1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiệu quả điều trị hỗ trợ của papulex trong bệnh trứng cá thông thường tại BV da liễu TW

88 278 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, có rất nhiều phác đồ cũng như nhiều loại thuốc mới để điều trị bệnh và đã đạt được những kết quả rất tốt, nhưng do liệu trình điều trị kéo dài, các thuốc điều trị thường có nhữ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trứng cá là một bệnh da phổ biến, đặc biệt là tuổi trẻ, bệnh thường khởi phát sớm từ 13 tuổi, có thể kéo dài trong nhiều năm, gây giảm tự tin cho bệnh nhân dẫn đến ảnh hưởng chất lượng cuộc sống và tổn hại về kinh tế Bệnh trứng cá được chia ra làm nhiều thể lâm sàng khác nhau, trong đó trứng cá thông thường là hình thái lâm sàng hay gặp nhất Bệnh hay gặp ở cả 2 giới [1],[2],[3],[4],[5],[6],[7]

Tại Việt Nam, theo số liệu tổng kết của Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2013 thì tỷ lệ bệnh trứng cá đến khám trong tổng số bệnh da đến khám là 14,61%, đứng thứ 2 sau viêm da cơ địa

Bệnh thường xuất hiện sớm và dai dẳng, độ tuổi hay gặp thường từ 13-25 tuổi với các biểu hiện lâm sàng đa dạng như nhân mụn, sẩn đỏ, mụn mủ Vị trí thương tổn hay gặp là mặt, trán, cằm, lưng, cổ ngực [4],[8],[9],[10],[11]

Sinh bệnh học bệnh trứng cá về cơ bản đã rõ, bệnh thường gây ra bởi các nguyên nhân: Tăng tiết bã, dày sừng cổ tuyến bã, thâm nhiễm viêm, nhiễm vi khuẩn, kèm theo các yếu tố liên quan khác thúc đẩy sự phát triển của bệnh như: thời tiết, thức ăn, thói quen sinh hoạt Bệnh không gây biến chứng nguy hiểm nhưng diễn biến thường kéo dài, vị trí thương tổn ở vùng mặt là chủ yếu, dẫn đến ảnh hưởng về thẩm mỹ cũng như chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [8],[12],[13]

Vấn đề điều trị bệnh trứng cá cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm Hiện nay, có rất nhiều phác đồ cũng như nhiều loại thuốc mới để điều trị bệnh

và đã đạt được những kết quả rất tốt, nhưng do liệu trình điều trị kéo dài, các thuốc điều trị thường có những tác dụng không mong muốn nhất định Papulex là một sản phẩm mà bệnh nhân có thể dùng điều trị duy trì kéo dài Với thành phần là Nicotinamide, kẽm PCA và ABA (Anti- Bacterial-

Trang 2

Adhesive-Agent), Papulex có thể hạn chế những tác dụng không mong muốn

do dùng thuốc kéo dài Aulisa L và cộng sự đã nghiên cứu sử dụng sản phẩm Papulex trên 514 bệnh nhân và đánh giá kết quả sau 6 tuần thì 85% bác sĩ và 79% bệnh nhân hài lòng [17]

Ở Việt Nam dòng sản phẩm Papulex vẫn chưa được nghiên cứu và đánh giá hiệu quả điều trị và những tác dụng không mong muốn do sản phẩm mang lại trong quá trình điều trị Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

"Hiệu quả điều trị hỗ trợ của Papulex trong bệnh trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da liễu Trung ương" với 2 mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan của bệnh trứng

cá thông thường ở bệnh nhân đến khám tại khoa khám bệnh Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2014

2 Đánh giá hiệu quả điều trị hỗ trợ của Papulex với bệnh nhân trứng cá thông thường mức độ nhẹ và vừa

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

- Thâm nhiễm viêm

- Yếu tố liên quan như thức ăn, stress, thời tiết, kinh nguyệt

Trang 4

1.1.1 Đặc điểm của nang lông, tuyến bã

Nang lông [6],[19],[21]

Sơ đồ 2: Giải phẫu nang lông

- Nang lông tơ: nằm rải rác toàn bộ cơ thể, trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân Nang lông tơ có kích cỡ nhỏ, nhưng tuyến bã có thể tích trữ lớn dẫn tới kích thước tuyến bã ở nang lông tơ có thể to hơn nang lông dài

- Nang lông dài: có ở đầu, cằm, nách, mu Những vị trí này lông mọc toàn bộ, tuyến bã quanh nang lông không phát triển bằng nang lông tơ

Sinh lý tuyến bã nhờn

Tuyến bã nhờn được phân bố không đều trên toàn cơ thể Nửa người trên giàu tuyến bã nhờn, đặc biệt lưng và ngực Tuyến bã nhờn có mật độ cao trên vùng da đầu, trán, má và cằm, ở những vị trí đó có thể đạt đến 400-900 tuyến/cm² Ngược lại, chân, bụng, cánh tay có mật độ tuyến bã thấp hơn, các

vùng còn lại 100 tuyến/cm² Lòng bàn tay, chân không có tuyến bã [21],[22]

Trang 5

Sơ đồ 3: Cấu trúc tuyến bã trong bệnh trứng cá

Tuyến bã nằm ở phía trên của nang lông gần mặt da Cấu tạo tuyến gồm một khối đặc tế bào, chia ra nhiều thuỳ, có chung một ống bài xuất mở vào nang lông hoặc mở thẳng ra mặt da Tuyến bã được tìm thấy khắp cơ thể, trừ lòng bàn chân tay, tuyến tiết ra chất bã nhờn thông qua một ống dẫn đổ vào nang lông sau đó đổ ra ngoài, trên mặt da Tuyến bã ở niêm mạc thì bài xuất thẳng lên bề mặt niêm mạc như tuyến Tyson hoặc tạo thành các hạt Fordyce Spot [1],[3] Bệnh nhân bị mắc trứng cá đều có tăng tiết bã nhờn, những người bị nặng thì tuyến bã nhờn lớn hơn và tiết nhiều hơn

Thành phần chất bã nhờn gồm các chất béo dưới dạng ester hỗn hợp, không có các acid béo tự do Thành phần chất bã đặc hiệu theo loài, ở người gồm các chất sau:

- Triglyceride và axit béo chiếm tỷ lệ chủ yếu 40 - 60%

Trang 6

1.1.2 Tăng tiết chất bã

Bằng thực nghiệm, người ta đã chứng minh rằng: Hoạt động tiết bã không phụ thuộc vào sự điều hoà của hệ thống thần kinh Hoạt động bài tiết chất bã có sự biến đổi liên quan với các hormon, đặc biệt là hormon sinh dục nam (androgens)

