1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa, đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn tại huyện Sơn Động Tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị

87 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phần và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn tại Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất, chúng tôi tiến hành ngh

Trang 1

HOÀNG HẢI NAM

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN TRÒN ĐƯỜNG TIÊU HÓA, ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN LƯƠN Ở LỢN TẠI HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

HOÀNG HẢI NAM

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN TRÒN ĐƯỜNG TIÊU HÓA, ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN LƯƠN Ở LỢN TẠI HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn được thực hiện theo đề tài luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Hương Giang

là trung thực và chưa hề công bố dưới bất kỳ hình thức nào Mọi thông tin, trong tài liệu trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Hải Nam

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Hoàng Đăng Huyến, TS Lê Văn Dương- Chi cục chăn nuôi và Thú y tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Hải Nam

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Đặc điểm sinh học của một số loài giun tròn đường tiêu hóa của lợn 3

1.1.2 Những hiểu biết về bệnh giun lươn 12

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 21

Chương 2:VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

2.2 Vật liệu nghiên cứu 23

2.3 Nội dung nghiên cứu 24

2.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Sơn Động 24

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn 24

2.3.3 Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun lươn cho lợn 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại Sơn Động 25

Trang 6

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn 27

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun lươn cho lợn 29

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 32

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại Sơn Động 33

3.1.1 Kết quả điều tra thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán cho lợn tại Sơn Động 33

3.1.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn 35

3.1.3 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn ở một số địa phương thuộc huyện Sơn Động 36

3.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn qua xét nghiệm phân 39

3.2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn 41

3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun lươn cho lợn 57

3.3.1 Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn trên diện hẹp 57

3.3.2 Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn trên diện rộng 58

3.3.3 Xác định khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng, ấu trùng giun lươn của phương pháp ủ hiếu khí 59

3.3.4 Nghiên cứu số lần dùng thuốc tẩy dự phòng bệnh giun lươn cho lợn 61

3.3.5 Đ ề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh giun lươn cho lợn 65

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67

1 Kết luận 67

2 Đề nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 7

A.suum: Ascaris suum

O dentatum: Oesophagostomum dentatum

S ransomi: Strongyloides ransomi

T suis: Trichocephalus suis

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1.Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun sán cho lợn tại Sơn

Động… ….33

Bảng 3.2 Thành phần và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn tại Sơn Động, tỉnh Bắc Giang 35

Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hoá lợn ở một số địa phương của huyện Sơn Động 37

Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm các loài giun tròn đường tiêu hóa lợn ở một số xã thuộc huyện Sơn Động 39

Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn tại một số địa phương 42

Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn 45

Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn theo mùa trong năm 48

Bảng 3.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn theo phương thức chăn nuôi 50 Bảng 3.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 53

Bảng 3.10 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn bình thường và tiêu chảy 55

Bảng 3.11 Hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn trên diện hẹp 57

Bảng 3.12 Hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn trên diện rộng 58

Bảng 3.13 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun tròn của phương pháp ủ phân hiếu khí 60

Bảng 3.14 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn trước thử nghiệm 62

Bảng 3.15 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn sau 1 tháng thử nghiệm 63

Bảng 3.16 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn sau 3 tháng thử nghiệm 64

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn ở các xã 37

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ lợn nhiễm các loài giun tròn tại huyện Sơn Động 39

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ lợn nhiễm giun lươn tại các xã của huyện Sơn Động 43

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ lợn nhiễm giun lươn theo lứa tuổi 46

Hinh 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn theo mùa 49

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn theo phương thức chăn nuôi 51

Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 53

Hình 3.8 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn bình thường và tiêu chảy 55

Trang 10

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta với hơn 70% dân số làm nông nghiệp, trong đó ngành chăn nuôi chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong

cơ cấu kinh tế của nước ta nói chung Chăn nuôi góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo ra các sản phẩm có giá trị, nâng cao thu nhập cho người dân

Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thuận lợi cho nhiều loại mầm bệnh phát triển, trong đó có các loài ký sinh trùng gây bệnh cho vật nuôi Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, vi rút, song bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mạn tính, làm lợn sinh trưởng, phát triển chậm, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng Nguy hiểm hơn, ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, vi rút xâm nhập gây bệnh

Sơn Động là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang có lợi thế về đất đai và

có khí hậu khá phù hợp với chăn nuôi gia súc, đặc biệt là chăn nuôi lợn Chăn nuôi lợn góp phần quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân trong huyện Nhiều hộ gia đình đã vươn lên làm giàu bằng nghề chăn nuôi lợn Song, trong nhiều năm qua dịch bệnh vẫn là nguyên nhân gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp ở lợn như bệnh dịch tả, bệnh tụ huyết trùng, bệnh phó thương hàn còn

phải kể đến các bệnh do ký sinh trùng đường ruột gây nên, trong đó có các bệnh do

giun tròn gây ra Lợn bị nhiễm giun tròn thường gầy yếu, còi cọc, giảm sức đề

kháng và dễ mắc các bệnh khác Mặt khác, theo nhiều tác giả, giun lươn ký sinh làm

lợn tổn thương nặng ở ruột non, đặc biệt là phần tá tràng, gây rối loạn nghiêm trọng

sự hấp thu dinh dưỡng, lợn dễ chết nếu nhiễm giun lươn nặng

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng ở lợn Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về bệnh giun tròn ở lợn tại huyện Sơn

Trang 11

Động tỉnh Bắc Giang, đặc biệt là bệnh giun lươn, vì vậy chưa có quy trình

phòng chống bệnh hiệu quả

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa, đặc

điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn tại huyện Sơn Động - Tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị "

2 Mục tiêu của đề tài

Xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn ở đường tiêu hóa, một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun lươn ở lợn tại huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị hiệu quả

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Đặc điểm sinh học của một số loài giun tròn đường tiêu hóa của lợn

1.1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn trong hệ thống phân

loại động vật

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết: Hiện nay đã biết hơn 5.000 loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có hơn 1.000 loài giun sống tự do, hơn

3.000 loài giun sống ký sinh

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21], hệ thống phân loại của một số loài giun tròn ở đường tiêu hoá lợn được sắp xếp theo vị trí như sau:

Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873

Lớp Nematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Enoplia Chit wood, 1993

Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skjabin et Schulz, 1928

Họ Trichocephalidea Bard, 1953

Phân họ Trichocepphalus Ransomi, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocepphalus suis Schrank, 1788

Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925 Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum dentatum, (Rudolphi, 1803)

Loài Oesophagostomum brevicaudatum

(Shwartz et Alicata, 1930)

Loài Oesophagostomum longicaudum

(Goodey, 1925)

Trang 13

Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942

Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933

Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosch, 1934 Giống Strongyloides Grassi, 1879

Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856) Loài Strongyloides ransomi (Schwartz et Alicata, 1930)

Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915

Họ Ascaris Linacus, 1758 Giống Ascaris Linnaeus, 1758 Loài Acaris suum Goeze, 1782

1.1.1.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn

Phạm sỹ lăng và cs (2011) [18] cho biết, thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn gồm:

Gnathostoma hispidum Fedtschenko, 1872

Dạ dày

6 Pseudocruzia orientalis, Maplestoue, 1930 Ruột già, mạnh tràng

7 Globocephalus longgemucronatus Molin, 1861 Ruột non

8 Raillietostrongylus samoensis Lane, 1922 Ruột non

Oesophagostomum brevicaudatum (Shwarts et Alicata, 1930)

Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925)

Ruột già

Trang 14

1.1.1.3 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của một số giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn

Giun tròn đường tiêu hóa của lợn đều mang những đặc điểm chung của lớp

giun tròn Nematoda, ngành Nemathelminthes Song, mỗi loài giun tròn đều có

những đặc điểm đặc trưng riêng cho từng loài Căn cứ vào những đặc điểm đó khi

mổ khám ta có thể phân biệt sơ bộ các loài với nhau

1.1.3.1 Giun đũa lợn (Ascaris suum)

Trịnh Văn Thịnh (1977) [33], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18]: Giun đũa lợn

thuộc họ Ascaridae, loài Ascaris suum ký sinh ở ruột non lợn Giun màu trắng sữa

Hình ống, hai đầu hơi nhọn Đầu có 3 môi bao quanh miệng Trên rìa môi có 1 hàng răng cưa rất rõ

