1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)

105 241 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

HOÀNG THỊ THANH HIỀN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYẾN TỈNH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

HOÀNG THỊ THANH HIỀN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TUYẾN TỈNH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Khoa học môi trường

Mã ngành: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thế Đặng

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan các thông tin trích trong luận văn đều đã được ghi

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Thanh Hiền

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường cùng các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã dạy

dỗ, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự động viên to lớn của gia đình và bạn bè thân thiết

đã dành cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài./

Thái nguyên, ngày 20 tháng 12 năm 2017

Học viên

Hoàng Thị Thanh Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iii

DANH MUC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và đóng góp của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Khái niệm thuật ngữ liên quan 4

1.1.2 Đặc điểm của chất thải y tế nguy hại (Trịnh Thị Thanh, 1998) [12] 5

1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe cộng đồng và môi trường 5 1.1.4 Quản lý chất thải rắn trong bệnh viện 8

1.1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải y tế 17

1.2 Cơ sở pháp lý 18

1.3 Cơ sở thực tiễn 20

1.3.1 Tình hình quản lý chất thải y tế trên thế giới 20

1.3.2 Tình hình quản lý chất thải y tế ở Việt Nam 22

1.3.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Thái Nguyên 26

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.2 Nội dung nghiên cứu 28

2.2.1 Giới thiệu chung về lĩnh vực y tế tại tỉnh Thái Nguyên 28

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 28

2.2.3 Đánh giá chung về công quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 28

Trang 6

2.2.4 Đánh giá công tác quản lý chất thải tại Bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên qua ý kiến phỏng vấn cán bộ y tế, bệnh nhân,

người nhà bệnh nhân 28

2.2.5 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 29

2.3.2 Phương pháp xử lý thông tin 30

2.3.3 Phương pháp phân tích 30

2.4 Xây dựng các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá 31

2.5 Xác định mức độ quan trọng của các tiêu chí 34

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Giới thiệu chung về lĩnh vực y tế tại tỉnh Thái Nguyên 36

3.1.1 Đánh giá chung về hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 36

3.1.2 Đánh giá chung về công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện 38

3.1.3 Giới thiệu khái quát về các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 41

3.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 44

3.2.1 Tải lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại các bệnh viện 44

3.2.3 Thành phần CTRYT 47

3.2.4 Công tác phân loại và thu gom CTRYT 48

3.2.6 Công tác vận chuyển, lưu trữ 57

3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 61

3.3.1 Đánh giá về công tác phân loại, vận chuyển, xử lý, thu gom và lưu trữ CTYT 61 3.3.2 Tồn tại và nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý CTYT tại các Bệnh viện 64

3.4 Đánh giá công tác quản lý chất thải tại Bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên qua ý kiến phỏng vấn cán bộ y tế - bệnh nhân, người nhà bệnh nhân 66 3.4.1 Đánh giá hiểu biết và thái độ của cán bộ, nhân viên y tế bệnh viện 66

Trang 7

3.4.2 Đánh giá công tác quản lý chất thải tại Bệnh viện qua ý kiến phỏng

vấn bệnh nhân, người nhà bệnh nhân 70

3.4.3 Cơ cấu tổ chức cho công tác quản lý chất thải 72

3.5 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 73

3.5.1 Giải pháp xử lý chất thải y tế 73

3.5.2 Phân loại và bao gói rác thải y tế 74

3.5.3 Thu gom, vận chuyển và lưu trữ rác thải 75

3.5.4 Nâng cao năng lực quản lý, đào tạo và truyền thông nâng cao nhận thức trong bệnh viện 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

1 Kết luận 78

2 Kiến nghị 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 8

DANH MUC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu Tên ký hiệu

BV : Bệnh viện

BVMT : Bảo vệ môi trường

CBCNV : Cán bộ công nhân viên

CTLN : Chất thải lây nhiễm

CTNH : Chất thải nguy hại

NVYT : Nhân viên y tế

PKĐKKV : Phòng khám ða khoa khu vực QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

QLCT : Quản lý chất thải

QLMT : Quản lý môi trường

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam,

TYT : Trạm y tế

XLNT : Xử lý nước thải

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Nội dung quy trình quản lý CTRYT 13

Bảng 1.2 Lượng chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới 22

Bảng 1.3 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế 23

Bảng 1.4 Khối lượng chất thải y tế ở một số địa phương năm 2009 23

Bảng 1.5 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 25

Bảng 2.1 Ví dụ về tiêu chí đánh giá việc phân loại CTR bệnh viện 32

Bảng 3.1 Quy mô giường bệnh của các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 37 Bảng 3.2 Danh sách một số cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thực hiện đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại 38

Bảng 3.3 Bình quân khối lượng chất thải theo quy mô giường bệnh 44

Bảng 3.4 Khối lượng CTYT của bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh Thái Nguyên 44

Bảng 3.5 Nguồn thải từ hoạt động khám chữa bệnh 46

Bảng 3.6: Đánh giá công tác phân loại rác thải tại các bệnh viện 49

Bảng 3.7: Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại Bệnh viện A 51 Bảng 3.8: Thực trạng thu gom, phân loại CTRYT tại Bệnh viện C 52

Bảng 3.9: Thực trạng thu gom, phân loại CTRYT tại Bệnh viện Gang Thép 53 Bảng 3.10: Đánh giá công tác xử lý rác thải tại các bệnh viện 55

Bảng 3.11: Thực trạng vận chuyển, lưu trữ chất thải rắn y tế tại Bệnh viện C 57

Bảng 3.12: Thực trạng vận chuyển, lưu trữ CTRYT tại Bệnh viện A 58

Bảng 3.13: Thực trạng vận chuyển, lưu trữ CTRYT tại Bệnh viện Gang Thép 59

Bảng 3.14: Đánh giá công tác vận chuyển rác thải tại các bệnh viện 62

Bảng 3.15: Đánh giá công tác lưu trữ rác thải tại các bệnh viện 63

Bảng 3.16: Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải 66

Bảng 3.17 Hiểu biết của cán bộ bệnh viện và vệ sinh viên về nhóm đối tượng dễ bị tổn thương bởi chất thải y tế 67

Bảng 3.18: Trách nhiệm của cán bộ y tế và vệ sinh viên về quản lý CTYT 68

Bảng 3.19: Đánh giá của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về công tác quản lý chất thải tại Bệnh viện 70

Trang 10

Bảng 3.20 Đánh giá ý thức, hiểu biết của bệnh nhân, người nhàbệnh nhân về

chất thải Bệnh viện 71 Bảng 3.21 Kết quả điều tra về cơ cấu tổ chức dành cho công tác QLCT 72

