Giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tính Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tính Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tính Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tính Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tính Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tính Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tính Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ KIM DUNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TRÀNG XÁ,
HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ KIM DUNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ TRÀNG XÁ,
HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 60 62 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Điền
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ trong nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Kim Dung
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự ủng hộ, động viên của gia đình, bạn bè, cơ quan đồng nghiệp và đặc biệt là sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của nhà trường và sự dạy bảo tận tình của thầy cô
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo – Đào tạo sau đại học, ban chủ nhiệm lớp cùng thầy cô trường Đại học Nông lâm Thái nguyên đã giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt để tôi thực hiện đề tài này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Trần Văn Điền, người đã tận tình hướng dẫn, định hướng và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể gồm: Các phòng ban chuyên môn của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên gồm: Phòng Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thống kê; Ủy ban nhân dân xã Tràng Xá, các ban, ngành đoàn thể
xã, các ông, bà trưởng xóm và các hộ dân tại 5 xóm được điều tra đã nhiệt tình ủng
hộ và cung cấp cho tôi những thông tin cần thiết cho luận văn
Trong quá trình thực hiện đề tài khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp và bạn đọc
để luận văn được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Kim Dung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 2
3.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 3
1.1.1 Lý luận về thu nhập 3
1.1.2 Phân loại kinh tế hộ dựa trên thu nhập của hộ 5
1.1.3 Vài nét về Chương trình xây dựng nông thôn mới 7
1.1.4 Căn cứ pháp lý trong xây dựng NTM trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai 10
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 11
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập trong xây dựng nông thôn mới trên thế giới 11
1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta 17
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 21
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 23
Trang 6CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai 25
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 32
3.2 Đánh giá thực trạng nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng NTM tại xã Tràng Xá qua 3 năm (từ năm 2014 đến năm 2016) 33
3.2.1 Thực trạng thu nhập của người dân trên địa bàn nghiên cứu 35
3.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân tại địa bàn nghiên cứu 66
3.3 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng NTM trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai 69
3.3.1 Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 69
3.3.2 Tăng cường cho nông dân vay vốn kết hợp với công tác khuyến nông 70
3.3.3 Tăng cường áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất kết hợp với đẩy mạnh cơ giới hóa 70
3.3.4 Tăng cường liên kết hợp tác trong tiêu thụ nông sản 70
3.3.5 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý 71
3.3.6 Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng 71
3.3.7 Giải pháp về thông tin 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu Internet
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MTQG : Mục tiêu quốc gia
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Tràng Xá qua 3 năm (2014-2016) 26
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động xã Tràng Xá giai đoạn 2014-2016 27
Bảng 3.3 Tình hình canh tác các loại cây trồng của xã Tràng Xá qua 3 năm 29
Bảng 3.4 Thông tin cơ bản về chủ hộ điều tra năm 2016 35
Bảng 3.5 Đặc điểm về điều kiện sản xuất của các hộ điều tra năm 2016 36
Bảng 3.6a Số liệu về trồng trọt theo xóm điều tra 39
Bảng 3.6b Số liệu về trồng trọt theo phân loại kinh tế hộ điều tra 40
Bảng 3.6c Số liệu về chăn nuôi theo xóm điều tra 41
Bảng 3.6d Số liệu về chăn nuôi phân theo kinh tế hộ 41
Bảng 3.7 Thực trạng tổng thu của hộ điều tra năm 2016 (tính bình quân 1 hộ) 45
Bảng 3.8 Thực trạng tổng thu sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi của hộ điều tra năm 2016 46
Bảng 3.9 Tổng thu từ các loại cây trồng trong hộ nông dân 47
Bảng 3.10 Tổng thu từ các loại vật nuôi trong hộ nông dân 48
Bảng 3.11 Thu và cơ cấu khoản thu từ lâm nghiệp của hộ 51
Bảng 3.12 Tổng thu từ các nguồn thu từ hoạt động lâm nghiệp của hộ 52
Bảng 3.13 Thu và cơ cấu các khoản thu từ hoạt động phi nông nghiệp 54
Bảng 3.14 Tổng thu từ các hoạt động phi nông nghiệp của hộ 55
Bảng 3.15 Chi phí sản xuất nông - lâm nghiệp bình quân 1 hộ 57
Bảng 3.16 Chi phí cho các hoạt động phi nông nghiệp 58
Bảng 3.17 Thực trạng thu nhập thực tế của hộ điều tra năm 2016 59
Bảng 3.18 Nguồn vốn hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ 61
Bảng 3.19 Thực trạng chi tiêu của hộ điều tra năm 2016 64
Bảng 3.20: Thực trạng tiết kiệm của hộ điều tra năm 2016 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với gần 70% dân cư sống ở nông thôn, phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển của đất nước ta Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách để phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới (NTM), nâng cao đời sống của người nông dân Trực tiếp và toàn diện nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có nhiệm vụ xây dựng NTM Từ Nghị quyết 26, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM mới giai đoạn 2010 - 2020 với mục tiêu nhằm xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với
đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.(Thủ tướng Chính phủ, năm 2009)[11]
Tràng Xá là xã nằm ở phía Đông Nam của huyện Võ Nhai, được xác định là
xã trọng điểm phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của các xã phía Nam của huyện Thực hiện Chương trình xây dựng NTM cùng với các địa phương trong
cả nước, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai đã thu được những kết quả nhất định như: năm 2014 có tỷ lệ hộ nghèo là 29,69%, giảm xuống còn 19,02% năm 2015, năm
2016 rà soát theo chuẩn nghèo đa chiều tỷ lệ hộ nghèo của xã là 35,05%; thu nhập bình quân đầu người năm 2014 là 13 triệu đồng tăng lên 20 triệu đồng năm 2016; cơ
sở hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm ) được đầu tư xây dựng, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện và nâng cao, an ninh trật tự xã hội được giữ vững.(UBND xã Tràng Xá, năm 2014)[5], (UBND xã Tràng Xá, năm 2015)[6], (UBND xã Tràng Xá, năm 2016)[7]
Căn cứ vào tình hình hình xây dựng NTM trên địa bàn xã, tại Nghị quyết số 01-NQ/ĐH ngày 31/7/2015 của Đại hội Đảng bộ huyện Võ Nhai lần thứ XXI đã đặt
Trang 10ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2018 xã Tràng Xá sẽ đạt chuẩn 19 tiêu chí xây dựng NTM Tuy nhiên, hiện nay mức thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã còn thấp so với yêu cầu của tiêu chí, một số công trình hạ tầng nông thôn chưa được đầu
