1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)

92 370 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ HƯƠNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÂY TRỘI LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN GEN

CÂY TRÁM ĐEN (Canarium tramdenum)

TẠI HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN QUỐC HƯNG

Thái Nguyên - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa từng sử dụng để bảo

vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu

và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn chính xác

và đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017

TÁC GIẢ

Hoàng Thị Hương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân.Tôi xin bày

tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo của Nhà trường cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS.TS.Trần Quốc Hưng, người Thầy đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, UBND và các phòng ban huyện Hòa An; lãnh đạo UBND các xã Bình Dương, Bình Long, Công Trừng, Dân Chủ, Hà Trì, Ngũ Lão, Nguyễn Huệ, Quang Trung và các hộ nông dân trên địa bàn các xã đã giúp đỡ tôi về thông tin, số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự đóng góp, bổ sung của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc để nội dung luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017

TÁC GIẢ

Hoàng Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa về mặt khoa học 2

3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn sản xuất 2

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở khoa học 3

1.1.1 Khái quát về cây Trám đen 3

1.1.2 Đặc điểm phân bố 3

1.1.3 Đặc điểm hình thái 4

1.1.4 Đặc điểm sinh thái 5

1.1.5.Giá trị kinh tế 5

1.1.6 Cơ sở khoa học về cây mẹ (cây trội) 6

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài 8

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8

1.2.2 Nghiên cứu về cây Trám đen ở Việt Nam 10

1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 17

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu 17

1.3.2.Điều kiện kinh tế- xã hội của khu vực nghiên cứu 20

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

Trang 5

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24

2.3 Nội dung nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 24

2.4.1 Công tác chuẩn bị 24

2.4.2 Công tác ngoại nghiệp 24

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 24

2.4.3 Công tác nội nghiệp 29

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

3.1.Thực trạng gây trồng và phát triển cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu 30

3.1.1.Diện tích gây trồng và phân bố cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu 30 3.1.2 Kinh nghiệm gây trồng và phát triển cây Trám đen của người dân tại khu vực nghiên cứu 34

3.1.3 Kinh nghiệm thu hái, sơ chế bảo quản và thị trường tiêu thụ Trám đen tại khu vực nghiên cứu 36

3.2 Đánh giá sinh trưởng và năng suất của cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu 38

3.2.1 Đánh giá tình hình sinh trưởng của cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu 38

3.2.2 Đánh giá năng suất và phẩm chất của cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu 40

3.2.3 Đánh giá ảnh hưởng của nhân tố đất tới sinh trưởng và phát triển của cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu 43

3.3 Lựa chọn cây trội Trám đen và đề xuất tiêu chí lựa chọn cây trội 44

3.3.1 Lựa chọn cây trội Trám đen 44

Trang 6

3.3.2 Đề xuất bộ tiêu chuẩn lựa chọn cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và

phát triển nguồn gen cây Trám đen tại huyện Hòa An tỉnh Cao

Bằng 47

3.4 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây Trám đen tại huyện Hòa An 48

Chương 4: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 50

4.1 Kết luận 50

4.2 Tồn tại 51

4.3 Kiến nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC 60

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Hiện trạng đất đai tại khu vực nghiên cứu 30 Bảng 3.2: Tỷ lệ diện tích trồng trám đen tại các xã của huyện Hòa An 31 Bảng 3.3: Kinh nghiệm chọn giống và gây trồng, chăm sóc Trám đen khu

vực nghiên cứu 35 Bảng 3.4: Kinh nghiệm thu hái, sơ chế và bảo quản, thị trường tiêu thụ

Trám đen tại khu vực nghiên cứu 36 Bảng 3.5 Tình hình sinh trưởng trung bình của cây Trám đen tại khu vực

nghiên cứu 39 Bảng 3.6: Kích thước trung bình quả, hạt, độ dày cùivà năng suất của

Trám đen tại khu vực nghiên cứu 41 Bảng 3.7 Kết quả phân tích đất tại các phẫu diện nghiên cứu 43 Bảng 3.8 Đặc điểm của các cây trội Trám đen tại khu vực nghiên

cứu 45 Bảng 3.9: Bộ tiêu chuẩn để lựa chọn cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn

và phát triển cây Trám đen tại huyện Hòa An 47

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cao Bằng là một tỉnh miền núi điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế, người nông dân chủ yếu sản xuất nông lâm nghiệp là chính, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn Huyện Hòa Anđược đánh giá là nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất so với các huyện khác trong toàn tỉnh Cao Bằng nhưng diện tích đất đồi núi chiếm tới 2/3 diện tích huyện, thu nhập chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp Cùng với hệ thống cây bản địa đa tác dụng khác có ở địa phương như:

Dẻ Trùng Khánh, Dẻ gai đỏ, Sấu, Trám trắng, Trám chim, Trám ba cạnh… thì cây Trám đen được gây trồng tại huyện Hòa An từ rất lâu đời Trám đen trồng bằng hạt khoảng từ 7-8 năm sau mới cho quả, tỷ lệ cây ra quả chỉ chiếm khoảng 30- 40% Trám đen được gây trồng khá nhiềuở các vườn hộ gia đình hoặc những khu rừng gần nhà do đất tổ tiên để lại, so với các loài cây cho quả trên thì cây Trám đen cho thu nhập cao nhất Ở huyện Hòa An cây Trám đen đã trở thành cây làm giàu của nhiều gia đình bởi Trám đen là cây dễ trồng, không kén đất, là cây trồng đa tác dụng, trung bình mỗi cây cho thu hoạch từ 50-80kgquả/cây/năm, cá biệt có những cây cho thu hoạch trên 150kg/cây/năm Với giá bán từ 60.000-100.000đồng/kg trung bình một cây Trám đen thu về từ 3.000.000 - 8.000.000 đồng/cây Đặc biệt, cây Trám đen rất dễ bán, chưa đến mùa thu hoạch quả trám đã được đặt mua trước tại gốc Mặt khác Trám đen là cây gỗ lâu năm nên ngoài giá trị kinh tế như trên còn có giá trị phòng hộ bảo

vệ môi trường sinh thái ở địa phương

Với những giá trị to lớn đem lại cây Trám đen đã và đang được người dân quan tâm, chú trọng trong công tác trồng rừng kinh tế tại huyện Hòa An, được tỉnh Cao Bằng lựa chọn là một trong những cây mũi nhọn góp phần xóa đói, giảm nghèo, tiến tới làm giàu cho người dân địa phương nhằm phát triển kinh tế nông lâm nghiệp bền vững Tuy nhiên số lượng cây Trám đen cho năng suất ổn định, chất lượng quả tốt hiện nay còn rất ít và ở một số gia đình giữ lại,

Trang 9

một số cây đã tỏ ra già cỗi và thoái hóa.Mặc dù vậy việc nghiên cứu lựa chọn những cây Trám đen có năng suất, chất lượng tốt để lưu giữ và phát triển nguồn gen đó thì chưa được quan tâm nhất là việc lựa chọn các tiêu chí để đánh giá cây trội Trám đen chưa được nghiên cứu Chính vì vậyviệc thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển

nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện Hòa An, tỉnh

Cao Bằng”là rất cần thiết nhằm bảo tồn, phát huy giá trị, năng suất và một số

đặc điểm ưu việt của cây Trám đen trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, góp phần làm tăng hiệu quả của công tác trồng rừng kinh tế của nước ta

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm xác định được cây Trám đen đủ tiêu chuẩn làm cây trội cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen tại huyện Hòa An Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen tại huyện Hòa An

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa về mặt khoa học

Đề tài đã xác định được một số cây trội Trám đen và các tiêu chí xác định cây trội làmcơ sở cho việc nhân giống và phát triển cây Trám đen của các

đề tài nghiên cứu tiếp theo

3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn sản xuất

Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo tồn và

phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum).Xác định được cây

Trám đen đủ tiêu chuẩn làm cây trội để nhân giống, cải thiện nguồn giống cây rừng ăn quả cho người dân, đa dạng hóa giống cây bản địa phục vụ mục đích trồng rừng kinh tế, góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người dân

huyện Hòa An nói riêng và tỉnh Cao Bằng nói chung

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Khái quát về cây Trám đen

Cây Trám đen còn có tên gọi khác là Bùi, mác bây (Tày, Nùng), mác

Cơm (miền Trung), Cà na (miền Nam) Trám đen thuộc chi Trám (Canarium),

họ Trám (Bureraceae) Tên khoa học là Canarium tramdenum Chi Trám (danh pháp khoa học: Canarium) là một chi các loài cây thân gỗ trong họ