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Khối lượng CTYT của bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh Thái Nguyên 45 Hình 3.2 Biểu đồ so sánh công tác thu gom, phân loại CTRYT tại 03 bệnh viện 55 Hình 3.3 Biểu đồ so sánh công tác vận chuyển và lưu trữ CTRYT tại các bệnh viện 60 Hình 3.4 Biểu đồ so sánh sự hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về

phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải 67

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, vấn đề môi trường được các quốc gia và cộng đồng trên Thế giới đặc biệt quan tâm Bởi lẽ ô nhiễm, suy thoái và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn về lâu dài cho các thế hệ mai sau Toàn Thế giới đều đã nhận thức được rằng: Phải bảo vệ môi trường mới có thể giúp xã hội loài người phát triển bền vững

Một trong những công việc quan trọng giúp bảo vệ môi trường đó là giải quyết vấn đề ô nhiễm, bao gồm: giải quyết ô nhiễm do những nguồn nước thải, ô nhiễm các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, sinh học, các chất thải trong y tế… Để xử lý các loại chất thải trên không phải đơn giản Với mỗi loại chất thải, chúng ta cần có những biện pháp xử lý khác nhau từ khâu thu gom đến khâu tiêu hủy cuối cùng Trong số các loại chất thải, chất thải y tế được xem là khá nguy hại vì tính chất phức tạp và khả năng lây nhiễm cao, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cộng đồng Việc quản lý tốt, xử lý triệt để loại chất thải này là vấn đề chính quyền và lãnh đạo nhiều cơ sở y tế các cấp đặc biệt quan tâm Xu thế áp dụng các kỹ thuật cao trong điều trị bệnh cũng như việc gia tăng sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y

tế đã khiến lượng chất thải y tế phát sinh ngày càng nhiều, trong đó có nhiều nhóm chất thải thuộc loại nguy hiểm đối với môi trường và con người

Theo Tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng

xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị

Trong thời gian qua, các cơ sở y tế đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý chất thải, góp phần thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường trong ngành y tế Tuy nhiên, công tác quản lý chất thải y tế nói riêng và quản lý môi trường nói chung tại các bệnh viện vẫn đang bộc lộ một số bất cập Nguyên nhân chủ yếu là do các cơ sở y tế chưa

có đủ nguồn lực trong công tác quản lý môi trường, đồng thời ngành y tế vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể cho công tác quản lý chất thải y tế

Trang 12

Tỉnh Thái Nguyên có 01 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 13 bệnh viện tuyến tỉnh, 8 bệnh viện đa khoa tuyến huyện, 9 trung tâm y tế huyện, thành phố và nhiều cơ sở khám chữa bệnh, là một trong các nguồn chính xả chất thải y tế

Hầu hết các bệnh viện tuyến tỉnh đã triển khai thực hiện công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện theo hướng dẫn của Sổ tay hướng dẫn quản lý chất thải y tế trong bệnh viện được ban hành theo Quyết định số 105/QĐ-MT ngày 03/7/2014 của Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mới đối với bệnh viện nên trong quá trình triển khai thực hiện các bệnh viện đã gặp không ít những khó khăn, thách thức và bất cập như hệ thống xử lý chất thải được xây dựng không phù hợp và hoạt động kém hiệu quả; Các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, không đảm bảo vệ sinh; nhận thức về thực hành xử

lý chất thải trong các bộ y tế, nhân viên làm công tác xử lý chất thải và bệnh nhân còn chưa cao

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng

và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn thạc sỹ, với mong

muốn đề tài sẽ nhìn nhận thẳng thắn về thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện hiện nay, có rất nhiều thách thức đặt ra cần phân tích đầy đủ các nguyên nhân khách quan, chủ quan, từ đó tìm ra các giải pháp ngắn hạn, dài hạn nhằm nâng cao công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải y tế (CTYT) tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nhằm giảm thiểu các yếu tố nguy hại đến sức khỏe con người và môi trường của CTYT phát sinh từ các cơ sở y tế để bảo vệ sức khỏe của nhân viên y tế (NVYT), người bệnh và cộng đồng xung quanh

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Khái quát thực trạng chất thải y tế của các bệnh viện nghiên cứu

- Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế của các bệnh viện nghiên cứu

Trang 13

- Đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế (CTYT) tại một số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Bệnh viện A, Bệnh viện C và Bệnh viện Gang Thép)

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Bệnh viện A, bệnh viện C và bệnh viện Gang Thép)

3 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và đóng góp của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn

- Về mặt lý luận

Luận văn tổng kết kết quả nghiên cứu lý luận về chương trình quản lý chất thải

y tế trong thời gian qua

3.2 Đóng góp của luận văn

- Đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất thải y tế hiện nay, làm rõ khái niệm về chất thải y tế và nghiên cứu các nội dung quản lý CTYT hướng dẫn của Sổ tay hướng dẫn quản lý chất thải y tế trong bệnh viện được ban hành theo Quyết định số 105/QĐ-MT ngày 03/7/2014 của Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế

- Làm rõ thực trạng hoạt động quản lý CTYT tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2016, đi sâu phân tích những mặt còn hạn chế làm ảnh hưởng đến việc xử lý CTYT tại bệnh viện

- Đưa ra một số giải pháp trực tiếp cũng như gián tiếp, tác động trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn nhằm tăng cường quản lý CTYT tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Các giải pháp này đều là những giải pháp thiết thực, tập trung giải quyết vấn đề còn hạn chế nhằm tăng cường quản lý CTYT tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Khái niệm thuật ngữ liên quan

- Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường Chất thải y tế phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo y tế [10]

- Chất thải y tế thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly) + Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại

+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh [10]

- Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [13]

- Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y

tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện [10]

- Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế [13]

- Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải

y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế [13]

Trang 15

- Cơ sở y tế bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học [13]

1.1.2 Đặc điểm của chất thải y tế nguy hại (Trịnh Thị Thanh, 1998) [12]

- Tiếp xúc với CTYT nguy hại có thể có nguy cơ bị chấn thương hoặc nhiễm mầm bệnh Chất thải y tế nguy hại có một số đặc tính như: Có khả năng lây nhiễm; gây độc gen, gây độc tế bào; có chứa độc chất, hóa chất độc hại; có tính ăn mòn; có tính phóng xạ (đối với các cơ sở có xạ trị); sắc nhọn

- Tất cả mọi người khi tiếp xúc với CTYT nguy hại đều có thể có khả năng bị tác động xấu tới sức khỏe Các đối tượng có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn nhất của CTYT nguy hại bao gồm:

+ Cán bộ, NVYT: Bác sĩ, y sĩ, y tá, điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ lý, y công,

nhân viên văn phòng, sinh viên thực tập, công nhân vận hành các công trình xử lý chất thải,…