tư xây dựng do vốn đối ứng của nhân dân còn hạn chế Vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là cần phải tập trung phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn xã, từ đó tạo ra nguồn lực để đóng góp xây dựng, hoàn thiện các công trình hạ tầng nông thôn, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, theo đúng với mục tiêu chung của Chương trình
Với lý do trên, tôi chọn tên đề tài “Giải pháp nâng cao thu nhập cho người
dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tính Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được các hoạt động sinh kế của người dân trong xây dựng NTM tại địa phương
- Xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trong xây dựng NTM
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập trong xây dựng NTM tại địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề cung cấp những bằng chứng khoa học về sự cần thiết phải nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng NTM trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Là cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển kinh tế của địa phương, đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân tại địa phương trong thực hiện Chương trình xây dựng NTM
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình nghiên cứu và học tập của các khóa tiếp theo trong ngành phát triển nông thôn
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để chính quyền địa phương các cấp xã, huyện, tỉnh và các cơ quan ban ngành đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn cải thiện đời sống cho nhân dân trong xây dựng NTM
Trang 11CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Lý luận về sinh kế và các hoạt động sinh kế
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về sinh kế, bao quát và toàn diện nhất có thể hiểu sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (bao gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: nhà xưởng, các nguồn tài nguyên, đường xá, đất đai…) cùng các hoạt động cần thiết để làm phương tiện kiếm sống của con người
Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp
- Lĩnh vực nông nghiệp gồm các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp
và thủy sản
+ Trồng trọt bao gồm: trồng các loại cây lương thực, thực phẩm như: lúa, ngô, khoai, đậu tương ; trồng cây ăn quả như: vải, nhãn, na ; trồng cây công nghiệp như chè
+ Hoạt động chăn nuôi như: trâu bò, lợn, gà, dê,
- Hoạt động lâm nghiệp: bao gồm khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ (gỗ, củi,
tre nứa, ), các hoạt động trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng
- Hoạt động thuỷ sản bao gồm: nuôi cá, ếch, rắn
- Các hoạt động phi nông nghiệp bao gồm:
+ Ngành nghề tiểu thủ công truyền thống bao gồm sản phẩm mây tre đan, chế biến dược liệu,
+ Các ngành nghề còn lại bao gồm: may mặc, cắt tóc, làm thuê, thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm
1.1.2 Lý luận về thu nhập
Một số khái niệm thường được đề cập đến trong nghiên cứu về thu nhập của
hộ nông dân như sau:
1.1.2.1 Tổng thu nhập của hộ
Là toàn bộ giá trị nhận được từ các nguồn thu bằng tiền của hộ dân chủ yếu là
từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, rừng, làm thuê, ngành nghề thủ công, dịch vụ,
Trang 12nguồn thu từ ngân sách và các nguồn thu khác trong một khoảng thời gian thường tính là 1 năm
- Thu từ sản xuất nông nghiệp, gồm:
+ Thu từ trồng trọt: thu từ cây lương thực, thực phẩm như: lúa, ngô, khoai, đậu tương ; thu trồng cây ăn quả như: vải, nhãn, na ; thu từ trồng cây công nghiệp như chè
+ Thu từ chăn nuôi như: trâu bò, lợn, gà, dê,
- Thu từ lâm nghiệp: bao gồm thu từ khai thác lâm sản và lâm sản ngoài gỗ (gỗ,
củi, tre nứa, ), thu từ các hoạt động trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng
- Thu từ thuỷ sản bao gồm: nuôi cá, ếch, rắn
- Thu từ phi nông nghiệp bao gồm:
+ Thu từ ngành nghề tiểu thủ công truyền thống bao gồm sản phẩm mây tre đan, chế biến dược liệu,
+ Thu từ phi nông nghiệp còn lại bao gồm: may mặc, cắt tóc, làm thuê, thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm
- Thu khác bao gồm lương hưu, trợ cấp.(Trần Thanh Lịch, năm 2014)[3]
1.1.2.2 Tổng chi của hộ
Là toàn bộ chi phí bằng tiền mà hộ bỏ ra bao gồm chi cho sản xuất và chi cho tiêu dùng
- Chi sản xuất bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất
ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài)
- Chi tiêu dùng là các khoản chi ngoài sản xuất phục vụ cho đời sống hàng ngày của hộ
1.1.2.3 Thu nhập thực tế hay còn gọi là thực thu của hộ
Bằng tổng thu trừ đi các chi phí cho sản xuất của hộ
Trong nghiên cứu về thu nhập của hộ thì thu nhập thực tế mới phản ánh đúng
và có liên quan đến đời sống của người dân
Thu nhập thực tế từ sản xuất kinh doanh của hộ được hạch toán kinh tế như sau: Tổng thu - chi phí khả biến = Tổng thu nhập ròng
Tổng thu nhập ròng - tổng chi phí bất biến = Thu nhập thực tế
Trang 13Thu nhập thực tế - trả lãi tiền vay = Thực kiếm
Thực kiếm + Thu từ các hoạt động khác = Thực thu của hộ
(Đỗ Kim Chung (1997) [2]) 1.1.2.4 Tiết kiệm của hộ
Bằng tổng thu trừ đi toàn bộ chi phí bao gồm cả chi sản xuất và chi tiêu dùng của hộ
1.1.2.5 Thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập bình quân đầu người/năm là tổng các nguồn thu nhập của hộ/năm chia đều cho số thành viên trong gia đình
1.1.1.6 Nâng cao thu nhập
Nâng cao thu nhập là làm cho thu nhập của người dân năm sau cao hơn năm trước Nâng cao thu nhập có thể được hiểu như sau:
- Nâng cao thu nhập theo hướng chuyển sang các hoạt động có giá trị cao hơn:
là quá trình người nông dân chuyển từ cây trồng và hoạt động có giá trị thấp sang cây trồng và hoạt động có giá trị cao hơn
- Tác động đến các yếu tố đầu vào nhằm tăng năng suất, sản lượng, chất lượng, tăng vụ, tiếp cận thị trường tăng giá cả nông sản hàng hóa
- Đa dạng nguồn thu nhập: Có nghĩa là số lượng nguồn thu nhập tăng lên làm cho tổng thu nhập tăng lên
- Nâng cao thu nhập với ý nghĩa thương mại hóa: Những năm gần đây hướng nâng cao thu nhập này càng được quan tâm và áp dụng rộng rãi Nâng cao thu nhập được xem như là quá trình chuyển từ sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp các cây lương thực chủ yếu sang sản xuất nhiều loại hàng hóa nông sản hơn và hoạt động phi nông nghiệp (Trịnh Minh Trang, năm 2016)[11]
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân
Nguồn lực sản xuất của hộ
Yếu tố quyết đinh đầu tiên là các yếu tố sản xuất bao gồm đất đai, lao động, cơ sở vật chất như tư liệu sản xuất và tiền vốn
- Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thay thế trong hoạt động sản xuất nông
lâm nghiệp Quỹ đất nhiều, chất đất tốt, thì càng có điều kiện sản xuất thuận lợi cho
Trang 14hộ nông dân lựa chọn phương thức canh tác phù hợp Nếu quỹ đất hạ chế, kém màu mỡ sẽ gây khó khăn cho quá trình sản xuất của hộ
- Lao động là yếu tố sản xuất không thể thiếu được của bất kỳ quá trình sản
xuất xã hội nào Khi nghiên cứu yếu tố lao động phải đề cập đến yếu tố số lượng và chất lượng của lao động Chất lượng lao động thể hiện qua trình độ học vấn để có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, đó là kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm tập quán sản xuất được tích luỹ từ lâu đời Số lượng lao động là yếu tố mặt lượng bao gồm số thành viên trong gia đình hộ nông dân có khả năng lao động Nó chi phối đến kết quả sản xuất của nông hộ, đặc biệt là những vùng chậm phát triển thì nhân tố lao động là nhân tố cơ bản để tạo ra của cải vật chất cho gia đình Ở vùng miền núi, lao động sẽ là nguồn lực chính góp phần duy trì và phát triển kinh tế nông hộ