Vai trò quan trọng của nội tiết tố androgen trong hoạt động của tuyến

bã nhờn và trong sinh bệnh học của mụn trứng cá đã được xác định Các tuyến bã nhờn phản ứng ở mức độ khác nhau với nồng độ nội tiết tố androgen lưu hành, được sản xuất bởi tuyến sinh dục và tuyến thượng thận Ngoài ra, tuyến bã còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như di truyền, kích thích Tuyến bã hoạt động mạnh lúc mới sinh do angdrogen của mẹ truyền qua rau thai hoạt hoá, sau đó gần như bất hoạt ở trẻ em từ 2-6 tuổi Tuyến bã hoạt động trở lại từ 7 tuổi, phát triển mạnh ở tuổi dậy thì, giảm tiết ở tuổi 60-70 đối với nam, đối với nữ giảm ở độ tuổi 50 Hoạt động của tuyến bã theo nhịp ngày đêm: tuyến bã hoạt động mạnh và bài tiết nhiều chất bã nhất là cuối giờ sáng và đầu giờ chiều, giảm tiết chất bã nhất vào cuối giờ chiều và tối [21],[22],[23]

1.1.3 Bệnh sinh trứng cá

Tăng tiết chất bã và vai trò của chất bã:

Trong bệnh trứng cá, chất bã được bài tiết quá nhiều Hoạt động bài tiết của tuyến bã có liên quan chặt chẽ với các hormon, trong đó quan trọng là hormon sinh dục nam, đặc biệt là testosteron Các hormon này làm phát triển, giãn rộng, tăng thể tích tuyến bã, kể cả các tuyến bã không hoạt động, kích thích tế bào tuyến bã hoạt động mạnh, dẫn tới sự bài tiết chất bã tăng lên rất nhiều so với bình thường Bên cạnh đó, sự bài tiết chất bã còn chịu tác động của một số yếu tố: di truyền, các stress, thời tiết Trong bệnh trứng cá, chất

bã tăng tiết một cách quá mức do các yếu tố sau:

Trang 7

+ Tăng hormon sinh dục nam (testosteron, ehydroepiandrosteron )

+ Tăng việc gắn testosteron vào các thụ thể của tuyến bã

+ Tăng hoạt động của men 5a-reductase

+ Lượng SHBG (Sexual Hormone Binding Globulin) trong máu

giảm, dẫn đến lượng testosteron tự do đi đến tế bào tuyến bã tăng nhiều

hơn [6],[8],[9],[21],[24]

SHBG giảm

Testoteron tự do tăng

DHT tăng 5-α Reductase

TĂNG TIẾT CHẤT BÃ

Corticoid

Sơ đồ 4: Sự tăng tiết chất bã

Sừng hoá cổ nang lông tuyến bã

Quá trình sừng hoá cổ nang lông tuyến bã chịu tác dụng của một số yếu

tố: Hormon androgen (testosteron), thiếu hụt acid linoleic, tăng acid béo tự do

ở tuyến bã, vi khuẩn, và yếu tố di truyền

Sự phát triển của tuyến bã, bài tiết chất bã liên quan đến androgen, và

chính androgen góp phần quan trọng vào sự sừng hoá cổ nang lông tuyến bã

Trong bệnh trứng cá, acid béo tự do tăng, vai trò quan trọng là hoá ứng

động quá trình viêm trực tiếp, kích thích làm tăng sự sừng hoá và gây xơ hoá

Trang 8

cổ tuyến bã Chính acid béo tự do tăng kết hợp với sự có mặt của vi khuẩn có men phân huỷ chất bã bị ứ trệ góp phần làm bệnh nặng thêm

Sự sừng hoá cổ nang lông còn liên quan đến sự hoạt động và hiện diện của interleukin-1 alpha (IL-1α) và các cytokin khác Các yếu tố này làm cho quá trình sừng hoá ở cổ nang lông tuyến bã với nhịp độ luân chuyển tế bào tăng, tạo ra khối sừng ở cổ nang lông làm hẹp đường thoát chất bã lên mặt da, thậm chí gây bít tắc hoàn toàn Chất bã bị ứ đọng không được bài tiết lên mặt

da hoặc đào thải không hết Cùng lúc, là sự thay đổi trong bản mẫu của quá trình sừng hoá trong lòng nang lông Ở đáy phễu nang lông, chất sừng trở nên đông đặc hơn, các hạt dẹt hình lá thưa thớt, các hạt sừng trong suốt tăng lên, một số tế bào có chứa chất vô định hình là chất mỡ được tạo ra trong quá trình sừng hoá Kết quả tuyến bã bị giãn rộng, chứa đầy chất bã, dẫn tới hình thành nhân trứng cá [3],[4],[9],[11],[25]

Testoteron

Thiếu acid lenoic

Acid béo tự do

Tăng hoạt động IL-1α

Sừng hóa cổ nang lông

tuyến bã

Di truyền

Sơ đồ 5: Sừng hóa cổ nang lông tuyến bã

Trang 9

Vai trò của vi khuẩn trong nang lông

Trong nang lông có Propionibacterium acnes (P.acnes) còn gọi

Corynebacterium acnes, là một loại trực khuẩn có tính chất đa dạng và kị khí

Bình thường trong độ tuổi từ 11- 14 và 16 - 20 không tìm thấy P acnes ở những

người không bị trứng cá Ngược lại, ở những bệnh nhân trứng cá trung bình có

khoảng 114.800 P.acnes/cm² Bằng sinh hoá và huyết thanh học, loại vi khuẩn này được phân thành hai nhóm: P.acnes (trước đây gọi là Corynebacterium

typ1) và Propionibacterium grannulosum (P grannulosum - trước đây gọi là Corynebacterium typ 2) Các vi khuẩn P grannulosum chủ yếu gặp ở phần nang

lông với số lượng rất ít

Một số nghiên cứu đã thể hiện vai trò gây bệnh của vi khuẩn trong bệnh trứng cá như Năm 2005, tại Iran, Parvin Hassanzadeh và cộng sự đã nuôi

cấy Propionibacterium acnes (P.acnes) ở 100 học sinh bị mụn trứng cá xác

định được tỷ lệ 33% [14] Ở Việt Nam, năm 2012 Bác sĩ Nguyễn Thanh

Hùng đã nuôi cấy và xác định được tỷ lệ 48,3% (42/87) nhiễm P.acnes [5] Ngoài các vi khuẩn trên, người ta còn thấy một số nấm men Pityrosporum ovale

ở trong một số nang tuyến bã [5],[26]

Vi khuẩn P acnes có khả năng phân huỷ lipid, giải phóng acid béo tự

do gây viêm mạnh Điều này đã được chứng minh trong thực nghiệm bằng

cách tiêm P acnes sống vào trong các nang chứa đựng toàn acid béo đã este

hoá Sau khi tiêm, các nang này bị vỡ, các tổ chức xung quanh bị viêm tấy

nhiều Ngược lại, nếu tiêm các P acnes chết vào các nang nói trên thì thấy hiện tượng viêm không đáng kể Thậm chí khi tiêm trực tiếp P acnes vào

trung bì cũng chỉ gây viêm nhẹ hoặc trung bình Thí nghiệm đã chứng minh

rằng men lipase của P acnes sống đã phân huỷ lipid, giải phóng acid béo tự

do, gây viêm rõ rệt ở tổ chức dưới da [22],[27]