+ Nhân viên của các đơn vị hoạt động trong BV: Nhân viên công ty vệ sinh môi trường, nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang lễ, trung tâm khám nghiệm tử thi,…

+ Đối tượng khác: Người tham gia vận chuyển, xử lý CTYT ngoài khuôn viên

BV, người liên quan đến bãi chôn lấp rác và người nhặt rác; bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú; người nhà bệnh nhân và khách thăm; cộng đồng và môi trường xung quanh cơ sở y tế; cộng đồng sống ở vùng hạ lưu các con sông tiếp nhận các nguồn

chất thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu của các cơ sở y tế

1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe cộng đồng và môi trường

a Ảnh hưởng của chất thải y tế tới sức khỏe

- Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn

Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người, nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết

Trang 16

đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải

có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV), virus HIV, (Kỳ Phương, 2009) [9]

- Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm

CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… Chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong BV Chẳng hạn một

số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến BV, nhưng khi đến và làm việc trong BV sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở (Bộ Y tế, 2006) [2]

- Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm

Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng,… Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường

da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,… Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:

+ Thủy ngân là một chất độc hại trong CTYT Thủy ngân có mặt trong một

số thiết bị y tế, nhất là các thiết bị chẩn đoán như: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân, và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử dụng

bị vỡ

+ Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong BV, chúng thường có tính

ăn mòn và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn

+ Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệ thống thoát nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận

Trang 17

+ Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa dược phẩm Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại kháng sinh, các thuốc khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận (Đại học Y Thái Nguyên, 2007) [4]

- Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào

Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường:

hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt

là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da (Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, 2017) [14]

- Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ

Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Trong BV, các chất phóng xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền (Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường, 2017) [14]

b Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường (Hoàng Thị Liên, 2009) [7]

- Đối với môi trường đất: Quản lý CTYT không đúng quy trình và việc tiêu hủy CTYT tại các bãi chôn lấp không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,… gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn

- Đối với môi trường không khí: Chất thải y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí Bụi rác, bào tử

vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất, phát sinh trong các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển

Trang 18

Trong khâu xử lý, đặc biệt là với các lò đốt CTYT quy mô nhỏ, không có thiết

bị xử lý khí thải có thể phát sinh ra các chất khí độc hại như sau:

+ Ô nhiễm bụi: khi nhiệt độ đốt không đủ hoặc không tuân thủ đúng quy trình vận hành, lượng chất thải nạp vào lò quá lớn sẽ làm phát tán bụi, khói đen và các chất độc hại

+ Các khí axit: Do trong CTYT có thể có chất thải làm bằng nhựa PVC, hoặc chất thải dược phẩm khi đốt có nguy cơ tạo ra hơi axit

+ Dioxin và Furan: Trong quá trình đốt cháy chất thải có thành phần halogen (Cl, Br, F) ở nhiệt độ thấp có thể hình thành dioxin và furan là những chất rất độc dù ở nồng độ nhỏ

+ Kim loại nặng: đối với những kim loại nặng dễ bay hơi như thủy ngân có thể phát sinh từ các lò đốt CTYT nếu trong quá trình phân loại không tốt

Ngoài ra, một số phương pháp xử lý khác như chôn lấp có thể phát sinh các chất

gây ô nhiễm cho môi trường không khí

- Đối với môi trường nước: Nước thải từ các cơ sở y tế có thể chứa Salmonella,

Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại,

chất hữu cơ, kim loại nặng Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả,

thương hàn, viêm gan A,… cho những người sử dụng các nguồn nước này

1.1.4 Quản lý chất thải rắn trong bệnh viện

1.1.4.1 Quy định về phân định, phân loại CTRYT

* Chất thải lây nhiễm (CTLN)

- Chất thải sắc nhọn bao gồm: các loại kim tiêm, kim luồn, kim bướm, kim chọc

dò, kim châm cứu thải bỏ; ống pipet, ống mao dẫn, ống xét nghiệm thủy tinh bị vỡ; lưỡi dao mổ, lưỡi dao cạo dùng cho người bệnh;…

- Chất thải rắn lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: các chất thải thấm máu, dịch

cơ thể; các chất thải phát sinh từ phòng bệnh cách ly; dây truyền dính máu, truyền plasma (bao gồm cả túi máu); găng tay y tế;…

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao là chất thải phát sinh trong các phòng xét

Trang 19

nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Chất thải giải phẫu bao gồm: các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người được thải ra sau phẫu thuật; nhau thai, thai nhi; xác động vật thí nghiệm (Cục Quản lý Môi trường Y

tế, 2015) [3]

* Chất thải hóa học nguy hại

- Các loại thuốc kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, thuốc quá hạn

sử dụng

- Các loại hóa chất, chất khử khuẩn thải chứa các thành phần hóa học nguy hại; chất hàn răng amalgan thải

- Các thuốc gây độc tế bào thải bỏ

- Vỏ chai, lọ đựng các loại: thuốc gây độc tế bào (cytotoxic và cytostatic); các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào; các loại thuốc kháng sinh;…

- Nhiệt kế thủy ngân hỏng, huyết áp kế thủy ngân hỏng

- Bóng đèn huỳnh quang hỏng; pin thải, ắc quy thải; vật dụng, thiết bị điện tử thải bỏ và các vật liệu có chì thải bỏ

- Bùn thải từ quá trình xử lý nước thải có chứa các chất vượt ngưỡng quy định tại QCVN 50:2013/BTNMT

- Tro thải từ quá trình xử lý chất thải rắn y tế có chứa các chất vượt ngưỡng quy định tại QCVN07:2009/BTNMT (Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

* Chất thải phóng xạ

- Các thuốc hoặc hóa chất có chất phóng xạ thải bỏ theo Danh mục thuốc phóng

xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị tại Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế

- Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chẩn đoán, điều trị có chất phóng

xạ thải bỏ; bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, quần áo, găng tay y tế nhiễm xạ, giấy thấm, bông gạc,… (Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

* CTRYT thông thường

Trang 20

Chất thải rắn y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, bao gồm:

- Chất thải không có khả năng tái chế

+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các khoa, phòng, các buồng bệnh không cách

ly không có khả năng tái chế

+ Chất thải ngoại cảnh: rác thải từ khu vực ngoại cảnh

+ Bột bó trong gẫy xương kín không bị lây nhiễm, các mảnh kính vỡ, chai, lọ thủy tinh vỡ (loại chai lọ không dùng để chứa các hóa chất độc hại, thuốc có thành phần độc hại) không phát sinh từ các buồng bệnh cách ly hoặc các loại đinh và các vật sắc nhọn sử dụng trong xây dựng, sửa chữa của cơ sở y tế

- Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải y tế có nồng độ các yếu tố nguy hại dưới ngưỡng theo quy định của QCVN 50:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước; tro của lò đốt chất thải y tế

có nồng độ các yếu tố nguy hại dưới ngưỡng theo quy định của QCVN 07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại

- Chất thải y tế lây nhiễm sau khi xử lý bằng công nghệ khử khuẩn an toàn không có khả năng tái chế

- Chất thải có khả năng tái chế

+ Từ hoạt động văn phòng, sinh hoạt trong cơ sở y tế: Giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng carton, túi nilon, túi đựng phim; chai, lọ, lon nước uống giải khát bằng nhựa hoặc kim loại; thức ăn thải từ căng tin, nhà ăn;

+ Từ hoạt động chuyên môn y tế: Các dây dịch truyền không dính máu, dính dịch cơ thể người; chai nhựa, đồ nhựa, các túi nilon, giấy bóng, giấy bọc, can nhựa không chứa chất lây nhiễm, không có chất hóa học gây độc hoặc nhiễm chất phóng xạ;… (Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

1.1.4.2 Quy định mã màu sắc, tiêu chuẩn các dụng cụ, bao bì đựng và vận chuyển

Trang 21

chất thải rắn trong bệnh viện (Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

* Quy định mã màu sắc

- Màu vàng hoặc tông màu vàng đựng chất thải lây nhiễm

- Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ

- Màu xanh hoặc tông màu xanh đựng chất thải thông thường

- Màu trắng hoặc tông màu trắng đựng chất thải có khả năng tái chế

* Túi đựng chất thải

- Túi màu vàng và màu đen phải làm bằng nhựa PE/PP

- Các túi đựng chất thải phải tuân theo hệ thống màu theo quy định và sử dụng đúng mục đích

* Dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn:

Hộp đựng chất thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn:

- Thành và đáy cứng không bị xuyên thủng, có khả năng chống thấm

- Thùng màu vàng để thu gom các túi, hộp chất thải màu vàng

- Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen Đối với chất thải phóng

xạ, thùng đựng phải làm bằng kim loại

- Thùng màu xanh để thu gom các túi chất thải màu xanh

- Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu trắng

Trang 22

- Dung tích thùng tùy vào khối lượng chất thải phát sinh

* Biểu tượng chỉ loại chất thải

Mặt ngoài túi, thùng đựng một số loại CTNH và chất thải để tái chế phải có biểu tượng chỉ loại chất thải phù hợp

+ Túi, thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm có biểu tượng nguy hại sinh học + Túi, thùng màu đen đựng chất thải gây độc tế bào có biểu tượng chất gây độc

tế bào kèm dòng chữ “chất gây độc tế bào”

+ Túi, thùng màu đen đựng chất thải phóng xạ có biểu tượng phóng xạ và dòng

chữ “chất thải phóng xạ”

+ Túi, thùng màu trắng đựng chất thải để tái chế có biểu tượng tái chế

* Xe vận chuyển chất thải

Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, nắp và đáy kín,

dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô

* Nơi đặt các túi và thùng đựng chất thải

- Tại các khoa phòng: phải được trang bị đầy đủ dụng cụ thu gom chất thải và

để ở nơi thuận tiện nhất; các dụng cụ thu gom chất thải cần trang bị nhiều loại kích cỡ phù hợp với điều kiện thu gom của từng khoa/phòng

- Trên xe tiêm và xe làm thủ thuật phải được trang bị đầy đủ dụng cụ để thu gom, phân loại chất thải phát sinh

- Mỗi khoa phòng cần bố trí một nơi riêng để lưu giữ tập trung tạm thời các chất thải theo từng loại trước khi thu gom về khu lưu giữ chất thải của BV

- Các thùng thu gom chất thải ở khu vực buồng bệnh phải luôn khô ráo và được

vệ sinh thường xuyên Bên trong mỗi thùng thu gom chất thải luôn được đặt túi nilon có màu sắc tương ứng với loại chất thải thu gom Không được bỏ trực tiếp chất thải vào các thùng thu gom chất thải chưa được đặt túi nilon ở bên trong

1.1.4.3 Quy trình quản lý CTRYT (Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

Trang 23

Bảng 1.1 Nội dung quy trình quản lý CTRYT Trách nhiệm Các bước thực

+ Chất thải lây nhiễm

+ Chất thải hóa học nguy hại

+ Chất thải phóng xạ

+ Chất thải thông thường

- Phân loại chất thải ngay sau khi phát sinh, thải bỏ và cô lập vào dụng cụ thu gom phù hợp với từng loại chất thải theo

- NVYT

- Công nhân VS

- Phải mang đầy đủ phương tiện phòng hộ

cá nhân: găng tay, khẩu trang, tạp dề, ủng,… khi thu gom chất thải

- Chất thải được thu gom vào các thùng túi theo đúng quy cách, màu sắc quy định

- NVYT

- Công nhân VS

- Nhân viên phụ

trách khu vực

lưu giữ CTYT

- Phải mang quần áo bảo hộ, khẩu trang, găng tay,… trong suốt quá trình vận chuyển;

- Vận chuyển chất thải từ nơi phát sinh đến nơi lưu giữ tập trung bằng xe chuyên dụng đúng thời gian và lộ trình quy định;

- Phương tiện vận chuyển chất thải sau mỗi lần sử dụng được làm vệ sinh khử

khuẩn tại nơi lưu giữ tập trung và lưu giữ

tại nơi quy định của đơn vị

Trang 24

NVYT, nhân

viên công ty VS,

nhân viên khu

lưu giữ tập trung

- NVYT /nhân viên công ty vệ sinh bàn giao chất thải cho nhân viên khu lưu giữ tập trung

- Số lượng từng loại chất thải được ghi vào sổ bàn giao có đầy đủ chữ ký người giao, người nhận theo mẫu quy định

- Nhân viên phụ

trách khu vực

lưu giữ CTYT

- Chất thải được lưu giữ riêng và có nhăn ghi tên cho từng loại tại nơi lưu giữ tập trung

- Nơi lưu giữ tập trung phải luôn có đầy đủ dụng cụ, phương tiện thu gom chất thải,

vệ sinh tay, phương tiện bảo hộ và vệ sinh

cá nhân, hóa chất vệ sinh bề mặt,…

- CT tái chế quản lý để bán cho các cơ sở

có chức năng tái chế theo quy định

- Khử khuẩn hộp kháng thủng, dụng cụ thu gom để tái sử dụng

- Chất thải phóng xạ sau khi chờ hết thời gian bán rã được xử lý như CT lây nhiễm; chất thải hóa chất độc hại

- CTYT được phân loại, xử lý tại chỗ hoặc bàn giao cho đơn vị có chức năng xử lý an toàn bằng các phương pháp phù hợp