- Vốn là điều kiện rất quan trọng trong sản xuất Vốn để đầu các yếu tố đầu
vào như: giống cây trồng, vật nuôi, thuê lao động Đối với hộ nông dân miền núi, khái niệm sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả là khá xa lạ
- Tư liệu lao động là một yếu tố quan trọng, nếu có tư liệu lao động tốt, có khả
năng cơ giới hoá cao, năng xuất lao động tăng, góp phần tăng thu nhập đáng kể cho
hộ Những năm gần đây các hộ có điều kiện cơ khí hoá trang bị thêm như máy bơm, máy tuốt lúa … nhằm giảm nhẹ công việc nặng nhọc cho mọi thành viên trong gia đình
- Yếu tố về trình độ sản xuất, trình độ văn hóa, tay nghề lao động, tập quán canh tác, văn hóa của từng vùng cũng ảnh hưởng lớn đến thu nhập của hộ, tuy không có tính chất quyết định và để thay đổi các yếu tố này nhằm nâng cao thu nhập là rất khó nhưg đây cũng là một hướng tác động nhằm giải quyết những khó khăn mà hộ miền núi gặp phải
1.1.4 Phân loại kinh tế hộ dựa trên thu nhập của hộ
1.1.4.1 Hộ nghèo:
Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên
1.1.4.2 Hộ cận nghèo:
Hộ cận nghèo khu vực nông thôn: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng
Trang 15trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
1.1.4.3 Hộ có mức sống trung bình:
Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.(Thủ tướng Chính phủ, năm 2015)[10]
1.1.5 Vài nét về Chương trình xây dựng nông thôn mới
1.1.5.1 Giới thiệu về Chương trình xây dựng nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.(Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, năm 2008)[4]
Như vậy, Chương trình xây dựng NTM có năm nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại
Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa
Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển
Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ Những nội dung trên
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong quá trình thực hiện cần phải giải quyết đồng bộ và toàn diện nhằm khơi dậy và phát huy tốt vai trò người nông dân trong công cuộc xây dựng NTM ở nước ta ngày càng văn minh, hiện đại
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí, chia thành 5 nhóm gồm: Nhóm I - Quy hoạch, nhóm II - Hạ tầng kinh tế - xã hội, nhóm III - Phát triển sản xuất; nhóm IV - văn hóa - xã hội - môi trường; nhóm V - Hệ thống chính trị
Thực hiện Chương trình xây dựng NTM trong những năm qua đã đạt được
Trang 16những kết quả rất to lớn, bộ mặt nông thôn đã đổi thay tích cực, phong trào xây dựng nông thôn mới đã được người dân hưởng ứng và trở thành phong trào rộng khắp cả nước Từ chỗ số đông còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của Nhà nước đã chuyển sang chủ động, tự tin tham gia tích cực vào xây dựng NTM Năng lực đội ngũ cán bộ vận hành chương trình, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở, đã được nâng lên rõ rệt, nhận thức đầy đủ hơn và tổ chức thực hiện chương trình có hiệu quả hơn, nhất là trong việc xây dựng dự án, vận động quần chúng và tổ chức, thực hiện Nhiều địa phương đã cụ thể hóa các chính sách của Trung ương, chủ động ban hành
cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của địa phương Hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt nhiều vùng nông thôn Điều kiện sống cả về vật chất và tinh thần của nhiều khu vực dân cư nông thôn được nâng cao
rõ rệt Sản xuất nông nghiệp hàng hóa được coi trọng và có chuyển biến, góp phần tích cực nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn Mức thu nhập bình quân đầu người vùng nông thôn đã đạt 24,4 triệu đồng/năm (tăng khoảng 1,9 lần so với năm 2010).(Văn phòng Điều phối NTM Trung ương, năm 2015)[19]
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 tại Quyết định số 1600/QĐ-Tg ngày 16/8/2016 và ban hành Bộ tiêu tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 tại Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 Trong giai đoạn mới, số lượng tiêu chí được giữ nguyên, tuy nhiên có sự thay đổi về tên gọi của một số tiêu chí (TC số 7, 8, 12, 13,
17, 18, 19) và yêu cầu của các tiêu chí được nâng cao hơn so với giai đoạn 2010 -
2015, đặc biệt trong giai đoạn 2016 - 2020 có quy định riêng về bộ tiêu chí dành cho xã NTM kiểu mẫu, xóm NTM kiểu mẫu và hộ gia đình NTM
Qua khái niệm và tiêu chí xây dựng NTM có thể thấy sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng NTM hiện nay Xây dựng nông thôn đã có
từ lâu tại Việt Nam, trước đây, có thời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn
ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng ta xây dựng NTM ở cấp xã, sự khác biệt chính là
ở những điểm sau:
- Thứ nhất: xây dựng NTM là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung cả nước
Trang 171.1.5.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao thu nhập trong xây dựng nông thôn mới
Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân, giảm dần khoảng cách giàu - nghèo giữa thành thị và nông thôn được xác định là tiêu chí quan trọng trong xây dựng NTM
Mục tiêu xây dựng NTM không phải chỉ là điện, đường, trường, trạm, là cơ sở
hạ tầng, mà chính là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Mọi việc làm đều phải hướng vào mục tiêu này, trong đó nông dân phải là chủ thể Tăng thu nhập cho nông dân là một trong những tiêu chí trọng tâm, mang tính cốt lõi của chương trình xây dựng NTM Xây dựng NTM là phải làm cho đời sống kinh tế của người dân giàu có hơn, đời sống văn hóa lành mạnh và giữ gìn bản sắc dân tộc Một thực trạng hiện nay là khoảng cách thu nhập của cư dân thành thị và nông thôn quá xa và càng ngày càng rộng ra, 85% hộ nghèo của cả nước sống ở nông thôn
Một trong 5 nguyên tắc xây dựng NTM là: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ, hướng dẫn Các hoạt động
cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Có thể thấy rằng, sự đóng góp của cộng đồng dân cư trong xây
Trang 18dựng NTM là rất lớn cả về về tiền của, đất đai và sức lao động
Thu nhập của người dân là đòn bẩy để thực hiện Chương trình xây dựng NTM Chương trình xây dựng NTM đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên thực trạng tại các xã miền núi, nơi đời sống của bà con còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp,
tỉ lệ hộ nghèo cao nên việc huy động nhân dân đóng góp trong xây dựng NTM còn rất hạn chế dẫn đến việc khó hoàn thành các tiêu chí trong xây dựng NTM, mặt khác vô tình đã tạo nên gánh nặng đối với hộ dân nghèo ở một số địa phương Vì vậy, song cùng với việc xây dựng về cơ sở hạ tầng nông thôn, thì việc nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng NTM là cấp thiết và quan trọng hơn cả
1.1.6 Căn cứ pháp lý trong xây dựng NTM trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai
* Giai đoạn 2010 - 2015
- Căn cứ Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số TTg, ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
342/QĐ Căn cứ Quyết định số 800/QĐ342/QĐ TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020;
- Căn cứ Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ;
- Căn cứ Thông tư 41/2013/TT-BNNPTNT ngày ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Căn cứ Quyết định số 1282/QĐ-UBND ngày 25/5/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Chương trình xây dựng NTM giai đoạn
Trang 19huyện Võ Nhai lần thứ XXI
- Căn cứ Quyết định số 3250/QĐ-UBND ngày 31/12/2012 của Ủy ban nhân dân huyện Võ Nhai về việc phê duyệt Đề án xây dựng NTM xã Tràng Xá, huyện