Trang 10

P.acnes

Bạch cầu đơn nhân

Lipid chất bã IL-8, IL-12, TNF-α

Acid béo tự do VIÊM

Sơ đồ 6: Vai trò của vi khuẩn trong trứng cá

1.2 CÁC THỂ LÂM SÀNG CỦA BỆNH TRỨNG CÁ

1.2.1 Trứng cá thông thường (Acne vulgaris)

Là thể rất phổ biến ở thanh thiếu niên nam nữ, từ 13 đến 25 tuổi, về sau bệnh giảm dần và cuối cùng khỏi [28] Ở nữ giới, đôi khi bệnh lại tiếp diễn thành trứng cá đỏ hoặc trứng cá kê khi bệnh nhân ở tuổi trên dưới 40 [4]

Các thương tổn khu trú đặc biệt ở vùng da mỡ như ở mặt (má, trán, cằm), ở vùng giữa ngực, lưng, vai Đôi khi gặp nhân trứng cá ở vành tai, bọc

ở ống tai, màng nhĩ

Tổn thương rất đa dạng: nhân trứng cá, sẩn nang lông, sẩn mụn mủ, mụn mủ, u viêm tấy, áp xe trung và hạ bì Các thương tổn này không phải thường xuyên kết hợp với nhau và có đầy đủ trên 1 bệnh nhân

1.2.2 Trứng cá mạch lươn (Acne conglobata)

Bệnh gặp chủ yếu ở đàn ông, bắt đầu sau tuổi dậy thì và tiếp tục kéo dài lâu hơn trong những năm về sau Thương tổn thường ở ngực, mặt, lưng, vai

và sau cổ Ngoài ra, còn thấy ở mông và tầng sinh môn Tổn thương bắt đầu

Trang 11

bằng mụn mủ ở nang lông, tiến triển to dần và loét rất đặc biệt Các ổ mủ nông và sâu, có khi rất to, cục viêm thành cụm 2-3 cái, đi vằn vèo thành hang hốc với nhiều lỗ rò, nhiều cầu da, nhiều đảo xơ Thương tổn thường có dịch màu vàng nhầy dạng sợi hoặc lẫn máu Sau khi rạch và dẫn lưu dịch lại đầy trở lại nhanh Bệnh tiến triển lâu dài, rất dai dẳng, khó chữa [22]

1.2.3 Trứng cá sẹo lồi (Acne keloidalis)

Loại trứng cá này chủ yếu gặp ở đàn ông, khu trú ở gáy và vùng rìa tóc Đầu tiên xuất hiện các thương tổn viêm nang ở gáy, sắp xếp thành đường thẳng hoặc vằn vèo Dần dần thương tổn tiến triển biến thành nhiều củ xơ hoặc dải xơ phì đại, gồ lên mặt da trông giống như sẹo lồi, trên bề mặt có một vài mụn mủ riêng rẽ Tiến triển lâu dài, cuối cùng tự xẹp thành sẹo phẳng và trụi tóc vĩnh viễn

1.2.4 Trứng cá kê hoại tử (Acne miliaris necrotica)

Còn gọi là trứng cá hoại tử của Boeck hoặc trứng cá dạng đậu của Hebra do tụ cầu vàng gây nên

Hoại tử là đặc điểm của loại trứng cá này và nguyên nhân có thể là do

sự mẫn cảm của người bệnh đối với vi khuẩn Bệnh thường gặp ở nam giới Thương tổn khu trú một cách đối xứng ở trán, ở thái dương, rìa tóc Đầu tiên

là sẩn nang lông màu hồng, thường có ngứa và nhanh chóng biến thành mụn

mủ mầu ngả nâu, bám rất chắc, xung quanh có một bờ viêm tấy mầu hồng Dưới vẩy là một ổ loét nhỏ, sau để lại sẹo lõm tồn tại vĩnh viễn

1.2.5 Trứng cá tối cấp (Acne fulminans)

Là thể hiếm gặp của trứng cá nặng, xuất hiện đột ngột ở bệnh nhân nam tuổi thanh thiếu niên, có tiền căn mụn trứng cá Hình ảnh lâm sàng giống mụn trứng cá cụm, có rất nhiều nốt viêm trên thân mình, lưng, ngực, không có ở

Trang 12

mặt, các nốt lớn hoặc các mảng viêm, tạo thành vết loét đau với bờ nhô cao bao quanh các mảng hoại tử xuất tiết, lành để lại sẹo Toàn thân có thể sốt, gan lách to, thiếu máu, viêm đa khớp Đau xương có thể liên quan đến tiêu xương vô trùng, viêm xương tủy xương đa ổ vô trùng Thể này cần có phương pháp điều trị đặc biệt [5],[28],[29]

1.2.6 Trứng cá do thuốc (Acne iatrogenic)

Có nhiều loại thuốc gây phát sinh, phát triển bệnh trứng cá Các hormon androgen làm tăng hoạt động và phì đại tuyến bã, các steroid gây sừng hoá nang lông và bít tắc cổ nang lông, các halogen (muối iod và brom) có trong các muối điều trị bệnh tuyến giáp, thuốc long đờm, thuốc điều trị hen, thuốc cản quang, phenobacbital, cyclosporin, cimetidin đều

có thể gây bệnh trứng cá Tuy nhiên, khi ngừng thuốc một thời gian các tổn thương bệnh trứng cá sẽ hết [25],[30]

1.2.7 Trứng cá nghề nghiệp (occupational acne)

Do môi trường làm việc gây nên, bệnh nhân tiếp xúc với dầu mỡ, hắc ín bụi than, bụi mốc liên tục trong nhiều năm (như công nhân sửa chữa máy móc, hầm lò ) Bệnh biểu hiện là các nhân, sẩn, mụn mủ và nang như trứng

cá thông thường khu trú ở vùng da hở [18]

1.2.8 Trứng cá trước tuổi thiếu niên (Childhood acne)

Thể này được phân thành 3 loại sau

- Trứng cá sơ sinh: xuất hiện trong 4 tuần đầu sau đẻ, bé trai hay bị hơn

bé gái do nội tiết tố progesteron ở mẹ truyền sang Tổn thương có thể tồn tại trong vài tuần rồi tự khỏi không để lại dấu vết gì

Trang 13

- Trứng cá tuổi ấu thơ: xuất hiện từ tháng thứ hai sau đẻ, cũng có thể là

do trứng cá sơ sinh tồn tại dai dẳng Trứng cá loại này có thể kéo dài thành trứng cá tuổi thiếu niên

- Trứng cá tuổi thiếu niên: nguyên nhân từ trứng cá trẻ em tồn tại dai dẳng Yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng [20],[31]