Nghiên cứu về cấu tạo kích thước của loài giun này, Trương Quốc Dũng (2011) [4] cho biết: Con đực: dài 100 - 220 mm, rộng 2,7 - 3,0 mm Đuôi thường cong về phía bụng Hai gai sinh dục dài bằng nhau Con cái: dài 290 - 300 mm, rộng

4 - 5 mm Có 2 buồng trứng, 2 ống dẫn trứng mảnh, tử cung là một ống hẹp Âm đạo ngắn, mở ra ở lỗ sinh dục cái nằm ở mặt bụng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15]: trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước từ 0,056 - 0,087 mm x 0,046 - 0,067 mm, vỏ dày gồm 4 lớp vỏ, lớp

ngoài cùng là protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng

1.1.3.2 Giun lươn ở lợn (Strongyloides ransomi)

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết: tác nhân gây bệnh giun lươn ở Việt

Nam là hai loài giun lươn Strongyloides ransomi, Strongyloides papillosus thuộc giống Strongyloides ký sinh ở ruột non của lợn

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21] mô tả loài Strongyloides ransomi như sau:

Loài Strongyloides ransomi (Schwartf et Alicata, 1930): ký sinh ở ruột non

lợn Giun đực có hình sợi, dài 0,087 - 0,90 mm, lỗ huyệt cách nút đuôi 0,070 mm

Con cái: Cơ thể dài 2,1 - 4,2 mm, rộng nhất 0,04 - 0,08 mm Lỗ miệng có 4

môi với các núm cutin Thực quản dài 0,58 - 0,94 mm Lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau

cơ thể; có 2 buồng trứng Đuôi ngắn, thẳng, hình nón Trứng hình ô van, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm, trong trứng có ấu trùng

Trang 15

Con đực: Cơ thể hình sợi dài 0,87 - 0,9 mm, lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07 mm

Đuôi nhọn, cách mút đuôi 0,037 mm có 3 cặp núm

* Loài Strongyloides papillosus

Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [19], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], loài

Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau:

- Con đực chưa được mô tả

- Con cái: Cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng nhất 0,042 - 0,078 mm Lỗ miệng có 4 môi Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm Lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3 mm Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau

Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036

mm, trong trứng có ấu trùng

1.1.3.3 Giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum)

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết, các loài thuộc giống

Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là: túi miệng hình ống rất nhỏ,

quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn

Trương Quốc Dũng (2011) [4] cho biết: Loài Oesophagostomum dentatum là

loài giun tròn nhỏ, nang miệng hình trụ, dài 0,017 - 0,023 mm, rộng 0,024 - 0,037

mm Vành tia ngoài có 10 tia, vành tia trong kém phát triển Thực quản không có phần mở rộng phía trước Hai núm bên phân bố đối xứng nhau

Con đực: cơ thể dài 6,2 6,8 mm, rộng 0,31 - 0,049 mm

Con cái: cơ thể dài 7,4 - 11,5 mm, rộng nhất 0,31 - 0,45 mm Trứng kích có thước 0,05 - 0,08 x 0,03 - 0,04 mm

1.1.3.4 Giun tóc (Trichocephalus suis)

Đối với đặc điểm hình thái của giun tóc Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: giun có màu trắng đục, giống một sợi tóc, cơ thể chia làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, thực quản có các tế bào xếp

Trang 16

thành chuỗi hạt, có chiều dài bằng 2/3 cơ thể, phần sau ngắn và to, bên trong là ruột

và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm, rộng 0,634 - 0,713 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại Chỉ có gai giao hợp dài 5 - 7 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài ở phần cuối của giun Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, hậu môn ở vào phần cuối của thân

Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, có 2 núm ở 2 đầu, có kích thước 0,052 - 0,061 mm x 0,027 - 0,03 mm

1.1.1.4 Vòng đời của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn

Trong đường tiêu hóa của lợn có nhiều loài giun tròn ký sinh Mỗi loài khác nhau có cách hoàn thành vòng đời khác nhau, song đa số là những giun thuộc nhóm phát triển không cần ký chủ trung gian tham gia, chỉ có một số ít giun tròn thuộc nhóm phát triển cần ký chủ trung gian

Ngoài ra sự đa dạng về vòng đời của giun tròn còn thể hiện, con cái của các loài khác nhau có thể đẻ trứng (giun đũa, giun tóc ), đẻ trứng có ấu trùng (giun lươn ) hoặc đẻ ra ấu trùng (giun xoăn, giun chi) Ở ngoại cảnh, trứng hoặc ấu trùng này phải có thời gian phát triển thành trứng hoặc ấu trùng gây nhiễm Lúc đó, chúng mới có thể xâm nhập vào ký chủ và tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết, nói chung, ấu trùng phải trải qua 2 lần lột xác để thành ấu trùng gây nhiễm Quá trình lột xác như sau: dưới lớp biêu bì

cũ sinh ra một lớp biểu bì mới, rồi lớp biểu bì mới thay thế lớp cũ (có loài vẫn giữ lớp biêu bì cũ, tạo thành màng bọc ấu trùng, giúp nó chống đỡ với ngoại cành bất lợi) Trứng sau khi được thụ tinh, trong trứng tiếp tục phát triển từ một phôi bào thành nhiều phôi bào, hình quả dâu, hình ấu trùng giun và hình thành ấu trùng giai đoạn I, sau đó lột xác lần 1 thành ấu trùng giai đoạn II, sau lột xác lần 2 thành ấu trùng giai đoạn III, sau lột xác lần 3 thì ấu trùng giai đoạn IV được hình thành, sau lột xác lần 4, ấu trùng biến thành giun tròn dạng trưởng thành, ký sinh trong vật chủ Lần lột xác 3, 4 thường xảy ra trong vật chủ cuối cùng

Tuy nhiên, mỗi loài khác nhau quá trình hoàn thành vòng đời và thời gian hoàn thành vòng cũng khác nhau

Trang 17

* Vòng đời phát triển của giun đũa lợn

Đối với vòng đời phát triển của giun đũa lợn (Ascaris suum): hầu hết các tác

giả đều kết luận vòng đời phát triển của loài này không cần ký chủ trung gian Theo Phan Lục và cs (2003) [22], giun đũa ký sinh ở ruột non Sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng, số lượng trứng từ 10.000 - 150.000 trứng/ngày Tuy nhiên, Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: giun cái đẻ mỗi ngày khoảng 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng

Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 24°C và độ ẩm

thích hợp, sau 2 tuần trong trứng hình thành ấu trùng, sau 1 tuần nữa thì ấu trùng lột xác Lúc đó trứng đã trở thành trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải trứng này thì

ấu trùng kỳ I nở ở ruột, chui vào mạch máu niêm mạc, theo máu về gan Một số ít chui vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan, lột xác thành ấu trùng kỳ II Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày, hầu hết ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất sau 12 ngày vẫn có ấu trùng ờ phổi Khi tới phổi, ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III Ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản rồi cùng với niêm dịch, ấu trùng lên hầu, được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trường thành Trong khi di hành, một số ấu trùng có thể vào lách, tuyển giáp trạng, não Hoàn thành vòng đời cần 54 - 62 ngày ( Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [15])

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hoá, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân Tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 - 10 tháng Nhưng nếu điều kiện sống bất lợi ( ví dụ như ký chủ sốt cao) thì tuổi thọ của giun ngắn hơn Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [15] cũng có kết luận tương tự

* Vòng đời phát triển của giun lươn

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15] cho biết: giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong Trứng ra ngoài sẽ phát triển theo hai hướng:

- Trực tiếp: Vào mùa hè ấm áp, sau 5 - 6 giờ trứng nở ra ấu trùng giun lươn, 2

- 3 ngày sau thành ấu trùng có sức gây nhiễm Vào mùa đông, sau 1 5 - 1 7 giờ

trứng nở thành ấu trùng, sau 3 - 4 ngày phát triển thành ấu trùng có sức gây nhiễm

Trang 18

- Gián tiếp: Trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng phát triển thành giun đực và cái sống tự do Giun đực dài 0,65 - 0,81 mm, giun cái dài 0,81 - 1,02 mm Sau khi giao phối, giun cái đẻ trứng có ấu trùng giống như giun cái sống ký sinh Trứng này sau 5 -

6 giờ nở thành ấu trùng, sau 1 - 2 ngày phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh Hình thái ấu trùng có sức gây bệnh ở hướng phát triển trực tiếp hay gián tiếp hoàn toàn giống nhau (dài 0,6 - 0,7 mm, thực quản hình ống dài, không có chỗ phinh to) Ấu trùng này xâm nhập vào cơ thể ký chủ và gây bệnh

Đã có rất nhiều sự mô tả về đường xâm nhập vào cơ thể lợn của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] đã mô tả hai con đường xâm nhập của ấu trùng có sức gây bệnh vào cơ thể lợn cụ thể như sau:

+ Qua da: Ấu trùng chui qua da vào tổ chức liên kết, tới cơ, theo máu và dịch lâm

ba về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày thì thành giun lươn trường thành ký sinh + Qua đường tiêu hóa: Ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường tiêu hóa thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, rồi về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non Tuổi thọ cùa giun lươn trường thành ở gia súc non khoảng 5 - 9 tháng

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18] còn cho biết: Chu trình phát triển của giun lươn rất đặc biệt, ngoài phát triển trực tiếp và gián tiếp, chúng còn tự nhiễm hoặc nhiễm qua sữa mẹ hoặc qua nhau thai Tác giả mô tả như sau:

- Tự nhiễm: Giun trưởng thành đẻ trứng trong ruột non, sau đó ấu trùng được giải phóng ở dạng Rhabditiform sau đó chuyển thành dạng Filarifrom trong ruột non Ấu trùng này qua vách ruột theo hệ tuần hoàn và trở lại ruột non, phát triển thành giun trưởng thành Ấu trùng xuống hậu môn, sau đó có thể chui qua da quanh hậu môn vào hệ tuần hoàn, qua phổi rồi về ruột non

- Nhiễm qua sữa: Ấu trùng ky III có thể xâm nhập vào tuyến sữa và theo sữa gây nhiễm cho lợn con bú mẹ, ấu trùng này qua ruột non rồi phát triển thành giun trưởng thành

Trang 19

- Nhiễm qua nhau thai: Ấu trùng gây nhiễm sau khi vào cơ thể gia súc mang thai ấu trùng có thể di hành trong máu, qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh

Lora R Ballweber (2015) [46] cũng cho rằng ngoài đường tiêu hóa, da ấu trùng giun lươn còn lây nhiễm qua bào thai, qua sữa đầu do đó lây nhiễm cho lợn con trong vòng 24 giờ sau khi sinh

* Vòng đời phát triển của giun kết hạt

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: Vòng đời phát triển của giun kết hạt thuộc kiểu vòng đời không cần ký chủ trung

gian Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp 25 - 27°C, sau 1 0 - 1 7 giờ

nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 - 8 ngày phát triển thành ấu trùng gây nhiễm Ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới ruột thì ấu trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén Trong u kén, ấu trùng lột xác lần thứ 3, tới ngày 6 - 8 thì thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa thành giun trưởng thành Thời gian hoàn

thành vòng đời tùy từng loài giun: O coumbianum cần 32 ngày, O venulosum cần

24 - 30 ngày, O radiatum và O dentatum cần 32 - 43 ngày

* Vòng đời phát triển của giun tóc

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết, vòng đời phát triển của giun tóc diễn ra như sau:

Giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá của ký chủ, ấu trùng được

nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tuỳ loài giun tóc, nhưng đối với

Trichocephalus suis cần 30 ngày

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18] cho biết điều kiện nhiệt độ 18 - 300C, ẩm độ

80 - 85% là môi trường thuận lợi cho trứng giun phát triển thành trứng có sức gây bệnh sau 15 - 28 ngày Tác giả này còn cho biết con đường lây nhiễm chủ yếu qua đường tiêu hóa

Trang 20

Theo Lương Văn Huấn (1995) [8], giun Trichocephalus suis sống được trong cơ

thể lợn là 114 ngày Đào Trọng Đạt và cs (1995) [6], Ames (2005) [40], Taylor M A và

cs (2013) [57] cho biết: Tuổi thọ của giun Trichocephalus suis ở lợn là 4 - 5 tháng

1.1.1.5 Sức đề kháng của giun tròn

Khả năng đề kháng của giun tròn với điều kiện ngoại cảnh, là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của ký sinh trùng và phạm vi phân bố bệnh ký sinh trùng Mỗi loài ký sinh trùng khác nhau có sức đề kháng khác nhau Việc nghiên cứu về sức đề kháng của trứng và ấu trùng giun tròn ở ngoại cảnh, có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun tròn, đồng thời là cơ sở khoa học để

đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở lợn

- Đối với sức đề kháng của trứng giun đũa: Phạm Văn Khuê và cs (1996) [9],

Nguyễn Phước Tương (1994) [36] cho biết: Ở vùng khô lạnh trứng giun đũa có thể sống trên 6 năm

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1 - 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hoá học

- Sức đề kháng của giun lươn:

Theo Johanes Kaufmann (1996) [44], dưới tác động của ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, ấu trùng giun lươn bị diệt sau 8 - 9 giờ Ở trong nước hoặc trong môi trường có độ ẩm cao, ấu trùng có thể sống trên 3 tháng Nhưng nếu ẩm độ thấp, khô ráo thì sau 6 - 7 giờ ấu trùng bị chết

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21] cho biết: trứng giun lươn bị diệt nhanh trong

hố ủ phân nhiệt sinh học

Nguyễn Trọng Kim (2001) [11] cho rằng: trứng giun lươn có thể sống ở nơi đất ẩm 2 tháng

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết: trứng giun lươn có khả năng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ 20 - 30oC Nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển Ở trên 50oC và - 9oC trứng bị chết Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn

Nghiên cứu về khả năng tồn tại của trứng giun tóc ngoài môi trường chăn nuôi Sengupta M E và cs (2011) [53], Liu G H và cs (2012) [47], Nejsum P và cs

Trang 21

(2012) [49] cho biết: trứng Trichocephalus suis vẫn có thể phát triển trong nước thải

chăn nuôi chưa được xử lý tốt trong nhiều năm Nếu nước thải này được sử dụng

tưới cho cây trồng sẽ là điều kiện tốt để trứng giun Trichocephalus suis phát tán ra

ngoại cảnh, nguy cơ lây nhiễm cho lợn và con người là rất cao

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], ấu trùng Oesophagostomum dentatum

có sức đề kháng tốt với nhiệt độ, để ở -19oC -29oC qua 10 ngày vẫn sống và sẽ chết cũng để ở nhiệt độ -19oC - 29oC đến 31 ngày, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm Ấu trùng rất nhạy cảm với điều kiện khô ráo Ở nhiệt độ

35oC trứng bị chết

1.1.2 Những hiểu biết về bệnh giun lươn

1.1.2.1 Những thiệt hại do bệnh giun lươn gây ra

Bệnh giun lươn (Strongyloidosis) là một bệnh ký sinh trùng phổ biến ở lợn, bệnh xảy ra ở khắp nơi trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh đã được phát hiện ở các tỉnh phía Bắc, các tỉnh miền Trung và miền Nam (Bùi Lập,1966 [20]; Nguyễn Hữu Bình, 1996 [1]; Phan Thế Việt, 1977 [37])

Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa ở lợn nói chung và bệnh giun lươn nói riêng không gây thành ổ dịch lớn nguy hiểm, không làm cho lợn chết đột ngột, song chúng đã gây tác hại nghiêm trọng đối với thể trạng và sức khoẻ của vật chủ, làm hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của lợn, làm cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng thịt giảm, chất lượng mỡ kém, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm Đã có rất nhiều tài liệu công bố về tác hại do giun lươn gây ra

Dwight et Bowman D (1995) [41] cho biết: bệnh giun lươn ở lợn là bệnh gây viêm đường ruột với các triệu chứng là ỉa chảy ra máu, làm cơ thể gầy yếu, kém ăn, thiếu máu, còi cọc, chậm lớn, có thể dẫn đến chết Đứng trên quan điểm về kinh tế thì điều này có thể làm kinh tế giảm sút và làm chậm sự phát triển của những con còn sống sót

Chu Thị Thơm và cs (2006) [31] cho rằng: lợn bị nhiễm giun S ransomi làm

tốc độ sinh trưởng của lợn con giảm tới 30 - 35%

Trang 22

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18] cho biết: lợn con nhiễm giun lươn thường giảm tăng trọng, còi cọc, lợn thường chết do bị mất nước, rối loạn chất điện giải Tỷ

lệ chết của lợn bệnh rất cao có thể tới 75% lợn ốm

1.1.2.2 Dịch tễ học bệnh giun lươn

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh giun lươn tức là nghiên cứu những yếu

tố liên quan đến tần xuất xuất hiện của bệnh rất quan trọng, bởi đây chính là cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán, phòng bệnh đạt hiệu quả cao

- Loài mắc bệnh: Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21] cho biết, tất cả các giống lợn nhà và lợn rừng có thể bị mắc bệnh

Tuổi mắc bệnh: đã có rất nhiều tài liệu đề cập đến sự biến động về tỷ lệ nhiễm

bệnh theo lứa tuổi của lợn

Theo Drozd.J (1971) [5], những lợn con được bú sữa đầu của lợn nái đến ngày

thứ tư sau khi đẻ đã thấy trong phân có trứng Strongyloides ransomi, khi mổ khám

thấy có những giun trưởng thành, trong khi phân của lợn nái không có trứng hoặc

ấu trùng

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18] cho biết: Bệnh giun lươn do Strongyloides

ransomi chỉ thấy ở lợn con dưới 01 tháng tuổi Lợn con có thể nhiễm ấu trùng giun

lươn ngay từ 4 ngày tuổi qua sữa đầu

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15], bệnh giun lươn thấy nhiều ở súc vật non, súc vật lớn có nhiễm ấu trùng gây nhiễm nhưng khó phát triển thành giun trưởng thành Gia súc già yếu cũng có thể mắc bệnh

Lora R Ballweber (2015) [46] cho biết: Bệnh giun lươn là một bệnh ký sinh trùng khá phổ biến của lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ Đồng thời tác giả cũng cho

biết, lợn ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới mắc bệnh nhiều

Khi nghiên cứu về tỷ lệ lợn mắc bệnh giun lươn theo mùa vụ, đại đa số các tác giả đều cho rằng bệnh xảy ra quanh năm, nhưng tập trung nhiều hơn ở mùa ấm (xuân, thu, hè), bởi vào những mùa này thời tiết ấm áp, độ ẩm không khí tương đối cao, thuận lợi cho ấu trùng giun phát triển và lây nhiễm cho súc vật non

Điều kiện vệ sinh thú y không những liên quan mật thiết đến sự tồn lưu của mầm bệnh ngoài môi trường chăn nuôi mà còn quyết định tỷ lệ lợn mắc bệnh

Trang 23

Theo Nguyễn Trọng Kim và cs (2001) [11], những cơ sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm giun lươn thấp Ngược lại, ở những cơ sở chăn nuôi không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm giun lươn là khá cao (30 - 65%)

Yếu tố strees: Các yếu tố strees (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh

dưỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trường thay đổi ) đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan bệnh giun lươn ở lợn

1.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh

Lợn mắc bệnh, sau một thời gian thì bài xuất trứng (trong trứng đã có ấu trùng) qua phân ra ngoài ngoại cảnh Chính vì vậy trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành các ấu trùng có sức gây bệnh

Đường xâm nhập vào cơ thể:

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [10], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15], cho biết: Bệnh lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian Ấu trùng có sức gây nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua 2 con đường:

- Qua đường tiêu hoá: do ăn phải thức ăn nước uống có chứa ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh Ngoài ra, giun lươn có thể xâm nhập vào cơ thể động vật sơ sinh qua bú sữa đầu

- Qua da: ấu trùng có sức gây bệnh có thể chui qua da xâm nhập vào cơ thể vật chủ Ngoài ra, theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], giun lươn có thể lây nhiễm qua nhau thai và qua bú sữa đầu Lora R Ballweber (2015) [46] cũng có kết luận tương tự

Vị trí ký sinh: đại đa số tác giả đều cho rằng: Giun lươn ký sinh và gây bệnh ở

ruột non ký chủ Tuy nhiên Lora R Ballweber (2015) [46] cho biết giun trưởng thành chui sâu vào trong niêm mạc ruột non để ký sinh, tìm thấy giun lươn ở các khe giữa các nhung mao của tế bào biểu mô ruột non

Cũng giống như các ký sinh trùng khác khi ký sinh trên cơ thể ký chủ ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng, chúng còn gây các tác hại nặng nề khác cho

cơ thể ký chủ, đó là:

- Tác động cơ giới: Ấu trùng chui qua da, qua mạch máu phổi, các phế nang, làm tổn thương tổ chức các cơ quan, gây viêm phổi Giun trưởng thành sống trong niêm mạc ruột non gây viêm ruột, rối loạn tiêu hoá

Trang 24

- Tác động mang trùng: Ấu trùng có thể mang vi khuẩn Salmonella và E coli từ

bên ngoài, qua da ký chủ vào cơ thể ký chủ, gây bệnh ghép với bệnh ký sinh trùng

- Tác động do tiết độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun bài tiết ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, rối loạn tiêu hoá

- Tác động truyền bệnh: Ấu trùng giun lươn chui vào niêm mạc ruột gây tổn thương, phá vỡ phòng tuyến thượng bì Khi ấu trùng giun lươn xuyên qua da

để lại các vết đỏ trên da, tạo điều kiện cho các vi khuẩn từ môi trường ngoài xâm nhập vào cơ thể, gây nên các bệnh ghép với ký sinh trùng (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) [15]

1.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun lươn

* Triệu chứng:

Johanes Kaufmaun (1996) [44] cho biết: Những lợn bị nhiễm nhẹ thì không có triệu chứng lâm sàng, những lợn bị nhiễm nặng có triệu chứng ỉa ra máu, thiếu máu, gầy yếu và có thể chết đột ngột (đặc biệt là ở lợn con) Trong thời gian ấu trùng di hành, con vật có triệu chứng ho, khó thở ảnh hưởng đến cơ làm cho con vật mệt mỏi, vận động khó khăn, nặng có thể bị viêm cơ, cơ bị đau nhức, bụng đau và có hiện tượng nôn mửa

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [17], khi bị ấu trùng giun lươn xâm nhập vào phế nang, gây viêm phổi, lợn bị sốt (40 - 41,5oC), ho nhiều, khó thở

Khi giun trưởng thành ký sinh ở niêm mạc ruột, vật chủ thường bị viêm ruột non cấp Vật bệnh ỉa chảy, trong phân có dịch nhày do niêm mạc ruột bị tróc ra và

có máu do xuất huyết Khi bị bệnh nặng, súc vật non có thể bị chết do mất nước, rối loạn chất điện giải trong trạng thái viêm ruột cấp Tỷ lệ chết của lợn bệnh rất cao, có thể tới 75% số lợn ốm

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15] cho rằng: Súc vật non nhiễm bệnh thể hiện triệu chứng rõ rệt Lợn con sau đẻ 3 - 4 tuần nhiễm bệnh rất nặng, chết tới 50%, con vật gầy còm, có mụn trên da (do ấu trùng giun lươn chui qua da gây viêm da), viêm kết mạc mắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng viêm phổi (con vật ho) Triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày Nếu nặng có thể chết Khi nhiễm nhẹ, triệu chứng không rõ rệt