Võ Nhai giai đoạn 2012 - 2020
*Giai đoạn 2016 - 2020
- Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020
- Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020
- Quyết định số 2292/QĐ-UBND ngày 07/9/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Đề án Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2030
- Nghị quyết số 32-NQ/ ĐU ngày 24/02/2016 về việc lãnh đạo, chỉ đạo và
tổ chức triển khai thực hiện xây dựng NTM xã Tràng Xá giai đoạn 2016-2020
- Căn cứ Quyết định số 1086/QĐ-UBND ngày 28/4/2016 của Ủy ban nhân dân huyện Võ Nhai về việc phê duyệt Đề án xây dựng NTM xã Tràng Xá, huyện
Võ Nhai giai đoạn 2016-2020
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập trong xây dựng nông thôn mới trên thế giới
1.2.1.1 Kinh nghiệm phát triển ngành “Kinh doanh nông nghiệp” ở Mỹ
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các
ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi trường là quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng
Trang 20Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và thu nhập cao hơn.(Bộ Kế hoạch đầu tư, năm 2012)[12]
1.2.1.2 Kinh nghiệm ở Hàn Quốc
Từ một nước nghèo sau chiến tranh Nam Bắc Triều Tiên những năm 50 của thế kỷ trước, Hàn Quốc nay trở thành một con rồng Châu Á và đã đứng trong nhóm các nước phát triển G20 Thế giới biết đến Hàn Quốc không chỉ về thành công trong phát triển kinh tế nói chung, mà còn biết đến một đất nước có kỳ tích về phát triển nông thôn Chỉ trong 26 năm Hàn Quốc đã thành công trong xây dựng nông thôn mới Có thể nói rằng, thành công của Hàn Quốc trong phát triển nông thôn gắn liền với thành công của phong trào Seamaul Trong tiếng Hàn, Saemaul là sự kết hợp của "Sae" có nghĩa là "mới" và "maul" có nghĩa là ngôi làng Saemaul là phát triển hoặc cải cách cộng đồng thành một nơi tốt đẹp hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn, cho tất
cả mọi người, không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần cho thế hệ mai sau
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Khi kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm
và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần
Trang 21Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có.(Phạm Xuân Liêm, năm 2014)[16]
1.2.1.3 Mỗi làng, một sản phẩm của Nhật Bản
Xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật hỗ trợ ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; Căn cứ vào tình hình phát triển của nông thôn và mục tiêu của từng thời kỳ, Chính phủ Nhật Bản đã lần lượt ban hành hàng loạt pháp lệnh và chính sách hỗ trợ nông nghiệp có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài Trong thập kỷ 50, 60 của thế kỷ XX, Nhật Bản đã đề ra Luật cơ bản về nông nghiệp và gần 30 đạo luật khác, đồng thời nhiều lần sửa đổi Luật Đất nông nghiệp, Luật Nông nghiệp bền vững Tất cả các bộ luật này đã cấu thành một hệ thống hoàn chỉnh, tạo hành lang pháp lý để công cuộc xây dựng nông thôn mới được tiến hành thuận lợi
Chính phủ Nhật Bản tích cực tham gia và đầu tư kinh phí lớn Để giải quyết vấn đề thiếu kinh phí đầu tư cho phát triển nông nghiệp, Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng chính sách hỗ trợ nông nghiệp như trợ giá nông phẩm, xây dựng quỹ rủi
ro về giá nông phẩm, trong đó người nông dân bỏ ra 30%, Chính phủ bỏ ra 70% Những năm gần đây, kinh phí đầu tư cho kết cấu hạ tầng nông nghiệp của Nhật Bản vào khoảng 1.100 tỷ yên/năm
Chính phủ luôn khuyến khích người nông dân tích cực tham gia, coi trọng tính
tự lập tự chủ Thời gian đầu, công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản do Chính phủ đóng vai trò chủ đạo Chính phủ Nhật Bản đã tìm mọi cách để nâng cao tính tích cực, sáng tạo của người nông dân, để họ thực sự trở thành đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng phát triển nông thôn Cụ thể, trong phong trào xây dựng làng xã, Chính phủ Nhật Bản đề cao tinh thần phát huy tính sáng tạo, dám nghĩ dám làm, từ việc xây dựng, thực thi quy hoạch, đến việc lựa chọn sản phẩm trong phong trào “mỗi làng một sản phẩm”, đều là do dân cư các vùng tự căn cứ vào nhu cầu của địa phương mình để đề xuất, thực hiện
Trang 22Nhật Bản đã luôn phát huy đầy đủ vai trò của hợp tác xã nông nghiệp Đó là một tổ chức bao quát các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn và hộ nông dân Hiện nay, trên 99% số hộ nông dân ở Nhật Bản đều trực thuộc tổ chức này Thông qua sức mạnh tập thể, mạng lưới phân bố khắp cả nước đã cung cấp cho nông dân những dịch vụ nhanh chóng, chu đáo, hiệu quả
Từ thập niên 70, tỉnh Oita đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” Mục đích là nhằm phát triển vùng nông thôn tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia
có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình.(Khánh Phương, năm 2017)[17]
1.2.1.3 Kinh nghiệm ở Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Hiện nay,Thái Lan đang thực hiện các chính sách xây dựng và phát triển nông thôn một cách thiết thực như sau:
Thứ nhất là chính sách trợ giá nông sản: Ở Thái Lan đang thực hiện trợ giá cho nông dân trên các lĩnh vực nông sản chủ yếu như sau: gạo, cao su, trái cây, v.v… Chính phủ Thái Lan đã mua giá gạo thơm 6.500baht/tấn trong khi giá thị trường chỉ 5.000 - 5.200baht/tấn Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở việc mua giá ưu đãi của nông dân mà nông dân trồng lúa còn được hưởng những ưu đãi khác như mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi xuất thấp từ ngân hàng nông nghiệp v v… Ngoài ra, Thái Lan cũng có hỗ trợ về giá cho nông dân trồng 05 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng cụt và chôm chôm Thực hiện tốt chính sách hổ trợ này chính phủ Thái Lan đưa các chuyên viên cao cấp phụ trách chương
Trang 23trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới
Thứ hai là chính sách công nghiệp nông thôn: Thái Lan vốn là nước nông nghiệp truyền thống với số dân nông thôn chiếm khoảng 80% Do vậy, công nghiệp nông thôn được coi là nhân tố quan trọng giúp cho Thái Lan nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân Để thực hiện nhiệm vụ này, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các công việc như: cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét đầy đủ các nguồn tài nguyên, xem xét những kỹ năng truyền thống, nội lực tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị,… Cụ thể là Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông thủy, hải sản phục
vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước Công nghiệp chế biến thực phẩm Thái Lan phát triển mạnh nhờ một số chính sách sau: Chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp với mục đích nâng cao chất lượng các mặt hàng nông sản gạo, dứa, tôm sú,
cà phê bằng một chương trình “Mỗi làng một sản phẩm” (One tambon, One product
- OTOP) tức là mỗi ngày làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao Trên thực tế chương trình này trung bình 06 tháng đem lại cho nông dân khoảng 84,2 triệu USD lợi nhuận Bên cạnh chương trình trên chính phủ Thái Lan cũng thực hiện chương trình “Quỹ Làng” (Village Fund Progam) nghĩa là mỗi làng
sẽ nhận được một triệu baht từ chính phủ để cho dân làng vay mượn Trên thực tế
đã có trên 75.000 ngôi làng ở Thái Lan được nhận khoản vay này; Chính sách đảm bảo vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm Để thực hiện chính sách chính phủ Thái Lan
đã phát động chương trình: “Thái Lan là bếp ăn của thế giới” với mục đích khuyến