1.2.9 Các loại hình trứng cá khác

- Trứng cá trước chu kỳ kinh nguyệt: tổn thương là những sẩn mủ, có từ 5-10 tổn thương, xuất hiện trước khi có kinh một tuần, thường là do Luteinizing hormone (LH) ở đỉnh cao kích thích tổ chức đệm của buồng trứng tiết androgen

- Trứng cá do mỹ phẩm: thường gặp ở phụ nữ tuổi 25-30, do dùng các mỹ phẩm không thích hợp hoặc có thói quen sử dụng quá nhiều kem bôi mặt, dầu làm ẩm da, kem chống nắng [4],[22],[25] Tổn thương đồng đều, đứng sát nhau

- Trứng cá do yếu tố cơ học: thường gặp ở những cô gái trẻ, do có yếu

tố tâm lý lo lắng hay nặn bóp, cào xước tổn thương làm cho bệnh trứng cá nặng hơn, kết quả để lại các vết sẹo thâm và sẹo teo da

- Trứng cá nhân loạn sừng gia đình: là do rối loạn di truyền trội, với đặc điểm có nhiều nhân ở mặt, thân mình, các chi, có thể có sẩn đỏ, mụn nước, sau khi khỏi để lại sẹo sâu như hố băng, có khi xuất hiện đến giữa tuổi 40 Mô bệnh học thấy tiêu gai và tế bào loạn sừng ở trong thành của các lỗ chân lông [22]

- Trứng cá vùng nhiệt đới: loại trứng cá này có đặc điểm là tổn thương nang lớn, đa dạng ở ngực, lưng và mông Bệnh xuất hiện ở vùng nhiệt đới vào mùa hè khi thời tiết nóng ẩm

Trang 14

1.3 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH TRỨNG CÁ THÔNG THƯỜNG

Bệnh trứng cá thông thường chủ yếu gặp ở nam, nữ tuổi vị thành niên

và trưởng thành Tiến triển của bệnh thường giảm, thậm chí khỏi hẳn sau tuổi 25-30 Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều yếu tố tác động như thuốc bôi, thuốc uống, thức ăn, tác động cơ học, vấn đề tâm lý cũng làm bệnh tiến triển kéo dài hay chuyển sang các thể nặng khác Lâm sàng của bệnh rất đa dạng,

có thể là nhân trứng cá, sẩn đỏ, sẩn mụn mủ, mụn mủ, cục, nang viêm tấy đỏ,

có thể áp xe nông sâu Dựa trên lâm sàng người ta chia tổn thương cơ bản của bệnh trứng cá thông thường ra làm hai loại:

Hình 1: Các dạng tổn thương trong bệnh trứng cá

1.3.1 Tổn thương không viêm

- Nhân mở hay nhân đầu đen: tổn thương là những kén bã (chất lipit) kết hợp với những lá sừng của thành nang lông nổi cao hơn mặt da, làm cho nang lông bị giãn rộng Do hiện tượng oxy hoá chất keratin nên đầu nhân trứng cá bị đen lại tạo thành những nốt đen hơi nổi cao Loại nhân trứng cá này có thể tự thoát ra tự nhiên, ít gây tổn thương trầm trọng, tuy nhiên cũng

có thể bị viêm và thành mụn mủ trong vài tuần Chích nặn sẽ lấy được nhân

có dạng giống trứng của cá mầu trắng ngà

- Nhân kín hay nhân đầu trắng: loại tổn thương này có kích thước nhỏ hơn nhân đầu đen, thường mầu trắng hoặc hồng nhạt, hơi gồ cao và

Mụn đầu đen Mụn sẩn Mụn mủ Mụn dạng cục Mụn dạng nang

Trang 15

không có lỗ mở trên mặt da Tổn thương này có thể tự biến mất hoặc chuyển thành nhân đầu đen, những loại trứng cá này thường gây ra viêm tấy ở nhiều mức độ khác nhau

1.3.2 Tổn thương viêm

Tuỳ thuộc vào tình trạng viêm nhiễm, trên lâm sàng biểu hiện nhiều hình thái tổn thương khác nhau Đặc điểm chung của loại tổn thương này là viêm nhiễm ở vùng trung bì với các biểu hiện là sẩn viêm, mụn mủ, cục, nang

Sẩn viêm đỏ

hiện phản ứng viêm nhẹ Bệnh xuất hiện những đợt sẩn đỏ hình nón, gồ lên mặt da, sờ thấy được, mềm hơi đau gọi là trứng cá sẩn

Mụn mủ

Sau khi tạo sẩn, một số sẩn có mụn mủ ở trên tạo thành trứng cá sẩn mụn mủ, mụn mủ sẽ khô đét lại hoặc vỡ ra, đồng thời sẩn cũng xẹp xuống và biến mất Đó là trứng cá mụn mủ nông

Cục

thành các cục hay nang viêm khu trú dưới trung bì có đường kính < lcm

Trang 16

Ngoài các tổn thương trên, ở những bệnh nhân trứng cá thông thường, người ta còn thấy có tình trạng da mỡ với các biểu hiện da mặt nhờn, bóng

mỡ, các lỗ chân lông giãn rộng, rụng tóc da dầu

1.4 PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ BỆNH TRỨNG CÁ

Bệnh trứng cá là một bệnh khá phổ biến ở cộng đồng, cho đến nay có khá nhiều cách phân loại mức độ bệnh trứng cá Một số tác giả dựa vào số lượng tổn thương và đặc điểm tổn thương trứng cá để phân mức độ bệnh, hay theo giáo trình của Học Viện Quân y (2001) [33] chia làm 3 mức độ:

Độ nặng của bệnh được phân thành:

+ Từ 1 - 18 điểm: mụn trứng cá nhẹ

Trang 17

- Điều trị trứng cá đã có nhiều tiến bộ trong những năm gần đây Vấn

đề là người thầy thuốc phải biết lựa chọn loại thuốc nào để cho phù hợp Hơn nữa, bệnh nhân phải được giải thích một cách rõ ràng về bệnh tật để

Trang 18

họ sử dụng thuốc một cách phù hợp, không tự ngừng điều trị, không tự làm cho thương tổn nặng thêm (như thói quen nặn bóp), cần phải cho họ biết rằng trứng cá không phải là bệnh thoáng qua, không thể chữa khỏi trong vòng vài tuần mà sẽ kéo dài trong nhiều năm, có thể sau tuổi trưởng thành Sau khi đã điều trị ổn định, bệnh nhân cần phải điều trị duy trì với một phương thức nhất định [34]

- Cho tới nay nhiều hội thảo trong nước cũng như trên thế giới đã đưa

ra các phác đồ điều trị theo từng giai đoạn, thể bệnh Tuy nhiên, các phác đồ đều dựa trên 4 nguyên tắc chính được đặt ra

xuất các sản phẩm viêm nhiễm ngoại bào, thông qua việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn

Ngoài ra có thể điều trị các di chứng sau khi đã khỏi bệnh trứng cá

1.5.1 Phác đồ điều trị bệnh trứng cá thông thường [19]

- Bôi retinoid với kháng sinh

Hoặc BP

- Uống Isotretinoin và kháng sinh hoặc liệu pháp hormon

- Bôi retinoid

và kháng sinh

Hoặc

- Kháng sinh và benzoyl

Peroxide (BP)