Burseraceae, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Phi và miền nam châu Á, từ

miền nam Nigeria về phía đông tới Madagascar, Mauritius, Ấn Độ, miền Nam Trung Quốc và Philipin Chúng là các loại cây thường xanh thân gỗ lớn cao tới 40-50m, với các lá mọc đối hình chân chim Một số loài có quả ăn được, gọi

là quả Trám C indicum và C ovatum thuộc về số các loài cây có hạt quan trọng

nhất ở miền Đông Indonesia và miền Tây Nam Thái Bình Dương cũng như ở

Philipin Các loài khác, quan trọng nhất là C luzonicum, sản xuất ra nhựa gọi

là dầu tram [7]

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Cây Trám mọc tự nhiên trên thế giới phân bố chủ yếu ở Châu Á từ 18 -

270 vĩ độ Bắc ở các nước như: Việt Nam, Ấn Độ, Lào, Mianma, Malayxia, Nhật

Bản, Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Đài Loan )

Phân bố trong rừng nguyên sinh và thứ sinh ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, nhiều nhất ở Quảng Bình, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Bắc Thái… ở độ cao từ 500m trở xuống Thường mọc rải rác trong rừng, hỗn giao với các loài: Lim xanh, Xoan đào, Lim xẹt, Ngát, Cồng sữa, Bứa, Gội, Vên vên…nhưng cũng có khi mọc thành loại hình Trám chiếm ưu thế rõ rệt, hoặc Trám + Vên vên hay Trám

+ Lim xanh

Trang 11

Cây ưa sáng mọc nhanh, ưa đất sét pha, tầng đất dày, độ ẩm trung bình, mọc nhiều ở những nơi độ dốc thấp, cá biệt có thể sống được cả trên đất sỏi Khả năng tái sinh hạt mạnh dưới tán rừng có tàn che 0,3-0,4 Ra hoa tháng 4-

5 Quả chín tháng 10 - 12 (Nguyễn Tiến Bân và cs, 2003) [2]

đầu và đuôi lá hơi lệch Gân bên 8 - 10 đuôi Cuống lá chét dài 0,5cm

Hoa tự chùm hình viên thuỳ, thường dài hơn lá, hoàn toàn nhẵn Hoa

màu trắng vàng nhạt, cuống lá bắc dạng vảy, cuống hoa dài 1,5 - 2cm

Quả hạch hình trứng dài, dài 3,5 - 4,5cm, rộng 2 - 2,5cm, nhân 3 ô không đều Khi chín màu tím đen Hình dáng lá cây con thay đổi nhiều, từ lá xẻ thuỳ lên lá đơn, cuối cùng mới sinh lá kép như cây trưởng thành (Nguyễn Tiến Bân

và cs, 2003) [2]

Hình 2.1: Cây Trám đen Hình 2.2: Quả và lá Trám đen

Trang 12

1.1.4 Đặc điểm sinh thái

Cây Trám phù hợp với hầu hết các loại đất có nguồn gốc đá mẹ khác nhau, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, mùn còn khá, tầng đất dầy trên 50cm, thoát nước và còn tính chất đất rừng Độ pH thích hợp 4-5.Trong tự nhiên

Trám thường xuất hiện ở những nơi ven sông suối

Cây Trám phù hợp với nhiệt độ trung bình năm 21 - 250, lượng mưa bình

quân năm 1500 - 2000mm

Cây Trám là loài cây mọc nhanh, ưa sáng, mọc tốt khi xen kẽ với các loài cây (Hu đay, Đom đóm ) Trong rừng tự nhiên thường chiếm ở tầng trên nhưng trong giai đoạn 2 năm đầu cần phải che bóng, sau đó hoàn toàn ưa sáng,

là loài cây chịu nhiệt kém, thoát hơi nước mạnh

Cây trồng 5 - 6 năm bắt đầu ra hoa, nếu trồng bằng cây ghép thì sau 3 năm có thể sẽ ra hoa Cây ra hoa vào tháng 2- 3, quả chín vào tháng9-10

(Nguyễn Tiến Bân và cs, 2003) [2]

1.1.5.Giá trị kinh tế

Quả Trám đen đã được dùng làm thực phẩm rất lâu đời ở Việt Nam Quả Trám “ỏm” là món ăn quen thuộc trong các bữa cơm của các gia đình ở miền Bắc trước kia Từ quả Trám có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon như: Trám kho cá, trám nhồi thịt Quả Trám còn được dùng để làm ô mai mặn, ngọt được nhiều người ưa thích Nhân hạt Trám chứa nhiều dầu béo, có vị bùi; có thể ăn sống, ép dầu hoặc làm nhân bánh Sau 6 năm, nếu trồng trên đất tốt sẽ cho thu hoạch Cây thành thục có thể đạt 200-300kg quả/cây và cho thu hoạch

trong thời gian khoảng 50 năm (Nguyễn Tiến Bân và cs, 2003) [2]

Quả Trám còn được dùng làm thuốc vì có tác dụng giải khát, sinh tân dịch, thanh lọc, giải độc rượu Lá có vị hơi đắng, hơi chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chỉ thống.Vì vậy quả Trám dùng giải độc rượu,

cá nóc hoặc chữa hóc xương cá.Dùng quả Trám tươi giã nát, vắt lấy nước uống hoặc sắc uống Nếu dùng ngoài, dịch nước của quả chữa da nứt nẻ do khô lạnh,

Trang 13

lở ngứa, nhất là lở miệng không há mồm ra được, chữa sâu răng bằng cách dùng quả và hạt Trám đốt, tán nhỏ và bôi vào chân răng Rễ cây Trám dùng chữa phong thấp, đau lưng, gối tê liệt cử động.Lá trị cảm mạo, viêm đường

hô hấp trên, viêm phổi, phù thũng, ghẻ lở Ở Trung Quốc (tỉnh Vân Nam) dùng rễ Trám trị đau dạ dày, bỏng lửa; lá dùng trị xuất huyết tử cung, ban

độc; quả trị nội thương xuất huyết, ho; vỏ rễ dùng trị nội thương thổ huyết

Nhựa Trám đen có thể dùng thắp sáng hoặc dùng trong công nghệ véc ni sơn Nhưng nhựa Trám đen thường ít và chóng khô đặc hơn Trám trắng, nên ít khi khai thác nhựa từ cây Trám đen Gỗ Trám đen nhẹ, mềm, màu xám trắng, giác lõi không phân biệt, có thể dùng làm nhà, đóng đồ, làm gỗ dán lạng, bút

chì, diêm, bột giấy

Trám là cây đa mục đích được chọn làm cây trồng trong các vườn nhà, vườn rừng và các khu rừng phòng hộ đầu nguồn.Là cây trồng bóng mát, vườn rừng, nông lâm kết hợp, làm giàu rừng và phục hồi rừng tự nhiên Nếu Trám trồng làm giàu rừng trong các loại hình phục hồi rừng hoặc trong các vườn rừng với số lượng 50 cây/ha sau 8-10 năm có thể thu hoạch 20-25kg quả/cây/năm và 10-15kg nhựa/cây/năm Với thời giá hiện nay có thể cho tổng thu nhập là 5-6,75 triệu đồng/ha/năm

1.1.6 Cơ sở khoa học về cây mẹ (cây trội)

Cây trội dự tuyển (candidat plus tree) là cây có kiểu hình đáp ứng các yêu cầu sơ bộ của nhà chọn giống, song những cây này còn chưa được đánh giá

và phân cấp hoặc khảo nghiệm [21]

Cây trội (plus tree) là cây dự tuyển đã được đánh giá, được khuyến nghị

để sản xuất giống và xây dựng rừng giống và vườn giống Đây là những cây có kiểu hình vượt trội về sinh trưởng, về hình dạng thân, chất lượng gỗ và các đặc tính mong muốn khác, đồng thời có tính thích ứng tốt với hoàn cảnh, không bị sâu bệnh Những cây này chưa được khảo nghiệm để đánh giá về mặt di truyền

Trang 14

mặc dầu có nhiều khả năng là có kiểu gen (genotype) tốt và có hệ số di truyền tương đối cao [21]

Tiêu chuẩn đánh giá cây mẹ (cây trội):[6]

Đối với cây mẹ (cây trội)lấy gỗ:

a) Cây chọn ở rừng trồng phải đồng tuổi, ở giai đoạn thành thục công nghệ hoặc gần thành thục công nghệ, có sinh trưởng từ trung bình trở lên

- Có độ vượt so với trị số bình quân của đám rừng (30 - 40 cây chung quanh) ít nhất 1,2 Sx (độ lệch chuẩn) về đường kính và chiều cao, hoặc 25% về đường kính và 10% về chiều cao

- Đạt các chỉ tiêu chất lượng về phẩm chất thân cây (đoạn thân dưới cành

ít nhất dài bằng 1/3 chiều cao cả cây), thân thẳng và tròn đều, cành nhỏ, góc phân cành lớn, tán lá tròn đều, v.v.)