khích các nhà chế biến và nông dân có những hành động thiết thực có hiệu quả để kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm đảm bảo cho xuất khẩu và người tiêu dùng Thứ ba là mở cửa thị trường thích hợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước
ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm: Ở đây chính
phủ Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Ở Thái Lan xúc tiến tiến công việc này là trách nhiệm của Cục xúc tiến Công nghiệp,
Trang 24Cục xúc tiến Nông nghiệp, Cục Hợp tác xã, Cục thủy sản, cơ quan tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp và Bộ nông nghiệp
Chính sách xây dựng phát triển nông thôn ở Thái Lan là một loạt chính sách ra đời từ thách thức của nền nông nghiệp Thái Lan, các chính sách ấy đã kết hợp được kinh nghiệm truyền thống và công nghệ hiện đại đề từng bước làm cho suy nghĩ, nhận thức của người nông dân Thái Lan thay đổi, họ đã hiểu sản xuất nông nghiệp không chỉ để ăn mà còn để xuất khẩu Từ đây họ đã chung sức, chung lòng phát triển nền nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng nhanh, công nghệ cao và một số lĩnh vực đứng đầu thế giới.(Nguyễn Hoàng Sa, năm 2014)[18]
Qua nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao thu nhập tại khu vực nông thôn ở một số nước, tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Thứ nhất: Quan điểm, định hướng phát triển của nhà nước trong phát triển
kinh tế khu vực nông thôn là rất quan trọng Cần hỗ trợ đầu tư để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của khu vực này Việc quy hoạch lãnh thổ gắn liền với quy hoạch vùng sản xuất được coi là nhiệm vụ trọng tâm khuyến khích kinh tế phát triển Tập trung phát triển các sản phẩm mũi nhọn của từng vùng, gắn với thị trường tiêu thụ
Thứ hai: Đào tạo, trang bị kiến thức để những người nông dân trở thành người
chủ thực sự trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Thứ ba: Nhà nước cần đầu tư nghiên cứu về khoa học - công nghệ, để có thể ứng
dụng vào trong sản xuất nông nghiệp, tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi mũi nhọn cho năng suất và chất lượng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng nông thôn
Thứ tư: Cần tập trung hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng hệ
thống thông tin liên lạc để tạo thuận lợi cho việc phân phối sản phẩm và cập nhật được thông tin thị trường đầu vào, đầu ra… giúp người dân chủ động trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm, từ đó làm tăng giá trị của sản phẩm nâng cao thu nhập cho người dân
Thứ năm: Tăng cường hợp tác, liên kết trong sản xuất giữa hộ nông dân và các
tổ chức, doanh nghiệp, HTX nhằm mở rộng quy mô sản xuất, ổn định đầu ra cho sản phẩm, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất
Trang 251.2.2 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho người dân trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta
1.2.2.1 Kinh nghiệm tại tỉnh Bắc Giang
Là một tỉnh miền núi, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nên nhiều năm qua,
vấn đề “tam nông” luôn được Bắc Giang đẩy mạnh Từ năm 2012, các đề án, chính
sách đầu tư, hỗ trợ theo giai đoạn 5 năm, 10 năm đã được chỉ đạo tổ chức thực hiện như đề án cơ giới hoá và giảm tổn thất sau thu hoạch trong nông nghiệp; đề án hỗ trợ phát triển trang trại nuôi thuỷ sản thâm canh cao; đề án nâng cao chất lượng giống thuỷ sản; quy hoạch phát triển thuỷ sản Bắc Giang; quy hoạch vùng rau chế biến, rau an toàn; đề án phát triển lúa lai;… ở tất cả các xã, đặc biệt là 40 xã xây dựng NTM giai đoạn 2011 - 2015 đều xây dựng đề án phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn Mỗi huyện cũng lựa chọn một số sản phẩm có thế mạnh để đầu tư phát triển, tạo sức đột phá trong sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung Điển hình là các vùng sản xuất rau chế biến tập trung với tổng diện tích gần 3.000 ha trồng một số cây có giá trị kinh tế cao như dưa chuột bao tử, cà chua bi, dưa chuột Nhật, khoai tây Atlantic ở Lạng Giang, Tân Yên, Yên Dũng,… Kết cấu hạ tầng vùng nuôi thuỷ sản ngày càng hoàn thiện, chất lượng giống thuỷ sản được nâng cao, năng suất, chất lượng thuỷ sản trên địa bàn tăng mạnh Với diện tích mặt nước nuôi thuỷ sản hơn 12.000 ha, đã cho sản lượng đạt trên 27.000 tấn Chăn nuôi chuyển dịch mạnh từ nhỏ lẻ sang tập trung quy mô trang trại, gia trại an toàn sinh học gắn với bảo vệ môi trường Điểm đáng chú ý, năm 2012 Bắc Giang đã xây dựng thí điểm thành công 2 cánh đồng mẫu lớn tại huyện Yên Dũng với quy mô 50 ha/cánh đồng tại xã Cảnh Thuỵ và xã Tư Mại sản xuất lúa và khoai tây chất lượng cao Hàng chục mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân được hình thành, góp phần quan trọng trong sản xuất nông nghiệp hàng hoá ổn định, tăng thu nhập cho nông dân Năm 2013, Bắc Giang có 4 cánh đồng mẫu lớn với quy mô trên 50 ha/cánh đồng tại các huyện Yên Dũng, Việt Yên và Tân Yên; 14 cánh đồng cho thu nhập cao với quy mô từ 20
- 46 ha/cánh đồng tại các huyện như Yên Dũng, Việt Yên, Lạng Giang, Hiệp Hoà
và thành phố Bắc Giang Trong sản xuất nông nghiệp ở Bắc Giang, đã xuất hiện
Trang 26một số nông sản có thế mạnh trở thành thương hiệu của tỉnh như vải thiều Lục Ngạn, gà đồi Yên Thế
Các kết quả trên cho thấy, các đề án, chính sách trong xây dựng NTM đã tạo
sự chuyển biến tích cực về sản xuất nông nghiệp hàng hoá tập trung Qua đó, đã làm thay đổi nhận thức, tập quán canh tác của người dân, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Mối liên kết trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chặt chẽ hơn, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống cho người dân.(Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 2016)[12]
1.2.2.2 Kinh nghiệm của xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang
Xã Yên Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên hơn 3.933 ha; diện tích đất nông, lâm nghiệp hơn 3.611 ha Toàn xã có 7.916 nhân khẩu/1.918 hộ, gồm 7 dân tộc anh em… Với nhiều thuận lợi về tiềm năng phát triển kinh tế, xã hội, Yên Nguyên được huyện Chiêm Hóa chọn là xã điểm xây dựng NTM Xã khuyến khích các hộ dân tự phát huy nội lực thay đổi cách nghĩ, cách làm, năng động phát triển kinh tế gia đình Thôn Yên Quang cho biết, thôn có 126 hộ, trong đó có trên 80% hộ sản xuất, chăn nuôi Hiện nay, thôn có trên 40 con trâu, hơn 2.000 con lợn, hơn 600 con dê… hầu hết các hộ gia đình đều áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nên nhiều năm nay gia súc, gia cầm trong thôn phát triển ổn định, không có dịch bệnh Chi bộ thôn đã xây dựng kế hoạch phát triển vùng chăn nuôi tập trung, tăng đàn gia súc, gia cầm, tăng các mô hình chăn nuôi trang trại, gia trại đẩy mạnh phát triển kinh tế… Bằng sự chung tay góp sức, sau 5 năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đến nay xã Yên Nguyên đã hoàn thành cả 19 tiêu chí trong bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới Giải bài toán thực hiện tiêu chí thu nhập theo chuẩn nông thôn mới, xã đã thực hiện nhiều giải pháp như: Liên kết với doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh xây dựng điểm sản xuất giống lúa, triển khai thực hiện nhiều dự
án hỗ trợ trồng lúa chất lượng cao, mô hình lạc giống mới, đậu tương, cá lồng, nuôi trâu… Hàng năm, xã ký hợp đồng cung cấp thức ăn gia súc lâu dài với trại bò Phú Lâm Đặc biệt, Hợp tác xã Nông lâm nghiệp xã ký hợp đồng với bao tiêu sản phẩm sản xuất ớt (ớt chỉ thiên) xuất khẩu Khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, nâng cao giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích canh tác, xã đẩy mạnh phát triển cây trồng vụ đông trên đất 2 lúa, từ đó nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp có giá trị kinh tế và