Trang 19

1.5.2 Một số dạng thuốc được sử dụng trong điều trị trứng cá

+ Retinoid

Hoạt hóa và ức chế quá trình sao chép gen, làm thay đổi các yếu tố có liên quan đến sự tăng sinh, tình trạng viêm, sự sản xuất chất bã nhờn, làm giảm sự hình thành nhân trứng cá và làm giảm sự gắn kết của các tế bào sừng trong nhân trứng cá Do đó, có tác dụng làm giảm sự tắc nghẽn của nang lông,

có tác dụng giải quyết nhân trứng cá và các tổn thương viêm Thời gian điều trị trong vòng 3 tháng có thể cho kết quả đáng kể

Tác dụng không mong muốn: Khô da, kích thích da, hồng ban tróc vảy, tăng mụn trứng cá tạm thời trong 2 - 3 tuần đầu điều trị

Thuốc được bôi vào buổi chiều, kết quả rõ nhất sau 6 tuần điều trị + Benzoyl peroxide

Đây là dạng thuốc bôi rất phổ biến trong điều trị trứng cá trong nhiều năm nay, có tác dụng chống vi trùng và làm giảm sự thuỷ phân triglyceride, tác dụng chống viêm, và đặc tính phân huỷ nhân trứng cá Có thể xảy ra khô da, viêm da tiếp xúc kích ứng, và viêm da tiếp xúc dị ứng, nhưng với tỉ lệ rất thấp

+ Kháng sinh

Một số kháng sinh có thể được sử dụng đơn độc, hoặc phối hợp tetracycline, erythromycin, doxycyclin 100mg và clindamycin Cả hai thuốc erythromycin và clindamycin đã được chứng minh có hiệu quả và

dung nạp tốt, có tác dụng làm giảm sự phát triển của P.acnes trên bề mặt da

và trong nang lông

Tác dụng phụ quan trọng nhất của kháng sinh bôi là sự sinh ra vi trùng kháng thuốc hoặc sinh ra đề kháng chéo Nhiều nghiên cứu cho thấy: Tỉ lệ đề

kháng của P.acnes với kháng sinh gia tăng lên từ 20% vào năm 1978, lên đến

62% vào năm 1996 và gần đây nhất năm 2012 theo Nguyễn Thanh Hùng tỷ lệ

Trang 20

kháng kháng sinh của P.acnes với Azithromycin, Clindamycin,

Trimethoprim/sufamethoxazole tương ứng là 16,7%, 88,1% và 95,2% [5] + Điều trị bằng hormon

Có 4 nhóm hormon được sử dụng để điều trị trứng cá

- Các hormon đối kháng androgen (Spironolactone, Flutamide, Cyproterone acetate) Nhóm này tác động vào sự bài tiết tuyến bã

- Các loại thuốc tránh thai: làm cho buồng trứng giảm sản xuất androgen

- Hormon kháng Androgen trên thực tế cũng rất ít tác dụng do đó chỉ có tác dụng hỗ trợ điều trị [4],[22],[23],[35]

+ PAPULEX

Papulex điều trị hỗ trợ trứng cá, nó tác động vào 3 yếu tố căn nguyên bệnh sinh trứng cá nhờ vào các thành phần

+ Phức hợp ABA (Anti Bacteria Adhesive Substane) có tác động ngăn

ngừa sự bám dính của vi khuẩn P.acnes vào tế bào sừng hóa của phễu nang

lông, từ đó ngăn sự tăng sinh của vi khuẩn [36]

Sơ đồ 7: Ức chế sự bám dính của vi khuẩn P.acnes vào tế bào sừng

Trang 21

+ Niacinamide là dẫn chất của Vitamin B3 có tác dụng dịu da, giảm viêm và giảm sản xuất bã nhờn

+ Kem PCA làm giảm hiện tượng bóng dầu do giảm sản xuất bã nhờn

Hình 2: Sản phẩm Papulex

Papulex đã được sử dụng rộng rãi ở các nước Châu Âu và cũng đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành cho sản phẩm như:

Aulisa L, Bizzi B, Caione P (2009) Nghiên cứu đánh giá tác động và

độ dung nạp của Papulex oil-free cream trên 514 bệnh nhân bị bệnh trứng cá

có sẩn mụn và sẩn mủ, bệnh nhân được sử dụng Papulex 2 lần trong ngày, đánh giá sau 3 tuần và 6 tuần và đã đạt được kết quả sau [17]

- Sau 3 tuần, 55% BS và 50% BN ghi nhận Papulex có hiệu quả

- Sau 6 tuần, 85% BS và 79% BN ghi nhận Papulex® có hiệu quả

- 0,8% BS và 1,5% BN ghi nhận Papulex không có hiệu quả sau 6 tuần

- Dưới 10% số BN báo cáo gặp phản ứng phụ Phản ứng phụ thường gặp nhất là đỏ da, ở 4% số BN điều trị

Shalita AR, Smith JG, Parish LC (1995) Tiến hành trên 76 bệnh nhân,

38 bệnh nhân cho một nhóm Nghiên cứu dung Nicotinamide ngoài da so

Trang 22

sánh với gel Clindamycin trong điều trị trứng cá viêm, và đã thu được kết quả sau [50]:

- Sau 8 tuần cả 2 nhóm đều có kết quả tích cực như nhau theo đánh giá tổng quan tình trạng mụn viêm của bác sĩ

- Cả hai sản phẩm đều làm giảm sổ thương tổn và độ nặng của trứng cá như nhau

Rougier N, Verdy C, Chesne C (2003) Nghiên cứu được tiến hành trên 7 bệnh nhân da có khuynh hướng bị mụn Các đối được nghiên cứu được cho

tiếp xúc với P acnes và bôi gel chứa 3% chất chống bám dính vi khuẩn Sự

giảm số lượng vi khuẩn được đo lường bằng phản ứng huỳnh quang, thu được kết quả sau [51]:

- Sau 3 ngày thoa gel, sự ức chế đo bằng phương pháp ex vivo nằm trong khoảng từ 48 đến 97% ở 7 đối tượng tham gia nghiên cứu

Với các thành phần của Papulex và các nghiên đã được tiến hành, có thể cho phép bệnh nhân sử dụng kéo dài mà hạn chế tối đa những tác dụng không mong muốn do thuốc mang lại

Trang 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng

Các bệnh nhân đến khám tại khoa Khám bệnh - Bệnh viện Da Liễu Trung ương đã được chẩn đoán bệnh trứng cá thông thường mức độ trung bình và nhẹ

- Thương tổn thường khu trú vùng đầu, mặt cổ, lưng và vai

- Tổn thương cơ bản của bệnh là nhân trứng cá, sẩn, mụn mủ

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Bệnh nhân đã được chẩn đoán trứng cá thông thường, mức độ bệnh trứng cá nhẹ và vừa theo phân loại theo Karen Mc Coy 2008 Dựa vào số lượng và đặc điểm tổn thương [9]