(Nguồn: Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3] 1.1.4.4 Các phương pháp xử lý CTRYT

- Thiêu đốt:

Là phương pháp sử dụng nhiệt độ cao trong các lò đốt chuyên dụng có nhiệt độ

từ 8000C - 12000C hoặc lớn hơn để đốt CTRYT Phương pháp đốt có ưu điểm là xử lý

Trang 25

được đa số các loại CTRYT, làm giảm tối đa về mặt thể tích của chất thải Tuy vậy nhược điểm của phương pháp đốt là nếu chế độ vận hành không chuẩn và không có hệ thống xử lý khí thải sẽ làm phát sinh các chất độc hại như Dioxin, Furan gây ô nhiễm môi trường thứ cấp; chi phí vận hành, bảo dưỡng và giám sát môi trường cao (Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

cả chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao với một số lưu ý sau:

+ Một số loại chất thải phải cắt nghiền nhỏ trước khi khử trùng Đây cũng là nhược điểm trong phương pháp khử trùng bằng hóa chất, vì các máy cắt, nghiền chất thải hay gặp sự cố về vấn đề cơ khí Ngoài ra còn có nguy cơ phát tán yếu tố nguy hại, mầm bệnh trong quá trình nghiền cắt

+ Bản thân hóa chất khử trùng là những chất độc hại, vì vậy những người sử dụng phải được đào tạo về quy trình sử dụng và được trang bị đầy đủ các trang thiết

bị bảo hộ an toàn

+ Hiệu quả khử trùng phụ thuộc vào điều kiện vận hành

+ Khử trùng chỉ có hiệu quả với bề mặt của CTR

+ Phải kiểm soát dư lượng hóa chất, nếu cách xử lý không đúng có thể làm phát sinh các vấn đề môi trường sau xử lý như nước thải, hơi hóa chất phát tán vào môi trường không khí trong quá trình xử lý (Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

- Phương pháp khử khuẩn bằng vi sóng:

Có hai phương pháp đó là sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện áp suất thường (có hoặc không có bổ sung nước/hơi nước) và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa trong điều kiện nhiệt độ, áp suất cao Trong phương pháp này thường

đi kèm các thiết bị máy cắt, nghiền và máy ép để giảm thể tích chất thải Các loại

Trang 26

CTLN có thể xử lý được: Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (có thấm máu, dịch sinh học và chất thải từ buồng cách ly), chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu CTR sau khi khử khuẩn, giảm thể tích đạt tiêu chuẩn có thể xử lý, tái chế, tiêu hủy như chất thải thông thường (Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

- Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh:

Chỉ áp dụng tạm thời đối với các BV thuộc khu vực khó khăn chưa có cơ sở xử

lý CTYTNH đạt tiêu chuẩn tại địa phương Không chôn chất thải lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường

Đối với chất thải sắc nhọn sử dụng các bể đóng kén là thích hợp Theo quy định quản lý CTNH, bể đóng kén có ba dạng: Chìm dưới mặt đất, nửa chìm nửa nổi, và nổi trên mặt đất

+ Đặt tại khu vực có mực nước ngầm ở độ sâu phù hợp

+ Diện tích đáy của mỗi bể ≤ 100 m2 và chiều cao ≤ 5 m

+ Vách và đáy bằng bê tông chống thấm, kết cấu cốt thép bền vững, đặt trên nền đất được gia cố

+ Xung quanh vách (phần chìm dưới mặt đất) và dưới đáy bể có bổ sung lớp lót chống thấm

+ Có mái che kín nắng, mưa cho toàn bộ mặt bể và biện pháp hạn chế gió trực tiếp vào trong bể

+ Sau khi đầy, đóng bể bằng nắp bê tông cốt thép chống thấm; phải phủ kín toàn

bộ bề mặt bể đảm bảo tuyệt đối không để nước rò rỉ, thẩm thấu (Cục Quản lý Môi trường

Y tế, 2015) [3]

- Phương pháp đóng rắn (trơ hóa):

Chất thải cần đóng rắn được nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máy trộn theo từng mẻ Các chất phụ gia như xi măng, cát và polymer được bổ sung vào để thực hiện quá trình hòa trộn khô, sau đó tiếp tục bổ sung nước vào để thực hiện quá trình hòa trộn ướt Sau 28 ngày bảo dưỡng khối rắn, quá trình đóng rắn diễn ra làm cho các thành phần ô nhiễm trong chất thải hoàn toàn bị cô lập Khối rắn sẽ được kiểm tra cường độ chịu nén, khả năng rò rỉ và lưu giữ cẩn thận tại kho, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp an toàn Phương pháp đóng rắn đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp Tỷ

lệ phổ biến cho hỗn hợp là 65% CTYT, 15% vôi, 15% xi măng, 5% nước (Cục Quản

lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

Trang 27

- Bao gói:

Chất kết dính vô cơ thường dùng là ximăng, vôi, thạch cao, silicat Chất kết dính hữu cơ thường dùng là epoxy, polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ure formaldehyt;… Chất thải thường là chất thải hóa chất hoặc dược phẩm được đưa vào 3/4 thể tích các thùng bằng polyethylene hoặc thùng kim loại Sau đó được điền đầy bằng các chất kết dính - để khô - dán niêm phong và đưa đi chôn lấp (Cục Quản lý Môi trường Y tế, 2015) [3]

1.1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải y tế

1.1.5.1 Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế

Trong quản lý CTYT, yếu tố con người rất quan trọng Cho dù có hệ thống xử

lý chất thải có hiện đại nhưng nếu các cán bộ y tế, những người liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, xử lý chất thải và cộng đồng không nhận thức rõ tác hại và tầm quan trọng của CTYT đối với công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe thì hệ thống

đó hoạt động cũng không hiệu quả

Qua nghiên cứu thực tế, nhân viên bệnh viện, nhân viên thu gom rác chưa được tập huấn những kiến thức cơ bản về phân loại rác, chưa nhận thức đúng nguy cơ của chất thải y tế đối với sức khỏe, chưa có kỹ năng nghiệp cụ cần thiết Phần lớn những người được phỏng vấn biết được sự nguy hại của chất thải lâm sàng, còn những chất thải khác số người biết chỉ < 50%, đặc biệt còn tới 8,8-8,9% không biết loại chất thải nguy hại Có tới 79,8% - 92,1% cho rằng đối tượng dễ bị ảnh hưởng của CTYT là nhân viên y tế, còn bệnh nhân là đối tượng rất cần quan tâm để tránh các nguy cơ của chất thải thì chỉ có 26,6%; có từ 43,5% - 55,8% số cán bộ, nhân viên y tế trả lời không đúng hoặc không biết về quy định mã màu sắc của dụng cụ đựng CTYT Phần lớn cán bộ, nhân viên y tế đều biết được những tác hại của CTYT, được biết đến nhiều nhất là khả năng lan truyền bệnh (96,8%), đối tượng bị ảnh hưởng bởi CTYT được biết đến nhiều nhất là bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý (Hoàng Thị Liên, 2009) [7]