Trang 27xây dựng cánh đồng cho thu nhập cao Cấp ủy chính quyền xã quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản theo hướng hàng hóa Nhờ sự lãnh đạo đúng hướng, đến nay tỷ lệ hộ khá, giàu ở xã chiếm 55%, tăng 15% so với năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 2,1% Thu nhập bình quân đầu người đạt 21,69 triệu đồng/ người/năm Qua rà soát, số lao động có việc làm thường xuyên là 5.218/6.519 lao động, đạt 99,9% kế hoạch đề ra.(Hải Hương, năm 2016)[14]
1.2.2.3 Kinh nghiệm tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
La Bằng là xã miền núi thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, được chọn là một trong 35 xã điểm của tỉnh Thái Nguyên để triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới đã tạo nên luồng sinh khí mới cho sự phát triển của xã Trong triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTM, Đảng ủy xã đặt ra mục tiêu muốn huy động được sức dân thì phải lo cho dân trước Do đó, vấn đề giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân được đặt lên hàng đầu Để đạt mục tiêu này, La Bằng đã triển khai quy hoạch lại sản xuất theo hướng nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, luân canh tăng vụ, đẩy mạnh sản xuất cây vụ đông, sản xuất theo quy mô gia trại, trang trại, xây dựng vùng chè nguyên liệu, vùng chăn nuôi tập trung Đặc biệt, tập trung vào cây chè là ưu tiên hàng đầu để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân Xã đã cho chuyển đổi mỗi năm từ 10-15 ha cây chè già, cây chè trung du xuống cấp, giá trị kinh tế thấp chuyển sang chè giống mới năng suất, chất lượng cao Sản phẩm chè đặc sản La Bằng đã được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận nhãn hiệu tập thể "Chè La Bằng", có sức tiêu thụ lớn trên thị trường
Từ cây chè, xã đã hình thành 2 hợp tác xã, 5 tổ hợp tác sản xuất chè đặc sản; hầu hết các làng nghề chè trong xã đều áp dụng sản xuất chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGap
Đồng thời, nhằm động viên tinh thần và huy động nhân dân xây dựng nông thôn mới, Hội nông dân xã tổ chức phong trào "Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, làm giàu bền vững" Với cách làm đồng
bộ, sáng tạo, việc phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở La Bằng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Năm
2014, La Bằng được được UBND tỉnh Thái Nguyên công nhận xã đạt chuẩn nông
Trang 28thôn mới sớm hơn 1 năm so với mục tiêu và trở thành xã thứ hai của huyện Đại Từ (sau xã Hùng Sơn) được công nhận đạt chuẩn NTM.(Hiền Hòa, năm 2017)[16]
* Qua nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao thu nhập trong xây dựng NTM của một số địa phương trong nước, tôi rút ra được một số bài học sau:
Thứ nhất: Tập trung khuyến khích các hộ dân tự phát huy nội lực thay đổi
cách nghĩ, cách làm, năng động phát triển kinh tế gia đình, nhà nước chỉ đóng vai trò định hướng, hỗ trợ
Thứ hai: Sản xuất nông nghiệp tập trung, phát huy thế mạnh, lợi thế của vùng
theo hướng hàng hoá gắn với tiêu thụ sản phẩm
Thứ ba: Chú trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn (giao thông,
thuỷ lợi) để phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Thứ tư: Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân, phát huy
tinh thần làm chủ của người dân; Các nội dung triển khai đều có sự tham gia, bàn bạc và quyết định thực hiện của người dân có như vậy thì công cuộc nâng cao thu nhập cho người dân mới hiệu quả và bền vững
Trang 29CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Những hoạt động sinh kế tạo thu nhập cho người dân trong xây dựng NTM
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; cộng đồng người dân xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian thu thập số liệu thứ cấp: Từ năm 2014 đến năm 2016
Thời gian thu thập số liệu sơ cấp: được tiến hành trong năm 2016
2.2 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá thực trạng thu nhập từ các hoạt động sinh kế của người dân trong chương trình xây dựng NTM trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của người nông dân trong xây dựng NTM tại địa bàn xã
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trong chương trình xây dựng NTM trên địa bàn xã
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:
Tác giả thu thập số liệu thứ cấp từ: Nguồn tài liệu từ các báo cáo, các bảng, biểu thu thập từ Văn phòng điều phối Chương trình xây dựng NTM của huyện, phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, Chi cục thống kê huyện Võ nhai, UBND xã
Tràng Xá
Ngoài ra còn tham khảo các đề tài, các báo cáo khoa học, các tạp chí chuyên ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn trong nước; qua các cổng thông tin điện tử,
Trang 30mạng Internet, được sử dụng làm nguồn tài liệu thu thập cho quá trình nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Số liệu thu thập qua điều tra phiếu bảng hỏi các hộ dân, quan sát thực tế tại địa phương, kết hợp phỏng vấn người dân trong cộng đồng, cụ thể như sau:
+ Xác định số lượng mẫu: Để có được một kết quả có cơ sở thống kê và hạn chế tối đa những sai sót trong quá trình chọn mẫu, mẫu được lựa chọn dựa trên công thức xác định cỡ mẫu của Slovin như sau:
Trong đó:
n: Cỡ mẫu N: Tổng thể mẫu
e2: Sai số
Do điều kiện thời gian có hạn, địa bàn rộng, các hộ dân sống thưa thớt nên trong luận văn tác giả sử dụng sai số 10%, theo tác giả đây cũng là con số khá vững chắc để đảm bảo có ý nghĩa thống kê, như vậy e = 0,1
Ta có N= 2.060 hộ đây là số hộ dân trên địa bàn xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Thay vào công thức ta có n = 95 mẫu
Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng n =100 hộ dân để đảm bảo cho việc khảo sát và có ý nghĩa về mặt thống kê
+ Tiến hành điều tra trực tiếp 100 hộ nông dân trong năm 2016
+ Nội dung hỏi: Đã được chuẩn bị thông qua bảng hỏi (Phụ lục)
+ Địa điểm điều tra: Qua phân tích và tham khảo ý kiến chuyên gia, các nhà quản lý, tác giả căn cứ vào phân vùng sinh thái của xã để tiến hành chọn 5/20 xóm nghiên cứu đại diện, ở mỗi xóm đều có đặc điểm phát triển kinh tế xã hội riêng
2.2.2.2 Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp để nắm được tổng quát về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu Đồng thời có thể kiểm tra tính xác thực khi phỏng vấn người dân
Trang 31- Phương pháp đánh giá nông thôn: Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu tình hình thực tế các hộ trong xã như: Phong tục tập quán, mức thu nhập, tập quán sản xuất, tiêu chí đánh giá và phân loại hộ, những khó khăn mà người dân gặp phải
2.2.2.4 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp đánh giá phân tích thông qua lấy ý kiến cán bộ thôn, xã, huyện
và của nông dân về các tiêu chí: giao thông, điện, đường, trường học, thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, y tế, giáo dục, văn hóa, môi trường
2.2.2.5 Phương pháp phân tích và so sánh
Dùng phương pháp này để phân tích và sử lý số liệu để thấy rõ được sự biến động của các vấn đề nghiên cứu qua từng thời kỳ, thấy được sự tác động của từng nhân tố đến thu nhập của các hộ dân trong xã Từ đó, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhất nhằm nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn xã