Trang 24

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

- Mắc các bệnh mạn tính

- Các thể khác của bệnh trứng cá

- Bệnh trứng cá thông thường mức độ nặng

- Bệnh nhiễm trùng khác, bệnh suy giảm miễn dịch

- Phụ nữ có thai và cho con bú

- Không tuân thủ điều trị đầy đủ

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Phương pháp cứu tiến cứu cho mục tiêu 1

- Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh đối chứng cho

mục tiêu 2

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

- Với mục tiêu 1 Bệnh nhân được chọn theo phương pháp lấy mẫu có

chủ định

- Với mục tiêu 2 Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho so sánh tỷ lệ khác biệt

Trong đó:

n: cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu

được chọn

p1: Tỷ lệ nhóm nghiên cứu đạt tốt 85%

p2: Tỷ lệ nhóm so sánh đạt tốt ước tính 65%

2 2 1

2 2 1 1 ) , ( 2

) (

) 1 ( ) 1 (

p p

p p p p Z

Trang 25

(p1 - p2): Mức sai lệch mong muốn giữa hai tỷ lệ nhóm nghiên cứu và nhóm so sánh

Kết quả tính cỡ mẫu cho nghiên cứu là n = 96 bệnh nhân

10% bệnh nhân bỏ dở nghiên cứu 0,1 x96 = 10 bệnh nhận

Trên thực tế nghiên cứu chúng tôi tiến hành trên 104 bệnh nhân cho cả 2 nhóm nghiên cứu Nhóm 1 có 53 bệnh nhân, nhóm 2 có 51 bệnh nhân [37]

2.2.3 Vật liệu nghiên cứu

2.3.3.1 Kháng sinh toàn thân

- Azithromycin 500mg, biệt dược Markaz 500 mg

- Nhà sản xuất Marksans Pharam - Ấn Độ

- Số đăng ký VN -13778-11

Azithromycin là một kháng sinh có hoạt phổ rộng thuộc nhóm macrolid Thuốc có tác dụng diệt khuẩn mạnh bằng cách gắn với ribosom 50s của vi khuẩn gây bệnh, ngăn cản quá trình tổng hợp protein của chúng

Azithromycin sau khi uống được phân bố rộng rãi trong cơ thể, sinh khả dụng khoảng 40% Sau khi dùng thuốc, nồng độ đỉnh huyết tương đạt được trong vòng 2-3 giờ, thải trừ qua nước tiểu trong vòng 72 giờ dưới dạng không biến đổi Nửa đời thải trừ cuối cùng ở huyết tương tương đương nửa đời thải trừ trong các mô mềm đạt được sau khi dùng thuốc từ 2 - 4 ngày

Trang 26

2.2.3.2 Thuốc bôi tại chỗ

+ Sữa rửa mặt Cetaphil 118 ml

- Hãng Galderma sản xuất tại Canada

Trang 27

Cơ chế tác động chính xác của Nicotinamide trên các tác nhân gây viêm chính vẫn còn chưa rõ, nhưng các tác động sau đã được ghi nhận:

Nicotinamide làm giảm đáng kể sự sản xuất của IL-8 một cách tỉ lệ thuận với liều, làm giảm cả mRNA và các protein liên quan với chất hóa hướng động này

Papulex chứa Zinc PCA, có tác dụng làm giảm lượng bã nhờn dư thừa (dầu) Kết hợp với L-PCA (muối kẽm của pyrrolidone carboxylic acid) là nhằm để làm tăng sinh khả dụng, hiệu quả và độ dung nạp

Nhân tố quyết định gây ra tổn thương trứng cá là sự tăng sinh của

P acnes Do đó, điều quan trọng là phải ngăn ngừa trước sự bám dính của

P acnes lên các tế bào sừng hóa

Papulex tác động lên trứng cá viêm bằng cách ngăn chặn sự bám dính

của P acnes lên các tế bào sừng hóa của phễu nang lông

ABA giúp ngăn chặn sự tăng sinh của vi khuẩn P acnes

3% ABA ức chế sự bám dính lên tế bào sừng hóa của từ 48% tới 97%

lượng vi khuẩn P acnes [36]

+ Phác đồ điều trị cho nhóm nghiên cứu (n 1 = 53)

- Azithromycin 500mg /ngày, uống sau bữa ăn 2 giờ, tuần uống 4 ngày liên tiếp, nghỉ 3 ngày Sau đánh giá lại, bệnh mức độ vừa thì tiếp tục dùng thuốc, nếu bệnh mức độ nhẹ thì không dùng Azithromycin tiếp

- Papulex Moussant Soap Free Cleansing Gel

Cách dùng: rửa mặt ngày 2 lần, sáng và tối, dùng duy trì trong suốt thời

gian nghiên cứu

- Papulex Oil-free cream

Trang 28

Cách dùng: bôi ngày 2 lần, bôi lên vùng da mụn, duy trì trong thời gian nghiên cứu

Trứng cá mức độ nhẹ không dùng kháng sinh Azithromycin

+ Phác đồ điều trị cho nhóm đối chứng (n 2 = 53)

- Azithromycin 500mg /ngày, uống sau bữa ăn 2 giờ, tuần uống 4 ngày liên tiếp, nghỉ 3 ngày Sau đánh giá lại, bệnh mức độ vừa thì tiếp tục dùng thuốc, nếu bệnh mức độ nhẹ thì không dùng Azithromycin tiếp

- Sữa rửa mặt Cetaphil 118 ml rửa mặt ngày 2 lần, sáng và tối trong thời gian nghiên cứu

- Eclaran 5 bôi tổn thương ngày 2 lần, sáng và tối trong suốt thời gian nghiên cứu

Trứng cá mức độ nhẹ không dùng kháng sinh Azithromycin

2.2.4 Các biến số

- Tuổi: tính bằng số tuổi bệnh nhân

Các nhóm tuổi: < 15 tuổi; 15-19 tuổi; 20-24 tuổi; 25-29 tuổi; ≥30 tuổi

- Giới tính: có 2 giá trị nam và nữ

- Nghề nghiệp: bao gồm các giá trị: học sinh, sinh viên, nội trợ, nhân viên văn phòng, công nhân, nông dân, buôn bán

- Các biện pháp điều trị trước đây: gồm các giá trị có điều trị hay không

- Thời gian mắc bệnh trứng cá: tính theo tháng, < 6 tháng; 6 - 12 tháng;

>12 tháng

- Vị trí tổn thương trứng cá: gồm mặt, ngực, lưng, vai

- Kết quả điều trị: Được đánh giá theo bảng tại mục 2.2.7: tốt, khá, trung

bình, không đáp ứng

- Biến tác dụng phụ: bao gồm ngứa, rát, đau, bong vảy da

Trang 29

2.2.5 Kỹ thuật thu thập dữ liệu

- Hỏi bệnh: Tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, địa chỉ, số điện thoại liên lạc, thời gian bị bệnh, tiền sử bệnh nội khoa, tình trạng kinh nguyệt

- Đã điều trị ở đâu, thuốc đã sử dụng ?