- Không bị sâu bệnh hại

b) Cây chọn ở rừng tự nhiên không nhất thiết phải có độ vượt về sinh trưởng, nhưng phải đạt các chỉ tiêu chất lượng như cây giống ở rừng trồng

c) Cây chọn từ cây trồng phân tán phải có độ vượt về sinh trưởng so với

ít nhất là 10 cây còn lại cùng tuổi và có các chỉ tiêu chất lượng như cây giống

ở rừng trồng

2) Cây mẹ (cây trội) lấy các sản phẩm ngoài gỗ:

a) Cây chọn ở rừng trồng phải có năng suất các sản phẩm cuối cùng (theomục tiêu kinh tế) vượt 15% so với năng suất trung bình của đám rừng có cây giống (40- 50 cây chung quanh), sinh trưởng từ mức trung bình trở lên và không bị sâu bệnh

b) Cây chọn từ cây trồng phân tán phải có năng suất các sản phẩm cuối cùng (theo mục tiêu kinh tế) cao nhất trong khu vực (thôn, xã hoặc liên xã), ổn định trong ít nhất 3 năm, có sinh trưởng từ mức trung bình trở lên và không bị sâu bệnh

Trang 15

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới hiện nay cây ăn quả được trồng nhiều nhất là ở những vùng

có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc ba châu lục: châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh Tổ chức Nông lương thế giới các loại cây ăn quả, mà trái cây được dùng làm thức ăn riêng biệt hoặc ăn kèm So với cây lương thực là nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột cacbohydrat.Tùy theo nguồn gốc, xuất xứ và vùng sinh thái mà có thể chia ra cây ăn quả nhiệt đới, cây ăn quả cận nhiệt đới, cây ăn quả ôn đới,…Cây ăn quả là cây đang phát triển sau Lúa gạo, Ngô, Sắn và Lúa mì Trong khẩu phần thức ăn thì cây ăn quả là nguồn dinh dưỡng quý cho con người về chất khoáng, đặc biệt nhiều Vitamin, nhất là các vitamin A, vitamin C cần cho cơ thể con người Tại nhiều nước trên thế giới cây ăn quả cũng là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị và là nguồn nguyên liệu

để chế biến bánh kẹo, nước giải khát, mứt… Do hiểu được vai trò của cây ăn quả một số nước trên thế giới đã nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của nhiều loại

cây ăn quả và phát triển mở rộng Trong đó có cây Trám đen(Canarium

tramdenum), Canarium làchi thực vật gồm 75 loài thuộc họ Burseraceae có

phân bố tự nhiên ở các nước nhiệt đới và Á nhiệt đới từ Châu phi, Nam Á, Đông Nam Á đến Australia Các loài cây trong chi Canarium phân bố từ phía Nan Nigeria đến phía Đông Nadagasca, Martius, Ấn Độ, Nam Trung Quốc, các nước Đông Dương, Indonesia và Philippin Chi này gồm những loài cây thân

gỗ có thể cao đến 40-50cm, lá kép lông chim, mọc cách (http://n.wilnipedia.org/wiki/canarium, 2009) [36]

Cây Trám còn có một số tên gọi khác như ở Anh, Pháp…gọi là Ôliu, ở Thái Lan gọi là Sam chim và có tên thương mại là Ô liu Trung Quốc

(http://www.scinccedord.com/science , 2009) [37]

Theo (Hầu Khoan Chiếu, 1958) [10] thì ở Trung Quốc có Trám trắng và Trám đen Trám trắng có tên khoa học là Canarium album Raeusch Trám đen

Trang 16

có tên khoa học là C pimela Koenig.Trám đã được người dân trồng lấy quả từ rất lâu đời

Các tác giả Trung Quốc ở Hội thực vật chí (1976) [20] giới thiệu Trám đen cho trồng rừng Theo các tác giả thì Trám đen cao 10 - 25 m, đường kính

20 - 120 cm, có phân bố chủ yếu ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, một phần của tỉnh Phúc Kiến và ở Đài Loan Các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã có những nghiên cứu về phân bố, hình thái, đặc tính sinh học, giá trị sử dụng, kỹ thuật trồng rừng và phòng trừ sâu bệnh (chủ yếu là Sâu Anoplophora chinesis hại cây con) Họ đã tìm được cây nhiều quảcó thể đạt 200 kg quả, cá biệt có thể

đạt 400 kg quả

Tuy vậy, theo công bố mới nhất thì ở Trung quốc có đến 7 loài trám, trong đó Trám trắng (Canarium album) và Trám đen (C.pimela hoặc C tramdenum) là những loài cây chủ yếu có giá trị kinh tế Trám trắng quả hình trứng, có phân bốvà được trồng trên các sườn núi và thung lũng, ở độ cao 100

- 1300 m, tại các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Tứ Xuyên, Đài Loan, Vân Nam và Việt Nam Trám đen quả hình trứng hẹp dài 3 - 4 cm, đường kính 1,7 - 2 cm, có phân bố ở độ cao 500 - 1300 m tại Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam và các nước khác như Việt Nam, Lào, Canpuchia (Flore of China, 2008)[33] Trám trắng được nhiều nhà khoa học trên thế giới đặt vấn đề nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20 Các nhà khoa học người Pháp trong đó có Anfray (1901), Pignet (1902) và Heim (1904) đã nghiên cứu khai thác và chế biến nhựa Trám để phục vụ cho công nghệ chế biến xà phòng, dầu thơm, véc ni và xi đánh dày (Tập san kinh tế Đông dương - 1994) Theo tài liệu này người ta đã chưng cất được 18 - 20 kg dầu, 57 đến 60 kg côlôphan trong

100 kg nhựa Trám Các kết quả nghiên cứu này đã được ứng dụng để khai thác nhựa Trám ở một số nước có trám phân bố tự nhiên Nghiên cứu tính chất gỗ của các loài cây nhiệt đới đã thấy các loài trám có tỷ trọng gỗ thay đổi trong khoảng 0,50 - 0,56 (Reyes al, 1992) [34] Các nghiên cứu tiếp theo được tập trung vào

Trang 17

việc khai thác các nguồn lợi từcây Trám trắng, cụ thể là Trisonthi người Pháp đã nghiên cứu đặc điểm của một số loài cây có quả ăn được của rừng nhiệt đới trong

đó có loài Trám trắng, nghiên cứu giá trị kinh tế của quả và nhựa Trám trắng của Griffith người Anh, nghiên cứu chế biến và bảo quản quả Trám của Lin - Hetong người Trung Quốc, nghiên cứu thành phần dược phẩm trong quả Trám trắng của

Ito-M người Nhật Bản, (Tổng hợp của Trerrs CD - Từ 1973 đến10/1999) [35]

1.2.2 Nghiên cứu về cây Trám đen ở Việt Nam

1.2.2.1 Đặc điểm phân loại, lâm học và giá trị của Trám đen

Chi Canarium ở nước ta gồm 8 loài, trong đó 2 loài được trồng ăn quả là Trám trắng và Trám đen, loài có thể ăn quả ít giá trị hơn là Trám ba cạnh hay

Trám hồng (C.bengalensis Roxb) (Nguyễn Tiến Bân và cs, 2003) [2], bảy loài

trong số đó đã được mô tả chi tiết về phân loại (Vũ Văn Dũng et al, 2009) [12]

Trám đen (Canarium tramdemum Dai & Yakovlev, hoặc C nigrum (Lour) Engler), hoặc Canarium pimaela Leenh) Trám đen là cây gỗ lớn, song

kích thước nhỏ hơn Trám trắng, cây có chiều cao 25 - 30 m, đường kính trên

90 cm, thân tròn thẳng, tán rộng và xanh quanh năm (Lê Mộng Chân và cs., 2000) [7] Lá kép lông chim một lần lẻ, lá chét hình thuôn trái xoan, dài 6 - 12

cm, rộng 3 - 6 cm Cụm hoa chùm, viên chùy Hoa tạp tính hay đơn tính màu vàng nhạt Quả hạch hình trứng, dài 3,5 - 4,5 cm, đường kính quả 2,0 - 2,5 cm (thực ra, mô tả về kích thước quả của các tác giả Trung Quốc như phần trên là sát với thực tế hơn, vì Trám đen có quả hình trứng hẹp, trong khi Trám trắng

có quả hình trứng hơi bầu) Khi chín quả Trám đen có màu đen sẫm (vì thế có tên là Trám đen), thịt quả mầu hồng.Hạt hóa gỗ rất cứng, có 3 ô, mỗi ô có 1 nhân màu trắng (Vũ Văn Dũng et al, 2009) [12].Trám đen có phân bố tự nhiên

từ Nam Trung Quốc đến Việt Nam Ở Việt Nam cây mọc trong rừng thứ sinh

ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và miền Trung: Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Quảng Bình, (Nguyễn Tiến Bân, 2003) [2] Tuy vậy, theo công bố mới đây thì Trám đen có phân bố chủ yếu cũng ở một số tỉnh miền