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Chỉ tiêu về số lượng, cơ cấu, tỷ lệ: Những chỉ tiêu để so sánh giữa các năm khác nhau, hoặc giữa vùng này với vùng khác hoặc giữa các đối tượng như ngành nghề, cây trồng, vật nuôi… được sử dụng bởi các chỉ tiêu về số lượng, cơ cấu, tỷ lệ
- Chỉ tiêu về thu nhập: Do đặc thù kinh tế hộ vùng nghiên cứu, sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp Vì thế, để phù hợp với điều kiện tính toán kinh tế hộ nông dân đề tài áp dụng chỉ tiêu đánh giá thu nhập bao gồm:
+ Tổng thu: Là toàn bộ sản phẩm thu được của hộ tính theo giá thị trường ở thời điểm điều tra (kể cả bán và tiêu dùng)
+ Chi phí: Do không phải bất cứ yếu tố đầu vào của hộ đều được trao đổi trên thị trường nên chi phí là bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài)
+ Chi tiêu của hộ: Bao gồm tất cả các khoản chi tiêu phục vụ cuộc sống hàng
Trang 32ngày của hộ
+ Thu nhập bình quân/hộ: Là tổng thu nhập của các hộ/số hộ điều tra
+ Thu nhập thực tế của hộ: là thu nhập của hộ còn lại khi lấy tổng thu của hộ trừ đi chi phí sản xuất
+ Tiết kiệm của hộ: Bằng tổng thu trừ đi toàn bộ chi phí bao gồm cả chi sản xuất
và chi tiêu dùng của hộ
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tràng Xá là xã vùng cao nằm ở phía Đông Nam huyện Võ Nhai cách trung tâm Huyện (thị trấn Đình Cả) 8 km và cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 45
km, có trục đường tỉnh lộ ĐT265 chạy qua với chiều dài 12 km
Địa hình xã chủ yếu là đồi núi, xen kẽ là những cánh đồng tạo thành địa hình nhấp nhô đồi bát úp Độ dốc lớn và có nhiều sông suối, ít thuận lợi cho xây dựng
Có nhiều tiềm năng để phát triển lâm nghiệp, kinh tế vườn đồi
Là xã trung tâm của cụm 5 xã phía Nam huyện Võ Nhai, có trục đường tỉnh lộ
ĐT 265 đi qua thuận lợi cho phát triển tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ thương mại Khí hậu nằm trong vùng mang đặc điểm khí hậu nhiệt vùng miền núi phía Bắc Khí hậu thời tiết của xã Tràng Xá mang đặc trưng của miền núi phía Bắc thích hợp cho sự phát triển đa dạng về sinh học, phù hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng khác nhau: Cây ăn quả, cây chè, cây lâm nghiệp, cây lương thực
Theo bản đồ thổ nhưỡng trên địa bàn xã Tràng Xá đất đai chia thành các loại đất chính như sau:
Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ đây là loại đất hình thành do sự tích tụ của các sản phẩm phong hoá trên cao đưa xuống, loại đất này được phân bố rải rác rộng khắp trên địa bàn toàn xã, diện tích này không lớn tập trung ở các núi cao phía Tây Bắc của xã đang khai thác để trồng lúa nước diện tích 467.63ha
Đất nâu đỏ phát triển trên đá Mắcma bazơ và trung tính có tầng đất có độ dầy trung bình, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, phần lớn diện tích này có
độ dốc tương đối lớn vì vậy bị rửa trôi mạnh dẫn đến nghèo dinh dưỡng, hiện đang
sử dụng vào mục đích lâm nghiệp và trồng chè
Đất đỏ vàng trên đá sét tầng trùng bình (Fsy) phân bố trong toàn xã phù hợp trồng các loại cây hoa màu
Mạng lưới thủy văn của xã Tràng Xá đa dạng bao gồm hệ thống sông suối khe đập khá dày đặc nên mùa mưa dễ xảy ra lũ lụt cục bộ tại khu vực xung quanh suối, tuy nhiên vẫn đáp ứng yêu cầu tưới tiêu cho sản xuất (UBND xã Tràng Xá, năm 2016)[8]
Trang 34Tình hình sử dụng đất đai của xã từ năm 2014 đến 2016 như sau:
Tổng diện tích tự nhiên của xã năm 2016 là 4.753,56 ha, trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 4034,01 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 309 ha (diện tích đất chuyên dùng là 113,40 ha), diện tích đất chưa sử dụng là 410,55ha
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Tràng Xá qua 3 năm (2014-2016)
2015/2
011 (%) Tổng diện tích tự nhiên 4.753,56 100 4.753,56 1,00 0 100
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 1.847,28 38,86 1.847,28 38,86 0 100 1.2 Đất nuôi trồng thủy sản 74,99 1,58 53,58 1,13 -21 71,45 1.3 Đất lâm nghiệp 1.802,42 37,92 2.133,15 44,87 331 118,35
2.1 Đất ở nông thôn 116,18 2,44 194,56 4,09 78 167,46 2.2 Đất chuyên dùng 231,63 4,87 114,44 2,41 -117 49,41
(Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Võ Nhai, năm 2015, 2017)[1]
Qua bảng số liệu trên ta thấy toàn bộ diện tích đất tự nhiên của xã không có sự biến động qua các năm với tổng là 4.753,56 ha Trong đó được chia ra làm 3 nhóm đất chính: Nhóm đất sử dụng cho nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm chưa sử dụng Trong cơ cấu đất tự nhiên thì có sự tăng giảm giữa các nhóm đất do quá trình sinh sống và nhu cầu phát triển sản xuất tại địa phương Diện tích đất nông nghiệp năm 2016 là 4.034,01 ha, chiếm 78,36%, tăng so với năm 2014 là 309 ha, tăng 8,3%, nguyên nhân là do sự tăng lên của diện tích đất lâm nghiệp tăng từ 1.802,42 ha (năm 2014) lên 2.133,15 ha năm (2016) Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ
lệ rất thấp mới chỉ đạt 7,32% diện tích đất tự nhiên năm 2016 mà hơn nữa diện tích đất này sử dụng rất manh mún, nhỏ lẻ, tự phát không theo quy hoạch Đất ở nông thôn năm 2016 là 194,56 tăng 78 ha so với năm 2014, tỷ lệ tăng là 67,46% chứng tỏ nhu cầu về nhà ở tại địa phương trong vòng 3 năm là rất cao
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình dân số và lao động
Tổng số hộ năm 2016 là 2.060 hộ, tổng số nhân khẩu là 8.852 nhân khẩu Trên địa bàn xã hiện có 9 dân tộc anh em cùng sinh sống (gồm: dân tộc Kinh chiếm 42,46%,
Trang 35dân tộc Nùng chiếm 30%, dân tộc Tày chiếm 10,55%, dân tộc H,Mông chiếm 10,05%, dân tộc Dao chiếm 2,63%; dân tộc Cao Lan chiếm 0,79%; dân tộc Mường chiếm 0,33%; dân tộc Sán Dìu chiếm 0,28%, còn lại dân tộc Thái chiếm 0,02%)
Số người trong độ tuổi lao động là 5.587 người, trong đó số lao động đã qua
đào tạo là 710 người chiếm 12,70%, lao động chưa qua đào tạo là 4.375 người chiếm 78,30%, số học sinh, sinh viên là 502 người chiếm 8,98% Số lao động có việc làm thường xuyên là 5.085 người chiếm 91,01%
Lao động có việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp là 3.376 người chiếm 60%;
thương mại, dịch vụ 1.124 người chiếm 20%; lao động khác 1.087 người chiếm 19% trong tổng số lao động của xã.(UBND xã Tràng Xá, năm 2016)[8]
Qua bảng 3.2 cho thấy rằng tỷ lệ lao động hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao hơn so với các ngành khác (60,43% năm 2016), tuy nhiên từ năm 2014 đến năm 2016 tỷ lệ lao động làm trong lĩnh vực này đã giảm, số lao động trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại, tiểu thủ công nghiệp, công nhân viên chức nhà nước tăng lên đáng kể (tăng 485 người, tỷ lệ tăng 75,9%)
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động xã Tràng Xá giai đoạn 2014-2016
Năm 2014 Năm 2016 So sánh
Số lượng
2 Tổng dân số toàn xã Người 7.364 8.852 1.488 120,2
2.1 Dân số trong độ tuổi
Trang 36ha, từ đó cho thấy diện tích đã giảm đi rõ rệt, nguyên nhân là do các năm gần đây một lượng lớn lao động địa phương đã đi làm xa quê dẫn đến tình trạng thiếu lao động, giá nhân công thuê ngoài cao, sản xuất không có lãi nên nhiều hộ trồng lúa với mục đích tự phục vụ gia đình và diện tích khác chuyển sang trồng các loại cây
ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn Các loại cây rau màu được trồng chủ yếu là rau các loại, đậu, lạc, tuy diện tích đất nông nghiệp của xã rất lớn nhưng những loại cây rau màu lại được trồng với diện tích rất nhỏ, năm 2014 có diện tích là 50,8 ha, năm 2016 diện tích là 54,5 ha, tuy có sự tăng lên nhưng chưa đáng kể, sản xuất còn manh mún, chưa mang tính chất hàng hóa, chỉ nhằm mục đích tự cung tự cấp tại gia đình và địa phương