- Khám thực thể: xác định vị trí, số lượng trứng cá, mức độ tổn thương, mức độ tiết bã nhờn

2.2.6 Tiến hành nghiên cứu

Bệnh nhân sau khi được khám bệnh, tư vấn đồng ý tham gia nghiên cứu

sẽ được chọn ngẫu nhiên cho 2 nhóm: nhóm nghiên cứu và nhóm so sánh Những bệnh nhân tham gia nghiên cứu được đánh số thứ tự từ 1 đến 106 Tất

cả bệnh nhân mang số lẻ sẽ xếp vào nhóm nghiên cứu, bệnh nhân có số chẵn được xếp vào nhóm đối chứng

Phỏng vấn theo một mẫu bệnh án thống nhất

Khám lâm sàng đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh

giá kết quả điều trị sau 4 tuần, 8 tuần, 12 tuần

2.2.7 Đánh giá hiệu quả điều trị

- Đánh giá hiệu quả điều trị dựa trên giảm số thương tổn sau 4 tuần, 8 tuần

và sau 12 tuần điều trị của từng nhóm và so sánh 2 nhóm với nhau

Trang 30

2.3 KỸ THUẬT PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

- Tiến hành xử lý thô trước khi nhập số liệu vào máy tính, loại bỏ các

bộ phiếu phỏng vấn không đạt yêu cầu Nhập số liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1và phân tích, xử lý số liệu theo chương trình SPSS 18.0

ý nghĩa thống kê với p < 0,05

- Kết quả sẽ được trình bày bằng các bảng tần số, tỷ lệ và biểu đồ

- Các thông số thống kê, tính toán trong nghiên cứu: các thông số được trình bày dưới dạng số lượng và tỷ lệ phần trăm

2.4 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Địa điểm: Khoa khám bệnh, Bệnh viện Da liễu Trung ương

- Thời gian: Từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2014

2.5 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu được thực hiện khi có sự phê duyệt cho phép của Bệnh viện Da liễu Trung ương và Bộ môn da liễu Đại học Y Hà Nội

- Những bệnh nhân sau khi được giải thích rõ mục đích, yêu cầu của nghiên cứu và tự nguyên tham gia nghiên cứu mới đưa vào danh sách

- Các bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu hoặc rút khỏi nghiên cứu vẫn được khám, tư vấn và điều trị chu đáo

- Mọi thông tin cá nhân của đối tượng tham gia nghiên cứu được giữ bí mật

- Mọi số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho nghiên cứu không dùng cho mục đích khác

- Sản phẩm Papulex, sữa rửa Cetaphil, Eclaran 5 dùng trong nghiên cứu được cấp miễn phí một phần

Trang 31

- Papulex dùng trong nghiên cứu đã được thử nghiệm và sử dụng rộng rãi

ở các nước khác và các thử nghiệm cho thấy thuốc không có tác dụng phụ khác

- Papulex có visa của Bộ Y tế số 2011IVN-124-2

2.6 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

Do thời gian nghiên cứu ngắn, kinh phí để thực hiện nghiên cứu ít nên

cỡ mẫu thực hiện còn hạn chế Thời gian theo dõi đánh giá cho một bệnh nhân chỉ 3 tháng, với thời gian đó có thể chưa đủ để đánh giá hết những tác dụng điều trị, khả năng hạn chế tái phát bệnh và tác dụng không mong muốn của thuốc trong quá trình điều trị

Mặc dù đã được hỗ trợ một phần thuốc điều trị cho bệnh nhân, nhưng liệu trình điều trị kéo dài, đi lại xa xôi cũng gấy nhiều chở ngại cho đối tượng tham gia nghiên cứu

Trang 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG BỆNH TRỨNG CÁ THÔNG THƯỜNG

Bảng 3.1 Phân bố bệnh theo giới (n = 104)

Nhận xét: Từ bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ nữ bị bệnh trứng cá cao 79,8%,

nam bị bệnh thấp hơn với 20,2%

Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh theo giới của hai nhóm Nhận xét: Sự phân bố tỷ lệ giữa nam và nữ trong 2 nhóm như sau

Nhóm 1 nam 11.3%, nữ 88,7% Nhóm 2 nam 29,4%, nữ 70,6% Sự khác biệt

về giới giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Trang 33

Nhận xét:Từ bảng trên ta thấy vị trí tổn thương mụn trứng cá rất cao ở

2 má (100%), tiếp đến là cằm (88,5%), trán (76,9%) Thấp hơn ở vùng mũi 38,5%, lưng ngực (36,5%)

Bảng 3.3 Phân bố bệnh theo nhóm tuổi (n = 104)

Nhận xét: Lứa tuổi bị bệnh trứng cá nhiều nhất nằm ở khoảng 20 - 24

tuổi, với 38,5% Nếu xét từ 15 - 29 tuổi thì tỷ lệ chiếm 92,4%, còn lại dưới 15 tuổi là 3,8%, trên 30 tuổi là 3,8%

Trang 34

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi

Bảng 3.4 Phân bố bệnh theo nghề nghiệp (n= 104)

Trang 35

Biểu đồ 3.3 Phân bố theo thời gian bị bệnh

Nhận xét: Bệnh nhân bị bệnh > 12 tháng có tỉ lệ cao nhất với 44,2%,

Trang 36

Bảng 3.6 Phân bố bệnh theo địa dư (n= 104)

Bảng 3.7 Bệnh trứng cá với các yếu tố thuận lợi (n= 104)

Trang 37

Nhận xét: Bệnh nhân bị bệnh trứng cá chưa xây dựng gia đình chiếm

phần lớn với tỷ lệ 82,7%, số bệnh nhân đã lập gia đình chỉ chiếm 17,3% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

3.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ

Bảng 3.9 Bảng phân bố độ nặng của bệnh trước điều trị

Nhóm N/C

Mức độ bệnh

Nhóm 1 (n1= 53)

Nhận xét: Từ bảng trên nhận thấy trong nhóm nghiên cứu các bệnh

nhân được lựa chọn 2 mức độ nhẹ và vừa Nhóm 1có 13,2% mức độ nhẹ, 86,8% mức độ vừa Nhóm 2 có 15,7% nhẹ, 84,3% mức độ vừa Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê về mức độ bệnh giữa nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng

Trang 38

Biểu đồ 3.4 Bảng phân bố độ nặng của bệnh trước điều trị

Bảng 3.10 Bảng phân bố độ nặng của bệnh sau 4 tuần điều trị

Nhận xét: Sau 4 tuần điều trị, mức độ bệnh nhẹ của nhóm 1 tăng lên

56,6%, so với ban đầu là 13,2% Nhóm 2 mức độ vừa là 64,7%, so với ban đầu là 15,7% Cả 2 nhóm đều có sự cải thiện về mặt lâm sàng đáng kể, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Trang 39

