
độ cao khác nhau
Bảng 2.3 Tổng hợp thông tin về điều kiện tự nhiên ở địa điểm xây dựng mô hình
(Trích nguồn khí hậu: Niên giám thống kê tỉnh, Cao Bằng từ năm 2011 đến năm 2015)
Hệ động vật rừng của huyện còn khá phong phú, với các loài động vật như: Nai, Sóc …Tuy nhiên do tình trạng khai thác rừng làm nương rẫy, săn bắn thú rừng
Trang 38bừa bãi đã làm cho hệ động thực vật rừng của huyện đang mất dần tính đa dạng và giảm dần về số lượng Mô hình nghiên cứu tại xã Quang Hán, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng có độ cao 718m (bảng 2.3)
SƠ ĐỒ ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG MÔ HÌNH
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng các mô hình rừng trồng ở độ cao trên 600m
Kết quả điều tra phỏng vấn các Sở NN&PTNT cũng như các Chi cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm các tỉnh cho thấy các tỉnh vùng núi Đông Bắc rất ít các mô hình trồng rừng ở độ cao trên 600m so với mực nước biển, hoặc có nhưng qui mô chưa đủ lớn để điều tra đánh giá Riêng hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn có một số
mô hình đã trồng được từ 6 năm tuổi đến 14 năm tuổi Vì thế, các phần trình bày dưới đây tập trung chủ yếu ở 12 mô hình đã trồng ở hai tỉnh này Trong đó, Cao Bằng 7 mô hình và Bắc Kạn có 5 mô hình
3.1.1 Về loài cây và phương thức trồng
Hầu hết các mô hình đã được điều tra đều được trồng ở độ cao từ 600-700m so với mực nước biển, đây là ngưỡng dưới của vùng cao, do hầu hết các nghiên cứu trước đây chủ yếu nghiên cứu ở vùng thấp, cao nhất chỉ lên tới 600m so với mực nước biển Kết quả điều tra các mô hình rừng trồng ở vùng cao (bảng 3.1 và 3.2) cho thấy ở Bắc Kạn có 5 mô hình với 5 loài, gồm: Keo lai, Bạch đàn uro, Bạch đàn camal, Mỡ và Thông mã vĩ; ở Cao Bằng có 7 loài, gồm: Keo lai, Bạch đàn uro, Bạch đàn camal, Thông mã vĩ, Thông caribê, Xoan nhừ và Cáng lò Hầu hết các mô hình đều được áp dụng phương thức trồng thuần loài
3.1.2 Về kỹ thuật xử lý thực bì, trồng và chăm sóc rừng trồng
- Đối với Keo lai:
Kết quả điều tra phỏng vấn chủ rừng của 2 mô hình trồng Keo lai 7 và 8 năm tuổi ở 2 tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho thấy nơi trồng rừng trước đây là đất sau nương rãy, cây bụi lúp xúp thưa với độ che phủ từ 30-40%, đất còn tính chất đất rừng Mô hình 7 tuổi tại tỉnh Bắc Kạn là trồng năm 2005, thu thập số liệu năm 2012; mô hình 8 năm tuổi tại Cao Bằng trồng năm 2004, thu thập số liệu năm 2012 Địa hình là dạng địa hình đồi thấp, tương đối bằng phẳng, độ dốc <15 độ, đất feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất Kỹ thuật xử lý thực bì toàn diện bằng cách phát dọn và thu gom theo đường đồng mức, cuốc hố thủ công, kích thước
Trang 4030x30x30cm; bón lót 0,2kg NPK/hố, loại có tỷ lệ NPK = 5:10:3 Trồng bằng cây con có bầu tạo bằng phương pháp giâm hom, chiều cao trung bình khi trồng ≈ 30cm, thời vụ trồng chủ yếu vào tháng 4-5 Mật độ trồng ban đầu là 1.660 cây/ha,
cự ly: 3x2m, tức là hàng cách hàng 3m, cây cách cây trên hàng 2m Chăm sóc trong
3 năm đầu, mỗi năm 2 lần Tuy nhiên, chỉ thực hiện chăm sóc 2 năm đầu, mỗi năm
2 lần, năm thứ 3 chăm sóc 1 lần Nội dung chăm sóc chủ yếu là phát dọn toàn diện dây leo cây bụi trên toàn diện tích, không bón thúc phân
- Đối với Bạch đàn uro:
Kết quả điều tra các mô hình rừng trồng Bạch đàn uro 6 năm tuổi (trồng năm
2006, điều tra năm 2012) tại tỉnh Cao Bằng và mô hình 7 năm tuổi (trồng năm
2005, điều tra năm 2012) tại tỉnh Bắc Kạn (bảng 3.1 bà 3.2) cho thấy dạng địa hình trồng chủ yếu là đồi núi thấp, cũng là đất bỏ hóa sau nương rãy, thực bì là cỏ và cây bụi có độ che phủ khoảng 50-60% Xử lý thực bì toàn diện bằng phương pháp và đốt Làm đất thủ công, cuốc hố kích thức 30x30x30cm, bón lót phân NPK(5:10:3), bón 02kg/hố.Trồng rừng bằng cây con có bầu được tạo ra từ hạt, có chiều cao trung bình từ 25-30cm, thời vụ trồng vào tháng 5 Mật độ trồng rừng ban đầu là 1.660 cây/ha, cự ly: 3x2m
- Đối với Bạch đàn camal:
Mô hình Bạch đàn camal 8 tuổi tại tỉnh Cao Bằng (trồng năm 2004, điều tra năm 2012) và mô hình 10 năm tuổi (trồng năm 2002, điều tra năm 2012) tại tỉnh Bắc Kạn (bảng 3.1 và 3.2) cho thấy các mô hình rừng trồng Bạch đàn camal đều được trồng trên dạng địa hình núi thấp, trên đất nương rẫy cũ, thực bì chủ yếu là cỏ
và cây bụi với độ che phủ từ 40-50% Theo chủ rừng thì phương pháp xử lý thực Trồng rừng bằng cây con có bầu được tạo ra từ hạt, xử lý thực bì toàn diện, cuốc hố thủ công kích thước 30x 30x30cm; bón lót 0,2kg NPK/hố Mô hình được phát thực
bì chủ yếu là phát đốt toàn diện, cuốc hố thủ công với kích thước hố là 30x30x30cm Trồng rừng bằng cây con có bầu được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô, cây con khi trồng có chiều cao từ 20-25cm, thời vụ trồng rừng vào tháng 4- 5 Mật độ trồng rừng ban đầu là 1.660 cây/ha, cự ly: 3x2m Chăm sóc 3 năm đầu, mỗi năm 2 lần Nội dung chăm sóc chủ yếu là phát dọn toàn diện dây leo cây bụi trên toàn diện tích, không bón thức phân