Trang 18

Bắc Việt Nam như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng

Bình (Vũ Văn Dũng et al, 2009) [12]

Trám đen có thể trồng theo phương thức nông lâm kết hợp: 2 - 3 năm đầu có thể xen cây nông nghiệp như Lạc, Lúa, Đỗ, Sắn (Cục Lâm nghiệp, 2007) [11] Đây là cây đa tác dụng, quả sau khi ngâm (om qua nước nóng) ăn rất ngon Quả tươi giã lấy nước uống giải độc do ăn phải cá nóc hoặc cá thối, chữa hóc xương cá Quả khô tán bột, rắc chữa nứt nẻ da, lở miệng và trị sâu răng (Võ Văn Chi, 1997) [9] Vì thế quả Trám đen được tiêu thụ ở nhiều thị trường trong nước chủ yếu là ở dạng thực phẩm ăn tươi Nhu cầu thị trường về quả Trám đen rất lớn, trong khi lượng quả bán ra chưa nhiều nên quả tươi Trám đen có giá cao hơn Trám trắng, khoảng 10.000 - 12.000 đ/kg quả tươi, trong

khi giá quả tươi Trám trắng là 6.000-8.000 đ/kg (Triệu Văn Hùng, 2007) [19]

1.2.2.2 Các nghiên cứu về chọn giống lấy quả

Từ năm 1993 Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống, trong đó mới đề cập đến các tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy gỗ (Bộ Lâm nghiêp, 1977) [3]

Sau này, trong Tiêu chuẩn công nhận giống (Bộ NN&PTNT, 1998, 2003) [4] đã đề cấp đến tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy các sản phẩm ngoài gỗ nói chung mà chưa nêu cụ thể Đến tiêu chuẩn công nhận giống gần đây (Bộ NN&PTNT, 2006) mới có quy định về tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy sản phẩm ngoài gỗ từ rừng trồng và từ trồng cây phân tán [6] Nghiên cứu về chọn giống Trám trắng lấy quả đã được Hoàng Thanh Lộc (2001 - 2005) [22] tiến hành tại tỉnh Phú Thọ, đã chọn được 20 cây trội sai quả, trong đó có một cây 30 năm tuổi nhiều quả nhất có thể đạt 300 kg quả Các cây ghép từ các cây trội này mới được trồng trong vườn tập hợp các dòng vô tính tại khu Văn phòng của Công

ty cổ phần giống lâm nghiệp vùng Bắc Bộ (ở Trạm Thản - Phú Thọ) cho thấy trong 20 cây được chọn ban đầu sau 4 năm chỉ một số cây có quả, trong đó chỉ

3 cây có nhiều quả nhất Tuy vậy, chưa được khảo nghiệm ở giai đoạn tiếp theo

Trang 19

để xác định tính ổn định di truyền của chúng và chưa có những nghiên cứu về chất lượng quả của những cây sai quả này Viện Cải thiện giống và Phát triển lâm sản hiện cũng đang tiến hành khảo nghiệm tại Bắc Kạn cho một số dòng Trám trắng lấy từ Trạm Thản (đây là một phần của dự án "Trồng thử nghiệm

và xây dựng mô hình một số cây lâm nghiệp 15 cho năng suất cao tại tỉnh Bắc Kạn") Kết quả nghiên cứu về hạt giống một số vùng khác nhau trong đề tài

"Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Trám trắng" của Viện Khoa học Lâm nghiệp

1995 - 1999 cho thấy Trám trắng phân bố tại vùng Hòa Bình có chất lượng hạt giống tốt nhất, ở giai đoạn vườn ươm cây con sinh trưởng khỏe mạnh và vượt trội so với các vùng khác (Phạm Đình Tam, 2000, Báo cáo tổng kết đề tài) [29] Trần Đức Mạnh (2007) [25] đã nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng Trám đen phục vụ mục tiêu lấy gỗ và lấy quả, nhưng mới chỉ nghiên cứu chọn cây mẹ,

kỹ thuật ghép cây và phương thức trồng rừng mà chưa nghiên cứu chọn giống theo hướng chọn lọc cây trội một cách đầy đủ và khảo nghiêm giống theo các quy định cần thiết, việc trồng rừng lại theo phương thức trồng hỗn giao để lấy

gỗ nên vẫn không mang lại kết quả mong muốn về chọn giống lấy quả Trám trắng và Trám đen đã được nhân dân ta ở miền Bắc trồng từ trước những năm

1950 Từ những năm 60 có nơi đã trồng hàng chục hecta như Lạc Thủy - Hòa Bình trồng thuần loại khoảng 30 ha Trồng từ năm 1980 - 1981 đến năm 1998 đường kính bình quân đạt 18 - 19 cm, chiều cao bình quân đạt 17 - 18 m (Nguyễn

Bá Chất, 1998) [8]

Từ thập niên 60 đến nay nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào các giải pháp kỹ thuật lâm sinh, điển hình là nghiên cứu gây trồng Trám trắng tại Cầu Hai và Hữu Lũng của Nguyễn Văn Lê, Lưu Phạm Hoành (1985) [24] đã gây trồng 5-10 ha thuần loại hoặc theo băng Giai đoạn đầu sinh trường nhanh nhưng từ tuổi 7 trở lên lượng tăng trưởng hàng năm chậm dần, có nơi bị sâu đục ngọn phá hoại thường xuyên (Nguyễn Bá Chất, 1998) [8] Nghiên cứu phòng trừ sâu đục ngọn Trám đã phát hiện được sâu Vòi Voi đục búp trám

Trang 20

thuộc họ Curculionidae, bộ Coleoptera và đã đưa ra hình thái, tập tính sinh học

và phương pháp phòng trừ như dùng bẫy đèn lúc 6-7 giờ, dùng vợt và rỏ tre đi rung từng cây hứng sâu trưởng thành và bắt giết, dùng thuốc bột thấm nước

666 loại 6% nồng độ từ 1/200-1/250 phun vào búp hoặc dùng thuốc sữa DDT 5% nồng độ 1/150 phun ướt búp ngọn trám (Nguyễn Đình Hạnh,1965 [13]; Đặng Văn A, 1968 [1]) Từ năm 1995 đến 1999 nhóm cán bộ Phạm Đình Tam, Trần Lâm Đồng và Nguyễn Sỹ Đương (năm 1998) [28] đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật lâm sinh để trồng rừng Trám trắng phục vụ mục tiêu cung cấp gỗ công nghiệp Đề tài đã đề xuất được phương thức trồng và chọn loài cây phù trợ phù hợp để xây dựng rừng Trám theo hướng cung cấp gỗ công nghiệp Sau

đó cũng nhóm cán bộ này đã xây dựng “Quy phạm kỹ thuật trồng rừng Trám trắng” (Bộ NN&PTNT, 2001) [5] Nghiên cứu về trồng Trám trắng hỗn loại với các loài cây lá rộng bản địa cho thấy so với trồng thuần loại thì trồng hỗn loại Trám trắng có tỷ lệ sống cao hơn, tỷ lệ sâu đục ngọn giảm, sinh trưởng tốt hơn nhưng so với các loài khác thì trám có sinh trưởng kém hơn (Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Bá Chất và cs, 2005) [31].So sánh sinh trưởng của phương thức trồng hỗn giao giữa Trám trắng và Lát hoa với trám thuần loại lại cho thấy tỷ

lệ sống và sinh trưởng của phương thức hỗn giao kém hơn trồng thuần loại Trám trồng thuần loại đạt tỷ lệ sống 92 % và trữ lượng là 5,58 m3/ha trong khi

đó Trám với Lát đạt tỷ lệ sống 87% và trữ lượng 4,25 m3/ha (Huỳnh Đức Nhân

và cs, 2006) [26] Nghiên cứu của Phạm Đình Tam, Trần Đức Mạnh, Phạm Đình Sâm (2000 - 2005) [30] về chọn lập địa, kỹ thuật trồng rừng Trám với mục đích lấy gỗ và lấy quả đã cho thấy trồng Trám ở Hòa Bình tốt hơn ở Đại Lải và Vĩnh Phúc và đi đến nhận định là Trám không nên trồng ở lập địa xấu, tầng đất mỏng, các chỉ tiêu hóa tính dưới trung bình (Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 24-2001) [5] Tuy vậy, đáng tiếc là các tác giả đã không nêu rõ các nghiên cứu

về chọn giống lấy quả và khảo nghiệm giống Trước đây gỗ Trám trắng và Trám đen đều phân vào nhóm 7 (Bộ Lâm nghiệp, 1977) [3] Nghiên cứu của