Trang 25

Lora R Ballweber (2015) [46] cho biết: nếu ấu trùng xâm nhập theo đường da

có thể tìm thấy ấu trùng trong các mô trong cơ thể lợn, lợn bệnh có các triệu chứng như ho, cứng khớp, đau, nôn mửa và tiêu chảy ra máu, đặc biệt là lợn từ 10 - 14 ngày mắc bệnh nặng và tỷ lệ tử vong cao

* Bệnh tích:

Theo Đỗ Dương Thái và cs (1978) [28], khi mổ khám những con vật gây bệnh nhân tạo, thấy những điểm tụ huyết ở tổ chức dưới da, ở cơ, ở phổi cũng có nhiều điểm hoặc từng đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày ruột, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [10] cho rằng: khi lợn bị nhiễm giun lươn với cường độ rất nặng có những bệnh tích như viêm cấp tính niêm mạc ruột, trên đó có những tổn thương nghiêm trọng, có nhiều điểm trắng, có những chỗ chảy máu, hạch lâm ba sưng Đoàn Thị Phương (2010 ) [24] cũng có kết luận tương tự

Khi mổ khám lợn bị bệnh, Johanes Kaufmann (1996) [44] cho biết, ngoài

các bệnh tích trên đường ruột, còn thấy bao tim và xoang ngực tích nước màu vàng Gan màu vàng nhạt, có nhiều điểm trắng trên bề mặt gan

Sau khi tổng hợp các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước Nguyễn Thị Kim Lan và cs 2012 [15] khái quát bệnh tích như sau: dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng có nhiều điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêm mạc ruột có những điểm tụ huyết, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ

1.1.2.5 Chẩn đoán bệnh giun lươn

Để điều trị bệnh nhanh, đạt hiệu quả cao, việc chẩn đoán bệnh chính xác rất quan trọng Tuy nhiên, chẩn đoán bệnh ký sinh trùng chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng sẽ không cho kết quả chính xác, bởi triệu chứng lâm sàng của các bệnh ký sinh trùng thường không điển hình Do đó khi chẩn đoán cần phối hợp nhiều phương pháp mới cho kết luận chính xác về bệnh Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho

biết: có thể dùng các phương pháp sau để chẩn đoán bệnh giun lươn

Trang 26

Huỳnh Hồng Quang (2015) [25] cho biết: có thể dùng các phương pháp mới trong chẩn đoán giun lươn như: kỹ thuật Bearmann cải tiến (modified Baermann's technique), cấy phân trên đĩa thạch máu, chẩn đoán miễn dịch hấp phụ men (enzyme-linked immunosorbent assay - ELISA), test phát hiện kháng thể huỳnh quang gián tiếp trên huyết thanh (serum indirect fluorescent antibody test - IFAT), chẩn đoán sinh học phân tử như phản ứng chuỗi trùng hợp (polymerase chain reaction - PCR)

1.1.2.6 Phòng và điều trị bệnh

Phan Địch Lân và cs (2005) [19] cho biết: Để phòng bệnh giun lươn có hiệu quả cần vệ sinh nền chuồng sân chơi, không để nước tiểu, nước rửa chuồng, nước phân chảy vào ruộng thức ăn xanh nuôi lợn Phân lợn phải được ủ trước khi bón ruộng Ruộng trồng thức ăn xanh cho lợn quy hoạch xa chuồng nuôi lợn Thức ăn xanh trước khi cho lợn ăn phải rửa nhiều lần để giảm tới mức tối đa lượng trứng giun

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], cần thực hiện biện pháp phòng bệnh tổng hơp

- Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, bãi chăn thả cũng cần giữ khô ráo, định kỳ sử dụng thuốc diệt trùng: cresyl 5%; dung dịch NaOH 3% để diệt ấu trùng

- Tẩy dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn con trong lứa tuổi 7 - 10 ngày bằng thuốc trị giun tròn

- Thực hiện ủ phân để diệt trứng giun

Trang 27

- Định kỳ tẩy giun trưởng thành cho lợn bằng các thuốc trị giun tròn

Phạm Đức Chương và cs (2003) [3] cho biết: tiêm dưới da ivermectin liều 0,3 mg/kgTT đối với lợn, có tác dụng làm giảm 94 - 100% số lượng giun lươn chưa trưởng thành Sử dụng cho lợn 4 - 16 ngày trước khi đẻ ngăn cản được sự lây truyền

giun lươn (S ransomi) từ lợn nái cho lợn con

Mwemezi Lutakyawa Kabululu (2015) [48] cho biết: ngoài dùng thuốc tẩy giun dự phòng cho lợn, cần phải cho lợn ăn đầy đủ chất dinh dưỡng

Cũng nghiên cứu về vấn đề này, Lora R Ballweber (2015) [46] cho biết: Các thuốc như: benzimidazole, levamisole có tác dụng tẩy giun lươn trưởng thành rất tốt

1.1.2.7 Một số thuốc sử dụng trong đề tài

* Fenbendazole

+ Fenbendazole là thuốc tẩy giun tròn cho gia súc, gia cầm thuộc nhóm

benzimidazol

+ Theo FDA (USA) fenbendazole được dùng cho ngựa, chó, lợn, trâu bò

- Cơ chế tác động: Ở nhiệt độ cao trong cơ thể động vật có vú, các

benzimidazole có ái lực với giun, sán hơn Chúng gắn vào cấu trúc hình ống của tế bào ruột giun sán ngăn cản sự tổng hợp tế bào ruột, ức chế hoạt động của enzym

Trang 28

fumarate reductase, ngăn cản sự hấp thu glucose, giảm dự trữ glycogen làm chết đói

kí sinh trùng ở cả dạng trưởng thành và chưa trưởng thành

- Phổ tác động:

Trên lợn: trị giun đũa, giun lươn giun tóc, giun bao tử, giun phổi, giun kết hạt…

- Liều dùng: 5 mg/kg TT, trộn với thức ăn ( Phạm Khắc Hiếu 2009) [7]

* Thiabendazole

Cơ chế tác dụng của thiabendazole trên ký sinh trùng chưa được biết một cách chính xác đầy đủ, nhưng nó có thể kìm hãm việc khử fumarate - là loại enzym đặc hiệu trong cơ chế hoạt động của giun, sán

- Đặc tính dược động học

Thiabendazole được hấp thu khá nhanh và đạt nồng độ tối đa trong máu sau khi dùng thuốc khoảng 1 - 2 giờ Thiabendazole được chuyển hóa gần như hoàn toàn thành chất 5 – hydroxy và ở dạng này, nó hiện diện trong nước tiểu dưới dạng kết hợp với acid glucuronide hay sulfate Trong 48 giờ, khoảng 5% liều uống được tìm thấy trong phân và 90% trong nước tiểu

- Liều lương: 6,5 mg/kg đối với lợn (Phạm Đức Chương và cs, 2003) )[3]

* Ivermectin

Đây là một loại thuốc trị ký sinh trùng nằm trong nhóm avermectin có cấu trúc

hóa học liên quan đến vòng macrolid Avermectin được chiết từ nấm Streptomyces

avermitilis, ivermectin là chất bán tổng hợp từ avermectin

- Đặc tính hoá học

Ivermectin là bột màu trắng đục, ưa lipid nhưng kỵ nước, tan trong nhiều dung môi hữu cơ nhưng rất ít tan trong nước, bền ở nhiệt độ phòng, dạng dung dịch không có tính acid nhưng bị tia cực tím làm giảm tác dụng

- Cơ chế tác động : phong bế sự dẫn truyền xung động thần kinh do tăng

phóng thích GABA (gama amino butyric acid) chất trung gian hóa học này làm tê liệt (paralyse) ký sinh trùng và ký sinh trùng tan ra (lyse)