Bảng 3.11 Bảng phân bố độ nặng của bệnh sau 8 tuần điều trị

Nhận xét: Trong bảng này có thể nhân thấy bệnh nhân nhóm 1 có 77,4%

ở mức độ nhẹ, nhóm 2 có 80,4% ở mức độ nhẹ Điểm nổi bật là sau 12 tuần điều trị đã có một số trường hợp hết tổn thương Ở nhóm 1 là 17%, nhóm 2 là 19,6% Với kết quả trên, sự khác biệt giữa 2 nhóm về mức độ bệnh không có

ý nghĩa thống kê

Trang 40

Biểu đồ 3.5 Mức độ bệnh của nhóm 1 qua 4-8-12 tuần

Biểu đồ 3.6 Mức độ bệnh của nhóm 2 qua 4-8-12 tuần

Ngày đăng: 15/03/2018, 22:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Văn Tiến (2002). Tình hình, đặc điểm lâm sàng và lượng 17 - Cetosteroid trong nước tiểu bệnh nhân trứng cá thông thường ở nam giới, Luận văn thạc sĩ, Học Viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình, đặc điểm lâm sàng và lượng 17 - Cetosteroid trong nước tiểu bệnh nhân trứng cá thông thường ở nam giới
Tác giả: Vũ Văn Tiến
Năm: 2002
2. Trần Thị Song Thanh (2001). Nhận xét tình hình điều trị bệnh trứng cá tại bệnh viên Da liễu Khánh Hòa, Nội san Da liễu. 2, 10-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội san Da liễu
Tác giả: Trần Thị Song Thanh
Năm: 2001
3. Robert A Schwartz, Giuseppe Micali (2013). ACNE, Macmillan Medical Communications. 11-175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macmillan Medical Communications
Tác giả: Robert A Schwartz, Giuseppe Micali
Năm: 2013
4. Nguyễn Thị Minh Hồng (2008). Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả điều trị bệnh trứng cá thông thường bằng vitamin A acid tại Viện Da liễu Quốc gia, Luận án bác sĩ chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả điều trị bệnh trứng cá thông thường bằng vitamin A acid tại Viện Da liễu Quốc gia
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hồng
Năm: 2008
5. Nguyễn Thanh Hùng (2012). Tỷ lệ hiện mắc Propionibacterium Acnes và sự đề kháng in vitro đối vối kháng sinh ở bệnh nhân ở bệnh nhân bị mụn trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ - Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ hiện mắc Propionibacterium Acnes và sự đề kháng in vitro đối vối kháng sinh ở bệnh nhân ở bệnh nhân bị mụn trứng cá thông thường tại Bệnh viện Da Liễu TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 2012
8. Nguyễn Thị Thanh Nhàn (1999). Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến phát sinh bệnh trứng cá thông thường, Luận ván thạc sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến phát sinh bệnh trứng cá thông thường
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Năm: 1999
9. Nguyễn Tất Thắng (2011). Tổng quan về điều trị bệnh trứng cá. Tạp chí Da Liễu học Việt Nam, 58-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Da Liễu học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tất Thắng
Năm: 2011
11. Fitz-Gibbon, S (2013). Propionibacterium acnes strain populations in the human skin microbiome associated with acne. J Invest Dermatol. 133(9), 2152-2160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Invest Dermatol
Tác giả: Fitz-Gibbon, S
Năm: 2013
12. Gurel, M. S (2005). Quality of life instrument for Turkish people with skin diseases. Int J Dermatol. 44(11), 933-938 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int J Dermatol
Tác giả: Gurel, M. S
Năm: 2005
13. V. Goulden, S. M. Clark &amp; W. J. Cunliffe (1997). Post-adolescent acne: a review of clinical feature. Br J Dermatol, 136(1), 66-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Br J Dermatol
Tác giả: V. Goulden, S. M. Clark &amp; W. J. Cunliffe
Năm: 1997
14. Hassanzadeh Parvin, Bahmain. (2008). Bacterial resitance to antibiotc in acne vugaris: an in vitro study. Indian J Dermatol, 53, 122-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indian J Dermatol
Tác giả: Hassanzadeh Parvin, Bahmain
Năm: 2008
15. Nguyễn Thị Ngọc (2012). Hiệu quả điều trị bệnh trứng cá thông thường bằng Klenzit -C, Luận văn thạc sĩ y khoa, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả điều trị bệnh trứng cá thông thường bằng Klenzit -C
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc
Năm: 2012
16. Mai Bá Hoàng Anh (2011). Đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị trứng cá thông thường bằng thuốc bôi Duac kết hợp Doxycycline, Luận văn Thạc sỹ y học Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị trứng cá thông thường bằng thuốc bôi Duac kết hợp Doxycycline
Tác giả: Mai Bá Hoàng Anh
Năm: 2011
17. Aulisa et al (2009). Evaluation Study an the Activity and Tolerability of Papulex® Oil Free Cream. Suppl, 1(1), 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suppl
Tác giả: Aulisa et al
Năm: 2009
19. Trần Hậu Khang (2011). Phác đồ điều trị bệnh trứng cá. Tạp chí Da Liễu học Việt Nam, Hội Da Liễu Việt Nam. 4, 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Da Liễu học Việt Nam, Hội Da Liễu Việt Nam
Tác giả: Trần Hậu Khang
Năm: 2011
20. Phạm Văn Hiển (1995). Bệnh trứng cá. Bài giảng cho bác sỹ chuyên khoa Da liễu, 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng cho bác sỹ chuyên khoa Da liễu
Tác giả: Phạm Văn Hiển
Năm: 1995
21. Veraldi, S., Barbareschi, M., Benardon, S., Schianchi, R. (2013). Short contact therapy of acne with tretinoin, J Dermatolog Treat. 24(5), 374-376 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Dermatolog Treat
Tác giả: Veraldi, S., Barbareschi, M., Benardon, S., Schianchi, R
Năm: 2013
22. Nguyễn Thị Huyền (2010). Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh trứng cá thông thường ở phụ nữ bằng viên tránh thai Diane 35, Luận văn thạc sĩ.Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh trứng cá thông thường ở phụ nữ bằng viên tránh thai Diane 35
Tác giả: Nguyễn Thị Huyền
Năm: 2010
23. Phạm Thị Lan, Nguyễn Duy Hưng (2012). Hiệu quả điều trị bệnh trứng cá thông thường ở phụ nữ bằng Diane 35. Tạp chí y học Việt Nam.394(6), 66-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí y học Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Lan, Nguyễn Duy Hưng
Năm: 2012
24. Mills, O. H, Jr,Kligman, A. (1975). Acne mechanica. Arch Dermatol. 111(4), 481-483 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arch Dermatol
Tác giả: Mills, O. H, Jr,Kligman, A
Năm: 1975

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w