Trang 21

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2002) cho thấy tỷ trọng gỗ của Trám trắng là 0,59, Trám đen 0,73 Tuy vậy, số liệu này chưa ghi rõ độ ẩm của mẫu

gỗ khi xác định tỷ trọng và có thể hơi cao

Lâm trường Hữu Lũng I - Lạng Sơn đã đi tiến hành nghiên cứu ghép cây Cây Trám ở các thời vụ khá nhau, kết quả bước đầu cho thấy đối với Cây Trám thì ghép vào vụ Xuân sẽ cho tỷ lệ sống cao và sức sinh trưởng tốt hơn Trong thời gian này tỉnh Lạng Sơn đang phát triển dự án trồng cây Trám ghép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bước đầu đã được người dân chấp nhận Ngoài ra các dự án trồng rừng của nước ngoài đang thực hiện tại Việt Nam cũng chọn cây Trám làm đối tượng trồng chủ yếu, điển hình là dự án trồng rừng của Đức hiện đang được thực hiện tại Thanh Hóa và Nghệ An

Qua thí nghiệm ghép Trám của Phạm Đình Tam và cộng sự cho thấy Phương pháp ghép nêm và ghép áp đều cho kết quả khả quan, tỷ lệ sống ở thời

vụ thuận lợi có thể đạt trên 70%, trong đó phương pháp ghép áp cho kết quả tốt nhất; về thời vụ ghép chỉ nên ghép vào vụ xuân (tháng 3) và vụ thu (tháng 10),

ghép vào thời kỳ này tỷ lệ sống có thể đạt tới 65-70%

Kết quả nghiên cứu của Trần Đức Mạnh (2007) [25] đã lựa chọn được mười cây mẹ có năng suất quả vượt trội hơn cây trung bình từ 120%-200% ở các xuất xứ khác nhau như Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Thái Nguyên và Bắc Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy Trám đen là cây rừng có thể nhân giống bằng phương pháp ghép.Tỷ lệ thành công đạt trung bình 50%, phương pháp ghép áp bên thân và phương pháp ghép nêm là hai phương pháp đạt kết quả cao nhất Thời vụ ghép tốt nhất là vụ xuân (tháng 3,4) và vụ Thu (tháng 9,10) Kết quả nghiên cứu cho thấy phương thức trồng rừng bằng cây con gieo từ hạt và trồng toàn diện có cây phù trợ giai đoạn đầu tỏ ra phù hợp với sinh trưởng quần thể của cây trám đen đáp ứng mục tiêu trồng rừng lấy gỗ.Trong giai đoạn rừng 1-4 tuổi trám đen cần có cây che phủ hỗ trợ cho cây sinh trưởng và phát triển.Cây che phủ hỗ trợ phù hợp là cây Cốt khí và cây Keo Phương thức trồng

Trang 22

rừng dùng cây phù trợ cần có biện pháp kỹ thuật tác động như tỉa cành hoặc tỉa thưa keo từ năm thứ 3 trở đi, điều chỉnh độ tàn che của cây phù trợ đối với cây trám Còn đối với phương thức trồng rừng bằng cây ghép và trồng theo phương thức nông lâm kết hợp thì sẽ đáp ứng được mục tiêu trồng rừng lấy quả Kết quả nghiên cứu của tác giả đã thực xây dựng được 8,5ha mô hình rừng trồng trám đen phục vụ mục tiêu lấy gỗ và lấy quả Các mô hình sau khi trồng năm đầu tiên đều đạt trên 90%, sau đó 3 năm tỷ lệ tồn tại trong các mô hình thí nghiệm còn tương đối cao 82% và 86% ở Nghệ An và 90% ở Hòa Bình Điều này cho thấy môi trường ở đây phù hợp cho cây trám ghép phát triển Đường kính và chiều cao của 2 mô hình ở Tân Lạc - Hòa Bình và Yên Thành-Nghệ An sinh trưởng tương đối đồng đều Công trình nghiên cứu còn đưa ra hướng dẫn

kỹ thuật ghép cây trám đen với 2 kỹ thuật ghép là ghép áp và ghép nêm.Sau khi ghép thành công, cây ghép được nuôi trong vườn từ 6-9 tháng sau đó đem trồng.Đoạn cành ghép ≥ 25cm, đã có nhiều lá, khi lá ở dạng bánh tẻ mới đem

đi trồng

Ngoài ra, cũng đã có nhiều các nghiên cứu tiến hành trồng thử nghiệm cây Trám ghép lấy quả như: Dự án khoa học công nghệ “Trồng thử cây Trám ghép lấy quả ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Thanh Hoá” (Phạm Đình Tam, Trần Đức Mạnh, Phạm Đình Sâm - TT ứng dụng KHKT lâm nghiệp) [22] Dự án do chính phủ Hà Lan tài trợ và được thực hiện trong thời gian 5 năm (2002 - 2007) tại 5 tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị Dự án đã chọn đối tượng là cây Trám ghép và cây Ba kích làm cây trồng xóa đói giảm nghèo cho người dân Sau hơn hai năm triển khai dự án đã

thu được những kết quả ban đầu

Trong những năm gần đây một số huyện của tỉnh Thái Nguyên như: Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ đã và đang tiến hành trồng cây Trám ghép Hiện cây đang sinh trưởng tốt và một số hộ, cây bắt đầu cho thu hoạch quả với năng suất cao hơn Trám trồng hạt, bước đầu đáp ứng được yêu cầu trồng rừng Huyện Lục Nam đã trồng được trên 20 ha Trám ghép tại hai xã Trường Sơn và Lục

Trang 23

Sơn và đang được trồng mở rộng trên diện tích rừng kinh tế, dần thay thế những

cây trồng kém hiệu quả (Bản tin, nông thôn đổi mới)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hoàn tại Hà Châu, huyện Phú Bình (2005-2010) [14] đã có các đánh giá tiềm năng và năng suất cây Trám đen phục

vụ đề án xây dựngphát triển cây Trám đen đạt hiệu quả kinh tế cao tại xã Hà Châu; đề án đã sử dụng phương pháp điều tra thực tế về diện tích, phân bố cây Trám đen và kinh nghiệm bản địa trong cách nhân giống, phân biệt cây cái và kỹ thuật sơ chế, bảo quản Nội dung nghiên cứu tập trung theo hướng nhân giống Trám bằng 2 cách gieo hạt và ghép và thử nghiệm sơ chế một số sản phẩm hàng hóa từ Trám, tuy nhiên nghiên cứu giai đoạn đó không thành

công

Đề tài “Chọn giống và phát triển giống Trám lấy quả tại Hòa Bình và một số tỉnh miền núi phía Bắc” của Lý Thu Quỳnh, Hoàng Thanh Lộc (2009- 2011) [27] đã tiến hành tuyển chọn cây trội về sản lượng quả trên 4 địa điểm

ở các huyện Kim Bôi, Kỳ Sơn, Cao Phong và thành phố Hòa Bình Phương pháp nghiên cứu tuyển chọn giống Trám sai quả như sau:

Về phương pháp chọn cây trội:

Chọn lọc cây trội theo hướng lấy quả: theo “Tiêu chuẩn công nhận giống cây trồng lâm nghiệp” (Tiêu chuẩn ngành 04TCN147-2006, ban hành kèm theo Quyết định số 4108 QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12)

Vào đúng mùa sắp thu hoạch quả của từng loài, tiến hành đi chọn cây trội; các bước tiến hành chọn lọc cây trội như sau:

- Bước 1: Chọn cây trội dự tuyển: Khảo sát những địa điểm chọn cây trội, cây trội dự tuyển là những cây đang sai quả, sức sống tốt, tán tròn đều, không sâu bệnh, đo đếm các chỉ tiêu cho từng cây về sản lượng quả, D1,3, Hvn, Hdc, D tán, sâu bệnh Chọn cây trội dự tuyển Trám trắng và cây trội

dự tuyển Trám đen, đánh số sơ bộ vào thân cây

Trang 24

- Bước 2: Chọn cây trội chính thức: Sau khi chọn được cây trội dự tuyển cho mỗi loài, tiến hành ra soát lại cây trội dự tuyển, để chọn ra cây trội chính thức cho mỗi loài, những cây trội dự tuyển đạt tiêu chuẩn là cây trội chính thức là những cây có lượng quả vượt từ 15% trở lên so với cây xung quanh, tán tròn đều, sức sống tốt, không sâu bệnh

Kết quả đã lựa chọn được 13 cây Trám trắng và 7 cây trội Trám đen làm vật liệu để nhân giống

* Nhận xét:

Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu cho thấy đến nay các nghiên cứu về cây Trám khá nhiều, tập trung chủ yếu vềđặc điểm phân loại, lâm học và giá trị của Trám Tuy nhiên cho đến nay vấn đề lựa chọn cây trội Trám trắng và Trám đen vẫn chưa được chú ý nhiều, số lượng công trình nghiên cứu còn rất ít,đặc biệt là việc lựa chọn cây trội để làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đentại huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng chưa được nghiên cứu Ở nơi đây, cây Trám đen mới chỉ được trồng phổ biến theo kinh nghiệm dân gian trong các hộ gia đình, nguồn giống chủ yếu là từ hạt của các cây sẵn có ở địa phương Vì vậy đề tài được đề xuất thực hiện

1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Hòa An nằm ở trung tâm tỉnh Cao Bằng, bao quanh thành phố Cao Bằng Phía Đông và Đông bắc giáp huyệnTrà Lĩnh, Quảng uyên, phía Tây giáp huyện Nguyên Bình và Thông Nông, phía Nam giáp huyện Thạch An,

phía Bắc giáp huyện Hà Quảng

Hòa An là một huyện lớn của tỉnh, có tổng diện tích đất tự nhiên là 60.598,15ha Có một huyện lỵ là thị trấn Nước Hai và 20 xã: Bạch Đằng, Bế Triều, Bình Dương, Bình Long, Công Trừng, Đại Tiến, Dân Chủ, Đức Long, Đức Xuân, Hà Trì, Hoàng Tung, Hồng Nam, Hồng Việt, Lê Chung, Nam Tuấn,

Ngũ Lão, Nguyễn Huệ, Quang Trung, Trưng Vương, Trương Lương

Trang 25

1.3.1.2.Đất đai

Đất đai của huyện bao gồm một số loại đất chính sau: Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét, đất Feralit đỏ vàng được hình thành từ các loại đá mác ma axit và đá trầm tích vỡ vụn và đất bãi bồi ven sông Thành phần cơ giới đất nhiều sét, độ dày tầng đất trung bình từ 40-80 cm, đất chua, hàm lượng mùn

trung bình Nhìn chung đất đai tại khu vực khá phù hợp với nhiều loại cây trồng

1.3.1.3.Địa hình

Địa hình huyện Hòa An bao gồm nhiều dãy núi đá vôi cao dốc, xen lẫn các dải đồi đất thấp tạo các thung lũng là những cánh đồng lớn, bằng phẳng Các thung lũng này đang được sử dụng để trồng lúa và cây lương thực nông

sản khác Địa hình được chia làm 2 dạng:

Địa hình thung lũng bao gồmnhững cánh đồng lớn, bằng phẳng: Cánh đồng trung tâm huyện trải dài trên 20 km Dọc theo sông Bằng và các nhánh sông, suối là những cánh đồng bằng phẳng Nhiều cánh đồng được phù sa từ các thượng nguồn đổ về bồi đắp đất đai màu mỡ, quanh năm gieo trồng 2 vụ lúa, đó là cánh đồng Tổng Lài, Tổng Nuống, (xã Nam Tuấn), Vỏ Héc, Vỏ Má (xã Đại Tiến), Nà Pẳng, Cốc Lùng (xã Đức Long), Pác Cam, Ảng Giàng (xã Bình Long), Sam Luồng (xã Trương Lương), Nà Mè (xã Hồng Việt), Bản Vạn, Bản Sẩy, Vò Đáo, Đà Lạn, An Phú (xã Bế Triều), Nà Lữ (xã Hoàng Tung),

Ngoài ra, ven khe suối còn có những vùng ruộng bậc thang gồm các xã phía Nam của huyện như Ngũ Lão, Nguyễn Huệ, Trưng Vương, Hồng Nam,

Bạch Đằng

Phần diện tích còn lại là đồi núi.Đồi núi chiếm 2/3 diện tích huyện, bao gồm núi đá và núi đất Độ cao trung bình là 300m so với mặt biển, thấp dần từ Tây sang Đông Các ngọn núi cao của huyện đáng kể là: Khau Mjà (xã Đức Long) cao 508m, Khau Hân (xã Bình Long) cao 524m, Khau Sầm (xã Vĩnh Quang) cao 618m, Khau Luôm (xã Lê Chung) cao 769m, Nà Mấn (xã Ngũ Lão)

Trang 26

cao 1.011, Pá Diển (xã Quang Trung) cao 1.000m, Lũng Xen (xã Công Trừng) cao 854m Dãy núi đá vôi Lam Sơn (còn gọi là dãy Phja Ngả) nằm án ngữ phía

Tây của huyện, địa hình khá hiểm trở, có nhiều hang sâu

1.3.1.4 Khí hậu

Nhìn chung huyện Hòa An có khí hậu ôn hòa dễ chịu Với khí hậu cận nhiệt đới ẩm, địa hình đón gió nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phương Bắc Mùa hè nóng ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 30 - 32 °C

và thấp trung bình từ 23 - 25 °C Vào mùa đông, do địa hình Cao Bằng đón gió nên nó có kiểu khí hậu gần giống với ôn đới, nhiệt độ trung bình thấp từ 5 -

8 °C và trung bình cao từ 15 - 28 °C, đỉnh điểm vào những tháng 12, 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống thấp hơn khoảng từ 6 - 8 °C, độ ẩm thấp, trời hanh khô, thường có sương muối và băng giá Mùa xuân và mùa thu không rõ rệt, thời tiết

thất thường; mùa xuân thường có tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ chịu

1.3.1.5 Thủy văn

Huyện có nhiều sông suối chảy qua, đáng kể nhất là sông Bằng (đoạn chảy qua Đề Thám gọi là sông Mãng) Sông Bằng bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy từ hướng tây bắc xuống Hà Quảng, nhập lưu với các nhánh sông Nặm Thoong tại Nà Niền (xã Đức Long), sông Dẻ Rào từ Thông Nông chảy xuống

và sông Tả Sla từ Nguyên Bình ra gặp sông Bằng tại Nước Hai; Một nhánh từ Đại Tiến ra gặp sông Bằng tại Bản Sẩy xã Bế Triều, chảy qua các xã Hồng Việt, Hoàng Tung, Hưng Đạo, Vĩnh Quang, Đề Thám, thành phố Cao Bằng, Quang Trung, Hà Trì, Chu Trinh, Hồng Nam, sang huyện Phục Hòa rồi chảy qua Trung Quốc Sông Bằng có lòng rộng và sâu, thuận tiện cho giao thông vận tải Hệ thống sông Bằng và các nhánh đã bồi đắp nên những cánh đồng tương đối bằng phẳng và phì nhiêu vào loại nhất tỉnh Ngoài ra huyện còn có 02 hồ nhân tạo là

hồ Khuổi Lái ở xã Bạch Đằng, hồ Nà Tấu ở xã Bế Triều Đây là 02 hồ lớn nhất

dùng để tích chứa nước phục vụ tưới tiêu chủ động trong sản xuất

Trang 27

1.3.2.Điều kiện kinh tế- xã hội của khu vực nghiên cứu

1.3.2.1 Tình hình dân số, dân tộc và phân bố dân cư

Là địa phương có truyền thống lịch sử lâu đời Trải qua một quá trình hợp lưu lâu dài, hiện nay huyện có nhiều dân tộc cùng sinh sống; dân tộc Tày sống ở đây lâu đời nhất và có dân số nhiều nhất, có trình độ, tổ chức xã hội khá cao và sống tập trung ở vùng đồng; dân tộc Nùng đông thứ hai sống tương đối tập trung ở các xã phía đông huyện; dân tộc Mông, Dao sống rải rác ở các xã vùng cao; dân tộc Kinh và dân tộc Hoa sống chủ yếu ở phố Nước Hai, phố Cao Bình Thành phần cư dân có nhiều nguồn gốc khác nhau trong đó có một số đồng bào Kinh ở vùng xuôi lên sinh sống lâu đời và đại bộ phận đã trở thành người dân tộc địa phương Với thành phần dân cư như thế, Hòa An là nơi hợp lưu các dòng văn hóa của các dân tộc đưa lại Dân số của huyện hiện có 55.730 người, trong đó dân tộc tày chiếm tỷ lệ 63.33%, Nùng 24,73%, Mông 6,58%,

Dao 2,36%, Kinh 2,87%, dân tộc khác 0,14%.(Báo cáo thuyết minh tổng hợp

Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2010 của huyện Hòa An tỉnh Cao

Bằng)

Các dân tộc ở Hòa An có truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn thờ các danh nhân có công với dân Đền thờ Pú Lương Quân thờ cha Báo Luông, mẹ Slao Cải tương truyền đã sinh ra con cháu người Tày ngày nay được lập ở bờ sông

Tả Sẩy xã Bế Triều Thành Bản Phủ của Thục Phán - An Dương Vương, chùa Đống Lân, chùa Đà Quận (xã Hưng Đạo - nay thuộc thành phố Cao Bằng), đền