- Phổ tác động: thuốc có phổ tác dụng rộng, tác động trên cả giun trưởng

thành và giun chưa trưởng thành, tất cả giun tròn đường tiêu hóa và ở phổi, một số ngoại ký sinh ở trâu bò, cừu, ngựa, lợn; giun tròn đường ruột, ghẻ tai, ghẻ Sarcoptes

ở chó; một số giun tròn đường tiêu hóa và ngoại ký sinh ở gà (mạt, rận )

Trang 29

- Liều lượng

Đối với lợn: 0,3 mg/kg TT ( Phạm Khắc Hiếu 2009) [7]

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Khí hậu miền Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng

ẩm, mưa nhiều Đây là điều kiện rất tốt để ký sinh trùng nói chung, giun sán nói riêng phát triển và gây bệnh cho vật nuôi Vì vậy, đã có rất nhiều tác giả trong nước nghiên cứu về tình hình nhiễm giun tròn ở lợn và tác hại do chúng gây ra

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1981) [9] khi nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán của 854 lợn nuôi ở các tỉnh Nam Bộ cho biết: lợn nuôi ở các tỉnh phía Nam nước ta bị nhiễm 16 loài giun sán Những giun tròn thường ký sinh ở đường tiêu

hoá của lợn là: O dentatum, O bervicaudatum, T suis, Ascarops sprongylina,

Physocephalus sexlatus, G hispidum

Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [16] khi điều tra ở lợn tại các tỉnh Trung bộ cho biết: tỷ lệ nhiễm giun kết hạt là 32%; giun lươn là 49,8%; giun tóc nhiễm ở lợn

< 3 tháng tuổi là 15%, tăng cao ở lợn từ 3 - 4 tháng tuổi là (67,1%) sau đó giảm dần theo tuổi

Nghiên cứu biến động về tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn theo lứa tuổi, Nguyễn Thu Trang (2010) [35] cho biết: lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm giun lươn cao nhất (39,45%), lợn trên 2 đến 4 tháng tuổi nhiễm giun đũa và giun tóc cao hơn các loài giun khác với tỷ lệ nhiễm tương ứng là 31,24% và 15,24%, riêng giun

kết hạt lợn nhiễm cao nhất ở lứa tuổi trên 6 tháng tuổi (37,58%)

La Văn Công và cs (2015) [2] nghiên cứu sự biến động nhiễm giun tròn theo lứa tuổi của lợn cho biết: lợn dưới hai tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm giun lươn cao nhất (58,00%), thấp nhất ở lợn > 6 tháng tuổi (33,75%)

Điều kiện vệ sinh thú y không những liên quan mật thiết đến sự tồn lưu của mầm bệnh ngoài môi trường chăn nuôi mà còn quyết định tỷ lệ lợn mắc bệnh Theo Nguyễn Trọng Kim và cs (2001) [11], những cơ sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm giun lươn thấp Ngược lại, ở những cơ sở chăn nuôi không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm giun lươn là khá cao (30 - 65%)

Trang 30

Đoàn Thị Phương (2010) [24] đã nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun lươn theo tình trạng vệ sinh thú y cho biết: Lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh kém có tỷ lệ nhiễm là cao nhất (65,74%) lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh tốt có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (32,95%)

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2010) [14], lợn bị tiêu chảy nhiễm giun lươn với tỷ lệ cao hơn nhiều so với lợn bình thường Khi kiểm tra 274 mẫu phân lợn bị tiêu chảy, có 166 lợn nhiễm giun lươn với tỷ lệ nhiễm là 60,58% Khi bị nhiễm nặng, lợn chết trong tình trạng gầy sút rõ rệt, bụng ỏng, ỉa chảy, phân dính bê bết Tác giả nhận xét rằng, cường độ nhiễm giun lươn có sự biến động theo trạng thái phân Lợn có phân bình thường chỉ nhiễm ở cường độ nhẹ và trung bình (63% và 37%), không có lợn nhiễm ở cường độ nặng Khi lợn tiêu chảy cường

độ nhiễm tăng rõ rệt so với lợn bình thường

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn cũng được rất nhiều tác giả nước tập ngoài trung nghiên cứu

Sersov A A (1970) [54], Soulsby E J L (1982) [52], AbuladzeK.I (1990) [38], Johannes Kaufmann (1996) [44] cho biết: lợn bị nhiễm nhiều loài giun tròn

Những giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá của lợn phổ biến trên thế giới là: Ascaris

Trichocephalus suis, Bourgelatia diducta, Ascarops Stronglina, Physocephalus sexalatus, Gnathostoma hisidum, Strongyloides ransomi,

Glatz và cs (2010) [43] cho biết: ở Kenya, 306 mẫu phân lợn thu thập ở 135 nông trại được kiểm tra giun tròn ký sinh Dựa trên định loại hình thái trứng trong phân, có 6 loài giun tròn ký sinh ở lợn ở huyện Busia, Kenya, bao gồm:

Oesophagostomum sp (75%), Strongyloides ransomi (37%), Ascaris suum (18%), Metastrongylus sp (11%), Trichuris suis (7%) và Physocephalus sexalatus (3%)

Roesel và cs (2016) [51] nghiên cứu nhiễm giun tròn trên đường tiêu hóa của lợn tại 3 huyện của Uganda cho biết: lợn ở đây nhiễm các loài giun tròn sau,

strongyles 57,1%, Metastrongylus spp 7,6%,, Ascaris suum 5,9%, Strongyloides

ransomi 4,2% và Trichuris suis 3,4%

Trang 31

Theo Urquahart G.M và cs (1996) [58] thời gian nở của trứng giun lươn có liên quan tới nhiệt độ:

+ Ở nhiệt độ 20 - 30oC, mất 5 - 6 giờ trứng nở thành ấu trùng

+ Ở nhiệt độ 10 - 12oC, mất 15 giờ trứng nở thành ấu trùng, nhiệt độ thấp làm cho trứng ngừng phát triển

+ Ở nhiệt độ - 9oC và trên 50oC trứng bị chết

+ Điều kiện nhiệt độ 40oC không tốt cho sự phát triển của ấu trùng Nhiệt độ tốt nhất, thuận lợi cho sự phát triển của ấu trùng là khoảng 20 - 25oC

Pittman J S và cs (2010) [50] cho biết: trứng Trichocephalus suis có sức gây

bệnh đến ruột non của lợn, ấu trùng bên trong trứng thoát ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già lấy chất dinh dưỡng phát triển thành giun trưởng thành, ấu trùng không có

sự di hành trong cơ thể ký chủ

Roesel và cs (2016) [51] cho biết: tại các trang trại thường xuyên thu gom phân và rác thải xử lý và sử dụng các chất sát trùng tiêu độc chuồng trại lợn nhiễm giun lươn thấp

Theo Alynne S Barbosa và cs (2015) [39]: lợn nuôi trong các trang trại gia

đình nhiễm Strongyloides ransomi cao hơn các trang trại chăn nuôi công nghiệp

Trang 32

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lợn nuôi tại các xã của huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang

- Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn

- Bệnh giun lươn ở lợn do giun tròn thuộc giống Strongyloides gây ra

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện ở các xã thuộc huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang

+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu:Từ ngày 01/8/2016 đến ngày 01/8/2017

2.2 Vật liệu nghiên cứu

* Động vật thí nghiệm:

- Lợn ở các lứa tuổi trên thực địa: 900 con xét nghiệm phân và mổ khám

60 con để xác định tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa nói chung và giun lươn nói riêng

* Các loại mẫu:

- Mẫu phân mới thải của lợn

- Mẫu giun tròn thu thập được từ lợn mổ khám

- Phân lợn, chất độn chuồng, vôi bột, cây xanh, rơm rác, các loại cỏ (xác định tác dụng diệt trứng và ấu trùng giun lươn của phương pháp ủ phân hiếu khí )

* Dụng cụ, thiết bị và hóa chất

- Kính hiển vi quang học, kính hiển vi điện tử quét, máy ly tâm, kính lúp

- Bộ dụng cụ xét nghiệm phân gồm: lưới lọc, đũa thủy tinh, cốc, ống nghiệm hoặc vỏ lọ kháng sinh, lam kính, lamen

Trang 33

- Buồng đếm Mc Master dung dịch NaCl bão hòa, dung dịch Barbagallo (gồm: formol 38%: 30 ml, NaCl tinh khiết: 7,5 gam; nước cất vừa đủ: 1000 ml)

- Thuốc tẩy giun lươn cho lợn: fenbendazole, ivermectin, thiabenazole

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Sơn Động

- Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn

Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn qua xét nghiệm phân:

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở các địa phương thuộc huyện Sơn Động

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo mùa vụ

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tình trạng vệ sinh thú y

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn bình thường và tiêu chảy

2.3.3 Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun lươn cho lợn

* Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun cho lợn

- Xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun lươn cho lợn thí nghiệm trên diện hẹp và độ an toàn của thuốc tẩy giun lươn cho lợn

- Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn trên diện rộng

* Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun lươn cho lợn

- Nghiên cứu diệt trứng giun lươn bằng cách ủ phân lợn theo phương pháp hiếu khí (phương pháp compost)

- Nghiên cứu phòng bệnh giun lươn cho lợn bằng định kỳ dùng thuốc tẩy

dự phòng

* Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun lươn cho lợn

Trang 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại Sơn Động

2.4.1.1 Điều tra thực trạng công tác phòng chống bệnh giun tròn đường tiêu hóa

cho lợn tại huyện Sơn Động

- Trực tiếp quan sát

- Phỏng vấn và phát phiếu điều tra

2.4.1.2 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn

Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn ở lợn theo phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả và dịch tễ học phân tích (Nguyễn Như Thanh và cs 2011) [29]

* Dung lượng mẫu

- Cỡ mẫu: Số lượng mẫu phân thu thập ở cácđịa phương được tính theo công thức dịch tễ học (Nguyễn Như Thanh và cs, 2011) [29]

lấy ở 5 xã là 900 mẫu ( mỗi lợn chỉ lấy 1 mẫu phân), tổng số lợn mổ khám ở 5 xã là

60 con

* Phương pháp thu thập mẫu phân, xét nghiệm và đánh giá tỷ lệ nhiễm giun tròn

- Thu thập mẫu: Mẫu được thu thập ngẫu nhiên ở các hộ nuôi lợn theo phương pháp mẫu chùm nhiều bậc (Nguyễn Như Thanh và cs, 2011) [29] Trong quá trình lấy

Trang 35

mẫu đã loại trừ những lợn mắc bệnh truyền nhiễm và các bệnh khác Tại huyện Sơn Động việc thu thập mẫu được tiến hành tại 5 xã (An Châu, An Lập, Vĩnh Khương, Lệ Viễn và Tuấn Đạo) Mỗi xã lấy mẫu ở 5 thôn, tại mỗi thôn lấy ngẫu nhiên

Mẫu phân lợn mới thải ra được thu thập vào lọ nhựa có nắp hoặc túi nilon, có nhãn ghi các thông tin: giống lợn, tuổi, tính biệt, trạng thái phân, tình trạng vệ sinh thú

y, phương thức chăn nuôi và các biểu hiện lâm sàng của lợn (nếu có), thời gian và địa điểm lấy mẫu

Các loại mẫu được bảo quản ở 4 - 8oC và xét nghiệm ngay trong ngày

- Phương pháp xét nghiệm phân:

Xét nghiệm phân tìm trứng của các loại giun tròn theo phương pháp phù nổi: tất cả các mẫu phân được xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn với dung dịch NaCl bão hoà; tìm trứng các loài giun tròn dưới kính hiển vi, độ phóng đại 10 x 10 Những mẫu có trứng giun tròn thì đánh giá là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm

* Phương pháp xác định nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn qua mổ khám

Để tìm giun tròn ký sinh ở hệ tiêu hoá, tiến hành mổ khám lợn theo phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hoá của Skrjabin K.I (1963) [26] Thu thập mẫu giun tròn ký sinh ở ruột của lợn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2012) [15] Mỗi loại giun tròn ở mỗi phần của cơ quan tiêu hoá được để riêng, sau đó đếm

số lượng từng loại Ghi vào sổ mổ khám số thứ tự lợn mổ khám, nơi nơi ký sinh ký sinh, số lượng giun, địa điểm và thời gian mổ khám

Cách mổ khám và thu thập giun tròn: Dùng kéo nhọn, sắc cắt dọc theo chiều dài của đường tiêu hóa, kiểm tra tất cả các phần: thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, gan và tụy Thu lượm giun tròn trong chất chứa ở mỗi phần (sau khi làm lắng chất chứa theo phương pháp của Benedek 1943) và những giun tròn còn bám trên niêm mạc

Giun tròn ở mỗi phần của cơ quan tiêu hóa đều được để riêng, giun tròn của mỗi lợn cũng được để riêng Trước hết giun tròn được làm chết tự nhiên trong nước lã, bảo quản trong dung dịch Barbagallo Mỗi lọ đều có nhãn ghi rõ nơi ký sinh, lớp, số lượng giun, số lượng lợn mổ khám, tuổi, địa điểm và thời gian mổ khám Những nội dung ghi trên nhãn cũng được ghi đầy đủ vào sổ mổ khám

Trang 36

Quá trình định loại được tiến hành tại phòng thí nghiệm Bệnh lý Ký sinh trùng khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang

Phân loại sơ bộ các loài giun tròn đã thu thập được dưới kính lúp và kính hiển vi, căn cứ vào hình thái, cấu tạo của giun tròn trưởng thành theo khoá định loại của Phan Thế Việt và cs (1977) [37]

* Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun tròn:

- Cường độ nhiễm giun tròn qua xét nghiệm phân được xác định bằng cách đếm số trứng trong 1 gam phân bằng buồng đếm Mc Master (Theo tài liệu của Jogen Hansen và cs, 1994) [45]

Quy định 4 mức cường độ nhiễm như sau:

≤ 500 trứng/ gam phân: nhiễm nhẹ (+)

>500 - 1000 trứng/ gam phân: nhiễm trung bình (++)

>1000 - 1500 trứng/ gam phân: nhiễm nặng (+++)

>1500 trứng / gam phân: nhiễm rất nặng (++++)

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn

2.4.2.1 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn qua xét nghiệm phân

* Phương pháp bố trí xác định các yếu tố liên quan đến tỷ lệ và cường độ

nhiễm giun lươn ở lợn

- Theo địa phương:

Thu thập mẫu phân của 900 lợn ở 5 xã: An Châu (185 lợn), An Lập (185 lợn),

Vĩnh Khương (175 lợn), Lệ Viễn (180 lợn), Tuấn Đạo (175 lợn)

Trang 37

- Phương thức chăn nuôi: nghiên cứu ở 3 phương thức chăn nuôi

+ Truyền thống: 246 lợn

Tiêu chí đánh giá: mỗi nông hộ chăn nuôi một vài con lợn, thức ăn chủ yếu là tận dụng nguồn thức ăn sẵn có và phế phụ phẩm của ngành trồng trọt, chuồng trại đơn sơ, vẫn có tình trạng lợn thả rông

+ Bán công nghiệp: 319 lợn

Tiêu chí đánh giá: mỗi nông hộ chăn nuôi từ 10 - 50 con; tận dụng thức ăn sẵn

có, phế phụ phẩm của ngành trồng trọt kết hợp với thức ăn công nghiệp, chuồng trại xây tương đối cao ráo sạch sẽ, chuồng nuôi có rãnh thoát nước

+ Công nghiệp: 335 lợn

Tiêu chí đánh giá: mỗi nông hộ chăn nuôi > 50 con trở lên, thức ăn nuôi lợn hoàn toàn là thức ăn công nghiệp, chuồng trại xây dựng đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y, có máng ăn, máng uống tự động; một số nông hộ xây dựng chuồng nuôi hiện đại và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi

- Theo tình trạng vệ sinh thú y nghiên cứu ở 3 mức:

+ Tình trạng vệ sinh thú y kém: 288 lợn

Tiêu chí đánh giá: nền chuồng láng xi măng hoặc nền đất, không cọ rửa và dọn phân, có hiện tượng tồn động phân trong chuồng một vài tuần, không có rãnh thoát nước xung quanh chuồng Máng ăn, máng uống không cọ rửa, rau xanh không rửa trước khi cho ăn

+ Tình trạng vệ sinh thú y trung bình: 353 lợn

Tiêu chí đánh giá: nền chuồng láng xi măng, không thường xuyên cọ rửa chuồng

và dọn phân, có hiện tượng tồn động phân quá 2 ngày trong chuồng Mỗi tuần cọ rửa máng ăn, máng uống 1 - 2 lần, rau xanh không thường xuyên rửa sạch trước khi cho ăn + Tình trạng vệ sinh thú y tốt: 259 lợn

Tiêu chí đánh giá: chuồng trại cao ráo, thoáng mát, nền chuồng lát gạch hoặc láng xi măng, hoặc nền sàn, có rãnh thoát nước và phân ra khỏi khu vực chăn nuôi, chuồng nuôi được thường xuyên cọ rửa và dọn phân, không có hiện tượng phân tồn trong chuồng quá 1 ngày, thức ăn, nước uống sạch sẽ, rau xanh được rửa sạch trước khi cho gia súc ăn, thường xuyên cọ rửa máng ăn, máng uống, không để tồn dư thức

ăn trong máng Định kỳ khử trùng tiêu độc chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi

Trang 38

- Trạng thái phân nghiên cứu ở 2 trạng thái:

+ Phân tiêu chảy: 332 lợn

Tiêu chí đánh giá: phân loãng, mùi thối khắm, có màu sắc không bình thường + Phân bình thường: 568 lợn

Tiêu chí đánh giá: phân tạo thành khuôn, màu xanh đen, mượt, không có dịch nhầy bao bọc, không có mùi khác thường

* Phương pháp thu thập và xét nghiệm mẫu phân xác định tỷ lệ và cường

độ nhiễm giun lươn ở lợn

Thu thập mẫu, xét nghiệm mẫu tìm trứng giun lươn trong phân của lợn để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn được tiến hành theo phương pháp như đã trình bày ở mục 2.4.1

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun lươn cho lợn

2.4.3.1 Bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn

* Bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu lực tẩy giun lươn cho lợn trên diện hẹp ngoài thực địa

Thí nghiệm được tiến hành tại xã An Châu, huyện Sơn Động Chia 3 lô dùng thuốc, mỗi lô có 5 lợn (giai đoạn 1 - 2 tháng tuổi, nhiễm giun lươn lợn với cường độ trung bình và nặng), được tẩy bằng một trong các thuốc fenbendazol, thiabendazole và ivermectin

Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:

Tên thuốc và liều lượng Số lợn dùng thuốc

Trang 39

Hiệu lực tẩy của thuốc tẩy giun lươn trên diện hẹp được xác định bằng cách: trước khi dùng thuốc, đếm số lượng trứng giun lươn/gam phân Sau khi dùng thuốc

15 ngày xét nghiệm lại phân để đánh giá hiệu lực của thuốc tẩy

* Bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu lực tẩy giun lươn cho lợn trên diện rộng ngoài thực địa

Sau khi thử nghiệm thuốc trên diện hẹp ngoài thực địa, xác định được loại thuốc tẩy giun lươn cho lợn có hiệu lực cao và an toàn, tiến hành sử dụng loại thuốc

đó tẩy giun lươn cho lợn trên diện rộng Sau đó chọn loại thuốc có hiệu lực cao và

an toàn để tẩy giun lươn đại trà cho lợn nhiễm giun lươn ở các địa phương

Kết quả dùng thuốc tẩy trên diện rộng được xác định bằng việc kết luận số lợn sạch trứng giun lươn trong phân thông qua việc xét nghiệm phân như đã trình bày ở trên

2.4.3.2 Ủ phân hiếu khí (phương pháp ủ Compost)

Nguyên liệu gồm: 500 kg phân chuồng; 500 kg rơm rạ, cây xanh và các cây cỏ khác Chia phân chuồng thành 6 phần bằng nhau, chia các nguyên liệu khác thành 6 phần bằng nhau Rải một phần các nguyên liệu lên mặt nền xi măng, mỗi chiều rộng 1,5 m, độ dày 25 - 30 cm Rải lên lớp nguyên liệu một phần phân, độ dày 10 cm Làm các lớp tiếp theo như vậy cho đến khi hoàn thành Sau khi hoàn thành đống ủ, dùng bạt quấn kín đống ủ (FAO, 2003 [42])

- Xác định khả năng sinh nhiệt của phương pháp ủ: Hàng ngày đo nhiệt độ đống ủ bằng nhiệt kế 100oC Tiến hành lấy nhiệt độ tại 10 vị trí khác nhau xung quanh và ở đỉnh đống ủ Nhiệt độ của phân ủ là nhiệt độ trung bình của 10 vị trí trên Nhiệt độ không khí cũng được đo bằng nhiệt kế đặt cách đống ủ 3 m

- Phương pháp đánh giá tác dụng diệt trứng giun lươn của phương pháp ủ Compost: dùng phân lợn có trên 2000 trứng/gam phân trộn với các nguyên liệu theo tỷ lệ tương ứng Sau đó, hỗn hợp nguyên liệu này được cho vào túi vải (khoảng

15 gam/một túi vải), các túi vải được đặt vào bên trong đống ủ Cứ định kỳ 5 ngày

1 lần lấy 3 túi ở các vị trí khác nhau, xét nghiệm chất chứa trong túi vải bằng

Trang 40

phương pháp phân ly ấu trùng của Bearman để tìm ấu trùng giun lươn Quan sát ấu trùng dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 40 lần để đánh giá

Kết quả: Nếu ấu trùng còn sống thì thấy ấu trùng di chuyển trên lam kính; nếu

ấu trùng chết thì không di động hoặc cơ thể bị phân hủy

2.4.3.3 Nghiên cứu số lần dùng thuốc tẩy dự phòng bệnh giun lươn cho lợn

Lợn trước khi thí nghiệm được xét nghiệm phân để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn bằng phương pháp Fulleborn và đếm trứng trên buồng đếm Mc Master

* Bố trí thí nghiệm

Bố trí thí nghiệm trên 90 lợn nuôi tại huyện Sơn Động Lô thí nghiệm 1: gồm

30 lợn (bố trí tại xã An Châu); Lô thí nghiệm 2: gồm 30 lợn (bố trí tại xã Vĩnh

Khương), lô đối chứng gồm 30 lợn (bố trí tại xã An Lập)

Lợn ở lô đối chứng và lô thí nghiệm tương đối đồng đều về các yếu tố: tuổi 1 -

2 tháng, đồng đều về tính biệt, phương thức chăn nuôi, tình trạng vệ sinh thú y, tỷ lệ

và cường độ nhiễm giun lươn trước thí nghiệm

+ Lô 1 tẩy giun lươn một lần bằng thuốc tẩy có hiệu lực cao vào thời điểm đầu thí nghiệm

+Lô 2 tẩy giun lươn 2 lần vào thời điểm đầu thí nghiệm và sau 2 tháng thí nghiệm) Theo dõi thí nghiệm trong 3 tháng

+ Lô đối chứng không dùng thuốc tẩy Theo dõi trong 3 tháng

* Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn lợn sau 1 và 3 tháng thử nghiệm

Sau 1 và 3 tháng thí nghiệm, xét nghiệm phân để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn của lô thí nghiệm 1, 2 và lô đối chứng bằng phương pháp Fulleborn, đếm số trứng trong 1 gam phân Từ đó đánh giá được hiệu quả của các biện pháp phòng bệnh đã áp dụng

2.4.3.4 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh giun lươn cho lợn

Biện pháp phòng chống bệnh giun lươn cho lợn được đề xuất dựa trên những

cơ sở khoa học sau:

Ngày đăng: 15/03/2018, 15:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w