1.1.5.2 Nguồn lực cho công tác quản lý chất thải

Trang 28

* Về nhân lực

Tại các bệnh viện quy mô lớn, Bệnh viện tuyến trung ương như Bạch Mai, Việt Đức, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi trung ương và một số bệnh viện tuyến tỉnh đều có khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, có đội ngũ cán bộ được đào tạo chính quy về quản lý chất thải Còn hầu hết các bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến huyện việc thực hiện Quy chế quản lý chất thải đều chưa đầy đủ và không thường xuyên Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh năm 2012: chỉ có 3/6 bệnh viện có khoa chống nhiễm khuẩn, phân loại chất thải rắn chủ yếu do điều dưỡng, hộ lý thực hiện, chưa có văn bản quy định rõ ràng về trách nhiệm của mỗi thành viên trong công tác quản lý chất thải Hoạt động giám sát nhà nước vể công tác quản lý CTYT còn chưa đầy đủ, năng lực giám sát và điều tiết còn hạn chế, đội ngũ thanh tra còn hạn chế, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe (Hoàng Thị Liên, 2009) [7]

* Về kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải

Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn Các cơ sở y tế phần lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử lý chất thải Kinh phí cho xử lý chất thải chưa được kết cấu vào chi phí đầu giường bệnh nên khó khăn trong việc duy trì hoạt động xử lý chất thải (Hoàng Thị Liên, 2009) [7]

Việc khoán chi ở bệnh viện đã làm cho các bệnh viện phần lớn chỉ quan tâm đến việc đầu tư máy móc thiết bị, vật tư chuyên môn, ít quan tâm đầu tư cho quản lý,

xử lý chất thải Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến công tác quản lý, xử lý chất thải tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế và bất cập Theo tính toán, bình quân chi phí cho việc xử lý chất thải rắn và chất thải lỏng cho một giường bệnh dao động từ 5.000-8.000đ/GB/ngày Nếu bệnh viện thuê trung tâm đốt CTYT

sẽ mất vào 9.000đ/kg/ngày (Hoàng Thị Liên, 2009) [7]

Dự trù kinh phí quản lý CTYT đầy đủ và chính xác là chìa khóa thành công của công tác quản lý CTYT bền vững Kinh phí quản lý gồm hai phần: kinh phí đầu tư và kinh phí chi thường xuyên để vận hành hệ thống Kinh phí nên được tính toán dự trù trước cho từng năm, cách tính này sẽ giúp lãnh đạo có thể so sánh và đánh giá được hiệu quả của hệ thống quản lý của đơn vị (Hoàng Thị Liên, 2009) [7]

1.2 Cơ sở pháp lý

Trang 29

- Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 ngày 21/11/2007

- Luật Khám chữa bệnh số 40/2009/QH12 ngày 23 tháng 11 năm 2009

- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014

- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ quy định về quản

- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Nghị định sô 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ Quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 của Bộ Y tế về Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Quản lý chất thải nguy hại

- Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Khoản 6, Khoản 7, Điều 49, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu

- Quyết định số 05/2006/QĐ-BYT ngày 17/01/2006 của Bộ Y tế về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Trang 30

- Quyết định số 15/2007/QĐ-BYT ngày 30/01/2007 của Bộ Y tế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Bảo vệ sức khoẻ lao động và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế

- Sổ tay hướng dẫn quản lý chất thải y tế trong bệnh viện được ban hành theo Quyết định số 105/QĐ-MT ngày 03/7/2014 của Cục trưởng Cục Quản lý môi trường

y tế

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Tình hình quản lý chất thải y tế trên thế giới

Tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc quản lý chất thải, đặc biệt là CTYT bởi những đặc tính nguy hại của chúng có thể gây ra cho cộng đồng

và môi trường Sự quan tâm của các quốc gia phát triển, nước có tiềm lực kinh tế

về CTYT cao hơn nhiều so với các quốc gia đang phát triển Một điều dễ nhận thấy trên thực tế những nước có thu nhập cao thường tạo ra nhiều chất thải hơn nước có thu nhập trung bình và nước có thu nhập thấp, lượng chất thải tạo ra từ bệnh viện cấp trên cao hơn so với bệnh viện cấp dưới (Cù Huy Đấu, 2004) [5]

Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Nhật Bản, Canada,… Các nghiên cứu quan tâm đến rất nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh, phân loại, quản lý,…

* Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: tình hình bệnh tật, dịch bệnh, loại bệnh viện, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh

và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng (Nguyễn Huy Nga, 2004) [8]

Trang 31

Bảng 1.2 Lượng chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới

(Nguồn: Đại học Y Thái Nguyên, 2007)) [4]

* Phân loại chất thải y tế

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển

có thể phân loại CTYT thành các loại sau:

- Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại)

- Chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm)

- Chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn)

- Chất thải hóa học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào)

- Chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) (WHO, 1994) [16]

Ở Mỹ, chất thải y tế phân thành 8 loại (WHO, 1994) [16]:

- Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh)

- Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan

- Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu,…

- Máu và các sản phẩm của máu

- Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể,…)

- Các vật sắc nhọn không sử dụng

- Các chất thải gây độc tế bào

- Chất thải phóng xạ

Trang 32

* Quản lý chất thải y tế

Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu hủy vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy (WHO, 1997) [17]

Theo H.Ogaoa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khỏe, môi trường khu vực Châu Á, phần lớn các nước đạng phát triển không kiểm soát tốt CTYT, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải Nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapo, Australia, Newziland đã đi đầu trong công tác xử lý CTYT, Malaixia có phương tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo và các hệ thống xử lý rác thải riêng biệt cho các bệnh viện ở xa tại Boocneo (WHO, 1997) [17]

Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển Vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như: Philippin đã áp dụng phương pháp

xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy, Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa, Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện

về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp (Hendarto H, 1998) [15]

1.3.2 Tình hình quản lý chất thải y tế ở Việt Nam

* Nguồn phát sinh

Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu,… ; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu… Hầu hết các chất thải rắn y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1]

Trang 33

Bảng 1.3 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế

1 Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các loại

Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng

xạ, hóa chất dược… từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược,…

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1]

* Lượng phát sinh chất thải rắn y tế

Theo nghiên cứu điều tra của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009 - 2010, tổng lượng CTR

y tế trong toàn quốc khoảng 100 - 140 tấn/ngày, trong đó có 16 - 30 tấn/ngày là CTYT nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1]

CTYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một

số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường

sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1] Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, năm 2009, tổng lượng CTYT phát sinh trong một ngày là 31,68 tấn, trung bình là 1,53 kg/giường/ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kh/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ường

và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,01 kg/giường/ngày (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1]

Bảng 1.4 Khối lượng chất thải y tế ở một số địa phương năm 2009

Trang 34

STT Loại đô thị Tỉnh/TP Lượng CTYT

Hậu Giang 634,8 Kiên Giang 642,4

Quảng Nam 602,25 Quảng Trị 272,116 Sóc Trăng 266,7

Vĩnh Long 340,26 Yên Bái 108,542

4 Đô thị loại đặc biệt Hà Nội ~ 5000

Tp Hồ Chí Minh 2800

Lượng CTYT phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số

Trang 35

giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng… (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1]

Bảng 1.5 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện

BV

TW

BV tỉnh

BV huyện

Trung bình

BV

TW

BV tỉnh

BV huyện

Trung bình

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1]

* Phân loại, thu gom và vận chuyển CTYT

Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của

Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được

xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử

lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1]

Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại ) (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1]

Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR Đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường (Bộ Tài

Trang 36

nguyên và môi trường, 2011) [1]

Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn Theo báo cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng,

Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bị điều hoà và hệ thống thông gió theo Quy định (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011) [1]

Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các

xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y

tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không

có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn (Bộ Tài nguyên

và môi trường, 2011) [1]

1.3.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Thái Nguyên

Toàn tỉnh Thái Nguyên có 574 cơ sở khám chữa bệnh với 5294 giường bệnh Trung bình mỗi ngày, các cơ sở này thải ra môi trường trên 1 tấn rác thải 13/17 bệnh viện trực thuộc Sở Y tế đã thuê đơn vị chuyên thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải,

4 đơn vị còn lại đang tự xử lý rác thải tại cơ sở bằng lò đốt Các cơ sở y tế đều đã đầu

tư hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn theo quy định và được thẩm định kỹ càng trước khi đưa vào hoạt động Nhiều cơ sở y tế từng là “điểm nóng” trong việc gây ô nhiễm môi trường tại địa phương cũng đã đầu tư, nâng cấp hệ thống xử lý chất thải y tế hiện đại (Khánh Huyền, 2016) [6]

Hiện trạng về trang thiết bị thu gom, vận chuyển CTR y tế

Bệnh viện tuyến tỉnh: 05/12 bệnh viện có xe thu gom rác là Bệnh viện A, Bệnh viện C, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Bệnh viện Tâm thần, Bệnh viện Y học cổ truyền Số còn lại đều chưa có xe thu gom rác 31 Các bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt và chủ động đầu tư thiết bị lưu chứa riêng

Trang 37

từng loại rác như thùng chứa, túi nilon khác màu, xô, hộp đựng vật sắc nhọn…nhưng còn rất thiếu so với nhu cầu (Hoàng Thị Liên, 2009) [7]

Bệnh viện tuyến huyện: Kết quả điều tra cho thấy các bệnh viện thiếu thiết bị thu gom CTR trầm trọng, chỉ có bệnh viện huyện Phú Bình được UBND huyện đầu

tư cho 01 xe thu gom, 07 bệnh viện còn lại không có xe thu gom rác (Hoàng Thị Liên, 2009) [7]

Hiện trạng công nghệ xử lý CTR tại các cơ sở y tế

- Đối với các cơ sở tuyến tỉnh:

+ 07/12 bệnh viện xử lý CTR sinh hoạt bằng lò đốt CTR của thành phố do Công

ty Môi trường và Công trình Đô thị Thái Nguyên thực hiện đảm bảo xử lý an toàn và hợp vệ sinh (Trần Thị Minh Tâm, 2012) [11]

+ 02/12 bệnh viện (Bệnh viện C, Bệnh viện Lao và Phổi) được trang bị lò đốt tại bệnh viện nhưng thiếu kinh phí vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng nên hoạt động không thường xuyên (Trần Thị Minh Tâm, 2012) [11]

+ 03/12 cơ sở y tế xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng biện pháp đốt thủ công và chôn lấp tại chỗ không đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi trường là bệnh viện 91, trung tâm phòng chống HIV/AIDS và da liễu và trung tâm y tế dự phòng (Trần Thị Minh Tâm, 2012) [11]

- Cơ sở y tế tuyến huyện: Chỉ có bệnh vện Đa khoa Phổ Yên được trang bị lò đốt chất thải rắn y tế trong năm 2009 nhưng chi phí vận hành gặp khó khăn Còn lại các bệnh viện đều xử lý bằng biện pháp đốt thủ công và chôn lấp ngay trong khuôn viên của bệnh viện không đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh môi trường Trong số 19 Bệnh viện trên địa bàn tỉnh (tính cả Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là Bệnh viện tuyến Trung ương) chỉ có 5 Bệnh viện 32 có lò đốt nằm ở 3 Bệnh viện tuyến tỉnh và 2 Bệnh viện tuyến huyện nhưng 1 lò đã lâu không được sử dụng (Trần Thị Minh Tâm, 2012) [11]

- Bên cạnh các cơ sở y tế công lập, vấn đề xử lý chất thải y tế ở các cơ sở y tế

tư nhân cũng đang gặp khó khăn Thực tế cho thấy, vẫn phát hiện tình trạng rác thải

y tế như: bao tay, bông băng, gạc còn dính máu… được để chung với rác thải sinh hoạt và vứt tại lòng đường, vỉa hè Theo đánh giá, trên địa bàn tỉnh có khá nhiều phòng khám tư nhân quy mô nhỏ, chất thải nguy hại phát sinh ở từng cơ sở rất khó

kiểm soát, khả năng bị trộn lẫn trong rác thải sinh hoạt tương đối cao (Khánh Huyền,

2016) [6]

Trang 38

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp quản lý CTYT tại bệnh viện:

- Bệnh viện A Thái Nguyên

- Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên

- Bệnh viện C Thái Nguyên

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Tại 3 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Cụ thể tại Bệnh viện A Thái Nguyên, Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên, Bệnh viện C Thái Nguyên

- Về thời gian: Từ 01/07/2016 đến 31/07/2017

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Giới thiệu chung về lĩnh vực y tế tại tỉnh Thái Nguyên

- Khái quát về hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Giới thiệu khái quát về các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2.2.3 Đánh giá chung về công quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

2.2.4 Đánh giá công tác quản lý chất thải tại Bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên qua ý kiến phỏng vấn cán bộ y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân

- Đánh giá hiểu biết và thái độ của cán bộ, nhân viên y tế bệnh viện

Trang 39

- Đánh giá công tác quản lý chất thải tại Bệnh viện qua ý kiến phỏng vấn bệnh nhân, người nhà bệnh nhân

2.2.5 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện

đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Giải pháp xử lý chất thải y tế

- Phân loại và bao gói rác thải y tế

- Thu gom, vận chuyển và lưu trữ rác thải

- Nâng cao năng lực quản lý, đào tạo và truyền thông nâng cao nhận thức trong

bệnh viện

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.3.1.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp là những dữ liệu liên quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài như: Các báo cáo tổng kết hoạt động của bệnh viện qua một số năm và phương hướng hoạt động của bệnh viện trong thời gian tới; báo cáo tổng kết công tác quản lý chất lượng bệnh viện; báo cáo kết quả xử lý chất thải y tế; tài liệu

do các phòng, khoa của bệnh viện cung cấp Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý chất thải y tế

2.3.1.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp

Dữ liệu sơ cấp về hoạt động quản lý chất thải y tế của bệnh viện và công tác quản lý/xử lý chất thải tại Bệnh viện là dữ liệu được thu thập thông qua phiếu điều tra Bộ câu hỏi điều tra thể hiện ở phụ lục

- Đối tượng phỏng vấn: Phỏng vấn ngẫu nhiên 2 nhóm đối tượng sau:

+ Nhóm 1: Cán bộ y tế và nhân viên vệ sinh trong bệnh viện Điều tra là 10 phiếu/bệnh viện Tổng số phiếu điều tra của 03 bệnh viện là 30 phiếu

+ Nhóm 2: Bệnh nhân vào viện được 5 ngày trở lên và người nhà bệnh nhân Điều tra bệnh nhân là 40 phiếu/bệnh viện Tổng số phiếu điều tra của 03 bệnh viện là

120 phiếu

- Gồm có 2 bộ phiếu điều tra:

+ Bộ phiếu điều tra 1: Đối tượng điều tra là cán bộ và nhân viên y tế của bệnh viện Nội dung bộ phiếu điều tra gồm:

1 Phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải

Trang 40

2 Nhóm đối tượng dễ bị tổn thương bởi chất thải y tế

3 Trách nhiệm của cán bộ, nhân viên y tế và vệ sinh về quản lý chất thải y tế + Bộ phiếu điều tra 2: Đối tượng điều tra là bệnh nhân và người nhà bệnh nhân Nội dung bộ phiếu điều tra gồm:

1 Đánh giá của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về công tác quản lý chất thải tại Bệnh viện

2 Đánh giá ý thức, hiểu biết của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về chất thải Bệnh viện

- Hình thức phỏng vấn: phát phiếu và phỏng vấn trực tiếp các câu hỏi trong phiếu điều tra tại Bệnh viện A Thái Nguyên, Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên, Bệnh viện C Thái Nguyên

2.3.1.3 Phương pháp quan sát thực tế

Phương pháp quan sát thực tế là một phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp về đối tượng nghiên cứu bằng cách ghi chép trực tiếp lại những nhân tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu tại hiện trường, khi sự việc đang diễn ra Quan sát cho phép phát hiện vấn đề, kiểm tra và hiệu chỉnh những thông tin đã thu được qua phỏng vấn và từ tài liệu thứ cấp.Việc quan sát cho phép đánh giá một cách tổng quan về hiện trạng quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện

2.3.2 Phương pháp xử lý thông tin

Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, phân loại và xử lý qua phần mềm Microsoft Excel

CTYT tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Ngày đăng: 16/03/2018, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (2006), Sức khỏe môi trường, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe môi trường
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
4. Đại học Y Thái Nguyên (2007), Giáo trình sau đại học môn Vệ sinh môi trường, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sau đại học môn Vệ sinh môi trường
Tác giả: Đại học Y Thái Nguyên
Năm: 2007
5. Cù Huy Đấu (2004), Thực tiễn quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam, Tuyển tập Báo cáo Khoa học Hội nghị Môi trường Việt Nam, Đại học Kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Tác giả: Cù Huy Đấu
Năm: 2004
6. Khánh Huyền (2016), Xử lý chất thải y tế: Vẫn còn nhiều mối lo, Báo Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý chất thải y tế: Vẫn còn nhiều mối lo
Tác giả: Khánh Huyền
Năm: 2016
7. Hoàng Thị Liên (2009), Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, Đại học Y dược - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Hoàng Thị Liên
Năm: 2009
8. Nguyễn Huy Nga (2004), Tổng quan tình hình quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
9. Kỳ Phương (2009), Chất thải y tế và sự nguy hại, Báo Sức khỏe và Đời sống, Cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất thải y tế và sự nguy hại
Tác giả: Kỳ Phương
Năm: 2009
11. Trần Thị Minh Tâm (2012), Thực trạng quản lý, ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường trong các bệnh viện tỉnh Hải Dương, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý, ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường trong các bệnh viện tỉnh Hải Dương
Tác giả: Trần Thị Minh Tâm
Năm: 2012
12. Trịnh Thị Thanh và cs (2003), Quản lý chất thải nguy hại, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải nguy hại
Tác giả: Trịnh Thị Thanh và cs
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
18. Cổng thông tin điện tử Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên (2015), Lịch sử bệnh viện Gang Thép, http://benhviengangthep.gov.vn/index.php?language=vi&amp;nv=ve-chung-toi&amp;op=lich-su-benh-vien/Lich-su-benh-vien-Gang-Thep-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử bệnh viện Gang Thép
Tác giả: Cổng thông tin điện tử Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên
Năm: 2015
19. Sở Y tế Thái Nguyên (2016), Bệnh viện A Thái Nguyên, http://soytethainguyen.gov.vn/detail/news/vi/40/122/268/index.htm Link
20. Sở Y tế Thái Nguyên (2016), Bệnh viện C Thái Nguyên, http://soytethainguyen.gov.vn/detail/news/vi/40/122/269/index.htm Link
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo Môi trường Quốc gia 2011 - Chất thải rắn Khác
3. Cục Quản lý Môi trường Y tế - Dự án Hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện, Bộ Y tế (2015), Sổ tay Hướng dẫn Quản lý chất thải y tế trong bệnh viện Khác
10. Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về việc Ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế Khác
13. Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về quản lý chất thải y tế Khác
14. Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế (2017), Ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khỏe của nhân viên y tế và cộng đồng Khác
15. Hendarto. H (1998), Medical waste treatment options in Indinesia, California Polytechnic State University Khác
16. WHO (1994), Managing medical waste in developing country, Geneva Khác
17. WHO (1997), Treatment waste from hospitals and other health care establishment, Malaysia.III. Internet Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w