Kỳ Sầm (xã Vĩnh Quang - nay thuộc thành phố Cao Bằng), đền Vua Lê (xã Hoàng Tung) Các dân tộc đã sớm có ý thức thống nhất dân tộc nên sự khác biệt không lớn lắm, tuy nhiên mỗi dân tộc vẫn giữ được bản sắc riêng của

mình.Ngôn ngữ phổ biến ở huyện là tiếng Tày

1.3.2.2 Về giao thông

Huyện Hòa An nằm trên tỉnh lộ 203 cách thị xã Cao Bằng 15 km về hướng Tây Bắc, tỉnh lộ 203 theo hướng Tây Bắc đi huyện Hà Quảng và Thông

Trang 28

Nông, quốc lộ 4 theo hướng Nam đi huyện Thạch An và tỉnh Lạng Sơn, quốc

lộ 34 theo hướng Tây đi huyện Nguyên Bình Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và là cửa ngõ thông thương, giao

lưu với các huyện và các tỉnh khác

Hệ thống giao thông cơ bản thông suốt, thuận lợi đến trung tâm các xã, nhiều xã vùng đồng cơ bản được bê tông hóa đường liên thôn, liên xóm Tính

đến năm 2015 đã có 225,3/403,6km đường trục xã và xóm

1.3.2.3 Trường học

Mạng lưới trường, lớp học được duy trì, củng cố qua các năm, số phòng học kiên cố chiếm 62,32%, bán kiên cố 29,31% cơ bản đáp ứng yêu cầu tổ chức dạy, học; chất lượng giáo dục - đào tạo từng bước được nâng lên, tỷ lệ học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở được lên lớp thẳng hàng năm đều đạt trên 95%, số học sinh Trung học phổ thông, Giáo dục thường xuyên cấp Trung học phổ thông thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng đều tăng qua các năm Công tác phổ cập giáo dục luôn được quan tâm, kết quả: 21/21 xã, thị trấn duy trì phổ cập giáo dục Trung học cơ sở; 100% xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi; 19/21 xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi; đã có 04 trường đạt chuẩn quốc gia Công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, giáo viên được quan tâm, chú trọng, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn

các bậc học ngày càng tăng, hiện nay chiếm 98,6%

1.3.2.4 Hệ thống kênh mương thủy lợi

Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, huyện đã hoàn thành quy hoạch chung và đề án xây dựng nông thôn mới đến 20/20 xã bê tông hóa kênh mương nội đồng, đầu tư được 05 công trình thủy lợi

Về cơ bản đã đáp ứng việc tưới tiêu chủ động cho 2.300 ha hoa màu tập trung ở

các xã vùng đồng

1.3.2.5 Hệ thốngnước sinh hoạt

Trang 29

Hiện nay trên địa bàn huyện đã có 02 nhà máy cấp phát nước sạch ở vùng đồng và xây bể chứa, các giếng công cộng cho các xóm ở vùng cao đảm bảo tỷ

lệ người dân có nước sạch hợp vệ sinh đạt trên 80%

1.3.2.6 Hệ thống Điện

Có 100% số xã trong huyện đều có hệ thống điện lưới quốc gia

1.3.2.7 Đánh giáchung về điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Hòa An

* Về thuận lợi:

Điều kiện tự nhiên của huyện Hòa An có rất nhiều điểm thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Huyện có vị trí địa lý là cửa ngõ thông thương, giao lưu với hầu hết các huyện, thành phố Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn Vì vậy rất thuận lợi trong giao lưu trao đổi hàng hóa Mặt khác địa hình gồm những cánh đồng lớn, bằng phẳng, một số nơi được phù sa từ các thượng nguồn đổ về bồi đắp hàng năm nên đất đai màu mỡ, khí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng lại có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào nên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng thâm canh cao So với toàn tỉnh Cao Bằng, Hòa

An là nơi có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, được coi là vựa lúa của tỉnh

Hòa An đã có sự phát triển nhất định về hệ thống các cơ sở hạ tầng Hệ thống thủy lợi đảm bảo cho gieo trồng, trong đó diện tích nước tưới chủ động chiếm hơn 70% Hệ thống giao thông khá phát triển với nhiều tuyến quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua cho phép giao lưu thuận lợi với các trung tâm kinh tế, xã hội trong và ngoài tỉnh và cả nước bạn Trung Quốc

Người dân huyện Hòa An giàu truyền thống cách mạng, hiếu học có mặt bằng dân trí tương đối khá, là nguồn động lực thúc đẩy tích cực quá trình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn

* Về khó khăn:

Trang 30

Ở một số xã miền núi cao như xã Đức Xuân, Ngũ Lão…địa hình chia cắt phức tạp, hạn chế đáng kể tới các điều kiện phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cũng như trong tổ chức sản xuất và đời sống

Điểm xuất phát về kinh tế xã hội còn thấp, đời sống của phần lớn dân cư còn khó khăn, hạn chế tới điều kiện tích lũy cho đầu tư phát triển kinh tế và nâng cao đời sống.Cơ cấu phát triển chưa đồng đều, đặc biệt là công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; sự phát triển về dịch vụ - thương mại chưa ổn định Chất lượng nguồn lao động chưa cao, một số phong tục, tập quán sản xuất lạc hậu còn tồn tại trong một số bộ phận dân cư…

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu làcây Trám đen đã ra hoa kết quả ổn định từ 3 năm trở lên

- Phạm vi nghiên cứu: Về các chỉ tiêu sinh trưởng: D1.3,Hvn, Hdc, Dt; các chỉ tiêu chất lượng: độ thẳng thân, độ tròn thân, độ nhỏ cành, sức khỏe, màu sắc lá,

độ rậm lá, phát triển ngọn; kích thước quả, hạt, độ dày cùi…của cây Trám đen

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

Địa điểm: Tạicác vườn hộ gia đình có cây Trám đen thuộc các xã: Bình Dương, Bình Long, Công Trừng, Dân Chủ, Hà Trì, Ngũ Lão, Nguyễn Huệ, Quang Trung của huyện Hòa An

Thời gian tiến hành: Từ 6/2016 đến 8/2017

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng gây trồng và phát triển cây Trám đen tại huyện Hòa

2.4.2 Công tác ngoại nghiệp

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Kế thừa một số tài liệu có sẵn tại khu vực như: Điều kiện tự nhiên, kinh

tế xã hội, diện tích đất đai tại khu vực nghiên cứu Các tài liệu nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước

Trang 32

2.4.2.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

+)Đánh giá thực trạng gây trồng và phát triển cây Trám đen tại huyện Hòa An

- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): PRA được tiến hành bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân thông qua các nội dung trong bảng hỏi (phụ lục 01)

- Điều tra sơ bộ qua nguồn thông tin từcán bộ địa phương về diện tích, năng suất và chất lượng quả Trám đen từ đó lựa chọn được 08xã: Bình Dương, Bình Long, Công Trừng, Dân Chủ, Hà Trì, Ngũ Lão, Nguyễn Huệ, Quang Trung của huyện Hòa An để làm điểm nghiên cứu

-Tiến hành lựa chọn phỏng vấn 80 hộ gia đình (mỗi xã 10 hộ gia đình)theo những nội dung sau:

+Đối tượng phỏng vấn là các hộ gia đìnhhiện nay có trồng,chăm sóc,thu hái,

sử dụng quả của cây trám đen phục vụ cho bữa ăn hàng ngày và có thu nhập từ quả Trám trong thời gian trên 3 năm

+Địa điểm phỏng vấn tại các gia đình hoặc tại vườn hộ, vườn rừng

- Sử dụng bảng câu hỏi với nội dung ngắn gọn, rõ ràng để khi phỏng vấn thu được nhiều thông tin, giúp cho người dân dễ hiểu, dễ trả lời

+)Phương pháp nghiên cứu sinh trưởng, năng suất và lựa chọn đượccây Trám đen đủ tiêu chuẩn làm cây trội như sau:

Theo “Tiêu chuẩn nhân giống cây trồng lâm nghiệp” (Tiêu chuẩn ngành

04 TCN147- 2006 ban hành kèm quyết định số 4108 QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12)[6] Vào đúng mùa sắp thu hoạch quảtiến hành đi chọn cây trội; các bước tiến hành chọn lọc cây trội như sau:

Bước 1: Chọn cây trội dự tuyển: Khảo sát những địa điểm chọn cây trội,

cây trội dự tuyển là những cây đang sai quả, sức sống tốt, tán tròn đều, đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng, tình hình sâu bệnh hại Đánh số sơ bộ vào thân cây

+ Thu thập các số liệu về chỉ tiêu sinh trưởng D1.3, Hvn, Hdc, Dt, theo phương pháp điều tra Lâm học thông thường (Giáo trình Điều tra rừng - Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao 1997) [15]