Theo dõi bảng số liệu cho thấy rằng, cây ăn quả, đặc biệt là cây bưởi có sự gia tăng nhanh chóng về diện tích và sản lượng, năm 2014 diện tích cây bưởi là 14 ha đến năm 2016 diện tích là 80ha Nguyên nhân của sự tăng mạnh này là do một vài năm trở lại đây, cây bưởi diễn tại địa phương mang lại giá trị kinh tế rất cao, mỗi năm có thể thu về 30 triệu đồng/sào Đặc tính của quả bưởi lại rất dễ thu hoạch, vận chuyển và thời gian bảo quản được lâu dài (từ 2 đến 3 tháng) không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, giá bán và đầu ra ổn định Tuy nhiên trong thời gian tới cần
có những dự báo để bà con không đổ xô trồng bưởi nếu không muốn xảy ra tình trạng dư thừa sản phẩm, được mùa rớt giá
Trang 37Cây chè nhiều năm nay đã trở thành cây trồng thế mạnh của địa phương, diện tích chè năm 2014 là 190 ha, sản lượng đạt 104,5 tấn, năm 2016 là 298,5 ha, sản lượng đạt 179,1 tấn Nhiều hộ dân đã thoát nghèo từ hiệu quả kinh tế mà cây chè mang lại Chè Tràng Xá dù chưa có thương hiệu, nhưng vẫn có thị trường tiêu thụ
ổn định với giá bán từ 90 - 100.000 đồng/ kg Trong những năm qua, chè Tràng Xá đều tham dự các Liên hoan chè và được Ban tổ chức cũng như người thưởng thức chè đánh giá cao về chất lượng và sản lượng
Từ những phân tích về diễn biến các loại cây trồng qua các năm cho thấy nguyên nhân tăng, giảm diện tích các loại cây trồng chủ yếu phụ thuộc vào hiệu quả kinh tế cây trồng mang lại và nguồn lao động tại địa phương Do đó, cần có sự can thiệp của chính quyền địa phương trong việc định hướng, hướng dẫn bà con các biện pháp canh tác và cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, khắc phục tình trạng thiếu lao động
Bảng 3.3 Tình hình canh tác các loại cây trồng của xã Tràng Xá qua 3 năm
SL
(tấn) DT (ha)
NS (tạ/ha)
Trang 38- Về chăn nuôi: Ngành chăn nuôi tập trung của xã chưa được phát triển, chủ
yếu trên nền tảng hộ gia đình, với qui mô nhỏ, đã có một số mô hình gia trại Số lượng đàn gia súc, gia cầm gồm: Đàn gia cầm: 28.000 con, đàn lợn: 3.500 con, đàn trâu bò: 815 con Trong 2 năm 2015 và 2016 được coi là những năm có nhiều khó khăn đối với ngành chăn nuôi, dịch bệnh gia súc, gia cầm xuất hiện ở các địa phương đã làm cho người chăn nuôi lo ngại không dám mạnh dạn đầu tư Mặt khác
do thị trường tác động, giá thức ăn và con giống tăng cao, nhưng giá thịt hơi xuất chuồng giảm
Tổng đàn gia cầm năm 2016 là trên 465.241 con với nhiều chủng loại giống khác nhau Hiện nay do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thịt gia cầm khá cao nên số lượng đàn gia cầm tăng lên rõ rệt theo các năm nhưng theo hướng tự phát, tuy tạo ra nhiều sản lượng nhưng khó kiểm soát dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, thị trường tiêu thụ không ổn định
- Về lâm nghiệp: Tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã là 2.133,15 ha chiếm
45% diện tích đất toàn xã trong đó: đất rừng sản xuất là: 1.525,37 ha; đất rừng phòng hộ 607.78ha
- Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn:
Tổng số lao động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số lao động toàn xã Các ngành nghề chủ yếu là: Sản xuất vật liệu xây dựng như sửa chữa nhỏ, khai thác cát sỏi Các cơ sở sản xuất nằm rải rác ở các hộ gia đình
Về thương mại dịch vụ: Chủ yếu mở rộng hoạt động dịch vụ nông nghiệp, dịch vụ vật tư phân bón, tạp hóa và nghề truyền thống mức lưu chuyển hàng hóa chưa cao, cơ bản đáp ứng những yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân Xã Tràng
Xá hiện nay đã có chợ Trung tâm cụm xã do nhà nước đầu tư xây dựng
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng nông thôn
- Giao thông: Đường trục xã, liên xã: Chiều dài đường là 10.000m, nền
đường là 7,5m, mặt đường rộng 3,5m; đường đã rải nhựa đạt tiêu chuẩn của Bộ Giao thông vận tải (Bộ GTVT)
Đường giao thông trục xã có chiều dài là 6,73km, năm 2014 chủ yếu là kết cấu đường đất cấp phối Các tuyến liên thôn chưa hoàn chỉnh nên người dân trong xã gặp nhiều khó khăn trong việc giao lưu buôn bán, thông thương hàng hóa Đến năm
2016, đã bê tông hóa được 5,95km, đạt 88%, giao thông thuận tiện hơn rất nhiều, đặc biệt trong mùa mưa lũ
Trang 39Đường trục chính xóm, liên xóm có tổng chiều dài là 41,432km Năm 2014, mặt đường chủ yếu là cấp phối, đến năm 2016 đã bê tông hóa được 510m, đạt 6% Đường trục chính nội đồng đến năm 2016 đã cứng hóa, đi lại thuận tiện là 1,1/1,845km, đạt 60%.(UBND xã Tràng Xá, năm 2014, năm 2016)[5][7]
Đối chiếu với yêu cầu của Bộ Tiêu chí xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 thì xã Tràng Xá đã đạt chuẩn về tiêu chí Thủy lợi
- Điện
Hệ thống điện do ngành điện đầu tư lắp đặt đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện Toàn xã có 14 trạm biến áp 35/0,4KVA và 61km đường dây hạ thế (trong đó có 61km đạt chuẩn) Số hộ sử dụng điện thường xuyên là 1.949 hộ, đạt 96,34% Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện Đối chiếu với yêu cầu của Bộ Tiêu chí xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 thì xã Tràng Xá đã đạt chuẩn về tiêu chí Điện.(UBND xã Tràng Xá, năm 2016)[8]
- Trường học
Tổng số trường học hiện trên địa bàn xã là 6 trường học (93 phòng); trong đó: trường mầm non: 2 trường (13 phòng trong đó có 9 phòng học), trường tiểu học: 2 trường (41 phòng, trong đó có 39 phòng học), trung học cơ sở: 2 trường (39 phòng, trong đó có 27 phòng học) Đến năm 2016, xã mới có 03 trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn I, các trường còn lại đang được đầu tư xây dựng để đạt chuẩn.(UBND xã Tràng Xá, năm 2016)[8]
- Cơ sở vật chất văn hoá
Trang 40Xã đã có Nhà văn hoá xã đã đạt chuẩn, tuy nhiên chưa có khu thể thao xã Đến hết năm 2016, toàn xã có 20/20 xóm đã có nhà văn hoá, trong đó có 06/20 xóm có nhà văn hoá đạt chuẩn đạt 30%
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu
3.1.3.1 Thuận lợi
- Về điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý rất thuận lợi trong việc giao lưu, buôn bán vận chuyển hàng hóa, đặc biệt tiêu thụ các loại nông sản Ngoài ra còn thuận lợi trong việc tiếp thu, chuyển giao công nghệ khoa học kỹ thuật phục vụ cho đời sống và sản xuất
Giao thông thuận lợi, hệ thống đường giao thông ngày càng được nâng cấp và hoàn thiện tạo điều kiện cho việc giao lưu buôn bán, vận chuyển hàng hoá giữa các
xã lân cận và trong huyện
Khí hậu và điều kiện thổ nhưỡng trên địa bàn xã, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi có thể phát triển tốt
Xã có nhiều đất rừng rất thuận lợi cho việc phát triển các chương trình dự án trồng cây công nghiệp và lâm nghiệp phù hợp với đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới tại địa phương
Nguồn nước có nhiều kênh mương thủy lợi, hồ ao lớn và sông suối chảy qua
xã rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
- Về phát triển kinh tế - xã hội:
Tình hình chính trị xã hội trên địa bàn ổn định là điều kiện thuận lợi cốt yếu để phát triển kinh tế xã hội, là tiền đề cho sự phát triển của địa phương
Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được tăng cường, các cụm thương mại chợ nông thôn đang được đầu tư xây dựng, hàng hóa lưu thông, thúc đẩy phát triển kinh tế
Có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng, chính quyền các cấp từ tỉnh, huyện đến xã, các ban ngành đoàn thể của địa phương cùng với sự nỗ lực của các hộ dân qua đó phát huy sức mạnh tổng hợp, góp phần hoàn thành mục tiêu kinh tế xã hội Đảng và Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển kinh tế nông nghiệp miền núi, vùng cao như trợ cước giống, phân bón, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi đã khuyến khích nông dân tích cực tham gia sản xuất, phát triển kinh tế hộ