Trang 33

Chiều cao vút ngọn (Hvn): Đo từ sát mặt đất tới đỉnh sinh trưởng của ngọn chính

Chiều cao dưới cành (Hdc): Đo từ sát mặt đất tới cành thấp nhất tạo nên tán chính của cây

Đường kính tán (Dt): Đo theo hai chiều Đông Tây - Nam Bắc Sau đó lấy giá trị trung bình

Dụng cụ đo: Thước dây, thước kẹp kính, thước Blumles

+Thu thập số liệu về chỉ tiêu chất lượng cây như độ thẳng thân, độ tròn thân, độ nhỏ cành, sức khỏe, màu sắc lá, độ rậm lá, phát triển ngọn theo phương pháp cho điểm (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003) [21]

* Độ thẳng thân (Đtt) được cho điểm theo 5 cấp (1 - 5 điểm)

+ Cây rất cong: 1 điểm

+ Cây cong: 2 điểm

+ Cây hơi cong: 3 điểm

+ Cây thẳng: 4 điểm

+ Cây rất thẳng: 5 điểm

* Phát triển ngọn (Ptn) được cho điểm theo 5 cấp (1 - 5 điểm)

+ Cây rất kém phát triển (ngọn bị teo hoặc mất ngọn chính, tán lá rất thưa hoặc lá úa vàng): 1 điểm

+ Cây kém phát triển (ngọn chính thiếu sức sống, tán lá thưa và xanh nhạt): 2 điểm

+ Cây phát triển trung bình (ngọn chính phát triển bình thường, tán lá vừa phải) : 3 điểm

+ Cây phát triển khá (ngọn chính phát triển khá, tán lá phát triển,lá xanh):

Trang 34

+ Màu lá hơi vàng : 3 điểm

+ Màu lá xanh : 4 điểm

+ Màu lá xanh có ánh vàng : 5 điểm

* Độ rậm tán lá (Đrt) cho điểm theo năm cấp (1 - 5 điểm)

+ Tán lá rất thưa và không đầy đủ: 1 điểm

+ Tán lá hơi thưa; ít đầy đủ: 2 điểm

+ Tán lá phát triển trung bình và tương đối đầy đủ: 3 điểm

+ Tán lá tốt tương đối đồng đều: 4 điểm

+ Tán lá phát triển tốt và đầy đủ: 5 điểm

Để đánh giá các chỉ tiêu về chất lượng, chỉ số chất lượng tổng hợp theo (Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng, 2003)[21] Tuy nhiên, với Trám đen do mục đích chọn lọc cây trội nhằm lấy quả là chính nên các chỉ tiêu quan trọng hơn là độ rậm tán (Đrt) sẽ được nhân đôi trong cách tính điểm tổng hợp

Trang 35

Như vậy theo cách tính điểm như trên thì điểm tổng hợp chất lượng cây trội được chia thành 5 cấp như sau:

+ Cây sinh trưởng, phát triển rất kém:Từ 6 đến dưới 12 điểm

+ Cây sinh trưởng, phát triển kém: Từ 12 đến dưới 18 điểm

+ Cây sinh trưởng, phát triển trung bình:Từ 18 đến dưới 24 điểm

+ Cây sinh trưởng, phát triển tốt:Từ 24 đến dưới 30 điểm

* Kích thước quả, hạt, độ dày cùi:

Thời điểm lấy mẫu: Tháng 10 khi mùa quả Trám chín

Khối lượng mẫu: 2kg/ cây

Đo đếm với số lượng 30 quả/mẫu.Tiến hành rút mẫu ngẫu nghiên

Bước 2: Chọn cây trội chính thức: Sau khi chọn được cây trội dự tuyển

tiến hành rà soát lại cây trội dự tuyển để chọn ra cây trội chính thức, những cây trội dự tuyển đạt tiêu chuẩn là cây trội chính thức là những cây có lượng quả vượt từ 15% trở lên so với cây xung quanh và điểm tồng hợp chất lượng cây từ

18 điểm trở lên (tối đa 30 điểm)

Công thức tính độ vượt theo % :

Dv (%) = (Xcây trộị - Xtb)*100/Xtb[6]

Trong đó:

Xcây trội: là năng suất quả của cây trội;

Xtb: là giá trị trung bình của chỉ tiêu năng suất quả trong toàn xã đó;

+) Tiêu chí lựa chọn cây trội Trám đen ở khu vực nghiên cứu:

Từ các phương pháp trên đề tài xác định tiêu chí để lựa chọn cây trộiTrám đen tại khu vực nghiên cứu như sau:

Những cây có năng suất quả vượt từ 15% trở lên so với cây xung quanh (tính cho từng xã) và điểm tồng hợp chất lượng cây từ 18 điểm trở lên (tối đa

30 điểm)

+)Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố đất tới năng suất, chất lượng quả Trám đen

Lựa chọn vị trí 01 xã có cây Trám đen sinh trưởng, phát triển tốt nhất, sản lượng quả cao nhất và chất lượng quả ngon nhất và 01 xã cây Trám đen sinh

Trang 36

trưởng, phát triển, sản lượng quả và chất lượng quả trung bình để lấy mẫu đất Các khu vực lấy mẫu đất này có cây Trám đen đều cùng một nhóm tuổi, mẫu đất được phân tích các chỉ tiêu về tính chất hóa học như: Mùn, pH vàhàm lượng các chất dinh dưỡng P và K dễ tiêu …tại Viện Khoa học và sự sống của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

2.4.3 Công tác nội nghiệp

Quá trình xử lý và phân tích thông tin đựợc thực hiện bằng tay và các phần mềm máy tính Excell

Phân tích so sánh các mẫu quan sát, thống kê phân tích, phân tích logic (kết hợp giữa kiến thức bản địa và kiến thức hiện đại để đánh giá)

Kết quả xử lý được thể hiện theo dạng phân tích, mô tả, bảng biểu Xácđịnh

bộ tiêu chuẩn, tiêu chí chọn cây Trám trội mẹ để làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển cây Trám đen tại huyện Hòa An

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1.Thực trạng gây trồng và phát triển cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu

3.1.1.Diện tích gây trồng và phân bố cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu

3.1.1.1 Phân bố diện tíchcây Trám đen tại khu vực nghiên cứu

Kết quả điều tra (phụ lục 04) cho thấy cây Trám đen đã được trồng từ rất lâu năm ở hầu hết các xã của huyện Hòa An, có những cây đến nay trên 70 năm tuổi Cây Trám được người dân trồng phân tán ở vườn đồi, vườn rừng với các loài cây mọc tự nhiên như: Sau sau, Dẻ gai đỏ, Lọng bàng, Nóng sổ… hoặc trồng ở vườn nhà xen kẽ với một số loài cây ăn quả như: Sấu, Mít,Vải, Nhãn…Một số hộ gia đình trồng thành hàng rào xanh với mục đích ngăn ranh giới với các hộ gia đình khác.Như vậy phân bố diện tích đất trồng cây Trám đen ở huyện Hòa Anhoàn toàn nằm trong diện tích đất trồng cây lâu năm

3.1.1.2 Tỷ lệ diện tích gây trồng Trám đen tại khu vực nghiên cứu

Tỷ lệ diện tích đất gây trồng Trám đen tại huyện Hòa An được thể hiện bảng 3.1 như sau:

Bảng 3.1: Hiện trạng đất đai tại khu vực nghiên cứu

Trang 38

Kết quả bảng trên cho thấy huyện Hòa An chủ yếu sản xuất nông nghiệp

là chính chiếm tới 89,44% so với tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó tỷ lệ diện tích đấttrồng cây lâu năm lên tới 46.603,37 ha chiếm 76,90% và diện tích đất chưa sử dụng còn 1.530,73 ha chiếm 2,53%.Diện tích cây lâu năm trong đó

có trồng Trám đen hiện nay là46.603,37 ha, thậm trí còn có thể mở rộng hơn nữa vào 1.530,73 ha đất chưa sử dụng Như vậy tiềm năng về đất đai cho phát triển cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu là rất lớn

Để đánh giá được tỷ lệ diện tích đất gây trồng Trám đen của từng hộ gia đình trong các xã đề tài đã tiến hành phỏng vấn thực tế để thu thập số liệu, kết quả nghiên cứu được tổng hợp ở bảng 3.2 như sau:

Bảng 3.2: Tỷ lệ diện tích trồng trám đen tại các xã của huyện Hòa An

(xã)

Tổng diện tích (m 2 )

Đất trồng trám (m 2 )

Tỷ lệ (%)

Trang 39

STT Chủ hộ Địa điểm

(xã)

Tổng diện tích (m 2 )

Đất trồng trám (m 2 )

Tỷ lệ (%)

Trang 40

STT Chủ hộ Địa điểm

(xã)

Tổng diện tích (m 2 )

Đất trồng trám (m 2 )

Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 16/03/2018, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm